Chiến Tranh Và Tình Yêu – Văn Nguyên Dưỡng (3)

Chiến Tranh Và Tình Yêu – Văn Nguyên Dưỡng (3)

Thủy phài về Cà Mau sớm nên ngày tựu trường Thái Hân đưa Út Dân vào Trường La San nhập học. Trường nằm ở đường Nguyễn Du ngang hông Nhà Bưu Điện chánh của thành phố. Cũng gần Nhà Thờ Đức Bà. Trưa, Dân đi bộ về nhà ăn cơm với Dì Năm. Từ nhà đến trường không xa lắm. Cô Ba đi dạy, buổi trưa không về nhà. Buồi chiều mới về. Hằng ngày Cô mướn một chiếc xe xích lô đạp quen đưa rước Cô đi về. Trả tiền hàng tuần. Vì từ đường Frère Louis đến Trường Trường Nhà Trắng Saint Paul ở cuối đường Paul Blanchy cũng khá xa. Tối về, hai chị em ăn cơm chung với Dì Năm ở bàn ăn nhà sau. Mấy ngày đầu ngồi vào bàn cơm, Út không dám gắp thức ăn. Cô Giáo nhiều lần gắp bỏ thức ăn vào chén cho Út và thường bảo:

-Em gắp đồ ăn đi. Đừng rụt rè. Chị cũng như Chị Hai của em thôi! Ăn cho no mới đủ sức học.

Út Dân chỉ biết dạ, dạ… Tuy vậy cũng không dám gắp nhiều thức ăn và bới cơm thêm. Dì Năm biết ý, nên bới chén cơm nào cho Út cũng đầy ắp. Sau dần dần rồi cũng quen, vào bàn ăn, Út ăn uống tự nhiên hơn, không còn như mấy tuần đầu.

Buổi tối Út thường ra sân trước chơi, nhảy giây, tập thể dục, hít thở, đến khi Dì Năm đóng cửa mới vào nhà. Út đi thẳng lên lầu, tắm, đánh răng rồi vào buồng ngủ của mình là căn phòng nhỏ cạnh phòng lớn của Cô Ba. Út thường để cửa mở, ngồi học ở bàn viết. Thỉnh thoảng Cô Ba đi ra phòng đọc sách, hoặc khi cần xuống lầu có việc gì đó, đi ngang qua cửa phòng của Út, Cô thường ngó vào… cười, hay nói: “Út còn học hả?” Út chỉ… “dạ”. Đến khi ngủ mới đóng cửa phòng.

Út không bao giờ dám bước ngang qua cửa phòng của Cô để ra sân thượng nên đã hơn một tháng từ khi ở Cà Mau lên, Út chưa biết ngoài đó ra sao. Hình như Cô Ba biết Út còn chưa tự nhiên như người trong nhà.

Một buổi tối, Út đang ngồi học, Cô Ba đến gõ vào cánh cửa buồng của Út. Út bước ra, Cô nói:

-Út, em ra trước sân thượng chơi, trăng sáng lắm. Chị nói chuyện với em một chút.

-Dạ…

Út xếp sách lại, bước ra theo sau Chị Ba.

Chị Ba mở cửa sắt, bước ra sân thượng và chỉ chiếc băng cây có lưng dựa, dưới khung cửa sổ của căn buồng ngủ lớn, bảo Út ngồi xuống đó. Cô cũng ngồi xuống cạnh. Út nghe như có mùi thơm dịu nhẹ thoảng chung quanh.

-Út nầy…

-Dạ…

-Nghe chị nói. Ông bà mình thường nói nhập giang tùng khúc nhập gia tùy tục. Em biết là gì không?

-Dạ, em biết.

-Vậy, chị nói em nghe. Chị Hai của em hồi trước ở đây với chị năm bảy năm, sống với nhau còn hơn chị em ruột. Chị cũng muốn em sống ở trong nhà nầy như Chị Hai trước đây. Ba má, anh Hai chị mất rồi. Hằng em út của chị cũng có gia đình riêng, nó bận lo cho chồng con nó. Chị hầu như cô độc, không còn ai nữa mà chia xẻ nỗi buồn, vui… Mà chị có bao giờ vui đâu. Chỉ toàn những nỗi buồn. Em có biết không, trong căn phòng rộng lớn nầy đêm nào cũng cô quạnh. Lạnh lẽo vô cùng. Đêm nào cũng sợ. Nhiều đêm chị đã khóc. Nay, có em, chị cảm thấy không còn cô đơn nữa. Chị thương em như em út của Chị. Em có chịu không? Chịu làm em trai của chị không, hở Út?

Út nghe Chị Ba nói, thấy thương Chị vô cùng. Cậu muốn nắm hai bàn tay của Chị như nhiều lần đã từng nắm hai bàn tay của Chị Hai mỗi khi buồn việc gì đó, như một cử chỉ an ủi. Nhưng đối với Cô Ba, Út không dám, chỉ nhỏ nhẹ thưa:

-Dạ, em chịu làm em… của Chị Ba.

-Út ơi. Chị mừng quá em ơi. Mà em có hứa thương chị và nghe lời chị như em thương Chị Hai hay không?

Cô Giáo vừa nói vừa nắm hai bàn tay Út Dân.

Út nghe như hai bàn tay mát rượi và mềm mại của Chị Ba thấm vào da thịt làm tay Út run run… Mặt nóng bừng. Cảm giác khoái cảm lạ lùng nầy đến với Út là lần đầu tiên trong đời.

-Dạ, dạ em hứa…

Cô Giáo nói tiếp:

-Chị cũng vậy nữa. Chị sẽ thương em và lo lắng cho em như Chị Hai. Từ hôm nay em là em trai út của Chị.

Cô Giáo buông tay Út ra nói tiếp:

-Bây giờ chị xếp đặt như vầy:
Mỗi tuần, sáng Chúa Nhật hai chị em đi nhà thờ, rồi đi ăn sáng, dạo phố, mua sách vỡ hay các thứ cần dùng. Buổi chiều em đi chơi với bạn học hoặc rủ bạn đến nhà chơi.
Thứ Hai, buổi tối chị kèm toán, lý hóa cho em.
Tối thứ Tư, chị dạy thêm Pháp văn.
Tối thứ Sáu, em đem hết bài vỡ trong tuần học ở Trường cho chị coi lại.
Chiều thứ Bảy, đi tập đánh bóng bàn hay quần vợt.
Các buổi tối khác em… tự do. Nhưng muốn đi đâu chơi phải cho chị biết. Em nhớ không? Suy nghĩ coi có gì bất ổn, ngày mai cho chị biết.

À, còn cái giàn tập thể dục của Anh Hai ở góc sân đó, em ra coi đi. Buổi sáng sớm hay buổi tối, trước khi đi ngủ, nên ra tập cho khỏe, mạnh và mau lớn… Không biết giàn barre fixe đó em vói tới hay không? Ra thử đi. Em coi lại mấy thứ dụng cụ thể dục khác, thứ nào không xài được, bỏ đi, mua cái khác.

Út Dân chỉ biết… dạ, dạ và làm theo lời… Chị Ba.

Từ ngày đó Út Dân bắt đầu sống theo nếp sống nề nếp. Học hành giỏi hơn, ăn ngủ điều độ, thể dục thể thao đều đặn. Hân hãnh diện mỗi lần cùng Út đi nhà thờ, hay đi phố mỗi sáng Chúa Nhật. Nhiều người nhìn hai chị em Hân. Hân biết cả hai đều đẹp. Út đã lột hết vẻ quê mùa của cậu học trò tỉnh lẻ. Mặt mày sáng sủa, thông minh. Mắt sáng, mũi thẳng, răng trắng đều đặn. Cử chỉ thong thả. Ăn nói lễ độ, từ tốn. Nhất là ngoan ngoãn đối với Hân và cả với Dì Năm.

Hân tự thấy mình vui vẻ hơn, và hình như trẻ lại. Trong nhà đã có tiếng cười. Hân biết Dì Năm cũng thương Út Dân như thương Chị Hai của Út trước đây. Lo cơm nước chu đáo với nhiều món ăn hơn. Lo giặt giũ quần áo và sắp xếp dọn dẹp gọn ghẽ căn phòng của Út cũng như của Hân mỗi ngày. Hân và Dì Năm tự tin hơn. Mỗi đêm không còn sợ sệt như trước nữa. Út đến với gia đình như một vừng ánh sáng làm thay đổi hẳn không khí và nếp sống buồn tẻ từ bao nhiêu năm qua. Út không hề tự đi đâu chơi một mình.

Tuần nào ba người cũng ra vườn lượm lá khô, nhặt cỏ chăm sóc lại từng chậu kiểng, từng luống hoa. Nhà cửa, vườn tược, không còn mang vẻ lạnh lẽo âm u như trước nữa. Hân cảm thấy yêu đời và thương Út Dân lắm.

Hân cũng không ngờ rằng Út rất tài hoa. Hân nhớ lại lần đầu tiên đưa Út đến Cercle Sportif, một câu lạc bộ thể thao nổi tiếng của Pháp trong thành phố mà trước đây Anh Hai đã từng là hội viên, để Út đánh bóng bàn thử coi có đúng như lời Thủy đã nói hay không?

Buổi thử thách đó chẳng những làm cho một huấn luyện viên của câu lạc bộ ngạc nhiên, mà còn làm cho Hân hãnh diện. Út đánh thắng khít khao người thầy dạy thể thao nầy. Với lối đánh đẹp cả hai mặt vợt, phòng thủ chắc chắn, phản công dữ dội và tới tấp, làm cho mọi người đến xem vỗ tay nhiều đợt. Sau ba ván, ông thầy dạy thể thao bắt tay Út khen ngợi… và cho biết rằng Út có thể trở thành một tay vợt giỏi của thành phố nếu được một bậc thầy vô địch Việt Nam như Mai Văn Hoà hay Mai Văn Chất chỉ bảo.

Hân chính thức ghi tên cho Út gia nhập câu lạc bộ nầy.

Sau lần đó, Hân đưa Út trở lại tiệm bán dụng cụ thể thao Emile Bodin trên đường Bonard mua mấy quần short và áo tennis, áo khoác màu trắng, mấy đôi giày, dớ, thể thao và một cây vợt tennis Wilson gỗ ép cho Út. Hân thấy Út mừng như chưa bao giờ có…

Hân cũng nghĩ ra rằng, nếu đến câu lạc bộ thể thao mà mặc áo dài… coi không hợp chút nào hết, nên cũng mua cho mình mấy chiếc áo thể thao có bâu hiệu Palmier và một áo khoác trắng cùng hiệu, như của Út. Sau đó Hân vẽ kiểu và đặt may mấy chiếc quần tây dài trắng, ống hơi rộng một chút ở mắt cá chân, mấy chiếc áo sơ mi trắng, có bâu như se-mi đàn ông, nhưng eo bó sát người. Hân cũng đặt đóng mấy đôi giày da màu trắng, gót lớn không cao lắm, ở đường Gia-Long.

