Chiến Tranh Và Tình Yêu – Văn Nguyên Dưỡng (2)

Chiến Tranh Và Tình Yêu – Văn Nguyên Dưỡng (2)

Tầng dưới nhà, phía trước là phòng khách đặt bộ sa-lon cổ, bàn khá lớn và hai ghế có tay vịnh cẩn ốc xa cừ, một ghế trường kỷ dài ngó ra cửa. Vách bên trái là một tủ cổ thấp dài, bên trên bày mấy chiếc lọ bình và bộ dĩa, chén Tống. Kế bên là một chiếc bàn bán nguyệt, để bộ bình trà và một bình thủy tinh tròn đựng nước uống có rô bi nê nhỏ, và mấy cái ly úp trên một chiếc khay. Vách bên phải là một sạp gụ láng bóng. Giữa nhà một bàn thờ kiểu cổ cũng cẩn ốc xà cừ, phía trên cây thánh giá lớn bằng đồng, gắn vào vách tường. Trên bàn thờ có bộ lư đồng. Sát trong vách là ba khung ảnh lớn của Hai Bác và Anh Hai.

Hai bên bàn thờ hai là hai khung cửa nhỏ. Cửa bên phải đi vào buồng ngủ chính, khép kín. Cửa bên trái luôn luôn mở ra nhà sau. Nhà sau có sàn nước tráng xi măng. Bước lên thềm, đến bàn ăn sáu ghế ở giữa nhà sau. Một chiếc sạp một người nằm gần khung bếp sát vách bên phải, rồi đến cửa hậu mở ra khu vườn nhỏ. Ngang bếp là buồng tắm và nhà vệ sinh.

Sát căn phòng ngủ chính, phía vách sau, là cầu thang xi măng có tay vịn bằng thanh sắt, có nhiều bậc lên lầu. Phòng ngủ chính có cửa mở gần chân cầu thang, ra nhà sau. Ở sàn nước, có một rô bi nê nước máy cạnh hai bồn nước xây bằng xi măng. Bồn nhỏ đựng nước máy, bồn lớn có nắp, chứa nước mưa.

Lầu trên, từ cầu thang đi lên, rẻ sang tay mặt là một hành lang nhỏ chừng gần hai thước qua hai căn phòng ngủ.

Phòng nhỏ, mở cửa ra hành lang và cửa sổ ngó ra phía sau, nhìn thấy nhà sau của tầng lầu. Nhìn xuống cũng thấy được sàn nước phía dưới và gần trọn cả gian nhà sau của tầng trệt. Trong phòng đặt được một bàn viết có ngăn kéo, hai chiếc ghế, một giường ngủ đơn và một tủ quần áo. Tất cả đồ đạt trong phòng đều bằng loại gỗ cẩm phèo, rất quiy1, đóng kiểu mới.

Căn phòng thứ hai, lớn hơn cũng mở cửa ra hành lang, cũng có một cửa sổ song sắt hai cánh cửa gỗ, ngó ra sân thượng. Trong phòng, một bàn viết khá lớn đặt sát cửa sổ, hai chiếc ghế, một giường đôi, một bàn son phấn có gương soi kê sát đầu giường, một tủ quần áo, cùng mẫu mã mới như bàn ghế ở phòng nhỏ.

Khung cửa sắt của hành lang dẫn ra sân thượng cũng bằng cửa sắt kéo mở, như cửa trước của tầng trệt, nhưng nhỏ hơn, móc khóa bên trong.

Sân thượng có ba chiếc băng dài có tay và lưng dựa. Hai chiếc đối diện nhau kê sát hai bên hông, một chiếc khác dưới khung cửa sổ của căn phòng lớn. Đây thường là nơi hội họp của gia đình, nhất là những đêm trăng sáng. Cũng là nơi Anh Hai tập thể dục buổi tối với giàn barre fixe ở gốc phải sân ngoài. Mặt tiền của sân thượng và hai bên hông là tường bê tông cốt sắt, cao ngang thắt lưng, bên trên là hàng rào song sắt mũi nhọn, cao quá đầu, bao quanh sân. Hai góc ngoài là hai cột xi măng tròn cốt sắt cao hơn. Bên trên mỗi trụ là một bóng đèn điện tròn bằng trái bưởi lớn, màu trắng đục, thắp sáng vào ban đêm. Đứng trên sân thượng có thể nhìn xuống đường cái trước nhà và khu vực chung quanh.

Nếu lên cầu thang mà rẻ sang trái là một hành lang chạy ra phòng đọc sách đẹp đẽ, tiện nghi. Bên trong vách trái có hai chậu sành trắng rửa mặt với vòi nước mở, khóa trên mặt tủ cẩm thạch và một tấm gương lớn gắn vào tường, trước khi bước vào nhà tắm và nhà tiêu tráng gạch men trắng tinh. Các vách tường khác trong phòng được lát thêm một lớp ván dầy, cao hơn hai thước, đánh verni màu vàng nhạt. Các giá sách bằng trụ gỗ và ván dầy gắn dính vào tường vững chắc. Giữa nhà bày chiếc bàn gỗ quý dài ba thưởc, ngang một thước, nhưng chỉ có bốn ghế. Đó là bàn học. Trên bàn lúc nào cũng có một bình hoa hồng tươi. Mặt trước, là khung cửa gỗ từ hành lang bước vào và các khung cửa kính trên một bức tường thấp dài, bên trong có màn thêu trắng. Dưới các khung cửa kính chỉ bày một chiếc bàn vuông dài nhỏ và hai ghế sa lông có tay dựa.

