Các Tổng Thống Mỹ Và Việt Nam – Vũ Linh

Tháng Tư Đen đương nhiên là một tháng u buồn, ảm đạm, chúng ta ngồi thương cho số phận đất nước. Nhưng đó là thái độ tiêu cực vô bổ. Điều cần làm là tỉnh táo nhìn lại lịch sử để biết cho rõ chuyện gì đã xẩy ra, chia sẻ với con cháu như những bài học biết đâu sẽ giúp chúng sau này.

Chúng tôi, Diễn Đàn Trái Chiều (DĐTC), sẽ viết hai bài về các tổng thống Mỹ có liên quan đến vấn đề VN, xét lại vai trò và trách nhiệm của họ đưa đến số phận đen tối của đất nước ta. Hai bài này sẽ xét quan hệ Mỹ-Việt qua 2 giai đoạn: Với Quốc Gia VN và với VNCH, cho tới năm 1975.

Cuộc chiến VN cần phải có cả vạn trang sách để tìm hiểu và thảo luận.

Trong khuôn khổ diễn đàn này, chỉ có thể tóm lược một cách đơn sơ nhất trong vài ngàn chữ thôi. Với những vị quen thuộc với Việt sử, bài này không có gì mới lạ, DĐTC chỉ là nhắc lại vài điểm chính cho những bạn trẻ ở Mỹ học lịch sử chiến tranh VN qua sách sử cấp tiến Mỹ, cũng như cho giới trẻ ở VN từ hồi nào đến giờ chỉ biết lịch sử cận đại VN qua cái diễn giải một chiều lố bịch của VC, kiểu súng lục bắn rớt B-52!

Chính phủ (Đệ I) Việt Nam Cộng Hòa

Bài này cũng không bàn về vai trò và trách nhiệm của người Việt, chính quyền cũng như dân chúng.

Trước khi đi xa hơn, có vài điều phải coi như tiền đề để thảo luận.

Quyền hạn của tổng thống Mỹ cực lớn, nhất là trong chính sách quốc phòng và đối ngoại, do đó chính sách của Mỹ đối với VN tùy thuộc gần như hoàn toàn vào cá nhân các tổng thống, có thể thay đổi hoàn toàn từ ông này đến ông khác. Tuy nhiên, quyền hạn của họ cũng bị giới hạn bởi quốc hội và nhất là dư luận quần chúng và nhu cầu bầu bán cho cá nhân họ cũng như cho đảng của họ. Tất cả những giả thuyết về thế lực ngầm quốc tế nào đó, theo ý kiến cá nhân, chỉ là chuyện vớ vẩn, không có căn bản và không đáng tin, tuy ai muốn tin vẫn có quyền tin.

Tất cả các tổng thống Mỹ đều lấy quyết định dựa trên mục tiêu tối hậu là quyền lợi của nước Mỹ và dân Mỹ, tuy ‘quyền lợi’ có thể khác nhau từ vị tổng thống này đến vị khác. Điểm mấu chốt cho chúng ta là xin đừng bao giờ nghĩ họ phải hành động vì quyền lợi của nước VN và dân VN. Đừng bao giờ trách cứ họ đã phản bội hay bán đứng VN, cũng như đừng bao giờ thắc mắc họ đã đặc biệt thương hay ghét dân Việt.

Tất cả các tổng thống Mỹ đều là con người, không ai là thần thánh hay ác qủy, tuyệt đối tốt hay xấu, tuyệt đối hoàn hảo hay rác rến. Họ cũng bị chi phối bởi những hỉ, nộ ái ố, tự ái, thể diện, tham vọng, thói hư tật xấu, hay ngược lại bởi tính vị tha, nhân đạo cá nhân. Họ cũng đã phạm những sai lầm, sơ xuất như bất cứ người nào khác.
TỔNG THỐNG MỸ VÀ QUỐC GIA VIỆT NAM

Quốc Gia Việt Nam trên nguyên tắc ‘ra đời’ khi thực dân Pháp chính thức trao trả độc lập năm 1949 dưới sự lãnh đạo của Đức Quốc Trưởng Bảo Đại, khi đó không chính thức gọi là vua hay hoàng đế. Chính thức cáo chung tại miền bắc năm 1954 khi Việt Minh (VM) tiếp thu Bắc Việt, và miền Nam năm 1955 khi Bảo Đại bị truất phế và VNCH ra đời. Đây là thời đại của các tổng thống Truman và Eisenhower.

TT Harry Truman kế nhiệm TT Roosevelt qua đời vì bệnh tháng 4/1945.

TT Roosevelt là người chống việc thực dân đô hộ các thuộc địa. Ông chủ trương ép các đồng minh Âu Châu phải trao trả độc lập cho các thuộc địa sau khi triệt hạ được trục phát-xít Đức-Ý-Nhật. Trong vấn đề Đông Dương, ông đề nghị ba nước Việt-Miên-Lào phải được đặt dưới một chế độ đặc biệt, gọi là ‘trusteeship’ dưới quyền cai quản của một ‘ủy ban quốc tế’ gồm có Pháp, Tàu, Nga, và đại diện ba nước, trong một thời gian chuyển tiếp có thể kéo dài vài chục năm từ thuộc địa qua độc lập trọn vẹn. Coi như thời gian ba nước thuộc địa cần có để ‘tập tự trị’.

TT Truman chấp chánh trong giai đoạn mới, khi Thế Chiến Thứ Hai sắp chấm dứt tuy vẫn còn đánh lớn tại Á Châu. Nhưng ông lại phải trực diện với một vấn đề gai góc hơn, đó là sự lớn mạnh của tân đế quốc đỏ Liên Xô. Vừa giải quyết xong cuộc chiến với Nhật, thì ông đã phải đối phó với sự lớn mạnh của Hồng Quân của Mao, đưa đến đại thắng của Tàu cộng năm 1949 với sự giúp đỡ tối đa của Liên Xô. Ngay sau đó thì bàn tay lông lá của Liên Xô bò qua bán đảo Triều Tiên, dựng lên và nuôi lớn bắc Triều Tiên với tham vọng thôn tính luôn nam Triều Tiên, đưa đến cuộc chiến nam-bắc Triều Tiên.

Trước mối đe dọa của CS quốc tế, TT Truman lo sợ mất Âu Châu, nên chú tâm củng cố việc phòng thủ Âu Châu, một mặt viện trợ kinh tế tối đa để tái thiết Tây Âu qua chương trình mang tên tướng Marshall, mặt khác tìm cách thành lập một liên minh quân sự chống Liên Xô, sau này ra đời với cái tên Liên Minh Bắc Đại Tây Dương, NATO.