Các buổi đưa Út ra sân tennis của câu lạc bộ, Hân thường mặc bộ y phục thể thao với kiểu vẽ riêng của mình. Áo sơ mi dài tay có bâu bỏ trong quần tây dài, gày nút ở bên hông, màu trắng, mặc áo choàng, đi giày trắng. Hoặc giả chỉ đổi áo se-mi mặc áo tennis như Út. Tóc Hân bới cao để lộ gương mặt, cổ và ót, trắng trong. Búi tóc cao đen mượt buộc một băng lụa màu vàng nhỏ. Hân trẻ trung, đẹp. Thân hình thon thả, cân đối, gợi cảm như một cô gái phương Tây. Nhưng với cặp mắt đen, tròn, ánh nhìn trang nghiêm và sâu lắng dưới đôi lông mi dài cong lên tự nhiên làm cho vẽ đẹp đó vẫn là vẻ đẹp phương Đông trang nhã, khả kính. Út Dân rung động khi nhìn chị Ba trông cách ăn mặc độc đáo này. Chị Ba trông thật sang trọng với một màu trắng tinh khiết…

Sự học hành và tập dợt thể dục, thể thao của Út, Thái Hân giữ cho tiến triển đều đặn như vậy từ khi nhập trường, nên trông Út Dân mạnh khoẻ và mau lớn thấy rõ. Út sống được cưng chìu như một đứa em út thật sự trong một gia đình hạnh phúc. Thái Hân mua cho mình một vélo-solex màu đen và cho Út một xe đạp đua màu trắng. Hai chị em đã có thể đi trường học, đi đánh quần vợt và nhiều sáng Chúa Nhật còn đi chơi Chợ-Lớn, Phú-Lâm, Thủ Thiêm, Tân Định, Bà Chiểu, Gia-Định, Hóc Môn. Cuộc sống của Hân không còn buồn bã như trước. Út Dân vui tươi hơn. Đã quen thuộc với Sài Gòn, không còn bở ngỡ nữa.

Ba năm trôi qua mau chóng, mỗi lần về Cà Mau nghỉ lễ Tết Nguyên Đán, Út Dân được cả nhà cưng yêu, chìu chuộng, nhất là Ông Một. Ông nhìn Út như là niềm hy vọng của gia đình ông, sau khi các con trai lớn, đứa mất sớm, đứa như bỏ quên đời bất cần cuộc sống, và đứa bỏ nhà theo kháng chiến bằng bặc đã nhiều năm. Út buồn và thương mẹ vẫn trong tình trạng tâm thần nửa tỉnh, nửa mê. Chị Hai và Chị Bảy cưng Út như trứng mỏng.

Bội Mỹ đã trở thành một cô gái mười bảy, mười tám, hoa khôi của thị trấn. Nhiều nơi dạm hỏi, nhưng Mỹ viện cớ nầy cớ nọ từ chối… chờ Út. Mỗi lần qua nhà thăm các chị và Út, vẫn nấng ná ở lâu hơn, muốn nói chuyện nhiều với Út. Nhưng tim óc Út đã bỏ quên ở đâu mất rồi. Chỉ ghi nhận là Mỹ đã đẹp hơn trước rất nhiều, thuỳ mị, đoan trang hơn. Nhưng không hiểu tại sao có một làn ranh hay rào cản vô hình nào đó khiến Út không muốn tiến gần hơn… Có lần Chị Hai trách Út:

-Út, sao chị thấy em thờ ơ với Bội Mỹ vậy? Hay ở Sài Gòn mê cô nào rồi! Mỹ có lần nó khóc với chị là nó nói nó thương em… mà em hững hờ lắm. Em nhìn em xem… mỗi lần về ăn Tết có mấy ngày mà lúc nào cũng lờ đờ lẫn đẫn như người mất hồn… Sao vậy em? Hay có bệnh gì không?
Út thường giữ im lặng không nói gì. Chị Hai càng nghi ngờ hơn.

Cả đến các kỳ nghỉ hè đáng lẽ Út phải về quê ở cả tháng hoặc năm bảy tuần. Nhưng chỉ một tuần lại xin lên Sài Gòn để học thêm khoá hè ở các trường tư thục.

Mỗi lần nghỉ hè Út Dân trở lên Sài Gòn sớm như vậy, Hân mừng thấy rõ. Cả Dì Năm cũng mừng. Hình như Út đã trở thành linh hồn của gia đình. Út đã cao lớn, đẹp trai. Mỗi lần Út Hằng chồng và con trai nhỏ về Sài-Sòn thăm Chị Ba hay đi công tác, đều khen ngợi Út cả dáng dấp lẫn tánh tình.

Chồng Thúy Hằng là kỹ sư Thủy Văn, tên Thành, lớn hơn Hằng chừng ba tuổi, người Nha Trang học ở Pháp về và phục vụ ở Hải Học Viện Nha Trang. Thành gặp Út Hằng khi cô ra Nha Trang với phái đoàn Bộ Giáo Dục ở Sài Gòn thăm Hải Học Viện. Đó là hơn một năm sau khi Cô Ba và Út Hằng hồi cư, thời Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh thành lập chính phủ Nam Kỳ đầu tiên khi quân viễn chinh Pháp trở lại Việt Nam. Từ đó họ thư từ với nhau, yêu nhau rồi cưới hỏi nhau. Ra Nha Trang Hằng cũng xin được làm việc trong Hải Học Viện.

Út Dân gọi vợ chồng Hằng là chị, là anh. Út Hằng lớn hơn Út Dân bảy tám tuổi. Cũng đẹp như Chị Ba, nhưng nước da không trắng bằng. Cả Hằng và Thành đều coi Út như người em út của gia đình.

**

Mùa hè năm 1951, mặc dù Sài Gòn xáo trộn lớn từ đầu năm sau vụ học trò biểu tình. Cảnh sát, công an Pháp dẹp biểu tình bắn chết trò Trần Văn Ơn và bắt giữ hàng trăm cô cậu hóc trò khác. Các trường trung học Sài Gòn đóng cửa ít lâu, nhưng các khóa thi hằng năm đều mở như thường lệ. Út Dân thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, chương trình Pháp. Năm đó Út mới học lớp Đệ Tứ. Cô Ba dự định cho Út bỏ luôn lớp Đệ III, vào học lớp Đệ II và Đê I phối hợp do một ít trường trung học tư ở Sài Gòn tổ chức. Cô sẽ dạy kèm thêm cho Út thi Tú Tài I Pháp vào niên học mới 1951-1952 cho kịp với tuổi, vì Út đã bỏ học mấy năm từ hồi tản cư, năm 1945. Như vậy là Dân phải nghỉ học ở La San.

Dân về Cà Mau thăm gia đình mấy ngày rồi phải trở lên Sài Gòn, cùng một người bạn học của Trường La San tham dự cúp vô địch quần vợt học sinh Nam Phần dưới 18, tổ chức ở Vũng Tàu trong mùa Hè. Năm đó Út đã mười bảy tuổi Tây mà là mười chín tuổi Việt vì Út sanh nhằm tháng Giêng Dương Lịch, nên chịu oan một tuổi. Đó sẽ là lần chót Út tham gia vào sinh hoạt chung của Trường La San. Út đã thành một một thanh niên tráng kiện, đứng cao bằng Chị Ba rồi. Nhưng cái mặt, tuy đẹp trai, mà còn bơ bơ. Không khôn lanh bằng các bạn cùng tuổi. Hình như Út quá hiền lành và chơn chất.

Vì đang nghỉ Hè, nên Cô Ba và Út Dân gần như mỗi chiều đều đến sân Cercle cho Út thao dợt với huấn luyện viên của Út.

Bỗng một một việc buồn đã xảy ra làm Thái Hân ray rức không nguôi trong nhiều năm sau..

Một buổi chiều thứ Bảy, hai chị em đến tập quần vợt ở Cercle Sportif như thường. Không biết vì vẻ đẹp quý phái của Thái Hân trong trang
phục thể thao thời trang, hay vì lối đánh quần vợt với mặt vợt trái hai tay, mới mẻ của Út Dân, ở sân xa bên trong, số 6, số 7 mà vẫn thu hút khán giả. Mặc dù không phải các trận đấu của các danh thủ ở các sân số 1 số 2. Các sân này cũng dành cho những trận đấu cấp quốc gia và quốc tế.

Đối thủ của Út là huấn luyện viên của câu lạc bộ. Chỉ là buổi tập dợt thường xuyên giữa thầy trò với nhau, nhưng không ít người xem, vì trận đấu kỹ thuật cao và ngoạn mục. Trong số khán giả, có vài sĩ quan Pháp và Việt Nam mặc quân phục, đeo cấp bậc. Họ đứng phía sau chiếc băng Thái Hân đang ngồi, trong khi Cô đang hồi hợp theo dõi trận đấu. Út Dân có những đường banh mạnh và thông minh.

Hiệp đấu vừa chấm dứt. Thái Hân đứng lên mang chiếc khăn lông trắng ra sân cho Út lau mồ hôi.

Khi hai chị em trở vào thì… được mấy ông khán giả không mời mà đến nầy đón chào nồng nhiệt. Mấy ông sĩ quan nầy bắt tay Dân nhưng… bắt chuyện với Thái Hân. Cô Giáo lịch sự trả lời và bị họ bao quanh, làm Út đứng lơ láo một mình. Thầy huấn luyện viên đến kéo Dân ra ngồi ở băng và khen ngợi lối đánh nhanh, mạnh cả hai mặt vợt cũng như những sơ hở của Út trong trận đấu thử lúc nãy, trong khi mắt Dân vẫn không rời… Chị Ba và các ông sĩ quan đó.

Thái Hân bỗng chợt nhớ đến Út, nên xin lỗi các ông khách lạ đó và đi trở vào với Út.

Sau đó, Út nói mệt xin Chị Ba về sớm hơn mọi hôm.

Về đến nhà, sau khi tắm, Út không ăn cơm. Chỉ xin Dì Năm một ly sữa. Uống xong, Út lên lầu vào buồng, đóng cửa.

Thái Hân và Dì Năm nhìn theo, lo lắng…

Hân ăn vội cho hết chén cơm, uống vội hớp nước rồi lên lầu. Cửa buồng của Út không khóa. Hân gõ cửa, không thấy Út trả lời. Hân mở cửa nhìn vào thấy Út đang nằm, hai tay buông xuôi trên giường, như đang ngủ mê. Hân bước vào, đứng cạnh giường, hỏi:

-Út, Em làm sao vậy?

Hân rờ trán Út. Bỗng Cô buông tay, chạy vội ra hành lang, gọi vói xuống phòng ăn tầng trệt:

-Dì Năm!.. Dì Năm, lên mau… Coi Út sao vầy?

Dì Năm buông đũa chạy lên.

-Đầu Út nóng như lửa Dì Năm ơi…

-Đâu, đâu, để Dì coi. Chúa ơi… sao nóng dữ vầy? Làm sao bây giờ Cô Ba? Chắc bị trúng gió. Để Dì đi lấy dầu cạo gió cho Út.

-Không phải đâu Dì Năm. Sao Út nóng mà nằm mê man vậy kià?

-Hay cô đi mời Cô Bác Sĩ Quỳnh bạn Cô đến khám bệnh cho Cậu Út đi. Mới bảy giờ, còn sớm mà.