Trên các ngăn sách, xếp hàng trăm quyển sách của các nhà văn lớn thế giới Balzac, Beaudelaire, Flaubert, Hugo Maupassant, Montesquieu, Roland; Dostoievski, Gogol, Tchekhow, Tolstoi; Shakespeare, Thomas More, Charles Dicken, Charlotte Bronte, Émily Bronte, Graham Greene, Somerset Maugham; Carson Mc Cullers, Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway, William Faukner, Herman Merville, Henry Miller, Edgar Poe, John Steinbeck. Kể cả những quyển sách quý cao đến năm tấc, dày hơn một tấc như Les Mille et Une Nuits. Những tập thơ Anh, Pháp. Các loại sách khoa học, và triết học Đức, Hy Lạp và triết học phương Đông. Hàng trăm quyển sách classiques về văn học Pháp dạy ở các lớp Trung học. Truyện Tàu như Đông Châu Liệt Quốc, Thất Quốc Chí, Tây Hớn, Tam Quốc, Bắc Tống, Nam Tống, Nhạc Phi, Hốt Tất Liệt, truyện Thành Cát Tư Hãn chinh phục thế giới, truyện Thâm Cung Bí Sử Triều Đình Nhà Thanh. Sách của các học giả Việt Nam, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh kể cả các tập thơ Kiều, Cung Oán, Chinh phụ Ngâm, Kiều Nguyệt Nga, Phan Trần, Nhị Độ Mai. Một số truyện dài, truyên ngắn, của Lê Văn Trương và Nhóm Tự lực Văn Đoàn. Các tập thơ mới, thơ Đường. Chưa kể những bộ dictionaires Việt, Pháp, Anh, Hán dầy cộm. Đó là kho tàng tri thức của gia đình Bác Đốc Phủ. Là nơi ấm cúng nhất với những ánh đèn chùm trên tường và đèn chụp trên bàn, toả ánh sáng dịu dàng. Công thành lập phòng đọc sách và sưu tập sách là của Anh Hai.

Thủy nhớ hết mọi chi tiết từ trong nhà ra ngoài ngõ của ngôi biệt thự hai tầng, rộng hơn tám thước và dài hơn hai mươi thước, như một căn phố đôi, lót gạch bông, nóc bằng, nằm trong một khu vườn đầy cây lá trên con đường Frère Louis nầy. Vì đó là nơi mà Thủy mang thật nhiều kỷ niệm của mối tình đầu say đắm, bỗng chốc hoá thành ảo ảnh, phù du. Thủy và Anh Hai thầm kín yêu nhau. Đã từng có đôi lần Anh cầm tay Thủy ở gốc ổi, gốc xoài trong vườn. Cũng có lần Anh hôn vào trán và định hôn môi Thủy ngay trên chiếc băng cây trên sân thượng, dưới khung cửa sổ nầy và nói, “Thủy, anh yêu em”.

Và, Chúa ôi, chúng con đã phạm tội khi Adam ăn trái cấm. Khi con đã để cho Anh hôn nồng nàn trên môi con. Để cho Anh ôm con vào lòng và để cho Anh nhè nhẹ cởi tấm áo nguyên trinh. Cái tội sơ khôi này làm con nhớ suốt đời. Tấm băng trinh con đã thầm kín trao trọn cho Anh. Anh không cướp lấy nó. Anh trân trọng và nâng niu nó.

Nhưng chỉ ít lâu sau, Anh đưa hai bác đi biền biệt. Ngay đến ngày người ta đem xác Anh và hai bác từ dưới đèo lên chôn cất nơi nào đó trên Di Linh, con cũng không thể lên trên đó để đưa tiễn Anh về với Chúa. Từ đó, con chưa chồng mà thành người cô phụ, Chúa ôi!

Bây giờ con trở lại đây, kỷ niệm bao quanh con. Con muốn quên, mà làm sao được. Con nhớ lắm, con nhớ thương Anh. Con nhớ từng li, từng tí trong ngôi biệt thự lẻ loi nầy. Mỗi nơi đều có những kỷ niệm riêng với Anh… Chúa ơi!

– Ủa, Thủy sao mi còn ngồi làm chi ngoài đó, không vào ngủ đi, khuya rồi. Tiếng Thái Hân vọng ra tử khung cửa sổ, làm Thủy dứt cơn mê.

– Mi ngủ trước đi. Mình còn còn đọc kinh cầu nguyện một chút đã.

– Thì vào đây đọc kinh cầu nguyện cũng được vậy. Ở ngoài đó làm chi cho lạnh. Mi dại quá đi!

– Ờ, thì vào đây, cô nương.

Thủy đứng lên, đi vào, khoá trái cửa sắt. Ngoài phố, tiếng gõ mõ cốc cốc của chú Chệt bán mì gánh khuya vọng lại, buồn thiu.

Sáng.

Những đọt nắng từ biển Đông tràn vào thành phố hực hở, chim trong vườn đã thôi gọi đàn đi săn mồi là lúc Thái Hân và Lãng Thủy đưa Út Dân đi phố ăn sáng, dạo phố và mua thêm một vài thứ cần cho Út để chuẩn bị nhập trường.

Cậu học trò tỉnh lẻ lần đầu tiên ăn bánh pâ tê chaud và uống chocolat ở nhà hàng Givral thấy ngon lắm. Đường Sài Gòn rộng rãi. Xe cộ chạy ngược xuôi, chậm rải, trật tự. Phố xá tráng lệ. Nắng lên cao, hè phố bắt đầu đông người. Các quán ăn đông khách nhất.

Ăn xong đi dạo phố. Một cửa hàng bán dụng cụ thể thao ở đường Bonard làm Út mê tơi. Không đợi hai chị, Út bước vào trước. Những cây vợt tennis hiệu Kramer, Wilson, khung cây đánh verni vàng nhạt, đan dây gân vàng đậm hơn, cán quấn giây da màu cam, màu vàng, hay trắng, thật hấp dẫn. Những chiếc vợt ping-pong hiệu Barnar mặt vợt cao su gai màu tím và hiệu Spora nhỏ hơn, mặt vợt gai đủ màu: Xanh lá cây, xanh đọt chuối, vàng, đỏ trông còn hấp dẫn hơn vợt Barnar nhiều. Lại còn quần short, áo tennis trắng có cổ hiệu Palmier thật đẹp. Và không biết bao nhiêu dụng cụ thể thao khác nữa… Út Dân chỉ nhìn ngó, không dám rớ vào vật nào. Chị Hai nhìn em có vẻ thương thương, ngài ngại.

Cô Ba ngó Út, hỏi:

-Út, em thích thứ nào?

-Dạ, không… Em thấy đẹp chỉ nhìn thôi!

-Em có biết đánh tennis hay ping pong không?

-Dạ, em biết chút chút…

-Ý, nó đánh ping pong nhất, nhì, ở Cà Mau đó. Tennis nó cũng giỏi nữa. Chị Hai vô tình chen vào.

-Vậy hả, Út chọn đi. Vợt tennis, vợt ping pong, quần áo thể thao. Thứ nào cũng được. Chị Ba mua cho em.

-Thôi, thôi, nó có rồi. Để hôm nào rảnh, mình đem lên cho nó.

