Căm Thù Giai Cấp, Hoà Giải Dân Tộc – Trần Trung Chính

(TVVN.ORG) Các tôn giáo lớn truyền vào Việt Nam như đạo Phật (từ Ấn Độ truyền từ phía Nam của nước ta vào thế kỷ thứ hai sau Thiên Chúa Giáng Sinh), đạo Nho, đạo Lão và phái Đại Thừa của Phật Giáo truyền từ phía Bắc xuống nước ta vào thế kỷ thứ 5th sau Thiên Chúa Giáng Sinh. Thế kỷ 15th, Thiên Chúa Giáo La Mã mới bắt đầu truyền giáo tại VN với đa số các tu sĩ gốc Bồ Đào Nha truyền đạo tại phía Nam (địa phận của chúa Nguyễn) và đa số các tu sĩ gốc Hòa Lan truyền đạo tại miền Bắc (địa phận của chúa Trịnh). Hệ phái Tin Lành mãi tới đầu thế kỷ 20 mới thấy xuất hiện (Người viết không kể Hồi giáo và Ấn Độ Giáo vì 2 tôn giáo này chỉ hiện hữu trong một số ít người Chàm gốc từ Malaysia và hiện hữu trong số người Ấn sinh sống tại Sài Gòn trước 1975).

Khác nhau về chi tiết, khác nhau về vũ trụ quan, khác nhau về thế giới quan, khác nhau về nhân sinh quan… nhưng tựu trung các tôn giáo đều dạy tín đồ YÊU THƯƠNG. Duy nhất chỉ có Cộng Sản là dạy toàn dân toàn đảng viên phải biết CĂM THÙ, mà đối tượng hướng sự CĂM THÙ là do BỘ Chính Trị của Đảng Cộng Sản toàn quyền quyết định. Chả thế mà nhà thơ Bút Tre có 2 câu thơ nhại thơ Truyện Kiều, như là

“Bắt phong trần, thì phải cởi trần
Cho maillot, thì được phần maillot”

Trước khi đề cập đến những chi tiết cụ thể, người viết xin nêu ra một số “đặc ngữ’ được sử dung như sau:

1/ CĂM: Giận người nào đó lắm vì đã làm điều không tốt đối với mình, nhưng phải cố nén trong lòng.

2/CĂM THÙ: Căm giận đến mức thôi thúc phải trả thú.

3/HẬN THÙ: Căm giận oán hờn sâu sắc đến mức thôi thúc phải trả thù.

Như vậy định nghĩa của CĂM THÙ tương đương với HẬN THÙ. Người viết chọn CĂM THÙ GIAI CẤP là một nửa của tiêu đề bài viết vì đây là một thành ngữ quen thuộc trong Chiến Địch Cải Cách Ruộng Đất mà Hồ chí Minh và Đảng CSVN đã sử dụng trong khoảng 1953 – 1956 tại miền Bắc Việt Nam.

Mới đây, nhiều người VN tại Washington D.C, đã đến tưởng niệm nạn nhận của chế độ Cộng Sản trên toàn thế giới (đài tưởng niện này hoàn thành từ thời Tổng Thống Bush thứ 43th). Theo sự ghi nhận của nhiều chính phủ trên thế giới cũng như ghi nhận của các nhà nghiên cứu về chế độ Cộng Sản : Tinh đến năm 1997 (là năm quyển sách đen ghi nhận tội ác của chế độCộng Sản và các chính phủ Cộng Sản) số nạn nhân bị giết đã vượt qua con số 100 triệu người…

Nhà văn Trần Văn Giang (ở miền Nam Cali) nêu ra nhận xét : chế độ Quốc Xã mới chỉ giết có 6 triệu người Do Thái – chủng tộc khác với chủng tộc Aryen của nước Đức, trong khi tất cả các chế độ và chính phủ Cộng Sản lại chỉ giết chính đồng bào của nước họ. Nhiều nạn nhân bị giết mà không hiều lý do tại sao. Theo ý kiến của người viết : những người bị Cộng Sản giết vì tư tưởng trong đầu của những tên Cộng Sản được nuôi dạy là phải CĂM THÙ (các) GIAI CẤP (khác).