-À! Phải rồi. Dì đi lấy chìa khoá cửa nhà trước cho con, rồi lên đây, canh chừng Út. Thấy đổ mồ hôi thì lau. Tốt hơn Dì lấy cái khăn lông lau mặt của Út nhúng nước vắt khô đắp lên trán cho Út nghe. Có gì cũng ở đây, không đi đâu hết, nghen Dì Năm.

Thái Hân không kịp thay áo, chỉ mặc thêm chiếc áo choàng thể thao, vội vã đi đến nhà Bác Sĩ Quỳnh, trước là bạn học Trường Nhà Trắng, đang ở cách nhà Hân chỉ chừng ba căn nhà.

Bác Sĩ Quỳnh đến. Sau khi đo Thủy, đo áp huyết cho Út và cẩn thận đặt ống nghe tim, nghe phổi, vạch xem mắt và bắt mạch Út xong, Bác Sĩ Quỳnh hỏi:

-Cậu này là ai vậy? Bị bệnh hồi nào vậy Hân?

-Dân, em út của Thủy ở Cà Mau, bạn cùng lớp với Quỳnh và mình hồi đó. Út lên ở đây học đã ba năm rồi. Mới bị nóng lúc nãy thôi. Tại sao vậy Quỳnh?

– À, mình nhớ ra Thủy Cà Mau rồi. Hồi chiều, Cậu Út làm gì? Có cơm nước gì chưa? Bác Sĩ Quỳnh hỏi.

-Út đi đánh tennis về. Chỉ uống sữa, không ăn cơm, rồi lên buồng nằm. Mình thấy lạ, rờ trán thấy trán nóng quá mà nằm như ngủ mê, mình chạy đi nhờ Quỳnh.

-Trường hợp nầy cũng lạ. Tim, phổi bình thường. Hơi thở đều đặn nhưng huyết áp hơi cao một chút. Nhiệt độ cũng cao nhưng dưới 40 độ C. Không có gì đáng lo ngại về độ nóng này. Sức đề kháng của tuổi trẻ rất mạnh, nhưng không hiểu sao Cậu Út muốn buông trôi… Chỉ ngủ mê chớ không phải ngất xỉu.

-Vậy, bây giờ làm sao đây, Quỳnh?

-Mình cho mấy viên thuốc nầy. Một chút nữa, Út tỉnh ngủ cho uống sữa và một viên. Bây giờ cứ nhúng khăn đắp trán như vầy là được rồi. Nhưng phải canh thay nước. Sáng thức dậy cho uống sữa rồi uống một viên thuốc nữa. Nếu thấy hết nóng thì thôi. Ban đêm, có trở chứng gì, báo cho mình biết ngay.

Bác Sĩ Quỳnh xếp túi thuốc và dụng cụ khám bệnh lại đặt trên bàn viết, ngồi xuống ghế, nói với Hân:

-Này Hân, ngồi xuống đi. Cho mình biết trong mấy tháng qua, nhất là trong mấy ngày qua, Út có gì bất thường hay không? Thí dụ như vui vẻ quá trớn hay buồn bã, trầm tư. Có tỏ ra nhớ nhà, nhớ quê hay không? Có lần nào làm việc gì quá sức, bị cảm ho, nôn mữa gì không?

-Không. Út ít nói, nghiêm trang. Vui cũng chỉ cười nói bình thường. Không thấy triệu chứng gì buồn bã. Út rất khoẻ. Không làm gì quá sức, không thấy bệnh hoạn gì hết cho đến buổi tối này khi đi đánh tennis về.

-Hãy nói rõ, Út đánh… có nhiều quá không? Trong sân tennis có gì gay cấn làm Út phật lòng, hay tức giận điều gì, hoặc cãi lẫy cùng ai không? Có bị té ngã hay không?

-Không. Út dợt với huấn luyện viên. Chỉ đánh có một sết thôi. Hai người rất tương đắc. Thầy trò quý mến nhau. Không tranh cãi với ai. Không có té ngã, hay mệt quá sức.

-Lạ vậy! Nầy, trong sân ngoài ba người ra còn ai nữa không? Họ có làm gì phiền Út không? Đây không phải là trường hợp bị trúng gió như người ta nói? Trúng gió thường nôn mữa tiêu chảy, tay chân uể oải, nhiệt độ không cao. Út nhiệt độ tuy cao, nhưng không cao lắm. Tại sao nằm ngủ mê man? Có thể là bị sốc về việc gì đó, ảnh hưởng đến tâm lý. Bị động não mạnh nhưng buông xuôi, không muốn đối kháng, để cho cơn mê vật rã rời trí não. Đó là lý do chánh làm cho đầu bị nóng rang.

Có thể đó cũng là triệu chứng bắt đầu của loại bịnh tâm lý thường thấy là… buồn nản, ganh tị và thất vọng.

Tâm trạng thất vọng, vì có cảm tưởng thua thiệt hay mất mát lớn lao, hoặc niềm hy vọng nào đó bỗng chốc biến thành ảo tưởng bất ngờ quá, đưa đến tình trạng trầm uất. Thất vọng mới chỉ là bắt đẩu. Thường thì bệnh gây nên bởi nỗi nhớ… như trẻ con mồ côi nhớ mẹ. Người yêu nhớ nhau như… thất tình. Quan trọng nhất là những trường hợp bị thất vọng hay tuyệt vọng về… tình yêu của những cô cậu trẻ tuổi.

Ở tuổi mới thành niên như Út không thể nhớ nhà quá độ như trẻ thơ lên bảy lên mười côi cút… nhớ mẹ. Cũng chưa có sự nghiệp lớn lao gì mất đi để đáng nhớ tiếc. Tóm lại, với tư cách là một bác sĩ bệnh lý và tâm lý trẻ con, mình kết luận là Út đang bắt đầu lâm bệnh trầm uất… vì ghen tị và cảm thấy bị thua thiệt. Rồi thất tình thì đúng hơn. Như yêu mà không thể nói, ghen tuông mà ôm kín trong lòng. Thất vọng lớn quá sẽ phá hoại trí não, tâm hồn và thể xác của con bệnh. Nguy hại vô cùng. Út có bồ chưa vậy Hân?

Thái Hân vừa nghe xong, rơm rớm nước mắt. Cô trả lời và nói như cầu cứu:

-Không. Không thấy Út có bồ bịch gì hết! Quỳnh, Quỳnh ơi… bây giờ làm sao? Hở Quỳnh!

Bác Sĩ Quỳnh quay sang nói với Dì Năm đang đứng ngoài cửa buồng:

-Xin Dì nấu cho một bình Thủy nước sôi, một bình nước lạnh, một cái khăn nhỏ. Dì ở dưới coi củi lửa, chừng nào cần tôi gọi, sẽ đem lên. Còn Hân, cậu nghe mình hỏi.

Hân lau nước mắt, kéo ghế ngồi gần cô bạn bác sĩ.

-Cậu phải nói thật nghe! Quỳnh nói.

-Mình sẽ nói thật.

-Hồi chiều, ở sân tennis, ngoài hai thầy trò Út ra, còn có ai nữa. Lúc nãy, mình có hỏi, cậu chưa trả lời.

-A, bây giờ mình nhớ rồi. Ngoài rào, người ta xem hai thầy trò Út thao diễn cũng khá đông. Nhưng có bốn năm ông sĩ quan Pháp và Việt Nam đi vào sân. Khi trận đấu vừa dứt mình ra sân đem khăn cho Út lau mặt thì mấy ông này theo mình ra sân và lịch sự chặn mình lại… hỏi thăm. Trước tiên là khen ngợi Út. Rồi một hai người khen mình đẹp. Hết người nầy đến người nọ hỏi chuyện lung tung, mình cũng không còn nhớ nữa…

-Họ còn trẻ không?

-Trẻ, không ai quá ba mươi.

-Thôi, phải rồi. Nếu lúc đó cậu nhìn Út sẽ thấy mặt mũi Út như thế nào thôi! Oan gia rồi Hân ơi. Như cậu nói, Út chưa có bồ, vậy Út nó… thương cậu rồi đó. Út bị sốc và đầu óc choáng váng khi tự mình so sánh với mấy ông sĩ quan trẻ mà Út cảm thấy xứng đôi với… Hân hơn là một cậu học trò nhỏ nhít như Út. Chỉ cần Hân phải lòng một người nào trong bọn họ cũng đủ làm tan nát trái tim Út. Cái tâm lý tự ti mặc cảm đó sẽ đeo đuổi Út suốt một đời. Hân có biết không? Đầu Út nóng rang, tay chân uể oải là triệu chứng của bắt đầu của bệnh trầm cảm. Thứ tâm lý thua thiệt nầy sẽ gây nên nỗi thất vọng lớn lao. Nếu ôm mãi trong lòng sẽ mất cả hi vọng về cuộc sống và ý chí vươn lên, vì nó phá hoại não bộ đến độ có ý nghĩ tự sát, hay nguy hiểm hơn. Nhưng với tính khi ôn nhu của Út như Hân nói thì dù Út có qua khỏi cơn mê này cũng sẽ mất niềm tin vào cuộc sống, không bao giờ tìm được tương lai… Sẽ mãi mãi u buồn.

Từng lời nói của Quỳnh như từng mũi kim đâm thấu tim gan Hân. Nước mắt Hân tuôn tràn, không kềm lại được.

Quỳnh cũng khá ngạc nhiên. Là một nhà tâm lý học thực dụng lẽ nào Quỳnh không biết Hân cũng đã yêu Út. Quỳnh vừa thương người bạn học cũ vừa hy vọng chữa lành bệnh cho Út. Quỳnh nói:

-Này Hân, thôi đừng khóc nữa. Mình biết Hân cũng đã… thương Út rồi. Phải không? Vậy là Út thoát nguy rồi. Cậu yêu Út, cậu phải hi sinh một chút, để cứu Út. Kẻ gây ra chứng tâm bệnh nầy lại chính là người trị liệu tuyệt vời nhất. Còn nếu cậu chỉ biết lo riêng cho bản thân, cuộc đời Út sẽ bỏ đi, không còn gì nữa. Nghe không? Có Nghe kỹ không? Hân phải yêu chiều Út, lo lắng cho Út hết lòng và nếu cần… ôm ấp Út như người mẹ vậy. Như vậy chắc Út sẽ bình phục. Còn việc gì phải đến tất đến. Mình đã lập gia đình rồi mình hiểu rõ hơn… Mình chỉ có thể giúp chút ít thuốc men và lời khuyên nhủ thôi! Hân, có nghe mình nói không? Có hứa làm theo lời thầy thuốc chỉ hay không?

Hân nghe rõ từng lời của Quỳnh cũng như nghe rõ tiếng đập của trái tim mình. Không biết Hân đã yêu Út tự bao giờ… Hân lau nước mắt, nói:

-Quỳnh, mình cám ơn Quỳnh vô cùng. Xin cứu Út. Mình không ngờ tình trạng lại trầm trọng đến như vậy. Mình hứa sẽ làm những gì tốt đẹp nhất để cho Út được sống yên lành, nếu mình làm được. Mình mang ơn Quỳnh nhiều lắm.

