Cảm Tưởng Sau Một Chuyến Du Hành Qua Một Đất Nước Hồi Giáo: Ai Cập – Trần Bình Nam

Cảm Tưởng Sau Một Chuyến Du Hành Qua Một Đất Nước Hồi Giáo: Ai Cập – Trần Bình Nam

CUỐI THÁNG 11 NĂM 2010

Chúng tôi, đoàn du khách 22 người từ nhiều tiểu bang khác nhau ở Hoa Kỳ, hẹn gặp nhau tại phi trường John F. Kennedy (JFK) ở New York để cùng đáp chuyến bay số 84 của hãng Delta Aitlines cất cánh lúc 10:35 tối ngày 25 tháng 11 đi Cairo, thủ đô của Ai Cập, người Pháp gọi là Le Caire. Máy bay đáp xuống phi trường Cairo lúc 4:25 chiều hôm sau, tổng cộng 12 giờ bay cộng với 7 múi giờ cách biệt giữa New York và Cairo. Ông Trần Chính, chủ nhân của công ty du lịch Voyages Saigon Inc. tại Orange County đích thân hướng dẫn.

Cairo nằm bên hữu ngạn sông Nile, trước khi con sông này tẻ ra nhiều nhánh hình rẽ quạt, mang phù sa từ thượng nguồn về thành lập một vùng châu thổ phì nhiêu, cái nôi của nền văn minh Ai Cập cổ đại tồn tại gần 3000 năm và là vựa lúa lớn nuôi dân Ai Cập từ ngàn xưa đến hôm nay. Đáy của châu thổ sông Nile áp với bờ biển đông-nam Địa Trung hải gần vùng Trung Cận Đông, nơi đã manh nha nền văn minh nhân loại, trước cả nền văn minh lâu đời của Trung quốc, và là nơi diễn ra những cuộc tranh chấp giữa các nền văn minh Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, và giữa hai tôn giáo lớn là Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo.

Ai Cập nằm trong lục địa Châu Phi, nhưng có nhiều sắc thái của một nước Cận Đông hơn là sắc thái Phi Châu của người da đen. Phía đông giáp Do Thái, Hồng Hải, và giải đất Gaza. Phía nam giáp Sudan, phía Tây là Lybia và phía bắc là Địa Trung Hải. Ai Cập có 75 triệu dân, đại đa số theo đạo Hồi hệ phái Sunni (84%), với một thiểu số theo Ki Tô Giáo Chính Thống, còn gọi là Ki Tô Giáo Coptic (13.5%), và Công Giáo La Mã (1.4%). Ba thành phố lớn là thủ đô Cairo 7,7 triệu dân, Alexandria 4 triệu dân và Port Said 600,000 dân.

ĐÔI DÒNG LƯỢC SỬ

Ai Cập là nước có nền văn minh lâu đời nhất, đã thành hình như một quốc gia thống nhất do người Ai Cập tự cai quản cách đây 5000 năm và kéo dài gần 2700 năm, trải qua 31 triều đại nối tiếp nhau cho đến năm 332BC (trước Công nguyên). Thời gian 2700 năm này, gọi là Ai Cập Cổ đại (Ancient Egypt), được chia thành ba thời kỳ rõ rệt: Vương triều Cổ (Old Kingdom), Vương triều Trung (Middle Kingdom),vương triều Mới (New Kingdom). Vương triều Cổ là thời kỳ người Ai Cập xây dựng các Kim tự tháp. Vương triều Trung là thời kỳ họ phát triển mỹ thuật tạo hình, trong đó nổi bật nhất là nghệ thuật điêu khắc trên đá. Vương triều Mới là thời kỳ người Ai Cập thiết lập nhà nước đế quốc và, theo Kinh Thánh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo, cũng là thời kỳ người Hebrew (Do Thái cổ) di cư đến Ai Cập và sống thân phận lưu đày, cho đến khi diễn ra cuộc Xuất Hành (Exodus) vĩ đại của họ ra khỏi đất nước này, dẫn đến việc thành lập quốc gia Do Thái.