Trong khối Tây Âu, nhân vật với cái tôi vĩ đại nhất lịch sử nhân loại, cái tôi cá nhân cũng như cái tôi quốc gia, chính là De Gaulle của Pháp. Tướng De Gaulle khi đó chưa là tổng thống, nhưng vì là người lãnh đạo chính quyền lưu vong Pháp dưới thời Hitler chiếm nước Pháp, ông có tiếng nói rất lớn. Điều kiện của De Gaulle để Pháp tham gia một liên minh quân sự chống Nga tại Âu Châu là Pháp phải được giữ Đông Dương, dù cho ba nước Đông Dương sẽ được độc lập trên nguyên tắc, nhưng trên thực tế vẫn phải lệ thuộc Pháp trong cái khối gọi là Liên Hiệp Pháp, và cả 3 ông vua của 3 nước đều là bù nhìn bình phong. Tướng De Gaulle nhất quyết không nhả các thuộc địa Đông Dương cũng như Phi Châu.

Mặt khác, TT Truman hiển nhiên cũng nhìn thấy nguy cơ làn sóng đỏ Trung Cộng tràn xuống VN và Đông Nam Á, nên cũng thấy cần Pháp trở lại Đông Dương để chặn.

Vì cần Pháp, TT Truman bỏ kế hoạch trusteeship của TT Roosevelt, gián tiếp chấp nhận và giúp Pháp trở lại chiếm vị thế tại Đông Dương. Đây có lẽ là quyết định có hệ quả quan trọng nhất cho số phận đất nước ta. Nếu như De Gaulle không yêu sách và nếu như TT Truman thi hành sách lược của TT Roosevelt, thì lịch sử đã đi về một hướng khác, có lẽ sẽ không có hai cuộc chiến tranh VN kéo dài 30 năm.

Quân đội Pháp dưới quyền tướng Leclerc rầm rộ trở lại Đông Dương với sự hậu thuẫn của Mỹ và tiếp sức của quân đội Anh có trách nhiệm giải giới quân Nhật trong Nam, và quân đội của Tàu khi đó dưới quyền Tưởng Giới Thạch lo giải giới quân Nhật tại miền Bắc. Tướng Leclerc trục xuất VM ra khỏi Hà Nội và tất cả các tỉnh lớn.

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất ra đời tháng Chạp 1946. Chính quyền ‘độc lập’ của Quốc Gia VN với Bảo Đại mất chính nghiã. VM lớn mạnh trong rừng núi Bắc Việt.

Cuộc chiến ra đời trong tinh thần ái quốc chống thực dân Pháp mau mắn chuyển hướng thành cuộc chiến quốc-cộng vài năm sau, khi Trung Cộng công khai giúp đỡ VM và VM bắt đầu thi hành các chính sách cộng sản như cải cách điền địa theo mô thức Tàu cộng trong những vùng chiếm được, trong khi Mỹ công khai giúp Pháp và chính quyền Bảo Đại từng bước tìm độc lập thật sự, nhưng từng bước quá nhỏ và quá chậm. Người Việt ái quốc bị kẹt trong thế phải lựa chọn: một là đi theo cộng sản VM chống Pháp đến cùng, hai là chấp nhận Bảo Đại như một bước tiến đến độc lập hoàn toàn không lệ thuộc thực dân cũng chẳng bị nhuộm đỏ. Rất nhiều người yêu nước thật sự, đi theo VM nhưng sau ít lâu, không chấp nhận CS, ‘về thành’ như các ông Nguyễn Khánh, Nguyễn Văn Thiệu và Phạm Duy. Nhiều người khác đi theo Việt Quốc hay Việt Cách, cho đến khi các tổ chức này bị VM tiêu diệt, đành phải về với Bảo Đại.

Cuối trào Truman cũng là giai đoạn cam go nhất khi VM với viện trợ quân sự ào ạt của Mao sau khi đã chiếm được cả lục địa Tàu, đã đủ lớn mạnh để tung ra những trận đánh biển người, nướng lính theo sách lược của Mao trong khi Pháp thẳng tay diệt dưới quyền tướng De Lattre de Tassigny. Cuộc chiến leo thang, thanh niên Việt cả hai bên chết hàng vạn, nhưng vẫn bất phân tháng bại.

Kết luận đơn giản nhất, TT Truman có ‘tội’ vì đã giúp Pháp trở lại VN, đẻ ra cuộc chiến tranh Đông Dương thứ nhất. Cũng phải nói ngay nếu TT Truman không giúp Pháp trở lại, thì cả nước VN đã bị cộng sản hóa ngay sau cái gọi là Cách Mạng Tháng 8/45 khi VM chiếm chính quyền trong khoảng trống sau khi Nhật đầu hàng. Các đảng phái quốc gia khi đó đơn độc, hiển nhiên không đủ khả năng chống đỡ VM với TC và Liên Xô đứng sau lưng.

Cựu tư lệnh lực lượng đồng minh đánh tan Hitler, tướng Dwight Eisenhower đắc cử tổng thống Mỹ, nhậm chức đầu năm 1953.

Ông tiếp nhận một tình trạng dở dở ương ương tại Đông Dương. Ông giúp Pháp một cách bất đắc dĩ vì là đồng minh chính trị nhưng trong thâm tâm không ưa Pháp và muốn giúp VN được độc lập thật sự và mau chóng.

Bất ngờ, ông bị đặt trước chuyện đã rồi khi Pháp quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, đóng chốt tại con đường tử huyệt của VM qua Lào, để câu VM đến đánh, ngõ hầu Pháp có cơ hội dùng hỏa lực mạnh hơn để tiêu diệt hết. VM chấp nhận thách đố, mang quân đến bao vây ĐBP với ý định ngược, tiêu diệt quân Pháp một lần cho trọn.

Pháp đã đánh giá VM sai lầm hoàn toàn, bị đe dọa tiêu diệt thật. Cầu cứu TT Eisenhower mang bom nguyên tử chiến lược –nhỏ- tiêu diệt hầu như toàn bộ lực lượng VM đang tập trung quanh ĐBP. TT Eisenhower tham khảo với Anh Quốc, lo ngại việc tham gia quá lớn của Mỹ sẽ mang tai tiếng cho Mỹ, sẽ bị gắn liền với việc bảo vệ thực dân Pháp duy trì thuộc địa. Ông quyết định chỉ tham gia mạnh nếu có một liên minh quốc tế trong đó có Anh, Úc, Tân Tây Lan và vài quốc gia Á Châu như Phi Luật Tân, Thái, Mã Lai. Liên minh không thành vì Anh Quốc lo ngại sẽ xẩy ra đại chiến thế giới thứ ba hay ít nhất đại chiến Á Châu và TC sẽ đánh Ấn Độ, Mã Lai, Tân Gia Ba, là những tử huyệt của Anh. Anh khi đó đã trả độc lập lại cho Ấn Độ và Mã Lai, nên cũng không thấy lý do gì phải giúp Pháp duy trì thuộc địa Đông Dương.