-Thôi đi cô nương! Ân với nghĩa. Tốt hơn là cô nương nên làm như đã nói cho người… yêu nho nhỏ của cô đi. Mà nè, để hỏi lại cho kỹ một chút coi. Triệu chứng chung khi bắt đầu bệnh trầm cảm là… khóc, dù là con trai hay con gái. Con gái khóc nhiều hơn. Còn con trai, nếu không khóc thì… xuất tinh. Học trò trai đôi khi vào lớp thi, làm bài viết không được, hoặc làm không kịp giờ, thầy bảo nộp bài có cậu… thất vọng quá, mất hết khả năng nghĩ ngợi, ngồi trơ người và tự động bắn ra… vải, không kềm được. Thường con gái cảm thấy sung sướng quá, thất vọng quá, hay sợ hãi quá thì khóc. Còn con trai, ở trong các trường hợp nầy, không khóc thì tự động xuất tinh. Vậy đó. Hân có để ý thấy Út khóc từ khi ở sân tennis về hay không?

-Không. Không thấy Út khóc.

-Nếu không có thì lại đây coi… mình có nói đúng hay sai. Lại đây.

Quỳnh kéo Hân đứng lên, bước tới giường Út. Chỉ vào Út đang nằm ngủ thở đều, Quỳnh nói:

-Đó, mở ra coi đi…

-Coi, coi… cái gì?

-Ơ… Còn hỏi cơ cầu nữa. Mở ra đi

-Mở cái gì?

-Cái quần, cô nương à!

Thái Hân ngỡ ngàng nhìn Bác Sĩ Quỳnh.

-Đã bảo, cởi ra, xem. Còn nhìn tui làm gì. Của người ta thì người ta cởi, nếu để bác sĩ… làm là tính tiền gấp đôi đó, cô nương. Cởi đi!

Thái Hân mắc cỡ đỏ mặt. Rốt cục, cũng phải làm cái điều bác sĩ bảo mà từ nhỏ chí lớn chưa biết lần nào. Khi Hân vén áo pijama của Út lên, mở quần dài của Út xong, Hân định cởi thêm… quần lót nữa thì bị Quỳnh nắm lấy tay, giữ lại. Bác Sĩ Quỳnh nhìn bên ngoài quần lót, nói khá lớn:

-Thấy không? Nói có sai đâu. Dính đầy đó. Nhìn cho kỹ đi. Không khóc… thì xuất tinh mà. Còn cô nương muốn thấy rõ, thì kéo luôn cái quần đùi ra coi… nó… ra sao. Mình thì biết quá rồi. Thôi để mình gọi Dì Năm đem nước nóng và khăn vào cho cô nương làm bổn phận. Càng chu đáo càng tốt, nghen. Rồi mình đi về luôn đó. Chàng… sẽ hết ngủ ngay khi nàng… săn sóc đến mà. Có gì thì ngày mai cho mình biết. Mà nhớ, không phải săn sóc hôm nay không đâu. Biết đâu còn… dài dài sau này nữa! Bạn hứa rồi mà… Vợ già chồng trẻ là duyên, chồng già vợ trẻ là tiền với… kim cương. Nói xong Bác Sĩ Quỳnh cười hi hi và biến nhanh ra cửa.

May cho Hân, khi Bác Sĩ Quỳnh bước xuống lầu là lúc Út Dân chợt tỉnh, mở mắt nhìn Hân. Hân hoảng hồn thối lui, chạy vội ra khỏi cửa buồng…

**

Tôi đã chợt tỉnh cơn mê khi cô bác sĩ nói câu chót với Chị Ba và cười trước khi bước ra cửa. Nhưng vì biết không phải lúc cử động mặc dù tôi đã tỉnh hẳn, Nhưng cảm thấy Chị Ba còn đứng đó, tôi tội nghiệp, nên mở mắt ra nhìn Chị. Cũng biết Chị thẹn, nên bỏ chạy.

Rất may là cô bác sĩ và Chị Ba chưa nhìn thấy da thịt của tôi. Dù sao tôi cũng biết là đã làm khổ sở Chị Ba quá. Càng cảm thấy thương Chị nhiều. Tôi đã thấy Chị khóc và hiểu ít nhiều về câu nói bông đùa của bác sĩ, nên tự thấy là mình quê kệch và có cảm tưởng tội lỗi.

Tôi bước xuống giường khép cửa lại thay đồ. Sau đó tôi mở cửa đi thẳng ra nhà tắm tự giặt lấy bộ quần áo vô duyên đã làm tình làm tội mọi người. Cơn sốt nóng bỗng nhiên như biến mất như một bí hiểm đã được giải toả. Có lẽ vì những dòng nước mắt của Chị Ba. Những giọt lệ còn đọng trên đôi mắt đẹp buồn của Chị buổi đó sẽ mãi mãi lắng đọng trong tâm khảm tôi cả một đời. Tôi khổ biết chừng nào… Chị Ba ơi!

Khi tôi giặt giũ xong trở vào phòng, thấy Dì Năm thu dọn lại giường nệm cũng vừa xong. Dì chỉ vào ly sữa nóng và viên thuốc đặt trên bàn, bảo tôi:

-Cô Ba dặn Dì nhắc Út uống viên thuốc và ly sữa cho hết nóng. Một chút nữa Dì đem cháo trắng cho Út ăn rồi ngủ. Có bình Thủy nước nóng. Khuya thấy khát thì uống. Không được uống nước lạnh.

-Con uống sữa, uống thuốc. Nhưng Dì đừng nấu cháo, con không đói.

-Không được! Út phải ăn. Cô Ba bảo vậy. Dì nấu rồi.

Chị Ba nói là một mệnh lệnh. Tôi vẫn luôn luôn nghe lời Chị. Tôi hỏi Dì Năm:

-Chị Ba ngủ chưa, Dì Năm?

-Cô Ba đi nằm rồi. Cặp mắt đỏ hoe. Tội nghiệp, không biết bác sĩ nói gì mà Cô Ba khóc. Cô Ba thương Cậu còn hơn thương cô Út Hằng nữa đó. Bây giờ Cậu thấy đỡ chưa?

-Dạ, Con chỉ nóng sơ sơ thôi mà Dì Năm.

-Không phải sơ sơ đâu. Chập tối cái đầu nóng rang như lửa đốt. Cả nhà lo hoảng… Thôi, để Dì đem cháo lên. Ăn với đường thẻ nghen.

Đêm đó, tôi nằm trằn trọc không ngủ được. Tôi nhớ lại hình ảnh buổi chiều ở sân tennis Chị Ba đẹp lộng lẫy nói cười với các ông sĩ quan trẻ trung, mẫn thiệp và rắn rỏi trong những bộ quân phục đẹp đẽ. Tôi ghen tị vì những người nầy… nói chuyện với Chị Ba. Tôi nhớ lại, lúc nhỏ, mỗi lần nhức đầu hay sốt cảm, Chị Hai ban đêm thường bảo nằm ngủ cạnh Chị. Hơi ấm của Chị làm cho giấc ngủ của tôi êm ả và bệnh hoạn cũng hết mau. Bây giờ tôi nằm đây mà lạnh buốt cả tâm cang. Còn, Chị Ba… chắc mai mốt cũng sẽ có người yêu, rồi có chồng, như Chị Út Hằng mà thôi. Đâu phải như Chị Hai. Nhưng sao buổi tối khi bác sĩ khám bệnh cho mình Chị lại khóc, chẳng những Dì Năm biết, nói lại, mà chính mình cũng nhìn thấy mắt Chị đẫm lệ. Tại sao hở Chị Ba? Tưởng đêm dài không ngủ, nhưng tôi thiếp đi lúc nào không biế̀t.

Tôi chợt thức dậy khi nghe như có ai sờ lên trán. Mở mắt ra. Thấy Chị Ba đứng ở đầu giường, một bàn tay mát rượi còn đặt trên trán tôi. Chị hỏi:

-Út thấy khoẻ không? Chị nghe bớt nóng rồi. Chỉ còn hâm hấp thôi. Chị đã nói với Dì Năm nấu cháo cảm cho em. Ăn xong, đổ mồ hôi, rồi uống thêm một viên thuốc nữa là hết nóng.

Tiếng nói của Chị êm ái, thân thương. Tôi muốn giây phút đó kéo dài thêm, nhưng Dì Năm bưng cháo vào. Dì nói:

-Út, ngồi dậy đi rủa mặt rồi vô ăn cháo. Cháo thịt bầm nhỏ ướp với muối hành. Bỏ thêm tiêu vào. Ăn nóng, giải cảm hay lắm.

-Út, dậy đi em.

Chị Ba đỡ đầu cho tôi ngồi dậy. Nói với Dì Năm:

-Dì khuấy thêm ly sữa. À còn mấy viên thuốc đâu? Nhớ đem bình Thủy nước nóng lên

-Ở trong hộc tủ giữa bàn viết đó Cô Ba. Dì bước ra cửa.

Tôi bước xuống giường, Chị Ba còn nắm cánh tay, sợ tôi té. Người như sát lại với tôi. Một mùi thơm nhẹ thoảng từ Chị thấm vào tận tri giác tôi làm tôi cảm thấy ngây ngất và như kéo tôi về với thực tế.

-Để em đi một mình được rồi Chị Ba.

-Chắc không. Coi chừng nghe Út.

Chị buông tay tôi ra, đứng ở hành lang nhìn tôi đi ra bồn rửa mặt ở phòng đọc sách.

Không biết nhờ ăn cháo cảm, uống thuốc hay vì sự thương yêu chăm sóc của Chị Ba mà chỉ trong buổi sáng Chúa Nhật hôm sau cơn nóng biến đi đâu mất. Buổi sáng này Chị cũng không đi Nhà Thờ. Đó là lần duy nhất trong ba năm tôi sống trong ngôi biệt thư nầy Chị Ba và tôi không đi lễ. Điều nầy chứng tỏ bấy lâu nay hai chị em tôi đã sống thật êm ả trong tình yêu và ơn lành của Chúa. Tôi lớn lên trong một nguồn tình cảm dồi dào, có thể nói là hạnh phúc dưới sự dạy dỗ, che chở, yêu chìu của Chị Ba.

Tôi vẫn hằng nhớ mái ấm gia đình ở quê nhà, nhớ cha, mẹ các chị và các anh. Những người mà tôi thương yêu. Nhất là nhớ Mẹ và Chị Hai, đã nâng niu tôi từ tấm bé. Tôi vẫn nhớ Bội Mỹ, cô bạn học hàng xóm với những kỷ niệm cảm động như buổi tiễn đưa tôi đi Sài Gòn…
Nhưng sao mỗi lần về quê, nghỉ lễ, chưa mấy ngày tôi đã nôn nả muốn trở lên Sài Gòn, muốn trở lại ngay ngôi biệt thự riêng rẻ nầy. Hình như tôi cảm thấy rằng nơi đó là thiên đường của tôi. Vì ở đó tôi đã tôn thờ một thánh nữ.