Vào thế kỷ thứ 7BC người Assyrian (một đế quốc ra đời giữa hai con sông Tigris và Euphrates, thuộc Iraq hiện nay) xâm lăng Ai Cập. Một thế kỷ sau đó đến lượt người Ba Tư (thuộc Iran ngày nay) chiếm đóng và sát nhập Ai Cập vào đế quốc rộng lớn của họ. Đến năm 332BC Alexander Đại Đế, một người xuất thân từ Macedonia (hiện nay là Cộng Hòa Macedonia nằm ở phía bắc Hy Lạp, vốn thuộc Liên Bang Nam Tư trước đây) xua quân đánh đuổi người Ba Tư và chiếm Ai Cập. Sau khi Alexander Đại đế qua đời đột ngột và đế quốc của ông tan rã, triều đại Ptolemaic gốc Hy Lạp ra đời ở Ai Cập và trị vì gần 300 năm. Triều đại này được xem là triều đại cuối cùng trong lịch sử gần 3000 năm của Ai Cập Cổ đại. Các vua pharaoh của triều đại Ptolemaic từ từ thỏa hiệp về chính trị và quân sự với người La-mã, và sau cái chết của nữ hoàng Cleopatra vào năm 30BC, Ai Cập hoàn toàn trở thành thuộc địa của Đế quốc La-mã (kinh đô ở Roma). Từ năm 395 trở đi, Ai Cập là một phần lãnh thổ của Đế Quốc La Mã phương Đông, với kinh đô ở Constantinople. Trước đó, vào năm 313, khi Hoàng Đế La Mã Constantine ra chỉ dụ bãi bỏ việc cấm đạo đối với Ki Tô Giáo, Giáo Hội Chính Thống Ai Cập (Coptic Church) đã là một giáo hội độc lập với một hệ thống giáo quyền riêng. Kể từ năm 451, Chính Thống Giáo Ai Cập hoàn toàn tách khỏi ảnh hưởng của Giáo quyền Constantinople, vốn nắm vai trò lãnh đạo các Giáo hội Ki Tô Giáo phương Đông.

Khoảng giữa thế kỷ thứ 7, người Ả Rập Hồi Giáo đánh chiếm Ai Cập và từ từ đưa đất nước này vào quỹ đạo của văn minh Hồi Giáo nói tiếng Arabic. Từ đó Ai Cập sống dưới các triều đại Hồi Giáo Umayyad, Abbasid, FatimidMamluk nối tiếp nhau cho đến thế kỷ thứ 16.

Năm 1517 Ai Cập bị sát nhập vào đế quốc Ottoman của người Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1914 thực dân Anh đến chiếm và đặt Ai Cập dưới chế độ Bảo Hộ (Protectorate) của họ. Năm 1922, bốn năm sau khi Thế Chiến Thứ I chấm dứt, người Anh thiết lập chế độ quân chủ lập hiến đồng thời trao trả độc lập cho Ai Cập một cách hình thức. Vị vua bù nhìn cuối cùng là vua Farouk lên ngôi năm 1936 lúc mới 16 tuổi.

Năm 1952 tướng Mohammed Naguib lật đổ vua Farouk. Năm sau Đai Tá Gamal Abdul Nasser lên thay và trở thành lãnh tụ uy tín của cả khối Hồi Giáo dựa vào lập trường chống Phương Tây và nghiêng về phe xã hội chủ nghĩa trong một thời gian dài của cuộc chiến tranh lạnh. Năm 1958, cùng với Syria, Nasser thành lập Cộng Hòa Ả Rập Thống Nhất (chỉ tồn tại đến năm 1961).

Năm 1967, Nasser phát động cuộc Chiến Tranh Sáu Ngày đánh Do Thái nhưng thất bại khiến Ai Cập mất bán đảo Sinai. Năm 1970 Tổng Thống Nasser qua đời, Anwar Sadat lên thay thế và năm 1973 tấn công Do Thái trong cuộc Chiến Tranh Yom Kippur nhằm giành lại bán đảo Sinai, nhưng cũng không thành công.

Năm 1978 Anwar Sadat bất ngờ thay đổi thái độ chính trị và, với sự trung gian dàn xếp của Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter, bí mật thương thuyết với Do Thái. Kết quả là thỏa ước hai bên được ký tại Camp David vào tháng 9 cùng năm, dẫn đến việc ký kết hòa ước Do Thái – Ai Cập năm 1979, theo đó Ai Cập chính thức công nhận Do Thái để đổi lấy bán đảo Sinai (dự trù trao trả lại cho Ai Cập vào năm 1982).

SÔNG NILE

Từ phi trường Cairo đi vào thành phố thủ đô, sông Nile uốn khúc, trong xanh. Mặt nước phẳng lờ hiền lành như sông Hương giang. Ai Cập và sông Nile là một. Không có sông Nile thì không thể có nền văn minh Ai Cập cổ ra đời 5000 năm trước đây, với Kim tự tháp, với đền đài và lăng mộ vĩ đại, và chắc cũng không có cả Ai Cập ngày hôm nay.

