Các Nhà Văn Nữ Tại Miền Nam Việt Nam (1954-1975) – Đoàn Thanh Liêm (2)

(TVVN.ORG) Bài 2 – Giai Đoạn Bùng Nổ 1964-1970

Giai đoạn này bắt đầu từ khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ vào tháng 11 năm 1963. Việc bãi bỏ chế độ kiểm duyệt chặt chẽ vê xuất bản báo chí và sự Mỹ hóa cuộc chiến tranh là đặc trưng chính yếu của giai đoạn. Những xúc cảm và suy nghĩ bị kềm chế nay được giải tỏa thì được tuôn tràn ra đủ loại báo chí, sách và tạp chí đủ kiểu, đủ dạng, khiến tạo thêm không gian sinh hoạt cho các tài năng mới và mở rộng chân trời văn học. Những chuyện mâu thuẫn xung quanh vụ Vịnh Bắc Việt năm 1964 – với lối giải thích – đã khởi sự việc Mỹ hóa cuộc chiến tranh, đưa đến việc tập trung lực lượng quân sự Mỹ (từ 16,000 vào năm 1964 đến 541,000 quân vào đầu năm 1969) cùng với guồng máy tiếp liệu kèm theo. (29). Tiền đô la và hàng hóa Mỹ ào ạt đổ vào; nhiều công việc làm mới được tạo ra cho các thành phần dân chúng tại các đô thị. Với mức sống tăng lên cao, giúp cho việc mở rộng thêm số công chúng độc giả gồm cả những tầng lớp thấp tại đô thị, mà lần đầu tiên họ có thời giờ rảnh rang và cả tiền bạc để chi dùng vào công việc đọc sách báo. Những độc giả mới này gồm những người giúp việc nhà, thợ giặt, thợ làm tóc, người bán hàng, công nhân xí nghiệp và những người lao động khác.

Cái khung cảnh rộng rãi của các yếu tố kinh tế xã hội thay đổi liên hệ đến giai đoạn mới của cuộc chiến, đã tạo nên hoàn cảnh thuận lợi cho sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nhà văn nữ và tác phẩm của họ. Nhà văn nữ trong giai đoạn trước đã khẳng định được vai trò của nữ giới trong địa hạt sáng tác văn học. Với truyền thống đó, một tài năng giới nữ chỉ cần đưa ra một bản thảo tác phẩm có thể xuất bản là có thể được thâu nhận vào trong văn giới. Số lớn tạp chí và nhật báo đáp ứng cho số độc giả mỗi ngày thêm đông đảo, thì cũng cung ứng cho nhà văn nữ nhiều cơ hội được xuất bản. Một yếu tố phụ thêm nữa cũng góp phần làm tăng thêm cơ hội cho nhà văn nữ: Đó là vì lý do chiến tranh và các hệ lụy của nó, các nhà văn nam giới chịu một thứ áp lực phải nêu rõ ý thức xã hội và trách nhiệm của mình trong các tác phẩm, trong khi phụ nữ, thì được tự do hơn về ý thức cá nhân, gia đình và tâm lý. Do đó mà không có chuyện cạnh tranh, hay tranh dành lãnh vực văn học. Như vậy, nữ giới dễ được chấp nhận vào thế giới văn học và được hoạt động trong khoảng không gian rộng rãi hơn là trong thế hệ của nhà văn Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo.

Có một số tạp chí phụ nữ ăn khách tạo cho nữ giới một diễn đàn để viết về phụ nữ. Tuy vậy, phải ghi sự đóng góp quan trọng nhất cho sự phát triển sự sáng tác văn học của nữ giới, đó là vai trò của hai nhà văn Võ Phiến và Mai Thảo thông qua hai tạp chí rất có ảnh hưởng của các ông, đó là tạp chí Bách Khoa và Văn. Hai nhà văn này đã khích lệ và quảng cáo những tài năng mà họ tìm thấy trong vô số những bản thảo được gửi đến tay họ.