Không có sự tham gia của Anh, TT Eisenhower từ chối can thiệp mạnh hơn, tuy có tăng cường phi vụ thả bom chung quanh ĐBP cho có, nhưng không đủ để cứu Pháp.

TT Eisenhower có thể đã tính đường khác. Chấp nhận cho Pháp thua để Mỹ vào thay thế đánh VM mà không bị mang tiếng là đồng minh của thực dân, đưa cuộc chiến đi thêm một bước nữa vào cuộc chiến tư bản – cộng sản quốc tế, không còn mang cái áo chiến tranh dành độc lập của một thuộc địa nữa.

Pháp thất trận ĐBP, qua Hòa Ước Geneve, tháo chạy, trao một nửa nước cho VM, phần miền Nam còn lại, bán cái qua cho Mỹ.

TT Eisenhower mang con bài của mình về nước, thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chánh với hậu thuẫn mạnh mẽ của cả TT Eisenhower lẫn đảng đối lập DC qua các thượng nghị sĩ Mike Mansfield và John Kennedy, cũng như yểm trợ tích cực của khối Công giáo của Hồng Y Francis Spellman.

Thủ Tướng Diệm quan niệm VN cần phải lột xác, xóa bỏ tận gốc mọi dấu vết của chế độ thuộc địa mới có hy vọng thành công trong cuộc chiến sống còn chống CS. Bắt đầu bằng cách truất phế quốc trưởng bù nhìn Bảo Đại, chỉ lo ăn chơi tại Hồng Kông và Nice, trục xuất tất cả quan chức Pháp, xóa bỏ mọi dấu vết của chế độ thuộc địa, và tiêu diệt tận gốc tất cả băng đảng, giáo phái tay sai của Pháp như Bình Xuyên, và cả các quan lại trong các đảng gọi là ‘quốc gia’. Ông mau mắn chứng minh cho dân Việt và cả thế giới thấy ông là người yêu nước chân chính, có khả năng và được hậu thuẫn mạnh của những người Việt quốc gia không chấp nhận Pháp nhưng cũng chống CS.

TT Eisenhower và cả đảng DC tích cực hậu thuẫn thủ tướng rồi tổng thống Diệm, từ kinh tế đến quân sự và cả chính trị, xã hội. Đưa đến thời cực thịnh của miền Nam, dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. VN trở thành mô thức phát triển mẫu mực cho một nước chậm tiến mới thoát khỏi đô hộ, vừa phải ổn định chính trị, vừa phải lo định cư một triệu người bắc di cư, vừa lo chống đỡ đe dọa CS xâm lăng. Một gương sáng mà thủ tướng Lý Quang Diệu của Tân Gia Ba khi đó còn phải ước mơ.

Nhìn chung, TT Eisenhower là người có ‘tội’ là đã bỏ qua cơ hội tiêu diệt VM tại ĐBP, nhưng sau đó lại là người có công lớn đã củng cố miền Nam dưới Đệ Nhất Cộng Hòa.

TỔNG THỐNG MỸ VÀ VIỆT NAM CỘNG HÒA

Quốc Gia Việt Nam cáo chung năm 1955 khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại, thành lập chế độ Cộng Hòa, chấp chánh như tổng thống đầu tiên của VN. VNCH tồn tại 20 năm, tới 1975 khi CSVN chiếm trọn miền Nam.

TT Kennedy. Dân Chủ 1961 – 1963
(Đoạn này trích dẫn từ bài #18: TT Kennedy Và VN đã đăng trên DĐTC tháng 4/2018:

https://diendantraichieu.blogspot.com/2018/04/tt-kennedy-va-viet-nam.html#more

Năm 1960, TNS John Kennedy đắc cử tổng thống. Ông tin tưởng một thể chế trung lập Lào với sự chấp nhận của Liên Sô sẽ bảo đảm Lào thành trái độn ngăn cản con đường ‘nam tiến’ của CSBV. TT Kennedy vận động Nga để rồi cuối cùng đẻ ra được hiệp định trung lập hóa Lào năm 1962. Một thể chế trung lập quái đản, trao vào tay Pathet Lào, con đẻ của CSBV, một nửa đông-nam của lãnh thổ Lào, giáp giới với CSBV, VNCH, và Căm Pu Chia, tức là để nguyên hành lang này cho CSBV chuyển quân vào Nam VN qua cái sau này gọi là ‘đường mòn HCM’.

Đây là sai lầm chiến lược vĩ đại mang theo hậu quả cực kỳ tai hại cho miền Nam VN của tân tổng thống trẻ không bao nhiêu kinh nghiệm. TT Eisenhower đã đúng hoàn toàn khi tiên đoán CSBV sẽ không bao giờ tôn trọng trung lập của Lào bất kể thái độ của Liên Xô, và sẽ chiếm Căm Pu Chia và VNCH qua ngã Lào không sớm thì muộn.

Nhiệm kỳ của TT Kennedy cũng trùng hợp với sự ra đời chính thức và lớn mạnh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam VN như công cụ của CSBV.

Năm 1963 là cái mốc đổi đời của VNCH. Cuộc chiến leo thang mạnh khi CSBV bắt đầu chuyển quân ào ạt vào miền Nam trong khi TT Diệm gặp khó khăn chính trị lớn khi biến cố Phật giáo miền Trung nổ ra, rồi sau đó bị lật đổ. Năm này cũng là năm truyền thông Mỹ đổ bộ vào miền Nam và tin tức chiến sự VN cũng như những khó khăn chính trị của TT Diệm bắt đầu tràn ngập mặt báo và TV Mỹ. Hàng đoàn ký giả Mỹ thay vì chỉ làm nhiệm vụ thông tin trung thực thì đều đã biến thành chuyên gia sách động cho việc Mỹ chấm dứt can thiệp vào cuộc chiến, triệt để bôi bác miền Nam, tiếp tay cho bộ máy tuyên truyền của CSVN trong dư luận Mỹ.

