Cây Cao Bóng Cả – Bạch Phụng

Cây Cao Bóng Cả – Bạch Phụng

Cơn gió thổi mạnh sau vườn, đem theo làn mưa trĩu hạt xối xả trên mái nhà, rơi bồm bộp vào tàu lá chuối vá đám trầu xanh của ngoại, mưa cho lá thêm tươi thêm mướt để kịp tới ngày ngoại tôi cắt quày chuối chín bói cùng những lá trầu xanh cay nồng tinh nghĩa phu thê, mang ra chợ bán.

Mưa rơi gió thổi xạc xào hòa điệu nhạc lòng như xoáy vào tâm tư của người thiếu phụ cô đơn chật vật trăm chiều với bầy con dại kể từ khi mất cái bóng cả cây đại thụ của chồng.

Ngân nga não ruột … Ơ…ơ…ớ ầu ơ…

Tiếng ru hời hay tiếng khóc nỉ non theo ngọn gió sau hè, như muốn gởi gắm nổi lòng người thiếu phụ tới phương nao mà má tôi không làm sao biết chồng mình ”được đi cải tạo” là bị tù đày nơi đâu??? Lấm lét, má tôi cất giọng ru con mượn theo câu ai oán: ”Gió đưa bụi chuối sau hè!”

Ớ ơ ơ …ầu ơ…

Gió đưa bụi chuối nhà sau

Anh đi em ở chịu sầu đắng cay…

Nổi lòng má cứ quặn thắt, ầu ơ theo tiếng võng khi thằng út khóc đòi bú, sức lực của má tôi cạn kiệt, tinh thần suy sụp dắt díu đàn con nhoi nhóc rời khỏi căn nhà yên ả hằng bao lâu… giờ thì cơm thay bằng cháo bồi với muối hột nướng thì có đâu ra dòng sữa ngọt.

Vào buổi sáng ngày ấy!

Tiếng cửa đóng sập lại sau lưng má, tên công an đẩy thằng em ra ngoài sân, cắt từng đoạn ruột của má “ĐI ĐÂU? ” má tự hỏi? nhìn lên bầu thênh thang từng đám mây trôi, trôi đi tận đâu đâu… Rời đất Sàì thì mình đi đâu?

Thôi thì! Trở về quê xưa nơi để mong sự chở che còn lại của ngoại, nếu không thì phải đi KINH TẾ MỚI.

Đâu đó chung quanh có những câu chúc bình an gởi cho má và lũ con.

“Thôi chị với tụi nhỏ đi mạnh giỏi nha”.

Trở về quê xưa, bà ngoại thì ở cùng cậu mợ và một đàn cháu nội thì còn chỗ nào để dung chứa thêm, mợ tôi vốn ít oi nhưng cũng buông lời bóng gió xa gần. Má tôi đã thêm lần nữa rời căn nhà của ngoại khi cậu tôi nói vào mặt má tôi:

” Cô Tư mày là gái có chồng thì phải về quê chồng mà sống!”

Chúng tôi lại lang thang… Bà ngoại gạt lệ, bất lực! Bước thấp bước cao…má tôi đau đớn

nghĩ tới thân phận mình. Má thở ra nấc nghẹn “Mình ơi, mình ở đâu? Mình có biết!” Chỉ một thoáng chớp mắt mà đất trời đảo ngược rốí ren, ba tôi vác bị vải từ giã má với cái bụng lặt lè sắp đến ngày ở cử và lũ con thơ, rằng “Ba chỉ đi trình diện rồi đôi ba ngày sẽ về mà“. Sau đó ra sao ba nào có biết!

CÂY CAO BÓNG CẢ, mình ơi!… Chồng là cây cao bóng cả, nghe sao êm ái, nhưng nó đã làm cho thân phận đàn bà luôn phải lệ thuộc vào theo cái khuôn thước nào là có chồng phải theo chồng, sống tứ đức tam tòng NÓ ảnh hưởng vào cuộc sống từ ngàn năm bị trị của giặc Tàu đem đến triết lý “Khổng tử”… má tôi cũng không thoát nổi cái vòng kim cô giáo điều: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu.

