Châu Chấu Dế Mèn Thuở Ấy – Yasunari Kawabata

Châu Chấu Dế Mèn Thuở Ấy – Yasunari Kawabata

THE GRASSHOPPER AND THE BELL CRICKET

Nguyễn Đại Hoàng & Phùng Hoài Ngọc chuyển ngữ và bình chú

Câu chuyện mở đầu với hình ảnh một người đàn ông – ta không biết gì nhiều về ông – tản bộ vào lúc chiều tối theo thói quen vốn có. Ông bắt gặp một đám trẻ nhỏ đã chơi trò gì đó ở chân đê. Chúng làm những chiếc lồng đèn bằng giấy nhiều màu sắc rực rỡ, có thể hắt ra những mô hình ánh sáng. Một vài đứa trẻ cắt tên mình dán lên đèn, vì thế chiếc đèn có thể phóng chiếu những ký tự Nhật Bản vào màn đêm.

Ông lặng lẽ quan sát những em bé, khi chúng hào hứng đi bắt côn trùng dưới ánh sáng của những chiếc đèn lồng đèn. Ở Nhật Bản, người ta vẫn thường ra ngoài trời bắt những con côn trùng như dế, bọ ngựa, hay những loại côn trùng có thể phát ra những âm thanh du dương khác rồi đặt chúng vào trong những cái lồng nhỏ. Trong câu chuyện này, một cậu bé bắt được một con côn trùng mà cậu nghĩ là châu chấu – một phần thưởng tuyệt vời mà tất cả những đứa trẻ khác đều thèm thuồng. Khi cậu bé trao cho cho cô bé mà cậu thích nhất, cô bé nói với cậu con côn trùng ấy thực ra là một con dế mèn, một loài côn trùng thậm chí còn hiếm hơn, được săn tìm nhiều hơn.

Có một cảnh tượng thật đẹp đẽ sau cuộc trao đổi này, hai em bé đứng nhìn nhau và có vẻ như cả hai em đều không để ý, ánh sáng từ những chiếc đèn lồng của mình, đỏ và xanh, hắt ngang qua ngực. Cậu bé dán tên mình lên chiếc đèn lồng của mình và cô bé thì cũng làm việc tương tự với cái tên và chiếc đèn của cô – tất nhiên, bạn phải hình dung được sự cô đúc tuyệt vời của một ký tự Nhật Bản, những con chữ ấy hắt sáng trong đêm – trong khoảnh khắc, tên của cậu bé rọi sáng trên ngực áo cô bé còn tên của cô lại hắt đỏ lên phần thắt lưng của cậu. Cả hai đều không biết điều này và đấy là điều gây xúc động – cứ như thể giữa cô bé và cậu bé đã hình thành một sự kết nối mà họ sẽ bao giờ không hiểu rõ, cho đến khi đã quá muộn.

Ở đoạn kết tuyệt vời, bất ngờ của câu chuyện này, người kể chuyện như muốn nói với cậu bé, ông biết tên cậu ta khi nhìn thấy cái tên ấy phóng chiếu lên người cô bé:

Fujio ơi! Ngay cả khi em là một chàng trai trẻ, thì em hãy cứ cười nhẹ nhàng thoải mái trước sự hân hoan vui sướng của cô bạn gái khi em nói đây là con châu chấu, nhưng lại đưa nàng con dế mèn. Và em cũng hãy cứ cười trong niềm xúc cảm sâu xa trước nỗi thất vọng ngỡ ngàng của nàng khi em bảo đây là con dế mèn, nhưng lại đưa nàng con châu chấu.

Thậm chí nếu em đủ thông minh để tách ra khỏi đám bạn, tự mình nhìn thấy được những gì bên trong một lùm cây, thì thế giới này cũng không vì thế mà có nhiều dế mèn hơn đâu em ạ. Em sẽ tìm thấy một cô gái trong đời, nhưng biết đâu điều đó cũng có thể giống như trường hợp con châu chấu, nhưng em lại nghĩ đó là con dế mèn, em ạ.

Và cuối cùng, nếu tâm hồn em tổn thương u uẩn thì một con dế mèn đích thực và một con châu chấu nào có khác gì nhau! Cũng có thể một ngày nào đó, đối với em, thế giới này dường như chỉ toàn loài châu chấu, và tôi nghĩ thật đáng tiếc biết bao nhiêu nếu em không sao nhớ được trò đùa của ánh sáng đêm nay, khi tên em, nhờ chiếc lồng đèn đẹp đẽ, như được viết bằng màu xanh lên ngực người bạn gái.