Sông Nile dài 6650 km, là con sông dài nhất thế giới (sông Cửu Long dài 4350 km đứng thứ 10 trong số những con sông dài hơn 1000 km), và là con sông lớn duy nhất trên thế giới chảy từ phía Nam đổ ra biển ở phía Bắc. Mưa lớn và tuyết tan trên cao nguyên Ethiopia ở trung nguồn của con sông này khiến xẩy ra hiện tượng sông Nile dâng lũ hàng năm ở Ai Cập, nước dâng cao rất nhanh và tràn bờ từ tháng 6 đến tháng 9, mang phù sa bồi đắp hai bên dòng chảy của nó từ Thượng Ai Cập (phía Nam) đến Hạ Ai Cập (phía Bắc), đặc biệt tạo thành một châu thổ lớn và phì nhiêu ở phía Bắc nhìn ra Địa Trung Hải. Các thành phố, kim tự tháp và đền đài của Ai Cập đều được xây dựng tập trung hai bên bờ sông Nile, kéo dài từ Abu Simbel sát biên giới Sudan đến tận thủ đô Cairo, phần còn lại là sa mạc Sahara, chỉ toàn cát là cát, phía đông chạy đến Biển Đỏ (Hồng Hải) và phía Tây trải rộng ngút ngàn đến tận biên giới Lybia.

Sông Nile tạo nên vựa lúa ở miền bắc Ai Cập giống như sông Cửu Long tạo nên vựa lúa ở miền nam Việt Nam, nhưng khác ở chỗ sông Cửu Long nước rất đục vì tải phù sa quanh năm, và nước chỉ dâng cao vào mùa mưa những năm có mưa lớn, chứ không có hiện tượng lũ đều đặn hàng năm như ở Ai Cập.

Từ ngàn xưa vào mùa sông Nile dâng lũ, khi nông dân phải ngưng việc đồng áng, các vua pharaoh trưng dụng lực lượng nhân công khổng lồ này để xây dựng những công trình lớn như các Kim tự tháp và các đền đài. Ngoài ra, nước sông Nile dâng cao còn giúp thuyền bè chở đá từ các vùng khai thác đá đến các công trường xây dựng.

CAIRO

Chuyến bay Delta Airlines số 84 bay theo một vòng tròn lớn băng qua Canada, Bắc Hải, Iceland, Anh, Pháp, Ý, Hy Lạp và vùng phía đông Địa Trung Hải trước khi đến Ai Cập và đáp xuống Cairo. Trời cuối thu ngày ngắn nên mới năm sáu giờ chiều mà thành phố đã nhấp nháy lên đèn. Nhìn chung, Cairo là đô thị lớn nhưng phát triển không có kế hoạch, phần lớn nhà cửa xây cất hỗn độn, đặc biệt nhà cửa xây cất kể từ thập niên 1970 đều để dang dở. Gió mang cát từ sa mạc phủ lên thành phố một lớp bụi màu vàng.

Cairo nằm gần phế tích của kinh đô đầu tiên của Ai Cập Cổ đại, do vua Menes xây dựng vào năm 3100BC. Khi người Hy Lạp đánh chiếm Ai Cập, họ đóng bản doanh ở nơi đây (phía tây ngạn sông Nile cách trung tâm Cairo hiện nay 15 km về phía nam), và đặt tên là Memphis.

Ngày đầu tiên ở Cairo chúng tôi đi thăm các phế tích nổi tiếng của Ai Cập Cổ đại chung quanh thành phố. Trước hết là vùng lăng mộ Saqqara, bên cạnh kinh đô cổ Memphis, bị chôn vùi dưới cát trong suốt 4500 năm trước khi các nhà khảo cổ Âu châu khám phá ra, và hiện nay trở thành một địa danh du lịch nổi tiếng. Công trình nổi bật ở Saqqara là Kim tự tháp Bậc thang, mộ của vua Djoser (2668-2649BC) thuộc triều đại thứ 3, do kiến trúc sư Imhotep xây dựng. Imhotep được xem là kiến trúc sư đầu tiên được biết đến trong lịch sử kiến trúc của nhân loại.

Rải rác dọc sông Nile từ Cairo về hướng nam có hằng trăm Kim tự tháp lớn nhỏ, là mồ chôn của các vua pharaoh cùng các hoàng hậu, hoàng thất và giới quý tộc thuộc nhiều triều đại của thời Vương triều Cổ (2575-2150BC). Vĩ đại nhất là ba Kim tự tháp nằm trên cao nguyên – sa mạc Giza: đó là Kim tự tháp của các vua Khufu, KhafreMenkaure. Ngay trước mặt Kim tự tháp Khafre còn có tượng Nhân Sư (Sphinx) khổng lồ. Kim tự tháp Khufu được công nhận là một trong 7 kỳ quan thế giới từ thời cổ đại đến ngày nay. Bất cứ khách viễn du nào trước khi đến Ai Cập hẳn cũng đã từng nghe kể về sự vĩ đại cùng tính huyền bí của các Kim tự tháp. Nhưng khi tự thân đứng trước các Kim tự tháp ấy, chúng ta không làm sao tránh khỏi cảm giác ngây ngất kỳ lạ, làm ngưng đọng mọi dòng suy tưởng của chúng ta. Trời đất bỗng thấy mênh mông hơn, con người bỗng trở nên nhỏ bé hơn nhiều, và những kẻ kiêu căng nhất cũng phải chùn lòng khi thấy sự kiêu ngạo của mình quả là vô nghĩa trước các công trình nhân tạo vô tiền khoáng hậu ấy.
Một du khách trong đoàn đã cảm tác:

