Câu Chuyện Ngày Xưa – Dư Thị Diễm Buồn

Câu Chuyện Ngày Xưa – Dư Thị Diễm Buồn
  • Huỳnh Liên, Huỳnh Liên!
    Hình như có tiếng ai gọi loáng thoáng tên mình, tôi không nghe rõ? Bởi cái nơ nơi quai cột bị xút ra đập vào chiếc nón lá nghe phành phạch, và xe đạp chạy ngược chiều gió. Tôi tấp vào lề, rà chân chõi cho xe khỏi ngã và bỏ chân kia xuống đường. Nhìn qua nơi phát ra tiếng gọi hồi nãy, tôi thấy một người đàn ông mặc quân phục băng qua đường đi nhanh về phía tôi. Anh đến càng lúc càng gần chỗ tôi đứng đợi. Tôi reo lên:
  • Ồ, chào anh Vịnh, anh về hồi nào đó? Lâu quá mới gặp lại anh. Anh vẫn khỏe chớ?
    Vẫn đôi mắt to ngời sáng nhưng buồn buồn, dáng người dong dỏng cao, nước da xạm nắng và nụ cười nửa miệng, anh chào:
  • Vâng, lâu quá không gặp! Từ ngày Nguyệt Thu ra đi đến giờ anh ít về thành phố nầy. Nhưng Tây Đô vẫn là Tây Đô. Ngày càng thêm tấp nập, phồn thịnh. Huỳnh Liên vẫn khỏe, và đi học thường chớ?
    Tôi cười, trả lời:
  • Cảm ơn anh, Huỳnh Liên khỏe, vẫn đi học bình thường. Anh về phép thường niên hay tạm dừng lại trên đường quân đi?
    Anh Vịnh nhìn tôi như dò xét, bảo:
  • Anh nghỉ mấy ngày phép. Không làm gì, trong dịp có xe ở hậu cứ đi lãnh thuốc men cho đơn vị, anh quá giang về đây thăm thằng bạn bị thương đang nằm ở quân y viện, và tiện dịp ngắm lại cảnh thành phố trong Ngày Quân Lực 19 tháng 6.
    Tôi vỗ nhẹ vào trán, cười:
  • Thiệt tình, dạo nầy Huỳnh Liên bận học thi tối tăm mày mặt nên lẩm cẩm, và hay quên quá anh ơi! Thì ra, mốt là ngày lễ rồi. Anh được thư Nguyệt Thu thường chớ?
    Anh Vịnh chớp chớp mắt, nhẹ giọng:
  • Thỉnh thoảng, nhưng anh không hy vọng gì ở tương lai. Ồ, bộ Huỳnh Liên không có đi dự lễ năm nay sao?
    Tôi lắc đầu cười:
  • Dạ thưa anh không. Nhà trường chỉ cho lớp đệ thất, đệ lục, đệ ngũ và đệ tam đi thôi. Còn lớp đệ tứ, đệ nhị, và đệ nhứt là năm thi, nên không được đi.
    Anh Vịnh mời:
  • Vậy à? Nè, Huỳnh Liên có ngại đến tiệm giải khát bên kia đường, dùng với anh ly nước không?
    Tôi nhìn theo hướng tay của anh Vịnh chỉ. Liếc mắt nhìn đồng hồ của mình, thấy đã trễ giờ lớp học thêm. Tôi định từ chối, nhưng không nỡ, nên gật đầu:
  • Thưa, được anh.
    Anh Vịnh vui nét mặt:
  • Vậy, chúng ta đi.

Thuở đó, bọn nữ sinh chúng tôi đồng phục áo dài trắng quần đen hay quần trắng. Vào giờ ra chơi, hay tan học chúng tôi từ lớp túa ra rồi nhởn nhơ như đàn bươm bướm trắng. Buổi tan trường hôm nay mặt đứa nào cũng tươi rói như hoa nở mùa xuân. Vì chiều thứ sáu, và sáng ngày mai thứ bảy là ngày Quân Lực. Lớp đệ tam của chúng tôi năm nay được đi dự lễ ở khán đài đặt trước cửa dinh tỉnh trưởng và Quân Đoàn IV.