Chị Ba ơi, tôi yêu Chị từ lần đầu tiên đứng ở ngoài cửa nhìn vào thấy Chị đẹp trong ngần như tượng ngọc trong bộ áo Thượng Hải đen với hai cánh tay trắng nuột ôm vai Chị Hai, với gương mặt trái soan đẹp tuyệt trần và đôi mắt đẫm lệ. Đôi mắt đen nầy với nhãn quang sâu thẳm, sau đó đã nhìn thấu tim óc tôi. Chị đối với tôi là một người người thầy, một người mẹ, một người chị, một người bạn và là… một người tình. Vì vậy, tôi vừa sợ, vừa kính nể, vừa vâng lời, vừa thân thiện lại vừa yêu Chị. Một bước không muốn rời một ngày không muốn vắng. Một đời muốn… sống bên Chị.

Tôi biết, tuy bên ngoài đã hết bệnh, nhưng mối tâm bệnh hẳn là chưa dứt hết đâu. Tôi thực sự muốn ôm Chị như đã từng ôm Mẹ tôi hay Chị Hai. Tôi không hề có ý nghĩ nào khác hơn. Nhưng tôi biết rằng tôi không thể lúc nào cũng gần Chị như gần Mẹ hay Chị Hai tôi. Tôi biết có một khoảng cách rất xa giữa Chị và tôi. Đó là điều làm tôi đau khổ. Không biết ai đã dạy cho tôi về cái khoảng cách gần như mặc nhiên được người của thế hệ chúng tôi, trăm người như một, công nhận là không được vượt qua. Họ chỉ chấp nhận một khoảng cách thật ngắn của tuổi tác trong lứa đôi:“gái lớn hơn hai, trai lớn một.” Mặc dù câu này mang nghĩa chính là trai gái lớn nhỏ hơn nhau như vậy là “hợp tuổi”, sẽ ăn ở với nhau hạnh phúc trọn đời. Nhưng cũng hàm nghĩa chú trọng về tuổi tác giữa lứa đôi. Khoảng cách trên bốn năm tuổi người con gái lớn hơn người con trai đã bị người đời dèm pha, dị nghị rồi. Huống hồ Chị Ba hơn tôi đến… mười bốn mười lăm tuổi.

Tôi tự hỏi, tại sao một ông lão bảy mươi có thể cưới một cô gái mười sáu hay mười bảy làm thiếp, làm hầu non, người ta không chê cười mà tôi đã đọc được trong các tác phẩm của các nhà văn tân học ngoài Bắc. Tại sao trước đó không bao lâu, ngay ở thị trấn quê tôi, một cậu bạn học mười tuổi của tôi đã được cha mẹ cưới cho một cô vợ hai mươi tuổi mà vẫn được mọi người chấp nhận. Tôi biết đó là tục lệ tảo-hôn. Nhưng tôi, giả thử tôi đề nghị cưới Chị Ba làm vợ… chưa chắc một ai trong gia đình tôi chấp nhận và chắc chắn mọi người sẽ cười nhạo báng tôi. Tại sao?

Tôi biết tôi đã yêu Chị Ba, tiếc rằng tôi không đủ chữ để làm thơ. Tôi cũng có cái mẫn cảm biết rằng Chị Ba cũng đã yêu tôi và cũng mang tâm trạng về khoảng cách tuổi tác quá xa của nhau, như tôi. Tôi biết tự thâm tâm, tôi muốn hôn lên đôi mắt buồn thầm lặng của Chị và nói, “Anh yêu Em”. Tôi cũng biết Chị Ba cũng muốn áp má vào ngực tôi và nói, “Em yêu Anh”. Hai tiếng gọi thiết tha nầy như tiếng vọng lan xa vô tận vào tâm hồn của Hân và của tôi, nhưng đã bị ngăn cách bởi chiều dài giữa hai bờ vực sâu của… thời gian. Chúng tôi gần nhau trong gang tấc mà tưởng chừng như cách xa nhau ngàn trùng. Chúng tôi đã trở thành thứ diễn viên hạng nhất trong tấn trò đời do con người bày ra: “Chị” và “Em”. Nhưng hai trái tim nầy liệu có vứt bỏ được không? Khi hai khối óc đã bị quán tính của thói tục luôn luôn lôi đi là phải đối xữ với nhau như vậy? Phải thật đúng vai vế của xã hội. Mà thật là giả dối biết mấy!

Đến bao giờ Hân và tôi mới vứt bỏ được lớp diễn viên giả dối nầy đây? Tôi đã hết muốn làm một diễn viên hạng nhất rồi. Chỉ muốn làm một con người sống chân thật với lòng mình, với tình cảm của mình. Yêu thì cứ nói là tôi yêu. Tại sao lại sợ mọi người cười chê, biếm nhẽ. Buồn thay tôi chưa vứt được cái vỏ ốc của một thư sinh kém cỏi, yếu mềm. Có lẽ Hân cũng vậy, chưa vứt bỏ được cái vỏ ốc của một giáo sư đẹp đẽ và khả trọng trong con mắt mọi người!

Chúa ơi! Xin cho tôi mang chiếc thánh giá nặng nề của Chúa và chịu đóng đinh… nếu Chúa cho rằng con yêu Thái Hân là tội lỗi? Chúng con yêu nhau là tội lỗi! Xin thắp sáng tâm linh con để con được biết ý Chúa là con nên theo mọi người hay nên theo tiếng gọi của trái tim con mà hành xử.

Có lẽ con nên tự biết mình mà chịu làm kẻ thua cuộc mà thôi. Chúa ôi!

Buổi chiều Chúa Nhật đó, khi ngồi vào bàn cơm, tôi ăn rất ít, mặc dù tôi không còn nóng sốt nữa. Chị Ba và Dì Năm ái ngại nhìn tôi. Chị bảo:

-Út, nếu em ăn cơm chưa ngon miệng thì để nhờ Dì Năm nấu cháo trắng cho em nghen?

-Thôi, Chị Ba. Em không muốn ăn gì hết. Chỉ muốn nằm thôi.

-Vậy, em lên nằm đi. Mai, chắc phải đi bác sĩ coi sao?

Tôi lên phòng. Lòng buồn rã rượi. Tôi phó mặc, muốn buông trôi tất cả. Chỉ một lúc sau đã thấy Chị Ba gõ cửa phòng, rồi bước vào. Theo sau là Dì Năm bưng khay có một ly sữa và một cái dĩa với mấy khoanh bánh mì nướng. Dì Năm bước ra. Tôi ngồi dậy. Chị Ba nói:

-Út, em ăn bánh mì chấm sữa cho chặt bụng, mau lại sức. Để bụng đói làm sao ngủ được. Chìu lòng Chị, tôi đến bàn viết, ngồi xuống ghế. Chị cũng kéo ghế ngồi bên cạnh bàn. Tôi cầm một khoanh bánh mì lên chấm vào sữa, chưa ăn được, bỗng nhiên nước mắt tuôn trào… và nghẹn ngào nói:

-Chị Ba, Em muốn về Cà Mau…

Chị thảng thốt, đứng lên, hỏi:

-Út, em nói gì?.. Tại sao em khóc?..

Chị tiến đến sau lưng tôi, ôm lấy đầu tôi vào lòng…

-Sao? Em làm sao vậy, Út ơi?!. Em nói gì vậy hở Út? Em bỏ Chị mà về Cà Mau sao? Em bỏ Chị mà về quê sao, hở Út?!.

Bất ngờ, Chị buông tôi ra và chạy ra cửa. Tôi đứng dậy, bước theo ra hành lang. Đã thấy Chị vào phòng của Chị và đóng cửa lại. Chị khóc.
Đêm đó, tôi đứng ở cửa buồng ngủ của Chị Ba. Nghe tiếng nức nở của Chị, nhưng không dám bước vào. Tôi đứng đó đến khuya mới trở về phòng. Không nhớ mình suy nghĩ gì…

**

Đây là lần đầu tiên Thái Hân bước chân lên chiếc phà ở bến bắc trên sông Tiền Giang. Chiếc phà đầy xe và người, vượt sông nước. Sóng miên man chảy xuôi trên sông rộng ra miền cửa biển mù khơi. Lòng Hân như sóng vỗ, gợn những nỗi buồn quá khứ và hiện tại như những mảng bèo to, nhỏ, nổi trôi trên mặt nước mênh mông. Bồng bềnh. Út Dân đứng bên cạnh, nhưng bây giờ hình như cách xa Hân như đôi bờ của trường giang. Út về quê lần nầy là do Út quyết định. Có nghĩa là vĩnh viễn Hân sẽ mất Út. Út Dân muốn vứt bỏ học vấn, vứt bỏ một cuộc tình, vứt bỏ cả cuộc đời… thì còn gì nữa mà mong.

Hân không biết rằng, Út thất vọng như Bác Sĩ Quỳnh nói, hay chính Hân thất vọng. Và thất tình. Bao năm côi cút, bao năm thiếu thốn tình thương với biết bao nỗi buồn vây quanh, từng phút, từng giây, từng tháng, từng ngày đã làm Hân mù dại, cô quạnh, trong cuộc sống trước khi Dân đến.

Dân đến, nhỏ bé, nhưng sáng chói như vầng hào quang, mang ánh sáng chảy theo từng ti huyết quản thâm sâu, làm cho da thịt Hân rạng rỡ, cõi lòng Hân sáng sủa, tâm hồn Hân sảng khoái.

Ba năm, ba năm qua, Hân đã vượt được con đường từ địa ngục đến thiên đàng. Hân biết nhớ nhung là gì, thương yêu là gì không như trước kia lòng Hân như gỗ đá, tưởng rồi sẽ trơ chết theo thời gian. Ai ngờ gỗ đá cũng đã mềm chỉ vì một tia sáng nhỏ của tình yêu soi rọi vào. Lòng dạ Hân đã mềm mại trở lại như dòng nước suối trong, như khí trời tươi mát buổi tinh sương, như ánh trăng tinh khiết đêm tĩnh lặng. Cậu trai bé nhỏ nầy đã tạo cho Hân một tình yêu rộng lớn và niềm tin vô bờ vào cuộc sống.

Ai ngờ… cuộc đời dễ biến thiêng như thế. Dân đến, rồi Dân đi. Đi về quê nghĩa là đi vào… bóng tối. Thứ bóng tối vô hình đã từng phủ lấp cuộc sống của Hân trước đây. Và Hân sẽ quay trở lại lối mòn năm cũ, trở lại cõi thâm u. Hân sẽ bước đi với chiếc bóng của Dân in hằn trong tim óc, nhớ nhung và đau khổ. Ai thất vọng và thất tình đây hở Bác Sĩ Quỳnh? Quỳnh ơi! Dân ơi!

Phà đã cập bến, mà lòng Hân còn trôi trên sóng nước… Sao Út Dân đứng vô tình vậy hở Dân?