Kawabata vốn bị ám ảnh bởi sự phản chiếu của các hình ảnh. Trong truyện ngắn này,có thật nhiều hình ảnh phản chiếu, có thật nhiều cặp đôi theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng vốn rất đặc trưng cho phép song chiếu ở thể thơ haiku. Đó là các cặp ánh sáng-bóng tối, cô bé-cậu bé, người trưởng thành-trẻ thơ, hiện tại-tương lai, và ngay cả những con côn trùng bị bắt nhốt dường như cũng gợi ra một ý nghĩa kép nhất định.

Nhưng đây cũng là một trong những khoảnh khắc tuyệt vời nhất của câu chuyện. Một người kể chuyện dường như chỉ ra ngoài đi dạo, nhìn ngắm những đứa trẻ từ xa, người hầu như không hé lộ điều gì về chính mình, chỉ có thể có sự thấu thị như vậy vì ông ta đã trải nghiệm chính sự vỡ mộng khi mình trưởng thành. Những suy nghĩ thầm kín của ông có lẽ hé lộ về một quá khứ buồn đau của ông, về một trái tim từng chịu tổn thương, trở nên u uẩn và cả một nhận thức chín chắn rọi chiếu về tương lai của Fujio. Và ông nhìn thấy gì? Một giả thiết mà ta vừa thấy trước đó – một con côn trùng bị nhầm với một con côn trùng khác – trở thành một ẩn dụ giàu sức nặng về việc chúng ta thường lại không nhận ra được một sự tương hợp hiếm hoi, thật sự lãng mạn khi chúng ta nhìn thấy. Ông nhìn vào tương lai của Fujio, ông như thấy cậu bé không những sẽ không thấy được mối tơ duyên cho một tình yêu lớn mà còn sẽ trở nên thất vọng vì đã không nhận ra tình yêu lớn của đời mình khi cô bé ấy đang hiện hữu. Như thế, chỉ trong một đoạn văn ngắn, Kawabata đã đặt cận kề hiện tại và tương lai, người lớn và trẻ thơ, sự ngây thơ và sự mất mát. Tất cả chồng xếp lên nhau trong một khoảnh khắc đơn nhất – và trong một không gian nhỏ, những sự chồng xếp này tạo nên một cảm thức đẹp về con đường tất yếu mà tuổi thơ rồi sẽ đánh mất, sẽ phải trả giá cho sự trưởng thành.

Điều mà tôi cũng thích ở truyện ngắn này là cái kết bất ngờ – nhưng đấy không phải là cái kết theo kiểu O’Henry vốn đem đến sự ngạc nhiên bằng một khúc ngoặt nào đó. Thay vào đó, sự ngạc nhiên ở truyện ngắn này bắt nguồn từ sự tươi tắn của ngôn ngữ, sự chồng xếp tinh tế các lớp chủ đề. Đó là sự ngạc nhiên giàu cảm xúc và tính thơ, hơn bất cứ điều gì khác. “Châu chấu và dế mèn” là một truyện ngắn, độc lập; như có phép màu, nó tạo nên những cảm xúc phong phú, dồi dào. Tôi coi đó là một kiệt tác nhỏ. Với tôi, nó là một sự xác nhận: bạn có thể làm việc với hình thức ngắn như vậy mà vẫn có thể tạo ra nhiều tầng lớp, nhiều hàm nghĩa.

Theo Stuart Dybek

Walking along the tile-roofed wall of the university, I turned aside and approached the upper school. Behind the white board fence of the school playground, from a dusky clump of bushes under the black cherry trees, an insect’s voice could be heard.

Men theo bờ tường lợp ngói của trường đại học, tôi rẽ sangkhu trung học. Phía sau những thanh chắn bằng gỗ sơn trắng bao quanh sân trường, từ một lùm cây mờ tối dưới bóng anh đào đen thẫm tôi nghe nỉ non rả rích tiếng côn trùng.