Chúng tôi có 4 đứa bạn (kể cả tôi) rất thân, và rõ tánh tình của nhau mồm một. Chị Trà Mi lớn hơn nhứt trong bọn, hơn 3 đứa tôi một tuổi. Nguyệt Thu lớn hơn tôi 6 tháng, còn Ái Chi thì nhỏ hơn tôi ba tháng. Chúng tôi tự đặt cho bọn mình cái tên thật là gồ ghề “Tứ Nữ La Sát”. Cái biệt danh nghe oai phong và dữ dằn như vậy, nhưng thật ra đứa nào đứa nấy nhác còn hơn thỏ đế!
Con nhỏ Ái Chi là em út trong bọn, mà nó lại bự hơn cả chị Trà Mi. Bởi nó ăn hàng thầy chạy! Cái miệng nó ăn xàp xạp tối ngày như heo ăn cám. Trước cửa trường, các chủ xe bán nước mía, đậu đỏ, bánh lọt, cốc, ổi, xoài sống ghim đường, khô mực nướng& Đều biết mặt và biết cả tên nó nữa! Ái Chi có nước da trắng hồng, thân hình tròn trịa, tánh tình cởi mở vui vẻ, dễ khóc, dễ cười ít hay hờn giận ai, phá thầy chọc bạn cũng không ai hơn nó. Con nhỏ học đâu nhớ đó, thông minh, sáng dạ chị lạ! Thường một hai tuần trước ngày thi, cả bọn học bài muốn ngất ngư con tàu đi. Còn nó trước giờ thi, lấy sách lật qua lật lại xem ngấu xem nghiến thôi. Ấy vậy mà lần nào kết quả điểm bài thi của nó cũng hơn tôi.
Chị Trà Mi có tánh tình đoan trang, điềm đạm. Dáng chị cao, gầy, nước da ngăm ngăm, đôi mắt sáng ngời. Nụ cười cởi mở và mỗi khi miệng chị cười thì đôi mắt cũng cười theo. Chị học giỏi nhưng khiêm nhường, chớ không phải ba hoa chích chòe như con chim chèo bẻo Nguyệt Thu. Nguyệt Thu và tôi hay ngầm chọc ghẹo bạn và giỡn ngầm. Hai đứa giận hờn nhau hoài, nhưng chừng đôi ngày không gặp thì lại tìm kiếm nhau.
Tôi thường khen Nguyệt Thu có vẻ đẹp thướt tha, ẻo lả như cô Thuý Kiều trong truyện Kiều chúng tôi đang học. Thân hình nó ốm yếu, cao, khuôn mặt trái soan, da trắng xanh, hai hàng lông mi cong e ấp đôi tròng mắt đen, to và ướt rượt. Có lần nhìn nó một hồi, con Ái Chi nói:

  • Trong số 4 đứa mình, tao thấy mầy đẹp nhứt đó Nguyệt Thu. Nhưng cặp mắt mầy đa tình, và ủy mị quá, coi chừng sẽ làm hại chết đàn ông!
    Tôi đi gần nó, không nhịn được cười ha hả, giở giọng thầy đời cát nghĩa:
  • Thấy chưa? Hôm trước, tao chỉ nói mầy yểu điệu đẹp như Thúy Kiều thì mầy giận tao. Hôm nay, con nhỏ Ái Chi khen mầy đẹp theo kiểu của nó, thì mầy làm ơn, đừng có mừng húm, mà tưởng bở là nó khen thiệt nghen. Tao biết nó muốn nói mầy có cái mặt đẹp nhưng long như bà phù thùy xấu xa chuyên làm chuyện hại người. Như vậy thì là nặng nề và độc địa lắm đó mầy à!
    Thế là cả bọn chúng tôi cười vui như tuôn ánh sáng, và bị nhỏ Nguyệt Thu rược đánh, chạy tứ tung ngoài đường, ngoài sá. Chúng tôi quên mình đứa nào cũng tuổi mười bảy, mười tám. Ở tuổi hồng Nguyên Đán. Cái tuổi biết buồn và biết mông mơ!
    Ngày Quân Lực đến. Đại diện các binh chủng đều có mặt trong ngày đại lễ nầy. Lễ được tổ chức trên đài cao hơn mặt lộ ngoài cửa lớn của dinh tỉnh trưởng. Nơi góc đường Phan Đình Phùng (kế công viên), Đại Lộ Hòa Bình (trước văn phòng Bộ chỉ huy Quân Đoàn IV), Phan Thanh Giản (hông trại gia binh).