Suốt thời gian dài từ môt thiếu nữ thơ ngây đức hạnh bên bờ sông êm ả của Thanh Điền Tây Ninh cho tới là thiếu phụ chốn thành đô, má vẫn dịu dàng chịu đựng bao sự bất công dành cho đàn bà làm dâu làm vợ mà chưa một lần dám cãi cọ làm phật lòng chồng và nội, má nhẫn nại trong cái kiếp làm dâu chịu tai tiếng đủ điều. Bây giờ trơ trọi đơn côi còn nương tựa vào đâu, đi đâu nữa đây khi ngần bao năm môt cũng chồng, hai cũng chồng! mọi sự thay đổi thê lương sau vận nước để má phải là bóng cả bảo bọc chở che con dại. Má phải quyết định ngay thôi!

Ở lại và ra đi! trong đời làm vợ làm mẹ, má đã 2 lần quyết định vì sự sống còn của lũ con.

” Ở lại ”

Câu chuyện trước toà Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn vào trước ngày 30 tháng Tư, trong dòng người chen lấn xô đẩy đạp vào nhau cố lọt vào trong đó để leo lên trực thăng với hy vọng tháo thân tránh nạn Cộng Sản.

Saìgòn oằn oại! Lệnh giới nghiêm khắp nơi, ba tôi phải trực nơi làm việc mấy ngày rồi không về nhà, súng nổ chát tai nghe càng gần bên tai, má được tin ba nhắn về là gia đình phải lập tức rời Việt Nam qua Toà Đại Sứ Mỹ. Má tôi ệch ạch na cái bụng bầu to tướng chùm nhúm lũ con bỏ của chạy lấy người… và chờ đợi để được đưa vào cổng, khi ráng chiều le lói thì không ai còn có thể kiên nhẫn mà chờ! có những thanh niên đu lên cánh cổng sắt. Tiếng người lính Mỹ ra lệnh, họ đẩy đám thanh niên xuống thì lại lớp khác tràn lên. Nắng đã tắt, sự sống như tắt theo ánh nắng – Không! ai cũng muốn chạy thoát đi cho dù không biết về đâu, còn hơn ở lại mà chết với cộng sản! Người càng lúc càng đông vì có những người tình cờ chung quanh thấy vậy cũng hoảng sợ mà nhập vào nên càng hỗn loạn, anh chị em chúng tôi lã người vặn vẹo khóc la sợ hãi, trời tối dưới ánh đèn vàng vọt của Đại Lộ Thống Nhất, tôi thấy giọt nướt mắt của má đã khô, và chúng tôi nghe rõ từng lời của má:

” Thôi không đi được nữa”. Má quàng vòng tay ôm chặt chúng tôi nói thêm “Nếu đi thì phải đi hết, nếu chết thì cả nhà cùng chết!”. Má nói cho chính má vì làm sao má có thể rời đất nước khi chồng không cùng đi.

Cái ngày giải phóng! Ai chờ? Ai đợi? Chỉ thấy người ta bỏ nhà bỏ của chạy bán mạng, thây người nằm chết dài trên con đường trốn chạy, có những người thiếu phụ tuổi đôi mươi chạy chưa tới sà lan tàu hạm đội đã quăng bổng đứa con bé bỏng lên boong tàu mà nơi đó sẽ có những đôi tay hứng lấy, ôi! Tử biệt sinh ly, mẹ đứt ruột đẻ đau rồi lại đứt ruột lìa con với mong muốn con phải sống! Sống cho ra kiếp người.Tiếng khóc tu – oa vút lên trời cao xé nát tâm can của người mẹ trẻ.

Má và lũ con tôi lại chạy, chạy lanh quanh như kiến bò miệng chảo rổi rơi tòm vào lòng chảo để sau đó không có cái nhà để ở, khi ba đi tù thì chúng tôi bị “động viên” đi khỏi nhà, má đã căng tấm bạt phủ lên làm nóc nhà cho chúng tôi ở tạm qua ngày trong khi chờ thủ tục hồi hương!

Về quê, đất Long Hoa quê ngoại, má long đong cháo rau qua ngày với lũ con nheo nhóc và thằng út mới chào đời không có cái chỗ nằm ấm áp ngoài cái võng cói tòn ten vì ngay sau ngày ba “được đi cải tạo” thì liền mọi thứ đã bán sạch đi theo từng đợt rao:

“tủ giường bàn ghế… bán khôôông….????”