Nhìn Kim tự tháp đứng uy nghi
Lòng khách viễn du nghĩ ngợi gì?
Tượng tháp huy hoàng khi đắc thế
Đền đài hoang phế lúc suy vi
Công lao nước mắt người nô dịch
Thành tích mồ chôn kẻ trị vì
Dâu bể khác nào cơn gió thoảng
Kìa bao danh lợi có còn chi!
                                                          (ĐBC)

Chữ viết của người Ai Cập cổ cũng là một trong những điều huyền bí khác. Ngày hôm nay người Ai Cập dùng chữ Arabic (Ả Rập). Nhưng mấy ngàn năm trước đây họ đã từng có loại văn tự đặc biệt gọi là chữ hieroglyphic do giai cấp “thư lại” (“scribes”) chế tác, dùng các hình vẽ để ký âm.

Vào thế kỷ thứ 1 khi Ki Tô Giáo du nhập vào Ai Cập, các tu sĩ Coptic vay mượn mẫu tự Hy Lạp để sáng chế ra loại văn tự mới, gọi là chữ Coptic, cũng để ký âm tiếng Ai Cập với mục đích truyền giảng Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. Khi người Ả Rập Hồi Giáo xâm chiếm Ai Cập, họ áp đặt ngôn ngữ và văn tự của họ là tiếng Arabic, từ đó chữ hieroglyphic không còn tồn tại.
Năm 1799 khi Napoléon của nước Pháp đưa quân vào Ai Cập, người ta tình cờ tìm thấy một phiến đá trên đó khắc ba loại chữ khác nhau nhưng chuyển tải cùng một nội dung giống nhau: chữ hieroglyphic, chữ demotic (của Ai Cập cổ), và chữ Hy Lạp. Hơn 20 năm sau, nhà ngôn ngữ học Pháp Jean Francois Champollion đã thành công trong việc giải mã cả hai loại chữ hieroglyphic và demotic, đặt nền tảng cho khoa Ai Cập Học (Egyptology) ra đời.

LUXOR VÀ DU NGOẠN SÔNG NILE

Từ Cairo chúng tôi bay đi Luxor cách Cairo 700 km về phía nam, nằm bên dòng chảy của con sông Nile. Luxor, tên Ả rập là al-Aqsur (có nghĩa “lâu đài”), là nơi có nhiều di tích của nền văn minh cổ đại nhất ở Ai Cập. Luxor chính là kinh đô Thebes, đã bắt đầu xuất hiện vào khoảng năm 3200BC. Thời cực thịnh của kinh đô này là dưới các triều đại 18 và 19 của Vương triều Mới (thế kỷ 16-12BC), với những cái tên của các vua pharaoh và hoàng hậu nổi tiếng: Hatshepsut, Amenhotep III, Akhenaten, Nefertiti, Tutankhamun, Seti I, Ramses II…

Dưới triều đại của vua Ramses II (1279-1212BC, thuộc triều đại thứ 19), Luxor (Thebes) là kinh đô của một Ai Cập đế quốc và cường thịnh, với cương thổ mở rộng từ phía đông Địa Trung Hải xuống tận Lybia, từ Syria qua đến tận miền Tiểu Á. Luxor ngày nay vẫn còn là một nguồn tư liệu sống vô cùng phong phú để nghiên cứu lịch sử Ai Cập cổ đại. Theo Champollion, cha đẻ của nghành Ai Cập học, dường như nghệ thuật điêu khắc của Ai Cập cổ đã bắt nguồn từ Luxor.

Chúng tôi thăm hai ngôi đền Luxor và Karnak, là phức hợp kiến trúc bằng đá lớn nhất trong lịch sử văn minh nhân loại, đồng thời là kiến trúc tôn giáo đồ sộ nhất trong lịch sử Ai Cập cổ đại. Trong đền Karnak có điện thờ vua Amentohep III vốn được xem là nơi linh thiêng nhất, và là nơi các vua pharaoh về sau thường vào đó để chính thức đăng quang.