    Thành phố Tây Đô mấy hôm rày rộn rịp khác thường. Mọi ngày thì chỉ ở các công sở, trường học mới treo cờ. Hôm nay, công tư sở, tất cả mọi nơi, nhà nhà, các cột đèn, công viên, các xe nhà, xe hành khách& đều treo cờ. Cờ vàng ba sọc đỏ bay phấp phới dưới bầu trời xanh thẳm, gió mát lồng lộng chan hòa nắng đẹp miền Nam.
    Từ sáng sớm, bọn nữ sinh chúng tôi chỉnh tề từng nhóm, từng nhóm đứng ngoài sân trường chờ Giám thị và cô hướng dẫn đi dự lễ.
    Trước lễ đài, có đủ mặt đại diện các binh chủng, dân, cán, chánh trong vùng IV về tham dự. Sau nghi thức buổi lễ hoàn tất, thì đến phần diễn hành.
    Trên không phận, những chiếc phi cơ biểu diễn: Từng chiếc máy bay nhẹ nhàng bay vút lên cao, hạ xuống thấp, nghiêng cánh đại bàng, chiếc nầy nối tiếp chiếc kia, nhào lộn& Rồi cả đoàn bay hàng ngang thả khói màu, dệt cờ vàng ba sọc đỏ lồng lộng trên cao.
    Các chiến sĩ Thiên Thần Mũ Đỏ với những chiếc dù lờ lửng trên không gian. Những chiếc thiết giáp chạy rầm rập trên đường. Đoàn người nhái với thân hình vạm vỡ hiên ngang. Kế tiếp đoàn Thiếu Sinh Quân. Những khẩu đại bác của binh chủng Pháo binh. Nữ Quân Nhân, Biệt Động Quân, Thám Báo, Hải Quân, Địa Phương Quân, Nhân Dân Tự Vệ, nhân viên Hành Chánh, Sư Đoàn 7, Sư Đoàn 9, Sư Đoàn 21 (có biệt danh là Sét Miền Tây)& Sinh viên, học sinh, công chức& tiếp nối diễn hành qua các con đường trong thành phố được hướng dẫn.
    Dân chúng trong thành phố, các vùng lân cận, lũ lượt kéo đến dự lễ, chiêm ngưỡng những chàng trai anh dũng về từ các chiến trường. Dân, quân vui chơi trong mấy ngày lễ lớn nầy. Làm cho Tây Đô nhộn nhịp, rộn ràng, tươi trẻ hẳn lên&. Gia đình mừng người thân của mình trở lại thăm nhà, gia đình đoàn tựu, bạn bè họp mặt, em gái hậu phương đón mừng anh trai từ các chiến trường xa xôi ở địa đầu giới tuyến. Những nơi công cộng, công viên, rạp hát, cùng gia đình đâu đâu cũng rộp bóng dáng những chàng chiến binh oai hùng.
    Trong 4 đứa bạn thân, tôi được ba con kia trêu ghẹo đặt cho cái biệt danh: “Thị Nở”. Khi nào vui thì bọn nó gọi tôi: “Đông Thi”(ngược lại Tây Thi có quốc sắc thiên hương, là ái thiếp của một ông vua đời nhà Đường). Tôi không giận chút nào mà khoái chí cười hí hí! Đã biết mình xấu xí, nên không nói làm gì, còn ba con kia tự cho mình có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thùng mà chẳng có móng bồ nào là chàng trai lính chiến! Ôi, thiệt buồn ơi là buồn, và tội nghiệp thì thôi!
    Chiều đến nhà tôi mượn cuốn sách “Hồn Bướm Mơ Tiên”, đem về đọc cho đỡ cảm thấy cô đơn, chị Trà Mi than vắn, thở dài:
  • Ngày lễ, thấy mấy con nhỏ bạn đi chơi vui mà mắc ham. Bọn mình thì ăn no ngồi co một đóng! Tao nhứt định sẽ tìm một chàng lính chiến miền xa để làm đẹp phố phường cho mầy coi.