-Thôi đi, biết bao giờ mi mới rảnh. Út, chọn một cặp vợt ping pong đi em. Hôm nào Chị đưa em đi đánh cho chị coi thử.

Út tần ngần…

-Chọn đi, coi bộ vợt Spora đẹp hơn, gọn hơn, phải không? Mua một cặp nghe. Thêm một hộp banh nữa. Rồi mai mốt em dạy chị đánh ping pong với.

-Dạ…
**

Trước khi Út Dân lên Sài Gòn ở, đi học, theo sự trau đổi thư từ với Thủy, Thái Hân đã bàn tính với Dì Năm rồi, nên dành căn phòng nhỏ trên lầu, cho Út. Phòng nầy trước đây là phòng của Anh Hai, Trọng Húy. Từ ngày Anh mất, căn phòng nầy bỏ trống.

Thái Hân vẫn ở căn phòng lớn kế bên, có cửa sổ ngó ra sân thượng. Trước đây, Hân ở chung với em gái út, Thúy Hằng, nhỏ hơn Hân bốn năm tuổi. Mới hai năm trước đây, Hằng có chồng theo chồng ra Nha Trang, Hân vẫn ở trong căn phòng nầy.

Trước năm 1945, hồi Thủy ở trọ đi học, rồi ra trường dạy chung với Hân. Hai chị em ở trong phòng nầy. Anh Hai còn sống. Út Hằng còn nhỏ ở phòng ngủ chính dưới nhà với má.

Lúc đó, Ông Đốc phủ, ba Thái Hân làm phó tỉnh trưởng ở một tỉnh miền Tây, ít về nhà. Nếu có về thì ngủ ở sạp gụ nhà trước. Dì Năm, một người bà con với má, côi cút, được má đem về nuôi mấy chục năm trước, vẫn quen ở nhà sau từ đó đến giờ, không thay đổi. Ông bà Đốc phủ mất rồi, căn phòng ngủ chính dưới nhà bỏ trống. Đôi khi vợ chồng Út Hằng và con trai nhỏ về Sài Gòn ở phòng nầy.

Khi sắp chiến tranh Thủy về Cà Mau, Hằng chưa có chồng, có chị có em, còn đỡ sợ. Từ ngày Hằng có chồng, Hân trấn lầu trên, Dì Năm không dám lên ở phòng Anh Hai, nên vẫn trấn… dưới bếp, Hân ngủ một mình trên lầu, vẫn để đèn ngủ, sáng đêm. Nhà trên, nhà dưới, cửa nẻo đều đóng chặt, mà vẫn sợ. Sợ riết rồi cũng quen. Vẫn sống như vậy ngày nầy qua tháng nọ. Tâm lý con người lạ lùng lắm, Hân nghĩ. Bây giờ có Út Dân lên ở, có con trai trong nhà cũng đỡ sợ.

Nghe cảnh gia đình của Bác Truyền, ba của Thủy, mất mát quá lớn lao trong cuộc chiến muà Thu năm 1945, do Thủy kể lại sau khi đưa Út Dân lên, Thái Hân thấy thương cho Thủy và Út quá. Một người con gái đẹp đẽ nết na và học thức như Thủy mà phải chôn vùi tài sắc trong trách nhiệm lớn đối với gia đình, làm Hân cảm xúc sâu xa. Còn một cậu con trai út, đến mười bốn, mười lăm, mà mới chỉ học qua tiểu học. Trễ tràng biết mấy năm và còn biết bao năm nữa mới nên người đây? Nghĩ lại Hân cảm thấy mình và Út Hằng còn may mắn hơn Thủy và Út Dân nhiều.

Thái Hân chợt nhớ lại…

Thời gian Uỷ Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ ra lệnh tản cư. Trường Nhà Trắng đóng cửa. Hân bỏ dạy, cùng em Út Hằng và Dì Năm, khóa cửa nhà hai ba lớp óng khóa rồi mới tản cư về Thủ Giồng Một. Ở đó, có khu vườn cây trải của ba má Hân do cô Tư, em gái của ba, góa chồng, ở chăm sóc từ hơn hai mươi năm trước. Mấy năm qua, Cô hơi yếu. May nhờ có con gái đã lớn và giỏi giang, nên cũng có người chăm sóc.

Con gái Cô Tư, tên Nhàn, cỡ bằng tuối Út Hằng, rất đảm đang, đậu tiểu học rồi thôi học ở nhà coi sóc vườn tược. Một tay cô coi thợ trồng trọt, giọn vườn, hái trái và bán sĩ trái cây. Vài ba tháng sau khi tính tiền chi tiêu xong, tiền bán trái cây thu hoạch được, Nhàn đem xuống Sài Gòn giao cho Hân. Hân chỉ giữ một phần ba, bỏ vào ngân hàng như quỷ4 riêng để bảo trì vườn cây. Còn hai phần để cho Cô Tư và Nhàn. Vì vậy Cô Tư vẫn dư giả.

Tản cư về vườn, Nhàn lo lắng cho hai chị em Hân kỹ lưỡng như Dì Năm. Nhàn còn bạo dạn đi Sai-Gòn vừa thăm chừng nhà cửa cho Hân lại còn cho Hân biết nhiều thứ chuyện ở Sài Gòn lúc đó.

Mấy tuần sau ngày Cô Ba tản cư lên vườn, Nhàn đi Sài Gòn với một người bạn gái, giao một ít trái cây cho bạn hàng. Khi Nhàn về nói cho Hân và cả nhà nghe là Chợ Bến Thành vẫn mở cửa. Người ta vẫn buôn bán dù chợ ít người hơn lúc trước. Hàng phố có nhà tản cư đóng cửa, có nhà cửa mở như thường ngày. Phố xá cũng có người đi, tuy ít hơn. Hàng quán có tiệm đóng, tiệm mở bán hàng. Các quán ăn cũng vậy. Đường phố xe vẫn chạy, xe đạp, xe xích lô, xe gắn máy, có cả xe ngựa. Nhưng xe nhà binh cũng có. Lính ngồi trên xe đi tuần đường là lính ́n-Độ của quân đội Anh. Nghe nói có cả lính Nhảy dù Pháp nữa. Họ thả cả mấy trăm người Pháp bị Nhật bắt nhốt hồi trước và phát súng cho để đánh với du kích.

-Còn lính Nhật đâu? Hân hỏi.

-Em không thấy. Biến đi đâu hết rồi! Không nghe ai nói gì về họ. Ôi, mà lính Nhật biến, hiện bất ngờ lắm, ai mà biết?