Walking more slowly and listening to that voice, and furthermore reluctant to part with it, I turned right so as not to leave the playground behind. When I turned to the left, the fence gave way to another embankment planted with orange trees. At the corner, I exclaimed with surprise. My eyes gleaming at what they saw up ahead, I hurried forward with short steps.

Tôi đi chậm lại, lắng nghe, nhưng rồi cũng đành miễn cưỡng đoạn tuyệt với tiếng nỉ non rả rích đó, bởi cần rẽ phải để khỏi bước ra ngoài khuôn viên sân trường. Khi tôi rẽ trái thì hàng rào trước mắt tôi mở ra một lối đi hai bên trồng cam dẫn tới một con đê. Thế rồi ở một khúc quanh, tôi kêu lên kinh ngạc, hai mắt mở to nhìn quang cảnh diễn ra phía trước, và vội bước tới.

At the base of the embankment was a bobbing cluster of beautiful varicolored lanterns, such as one might see at a festival in a remote country village. Without going any farther, I knew that it was a group of children on an insect chase among the bushes of the embankment.

Ở chân đê nhấp nhô những chiếc lồng đèn sắc màu lộng lẫy, như vẫn thường thấy trong lễ hội ở làng quê xa xôi. Không cần tới gần, tôi cũng biết đó là lũ trẻ con đang săn tìm côn trùng giữa những lùm cây ven đê.

There were about twenty lanterns. Not only were there crimson, pink, indigo, green, purple, and yellow lanterns, but one lantern glowed with five colors at once.

Có khoảng hai mươi chiếc lồng đèn, chúng không chỉ mang một sắc đỏ thắm, hồng, chàm, xanh lá cây, đỏ tía hay vàng mà có một cái ngũ sắc.

There were even some little red store-bought lanterns. But most of the lanterns were beautiful square ones the children had made themselves with love and care. The bobbing lanterns, the coming together of children on this lonely slope – surely it was a scene from a fairy tale?

Cũng có cả vài chiếc lồng đèn nhỏ màu đỏ loại mua ở cửa hàng. Nhưng phần lớn những chiếc lồng đèn chỉn chu đẹp đẽ đều do bọn trẻ tự làm lấy với tình yêu và sự cẩn trọng cao độ. Những chiếc đèn bồng bềnh nhấp nhô trôi cùng bọn trẻ con trên triền đê hoang vắng cô liêu, phải chăng đây là cảnh sắc trong một câu chuyện thần tiên?

One of the neighborhood children had heard an insect sing on this slope one night. Buying a red lantern, he had come back the next night to find the insect.

Một đứa bé nhà gần đấy, vào một đêm đã nghe thấy tiếng côn trùng nỉ non rả rích trên triền đê này, bèn đi mua một chiếc lồng đèn màu đỏ, và đêm sau quay lại tìm người hát xẩm côn trùng đó.

The night after that, there was another child. This new child could not buy a lantern. Cutting out the back and front of a small carton and papering it, he placed a candle on the bottom and fastened a string to the top.

Đêm sau lại có thêm một cậu khác. Nhưng cậu này không mua lồng đèn. Cậu cắt hai mặt trước sau của một chiếc hộp bằng bìa cứng, bồi giấy, rồi thắp nến ở đáy hộp, phía trên làm sợi dây xách, thế là xong.

The number of children grew to five, and then to seven. They learned how to color the paper that they stretched over the windows of the cutout cartons, and to draw pictures on it.

Rồi nhóm bọn trẻ tăng lên năm đứa, rồi bảy đứa. Chúng học cách tô màu lên giấy mà chúng căng ngang hai mặt cắt trên hộp bìa, rồi vẽ tranh lên đó.

Then these wise child-artists, cutting out round, three-cornered, and lozenge leaf shapes in the cartons, coloring each little window a different color, with circles and diamonds, red and green, made a single and whole decorative pattern.

Những họa sĩ nhí giỏi giang này còn khoét những hình tròn, hình tam giác, những chiếc lá hình thoi trên chiếc hộp giấy, và dán lên đó những miếng giấy nhỏ được tô màu khác nhau, những khối tròn, những viên kim cương, xanh xanh đỏ đỏ, làm nên một kiểu lồng đèn độc đáo hoàn chỉnh.

The child with the red lantern discarded it as a tasteless object that could be bought at a store. The child who had made his own lantern threw it away because the design was too simple. The pattern of light that one had had in hand the night before was unsatisfying the morning after.