Năm 63 cũng là năm TT Kennedy rất sợ tin xấu vì ông chuẩn bị tái tranh cử trong năm 64. TT Kennedy nhìn thấy rõ hai lựa chọn của ông: một là phủi tay, chấm dứt mọi can thiệp, và hai là can thiệp mạnh hơn. Nhất chín nhì bù, không có giải pháp lằng nhằng ở giữa.

Giải pháp rút lui ngay khó làm được vì Mỹ vẫn còn bị chi phối bởi thuyết domino, lo sợ sẽ mất hết cả Đông Nam Á nếu bỏ Nam VN, chưa kể TT Kennedy vẫn bị ám ảnh bởi hình ảnh một tổng thống yếu đuối bị Khrushchev coi thường, thất bại hai lần ở Cuba (trong vụ đổ bộ tại Vịnh Con Heo, và vụ tháo gỡ hỏa tiễn nguyên tử của Liên Xô tại Cuba), cũng như viễn tượng phải tranh cử chống ông diều hâu Nixon trong kỳ bầu cử tới. Ngược lại, can thiệp mạnh chỉ có thể thực hiện được nếu loại bỏ được anh em ông Diệm-Nhu vì TT Diệm không chấp nhận can thiệp sâu hơn của Mỹ.

Ở đây không phải chỉ là việc TT Diệm bác bỏ ý kiến đổ bộ lính Mỹ vào VN, mà còn là việc ông chống lại ý định của Mỹ muốn gia tăng kiểm soát cuộc chiến quân sự cũng như kiểm soát chính trị và kinh tế. Người Mỹ muốn nắm quyền quyết định quân sự, nắm luôn hầu bao viện trợ quân sự và kinh tế, đồng thời ép TT Diệm thi hành những cải tổ chính trị theo ý của họ. Những yêu sách quá lớn mà TT Diệm cương quyết không nhượng bộ.

Về phiá VNCH thì một số tướng lãnh đã rục rịch tính chuyện lật đổ TT Diệm vì họ cho rằng ông này đã thất bại, mất hậu thuẫn dân, khiến VC ngày càng lớn mạnh, đe dọa sự tồn vong của cả miền Nam. Nhưng các tướng cũng chỉ có thể đảo chánh nếu nhận được bảo đảm Mỹ sẽ không can thiệp cản trở đảo chánh, hay nếu đảo chánh thành công, sẽ tiếp tục hậu thuẫn cuộc chiến chống CSBV. Chứ nếu đảo chánh xong, Mỹ rút đi không yểm trợ cho cuộc chiến thì nguy nặng vì VNCH sẽ không thể nào đương đầu được với CSBV vẫn nhận được viện trợ quân sự hùng hậu từ khối Liên Xô và TC.

Sau nhiều lưỡng lự và tranh luận nội bộ, chính quyền Kennedy lựa con đường can thiệp mạnh, chuyển qua giai đoạn tích cực áp lực các tướng lật đổ TT Diệm.

Cuộc đảo chánh năm 63, bất kể nguyên nhân và diễn biến, là một biến cố ‘đổi đời’, làm suy yếu nền tảng chính trị và quân sự của chính quyền VNCH, nhất là các tướng cả 3 năm sau vẫn bận rộn ‘chỉnh lý’ nhau, thay đổi các tư lệnh quân sự và chỉ huy địa phương như chong chóng.

Nhìn vào những sự kiện lịch sử trên, ta thấy rõ ta thua không phải năm 75, mà đã thua từ năm 63 với những khó khăn chính trị bị Truyền Thông Dòng Chính (TTDC) Mỹ khai thác tiếp tay cho VC, và khi TT Diệm bị lật đổ, hay xa hơn, thua từ năm 62 khi TT Kennedy phạm sai lầm chiến lược vĩ đại, ký hiệp ước ngớ ngẩn ‘trung lập hóa’ Lào.

TT Diệm trong 6 năm đầu là một vĩ nhân có công lớn khi đã thành công xây dựng nên một VNCH tương đối thịnh vượng và hùng mạnh từ đống tro tàn do thực dân Pháp để lại, nhưng ông cũng đã phạm nhiều sai lầm lớn trong 3 năm sau đó, khi gặp khó khăn chính trị nội bộ. Càng gặp khó khăn, TT Diệm càng tự cô lập, càng dựa vào gia đình, và càng trở nên độc đoán, đưa đến việc mất lòng dân rất nhiều, cuối cùng đi đến đảo chánh. Việc dân miền Nam nói chung khi đó bất mãn chế độ, ào ạt biểu tình chống TT Diệm trong vụ Phật giáo để rồi vui mừng xuống đường hoan hô Cách Mạng 1/11/1963 là những dữ kiện lịch sử, không thể phủ nhận, viết lại được.

Nếu TT Eisenhower có công lớn giúp TT Diệm gây dựng nên một VNCH tương đối thịnh vượng và hùng mạnh, thì TT Kennedy chính là người đã lấy 2 quyết định cực kỳ tai hại là mở hành lang ‘đường mòn HCM’ bên Lào cho CSBV xâm nhập và giúp lật đổ TT Diệm mở toang cửa cho TT Johnson can dự mạnh, khiến cuộc chiến của miền Nam mất hết chính nghiã, cuối cùng đưa đến việc mất cả miền Nam VN vào tay CSBV. Hơn tất cả các tổng thống khác, TT Kennedy đã là người chịu trách nhiệm lớn nhất trong việc mất miền Nam VN vào tay CSBV.

chúng ta bàn qua phần hai của bài nhận định về vai trò của các tổng thống Mỹ trong việc mất trọn miền Nam VN vào tay VC. Ba tổng thống Johnson, Nixon, và Ford sẽ được bàn qua trong phần này.

Đây là giai đoạn chiến tranh VN lên cao điểm, rồi đi đến kết cuộc bi thảm mà ta đã biết.

TT Kennedy bất ngờ bị ám sát chết ba tuần sau khi TT Diệm bị giết. Nhiều người tin dị đoan sẽ gọi là ‘quả báo’? TT Johnson lên thay thế, một năm sau ông ra tranh cử và đắc cử, làm tổng thống chính danh chứ không còn là ‘tổng thống ngáp’ sau khi TT Kennedy chết, nhưng 4 năm sau đó, quyết định không ra tranh cử nữa.