-À quên, quân Nhật thua trận rồi, còn biến hiện gì nữa. Chắc họ bị tập trung ở đâu đó chờ quân Đồng Minh vào giải giới. Có vậy Việt Minh mới cướp được chính quyền rồi tuyên bố độc lập chớ. Để coi nha… À phải rồi, Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố độc lập trước rồi. Lúc đó Ông Trần Trọng Kim lập chánh phủ. Đến lúc Nhật đầu hàng, Việt Minh mới cướp chính quyền, tuyên bố độc lập lần nữa… đúng rồi. Vậy mà Chị lẩn thẩn quá đi mất, quên trước quên sau! À mà còn bộ đội du kích Việt Minh đâu?

-Không biết còn ở trong thành phố không, hay họ đã ra bưng biền hết rồi. Em chỉ đi quanh quẩn ở Chợ Bến Thành và khu vực nhà mình đường Frère Louis, đâu có đi đâu xa, nên không thấy bóng người nào hết.

-Vậy Sài Gòn có đánh chác gì không?

-Nghe nói hồi lính Nhảy Dù Pháp vào với lính Anh, họ có đụng mấy trận nhỏ thôi. Ở đâu đó gần Tân Định hay Tân Sơn Nhất gì đó. Bây giờ đâu còn đánh chác gì đâu.

-Em có ghé nhà chị không? Thấy nhà cửa ra sao?

-Dạ có. Em đến nhà thấy cửa hàng rào trước họ mở khóa đâu mất rồi. Nhưng cửa nhà trong vẫn khóa kỹ. Em đi vòng ra vườn ra sau nhà. Không thấy hề hấn gì hết. Chỉ thấy lá vàng rụng đầy vườn. Nhìn lên cây, ổi, xoài, vú sữa, không còn một trái. Thiệt buồn! Em đi mua ống khóa lớn khóa cửa sắt hàng rào trước lại rồi, mới đi về. Chìa khóa đây, Chị Ba. À, em có mua mấy ổ bánh mì Sài Gòn với mấy hộp Cá Mòi nữa để dành cho Chị và Chị Út.

-Giỏi! Em giỏi lắm. Mà nghe em nói chị nóng lòng quá. Muốn về Sài Gòn lắm. Coi bộ không sao đâu…

-Thôi, khoan ả Chị Ba. Nghe họ đồn, lính Pháp còn vào Sài Gòn nhiều nữa. Không biết có yên không? Thôi Chị với chị Út ở đây, có má và em
lo. Về đó có ai đâu? Nhà cửa còn y nguyên mà. Đợi ít lâu nữa coi sao!

-Ờ, phải rồi con. Ở trên nầy còn có Cô, có Dì Năm, có con Nhàn. Con với Út về Sài Gòn, Cô lo lắm. Anh chị Ba và Anh Hai con mất cả rồi. Còn ai đâu…

Cô Tư nói tới đó thì bật khóc… làm Hân và Út Hằng tủi thân, cũng khóc theo.

Hân tạm thời bỏ ý định trở về Sài Gòn lúc đó.

Quả thật như lời đồn đãi, chỉ trong tháng đó, lực lượng quân Viễn chinh Pháp trở lại Việt Nam. Đạo quân nầy chiếm Sài Gòn trước tiên. Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ tuyêa6n bố tiêu thổ kháng chiến, rút vào bưng biền. Quân Pháp nhanh chóng chiếm các tỉnh miền Đông, không đụng trận nào lớn.

**

Một buổi sáng, Hân thức dậy, đã thấy Nhàn chạy vào báo:

-Lính Tây vào tỉnh lỵ rồi. Có mấy gia đình chạy giặc vừa vào vườn nhà mình, Chị Ba ơi.

-Đâu, họ ở đâu? Để chị ra coi sao?

-Khoan, Chị Ba mặc bộ bà ba đen vào đi. Chị Út cũng vậy nữa.

-Ờ, phải, Chị thay liền! Hằng, thay quần áo đi em.

Trời vừa hừng đông. Không hiểu tại sao không nghe tiếng chim chíu chít trong vườn. Gà cũng không gáy sáng như mọi ngày. Hân ra ngoài sân với Nhàn và Dì Năm. Cô Tư, Út Hằng núp trong cửa. Hân hỏi nhóm người chạy giặc, chừng chín mười người đang đứng ngồi trong sân trước nhà.

-Xin bà con nói cho cháu nghe có việc gì trong tỉnh vậy?

Một người đàn ông khá lớn tuổi, vẻ học thức, trả lời:

-Cô ơi… lính Tây vào tỉnh rồi! Tôi tên Ngân, là thông phán Tòa Hành Chánh tỉnh, nhưng mới nghỉ việc. Nhà gia đình tôi ở gần Tòa Hành Chánh. Chừng quá nửa khuya, tôi nghe tiếng chó sủa hoảng, rồi tiếng xe chạy rầm rĩ. Tôi trở dậy, hé cửa nhìn ra, thấy đoàn xe nhà binh dừng lại trên đường. Lính Tây ôm súng từ trên xe nhảy xuống xông vào cổng lớn Toà Hành Chánh. Có mấy tiếng súng nổ lẹt đẹt rồi im bặt. Tôi sợ quá, đánh thức bầy trẻ dậy. Vợ chồng và ba đứa nhỏ lén ra cửa sau, chạy băng đồng ra khỏi thị trấn. Giữa đường gặp gia đình anh Giáo Thọ. Rồi chúng tôi chạy một mạch tới đây. Năm sáu cây số rồi cô ơi.

-Còn Bác Giáo đâu, hở bác?

-Chắc Anh Giáo còn đứng canh chừng ngoài đường.

-Không tôi đây, mới bước vào. Ngoài đường yên, vắng vẻ lắm. Chắc dân chạy giặc… chạy vào các vườn cây khác hết rồi.

-Thưa Bác, chỗ Bác ở trong phố có sao không? Hân hỏi bác giáo.

-Tôi là thầy giáo. Nhà ở gần trường tiểu học tỉnh. Hồi khuya nầy, đang ngủ ngon, bỗng nghe tiếng đập cửa rầm rầm. Chợt tỉnh, tôi nghe có người la gọi cửa, bằng tiếng Pháp: “Có ai trong nhà không? Mở cửa ra…”. Tôi sợ điếng hồn, nhưng nghĩ nhanh, chắc họ là lính Tây, nếu không mở cửa sợ tụi nó phá nhà vào, giết hết cả nhà. Tôi bạo gan trả lời lớn bằng tiếng của họ:

-Có tôi là chủ nhà. Tôi sẽ mở cửa…

-Mau lên. Mau lên!