Bên kia sông Nile đối diện với hai ngôi đền Karnak và Luxor là Thung lũng các Vua (Valley of the Kings), nơi có các hệ thống hầm mộ của các vua pharaoh thuộc vương triều Mới, như Tuthmose III, Seti I, các vua Ramses… Các nhà khảo cổ tin chắc rằng trong lòng thung lũng nổi tiếng với nhiều khối núi đá này vẫn còn giấu kín vô số mồ chôn các vua pharaoh và hoàng hậu Ai Cập mà người ta hi vọng sẽ tìm thấy trong tương lai. Việc đào xới để dò tìm vẫn đang được xúc tiến hàng ngày ngay trước mắt các đoàn du khách.

Từ Luxor chúng tôi xuống du thuyền xuôi Nam dọc theo dòng sông Nile. Du thuyền có đầy đủ tiện nghi, phòng ngủ rộng rãi, thức ăn tuyệt hảo, sân thượng mênh mông với quầy rượu, hồ bơi, ghế nằm ghế ngồi đủ cả để du khách có thể ngắm cảnh sông nước và phong cảnh thiên nhiên hay làng quê vườn tược dọc hai bên bờ sông dưới ánh nắng mặt trời dịu dàng của mùa thu. Sông Nile phẳng lặng trong veo, hiền từ như một nữ tu sĩ, cứ thế đưa chúng tôi đi sâu vào trái tim của đất nước Ai Cập. Hai bên bờ sông là ruộng nương, vườn chà là xanh um, rồi làng mạc nhà cửa nhấp nhô, cảnh vật trông thật thanh bình và sung túc.

Du thuyền cặp bến Esna cách Luxor 50 km đế lấy thêm hành khách trước khi đến Edfu cách Esna 40 km. Edfu tọa lạc trên bờ Tây sông Nile, nơi chúng tôi ghé thăm ngôi đền thờ thần Horus xây dựng dưới triều đại Ptolemaic (304-30BC), một trong số ít ngôi đền Ai Cập cổ còn được bào quản gần như nguyên vẹn.

Rời Edfu, du thuyền tiếp tục xuôi Nam, qua vùng núi đá Gebel Silsika trên một khúc sông rộng uốn khúc nên thơ, trước khi đến Kom-Ombo nơi chúng tôi thăm hai ngôi đền song lập có kiến trúc đối xứng rất đẹp và độc đáo thờ hai vị thần Chim ưng HaroerisCá sấu Sobek, cũng được xây dựng vào thời kỳ Ptolemaic. Trong ngôi đền này, du khách được dịp nhìn thấy hình chạm khắc các dụng cụ phẫu thuật của nền y học cổ Ai Cập, cũng như lịch của người Ai Cập cổ với cách phân chia ngày tháng và các mùa trong năm khác với Dương lịch của chúng ta hiện nay.

ASWAN VÀ ABU SIMBEL

Aswan là thành phố ở phía nam Kom-Ombo, vốn là cổng chiến lược trên biên giới phía nam của Ai Cập cổ đại, đặc biệt vào thời kỳ Vương triều Mới, thời kỳ của nhà nước đế quốc. Các vua pharaoh vào thời kỳ này đã nhiều lần chinh phục và lấn chiếm đất của vương quốc Nubia, kéo biên giới của Ai Cập cổ đến tận Abu Simbel (cách Aswan 230 km về phía nam).

Thành phố này có đập Aswan nổi tiếng thế giới, còn gọi là Đập Cao (High Dam), xây dựng trong hai thập niên 1960 và 1970 bởi tổng thống Nasser, một người hùng của Ai Cập, được nhân dân Ai Cập yêu mến và kính trọng. Đập Aswan từng là biểu tượng của sự đối đầu và tranh chấp giữa hai khối Tự doCộng sản trong cuộc Chiến tranh lạnh. Trong khi đang xây dựng đập, các nước phương Tây (Mỹ, Anh, Pháp) do không hài lòng với chính sách thiên tả của Nasser đã đình chỉ việc viện trợ. Nasser quay sang nhờ viện trợ của Liên bang Xô-Viết để có thể tiếp tục công trình. Ngay bên cạnh đập Aswan và hồ Nasser, hiện vẫn còn một tượng đài kỷ niệm sự hợp tác giữa Liên Xô và Ai Cập.

Đập Aswan được xây dựng với mục đích chính là điều hòa lưu lượng của con sông Nile đồng thời lấy nước dự trữ để nông nghiệp hóa và phát triển kinh tế vùng sa mạc khô cằn ở phía nam Ai Cập. Bên cạnh đó, nguồn thủy điện khai thác được từ đập Aswan còn giúp đẩy mạnh việc phát triển kỹ nghệ ở cả vùng phía nam rộng lớn ấy.