Cá nhân người viết có dịp đọc qua 24 quyển sách của bộ sách LÊ NIN TOÀN TẬP trong khoảng thời gian từ 1980 đến 1983, cho nên những định nghĩa về GIAI CẤP trình bày dưới đây hoàn toàn dựa vào trí nhớ ( bộ sách LÊ NIN TOÀN TẬP được dịch ra tiếng Việt và do nhà xuất bản Sự Thật của thành phố Maxcơva xuất bản)

Lê Nin định nghĩa

1/ Giai cấp vô sản là giai cấp ngưng làm việc thì chết (không có gì để mua thức ăn)

2/ Giai cấp tư sản là giai cấp thủ đắc “tư liệu sản xuất”

3/ Giai cấp tư bản là giai cấp sinh lợi từ đồng tiền và không phải là giai cấp trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất

4/ Thương gia và những kẻ buôn bán không phải là giai cấp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội,

Tổ sư Cộng Sản đã dạy những điều căn bản như trên cho nên các đệ tử chân truyền của Lê Nin như Staline. Mao Trạch Đông, Hồ chí Minh, Pôn Pốt, Kim Nhật Thành. Lê Duẩn .Trường Chinh. Fidel Castro…phải áp dụng đúng kinh điển, không một ai dám biến chế sáng tạo vì sợ bị quy kết là “xét lại” như Krouchev, như Tito của Yougoslavia). Vì vậy chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, chiến dịch đánh tan Tư Sản Mại Bản, chiến dịch Cải Tạo Công Thương Nghiệp, chiến dịch Trăm Hoa Đua Nở (để hạ bệ vai trò của trí thức)…đã là những yếu tố tất yếu của Lịch Sử các nhà cầm quyền Cộng Sản.

Ghi chú của người viết:

Tiếp theo các chiến dịch vứa nêu, hầu hết dân chúng của chế dộ Cộng Sản đều trở thành “tội nhân” mà không cần xét xử của Tòa Án, số phận của họ là phải “ở tù’ dù họ có chống đối hay không chống đối chính quyền Cộng Sản. Ở Liên Sô thì trại tù được gọi là “QUẦN ĐẢO GULAG”, Ở Trung Cộng thì được gọi là “ TRẠI LAO CẢI”, Ở Việt Nam thì có tên là “TRẠI CẢI TẠO”…V…V…

Dựa trên 4 định nghĩa cơ bản về giai cấp của Lê Nin nêu ra, người viết có một số suy luận thực tế như sau :

A. Tất cả những người vừa tốt nghiệp đại học ở Hoa Kỳ đều nằm gọn trong giai cấp vô sản vì tuy thu nhập có mức lương cao, nhưng họ phải trả nợ cho số tiền mươn để theo học Đại Học ( trung bình số nợ này biến thiên từ 100,000 đến 200,000 dollars, họ phải mua sắm xe cộ, máy móc, nhà ở…Đây là những phương tiện sinh hoạt trong đời sống chứ không được xem là “tích sản”.

B. Rất nhiều người lầm tưởng Giai Cấp Công Nông ( mà Lê Nin hay hô hào) là kết hợp của Giai Cấp Công Nhân và Giai Cấp Nông Dân. Thực ra phải hiểu Giai Cấp Công Nông là kết hợp của Giai Cấp Công Nhân và Giai Cấp Nông Thợ (= giai cấp công nhân trong lĩnh vực nông nghiệp)

Giản dị vì nông dân có sở hửu đất đai (dù lớn hay nhỏ – từ vài công đất cho đến hàng ngàn hay hàng chục ngàn hectares), người nông dân có nông cụ (là “tư liệu sản xuất”). Ngoài trông trọt, họ còn nuôi cá, chăn nuôi gà và heo và họ tự quyết định bán hay không bán “sản phẩm của họ”, như vậy người nông dân hoàn toàn là “giai cấp tư .sản’, không thể nằm trong giai cấp vô sản được !