Sau cùng, phải kể đến cái sở thích văn chương, cũng như thành phần độc giả cũng ảnh hưởng phần lớn đến sự quảng bá sự nghiệp văn học của khá đông các nhà văn nữ. Vì phần đông người dân bi quan với cuộc chiến mỗi ngày một leo thang và do tình trạng bất ổn về chính trị, nên độc giả thường tìm lối thoát trong thế giới phiêu bồng, mà họ có thể tìm thấy một cảm giác bình yên trật tự và một điều gì gần giống như sự lành mạnh về tâm trí (31). Có người e ngại rằng loại văn chương nghiêm túc vốn được ưa chuộng trước đây, thì lúc này không còn hấp dẫn đối với quần chúng độc giả ham thích những chuyện dịch tiểu thuyết phiêu lưu võ hiệp của Trung Quốc (32). Nhưng số độc giả nghiêm túc vẫn còn đó, nhưng họ chỉ là thiểu số so với loại độc giả chỉ ưa thích những chuyện khác thường. Với tình hình đó, lối viết của nhà văn nữ mà phơi bày cái tâm lý sâu kín và thế giới riêng tư của nữ giới, thì tỏ ra rất thích hợp với cái sở thích văn chương mới thay đổi này. Trong thực tế, sự hưởng ứng nồng nhiệt của độc giả đã đem lại số thu nhập đáng kể cho các nhà văn nữ như Nguyễn Thị Hoàng và Nguyễn Thị Thụy Vũ là những người đã lập nhà xuất bản riêng ngay lúc mới bắt đầu văn nghiệp của mình. Những thành công trên thị trường văn học như vậy rõ ràng đã khích lệ các nhà xuất bản cho ấn hành tác phẩm của nữ giới, mà ít e ngại về chuyện bị lỗ lã. Hơn nữa, thật khó có thể đánh giá quá cao sự quan trọng của sự ủng hộ từ khối nữ độc giả là số đông của công chúng người đọc và liên hệ chặt chẽ với kinh nghiệm đa dạng do chính nhà văn nữ mô tả. Học sinh và sinh viên nam giới vì lý do phải lo tránh đi quân dịch, nên bó buộc phải thi đậu các kỳ thi cuối năm để được lên lớp trên kế tiếp mỗi năm. Do vậy, mà họ phải tập trung thời giờ và năng lực vào việc học và không thể phung phí vào chuyện đọc văn chương giải trí. Trong khi đó, thì nữ sinh còn trẻ, vì không phải lo lằng như các bạn trai, nên có thể dành trọn thời gian nhàn rỗi mà thưởng ngoạn văn chương. Chiến tranh cũng mở rộng cửa cho nữ giới tham gia lực lượng lao động, khiến giúp họ có phương tiện để mua sắm loại sách văn học họ ưa thích. Như vậy, rõ rệt là số độc giả đặc biệt loại này đã ảnh hưởng tới lối viết của các nhà văn nữ.

Dầu vậy, trong bối cảnh đó, ta cũng nên coi là mục tiêu tối hậu của một số nhà văn nữ dường như vượt xa ngoài sự thành công về thương mại. Họ muốn được công nhận, chứ không phải chỉ được nổi danh; họ làm việc miệt mài cho mục tiêu này, và trong chừng mực nào đó họ đã đạt được điều họ nhắm tới. Trong địa hạt thi ca, một số tác giả nổi tiếng trước đây vẫn tiếp tục đường lối cổ điển và tình cảm; một số khác tỏ ra thức tỉnh trước thực tại của đất nước bị chiến tranh tàn phá; chỉ có một số rất nhỏ là tìm cách thắc mắc về sự hiện hữu và số phận của phụ nữ. Những tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng thứ nhất, tập trung vào việc mô tả tình cảm lãng mạn như tình yêu và luyến ái, thì gồm có: “Trắng Đêm” (1964) của Thu Nhi; “Đợi Mùa Trăng” (1964) của Tôn Nữ Hỷ Khương; “Niềm Đau Tuổi Mộng” (1964) và “Lời Tình Phương Châu” (1967) của Lê Thị Phương Châu; “Khép Đôi Mi Nhỏ” (1964) và “linh Hồn Cỏ Biếc” (1967) của Hoàng Hương Trang; “Hai Khung Trời” (1965) và “Lá Đổ Trên Mười Đầu Ngón Tay” (1968) của Kiều Mộng Thu; “Pha Lê” (1965) của Phương Mai; “Cuộc Tình Và Chân Dung Tôi” của Lê Thị Ý; “Tính Yêu Con Gái” của Ngô Kim Thu; “Như Nước Trong Nguồn” (1969) và “Trên Nhánh Sông Mưa” của Tuệ Mai.(34)