Giáo sư Thái Hân đâu biết rằng, lần trở về nầy, cậu con trai vừa thành niên kia đã coi các dòng Sông Tiền, Sông Hậu như những dãi Ngân Hà của Ngưu Lang, Chức Nữ… Và không mong có mùa ô thước bắt lại nhịp cầu… Một gã con trai tỉnh lẻ không thể nào sánh vai cùng một thục nữ cao sang. Hơn nữa người đó là bậc thầy của cậu con trai chất phát nầy. Một gã mục đồng từ bản chất, mới lớn lên…

Xe đến bến Cà Mau lúc nào không hay. Chiếc xe Thiên Tân định mệnh đã đưa Thái Hân đến một khung trời mới. Đưa Út Dân vào một khung trời mới, không phải là trở về quê đâu… Trước khi đến đây, Thái Hân đã không yên lòng khi để một mình Út trở về quê, vì biết rõ tinh thần Út không ổn định. Hân nghĩ rằng đó bổn phận cuối cùng của Hân đối với Út và làm tròn trách nhiệm của Thủy ủy thác là… lo lắng vào bảo vệ cho Út.

Hân đã đưa Út về quê, hay đưa Út về đâu đây? Hân tự hỏi.

Cả nhà mừng rỡ khi thấy Út trở về, lại có sự viếng thăm bất ngờ của Thái Hân. Đến đổi mẹ Út, tâm thần bất thường cũng như tĩnh hẳn, ôm Út vào lòng khóc mướt, lại ngỡ ngàng nhìn người khách lạ. Thủy mừng rỡ ôm Hân nhưng nhìn vào mắt Hân như dò hỏi: “Có chuyện gì vậy Hân?”.
Chị Bảy của Út, Lệ Chi, dường như cũng ngạc nhiên về vẻ đẹp sang trọng và nước da trắng ngọc ngà của Cô Giáo sư, trong bộ áo quần bà ba lãnh đen. Nhất là nụ cười có duyên với hàm răng trắng đều trong đôi môi hồng tươi thắm. Chi có cảm tình ngay với người bạn của Chị Hai, đến ôm Hân, nói:

-“Thưa Chị Ba.”

Hân ôm hôn Lệ Chi, cười, đáp:

-Chúa ơi, em gái lớn đại, đẹp hơn Chị Hai nữa. Em đã đi dạy học chưa?

-Dạ, em đã đi dạy tiểu học gần ba năm rồi. Chi trả lời.

-Vậy hả. Có thích dạy học không?

Hân đến ôm hôn Mẹ Thủy. Bà để yên, hỏi:

-Con là ai? Phải học trò học lớp gia chánh của cô không?

Hân biết rằng tâm trí của bà mẹ các cô gái đẹp nhà này… chưa khôi phục. Tự nhiên một cảm giác bất an làm Hân ái náy cho Út.

-Dạ, con là Hân… Bạn của Thủy.

Miệng trả lời, nhưng mắt Hân đang tìm Út. Út đã biến đi tự lúc nào rồi…

Căn nhà ngói ba gian, cột tròn, vách ván, nền gạch tàu nầy nói lên sự suy sụp của gia đình ba má Thủy sau ngày hồi cư cho đến lúc đó. Hân cảm thấy buồn lắm. Nay, nếu để Út quay trở về đây thì chẳng khác nào Hân đã tiếp tay với chiến tranh tiêu diệt hẳn niềm tin của gia đình bác Một Truyền, một bạn thân của ba Hân từ thời hai người còn ở bên Pháp. Cũng có thể, chính Hân sẽ huỷ diệt cuộc đời của Út như Bác Sĩ Quỳnh đã nói với Hân: “Còn nếu cậu chỉ biết lo riêng cho bản thân, thì cuộc đời Út sẽ bỏ đi, không còn gì nữa…”

-Không, Chúa ôi! Con không ích kỷ. Nhưng con phải làm sao đây? Con yêu Út. Con không thể tự dối lòng con.

Đêm đó, trên chiếc băng ở trước sân nhà Thủy, lần đầu tiên Hân đã nói dối với Thủy. Chỉ nói Út bệnh, nóng, cảm sốt và buồn, xin về Cà Mau. Không muốn học nữa. Không biết lý do tại sao… Thủy thì thắc mắc, hỏi Hân, mà cũng như tự hỏi:

-Hay, Út nhớ Bội Mỹ rồi? Nó hết muốn học. Chắc là muốn cưới vợ chớ gì?

-Bội Mỹ nào vậy, Thủy? Hân hỏi.

-Là bạn học của Út hồi ở Tiểu học. Nhà Mỹ ở ngay bên cạnh đây. Nghe Út về, Mỹ qua bây giờ. Nó thương Út lâu rồi.

Thủy chưa dứt lời, Hân đã nhìn thấy một cô gái dáng dấp thanh tú, mở cửa hàng rào, nhẹ nhàng trước bước vào sân. Thủy cũng thấy, nên nói vói ra:

-Mỹ, vào đây! Có khách quý nè em. Vào chào cô giáo sư đi em.

Cô gái đi vào, đến trước mặt Hân, khoanh tay, cúi đầu chào:

-Thưa Cô.

-Chào em. Tôi thứ Ba. Em gọi tôi là Chị Ba, được rồi. Tôi là bạn học của Thủy.

-Dạ. Chị Ba…

Tiếng nói của cô gái nghe thanh tao làm Hân càng chú ý nhìn kỹ. Cô gái chừng mười bảy, mười tám. Gương mặt đẹp rạng rỡ. Dáng người mảnh mai. Cử chỉ đoan trang. Chợt, lòng Hân se buồn. Phải rồi, Út buồn, muốn về quê, chắc vì tương tư cô bạn gái đẹp nầy rồi… Hương đồng cỏ nội mà. Không bén hơi sao được!

-Em ngồi xuống đây, Mỹ! Út nó mới từ Sai-Gòn về với Chị Ba đó. Để Chị vào gọi nó ra.

Thái Hân và Bội Mỹ ngồi lại. Mỹ đã nhìn rõ Cô Giáo sư. Cô nói là bạn của Chị Hai, nghĩa là trên ba mươi, mà sao còn trẻ trung như con gái thanh tân, gương mặt quiy1 phái, đẹp, trắng mượt mà dưới ánh trăng đêm.

Hân hỏi:

-Em còn đi học không?

-Dạ, em nghỉ học mấy năm rồi.

-Em thân với Út lắm, phải không?

-Dạ, từ hồi còn nhỏ…

-Cho đến bây giờ… Phải không em?

-Dạ.

-Chị biết mà! Mà nầy, nói cho Chị nghe, Út thì… sao?

-Dạ, em không biết…

-Sao vậy?

-Dạ, tại ảnh ít nói quá!

-Cũng phải. Út ít nói thiệt. Thương, ghét cũng không ai biết!

-Chị Ba… Anh Út lên Sài Gòn học, phải ở nhà Chị Ba không? Bội Mỹ hỏi.

-Phải em. Ba năm rồi… em.

Sau đó, hai người không biết phải nói gì với nhau nữa. Nhưng hình như cả hai đều có chung một ý nghĩ về Út Dân.

Thái Hân tự hói,“Út… thương ai đây? Cô gái đẹp mỹ miều nầy hay thương mình? Họ xứng đôi quá mà…”

Hân cũng biết Bội Mỹ vẫn lén nhìn mình với đôi mắt dò hỏi…

May quá, Thủy trở ra phá tan bầu không khí im lặng, bảo rằng Út… mệt, đi ngủ rồi.

Buổi sáng ngày hôm sau, ông Một Truyền về nhà sau khi đã lên Bạc Liêu từ hai hôm trước để đón, đem được hai bè gỗ súc về cho trại cưa của ông. Hai bè gỗ nầy cùng nhiều bè gỗ khác phải qua một hành trình khá xa từ Bến Súc, Thủ Giồng Một, theo đường sông về Bạc-Liêu. Ở đó, có một ông chủ vựa gỗ súc lớn, bán sĩ lại hai bè cho ông Một kéo về Cà Mau. Đem gỗ quí về đóng bàn ghế, giá rất cao. Nhưng công khó nhọc cũng nhiều. Tuổi đã về già mà Ông không được an nhàn.

Về đến nhà, ông ngạc nhiên thấy một cô gái lạ đang ngồi nói chuyện với vợ và con gái lớn.

Thủy nói nhỏ với Hân: -“Ba mình về đó.”

Hân lật đật đứng lên:

-Thưa Bác. Con là Hân, bạn học của Thủy ở Sài Gòn hồi đó.

-Hân, Hân… A, Bác nhớ rồi. Cô Ba giáo sư, con Anh Đốc Phủ. Con đi đường xa có mệt không? Xuống hồi nào vậy Con?

-Dạ, thưa chiều hôm qua.

-Tội nghiệp. Đường xa nguy hiểm lắm mà đi làm chi cho nhọc nhằn vậy Con!

-Dạ. Con đi cho biết. Đường quan lộ thấy được tu bổ khá nhiều rồi Bác.

Ông biết có điều gì đó, nên cô giáo sư, con gái người bạn đã quá cố của ông, mới lặn lội từ Sài Gòn xuống Cà Mau. Nhưng không tiện hỏi.
Rồi thì chuyện Út tự động muốn bỏ học về quê ông cũng được Thủy trình cho Ông biết.

Sau buổi cơm chiều, trời tối, nhà vừa lên đèn, Hân đang ở dưới nhà sau với Thủy, được mời lên nhà trên. Bác trai có có uy của quan võ, làm Hân cũng thấy sợ sợ. Nhưng Bác nhỏ nhẹ bảo Cô Giáo ngồi xuống chiếc ghế sa lông cạnh Bác. Đối diện với ông là Bác gái. Út khoanh tay đứng sau lưng chiếc ghế sa-lon của Bác gái. Thủy cũng ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh mẹ. Lệ Chi bưng bình nước trà lên đặt giữa bàn. Cô vén khéo rót nước ra bốn cái tách trên bốn cái dĩa nhỏ, đặt trước mặt ba má và hai chị, rồi ngồi lên mép bộ ván gỏ gần đó.

Trước tiên, bác Một trai nói với Hân:

-Bác cám ơn Con đùm bọc, dạy dỗ thằng Út mấy năm qua. Bác bận sinh kế, không lo lắng đầy đũ cho con Bác, cũng không dạy dỗ nó cho đến nơi đến chốn, nên nó tự tung tự tác. Muốn học thì học, muốn nghỉ học cũng không trình báo cho ai biết. Bác vô phước sinh năm đứa con trai, hai đứa chết, còn lại ba, hư hỏng cả ba. Nếu không nhờ Con và Chị Hai nó bảo bọc, thì bây giờ thằng Út ra sao đây? Bác cám ơn Con. Bác tội nghiệp cho Con và thương tiếc cho Anh Chị Đốc Phủ và Anh hai Con đã mất sớm. Em gái Con cũng lập gia đình. Con ở lại một mình trong căn nhà lớn, hiu quạnh như vậy, đáng lẽ thằng Út phải biết điều, hụ hợ giúp đỡ Con việc này việc nọ cho Con đỡ buồn. Không ngờ nó lại làm phiền lòng Con. Muốn đến là đến, muốn đi là đi. Không coi ai ra gì. Bác xin lỗi Con, thay cho nó.

Không kịp để Hân nói lời nào, Bác trai quay sang, ngó thẳng vào mắt Út, hỏi:

-Có phảỉ vậy không con, hay Ba nói oan cho con?