TT Johnson, dân ‘cao bồi’ Texas thứ thiệt, chủ trương cứng rắn hơn TT Kennedy. Ngay từ đầu, ông muốn tiếp tục hậu thuẫn TT Diệm, phản đối lại mọi đề nghị đảo chánh, chống ngay cả những áp lực đẩy cố vấn Nhu ra ngoài vòng quyền lực. Ngay sau khi nhậm chức, ông đã muốn can dự mạnh, nhưng vì phải ra tranh cử cuối năm 1964, nên phải dè dặt, tuyên bố sẽ không cho “thanh niên Mỹ chết trong đồng ruộng Á Châu” và đả kích mạnh thái độ ‘diều hâu’ cực đoan của ứng cử viên CH ông Barry Goldwater.

Sau khi đắc cử, ông mau mắn lật ngược chính sách, can thiệp mạnh vào nam VN, nhất là sau khi tình hình VN suy xụp mau chóng qua các ‘chỉnh lý’ không ngừng của các tướng lãnh.

TT Johnson quyết tâm sẽ không là tổng thống Mỹ đầu tiên thua trận hay bỏ rơi đồng minh. Trong thời gian đầu, ông được hậu thuẫn của đảng DC khi đó nắm đa số tại cả Hạ Viện lẫn Thượng Viện. Đảng CH diều hâu cũng hậu thuẫn tuy họ đòi hỏi những biện pháp can thiệp còn mạnh hơn nữa. Quốc hội biểu quyết cho TT Johnson toàn quyền đánh BV sau vụ tàu Maddox bị tàu VC bắn, qua Nghị Quyết Tonkin –Tonkin Resolution- chỉ có đúng 2 phiếu chống so với 98 phiếu thuận tại Thượng Viện, với 0 phiếu chống và 416 phiếu thuận tại Hạ Viện. Mở màn cho các chiến dịch dội bom Bắc Việt kéo dài qua tới thời TT Nixon.

Cái nhức răng cho TT Johnson là ông là người có khuynh hướng cấp tiến nặng, có tham vọng lớn muốn thay đổi xã hội, tung ra các chương trình cấp tiến để thực hiện cái mà ông gọi là Great Society, nhưng kẹt chiến tranh VN, vừa tốn tiền quá mức, vừa gây phân hóa lớn trong chính trường cũng như trong dư luận quần chúng, là những cản trở vĩ đại cho giấc mộng Great Society.

Sau vài năm đầu thậm thụt leo thang từng bước, đưa đến việc hơn nửa triệu quân Mỹ tham gia cuộc chiến mà vẫn không thấy ‘ánh sáng cuối đường hầm’, ông tìm cách ‘tháo chạy’ nhưng không tìm ra lối thoát.

Những cố gắng mở đường nói chuyện với VC qua nhiều ngã đều thất bại. Ngay cả sau khi Mỹ và VC thỏa thuận gặp nhau tại Paris tháng 5/1968 sau khi VC thảm bại trong vụ tổng công kích Mậu Thân, hai bên cũng chẳng đi đến một thỏa thuận nào hết, tranh cãi cả mấy tháng trời về những chuyện lẩm cẩm như hình thù cái bàn họp. Thật ra, VC cố tình trì hoãn để đợi bầu cử tổng thống Mỹ cuối 1968. Khi hai bên chuẩn bị nói chuyện cũng là lúc TT Johnson đã công khai tuyên bố ông không ra tranh cử lại, trong khi các ứng cử viên tổng thống của đảng DC, trong đó có các thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, George McGovern và Robert Kennedy, đều công khai muốn Mỹ rút khỏi VN.

TT Johnson là người chịu trách nhiệm mang hơn nửa triệu quân Mỹ vào VN, ‘chiếm’ quyền trực tiếp điều hành cuộc chiến từ quân sự đến chính trị, với những hậu quả tốt cũng như xấu. Tốt vì hiển nhiên đã cứu miền Nam khỏi một đại bại ngay từ những năm 65-66 khi quân lực VNCH gần như tan hàng vì những chỉnh lý của các tướng, chỉ lo đánh lẫn nhau chứ không lo đánh VC nữa. Xấu vì đúng như TT Eisenhower và TT Diệm đã lo ngại, việc Mỹ can thiệp trực tiếp quá mạnh, đã khiến VNCH mất chính nghiã, tặng cho VC một vũ khí tuyên truyền vô giá là “lính da trắng Mỹ chỉ là thay thế lính da trắng Pháp thôi”.

Qua việc TT Johnson can thiệp mạnh, nhiều người nghe theo tuyên truyền của CS cho rằng việc đó thể hiện tính ‘đế quốc’ của Mỹ. Thật ra, nếu hiểu người Mỹ rõ thì sẽ biết quyết định can thiệp mạnh của TT Johnson chẳng qua là đúng theo tính người Mỹ, làm gì cũng muốn mình là người lấy quyết định trọn vẹn, không tin người khác có khả năng làm được việc, nhất là khi thấy cấp lãnh đạo VNCH, từ TT Diệm đến các tướng lãnh, đều đã đi từ thất bại này đến thất bại khác.

Đáng tiếc thay, chính quyền Mỹ cũng không khá hơn, đã đưa ra hết chiến lược sai lầm này đến chính sách trật bét nọ, luôn đi theo VC nhưng chậm hơn một bước. Ban đầu, Mỹ chờ đợi một cuộc chiến quy ước lớn kiểu Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn, thì VC chơi du kích chiến. Khi Mỹ chuyển qua chống du kích trong rừng thì VC tổng công kích thành phố. Khi Mỹ lo bảo vệ thành phố và lùng du kích VC trong núi, thì VC xua thiết giáp tràn qua biên giới.

TT Johnson coi cuộc chiến như một cuộc đấu võ chính trị trong đó quân sự chỉ là công cụ. Tất cả các chiến dịch quân sự lớn, tất cả các cuộc đánh bom BV, đều phải được Tòa Bạch Ốc ô-kê dựa trên tính toán chính trị, từ nhu cầu, ý nghiã, đến hậu quả. Rồi lại còn phụ thuộc vào phân tích thống kê điện toán –computer data analysis- theo kiểu tỷ lệ địch chết so với số lượng đạn bắn, số làng đã bình định so với số bom đã thả,… Nhiều chuyên gia đã nhận xét không sai là cuộc chiến không phải do các tướng bốn năm sao điều hành trên chiến trường, mà là do các sinh viên vừa tốt nghiệp đại học, chuyên gia tranh cãi lý thuyết chính trị và phân tích thống kê, làm việc trong phòng lạnh tại Tòa Bạch Ốc hay Ngũ Giác Đài, chỉ nhìn thấy những con số thống kê, chưa bao giờ thấy một giọt máu hay nghe một phát súng nổ.