Trong một số tuyển tập thơ, khuynh hướng lãng mạn được xếp liền với tình cảm sâu lắng đối với đất nước và sự quan tâm đến tương lai dân tộc. Khuynh hướng thứ hai này được biểu lộ rõ rang trong ước vọng về hòa bình và ổn định như tại: “Mơ” (1964) của Minh Đức Hoài Trinh; “Không Bờ Bến” (1964) của Tuệ Mai; “Đất Mẹ” (1967) của Phương Đài; “Mộng Thanh Bình” (1970) của Tôn Nữ Hỷ Khương. “Không Bờ Bến” của Tuệ Mai được đánh giá cao vì nhà thơ đưa ra những giải đáp mông lung cho sự kiện lịch sử – sự mông lung dường như phản ánh tâm trạng chung của người đương thời. (35) Tác phẩm này đã đem lại cho bà giải Văn Chương Quốc Gia năm 1966. Tuệ Mai là bút hiệu của Trần Thị Gia Minh sanh năm 1928 tại Hà Nội, ái nữ của nhà thơ nổi danh Á Nam Trần Tuấn Khải, bà là nữ văn sĩ làm thơ nhiều nhất; bà cống hiến trọn đời cho việc sáng tác cho đến khi bị mất vì bệnh ung thư vào năm 1982. Văn phong của bà bao trùm cả hai khuynh hướng vừa kể trên đây.

Sau cùng, hai tập thơ “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” (1965) của Lệ Khánh và “Nhã Ca Mới” (1965) của Trần Thy Nhã Ca hay Nhã Ca, có thể xem là đi ra ngoài cái lối coi phụ nữ như là thuộc phái đẹp và thụ động. “Em Là Gái Trời Bắt Xấu” gồm 32 bài thơ mô tả cái cảm giác đau đớn và tủi nhục của một phụ nữ trẻ mà tình yêu không được đáp ứng và nỗi cô đơn khiến nàng cho rằng do cái nhan sắc tầm thường tạo ra giữa một xã hội mà sắc đẹp được đề cao. (36) Trong “Nhã Ca Mới”, tác giả Nhã Ca lột bày ra lớp vỏ định kiến vốn cột chặt giới phụ nữ vào cái lối sống từ bỏ cá nhân mình và biểu lộ ý thức của bà về bản thân và chấp nhận những hạn chế về khía cạnh con người cũng như những nhu cầu về xúc cảm và tính dục. Bà cũng tự hào ca tụng những chuyển biến trong cuộc sống (tuổi thiếu niên và trưởng thành) như là một phụ nữ được khắc họa bởi cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Giọng thơ của bà đã thoát khỏi vòng khuôn sáo cũ. Lối sử dụng các hình ảnh và ngôn ngữ tượng trưng cho ta thấy ảnh hưởng của các Thánh Vịnh trong Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo. Chính Nhã Ca cũng công nhận là bà thường lấy cảm hứng từ câu thơ của Vua Solomon. Bút hiệu của bà thực ra đó là dịch từ chữ “Nhã Ca”, và tập thơ của tác giả có nhan đề là “Nhã Ca Mới”. Thơ của Nhã Ca là sự kết hợp của Thơ Mới từ thập niên 1930 với loại Thơ Tự Do được phổ biến trong thập niên 1950. Với tập thơ này, Nhã Ca đã được cấp phát Giải thưởng Văn Chương Quốc Gia năm 1966.