-Dạ…

-Dạ. Dạ là sao hở con? Là sớm đầu, tối đánh. Là quên nghĩa, quên tình. Là quên cha, quên mẹ. Là quên nề nếp của gia đình. Là muốn trở thành tên Judah phản Chúa. Phải không con?

Cả ba cô gái nghe những lởi nầy, đều khóc. Bác gái thấy mọi người khóc, cũng khóc theo. Út quì xuống, ôm chân mẹ, nước mắt tuôn tràn. Nói trong nghẹn ngào:

-Con xin lỗi Ba,.. xin lỗi Má. Em xin lỗi… Chị Ba.

Thái Hân, cầm nước mắt, nói với Bác trai:

-Thưa Bác, không phải Út như vậy đâu. Út đang bệnh, buồn nhớ nhà, nên mới xin về. Con kềm lòng không được, nên mới đưa Út về. Lỗi là ở Con. Thôi Con xin Bác bớt giận. Xin Bác cho Con đem Út lên Sài Gòn, đi học lại.

-Đó, Út, con thấy chưa. Người ăn ở nhân hậu như vậy, mà con nở nào hành hạ. Bác cám ơn Con, nghen Hân. Để Bác hỏi nó lại coi.

-Út, bây giờ con tính sao? Muốn nghỉ học ở nhà làm chân một thầy ký ở một quận hẻo lánh như anh Năm con, hay một tên thợ cưa trong xưởng của Ba. Vậy thì cứ bỏ học, cứ ở nhà. Ba cưới vợ cho. Hay là con muốn trở lên Sài Gòn tiếp tục học cho nên danh phận với người ta, cho rạng rỡ gia đình. Ba dự tính một vài năm nữa sẽ cho con du học ở Pháp. Bây giờ con chọn đi.

-Dạ…

-Dạ. Dạ là sao? Bác hỏi Út.

-Dạ… con muốn đi học nữa, để làm vui lòng Ba, Má.

-Không, Ba không ép buộc con đâu? Con suy nghĩ kỹ đi.

Bác xoay qua, nói với Thủy:

-Ngày mai, con đưa Cô Ba… và Út lên Sài Gòn, nếu nó muốn đi học nữa. Còn nó không đi thì thôi, con cũng phải đưa Cô Ba về, không để đi một mình. Con quen đường xá rồi… Cô Ba thì không để đi đường xa một mình được đâu.

Quyết định của Bác chỉ là những lời gia huấn theo đạo lý của mỗi gia đình Việt Nam thuở đó. Bác để cho Út tự lựa chọn. Nhưng không có sự lựa chọn nào khác hơn. Út phải trở lên Sài Gòn học. Hay đó là một thứ quyết định của định mệnh mà Chúa đã an bài, làm thay đổi cả cuộc đời của Út và của Thái Hân. Thay đổi hẳn tình cảm và cuộc đời cô gái nhỏ ở thị trấn xa xôi kia. Bến xưa nước chảy qua cầu. Thuyền ra cửa biển để sầu cho ai?

**

Tôi biết lần lên Sài Gòn nầy sẽ có những thay đổi nào đó mà tôi không thể hình dung được. Tôi cảm thấy thương ba tôi. Buổi tối hôm ba dạy cho bài học về ân nghĩa tôi nhớ lại mà thấm thía. Hình như ông đã trút tận đáy lòng nỗi thất bại của ông trong cuộc đời, không phải vì ông khổ thân, nhưng vì ông nhọc trí. Tôi đã nhìn thấy ông tuy vẫn tráng kiện ở tuổi gần sáu mươi, nhưng những nếp nhăn trên trán, nỗi buồn trong ánh mắt, và tiếng nói ẩn chìm niềm đau, nỗi khổ sâu xa về gia đình, nhất là về các đứa con trai của ông. Đó lần đầu tiên mà tôi nhận thấy.

Có lẽ ông biết rõ mọi chuyện xảy ra cho gia đình và cho các con ông là một thứ định mệnh không thể khác hơn được, không thể tránh khỏi, như rất nhiều gia đình khác trong thị trấn. Nhiều người có danh phận chẳng những mất tất cả sự nghiệp mà còn mất cả những người thương yêu nhất, mất cha, mất mẹ, mất vợ, mất con, mất anh mất em. Nhiều người cũng đã mất mạng vì Việt Minh gán cho tội “Việt Gian” cho đi “mò tôm” ở sông rạch Cà Mau. Gia đình tan nát.

Tất cả những sự tàn phá, huỷ diệt nầy là những thứ luật lệ bất thành văn của chiến tranh.

Điều tin tưởng cuối cùng hay niềm khát vọng cuối cùng của đời ông là chu toàn, giữ gìn… những gì còn lại trong đời. Bịnh tình của Mẹ tôi là niềm đau lớn. Nỗi đau bởi những đứa con không nên người -như ông nói- về các anh tôi vẫn là niềm đau lớn hơn. Ông đặt cả niềm hi vọng của gia đình vào tôi.

Tôi biết các anh tôi không có lỗi lầm tự mình gây ra, để tự mình muốn huỷ bỏ cuộc đời còn lại… Lỗi là ở chiến tranh cả. Các anh tôi mất niềm tin vì những vết thương của chiến tranh đã thành những vết hằn trong tâm não.

Chị Hai tôi thường nói cho tôi nghe về nỗi đau riêng của Anh Năm và Anh Sáu tôi. Chị chỉ mong những gì đã mất mát trong chiến tranh sẽ được chiến tranh đền bù…

Riêng tôi, tôi tự hỏi sẽ phải làm gì đây cho gia đình và bản thân? Tôi đã thành niên, không còn ở cái tuổi ngây thơ như mấy năm trước, như khi mới lên Sài Gòn lần đầu. Chuyện tôi phải trở về với gia đình cha mẹ tôi sau này là lẽ đương nhiên. Nhưng chuyện… của Bội Mỹ, đáng lẽ tôi phải nói gì đó với người bạn học thân nhất nầy của tôi. Nhưng tôi đã im lìm bước đi lần nầy, không một lời giã từ. Tôi dường như hiểu được nỗi buồn, nỗi xót xa trong lòng cô, vì tôi đã… biết yêu và đã đau khổ vì yêu… Chắc Bội Mỹ cũng đau khổ và xót xa như tôi thôi!
Hai ngày liền khi trở về lần nầy, Bội Mỹ đã mấy lần muốn gặp tôi. Tôi nằm mãi trong buồng không ra gặp. Quả thật lòng tôi rất sợ phải gặp Bội Mỹ khi có mặt của… Chị Ba.

Rõ ràng mà. Rõ ràng tôi đã yêu Chị Ba, và sợ Chị buồn khổ khi tôi gặp gỡ Mỹ. Tôi thà phụ lòng Bội Mỹ hơn là làm buồn lòng Chị Ba… Vậy mà, tại làm sao, trước đó, tôi đã quyệt định rời… xa Chị vĩnh viễn, đi về quê. Thì ra, tôi tưởng rằng tôi có thể xa Chị Ba, ôm lấy nỗi đau buồn, nỗi thất vọng, thất tình mà quay về với cuộc sống của một người biết yên phận trong một thị trấn nhỏ. Nhưng khi nghe Chị Ba nói với ba tôi là sẽ đem tôi trở lên Sài Gòn, đi học lại thì… bao nổi u buồn như tan biến hết. Lòng tôi như mở cờ. Tôi thật sự chỉ thương hại cho Bội Mỹ, vì thật sự tôi chưa hề yêu người bạn học rất thân thiết nầy.

Tình yêu của Bội Mỹ là tình yêu một chiều. Còn tình yêu của tôi và… Chị Ba là thứ tình yêu tương ứng như đôi bờ của một dòng suối thượng nguồn. Nếu thiếu một bờ thì dòng nước chảy loang. Đâu còn là dòng suối nữa. Nếu chúng tôi thiếu nhau thì mỗi người sẽ trở thành một mảng đất đá khô cằn rời rã dưới ánh sáng mặt trời… vì thiếu tình yêu như thiếu nguồn nước trong mà chúng tôi be bờ nuôi dưỡng từ ba năm qua.
Thôi thì cứ để cho… nước chảy đá mòn. Tôi sẽ phải đóng tiếp vai trò của tôi. Tôi biết rằng Chị Ba cũng vậy, để tránh những phức tạp có thể gây ra cho gia đình tôi, khi Chị đã mặc nhiên coi như người đỡ đầu của tôi trước mặt Ba tôi. Tôi cũng biết rằng tôi đã bỏ quên sau lưng một tấm tình u hoài của một chiếc bóng nhỏ vẫn cố bám sát với bóng hình tôi in trên con đường cũ của nền đất phù sa những năm về trước.

Con đường duy nhất mà tôi phải lựa chọn là tiến lên phía trước. Tôi không biết bước tiến nầy sẽ đưa tôi đến đâu. Nhưng tôi không thể thối lui được nữa. Bước thối lui nhất định sẽ làm sụp đổ niềm tin của gia đình, nhất là của Ba tôi. Điều đó nếu xãy ra thì chính tôi sẽ là tội nhân của Chuá. Tội bất hiếu là trọng tội bậc nhất của niềm tin Thiên Chúa. Tôi sẽ mở mắt nhìn về phía trước. Tương lai ở phía trước mặt chớ không phải ở sau lưng. Chỉ xin Ơn Trên đừng để mắt tôi bị mù loà, như Chị Hai tôi từng cảnh cáo tôi: -“Ờ, vậy mà không phải dễ đâu em.” Khi tôi nói… “làm gì cũng phải suy nghĩ…” Bài học về ý thức buổi đó Chị dạy tôi còn văng vẳng bên tai. Sau nầy tôi mới biết rằng tôi đã bước vào đời, buổi đó, với đôi mắt mở rộng… của một người mù. Nhưng tôi không hối hận.

Tôi còn nhớ, trên chiếc phà buổi trưa trên sông Hậu, tôi nhìn Chị Hai và… Chị Ba đứng phía trước nói cười vui vẻ, bỗng nhiên tôi thấy Chị Ba nhìn ra cửa biển xa. Tôi nhìn theo, thấy một chiếc tàu thương thuyền lớn, tỏa khói trắng lên cao, sắp ra mù khơi dưới ánh sáng nhặp nhằng của trời, của nước. Chị quay lại nhìn tôi, có vẽ buồn. Rồi mắt Chị cũng nhìn vào những chiếc giang đỉnh bọc sắt của quân đội chạy xa xa cận ven bờ sông, đôi mắt đẹp đó như bối rối, lo âu.

Tôi hiểu chiều sâu của tầm nhìn kín đáo đó, mà Chị Hai hình như cũng biết. Tôi nghe Chị Hai nói:

-Chúa ơi, thời buổi nầy mà Ba mình còn nghĩ đến chuyện cho Út đi du học ở Pháp. Mấy năm trước, trên sông nầy đâu có nhiều tàu chiến như năm nay. Giặc giã nổi lên khắp nơi rồi. Mình đọc báo thấy Pháp và Việt Minh đánh lớn ở ngoài Bắc.