    Chị nói đến đó, bỗng ngoài hàng rào nhà tôi có người lính, quân phục hẳn hoi gọi mở cửa. Tôi nhướng mắt nhìn kỹ, thì ra anh Phúc, con nhà bác tôi. Anh là lính Sư đoàn 9/BB, thường đóng quân ở vùng Sa Đéc, Thất Sơn, Châu Đốc về dự lễ ghé qua thăm. Tôi nheo mắt cười, nói nhỏ với chị trước khi đi ra mở cửa:
  • Khỏi cần tìm đâu cho mệt, anh chàng lính chiến miền xa chị muốn tìm, lù lù tới rồi kia.
    Ra mở cửa, hai anh em tôi vừa đi vào vừa nói chuyện. Bỗng anh hỏi:
  • Hồi nãy anh thấy hình như có ai ngồi đây với em mà?
    Tôi cười:
  • Bạn học của em. Chị Trà Mi ơi. Chị đâu rồi?
    Chị Trà Mi mắc cỡ, mở cửa sau trốn về mất. Anh Phúc biết được cười nửa miệng không nói gì! Anh thăm hỏi qua loa rồi từ giã. Và anh bảo trước ngày trở ra đơn vị sẽ ghé qua thăm.
    Họ đi rồi, tôi ngồi lơ đảng nhìn bầu trời xanh bát ngát điểm lác đác vài cụm mây hồng, mây trắng xa xa. Ánh nắng hôm nay đẹp như trải lụa lên trần thế. Gió mát rười rượi, lồng lộng tung bay những lá Quốc Kỳ màu vàng rực rỡ. Đường phố dập dìu nam thanh, nữ tú, muôn hồng ngàn tía, tạo cho Tây Đô sắc thái thêm tươi trẻ, huy hoàng& Ngoại cảnh đã làm nội tâm con bé lọ lem và cù lần như tôi cũng bị giao động! Tôi cảm thấy thương thương, buồn buồn trong nỗi nhớ nhẹ nhàng lâng lâng, nhưng không rõ nguyên nhân có từ đâu? Tôi chợt cười thầm: “Tôi buồn không biết vì sao tôi buồn” đích thị là đây! Rồi bỗng dưng tôi cảm thấy thẹn thùng với chính mình.
    Tiếng gọi ơi ơí của ai ngoài cửa nhà vậy cà? Hình như giọng eo éo của Ái Chi? Phải, nhỏ Ái Chi đó. Nó thướt tha trong chiếc áo dài màu hoa cà, quần sa-teng đen có rô-đê dưới lai, guốc sơn vẽ hoa, vẽ bướm gót cao. Ôi chao, con nhỏ hôm nay sao mà diện quá ta? Trên cổ đeo sâu chuỗi, và đôi bông tai bằng ngọc trai màu ngà voi. Mèn ơi, nhỏ còn xí xọn xách bóp tay, che dù hồng nữa!
    Tôi định quở, nhưng dội ngược, vì có hai chàng chiến binh đang đi bên cạnh nó. Mở cửa, tôi ngạc nhiên quá đổi. Người bên trái của Ái Chi là anh Tân. Bọn “Tứ Nữ La Sát” chúng tôi đều biết anh qua đêm đốt lữa trại liên trường, gồm có các trường: Phan Thanh Giản, Đoàn Thị Điểm (Cần Thơ), Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long), Thoại Ngọc Hầu (Long xuyên), Nguyễn Trung Trực (Rạch Giá)& Thuở đó chúng tôi vừa thi xong Trung học đệ nhất cấp và anh Tân vừa thi phần hai (chưa biết kết quả). Rồi bẵng đi thời gian dài, hôm nay gặp lại! Anh oai phong trong bộ quân phục màu cỏ úa, bên vai áo gắn vệt sét. Đó là biệt danh Sét Miền Tây của binh chủng SĐ 21/BB trấn đóng ở vùng rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau. Anh cười chào tôi. Nhỏ Ái Chi hướng mắt về anh Tân, lanh miệng:
  • Huỳnh Liên, còn nhớ ai đây không?
    Tôi cười, khẽ gật đầu chào anh Tân và một quân nhân khác đi bên cạnh anh:
  • Anh Tân Phải không? Lâu quá không gặp. Mời hai anh và Ái Chi vào nhà.