Nước sông Nile do đập ngăn lại tạo thành một hồ nước ngọt nhân tạo lớn nhất thế giới, mang tên Hồ Nasser, trải dài 550 km từ phía Nam Ai Cập (chiếm 83% diện tích hồ) sang tận phía Bắc Sudan (chiếm 17%, gọi là hồ Nubia). Khi nước của hồ Nasser dâng cao, nó đã nhận chìm vĩnh viễn phế tích của hàng trăm đền đài Ai Cập cổ, và đe dọa nhấn chìm luôn hai ngôi đền Abu Simbel nổi tiếng ở phía nam Ai Cập, được xây dựng bởi vua Ramses II vào thời kỳ Vương triều Mới (1540-1070BC). Từ năm 1964 đến 1968, đáp lại lời kêu gọi của chính phủ và nhân dân Ai Cập, tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc và thế giới phương Tây đã hợp tác thực hiện một đề án chưa từng có tiền lệ trong lịch sử của hai nghành khảo cổ và xây dựng nhằm tháo dỡ hai ngôi đền khổng lồ đục trong núi đá và dời chúng đến một địa điểm an toàn cao hơn 65 mét rồi ráp lại như cũ. Bên cạnh công trình Abu Simbel, thế giới còn giúp Ai Cập cứu một ngôi đền khác nhỏ hơn, đó là đền Philae, vốn đã bị chìm sâu dưới lòng hồ nhân tạo: người ta tháo dỡ ngôi đền, trục vớt các phần đã tháo dỡ lên và đưa chúng đi ráp lại như cũ trên một hòn đảo nhân tạo. Đền Philae này, xây dựng vào thời kỳ Hy-La (332BC-395AD), từ xa xưa vốn đã nổi tiếng vì là nơi thờ nữ thần Isis (vợ của thần Osiris, mẹ của thần Horus) được người Hy Lạp đồng hóa với nữ thần Aphrodite và người La-mã thờ như nữ thần Venus, thần của sắc đẹp, tình yêu và nhục cảm. Ngôi đền là một trong những điểm du lịch nổi tiếng ở Aswan.

Sáng sớm ngày 3 tháng 12 chúng tôi đáp máy bay đi Abu Simbel. Hai ngôi đền Abu Simbel được xây dựng để tôn vinh vua Ramses II và hoàng hậu Nefertari, trước đây vốn được tạc trong hai khối núi đá và bị cát sa mạc chôn vùi trong nhiều thế kỷ, không ai biết đến sự tồn tại của chúng, cho đến khi nhà mạo hiểm Giovanni Belzoni nhân đi tìm châu báu vô tình khám phá ra vào năm 1817.

Đền lớn Abu Simbel rất nổi tiếng bởi 4 bức tượng khổng lồ của vua Ramses II ngồi ở hai bên lối vào, hướng chếch Đông. Bên trong là một hành lang trung tâm dài 60 mét dẫn đến một điện thờ nhỏ có đặt 4 bức tượng của thần Ptah, thần Amun-Râ, vua Ramses II (được “thần hóa”) và thần Râ-Horakhty ngồi cạnh nhau. Mặt tiền, cửa vào và hành lang của ngôi đền được kiến tạo theo cách để hàng năm vào ngày 23 tháng 2 – ngày sinh nhật và cũng là ngày đăng quang của vua Ramses II – khi mặt trời mọc sẽ chiếu dọc theo hành lang và rọi thẳng vào 3 bức tượng của các thần Amun-Râ, Râ-Horakhty và vua Ramses và thắp sáng 3 vị này, nhưng đồng thời vẫn để thần Ptah, vốn là thần của bóng đêm, tiếp tục ngồi trong bóng tối. Cách tính toán trong xây dựng ngôi đền này chứng tỏ người Ai Cập mấy ngàn năm trước đã có những hiểu biết chính xác về thiên văn và sự dời chuyển của mặt trời trên bầu trời trong năm.

ALEXANDRIA

Chiều cùng ngày chúng tôi đáp máy bay trở về thủ đô Cairo. Sau một đêm nghỉ ngơi, sáng hôm sau đoàn lên đường đi thăm thành phố cảng Alexandria, thành phố nổi tiếng nhìn ra biển Địa Trung Hải.