-Vâng, thưa ông. Chờ tôi đốt đèn.

Tôi đốt đèn cầy rồi mở cửa. Trời bên ngoài sáng trăng, đủ cho tôi thấy một sĩ quan đeo lon Tây trên vai, cấp trung úy và mấy người lính ghìm súng dài. Lập tức tôi nghe tên trung úy nầy hỏi:

-Anh nói được tiếng Pháp phải không?

-Thưa ông, phải. Tôi là thầy giáo tiểu học.

-Được! Chào Thầy. Xin cho tôi hỏi: -Trường học bên đó, có du kích đóng hay không? Chắc Thầy biết.

Tôi nghe viên trung úy nầy ăn nói có lễ độ, nên yên tâm. Tôi nói thiệt:

-Tuần trước có chừng mấy chục người. Nhưng khi nghe tin quân đội các ông vào Sài Gòn, họ rút đi đâu hết rồi. Trường đóng cửa, bỏ trống.

-Thầy nói thật phải không?

-Vâng tôi nói sự thật.

-Cám ơn Thầy. Thôi đóng cửa lại. Chúc ngủ ngon.

Vậy là họ kéo vô đóng quân trong trường học. Vì vợ tôi đã mất, có một đứa con gái lớn nầy, và hai con trai nhỏ hơn. Bác chỉ vào mấy đứa con đang đứng gần bác. Rồi nói tiếp:

-Tôi coi bộ cái đám lính Tây nầy không làm dữ, vì tỉnh mình gần Sài Gòn mà. Không lẽ họ giết hết dân sao. Còn lấy ai cho họ cai trị chớ? Nhưng vì có con gái lớn, nên cũng sợ, bỏ nhà dẫn tụi nhỏ trốn đi.

Hân nghe ông giáo nói cũng có lý. Cô nói:

-Cám ơn hai bác. Bây giờ xin mời Bác Giáo và hai Bác Phán vào trong nhà uống nước. Còn các em, ra vườn chơi hoặc nghỉ ngơi ngoài chái nhà. Trong vườn có trái cây chín, nếu thích thì hái ăn. Xong rồi mình ăn cơm. Em Nhàn, nấu nước pha trà đi em, rồi ra giúp Dì Năm bắt mấy con gà làm thịt đãi khách.

-Mà mà quên. Có em trai nào tình nguyện ra coi chừng đường không? Có gì thì báo động cho biết.

-Dạ có. Để em ra canh đường.

Một cậu con trai trả lời rồi đi ra cửa vườn.

Khi mọi người vào đến hàng ba, chưa kịp vào nhà, bác Phán Ngân bỗng đứng lại nói:

-Thôi, không được! Nguy rồi anh Thọ.

Thầy giáo Thọ và Hân cũng đứng lại. Thầy Thọ hỏi:

-Nguy gì vậy anh Ngân?

-Nguy cho Anh đó. Trường hợp của vợ chồng tôi là lén đi không ai biết. Còn Anh đã nói chuyện với tên quan hai Pháp. Tụi nó chân ướt chân ráo mới vào tỉnh lỵ, không rành ngôn ngữ của mình. Nên thế nào trong ngày nay nó sẽ đến tìm Anh. Thấy nhà cửa trống trải, đồ đạt lung tung, nó biết Anh trốn, tụi nó đốt phá nhà Anh đó.

-Trời, đất. Anh nói có lý. Tôi không nghĩ tới việc nầy. Bây giờ làm sao đây Anh?

Bác Giáo hỏi. Bác Phán nói:

-Tôi nghĩ, Anh nên nên trở về nhà ngay. Bây giờ mới sáng sớm, Anh về còn kịp. Nếu trễ quá, nó đến sớm thì… khó nói.

Hân chen vào:

-Phải đó Bác Giáo. Bác Phán nói có lý lắm. Cháu đề nghị Bác dẫn cậu con trai lớn của Bác về. Để cô con gái lớn và cậu trai nhỏ ở lại cháu coi chừng cho. Không sao đâu! Thôi Bác uống nước đi, rồi về cho sớm. Theo Bác nói thì viên quan hai Pháp đó chắc cũng hiểu biết.

-Cô nói phải. Cô cho tôi gởi hai chị em con Phượng ở lại với Cô. Xin Cô giúp đỡ. Tôi với thằng Long đi về liền cho sớm. Thôi Anh Chị Phán ở tạm lại đây. Tôi về, rồi có gì tôi sẽ thông tin cho biết sau. Phượng và Lân ở đây chờ ba. Phải nghe lời Cô nghen con.

-Cầu Ơn Trên… phù hộ Bác. Con chờ tin Bác. Hân nói.

Bác Giáo Thọ và đứa con trai tên Long về thị trấn, bình yên. Mấy hôm sau, Bác cho cậu Long dẫn đường cho người em gái là Cô Phúc, trên bốn mươi, lên vườn gặp Thái Hân. Cô kể chuyện lại là bác Giáo Thọ về buổi sáng đó kịp lúc trước khi viên quan hai Pháp cho người đến mời Ông Giáo vào trường tiểu học, nơi trú đóng của quân Pháp. Họ nói chuyện với nhau. Sau đó viên sĩ quan nầy chở bác Giáo lên Toà Hành Chánh, gặp viên quan tư chỉ huy các đơn vị Pháp trong toàn tỉnh.

Có thể nhờ các cuộc gặp gỡ nầy là cả tỉnh lỵ và vùng phụ cận bình yên, không có việc đốt phá nhà cửa bắn giết gì xãy ra. Trừ các vùng xa như Bến Cát, Dầu Tiếng, Bến Than, Hớn Quản, Lộc Ninh, Đồng Xoài, Bình Giã. Lính Lê Dương Pháp đi ruồng bố ở các vùng đó nếu bị du kích kháng cự, bắn trả, thì không tránh khỏi cả xóm bị đốt rụi, đàn bà con gái bị hãm hiếp, đàn ông con trai bị bắn giết.

Cô Phúc cũng là người có học nên hiểu biết, nói chuyện rành rẽ.

Cô cám ơn Hân và đem hai cháu về. Gia đình Bác Phán Ngân cũng trở về tỉnh lỵ.