    Hai chàng quân nhân và Ái Chi ngồi nói chuyện ở ghế đá ngoài sân dưới tàn cây lệ liễu cho mát. Tôi vào trong rót nước bưng ra mời khách. Anh Tân giới thiệu, anh Hải ở cùng binh chủng và là anh em bạn dì của anh. Họ ghé qua, rủ tôi đi ăn chiều và sau đó đi xem phim “Mùa Thu Lá Bay” phỏng theo tiểu thuyết của bà Xẩm Quỳnh Dao đang chiếu ở rạp Tây Đô. Tôi hứa với bọn họ đi xem phim thôi. Vì chiều nay tôi phải theo ba má qua ăn cơm gia đình ở nhà ông bác trong ngày lễ lớn nầy.
    Hai năm sau ngày Quân Lực đó. Chị Trà Mi tròn mộng ước, có người yêu là anh Phúc con bác tôi. Khi biết họ là bồ bịch với nhau tôi ngạc nhiên quá đổi, tra hỏi. Chị cười mỉm chi cọp, thố lộ:
  • Có gì đâu, lúc anh Phúc vào nhà mầy, tao lẻn cửa sau đi về, không ngờ lính quính thế nào mà ống quần vướng vào hàng rào kẽm gai. Tao còn đang tháo gở thì anh Phúc hiện ra. Thế là chúng tao quen nhau…
    Tôi cười hí hí:
  • Vậy là hai người phải cảm ơn cái hàng rào nhà tui mới được!
    Ái Chi sau khi đậu tú tài một, thi tuyển đậu vào trường Sư Phạm Vĩnh Long. Anh Tân và nó sẽ đám cưới sau khi nó Tốt nghiêp.
    Con Nguyệt Thu thì kín đáo làm sao! Không biết nó đi học khóa thợ lặn hồi nào mà sau buổi sáng cả bọn dự lễ ngày Quân Lực đó, thì nó lặn mất tiêu! Nó lặn thật kỹ! Nó lặn thật sâu! Cả tháng sau, con nhỏ mới trồi lên và thì thầm kể lể bởi sợ “Tứ Nữ La Sát” sẽ mở phiên tòa xử tội tên không thành thật khai báo nầy. Nguyệt Thu cười ngỏn ngoẻn với bọn tôi:
  • Lỗi đâu phải tại tao không khai báo. Bây nghĩ coi: Ba đứa bây là cái thứ chằng ăn, trăn quấn, sấu táp 7 ngày không hết, ai qua mặt tụi bây được? Tụi bây mỗi đứa còn có 2 con mắt, 3 đứa cộng lại là 6 con mắt. Bộ tụi bây đui hết sao mà không thấy tao ra choàng vòng hoa chiến thắng?
    Tôi nổi nóng, nguýt nó:
  • Đồ con mắc toi. Nói vậy mà nghe được à? Người đông như kiến cỏ. Đừng có xạo để chối quanh nghen mậy. Trước đó mầy có nói với bọn tao là mầy đi choàng vòng hoa đâu?
    Chị Trà Mi trầm tĩnh hơn:
  • Thôi hãy kể tại sao, nguyên nhân nào mà mầy quen với anh Vịnh cho bọn tao nghe đi. Nếu lọt lỗ tai thì bọn tao sẽ tha không xử tội.
    Mắt Ái Chi sáng ngời, cũng hăm he :
  • Phải thành thật khai báo đừng có đía dốc, hoặc nói xạo thì bọn tao sẽ quết mầy nhừ như mấy bà Bắc Kỳ quết giò sống để làm chả lụa đó.
    Cả bọn ôm bụng cười bò lăn. Tôi nôn nóng, hối:
  • Nói đi mậy, nói nhanh đi, bọn tao đang chờ nghe chuyện tình đôi mươi lâm ly bi đát của mầy đây.
    Nhỏ Nguyệt Thu háy tôi con mắt có đuôi. Rồi trề môi nói:
  • Vô duyên! Chuyện của tao chớ bộ chuyện của mầy sao mà mầy nóng?
    Tôi bị nó mắng chưa kịp cự lại, thì con nhỏ Ái Chi cười hí hí, xen vào:
  • Ờ há, mầy nói đúng, thật sự con Huỳnh Liên không có “viên” nào hết. Nhưng tụi tao muốn nghe duyên của hai đứa bây kìa.
    Mấy đứa nó lại phá lên cười. Tôi ngu ngơ, chưa kịp hỏi tại sao chúng cười? Thì tôi lại bị con Ái Chi mắng át:
  • Mầy chậm tiêu quá! Thôi nín đi, hãy nghe con Nguyệt Thu kể.