Mỹ thua vì không hiểu mà cũng chẳng bao giờ muốn tìm hiểu những yếu tố tâm lý chính trị đặc thù của VC nói riêng và VN nói chung, mà chỉ trông cậy vào hỏa lực. Lý luận của người Mỹ: Mỹ đã diệt tan cả Đức lẫn Nhật, luôn cả Trung Cộng tại Bắc Hàn, mà đâu có cần tìm hiểu tâm lý của Hitler, Hirohito hay Mao gì đâu, sao bây giờ phải thắc mắc chuyện mấy ông nông dân Việt nghĩ gì? Ngay cả các tướng tá, sĩ quan VNCH nghĩ gì, Mỹ cũng chẳng cần biết.

Cái sai lầm của lập luận này là Đức, Nhật và Trung Cộng đều dùng hỏa lực của họ chống lại hỏa lực của Mỹ, và họ thua; trong khi VC không dùng hỏa lực mà dùng chiến tranh gặm nhấm. Vũ khí chính của VC là lấy lòng dân bằng đủ cách, từ dụ dỗ ngon ngọt đến lừa gạt xảo trá nhất đến khủng bố và giết thẳng tay, tùy đối tượng. Với mục đích kéo dài cuộc chiến, gặm nhấm vào tính kiên nhẫn của dân Mỹ. Trong khi HCM nói chuyện “100 năm trồng người” thì người Mỹ chỉ nhìn thấy 4 năm nhiệm kỳ một tổng thống.

Dĩ nhiên là VC cũng phải dùng hỏa lực, nhưng chỉ để ‘dứt điểm khi thời cơ chín mùi’. Ở đây ta thấy ngay cái sai lầm của cấp lãnh đạo VC, quá chủ quan, quá tin tưởng vào tuyên truyền của chính mình, tưởng ‘cơ hội dứt điểm’ đã tới với Mậu Thân 68 và Mùa Hè 72, để rồi cả hai lần đều ôm đầu máu, chết lính như rạ. ‘Cơ hội dứt điểm’ chỉ thực sự đến với VC năm 75 khi quốc hội DC Mỹ đã cắt đứt cuống rốn cung cấp bom đạn và xăng nhớt cho QLVNCH.

Chính sách của TT Johnson tiêu biểu cho chính sách đối ngoại cũng như quân sự của các tổng thống của đảng DC: bao đồng muốn can dự nhưng lại nhát tay, vừa đánh vừa run vì sợ TC nhẩy vào. Khi TT Johnson được mật báo có cả ba trăm ngàn lính TC ở BV, ông tiếp tay VC dấu nhẹm tin này vì sợ đụng độ lớn với TC.

TT Johnson không ra tranh cử lại, đảng DC đưa PTT Hubert Humphrey ra chống lại cựu PTT Richard Nixon. Ông Nixon thắng.

Ông Nixon khi ra tranh cử bảo đảm ông đã có “kế hoạch bí mật” để chấm dứt chiến tranh VN. Sau này, kế hoạch bí mật đó được bật mí và mọi người thấy đó là giải quyết cuộc chiến VN bằng cách nói chuyện thẳng với các đàn anh đang đỡ đầu VC là Liên Xô và Trung Cộng, trao đổi quyền lợi dựa trên tính toán địa chính trị toàn cầu, trong khi chỉ điều đình với VC về chi tiết đình chiến, rút quân, và trao trả tù binh.

TT Nixon nhìn cuộc chiến VN dưới nhiều khiá cạnh:

Cuộc chiến VN là một vi khuẩn vĩ đại gây phân hóa không hàn gắn được trong xã hội và chính trị Mỹ, làm tê liệt tất cả mọi chương trình nội bộ hay ngoại giao của Mỹ. Chưa kể tốn kém quá mức về tiền bạc và nhất là sinh mạng thanh niên Mỹ. Mà lại không thấy giải pháp nào khi khối CS quốc tế vẫn kiên trì giúp VC và VC nghiến răng thí mạng cùi tới cùng. Ông cho rằng việc cần phải làm là một mặt củng cố quân lực VNCH qua sách lược gọi là ‘Việt Nam hóa’, mặt khác điều đình với Liên Xô và TC chấm dứt hay ít nhất giảm mạnh viện trợ quân sự của họ cho VC, như vậy sẽ giúp cho VNCH một cơ hội đánh nhau ngang tay với VC, và trong cuộc chiến ‘ngang tay’ đó, TT Nixon tin tưởng VNCH sẽ chỉ thắng hay huề, không thể thua.

Nhưng quan trọng hơn nữa trong cái viễn kiến quốc tế của TT Nixon, cuộc chiến VN là một chất keo kết nối khối CS, nhất là Nga và Tàu, mà nếu Mỹ chấm dứt can thiệp thì chất keo sẽ tan và mấy ông CS sẽ túm đầu đánh nhau túi bụi. Khối CS quốc tế đang bị chi phối bởi việc dành ảnh hưởng giữa hai ông anh lớn, Mỹ cần phải triệt để khai thác phân hóa đó để tạo ra thế chân vạc, ‘tam quốc tân thời’, chứ hai ông CS lớn đó ngồi với nhau thì Mỹ khó chống đỡ.

TT Nixon đã có viễn kiến xa hơn tất cả mọi người. Sau khi chiến tranh VN chấm dứt, quan hệ Liên Xô – Trung Cộng đổ vỡ hoàn toàn, không hàn gắn được. Sau đó, ngay cả TC cũng đánh VC trong khi VC đánh Căm Pu Chia. Chuyện ‘môi hở răng lạnh’ biến thành răng cắn cho đứt môi.

Phải thẳng thắn nhìn nhận chiến tranh VN là một hột cát kẹt trong con mắt của Mỹ, không có một ích lợi nào mà chỉ làm cộm mắt. TT Nixon thực sự muốn chấm dứt chiến tranh VN. Nhưng cũng không khác TT Johnson, ông không muốn là tổng thống đầu tiên thua trận, nhất là thất hứa không bảo vệ đồng minh. Thất hứa đó, ông sợ Mỹ sẽ phải trả giá quá cao khi Mỹ và khối Liên Xô-TC còn đang tranh dành ảnh hưởng trên các quốc gia đệ tam. Mỹ bỏ miền Nam VN quá dễ dàng sẽ khiến các quốc gia đệ tam cân nhắc việc làm đồng minh với Mỹ.

