Các Nhà Văn Nữ Tại Miền Nam Việt Nam (1954-1975) – Đoàn Thanh Liêm (1)

(TVVN.ORG) Hiệp Định Geneva năm 1954 phân chia Việt Nam thành hai khu vực chính trị đối lập nhau, thì đồng thời cũng tách rời các nhà văn tại mỗi miền khỏi cái truyền thống văn học thống nhất. Tại miền nam, cả một kho tàng đa dạng và phong phú của nền văn học giàu tính sáng tạo được cấu tạo từ năm 1954 đến 1975, thì có thể trưng ra hàng ngàn tác phẩm gồm đủ loại với trên 200 tác giả. Những tác phẩm này tiêu biểu cho ý tưởng tự do mà các tác giả được hưởng trong sự thích nghi, điều chỉnh, loại bỏ hay tách khỏi lề lối truyền thống, tùy theo khuynh hướng thẩm mỹ của từng tác giả. Trong thực tế, suốt 21 năm xáo trộn về chính trị xã hội đó, sự tự do sang tác tuy đôi lúc có bị kiểm soát và cắt bớt, nhưng không bao giờ lại bị xóa bỏ. Nhiều tiếng nói đã được cất lên mà trước đây chưa hề được nghe thấy; trong đó có tiếng nói của phụ nữ do chính nữ giới phát biểu. Bài viết sau đây là một cố gắng trình bày về sự tham dự của phụ nữ trong lãnh vực sáng tác xuyên qua những tác phẩm đã được ấn hành và những đóng góp của một số tác giả chọn lọc vào sự phát triển của nền văn học miền Nam Việt Nam.

Việc giới phụ nữ tham gia sáng tác văn học không phải là một hiện tượng mới lạ ở Việt Nam. Cái truyền thống này đã có từ hồi thế kỷ XV với nữ thi sĩ Ngô Chi Lan và 4 bài thơ về từng mùa. Trong xã hội cổ truyền, phụ nữ không được quyền đi học, không được quyền đi thi tuyển vào làm quan, và do đó bị gạt ra lề đời sống công cộng, thì nhà văn nữ chỉ là số ít trường hợp cá biệt do tài năng vượt trội mà khó bị ức chế. Bà Đoàn Thị Điểm ở thế kỷ XVII và nữ sĩ Hồ Xuân Hương ở đầu thế kỷ XIX là những trường hợp nổi trội. Bản dịch ra chữ Nôm của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn do Đoàn Thị Điểm hoàn thành đã biến tác phẩm đó thành một kiệt tác vững bền của nền thi ca Việt nam. Mặt khác, Hồ Xuân Hương là một khuôn mặt văn học độc đáo với các bài thơ vừa trào phúng, vừa dùng lối chơi chữ chỉ trích lề lối thống trị của nam giới và chuyện trai gái, thì bị một số người cho là tục tĩu, còn số khác thì lại cho là thích thú. Cũng còn phải kể đến các nữ thi sĩ khác nữa: Ngọc Hân Công chúa vào cuối thế kỷ XVIII với tác phẩm “Ai Tư Vãn” thời danh với tình cảm cao thượng và ngôn ngữ trau chuốt: Bà Huyện Thanh Quan hồi đầu thế kỷ XIX với những bài thơ nồng nàn tình yêu nước và hoài cổ: Nguyễn Nhược Thị cuối thế kỷ XIX với “Hạnh Thục Ca” ám chỉ cảnh bôn tẩu của Vua Hàm Nghi khỏi kinh thành Huế lúc bị thất thủ vào tay quân Pháp năm 1885.

Có thể là từ xa xưa còn có nhiều phụ nữ không có cơ hội để phổ biến tác phẩm của mình cho hậu thế có thể ghi lại trong lịch sử. Tuy nhiên, nhờ có báo chí và các nhà xuất bản, nhất là khi bước sang đầu thế kỷ XX và với cao trào đòi hỏi sự canh tân gồm cả việc giải phóng phụ nữ, thì ngày càng có nhiều phụ nữ có thể gia nhập các cơ sở văn học và tác phẩm của họ được phổ biến và được công nhận. Người đầu tiên được chú ý nhiều là Bà Tương Phố, là người xuất hiện trên tạp chí Nam Phong với tác phẩm “Giọt Lệ Thu” (NP số 131, tháng &, 1928). Đó là tập văn xuôi xen lẩn với một số khổ thơ. Tương Phố được biết đến qua thi phẩm và là người phụ nữ duy nhất được xếp vào danh sách bốn nhà thơ nổi danh đương thời: Đó là các thi sĩ Tản Đà, Á Nam Trần Tuấn Khải, Đông Hồ và Tương Phố. Sau này, thì còn có những nữ thi sĩ khác như: Nhàn Khanh, Đạm Phương, Cao Ngọc Anh, Song Thu, Vân Khanh. Thấm nhuần truyền thống văn học chịu ảnh hưởng nặng nề của văn học Trung hoa, các nhà văn nữ này phần đông đều bày tỏ tình cảm yêu quê hương và tâm trạng hoài cổ tương tự như của các bậc tiền bối như Bà huyện Thanh Quan. Tuy nhiên vào năm 1932, xu hướng này đã bị chận đứng bới một nữ thi sĩ thiếu niên, đó là Nguyễn Thị Manh Manh (bút hiệu của Nguyễn Thị Kiêm là người hoạt động trong phong trào nữ quyền). Thơ của tác giả này được đăng trên tạp chí Phụ Nữ Tân Văn là tờ báo dành riêng cho phụ nữ. Bà là một trong những người đầu tiên cổ võ cho phong trào Thơ Mới và mạnh mẽ chỉ trích lề lối hạn chế của loại thơ cũ.

Kể từ cuối thập niên 1930, lúc Thơ Mới bắt đầu chiếm được vị trí vững chắc trong nền văn học hiện đại – mà không còn phải tranh chấp mà chỉ cùng song hành với Thơ Cũ- thì đã có sự nở rộ các nhà thơ nữ. Các tác giả này chịu ảnh hưởng của cả hai trường phái, như là: Ngân Giang, Mộng Tuyết, Hằng Phương, Vân Đài, Anh Thơ, Mộng Sơn, Ái Lan, Thu Hồng Trinh Tiên.

Share this post