Thế rồi cậu bé có chiếc lồng đèn đỏ đã vứt nó đi vì đó là thứ vô vị nhạt nhẽo, có thể mua được ở cửa hàng. Cậu bé làm ra chiếc lồng đèn bằng hộp bìa cứng cũng quẳng nó đi, vì thiết kế quá đơn giản. Mẫu lồng đèn mà các cậu cầm trong tay đêm trước đã không còn làm các cậu ưng bụng vào sáng hôm sau.

Each day, with cardboard, paper, brush, scissors, penknife, and flue, the children made new lanterns out of their hearts and minds. Look at my lantern! Be the most unusually beautiful! And each night, they had gone out on their insect hunts. These were the twenty children and their beautiful lanterns that I now saw before me.

Mỗi ngày, với bìa cứng, giấy, bút lông, kéo, dao nhíp và hồ dán, những đưa trẻ làm ra những chiếc lồng đèn mới từ trái tim và tâm hồn chúng. Hãy nhìn đèn của tớ đi! Đẹp lạ thường luôn! Và đêm đêm chúng lại đi bắt côn trùng. Hai mươi đứa trẻ cùng hai mươi chiếc đèn lộng lẫy mà tôi chưa từng biết hiển hiện trước mắt tôi.

Wide-eyed, I loitered near them. Not only did the square lanterns have old-fashioned patterns and flower shapes, but the names of the children who had made them were cut out in square letters of the syllabary.

Mắt mở to, tôi quanh quẩn vẩn vơ bên chúng. Những chiếc đèn vuông vắn chỉn chu kia không chỉ trang trí bằng những họa tiết cổ điển với những hình bông hoa, mà còn có tên của người chế tạo, những chữ in mà bọn trẻ cắt ra từ sách học vần.

Different from the painted-over red lanterns, others (made of thick cutout cardboard) had their designs drawn upon the paper windows, so that the candle’s light seemed to emanate from the form and color of the design itself.

Khác với loại lồng đèn sơn đỏ, những chiếc tự tạo từ bìa cứng có những họa tiết dán trên những chỗ khuyết đã khiến ánh nến dường như phát ra từ chính những họa tiết với hình dáng và màu sắc riêng.

The lanterns brought out the shadows of the bushes like dark light. The children crouched eagerly on the slope wherever they heard an insect’s voice.

Những chiếc lồng đèn hắt ra những quầng sáng lờ mờ bóng của những lùm cây. Những đứa trẻ cúi mình xuống triền đê bất cứ chỗ nào chúng nghe thấy tiếng côn trùng rả rích.

“Does anyone want a grasshopper?” A boy, who had been peering into a bush about thirty feet away from the other children, suddenly straightened up and shouted.

– Có ai thích châu chấu không? – Một cậu bé đang chúi mình vào bụi cây cách những đứa khác khoảng chín mười mét, chợt bật dậy kêu lên.

“Yes! Give it to me!” Six or seven children came running up. Crowding behind the boy who had found the grasshopper, they peered into the bush. Brushing away their outstretched hands and spreading out his arms, the boy stood as if guarding the bush where the insect was. Waving the lantern in his right hand, he called again to the other children.

– Có, cho tớ đi! Sáu bảy đứa chạy tới. Chúng đứng túm tụm sau lưng cậu bé tìm được con châu chấu, nhìn chăm chăm vào bụi cây. Gạt nhẹ những bàn tay xòe ra của lũ bạn, cậu bé đứng dang hai tay ra như để bảo vệ lùm cây có con côn trùng. Rồi huơ huơ chiếc lồng đèn trên tay phải, cậu lại gọi những đứa khác tới.

“Does anyone want a grasshopper? A grasshopper!”

“I do! I do!” Four or five more children came running up. It seemed you could not catch a more precious insect than a grasshopper. The boy called out a third time.

– Có ai thích châu chấu không? Châu chấu đây!

– Tớ, tớ nè !… – Bốn năm đứa nữa chạy bổ tới. Cứ làm như từ trước tới giờ chẵng bắt được con gì quý hơn con châu chấu cả. Cậu bé lại gọi lần thứ ba.

“Doesn’t anyone want a grasshopper?”

Two or three more children came over.

“Yes. I want it.”