Alexandria do Alexander Đại đế thành lập năm 332BC, sau khi ông đánh chiếm Ai Cập, và đặt tên theo chính tên của ông. Alexandria đã trở thành trung tâm kinh tế, quân sự và nhất là một trung tâm văn hóa và học thuật của Ai Cập nói riêng và thế giới Cổ đại nói chung trong suốt 500 năm. Ngoài ra, Alexandria còn là Thánh đô của Giáo Hội Chính Thống Coptic (của Ai Cập và Ethiopia), và từng là trung tâm truyền giáo ở Ai Cập trong các thế kỷ đầu Công Nguyên. Chúng tôi đi thăm hầm mộ catacomb (Kom-el-Shukafa) của những người La-mã, cùng một số phế tích Hy Lạp và La Mã khác trong thành phố. Alexandria từng có thư viện lớn nhất thế giới vào thời cổ, tên gọi Biblioteca Alexandrina, xây dựng dưới triều đại Ptolemaic, và trên cảng biển từng có ngọn hải đăng Pharos khổng lồ cao 140 mét xây bằng đá cẩm thạch, thời đó được xem là một trong những kỳ quan nhân tạo của thế giới. Vật đổi sao dời, ngọn hải đăng bị sụp đổ trong một trận động đất lớn vào thế kỷ thứ 14, còn thư viện vĩ đại thì bị đốt cháy một phần trong cuộc chiến tranh giữa vua Ptolemy XIII và hoàng đế La Mã Julius Caesar (thế kỷ thứ 1BC), sau đó bị hủy hoại lần thứ hai bởi chỉ dụ bài đạo ngoại của hoàng đế La Mã Theodosius (thế kỷ thứ 4), và cuối cùng bị triệt phá hoàn toàn bởi đạo quân chinh phục Hồi Giáo (thế kỷ thứ 7). Chúng tôi đi thăm thư viện mới của Alexandria, khánh thành vào năm 2002, một tòa nhà với kiến trúc tân kỳ và nội thất được trang bị đầy đủ với hàng triệu đầu sách và tư liệu, và với các phương tiện khoa kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay.

CẢM NHẬN, CẢM NGHĨ

Trở về Cairo, đoàn du khách chúng tôi có dịp quan sát đời sống của người Ai Cập tại khu chợ souk (bazaar) Khan al-Khalili. Cảnh sát du lịch (Tourist Police) hiện diện hầu như ở khắp mọi nơi. Sinh hoạt thương mại nhộn nhịp. Chúng tôi thấy du khách người Á Châu (Hoa, Nhật, Hàn, Thái…) đông hơn là du khách Tây Phương (Âu, Mỹ). Phái nam len lỏi vào các lối nhỏ chỉ để “window shopping” và chụp hình, trong khi các bà thì đi mua sắm thật sự. Chúng tôi có dịp vào quán “Café Naguib Mahfouz”, nằm trong một con hẻm nhỏ của khu chợ souk, nơi nhà văn Naguib Mahfouz (người nổi tiếng với giải văn chương Nobel năm 1988) lúc sinh thời là khách hàng quen thuộc: ông thường xuyên đến quán này để uống cà phê và gặp gỡ bạn bè và văn hữu.

Ai Cập tuy là một quốc gia Hồi Giáo, nhưng ở đây phụ nữ được hoàn toàn tự do lựa chọn cách trang phục khi đi ra ngoài. Đa số phụ nữ – già lẫn trẻ – đều quấn khăn che tóc (hijab), kể cả phụ nữ Ki Tô Giáo, điều này cho thấy việc mang khăn che tóc (ít nhất ở Ai Cập) là một truyền thống văn hóa nhiều hơn là một ràng buộc tôn giáo. Điều kỳ lạ là chúng tôi nhận thấy phụ nữ quấn khăn hijab trông lại khả ái hơn phụ nữ để đầu trần. Trên đường phố ở khắp các đô thị, khăn che tóc trở thành món đồ trang sức rất duyên dáng của người phụ nữ Ai Cập. Rất hiếm khi nhìn thấy những người đàn bà với chiếc áo abaya đen tuyền kiểu Ả Rập, dài từ cổ đến chấm đất và che kín hai cánh tay, với khăn che tóc lẫn mạng che mặt, chỉ chừa đôi mắt, mặc dù trang phục như thế cũng hoàn toàn do sự lựa chọn cá nhân.

Các cô sinh viên trẻ tuổi của Cairo tụ tập nhau trên quảng trường nhỏ trước giáo đường Al-Hussein bên cạnh khu chợ souk để chuyện trò. Họ vui vẻ chụp hình với khách du lịch, tự nhiên và thoải mái. Họ còn chia nhau kẹo bánh và ríu rít cười đùa.

Ai Cập là quốc gia Hồi Giáo đang ở vị thế “bản lề” làm trung gian trong cuộc chiến tranh chống khủng bố của Hoa Kỳ và thế giới phương Tây. Chính sách bản lề này do Tổng Thống Anwar Sadat khởi xướng sau khi ký hiệp ước hòa bình với Do Thái năm 1979, và vẫn được chính quyền của ông Mubarak hiện nay kiên trì thực hiện. Vì hòa ước này mà năm 1981 Tổng Thống Sadat đã bị các thành phần Hồi Giáo quá khích giết chết trong một cuộc diễu binh tại Cairo. Sau khi Sadat chết, Hosni Mubarak lên thay thế và vẫn tiếp tục thi hành Hòa ước. Tổng Thống Mubarak năm nay đã 82 tuổi mà vẫn còn cầm quyền. Thế giới đang lo rằng nếu ông không chuẩn bị một sự chuyển quyền êm thắm và ổn thỏa, việc ra đi của ông có thể tạo ra tình hình bất ổn tại Ai Cập và Trung Đông.