    Nguyệt Thu nhướng nhướng đôi mắt sáng ngời gợn sóng tình, cười mím chi:
  • Số là sáng ngày lễ tao có biết mô tê chi đâu. Tao cũng đi dự như tụi bây thôi. Sắp vào lễ, bà Giám thị bươn bả đi kiếm tao thế chỗ cho con nhỏ Ánh Hồng lớp Đệ Tam 3, có tên trong danh sách choàng vòng hoa chiến thắng hôm đó, mà nó bị bịnh không đi được. Người tao choàng lại là anh Vịnh. Tụi bây có đứa nào mà không biết ảnh? Ảnh ở xóm nhà tao trong chợ Tham Tướng đó mà. Trước kia mặc dù ở cùng đường, hàng ngày đi học gặp nhau, nhưng tao có quen ảnh đâu. Sau khi đậu phần hai, ảnh tình nguyện vào trường Võ Bị Đà Lạt, khi tốt nghiệp được bổ xung vào binh chủng SĐ7/BB đóng ở Đồng Tháp Mười miệt Tiền Giang… Sau ngày lễ tao được choàng vòng hoa cho ảnh đó, chúng tao hẹn nhau đi ăn, đi dạo trong mấy ngày anh nghỉ phép. Rồi thư đi, thư về để bây giờ thì tao trỡ thành người yêu của lính. Ảnh là lính chiến rày đây may đó. Sự sống bấp bênh tội lắm. Nhưng ịLàm người yêu lính chiến là chấp nhận thương đau là chấp nhận xa nhau mà!
    Mắt tôi buồn buồn, tay xoay xoay ly nước mía nghĩ ngợi xa xôi. Vì nay bọn « Tứ Nữ La Sát » của chúng tôi đã tản lạc hết rồi. Trà Mi trở thành chị dâu sau khi lấy anh Phúc con bác tôi. Ái Chi học trường Sư Phạm ở Vĩnh Long, ít khi thư từ cho tôi vì nó đang lặn ngụp trong tình yêu bên anh Tân, thì còn thì giờ đâu nhớ đến con bạn nầy nữa. Nhưng tôi không buồn mà mừng và chúc phúc cho nó. Nguyệt Thu sau khi đậu tú tài một, nó được hội Cha Mẹ Nuôi Quốc Tế bảo lãnh qua bên Mỹ học 4 năm. Vì tương lai, nó từ giã người yêu ra đi cũng gần 2 năm rồi.
  • Huỳnh Liên nghĩ gì mà có vẻ xuất thần quá vậy?
    Tôi giựt mình nuốt vội ngụm nước mía, trả lời:
  • Em nghĩ chuyện ngày xưa.
    Anh Vịnh hỏi xuôi:
  • Vậy sao? Huỳnh Liên không nghĩ đến chuyện tương lai?
    Tôi cười, tự nhiên:
  • Dạ, có chớ anh.
  • Liên nghĩ gì về tương lai?
    Tôi cười e thẹn:
  • Năm rồi em trợt vỏ chuối, năm nay hy vọng sẽ thi đậu phần hai.
  • Chỉ vậy thôi sao?
  • Thưa anh, chỉ vậy thôi. Tham lam quá thì Trời Phật không đáp lại sự yêu cầu của mình. Em nghe nói Nguyệt Thu sắp dời qua tiểu bang khác? Nó học hành theo kịp người ta không? Em mong được dự đám cưới của hai người.

Thời gian lặng lẽ qua mau! Nay cũng gần 40 năm rồi. Mỗi cái tích tắc của kim đồng hồ thì trên thế gian nầy có biết bao nhiêu vật đổi sao dời! Bây giờ tôi đã hai màu tóc.
Sau cuộc đổi đời, bạn bè xưa kẻ còn người mất, mỗi đứa một nơi. Vợ chồng anh Phúc và Trà Mi còn kẹt bên nhà. Họ đã là ông bà nội, ngoại rồi. Tội nghiệp, Ái Chi sống nghèo khổ với 4 đứa con, từ khi giặc vào nó bị nghỉ dạy và anh Tân chết trong tù cải tạo. Tôi không tin tức gì của Nguyệt Thu.