Rồi thì ”Quần áo cũ bán không?”

Sau cùng cái “mền 2 da” của má cất trong tủ và bộ muỗng bạc cùng mấy cái chén sứ tráng men nước ngọc chỉ để chưng cho đẹp, chứ chúng tôi chưa ai được đụng vào, cũng đi luôn theo tiếng rao ”Ly tách chén dĩa bán không?”

Má bán hết cho đến món trang sức cuối cùng của má cũng cầm cố để đổi gạo và vài giạ muối sau ngày biến cố.

Ôi… Vật chất bán hết để đổi lấy miếng ăn khốn khổ!

Nhưng! Nỗi niềm của má thì làm sao bán được? Nào ai mua tâm sự, cũng không ai mà thèm nghe vì lúc đó ai cũng như bị đẩy xuống tận cùng xã hôi bởi cái mác: Ngụỵ! và làm sao gởi theo ngọn gió sau hè để đưa lời ru của má tới trại tù nào??? Mà tâm sự của má cũng chung số phận của người vợ, người mẹ trong trại tù rộng trải dài khắp cả đất nước tang thương.

Lối xóm sau ngày má rời Sài Gòn, cũng có nhà cạnh bên bị đuổi ra vì chồng là tài xế riêng của một ông “tướng ngụy”, nhưng thiếm Năm Cúc cố “tử thủ” trong căn nhà với đàn con nhỏ.

Thiếm kể lại rằng, khi phái đoàn cán bộ phường chúng nó tới chiếm căn nhà, thiếm quyết tử! Mặt thiếm đỏ quạch mắt sâu như miệng hố, đầu tóc rối bù, tay phải cầm con dao phay kề vào cổ bốn đứa con đang há to miệng khóc gào sợ hãi, tay còn lại cầm búa có lưởi sắc sáng ngời, thiếm vung tay dứ vào bọn phường khóm, hét như phèng la bằng giọng Huế đặt sệt ”Tụi mi dào vô! Dào vô đi!! Tau cắt cổ con tau chết trước rồi tau đập đầu tụi mi, vì tau không còn gì hết, chồng đi mất tăm cải tạo phương mô? Chúng mi ác đức quá!”

Rồi thím kể thêm; thấy không đuổi được mẹ con thím, bọn phường khóm đợi tới đang đêm mọi người ngủ say, chúng xây xi măng bít lối đi nhà thím, sáng ra thím chưng hửng, rồi màn bi hài kịch lại rầm rập, tay vung búa, thím đập thím vung, thím trở đầu búa lật lưởi búa chém chặt liên hồi. Thím rền rĩ trong tuyệt cùng

“Trời ui, sao khổ như ri, trời sập xuống đi!”

Rồi sau ra sao? …vật đổi sao dời, bẵng đi một thời gian nữa thì tin thím bị bệnh nặng rồi chết đi mòn mõi, không đi trọn vẹn đường đời bên chồng còn nữa.

Chết là chấm dứt đau khổ rồi thím Năm ơi, chỉ còn có má tôi thì lại hoang mang chờ đợi thấy mặt chồng, trong thời gian đầu này hầu như không có tin tức gì sau biến cố 75, chỉ biết lê lết kiếm miếng ăn, nếu là vợ con ngụy, cái gì cũng bị cho là nguỵ: Mỹ ngụy, ngụy quân, ngụy quyền, muốn đi học thì không là con nguỵ, muốn kiếm việc mưu sinh thì phải có lý lịch con bần cố nông, thợ thuyền… Chúng tôi phải khai trong lý lịch:

Cha: Thợ vẽ.

Mẹ: Làm ruộng

Thành phần: Lao động nghèo (cái này quan trong cho học sinh lắm)

Chỉ có lao động phu xe thợ nề mới được ưu tiên cứu xét hết thảy và phải ráng phấn đấu để được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cộng Sản thì mới có cơ hội biết cái chữ và con số. Trong tờ khai sinh của tôi có ghi rõ cha: Hoạ sĩ, nhưng khôn hồn đốt đi thì mới không rắc rối! Vậy nếu cha tôi là bác sĩ thì tôi phải khai sao cho hợp lẽ “Thợ chích? Thợ thuốc?”, cũng may cho tôi nhờ cái chữ thợ vẽ nghề của cha mà sau khi tù về ba tôi mới không bị 3 năm quản chế.