Trên đường ra phi trường Cairo để trở về Hoa Kỳ chúng tôi dừng chân thăm mộ Tổng Thống Anwar Sadat. Ông được chôn trên một quảng trường rộng xây dựng ngay trước khán đài nơi ông bị hạ sát năm 1981. Mộ chôn ông nằm bên cạnh tượng đài Chiến Sĩ Vô Danh hình kim tự tháp có bốn chân, ban đêm lóng lánh đèn ngũ sắc.

Qua chuyến du hành Ai Cập, cá nhân tôi (cũng như nhiều bạn đồng hành khác trong đoàn) rất có cảm tình với người dân Ai Cập, mặc dù trước ngày khởi hành trong lòng chúng tôi không khỏi có đôi chút lo lắng bận tâm khi du lịch thăm một đất nước Hồi giáo trong bối cảnh của cuộc chiến chống khủng bố và chống các thành phần Hồi giáo cực đoan trên thế giới hiện nay. Nhưng khi đặt chân đến đất nước này rồi chúng tôi mới cảm thấy hoàn toàn yên tâm để hòa mình vào sinh hoạt của người bản xứ, cảm thấy gần gũi với họ và không thấy có điều gì đáng phải lo sợ.

Cơ quan phụ trách nghành du lịch của chính phủ Ai Cập luôn bố trí những cảnh sát viên mặc thường phục để ngầm bảo vệ chúng tôi những khi đoàn di chuyển bằng xe coach, hoặc đi thăm các khu di tích. Trên đường từ phi trường Cairo đến khách sạn trong thành phố và ngược lại, mỗi đoàn du lịch đều có xe cảnh sát cùng đi. Tôi nghĩ đó là việc bảo vệ nặng về hình thức để làm yên lòng du khách, nhất là du khách người da trắng, hơn là một sự bảo vệ hữu hiệu. Xét cho cùng, mối đe dọa tiềm ẩn đối với du khách trong bối cảnh của thế giới hiện nay thì ở quốc gia nào cũng có!

Trong bất cứ cuộc tranh chấp nào, nếu hai phía đối đầu bị cách ly với nhau, sợ hãi và nghi ngờ lẫn nhau, thì không khí căng thẳng ấy dễ đưa đến chiến tranh. Nếu xích lại gần nhau để thông cảm và quý mến nhau như những con người cùng “đầu đen máu đỏ” thì cả hai phía đều sẽ cảm nhận được rằng mối đe dọa đối với nhau thực ra chỉ là tưởng tuợng.

Phải chăng đó là phương án tốt nhất nhằm giải quyết các tranh chấp trên thế giới, và là một trong những phương án nhằm giải quyết cuộc đối đầu hiện nay giữa Văn minh phương Tây và văn minh Hồi Giáo?

Suy nghĩ đó đã ám ảnh tôi trong suốt chuyến bay dài 12 tiếng, kể từ khi máy bay cất cánh từ phi trường Cairo lúc 11 giờ đêm ngày thứ Hai 6 tháng 12 để đưa đoàn du lịch Ai Cập của Voyages Saigon bay trở về Hoa Kỳ.
Trên máy bay, trong màn ảnh nhỏ trước mỗi ghế ngồi, để bày tỏ sự tôn trọng và ưu ái đối với hành khách theo đạo Hồi, có định hướng vị trí máy bay với mũi tên chỉ về thánh địa Mecca (Saudi Arabia) để những hành khách này biết hướng mà cầu nguyện. Chập chờn với giấc ngủ trên chiếc ghế ngả lưng nghiêng 200 độ, khi thức dậy tôi nhìn thấy mũi tên đã chỉ hướng 10 giờ, cũng là lúc phi công trưởng yêu cầu hành khách cài dây lưng an toàn và sửa lưng ghế lại cho ngay để máy bay chuẩn bị đáp xuống phi trường JFK – New York.

Sau khi qua thủ tục nhập cảnh, chúng tôi chia tay nhau, người bay về San Francisco, Seattle, kẻ bay đi Las Vegas và Los Angeles, chấm dứt một chuyến du lịch đối với tôi và nhiều người là vô cùng phong phú về hiểu biết và cũng rất hữu ích về mặt tinh thần.

Thế giới chúng ta sống không nguy hiểm như chúng ta tưởng, nếu như ai cũng có một tấm lòng!

TRẦN BÌNH NAM

Share this post