Từ đó, Hân được biết, cả xóm vườn của Hân, gồm cả chục vườn cây của bà con trong thôn, không có cuộc đi ruồng bố nào của quân trấn đóng Pháp ở Thủ Giồng Một. Sau nầy Hân mới biết đó là nhờ bác Giáo Thọ.

**

Tuy nhiên, một vấn đề khác làm Thái Hân quyết định hồi cư trở về Sài Gòn sớm hơn dự định.

Chừng một tháng sau khi gia đình bác Giáo Thọ và bác Phán Ngân trở về tỉnh lỵ, một buổi tối, Nhàn vừa thắp đèn nhà trên xong bỗng nghe có tiếng gõ cửa và tiếng gọi:

-Nhàn, Em Nhàn có nhà không?

Nhàn bước ra cửa nhìn thấy một người đàn ông, chừng ba mươi, dáng người tầm thước, đang đứng ngoài ngưỡng cửa. Nhàn mừng rỡ, nói lớn:

-Thầy! Thưa có phải Thầy Trường không?

-Phải. Phải, thầy đây trò Nhàn. Bây giờ Thầy chắc là không lộn nhà rồi. Hồi trước khác. Bây giờ hình như nhà có sửa chữa nên Thầy thấy hơi lạ.

-Dạ, có làm thêm một chái bên hông nhà. Thêm hàng rào ngoài đường. Mời Thầy vào. À mà còn mấy người nào ở ngoài sân vậy Thầy? Nhàn hỏi.

-À, mấy đồng chí du kích của Thầy. Kệ, để họ đợi ngoài đó.

-Ủa, bây giờ Thầy theo kháng chiến rồi hả. Em đâu có biết.

-Phải. Thầy theo cách mạng cũng lâu rồi Nhàn.

-Dạ, buổi lễ Việt Minh tuyên bố độc lập, Em có ra tỉnh nghe họ diễn thuyết. Tiếc quá, bữa đó không gặp Thầy. Thôi mời Thầy vào nhà. Để em báo cho má em biết Thầy đến thăm.

-Khoan đã Nhàn. Thầy muốn nhờ Em giúp một việc. Xin nấu cho Thầy một nồi cơm chừng năm sáu người ăn. Mắm muối gì cũng được. Họ đi cả ngày nay, đói rồi.

-Dạ. Được mà Thầy. Em nấu liền.

Cô Tư tự nãy giờ đứng ở cửa buồng ngủ, nghe hết câu chuyện. Tuy không nhớ rõ người đàn ông nầy, nhưng nghe đối đáp, biết là thầy học cũ của Nhàn. Cô bước ra, vui vẻ chào:

-Chào Thầy. Mời Thầy vào nhà. Để tôi nói với con Nhàn pha trà Thầy giải khát. Nghỉ mệt, rồi dùng cơm sau.

-Dạ, cám ơn Cô Tư. Cô khoẻ không? Cô còn nhớ cháu không? Cháu là thầy dạy Lớp Nhất của Em Nhàn hồi còn học ở trường tiểu học trong tỉnh. Lúc đó cháu có đến vườn nhà mấy lần với đám học trò.

-Cám ơn Thầy. Tôi nhớ.

Hai người ngồi bộ sa-lon uống trà, nói chuyện vườn tược. Trong khi đó Hân và Hằng núp trong buồng ngủ, không dám ra. Dì Năm phụ với Nhàn nấu cơm ở nhà sau.

Đêm đó, Thầy Trường và các đồng chí du kích của Thầy ăn cơm xong ngủ trong gian chái bên hông mhà. Sáng, gà vừa gáy, Nhàn ra đó, không còn thấy ai nữa. Chỉ thấy tờ giấy nhỏ để trên bộ ván ngựa, bên trên dằn một trái xoài sống, ghi mấy chữ: “Xin cám ơn Cô Tư và Nhàn. Thầy, Trường Kỳ”. Nhàn mới biết Thầy Trường đi kháng chiến và đổi tên thành Trường Kỳ.

Từ đó, thỉnh thoảng ban đêm tối trời, thầy Trường Kỳ và mấy người du kích thường trở lại xóm thôn vườn, hàng xóm của Cô Tư. Thầy đến từng nhà nói chuyện, tuyên truyền kháng chiến, khêu gợi lòng yêu nước… Thầy ăn nói lưu loát, nhỏ nhẹ nhưng có sức lôi cuốn, nên có không ít con trai, con gái gia nhập đội du kích quân của Thầy, thoát ly ra bưng. Nhiều nhà ủng hộ tiền bạc, vải vóc và gạo, muối, khô, mắm. Có đêm Thầy cũng ghé nhà Cô Tư. Cô ủng hộ thứ gì, miễn cưỡng lắm Thầy mới cho du kích nhận. Thấy Cô Tư không được khoẻ, nên Thầy không kêu gọi Nhàn ra bưng biền.

Chuyện thầy giáo Trường Kỳ tuyên truyền kháng chiến này làm cho Thái Hân lo lắng. Sợ lính Tây biết được thì nguy hiểm cho cả xóm vườn trù phú nầy.

Từ ngày tản cư về vườn, chị em Hân ăn mặc như Nhàn. Quần áo bà ba đen, đội khăn rằn quấn luôn cổ, còn đội thêm nón lá và mang găng tay lao động mỗi khi ra làm vườn. Hai chị em lượm lá vàng rơi trong vườn, đếm trái cây cho vào rổ rá. Thường thì Nhàn hái trái. Dì Năm nấu cơm. Cô Tư đi ra đi vào ngó chừng Hân và Út Hằng. Cô mướn người đào hầm trú ẩn ở trong buồng ngủ của chị em Hân, nếu lính Tây có ruồng bố, chạy không kịp thì xuống đó trốn. Cô Tư thương yêu và chăm sóc hai chị em Hân hết lòng.

Khách hàng mua sĩ vẫn đến mua trái cây chở về tỉnh lỵ. Hân đã có ý định hồi cư về Sài Gòn, vì chưa có lúc nào lo sợ như lúc đó. Hân nhờ Nhàn ra tỉnh mang theo lá thơ gởi cho bác Giáo Thọ hỏi tình hình ở Sài Gòn và nói rõ ý định hồi cư. Bác trả lời hãy đợi Bác vài hôm.
Không may cho Hân. Trong mấy ngày chờ tin tức của Bác Giáo, một buổi trời mới đổ về chiều, cả nhà sắp sửa ăn cơm, thì thấy thầy Trường Kỳ vòng cửa sau, vào nhà bếp. Thầy đến ngay mâm cơm, vui vẻ chào mọi người:

-Chào Cô Tư, chào Cô Giáo, chào Cô Út… Xin lỗi, vì tôi thấy cửa nhà trước đóng, nên đi vòng cửa sau.