Điều ông hy vọng là sẽ có thể điều đình trên đầu VC, tức là điều đình thẳng với Liên Xô và TC để hai xứ đàn anh này ép VC chấp nhận một giải pháp nào đó mà sẽ không có bên nào thắng bên nào thua, chấm dứt chiến tranh VN theo mô thức Triều Tiên, duy trì tình trạng hai miền trong khi chờ đợi thống nhất có thể cả chục năm sau.

TT Nixon sai lầm và thất bại vì ông đã không tính trước sự chống đối quá mạnh của đối lập DC và nhất là không tính Watergate.

Đảng DC thất bại với TT Johnson nhất quyết không cho ông CH Nixon thành công. Trong suốt thời gian nắm quyền, ông Nixon đã gặp phải chống đối tuyệt đối của phe đối lập DC và TTDC thiên tả suốt ngày bôi bác miền Nam và ca tụng VC, chưa kể hàng vạn người xuống đường biểu tình liên tục cả mấy năm trời. Chỉ trong 4 năm nhiệm kỳ đầu, TT Nixon đã bị Hạ Viện DC biểu quyết hơn 80 lần, trung bình 3 tuần một lần trong suốt bốn năm liền, đòi TT Nixon chấm dứt can dự vào cuộc chiến.

Tháng Chạp 1969, Thượng Viện DC thông qua luật Church-Cooper (thượng nghị sĩ DC Frank Church của Idaho, và CH John Cooper của Kentucky) cấm triệt mọi hoạt động quân sự -hành quân hay dội bom- trên lãnh thổ Lào. Đường mòn Hồ Chí Minh được các nghị sĩ DC Mỹ bảo đảm an toàn tuyệt đối.

Năm 1974, VNCH bất lực nhìn VC chuyển quân và súng đạn ào ạt vào Nam VN qua đường mòn bây giờ đã thành xa lộ HCM. TT Nixon muốn đánh bom, nhưng bị vướng xình lầy Watergate, không đủ hậu thuẫn chính trị để vượt qua luật Church-Cooper.

Tháng 6, 1970, Thượng Viện DC thông qua tu chính Church-Cooper cấm chính quyền Nixon không được chi một đồng nào cho cuộc chiến tại Căm-Pu-Chia, cấm gửi lính qua hay đánh bom xứ này luôn. Đến phiên các mật khu VC trên đất Căm-Pu-Chia được Thượng Viện DC Mỹ bảo đảm an toàn. VC di chuyển bộ tư lệnh từ “R” ở Nam VN qua Căm–Pu-Chia.

Năm 1973, lấy cớ Hiệp Định Paris đã ký, TNS Church lại cho thông qua luật mới cắt hết mọi viện trợ quân sự cho ba nước Việt-Miên-Lào. QLVNCH hết nhận được viện trợ quân sự. Cũng năm 1973, quốc hội thông qua luật War Power Act, Quyền Tham Chiến, bắt tổng thống phải xin phép quốc hội nếu tham gia bất cứ cuộc chiến nào quá ba tháng. Vì Hiệp Định Paris đã chấm dứt chiến tranh VN, nếu Mỹ trở lại VN thì sẽ coi như mở đầu một cuộc chiến mới, phải có sự chấp thuận của quốc hội do DC nắm đa số tại cả hai viện. (Cả hai luật cắt viện trợ hoàn toàn và cấm tham chiến khi đó được tân nghị sĩ Joe Biden ủng hộ)

Trong khung cảnh ‘nội chiến’ với đối lập DC đó, TT Nixon lại dính vào vụ Watergate, dĩ nhiên bị TTDC và DC triệt để khai thác, cuối cùng ép ông phải từ chức.

Câu hỏi không bao giờ có câu trả lời: nếu TT Nixon không bị DC chặt chân trói tay và dính lầy Watergate thì số phận VN sẽ ra sao? Hiệp Định Paris sẽ như thế nào? Ông sẽ đối phó thế nào khi thấy VC chuyển quân giữa ban ngày trên xa lộ HCM? Ông sẽ phản ứng ra sao khi VC xé Hiệp Ước Paris, tung thiết giáp chiếm Nam VN năm 75?

Nhiều người VN trách cứ TT Nixon và nhất là cố vấn Kissinger đã gian trá, lừa gạt VNCH, bán đứng VNCH cho Trung Cộng, để bảo vệ Do Thái.

Luận cứ này có đúng nhưng cũng sai. Đúng ở điểm TT Nixon muốn tìm giải pháp rút khỏi VN và nhiều khi đã không hoàn toàn chân thật với TT Thiệu, vì nhu cầu bảo vệ quyền lợi Mỹ cũng như thực hiện sách lược ‘tam quốc’ của ông, trong khi ông lại không muốn TT Thiệu công khai chống vì ông sợ mang tiếng phản đồng minh, do đó đã dấu TT Thiệu nhiều chuyện. Không đúng ở điểm TT Nixon muốn bán đứng VNCH cho TC với bất cứ giá nào, để bảo vệ Do Thái. Tố Kissinger “bán đứng VN để bảo vệ Do Thái” là một luận cứ thô thiển dễ ăn khách vì Kissinger là Do Thái. Cũng chỉ là một giả thuyết nằm trong câu chuyện hư cấu thế lực ngầm Do Thái thao túng cả thế giới. Thật ra, Do Thái chưa bao giờ là một yếu tố quan trọng trong việc giải quyết chiến tranh VN.

TT Nixon cố gắng tìm một giải pháp để VNCH có thể tồn tại lâu dài, qua những cuộc dội bom Căm-Pu-Chia và nhất là những cuộc dội bom trên Hà Nội mùa Giáng Sinh 72, nhưng mỗi lần ông ra tay mạnh là một lần bị khối DC ra luật mới trói tay thêm.

Luận cứ TT Nixon bán đứng miền Nam thật ra là do phe DC tung ra để chạy tội sau khi mất miền Nam, dấu nhẹm tất cả những biểu quyết của khối DC tại quốc hội đã khoá chặt tay TT Nixon. Nếu quốc hội đã ra luật cắt mọi viện trợ quân sự, cấm Mỹ dội bom trên cả bốn vùng, nam và bắc VN, Lào và Căm-Pu-Chia, cấm cả tổng thống không được tham chiến trở lại thì cho dù TT Nixon muốn giữ miền Nam thì ông có cách nào? Làm sao có thể nói TT Nixon là người chịu trách nhiệm về việc bỏ/mất VNCH? Điều ngạc nhiên phải nói là việc ông đã cứng cựa, cầm cự dai dẳng được 4 năm, vớt vát đến cùng, trước khi ký Hiệp Định Paris.