Ở miền Nam nước Việt, có rất nhiều “tá điền” thuê đất của các ông đại điền chủ (như Bạch Công Tử của xứ Bạc Liêu, Hắc Công Tử của xứ Gò Công), các ông chủ điền ngoài việc “thu tô” rồi dùng tiền đi bao gái bên Pháp, hay mở gánh cải lương cùng bao đào hát cải lương, thậm chí có ông còn hút thuốc phiện và bài bạc xả láng…nghĩa là trong thực tế không có giúp ích gì trong việc sản xuất nông nghiệp. Chính những “tá điền” mới chính là những người đem công sức và thời giờ tiền bạc góp ích vào công cuộc sản xuất lương thực và thực phảm nông nghiệp.

Các vị thầy của chúng tôi như giáo sư Tôn Thất Trình, như giáo sư Châu Tâm Luân, như bác sị Trần Quang Minh, bác sĩ Nguyễn Thành Hải, bác sĩ Đặng Quan Điện…gọi những “tá diền” của ruộng đồng miền Nam Việt Nam là những “nhà đầu tư kinh doanh” trong lãnh vực nông nghiệp. Chương trình NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phát đông từ năm 1970 ngoài việc hữu sản hóa đất đai cho các “tá điiền “ trực tiếp canh tác (là mục đích chính trị khác với chương trình CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT của HCM làm khoảng 180,000 địa chủ và thân nhân của họ bỏ mạng), chương trình NGƯỜI CÀY CÓ RUỘNG còn có mục đích kinh tế là chính phủ VNCH còn giúp vốn cho vay (qua định chế NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP) để gia tăng sản xuất nông nghiệp, sau đó ngân hàng VIỆT NAM THƯƠNG TÍN còn tài trợ tiền bạc để các thương gia trả tiền trực tiếp cho nông dân vừa mới thu hoạch mùa màng nhằm lúa gạo không lọt vào tay Việt Cộng.

Ghi chú của người viết:

Chính phủ VNCH qua 2 Bộ Canh Nông và Bộ Kinh Tế + Công Kỹ Nghệ đã cấp giấy phép cho lắp ráp các động cơ diesel dành cho máy cày, và máy tàu ghe thuyền có thể đi xa bờ và bắt được nhiều cá hơn. Các nhãn hiệu KUBOTA, YANMAR, CUNMINGS…đều được lắp ráp tại Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa. Từ 1970 đến 1975, các loại máy này đã giúp ích rất nhiều trong các chương trình “PHÁT TRIỂN NÔNG NGƯ MỤC”. Sau 1977, các l;oại máy này là nguyên nhân chính giúp cho người VN vượt biển tìm tư do suốt gần 20 năm.

Là một phần tử của BOAT PEOPLE, chúng tôi xin gửi lời cám ơn muộn màng đến quý ông Tôn Thất Trình, Cao Văn Thân, Trương Thái Tôn (cựu tổng trưởng Canh Nông) và 2 ông Phạm Kim Ngọc và ông Nguyễn Đức Cường (cựu tổng trưởng Kinh Tế và Công Kỹ Nghệ) đã gián tiếp giúp cho hơn 1 triệu người “vượt biển” thoát khỏi ách nô lệ của bọn ác ôn Việt Cộng .

Ai tin heo hoc thuyết ÂM MƯU thì cũng có thể cho rằng các kiểu nhập cảng đủ loại máy tàu vừa nói ở trên là chính phủ Hoa Kỳ dự đoán miền Nam VN sẽ bị VC nuốt trọn , quân đội HK không thể giúp công dân VNCH trong một thời gian quá ngắn trong tháng 5/1975 được, cho nên quân dân miền Nam phải tự lo lấy việc vượt thoát.

