Ca HUẾ – Tư Chơi

Ca HUẾ – Tư Chơi

Dẫn nhập :

Tuần trước người viết, trên bước đường rong ruổi để tiếp tục thực hiện một phần tâm nguyện “trả cho đời chút ơn “đã trở lại Huế một lần nữa, trước khi trở về chốn tạm dung.

Người viết là dân Kontum nhưng gốc “Huế”(quê nội) và Hà Tĩnh(quê ngoại).

Kontum là nơi nuôi dưỡng người viết trưởng thành và giáo dục người viết biết cái lẻ ở đời. Hà Tĩnh là nơi chôn nhau cắt rốn nhưng Huế là nơi người viết đã sống qua thời thơ ấu do chiến cuộc và sụ biến đổi của cuộc bể dâu .Chỉ trở lại Kontum để tiếp tục cuộc mưu sinh với thân phụ từ năm 1957.

Do vậy mà Huế đã ảnh hưởng đến rất nhiều đến tâm tính,đến nghỉ suy và đến cái bản chất pha chút lãng mạn ,văn nghệ (vặt)dù tuổi đời đã vượt qua cái mức “thất thập cổ lai hy” !!

Huế mơ và Huế mộng.Nhưng đó là chuyện của ngày xưa của thời Huyền Trân Công Chúa, (Nước non ngàn dặm ra đi để đổi lấy 2 Châu O, Châu Lý-Đất Quảng Bình Quảng Trị và Thừa Thiên Huế bây giờ)), của nhóm thi sĩ Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương ,của những câu thơ ,câu hát nam Ai Nam Bình hay câu hò của cụ Ưng Bình Thúc Da Thị ( thân phụ của nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương mà đồng hương và bạn đọc đã biết qua một số bài thơ của bà được phổ nhạc) :

“Chiều chiều dưới bến Vân Lâu

Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm

Ai thương ai cảm, ai nhớ ai mong ….”

Những câu thơ trên đã trở thành phổ biến khiến người ta nghĩ đó là ca dao  bình dân.

Thời sinh tiền cụ Ưng Bình Thúc Dạ Thị đã sáng tác nhiều lời ca của những bài  Ca Huế mà âm điệu người nghe thấy phảng phất nét u hoài của âm hưởng nhạc Người Chàm(hay người Chăm theo lối gọi bây giờ) nỗi buồn vong quốc trước sức bành trướng của dân tộc Việt Nam,ngoại trừ điệu hò giả gạo (?).

Ca Huế là thú tiêu khiển thanh tao của tao nhân mặc khách,của giai cấp thống trị vào những khi trăng thanh gió mát để tránh cái thời tiết nóng bức mùa hè của Xứ Huế.

Ngày xưa “ngủ đò nghe ca Huế ” là một phương thức giải trí lành mạnh, nhưng theo thời gian và theo chiến cuộc  đã trở thành “nghe không lành mạnh” cho những ai đến Huế hoặc những người trực tiếp tham dự vào chiến tranh, muốn tìm sự quên lãng chốc lát bên cái chết cận kề hằng ngày .

đò Huế

Đò Huế ngày xưa

đò huế2

Thời ấy những ai đến Huế cũng từng nghe  lời mời gọi  của những  của những chủ(vạn) đò dọc bờ sông Đông Ba và chân Cầu Gia Hội.Những chiếc đò(Huế) ngày ấy cũng rất đơn sơ mộc mạc với mái che cho phần của khách và khoảng ngăn cách với gia đình người chủ .

Sau khi chiến tranh chấm dứt và nhất là sau Chính sách Đổi Mới với khẩu hiệu “Hòa nhập nhưng không hòa tan ” Huế(cũng như các đô thị cả nước) đã thay đổi rất nhiều ,Những khách sạn cao tâng tiện nghi 5,6 sao mọc lên như nấm lấn át nét cổ kính đền đài của thời phong kiến,những lễ hội như Festival (Huế) được tổ chức rầm rộ để thu hút du khách và ngoại tệ.Huế không còn là Huế của ngày xưa.

Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn
Chống lại ngày  quên lãng
Mặt trời vàng mà mắt em nâu

Quả vậy “chén ngọc giờ chìm dưới sông sâu, những lăng tẩm chỉ còn là vết tích lịch sử của “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo ‘ chỉ là những “chiếc bóng hoàng hôn ” trước những đổi thay của thế cuộc .Vẻ uy nghi của kiến trúc phải nhường bước cho những lăng mộ của con dân bỏ chạy ra nước ngoài sống nhờ trợ cấp và lao động”ngoài luồng ” gởi đô la về xây dựng,nguy nga,”hoành tráng ” hơn ,do tập quán và báo hiếu  thì ít mà “khoe mẽ “thì nhiều.Vìphần lớn là “tiền chùa ” !!

116_7008
116_7014
116_7000
104_3400

Những con đò cũng không còn bóng dáng ngày xưa mà biến thành những thuyền rồng(nếu không thì sẽ không được đậu dọc sông Hương và sông Đông Ba)để dành cho du khách.Đó là phương tiện sinh nhai của “vạn đò ” bây giờ.(cung có phe nhóm,tập thể riêng)

104_3430
104_3659

Ca Huế cũng cùng chung số phận, không còn là thú “thư giản thanh cao “mà đã trở thành một kỷ nghệ phụ bên cạnh sự phát triển của kỹ nghệ du lịch lịch với những lễ hội như Festival Huế để thu hút du khách và ngoại tệ.Vạn đò được đoàn ngủ hóa và ca kỷ (tốt nghiệp từ trường Văn Hóao Mỹ Thuậtcũng được tập thể hóa quản lý bởi “một cơ quan chức năng ” (Sở TTVH) của người lãnh đạo hình như cũng ăn lương(rất ít,thường là làm thêm ngoài ngành nghề chính như dạy học,bán buôn nhỏ….) và nhận”bổng lộc ” từ lòng hảo tâm của du khách trong nước và ngoài nước .

cahue1

Hằng đêm mỗi thuyền rồng chuyên chở khoảng 30 du khách, chạy ra giữa sông Hương, gần Cầu Tràng Tiền(có anh đèn ngủ sắc chiếu rọi và thay đổi mỗi 5,10 phút) hay đối diện Chợ Đông Ba thực hiện một chương trình ca Huế mà người viết nghĩ rằng chỉ nghe được âm điệu chứ chẳng hiêu được ngôn từ và nội dung của cái “hồn Ca Huế” bởi giọng nói đặc trưng “mô tê răng rứa ” của vùng,miền nầy .Chương trình thường kéo dài khoảng 60 phút và kết thúc bằng cảnh du khách được phân phát một cây đè bằng giấy mỏng mang một cây đèn cầy(sáp) nhỏ thả trên sông Hương gọi là cầu may cho cuộc đời và số phận(may mắn) của riêng mình .

cahue2

Đó là cái “di sản văn hóa phi vật thể ” như đã được gọi và xin UNESCO thừa nhận !!

Người viết đồng ý với tác giả Trần văn Khang trong truyện “thương nữ ” khi đề cập đến mấy câu thơ cỗ :

Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa

Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia

Thương nữ bất tri vong quốc hận

Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa

Tạm dịch :

Đêm bên bến Tần Hoài

Khói lồng sông lạnh trăng lồng cát

Đêm đến Tần Hoài cạnh tửu gia

Thương nữ biết chi sầu mất nước

Cách sông hát khúc Hậu Đình Hoa

Học giả Trần Trọng Kim dịch bài này như sau:

Khói lồng nước, bóng trăng lồng cát

Bến Tần Hoài, thuyền sát tửu gia

Gái ca đâu nghĩ nước nhà

Cách sông vẫn hát khúc ca Hậu Đình

mà các cụ ngày xưa thường viện dẫn để trách cứ người ca kỹ bên sông.

cahue3

Có trách là trách người yêu cầu được nghe chứ người ca kỹ chỉ làm cái việc mưu sinh bằng cách ca hát cho (giai cấp mới) “người mua vui ” mà thôi .

Share this post