TT Nixon bị phe đối lập DC đánh đến độ không còn giữ được cái ghế của ông, làm sao giữ được cả miền Nam VN?

TT Ford nhậm chức sau khi TT Nixon từ chức. Ông thừa hưởng một nước Mỹ đang bị khủng hoảng nặng chưa từng thấy và phải tập trung mọi nỗ lực để cứu con bệnh Mỹ, trong khi uy tín ông không có bao nhiêu vì chỉ là tổng thống ‘ngáp’ do Nixon chỉ định chứ không ai bầu (tuy ông có được quốc hội phê chuẩn). Trong chuyện VN, ông hoàn toàn bị trói tay bởi Hiệp Định Paris cũng như các luật Church-Cooper.

Khi VC rầm rộ chiếm miền Trung, ào ạt nam tiến, TT Ford tìm mọi cách cứu giúp. Ông yêu cầu quốc hội cho lính Mỹ trở lại viện cớ không phải để cứu nam VN, mà là để cứu lính và dân Mỹ còn đang ở VN. Ông cũng yêu cầu quốc hội cho tháo khoán khẩn cấp 720 triệu tiền viện trợ quân sự đã được phê chuẩn cho tài khoá 75 nhưng chưa tháo khoán. Những yêu cầu này bị quốc hội DC bác bỏ. Nhưng TT Ford vẫn bất chấp, trong những ngày cuối, cho chở hàng loạt vũ khí, đại bác, súng đạn qua cho VNCH, lấy cớ thay thế hao mòn, trên nguyên tắc được Hiệp Định Paris cho phép. (Những chuyến bay này chở bom đạn đến, khi rời VN thì chở qua Mỹ hàng ngàn trẻ mồ côi VN; chuyến bay đầu tiên, họa vô đơn chí, rớt ngay tại Tân Sơn Nhất, cả trăm trẻ em bị chết)

Cuối tháng Tư 75, khi VC gõ cửa Sài Gòn, quốc hội DC cũng bác luôn yêu cầu của TT Ford xin viện trợ khẩn cấp 300 triệu để tăng cường bảo vệ thủ đô Sài Gòn và phần còn lại của miền Nam trong khi chờ đợi (hy vọng?) các bên điều đình lại. Cận ngày mất nước khi không còn hy vọng gì, TT Ford xin chuyển số 300 triệu này qua một quỹ đặc biệt giúp chuyên chở và định cư tại Mỹ khoảng 200.000 quân cán chính VNCH mà ông cho rằng chắc chắn sẽ bị VC giết sau khi họ chiến thắng. Đề nghị này cũng bị quốc hội DC bác.

Mãi đến ngày 23/5, ba tuần sau khi VNCH đã mất, trong khi cả vạn người Việt đang chờ tại Guam và Wake, và sau những vận động mạnh của TT Ford trong hậu trường, quốc hội mới biểu quyết chấp nhận 130.000 người Việt đầu tiên tị nạn. Ở đây, phải ghi nhận khi đó, tân Thượng Nghị Sĩ Joe Biden đã là tiếng nói chống đối mạnh nhất.

KẾT

Nhìn vào thực tế lịch sử, VN từ thời Quốc Gia VN đến Đệ Nhất rồi Đệ Nhị Cộng Hòa, cũng kể luôn cả chế độ VC tại miền Bắc, trước sau vẫn chỉ là quân chốt trên bàn cờ chính trị thế giới. Quân chốt của Mỹ và quân chốt của khối CS quốc tế, trong một cuộc chiến ‘ủy nhiệm’ không hơn không kém. Việc đánh hay giúp VN –QG hay CS- luôn nằm trong những tính toán lớn của các đại cường. Cấp lãnh đạo VN từ CS đến QG, có tiếng nói rất nhỏ và quyền hành còn nhỏ hơn nữa.

Dù vậy, cũng không thể nói cấp lãnh đạo VN hoàn toàn không có trách nhiệm. Về phiá quốc gia, những chuyện như Bảo Đại ăn chơi trác táng không lo việc nước, hay TT Diệm xây dựng nên một quốc gia thịnh vượng và ổn định, nhưng sau đó phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng trở nên độc đoán, hay các tướng lãnh đảo chánh trên danh nghiã để đánh VC hữu hiệu hơn, nhưng rồi vì tham vọng cá nhân liên tục chỉnh lý lẫn nhau, bán cái việc đánh VC cho Mỹ, các sư sãi ‘chống chiến tranh’, linh mục ‘chống tham nhũng’, sinh viên ‘chống bắt lính’, ký giả ‘đi ăn mày’, nhân sĩ ‘đòi quyền sống’, các chính khách thời cơ ‘cẳng giữa’, những cuộc triệt thoái hỗn độn qua những quân lệnh bất nhất, rồi cuộc đầu hàng vô điều kiện quá nhanh thay vì cầm cự ít lâu để tìm cách điều đình,… cuối cùng đưa đến mất nước, đó chính là những phần trách nhiệm lớn của người Việt quốc gia, không phải là lỗi của Johnson hay Nixon hay Kissinger gì hết.

Những sai lầm đó đưa đến sự hy sinh cao cả nhưng oan uổng của một số tướng lãnh oai hùng tuẫn tiết vì nước và những sĩ quan và lính can trường chiến đấu đến cùng dù biết vô vọng.

Những lập luận “Mỹ tháo chạy” hiển nhiên không sai lắm, nhưng dù sao cũng vẫn là cách các quan chức miền Nam xiả tay đổ thừa mà không dám nhận phần trách nhiệm của chính mình.

Nhiều chính khách và tướng lãnh có trách nhiệm lớn trong cuộc chiến đã viết sách hay nói chuyện. Hầu hết đều khoe mình đúng và tài giỏi, để đổ thừa tất cả sai lầm lên đầu người khác. Điều đáng buồn là hình như những vị này, trong đó có nhiều vị bỏ quan bỏ lính ôm vợ con chạy, đã không có một vị nào đủ can đảm đứng ra nhận sai lầm của chính mình, công khai có một lời xin lỗi người dân và nhất là xin lỗi người lính miền Nam, từ lính chủ lực tới địa phương quân, nghiã quân, nhân dân tự vệ và cảnh sát, và nhất là vợ con của lính, là những nạn nhân khốn khổ thật sự trong cuộc chiến bi thảm kéo dài 30 năm.

Vũ Linh, 27/4/2019

Share this post