Tháng 6/1978, tôi bị giam tại Trung Tâm Thẩm Vấn của Ty CSQG Thừa Thiên, phòng bên cạnh “chấp pháp” đang thẩm vấn một nhóm dân làng An Bằng vừa bị bắt ở cửa biển Thuận An, xin ghi lại như sau :

– Động cơ nào thúc đẩy anh vượt biên?

– Yanmar F10

– Anh dỡn mặt với tôi hả?

– Tôi nói thiệt mà, chính tôi là người đi tìm mua cái máy F-10 đó, giá 12 cây (một cây = 01 lượng vàng)

C. Trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất mà HCM phát động từ 1953 đến 1956, rất nhiều “địa chủ” đã bị xử tử mà “quần chúng nhân dân” đứng xung quanh “pháp trường” đang hò hét “đấu tố” những “kẻ thù của giai cấp”. Ông Nguyễn Mạnh Tường đã nhận xét tấm thảm kịch này qua diễn văn đọc trước Hội Nghị Mặt Trận Tổ Quốc vào năm 1956 rồi ông đưa ra đề nghị là “ muốn tránh những thảm kịch này,TA phải xây dựng chế độ dân chủ hơn, thủ tục tố tụng phải theo quy trình tư pháp….”

Ý kiến của người viết là: “Ông Nguyễn Mạnh Tường có 2 văn bằng tiến sĩ Văn Chương Pháp và tiến sĩ Luật nhưng chưa bao giờ đọc Lê Nin Toàn Tập nên Đại Trí Thức Nguyễn Mạnh Tường không hiếu HCM và đã đi lạc đề. Anh “địa chủ” phải bị giết không phải vì anh ta giàu có bóc lột giai cấp nông thợ, lý do chính là anh “địa chủ” này đang nắm giữ tư liệu sản xuất là đất đai do tổ tiên để lại (có văn tự xác định – ở trong miền Nam người ta không gọi là văn tự, mà gọi là “bằng khoán”). Hồ chí Minh muốn cướp các đất đai của các nông dân để quy về một mối là : Đảng CSVN độc quyền nắm giữ tư liệu sản xuất !!!

D. Việt Nam không có giai cấp tư bản, vì là thuộc địa của thực dân Pháp. Nhưng khi cướp được chính quyền HCM thấy Ngân Hàng Đông Dương trống rỗng vì chính quyền thuộc địa phải trả chiến phí cho quân đội Nhật từ năm 1940. Vì vậy HCM phải mở chiến địch “quyên góp vàng” đề đút lót cho các tướng Tàu như Lư Hán, Tiêu Văn, Trịnh Phát Khuê…đó là hối lộ (nếu không có số vàng lớn láo này thì quân đội Trung Hoa đã dùng vũ lực giải tán chính phủ của HCM theo như lệnh từ Tưởng Giới Thạch truyền qua Tướng Hà Ứng Khâm lúc đó đang là Tổng Tham Mưu Trưởng)

E. Marx cho rằng giai cấp thương gia là giai cấp ăn bám, không trực tiếp sản xuất. Nhưng tại các nền kinh kế tự do, giai cấp thương gia là một “nhu yếu” của xã hội (nhu yếu = nhu cầu thiết yếu) .. Thí dụ minh họa: Giả sử có 3 manufacturers sản xuất 3 món hàng và giả sử có 3 khách hàng thì số lần giao hoán là 9 ( 3 khách hàng x 3 hãng sản xuất = 9 lần tìm kiếm để mua và bán sản phẩm). Bây giờ anh thương gia mở tiệm nghĩa là 3 manufacturors có 3 lần đem hàng của mình đến tiệm để gửi bán và 3 customers đến tiệm để tìm mua hàng, tổng cộng chỉ có 6 lần giao dịch (bớt từ 9 xuống 6). Cuối thế kỷ 20 không ai đếm được có bao nhiêu manufacturers và cũng không đếm được số hàng hóa sản phẩm nhưng biết rằng có hàng tỷ tỷ khách hàng cần mua sản phẩm đã sản xuất. Và chuyện gì xảy ra nếu chính quyền dẹp bỏ giai cấp thương gia?