Bôn đào khỏi quê hương mình, tị nạn ở xứ người nhiều năm rồi. Mùa hè năm nay, từ tiểu bang xa tôi đi qua San Jose dự đám cưới đứa cháu con của người em cô cậu với phu quân tôi. Trong dịp nầy chúng tôi lấy hai tuần nghỉ hè để viếng vài thắng cảnh nổi tiếng của Thung Lũng Hoa Vàng và Vùng Vịnh nầy cho mãn nhãn.
Hôm đó, vợ chồng cô em họ, rủ chúng tôi đi dự ngày Quân Lực 19 tháng 6. Do cựu Tù Nhân Chánh Trị, và cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tổ chức tại một hội trường lớn.
Người người đến dự đại hội đông đảo, các hàng ghế dài chật hết, còn một số quan khách khá đông đứng sau, và dọc theo bên hông của hội trường.
Thú thật, trong đời tôi từ đi học cho đến bây giờ, tôi mê và thích hát nhứt bài Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa. Vì ngay từ còn đi học tôi được hát mỗi buổi sáng trước khi vào lớp. Tôi được hát vào các buổi lễ đông người lúc còn ở quê hương cũng như lúc bôn đào nơi hải ngoại. Tôi được tự do hát. Tôi hát trong tâm hồn phơi phới, hát trong hiên ngang, hát trong niềm phấn khởi, hát trong niềm tự hào, hát trong niềm kiêu hãnh dâng lên. Tôi hát mà đắm hồn mình theo lời ca điệu nhạc rền vọng nơi hội trường, và vang vang trong không gian.
Trên 3 hàng ghế tôi ngồi, xéo bên tay phải có một phụ nữ dáng người thư thả, nét mặt thanh tú dễ nhìn mà tôi cảm thấy hình như đã gặp bà ở đâu? Suốt buổi lễ, mắt tôi cứ dán vào người đàn bà ấy. Tôi cố moi trí mình để nhớ, và hồi tưởng& Nhưng vô hiệu! Bỗng người đàn bà đó quay nhìn xuống. Mắt chúng tôi chạm nhau. Rồi cả hai mỉm cười lịch sự cùng khẽ gật đầu chào.
Sau phần nói về ý nghĩa ngày Quân Lực của ban tổ chức, thì đến phần văn nghệ bỏ túi, lính hát, lính nghe. Không khí hội trường trở nên ồn ào, náo nhiệt, vui tươi. Những bộ quân phục các anh mặc, và huy hiệu gắn trên áo các anh tượng trưng cho từng binh chủng một, như: SĐ7/BB, SĐ9/BB, SĐ Dù, Chiến Tranh Chánh Trị, Biệt Động Quân, Không Quân, Hải Quân& Ngày hôm nay, gần như đủ mặt cựu quân nhân các binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Kẻ ngồi người đứng hàn huyên tâm sự, ăn uống, truyện trò thỏa thích. Tôi cảm thấy lòng bồi hồi xúc động nhớ đến thuở ngày xưa!

  • Chị ơi, xin lỗi chị ở đâu đến, sao trông mặt chị quen quá?
    Tôi quay lại. Thì ra người phụ nữ ngồi trên tôi lúc nãy. Tôi cười :
  • Tôi ở tiểu bang xa mới qua đây. Tôi cũng thấy chị quen mặt lắm. Xin lỗi chị tên gì và đến Mỹ năm nào?
    Tôi lại đường đột hỏi chị! Tôi đã phạm vào một trong những điều kỵ về lịch sự xã giao mà người dân bản xứ không bao giờ hỏi nhau như vậy. Nhưng tôi là người Á Đông! Lại là người Việt và nhứt là ở miền Nam nữa!
    Người phụ nữ đối diện tôi, tuy đứng tuổi, nhưng vẫn còn nét trang nhã, nhứt là miệng chị cười tươi như hoa nở. Chị vui vẻ trả lời :
  • Tôi du học trước ngày Việt Cộng chiếm miền Nam, Thu là tên của tôi. Còn chị đến đây năm nào? Việt Nam chị ở đâu, và chị tên gì nhỉ?
    Đó, thấy chưa ? Tôi tự biện hộ cho mình như vậy, có sai đâu? Chị ta cũng hỏi tôi thế mà! Tôi cởi mở, cười bảo :
  • Tôi ở Cần Thơ, tên Liên. Việt Cộng vào, chạy bỏ xứ!