It was a girl, who just now had come up behind the boy who’d discovered the insect. Lightly turning his body, the boy gracefully bent forward. Shifting the lantern to his left hand, he reached his right hand into the bush.

“It’s a grasshopper.”

“Yes. I’d like to have it.”

– Có ai thích châu chấu không?

Thêm hai ba đứa chạy tới.

– Có, em thích nó!

Đó là một cô bé gái, cô vừa chạy đến đứng sau lưng cậu bé phát hiện được con châu chấu. Xoay mình nhẹ nhàng và cúi xuống một cách duyên dáng, cậu bé chuyển chiếc lồng đèn qua tay trái, và đưa tay kia vào bụi rậm.

– Nó là con châu chấu thôi em ạ.

– Ôi, em rất thích anh ạ!

The boy quickly stood up. As if to say “Here!” he thrust out his fist that held the insect at the girl. She, slipping her left wrist under the string of her lantern, enclosed the boy’s fist with both hands. The boy quietly opened his fist. The insect was transferred to between the girl’s thumb and index finger.

Bỗng cậu bé đứng vụt dậy, chìa nắm tay có con châu chấu cho cô bé, thay cho tiếng “ Đây!”. Cô bé khẽ tuột sợi dây treo đèn ở cổ tay trái xuống, dùng hai bàn tay bụm lấy nắm tay cậu bé. Thế rồi cậu bé từ từ mở nắm tay ra, vậy là con côn trùng chuyển qua nằm gọn giữa ngón tay cái và tay trỏ của cô bé.

“Oh! It’s not a grasshopper. It’s a bell cricket.” The girl’s eyes shone as she looked at the small brown insect.

“It’s a bell cricket! It’s a bell cricket!” The children echoed in an envious chorus.

“It’s a bell cricket. It’s a bell cricket.”

– Ôi! Không phải châu chấu. Dế mèn mà! – Ánh mắt cô bé sáng lên khi nhìn thấy con côn trùng nhỏ màu nâu(*)
– Dế mèn ! Đúng là dế mèn rồi! Những đứa trẻ bé hò reo inh ỏi.
– Nó là dế mèn. Dế mèn mà!

Glancing with her bright intelligent eyes at the boy who had given her the cricket, the girl opened the little insect cage hanging at her side and released the cricket in it.

“It’s a bell cricket.”

Liếc đôi mắt sáng thông minh nhìn cậu bé vừa tặng mình con dế, cô bé lấy hộp đựng côn trùng đeo bên hông, mở nắp ra và thả con dế vào đó.

– Đúng là con dế mèn !

“Oh, it’s a bell cricket,” the boy who’d captured it muttered. Holding up the insect cage close to his eyes, he looked inside it. By the light of his beautiful many-colored lantern, also held up at eye level, he glanced at the girl’s face.

– Ừ, đúng là con dế mèn thật! – Cậu bé bắt được con dế lẩm bẩm. Cậu cầm lấy chiếc hộp đựng côn trùng kia đưa lên ghé sát mắt mình và nhìn vào trong. Cậu cũng đưa chiếc đèn lộng lẫy nhiều màu sắc của mình lên ngang tầm mắt, và nhờ ánh sáng của nó, cậu liếc thấy khuôn mặt cô bạn gái!

Oh, I thought. I felt slightly jealous of the boy, and sheepish. How silly of me not to have understood his actions until now! Then I caught my breath in surprise. Look! It was something on the girl’s breast which neither the boy who had given her the cricket, nor she who had accepted it, nor the children who were looking at them noticed.

Ôi, tôi nghĩ. Tôi thoáng ghen tị với cậu bé, và bối rối. Tôi mới thật ngốc làm sao vì cho đến tận giờ mới hiểu ra những điều mà cậu làm nảy giờ! Và rồi tôi nín thở kinh ngạc. Nhìn kìa! Có một thứ gì đó trên ngực cô bé mà cả kẻ cho người nhận, và cả đám bạn vây quanh, không ai chú ý cả.

In the faint greenish light that fell on the girl’s breast, wasn’t the name “Fujio” clearly discernible? The boy’s lantern, which he held up alongside the girl’s insect cage, inscribed his name, cut out in the green papered aperture, onto her white cotton kimono.