Thế kỷ 21 qua internet lại có những thương gia tân thời như ebay, Amazone, rồi nhờ software của Google, tiết kiệm biết bao nhiêu chi phí và thời giờ tìm kiếm…v…v.. Marx mà sống đến bây giờ thì chắc chắn phải than rằng : “thời của tôi đã qua rồi !!! Xin đừng kiên quyết tiến lên XHCN làm gì nữa”

F. Đặc trưng của chế độ Việt Cộng là Ban Tuyên Giáo của Đảng CSVN khai sinh thêm một giai cấp có tên là “giai cấp tiểu tư sản” . Nhóm chữ “tiểu tư sản” mà VC sử dụng làm nhiều người tưởng rằng giai cấp này nắm giữ tư liệu sản xuất, thực tế giai cấp tiểu tư sản không có nắm giữ tư liệu sản xuất mà là họ cung cấp “dịch vụ”. Thí dụ như , bác sĩ, nha sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ nhà văn, nhà báo, nhà thiết kế thời trang, giáo sư đại học…Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản rất ghét giai cấp Tiểu Tư Sản vì giai cấp này có sự hiểu biết và khảng khái không chịu khuất phục bạo quyền ngu dốt.

Một thí dụ cụ thể là Mao Trạch Đông đã ví “trí thức không bằng cục phân”. Sau 1975, bực mình vì có một số cô gái thuộc giai cấp đang lên, dè bỉu trí thức…anh bạn đồng học trường CVA với tôi là Trần Doãn Huyễn đi sĩ quan Khóa 8/69 Thủ Đức (năm 1975 là Trung Úy đại đội trưởng thuộc Trung Đoàn 16 của Sư Đoàn 9 BB) nói với một cô là ” cô cứ coi tôi như cục cứt của cô, muốn ăn lúc nào cũng được, khỏi cần hỏi”

Ghi chú : Người viết xin cảm ơn các nhà văn Doãn Quốc Sĩ, nhà văn Nguyễn Mạnh Côn, nhà văn Vũ Tài Lục, nhà văn Mai Thảo, Luật sư Nghiêm xuân Hồng, nhà văn Trần Thanh Hiệp, nhà văn Nguyễn Đình Toàn…đã viết rất rõ về giai cấp tiểu tư sản trong các tác phẩm của họ. Riêng nhà văn Vũ Tài Lục còn gọi bọn khoa bảng nịnh bợ HCM và Đảng Cộng Sản là “bọn đầu hàng giai cấp”

Khi Đức Phật thuyết giảng, Ngài nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Đó là một tuyên ngôn chính trị nhằm chống lại chủ trương phân chia giai cấp trong đạo Bà La Môn. Tuy đạo Bà La Môn phân chia xã hội Ấn Độ trên 250 giai cấp, nhưng xã hội Ấn Độ không bị biến động mạnh vì nhà cầm quyền không chủ trương “căm thù giai cấp” và không phát động cũng như không yểm trợ phong trào “đấu tranh giai cấp” như bọn Cộng Sản (quốc tế)

Phía Thiên Chúa Giáo quan niệm rằng đến “ngày Phát Xét Cuối Cùng”. Đức Chúa Trời mới luận tội của từng cá nhân và trừng phạt những kẻ có tội. Bọn Cộng Sản không tin rằng Đức Chúa Trời có hiện hữu và hằng hữu, nên bọn Cộng Sản thi nhau gây tội ác nhất là “tội giết người hàng loạt”.