Trong khi đó, thì lại có nhiều nhà văn nữ tham gia trong lãnh vực tiểu thuyết. Trong khi thi ca đòi hỏi phải nghiền ngẫm và kết tinh về tư tưởng và ngôn ngữ, thì không thể bắt kịp với tình trạng vội vã, rối loạn của cuộc sống, so với dòng chảy của văn xuôi. Và vì lý do thực tiễn, thơ cũng không thể được tiêu thụ dễ dàng như một cuốn tiểu thuyết được nhiều người ưa chuộng, mà có thể đem lại cho tác giả số thu nhập về tác quyền qua nhiều ấn bản và có thể cả tác quyền về điện ảnh nữa.Loại tiểu thuyết tình cảm gia đình và truyện ngắn tiếp tục nổi cộm trong các tác phẩm của các tác giả đã từng xuất bản trong giai đoạn trước. Bà Nguyễn Thị Vinh không có tác phẩm dài, mà chỉ có một số truyện ngắn với liên hệ của tờ Đông Phương do bà sáng lập năm 1965. Bà Linh Bảo thì cho xuất bản vào năm 1967 một cuốn dành cho thiếu nhi là “Con Chồn Tinh Quái”. Cũng trong năm đó bà Đỗ Phương Khanh cho xuất bản tập truyện ngắn nhan đề là “Hương Thu”, gồm các truyện đã đăng trên Văn Hóa Ngày Nay và Tân Phong từ năm 1958. Tú Hoa tiếp tục với những truyện bi hài về chuyện tình bi đát như: Lưu Luyến (1964) (39), Danh Giá (1965) và Tao Ngộ (1969). Mộng Tuyết thì cho xuất bản tập tùy bút “Dưới Mái Trăng Non” (1969) bà viết từ thập niên 1950.
Cũng phải kể đến một số nhà văn nữ độc lập – những người không có liên hệ với một tạp chí hay tờ báo nào – như Trịnh Thị Diệu Tân với cuốn “Mảnh Vụn” (1967); Kiều Mỹ Duyên với cuốn “Thiên Thần Mũ Nâu” (1969); Châu Quế Linh với tập truyện ngắn “Tuổi Ngọc Mây Mù” (1969); Thiều Giang với nhiều chuyện tình như: “Thu” (1967), “Bạch Lan” (1968), và “Tường Vy” (2 tập, 1968); Dung Saigon với một loạt truyện thiếu nhi như “Dễ thương” và “Dễ Ghét” (1969). (40).

Đáng chú ý là cuốn “Mười Hoa Trổ Sắc” do Ngọc Minh xuất bản với 10 truyện ngắn do 10 nhà văn nữ có tên tuổi viết. (41) Phải nói đây chưa phải là một tuyển tập khả quan với bài giới thiệu tầm thường và lại không bao gồm một số tác giả nổi danh khác trong giai đoạn này. Nhưng dầu sao, với mục đích hiện nay, thì cuốn sách này cũng có thể là một khởi điểm hữu ích để giới thiệu những khuôn mặt mới. Bảy tác giả đã được thảo luận hay nói tới trước đây như : Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Đỗ Phương Khanh, Trúc Liên, Vân Trang, Hoàng Hương Trang, và Minh Đức Hoài Trinh. Hai người sau cùng này trước đó chỉ được biêt đến nhờ thi ca cuả họ và trong tuyển tập này, tài năng cuả Hoàng Hương Trang rõ rệt không nằm trong lãnh vực văn tiểu thuyết. Nhưng trong khi Hoàng Hương Trang chỉ coi thi ca mới là lãnh vực chính yếu cuả mình (42), thì Minh Đức Hoài Trinh lại chuyên chú vào việc viết tiểu thuyết. Thực tế, từ cuối năm 1963 (khi bà trở về Việt nam để làm báo) cho đến năm 1968 (khi bà rời nước đi Pháp để theo dõi cuộc hoà đàm Paris), thì Minh Đức Hoài Trinh chỉ xuất bản một tập thơ: “Mơ” (1963). Trong khoảng thời gian này, bà cho xuất bản nhiều truyện tiểu thuyết, gồm có “Bơ Vơ” (tiểu thuyết, 1964); “Hắn (truyện ngắn, 1964); Hai Gốc Cây (tiểu thuyết, 1966); Sám Hối (tiểu thuyết, 1967); và “Bức Thành Biên Giới” (tiểu thuyết, 1967). (43)

Share this post