    Không ai bảo. Bỗng dưng chúng tôi cùng một lúc chỉ mặt nhau, và cùng một lúc nói như hét: ịHuỳnh Liên! Nguyệt Thu!Ể. Rồi chúng tôi ôm chầm lấy nhau, nức nỡ, nghẹn ngào!
    Tôi vẫn nhớ rất rõ, Nguyệt Thu sang Mỹ học. Chúng tôi thỉnh thoảng thư từ thăm hỏi nhau. Sau ngày 30 tháng 4 năm 75, Việt Cộng chiếm miền Nam thì chúng tôi hoàn toàn mất liên lạc cho đến nay.
    Nỗi vui mừng, cảm động, bùi ngùi quấn chặt hai đứa. Bỗng Nguyệt Thu buông tôi ra, nước mắt còn ràng rụa, mà miệng cười tích toác, bảo:
  • Mầy đứng đây, đừng đi đâu hết, đợi tao một chút nghen Huỳnh Liên.
    Tôi chưa kịp phản ứng, nó lẻn vào đám đông mất dạng. Vài phút sau, con nhỏ săn sái kéo lôi tay một người đàn ông có dáng gầy, cao, đi về phía tôi:
  • Huỳnh Liên, mầy nhìn kỹ xem ai đây?
    Tôi chớp mắt, ngỡ ngàng, miệng lắp bắp như đang bị mắc nghẹn:
  • Anh, Anh… Anh Vịnh! Phải anh Vịnh không ? Nồi ơi, tui có nằm mơ không cà?
    Hơn 40 năm rồi, chúng tôi mới gặp lại! Vợ chồng tôi đến nhà nó ngủ một đêm. Hai ông chồng chúng tôi khề khà bên mấy lon bia kể chuyện vui buồn lúc còn trong đời quân ngũ. Những thống khổ, đoạn trường lúc trong tù cài tạo. Còn tôi và nó tha hồ kể cho nhau những chuyện ngày xưa. Tôi kể những chuyện xảy ra, nhứt là lúc nó rời quê hương đi du học, và sau khi Việt cộng chiếm miền Nam& Hai đứa chúng tôi có lúc cười như điên, có lúc thì đầm đìa nước mắt. Nó bảo:
  • Mầy biết không Huỳnh Liên? Trước ngày tao du học. Tao và anh Vịnh hẹn là sẽ đợi chờ nhau. Khi tao đi học 4 năm trở về sẽ làm đám cưới. Như mầy biết, tao đi chưa được 3 năm, thì miền Nam bị mất, và bọn tao cũng mất liên lạc từ đó. Cho mãi cách đây 6 năm, ảnh và tao tình cờ gặp lại. Thì ra ảnh đến Mỹ theo diện H.O từ 5, năm trước. Chúng tao ở cùng thành phố, chỉ cách nhau mấy con đường thôi. Vợ ảnh đã qua đời, để lại 3 đứa con. Đứa nhỏ nhứt cũng đã đi làm và lập gia đình năm rồi.
    Nói đến đây, nó nhìn tôi cười chúm chím, tiếp:
  • Mầy xem, cuộc đời như một giấc chiêm bao! Giờ thì bọn tao sống chung với nhau. Từ trước cho đến gặp lại ảnh tao vẫn chưa lập gia đình. Cũng có nhiều cơ hội để tao lấy chồng chớ. Nhưng không biết sao tao không muốn. Có lẽ số tao mắc nợ ông Vịnh nầy! Bọn tao đã hưu trí rồi, nên hay đi viếng chỗ nầy chỗ kia trên nước Mỹ. Có khi đi qua các nước khác, nhưng chưa về Việt Nam lần nào& Vì ba má tao đã qua đời, chị và anh tao cũng chết mấy năm trước. Hai đứa em tao bảo lãnh qua, cũng ở gần đây& Bây giờ thì bọn tao là đôi bạn già sớm tối có nhau, vui vẻ lắm& Còn mầy với anh Hải thì sao, Huỳnh Liên?
    Tôi cười, lý lắc nhìn nó:
  • Bọn tao chẳng sao hết! Vì có ai biết được, ngày sau sẽ ra sao?

Sacramento, mùa hè năm 2006
Tệ xá Diễm Diễm Khánh An,

DƯ THỊ DIỄM BUỒN
(California, USA)

Share this post