Trong làn ánh sáng xanh nhạt hắt lên trên ngực cô bé, không phải hiển hiện cái tên “ Fujio” thì là gì? Trên chiếc lồng đèn của cậu bé, đưa ngang cái hộp đựng dế của cô bé, dòng chữ tên cậu, cắt bằng giấy bóng mờ xanh, hắt lên chiếc áo kimono trắng của cô.

The girl’s lantern, which dangled loosely from her wrist, did not project its pattern so clearly, but still one could make out, in a trembling patch of red on the boy’s waist, the name “Kiyoko.” This chance interplay of red and green – if it was chance or play – neither Fujio nor Kiyoko knew about.

Còn cái đèn của cô bé đang đung đưa dưới cổ tay có họa tiết không rõ ràng, nhưng ta vẫn thấy trên miếng vải rung rung màu đỏ nơi thắt lưng cậu bé, là dòng chữ đỏ tên cô “Kiyoko”. Sự giao hòa ngẫu nhiên xanh đỏ này là tình cờ hay là một trò chơi- Fujio và Kiyoko đều không biết.

Even if they remembered forever that Fujio had given her the cricket and that Kiyoko had accepted it, not even in dreams would Fujio ever know that his name had been written in green on Kiyoko’s breast or that Kiyoko’s name had been inscribed in red on his waist, nor would Kiyoko ever know that Fujio’s name had been inscribed in green on her breast or that her own name had been written in red on Fujio’s waist.

Thậm chí nếu hai đứa chẳng bao giờ quên rằng Fujio đã tặng con dế và Kiyoko đã nhận, thì ngay cả trong những giấc mơ Fujio cũng không bao giờ biết được tên cậu được viết bằng ánh sáng xanh lên ngực Kiyoko và tên của Kiyoko được khắc bằng ánh sáng đỏ lên thắt hông cậu, và Kiyoko, cô cũng không bao giờ biết được tên Fujio được viết lên ngực mình, và tên cô được in trên thắt lưng của Fujio.

Fujio! Even when you have become a young man, laugh with pleasure at a girl’s delight when, told that it’s a grasshopper, she is given a bell cricket; laugh with affection at a girl’s chagrin when, told that it’s a bell cricket, she is given a grasshopper.

Fujio ơi! Ngay cả khi em là một chàng trai trẻ, thì em hãy cứ cười nhẹ nhàng thoải mái trước sự hân hoan vui sướng của cô bạn gái khi em nói đây là con châu chấu, nhưng lại đưa nàng con dế mèn. Và em cũng hãy cứ cười trong niềm xúc cảm sâu xa trước nỗi thất vọng ngỡ ngàng của nàng khi em bảo đây là con dế mèn, nhưng lại đưa nàng con châu chấu.

Even if you have the wit to look by yourself in a bush away from the other children, there are not many bell crickets in the world. Probably you will find a girl like a grasshopper whom you think is a bell cricket.

Thậm chí nếu em đủ thông minh để tách ra khỏi đám bạn, tự mình nhìn thấy được những gì bên trong một lùm cây, thì thế giới này cũng không vì thế mà có nhiều dế mèn hơn đâu em ạ. Em sẽ tìm thấy một cô gái trong đời, nhưng biết đâu điều đó cũng có thể giống như trường hợp con châu chấu, nhưng em lại nghĩ đó là con dế mèn, em ạ.

And finally, to your clouded, wounded heart, even a true bell cricket will seem like a grasshopper. Should that day come, when it seems to you that the world is only full of grasshoppers, I will think it a pity that you have no way to remember tonight’s play of light, when your name was written in green by your beautiful lantern on a girl’s breast.

Và cuối cùng, nếu tâm hồn em tổn thương u uẩn thì một con dế mèn đích thực và một con châu chấu nào có khác gì nhau! Cũng có thể một ngày nào đó, đối với em, thế giới này dường như chỉ toàn loài châu chấu, và tôi nghĩ thật đáng tiếc biết bao nhiêu nếu em không sao nhớ được trò đùa của ánh sáng đêm nay, khi tên em, nhờ chiếc lồng đèn đẹp đẽ, như được viết bằng màu xanh lên ngực người bạn gái.

( *) Dế Mèn trong Nam là loại dế gáy được và đá được trong trò chơi đá dế, con có màu nâu đỏ gọi là Dế Lửa, con có màu đen thẫm gọi là Dế Than.

Xuất xứ: Đỉnh Sóng

Share this post