Học thuyết NHÂN QUẢ của Phật Giáo thì không nói đến quyền lực trừng phạt của Đức Phật (vì Đức Phật đã nói rằng Đức Phật chỉ là người chỉ đường, Đức Phật không có quyền lực để cứu rỗi hay trừng phạt bất cứ cá nhân nào cả) Học thuyết NHÂN QUẢ lại rất giản dị và không có tính cách thần bí gì hết, đó là trồng NHÂN thì hưởng QUẢ đó. Thí dụ minh họa, nếu ta gieo trồng hạt LÚA thì cơ may ta sẽ thu hoạch được LÚA (không thể có cơ may . thu hoạch được những thứ khác như BẮP, như Dậu xanh… được)

Bọn Cộng Sản không gieo trồng NHÂN lành mà chỉ gieo NHÂN ác thì lại sợ gặt hái QUẢ ác nên cuối đời thi nhau đi chùa để “hốii lộ” Đức Phật bởi vì bọn SƯ QUỐC DOANH nghĩ rằng Dức Phật bất quá cũng như HCM, Mao Trạch Đông Giang Trạch Dân,,,hễ “cúng dường “hậu hĩ” thì Đức Phật sẽ ban ơn lành châng ?

Nhóm tăng lữ Bình Trị Thiê nắm quyền đều hành GHPGVNTN khối Ấn Quang cũng vậy, từ năm 1966 đến nay luôn hô hào HÒA HỢP DÂN TỘC để bao che cho Việt Cộng, khoảng thập niên 80 của thế kỷ 20, chính nhà sư Thích Huyền Quang xác nhận : “ Phật Giáo đồng hành với CÁCH MẠNG “(xin giới hạn chữ Phật giáo của Thích Huyền Quang : không phải là tất cà Phật Giáo mà chỉ là GHPGVNTN khối Ấn Quang mà thôi). Và cũng minh định lại chữ ĐỒNG HÀNH, khi nào khi làm việc THIỆN mà môt mình làm không nổi thì mới kêu gọi nhiều người khác ĐỒNG HÀNH với mình, trong khi bọn Việt Cộng đi cướp của giết người cướp chính quyền… thì GHPGVNTV khối Ấn Quang rõ rang là ĐỒNG LÕA với bọn Việt Cộng.

Người viết nhắc lại điển tích vua Salomon xử án:

Có 2 người đàn bà tranh chấp một đứa bé còn đang bồng, ai cũng nói mình là mẹ ruột của đứa bé. Vua Salomon cũng không làm sao phân biệt ai là “mẹ ruột” ai là “mẹ mìn”. Ngài phán “đem chặt đứa trẻ ra làm 2 , chia cho mỗi bà một nửa” Có một bà mẹ khóc lóc thảm thiết và xin vua Salomon đừng chặt đứa trẻ, bà ta chấp nhận mất con để đứa bé sống còn. Người đàn bà đắc thắng kia vui vẻ nhận đứa bé và đi ra cổng. Vua Salomon sai lính bắt lại và tuyên bố “nhà ngươi chính là mẹ mìn chứ không phải mẹ ruột của đứa nhỏ. Mụ mẹ mìn này bị nhà vua đánh phạt 50 roi và bị giam trong tù. Còn đưa bé thì được trao trả cho mẹ ruột của nó.

Tương tự như tác phong của mẹ mìn trong câu chuyện vua Salomon xử án vừa nêu, người viết có thể khẳng định là ĐẤT NƯỚC ViỆt NAM không phải là sở hữu của HCM và Đảng CSVN cho nên việc chia đôi đất nước vào ngày 20 tháng 7 năm 1954 là điều toàn dân VN không thể chấp nhận và Hiệp Ước Thành Đô mà bọn lãnh đạo CSVN dâng toàn thể VN cho Trung Cộng vào năm 2020 là điều nguy hại vô cùng. Toàn dân Việt Nam tại quốc nội phải đứng lên lật đổ bọn CSVN thì Hoa Kỳ và người Việt hải ngoại mới có thể trợ giúp hữu hiệu được.

Hoàn tất tại San José ngày 20 tháng 7 năm 2019

Viết để kỷ niệm 65 năm ngày chia đôi đất nước 20 tháng 7 năm 1954

Trần Trung Chính

Share this post

One thought on “Căm Thù Giai Cấp, Hoà Giải Dân Tộc – Trần Trung Chính