Chúa ơi, bây giờ Hân mới biết rằng tai vách mạch rừng. Thầy giáo Trường Kỳ chỉ huy đội du kích tỉnh nầy đã tổ chức được một lưới tình báo nhân dân rất là bén nhạy. Có lẽ trong thôn xóm miệt vườn nầy nhà nào Thầy cũng biết rõ. Hai chị em cô từ thành phố tản cư về gần hai tháng rồi, lẽ nào ông ta chẳng biết. Chỉ vì chưa đến lúc ông ta muốn phát hiện mà thôi. Nay thì còn trốn tránh gì đươc nữa. Hân trả lời gọn bâng:

-Chào Thầy. Hôm nay Thầy rổi rảnh sớm vậy? Nhân tiện, mời Thầy dùng bữa luôn. Nhàn, lấy thêm chén đũa đi em.

Nhàn đứng dậy kéo ghế mời Thầy:

-Thầy ngồi chỗ của Em đi. Chưa ai cầm đũa mà! Nhưng Nhàn cũng thay chén đũa, đặt trước mặt thầy Trường Kỳ.

Dì Năm cũng đứng lên, lấy thêm thức ăn. Rồi hai người đứng ở bếp, không dám ngồi vào bàn cơm nữa.

Thầy ngồi xuống ghế, đối diện với Cô Giáo.

-Cám ơn Cô. Tôi mới cơm nước xong rồi.

-Vậy à. Thôi, mời Thầy lên nhà trên nói chuyện, một chút tôi ăn cơm sau. Cô Tư với Út ăn trước đi. Nhàn cho chị bình trà, rồi đi ăn cơm. Dì Năm cũng vậy.

Nói xong Thái Hân đứng dậy, đi lên nhà trên. Thầy Trường Kỳ nhìn Cô Giáo, rồi cũng bước theo. Có lẽ Thầy cũng nhận thấy Cô Giáo tuyệt đẹp, nhưng cũng hiểu là Cô không phải là tay vừa, không dễ lấn áp.

Lần tiếp xúc đầu tiên nầy, thầy Trường Kỳ chỉ nói chuyện về thời gian học ở Sài Gòn. Thầy nói về phong tục tập quán của người Sài Gòn, cách ăn mặc thay đổi của đàn ông, đàn bà, con gái thành phố Sài Gòn mà Thầy gọi là “thủ đô của ba xứ Đông Dương” của thực dân Pháp. Thầy tỏ ra cũng biết ít nhiều về gia đình Thái Hân. Thầy hỏi thăm chương trình dạy dỗ ở Trường Nhà Trắng của Hân. Thái Hân nhận xét là thầy Trường Kỳ rất tinh tế, ăn nói hoạt bác. Nhưng không tránh khói việc đả kích thực dân Pháp, mặc dù cho rằng văn hóa Pháp khai trí cho dân Việt Nam hơn thời phong kiến hũ lậu. Tuy nhiên, theo Thầy thì dân tộc Việt Nam cần phải làm cuộc cách mạng “Bài Phong, Đả Thực”. Thái Hân chỉ nghe hơn là nói; và chỉ trả lởi ngắn gọn những câu hỏi của thầy giáo cách mạng nầy.

Trời bắt đầu tối, thầy Trường Kỳ lịch sự cáo lỗi ra về.

Thái Hân hiểu ra rằng chị em Hân ở đây bị theo dõi sát. Lẽ dĩ nhiên không phải là Nhàn, mà bởi những cô gái ở trong thôn vườn nầy đã ngầm gia nhập hàng ngũ của thầy Trường Kỳ. Vì vậy việc hồi cư của hai chị em Hân có lẽ sẽ khó khăn hơn.

Mấy ngày sau, bác Giáo Thọ lại nhờ Cô Phúc, đã lên lần trước, theo mấy bạn hàng mua sĩ trái cây, lên vườn cho Thái Hân biết là ở Sài Gòn, viên Toàn Quyền Pháp sắp thành lập Chính phủ Nam Kỳ và chiêu dụ dân Sài Gòn và các tỉnh đã bình định xong, hồi cư. Nên chờ khi nào thuận tiện Bác sẽ cho người lên đón hai chị em về. Thái Hân không ngờ chỉ với sự chân tình giúp đỡ gia đình Bác mấy ngày mà được sự trả ơn đầy tình nghĩa của Bác Giáo.

Lần tiếp xúc thứ hai với thầy Trường Kỳ càng làm cho Thái Hân lo lắng hơn. Thầy làm ra vẻ tư nhiên, nhưng ánh mắt nhìn soi mói hơn vào thân thể Thái Hân. Mặc dù Thầy bắt đầu nói về cuộc cách mạng của Lê-Nin và giai cấp vô sản Nga. Nói về công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và giai cấp vô sản của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Đông Dương với chủ trương “trường kỳ kháng chiến”. Thầy tin rằng cách mạng sẽ thành công vì chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời. Thầy cũng nói về Ủy Ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ. Cách ăn nói của Thầy tỏ ra thân mật hơn.

Đến lần tiếp xúc thứ ba, thì rõ ràng Thầy khuyến dụ Thái Hân gia nhập hàng ngũ cách mạng bằng đưa ra những thí dụ về những nhà trí thức Miền Nam du học ở Pháp và Hà Nội trở về, theo kháng chiến, hiện đang hoạt động trong bưng biền.

Thái Hân nhận định rằng một thầy giáo Tiểu học có bằng Thành Chung mà sự hiểu biết và lòng yêu nước như thầy Trường Kỳ là rất hiếm. Vậy mà những điều Thầy nói không thể lọt được vào tai hay tạo ấn tượng mạnh trong khối óc tinh tế của Thái Hân. Cô nhận xét rằng tầm nhìn về thế thái nhân tình và cuộc diện đấu tranh của thầy Trường Kỳ là chủ quan, một chiều và cứng nhắc, thiếu sự rộng lượng và tình thương đối với các giai cấp cao của xã hội Việt Nam. Thái Hân mường tượng rằng nếu cần san bằng trở lực, kể cả giết người, để thực hiện cuộc đấu tranh giai cấp, thầy Trường Kỳ sẽ làm, không hối hận.