Ra đi

Bồng trống rời căn nhà của ngoại nơi cứu cánh sau cùng của má. Má nói với chúng tôi tìm nhà mà ở. Nhà ư? “Má ơi sao con nghe má nói má được ngoại cho căn nhà làm của hồi môn. Ba thì nội cho căn nhà làm sính lễ mà, thôi má đòi nhà đó lại đi”.

Chị tôi thỏ thẻ, má nạt ngang “Hỗn lắm đừng có nói leo nghe không!”

Cái nhà không còn là mái ấm mà bây giờ chỉ cầu đủ là nơi che nắng che mưa mà thôi, vì vậy má tôi đi ra kiếm chỗ mà trú ngụ hy vọng chờ chồng về. trong thời gian này má tôi xoay trở đủ chiều để có miếng ăn, má nấu nồi cháo, mâm xôi, bán buổi sáng, trưa bán cóc ổi chiều bán chè, nhờ vậy mà chúng tôi lại có dịp ăn xôi cháo thay cơm, nhưng ba tôi thì sao! Má không còn đủ tinh thần sáng suốt mà tìm thăm, má không làm sao kiếm đủ hột cơm cho con thì tiền đâu dư ra mà làm lộ phí tìm chồng. Má cắn nát môi thì thầm với ba, mong cầu ba tôi nghe được mà tha lỗi cho má.

Lận đận trôi nổi như viên chè xôi nước má bán, khi hoàn toàn tuyệt vọng, khổ đau má chạy lên Chùa Bà trên Núi Bà Đen cầu nguyện, má cầu nguyện được qua kiếp tai ương… Như chứng nhận linh thiêng theo lời đồn đãi thực hư mà chỉ biết má trở bệnh nặng liền sau cái đêm khẩn nguyện. Má chết, lũ con má bơ vơ, chúng tôi chạy về Sài Gòn thì ai dám chứa lũ con Ngụy, ngay cả anh em ruột rà của má của ba.

Má đã quyết định ở lại trong ngày 30/4 nếu chết thì mẹ con cùng chết!

Má quyết định đi ra khỏi mái nhà cuối cùng quê ngoại để tránh bao sự ngột ngạt bóng gió chấp nhận sống lang thang.

Nhưng má không đành lòng quyết định ra đi trong lúc lũ con còn đói cơm khát sữa, má không có cái quyền chọn lựa ra đi vào cõi vĩnh hằng.

Ra đi nha má ơi, chúng con vẫn còn thổn thức, má biết không thằng út của má đã lớn khôn rồi, nhưng làm sao chúng tôi quên cái câu nó hỏi trong ngày tiễn biệt má đến nơi nghìn thu “Xe chở má đi chôn mà Thịnh ngồi lên thì đừng có chôn Thịnh nha!”.

Buổi chiều đó nắng vương vãi trên bóng cây chưa tắt, vẫn còn sáng tỏ! tiết xuân còn đọng, gió vờn nhè nhẹ rung cây xào xạc, lá vẫn còn đầy, và hoa có còn tươi? Màu cỏ còn thắm?

Vạn vật lạnh lùng không đồng cảm nổi đau riêng của chúng tôi.

Kèn thổi lên não nùng, đàn rung lê thê trổi điệu ai oán xé lòng tiển biệt, cổ áo quan đã nằm trên xe loan xe phượng? xe chậm chạp lăn bánh.

Ngoại chết lịm gào to “Con ơi để má chết thay con đi! Con chết rồi bỏ lại tụi nhỏ cho ai đây?” Tôi thấy chị tôi giẫy giụa bên vệ đường run từng cơn, tôi mang máng nghe tiếng dì Sáu Uyển kể lể “Chị Tư ới là chị Tư ơi sao chị ra đi sớm quá vậy! Hới chị Tư hời..”.

Vin tay vào thành xe tang, xe kéo quan tài má đi về đất Thánh chúng tôi thì thầm “Má ơi con thương má nhiều lắm!”.

Má về lại quê xưa, má toại lòng nằm cạnh chân núi quê hương của má, má ơi!

Cây cao bóng cả của chúng con đã bứng gốc rồi!

Vĩnh biệt!

Bạch Phụng

Share this post