Ý nghĩ nầy khiến Thái Hân hiểu rằng không thể hợp tác được với Thầy dù là trong công việc hay tình cảm. Thầy xa cách với Thái Hân nhiều lắm kể cả về đẳng cấp và tư tưởng. Thầy không hề biết là cô Giáo Sư Thái Hân quá rành về cuốc Cách Mạng 1789 của giai cấp bình dân Pháp và cuộc cách mạng dành Độc Lập với Tuyên Ngôn Dân Quyền ở Hoa Kỳ trước đó. Hằng cũng thừa sự hiểu biết về cuộc Cánh Mạng Vô Sản đẫm máu của Lê Nin và Đảng Cộng Sản Nga đã tận diệt nền quân chủ lâu đời của Nga Hoàng. Thái Hân cảm thấy sợ những gì thầy Trường Kỳ nói hơn bao giờ hết.

May mắn đến cho hai chị em Thái Hân như một phép lạ. Sáng tinh sương hôm sau, một chiếc xe nhỏ chở mấy giỏ trái cây từ mạn trên về đến ngang vườn Cô Tư, bị nóng máy ngừng lại, Người chủ xe vào gõ cửa nhà xin nước đổ máy. Người vợ buôn bán trái cây cũng là bạn hàng quen với Nhàn cùng vào. Họ nói đáng lẽ phải về tỉnh lỵ từ chiều hôm qua, nhưng xe hỏng máy, sửa đến tối không về được. Sáng nay định về sớm nhưng chạy tới đây bị nóng máy nữa.

Thái Hân đánh liều xin cho hai chị em quá giang về tỉnh. Cả hai vợ chồng người bạn hàng nầy đồng ý. Vậy là cả nhà ra đưa hai chị em Cô Giáo và Dì Năm ra xe. Xe nổ máy chạy rồi, nhà ở vườn lân cận cũng chưa biết. Xe chạy một mạch không thấy trục trặc gì nữa. Vào tỉnh lỵ xe đậu lại gần trường tiểu học. Khi xuống xe, cám ơn vợ chồng chủ xe xong, mọi người còn nghe ông chủ xe nói vói lại:

-Mấy cô ngồi trên xe, nó chạy êm re, không trở chứng gì hết. Thiệt, xe cũng biết nịnh đầm. Lạ thật!

Thái Hân hỏi thăm và tìm được nhà Bác Giáo Thọ.

Đôi khi người ta phải tin vào định mệnh. Sự an bài của Ơn Trên thật kỳ diệu mà cũng thật trớ trêu. Từ chỗ xa lạ, người ta thành người thân, quý mến nhau. Từ chỗ thân thích người ta xa lìa nhau, thù hận nhau. Từ chỗ hiểm nghèo bỗng người ta tìm ra sinh lộ. Thái Hân và em đã thoát được cảnh nguy nàn, nhưng Thái Hân lại sợ cho Cô Tư và Nhàn, không biết có được yên thân với thầy học cũ của Nhàn hay không? Thôi cứ phó thác cho định mệnh và chỉ biết cầu nguyện… mà thôi.

Ngày hôm sau, lại chính Cô Phúc em Bác Giáo Thọ đưa hai chị em Hân và Dì Năm về Sài-Gon. Ân nghĩa biết là bao nhiêu.

Hơn hai tuần sau Nhàn xuống Sài Gòn thăm Hân và Hằng, cho biết tin tức miệt vườn của Cô Tư. Ngay buổi tối ngày hai chị em Hân lên xe về tỉnh lỵ, thầy Trường Kỳ đến nhà với mấy người du kích cận vệ như thường lệ. Thầy không tỏ vẻ gì giận dữ hay trách móc gì Cô Tư và Nhàn. Chỉ nói rằng có lẽ Cô Giáo Hân quen sống ở thành phố nên không chịu nổi đời sống kham khổ ở vườn tược, quê mùa. Cô ấy không thuộc giai cấp bình dân, thì phải trở về thành phố thôi… Thầy buồn buồn không giấu được vẻ thất vọng. Từ đêm đó, không thấy thầy Trường Kỳ đến nhà nữa.
Chưa đầy một tuần sau đó, vùng thôn vườn nhà Cô Tư có một cuộc ruồng bố của lính Tây. Rồi họ lập ở đó một đồn quân do lính quốc gia, chừng mấy chục người, trú đóng. Lúc đó sự đi lại về tỉnh lỵ đã dễ dàng hơn. Còn thầy Trường Kỳ và đội du kích đã biến mất vào đêm tối, không ai biết tung tích gì nữa.

Quân Viễn chinh Pháp dần chiếm được hết miền Nam, miền Trung rồi kéo ra miền Bắc Việt Nam, qua Miên, lên Lào.

Ba bốn năm đã qua. Ở Sài Gòn đã có một chánh phủ Việt Nam với mấy ông thủ tướng rồi. Và nghe nói Cựu Hoàng Bảo Đại sắp hồi hương. Học đường đã mở cửa. Hân đã đi dạy lại từ mấy năm trước. Út Hằng, từ ngày lập gia đình cùng chồng con mấy lần về Sài Gòn thăm Hân, rồi lại đi. Ở trong ngôi biệt thự rộng lớn nầy, Hân cảm thấy mình cô quạnh quá. Đêm nào cũng thấy buồn và lạnh lẽo. Ngày nào cũng thấy tẻ nhạt. Dù học trò Trường Nhà Trắng trong các lớp mà Cô dạy dễ thương, dễ dạy và tỏ ra kính mến Cô. Dù các sơ nhà Dòng tỏ ra quý trọng Cô. Dù thỉnh thoảng bác Giáo Thọ, các con, Cô Phúc và gia đình Bác Phán Ngân từ Thủ Giồng Một xuống thăm viếng. Hân vẫn thấy cuộc đời trống rỗng, buồn tênh. Út Dân đến, đem lại cho Hân một niềm vui mới, một bổn phận mới. Hân tự nguyện sẽ giúp Út Dân thành công trong việc học vấn của Cậu.

**

Xem tiếp phần ba: http://www.tvvn.org/chien-tranh-va-tinh-yeu-van-nguyen-duong-3-2/

Share this post

One thought on “Chiến Tranh Và Tình Yêu – Văn Nguyên Dưỡng (2)

Comments are closed.