Tôi cũng nghe rõ Chị Ba trả lời:

-Phải rồi, báo ở Pháp mới tháng Năm vừa qua cũng đăng tin tức, Việt Minh đánh xuống đồng bằng sông Hồng. Ông tướng De Lâtre dội bom lửa, bộ đội của Tướng Giáp chết cả mấy ngàn người. Nhưng Việt Minh đã chiếm hết vùng Mạn Ngược Bắc Việt lên tận biên giới Việt Trung. Chiến tranh lớn rồi, không còn như hồi năm 1945 nữa đâu! Ông Tướng Pháp nầy còn yêu cầu Quốc Trưởng Bảo Đại của mình động viên thanh niên đi học sĩ quan, hạ sĩ quan và gia nhập Quân đội Quốc gia nữa đó.

-Phải rồi, mấy cậu thanh niên dòng họ có tiếng ở Bạc-Liêu, bạn của thằng Năm, em mình, cũng tình nguyện đi học Sĩ quan ở Đà-Lạt, không biết ra trường hay chưa. Nó cũng xin ông già đi khóa đó, nhưng Ba mình la cho một trận. Thế nào nó cũng đi mà thôi, giữ làm sao được? Mà nầy Hân, mình giao thằng Út cho mi. Mi phải coi chừng, đừng để nó vô lính nghen…

Tôi không ngờ các bà chị nầy lại thông suốt tình hình chiến sự như vậy. Tôi quên rằng họ thuộc giới trí thức của thời buổi đó. Chị Ba còn đọc báo Pháp xuất bản ở Sài Gòn lẫn ở Paris. Báo Việt cũng đọc hằng ngày. Chỉ có mình tôi là dốt thôi. Không biết gì về thời cuộc. Tôi biết rằng mình phải học, học nhiều hơn nữa. Đừng có suy nghĩ vẩn vơ.

Lên Sài Gòn, Chị Ba hỏi tôi còn muốn tham dự cúp vô địch học sinh ở Vũng Tàu trong đội của Trường La-San nữa hay không. Giải chung kết sẽ mở vào đầu tháng Bảy dương lịch, như lịch trình đã ấn định. Tôi xin tiếp tục.

Chị bảo tôi rủ Vinh bạn học La-San, cùng vào vòng chung kết với tôi ở Vũng Tàu, và mời thầy huấn luyện viên quần vợt của Trường đi dợt chung với tôi ở sân Câu Lạc Bộ Cercle Sportif vào buổi sáng trong gần hai tuần trước khi đi Vũng Tàu. Có ngày Chị theo coi. Có ngày không. Vinh và ông thầy huấn luyện viên cứ tưởng Chị Ba là chị ruột của tôi.

Vào vòng chung kết ở Vũng Tàu gồm có ba đội: Đội Pétrus Ký có ba tay vợt. Đội của trường Trung học Pháp Chasseloup Laubat cũng có ba. Đội La-San Taberd có hai, Vinh và tôi. Hai đứa tôi vừa đánh riêng giải đơn, vừa đánh chung ở giải đôi. Tám tay vợt nầy đã vượt qua vòng loại gồm hơn hai mươi cậu từ trước mùa Hè ở Sài Gòn rồi mới được chọn ra thi đấu ở Vũng Tàu. Đây cũng là dịp nghỉ hè chung của các trường trung học Sài Gòn.

Phần lớn gia đình của các tay vợt nầy đều có người theo yểm trợ cho con em mình mặc dù các đội đều có ban hướng dẫn gồm các thầy và huấn luyện viên. Riêng Trường La-San còn có thêm hơn mười gia đình học sinh các lớp ghi danh cùng đi nghỉ hè chung ở Vũng Tàu do Trường tổ chức. Có xe đưa rước do Trường mướn. Vinh cũng có gia đình theo. Riêng tôi thì… Chị Ba cùng đi. Chị nói, từ nhỏ Chị chưa từng tắm biển. Đi cho biết mùi biển.

Mỗi gia đình tùy theo số người Trường sẽ phân bố số phòng ngủ thích nghi trong một khách sạn của một người chủ Pháp, trên một ngọn đồi ở Bãi Trước, Vũng Tàu, dành cho du khách hạng sang. Mỗi phòng đều có phòng tiêu, phòng tắm riêng. Phòng của Chị Ba và tôi có hai giường ngủ nhỏ cánh nhau chừng bốn năm bước. Mỗi cạnh đầu giường có một tủ nhỏ thấp, có ngăn kéo mà người Pháp gọi là table de nuit, với đèn ngủ. Một bộ bàn ghế sa-lon, tủ kiếng, quạt trần, sang như… Tây. Khách sạn cũng phục vụ cả việc ăn uống của khách.

Khách muốn ăn sáng, trưa, tối hay bất cứ lúc nào cũng được ở phòng ăn chung. Kể cả các thứ rượu chát và rượu mạnh hay nước giải khát. Bồi phòng cũng đem thức ăn thức uống đến tận phòng ngủ, nếu khách muốn. Tự khách trả tiền riêng. Trường không phụ trách việc ăn uống của thân nhân các gia đình đi nghỉ mát ở chung khách sạn. Tất nhiên các gia đình đóng cho Ban Tổ chức Nghỉ mát của Trường khoản tiền mướn phòng. Không kể một khoản tiền khác cho việc xe cộ và du ngoạn các thắng cảnh trong những buổi không có các trận đấu chung kết của chúng tôi.

Các trận đánh đơn và đôi sẽ diễn ra trong ba ngày từ thứ Tư tớí thứ Sáu. Thứ Bảy các gia đình đi chơi tự do. Chúa Nhật trở về Sài Gòn.
Mấy đêm đầu, sau buổi cơm, hai chị em thường đi dọc theo bờ biển Bãi Trước ngắm cảnh biển về đêm, nhìn những con sóng nhỏ nhấp nhô chạy vào bờ cát, nhìn người, nhìn cảnh, nhìn ra khơi, biển lớn lồng lộng, thở hít không khí thơm mùi biển. Chị Ba thích thú xách đôi dép da đi tung tăng trên bãi, nói cười như một cô gái trung học… hết ngắm cảnh đến ngắm người tắm biển đêm. Chị có vẻ ngạc nhiên nhìn các cô các bà mặc áo tắm một mảnh. Một lần thấy một cô mặc áo tắm đẹp, Chị hỏi:

-Chị có đem theo áo tắm… kiểu đó. Nhắm chị mặc… coi có được không Út?

-Thì mấy người đó mặc đó! Coi… đẹp, có sao đâu.

-Biết rồi! Nhưng, không phải hỏi vậy. Hỏi… Chị mặc… nhắm coi có… được không? Có… đẹp không?

-Em có… thấy đâu… mà biết!

-Thôi! Hổng cho… thấy đâu. Hổng cho biết… luôn. Mặc gì mà… để tay, để chân ra ngoài hết. Che không hết. Thấy hết trơn. Mắc cỡ chết…
-Mắc cỡ gì. Thì người ta mặc, mình mặc, có sao đâu. Có thấy ai mắc mắc cỡ đâu? Họ mặc theo thời trang mà!

-Vậy, để bữa nào Em đánh xong cúp rồi, mình đi tắm biển thử coi, nghen! Mà tắm ban đêm như vầy thôi. Không tắm ban ngày. Chị sợ… nắng. Nhưng chỉ sợ tắm ban đêm lạnh…

-Không lạnh đâu, Chị Ba. Ban đêm nước biển ấm lắm.

Mỗi tối đi biển đêm như vậy, trước khi về hai chị em còn ăn thêm món gì đó, mì, cháo lòng, bún thang, bánh cuốn ở bãi biển. Về tới phòng ngủ, Chị bắt đánh răng, rồi ngủ sớm để hôm sau đủ sức đánh cúp.

Ba ngày của vòng chung kết cũng qua mau. Vì Trường La San Taberd chỉ có hai tay vợt, nên Vinh và tôi phải đánh cả buổi sáng lẫn buổi chiều. Kết quả Vinh và tôi vô địch giải đánh đôi. Tôi được thêm giải nhì, giải đánh đơn. Lễ phát cúp diễn ra tối thứ Sáu. Các tay vợt của Chasseloup Laubat chỉ được giải nhì đánh đôi. Vô địch của giải đánh đơn năm đó là Thành của Pétrus Ký, đã thắng tôi khít khao, sau nầy là vô địch Việt Nam, Giải Hạng Nhì Toàn Quốc của người lớn.

Đêm thứ Bảy, sau một ngày đi viếng các thắng cảnh của Vũng Tàu, ăn buổi chiều xong, trời vừa sụp tối, Chị Ba nhắc lại dự định tắm biển đêm. Chị bảo:

-Út, mình đi tắm biển nha em. Mai sớm về rồi!

-Dạ, mình đi, Chị Ba.

Bãi biển đã chuyển về đêm, khi chị em tôi xuống đến mé nước. Những lượn sóng nhỏ gợn lăn tăn trên mắt nước, mang nhiều màu sắc của ánh sáng vàng đỏ từ các ngọn đèn trên đường phố. Từ ánh đèn xa xa của những chiếc tàu lớn bỏ neo ngoài khơi. Từ ánh đèn pha của ngọn hải đăng thỉnh thoảng quét ngang qua. Từ ánh trăng sáng huyền hoặc trên mặt nước bung rộng ra tận biển khơi tít mù. Nước biển thường đầy vào những đêm trăng. Tôi đã bỏ chiếc khăn lông choàng lớn, định bước xuống nước. Nhìn lại thấy Chị Ba còn ngại ngần trong chiếc khăn choàng của Chị. Tôi nói:

-Chị Ba, bỏ khăn trên cát chỗ khăn của em đi, rồi xuống tắm.

Tôi thấy Chị ngó xung quanh, rồi ngó tôi, coi mòi còn thẹn chưa dám buông chiếc khăn. Tôi nói:

-Đưa khăn đây cho em, đem bỏ chung chỗ kia, nước không lên tới.

-Thôi… thôi, Chị sợ lạnh…

-Không lạnh đâu. Lại đây bước chân xuống nước đi. Nước ấm mà. Không có gió, đâu có lạnh.

-Được rồi. Để chị bỏ khăn ra… Nhưng xoay mặt chỗ khác đi. Nhắm mắt lại nữa.

Tôi xoay mặt lên đường, nhắm mắt:

-Rồi. Em nhắm mắt rồi…

Lâu chừng hơn một phút, không thấy Chị Ba nói gì, tôi quay mặt lại, không thấy Chị Ba đâu, chỉ thấy chiếc khăn choàng bỏ trên cát. Tôi hoảng hồn nhìn xung quanh, rồi nhìn ra mé nước, thấy Chị đang ngồi thụp xuống bãi cát mà mắt vẫn nhìn về hướng của tôi. Tôi biết Chị mắc cỡ. Tôi nhặt khăn của Chị lên, đem để chung với khăn của tôi, rồi đi xuống bãi. Khi đến gần Chị Ba, chỉ còn cách mấy bước, tôi thấy Chị như lính quýnh nói:

-Em đi xa xa… đằng kia, tắm đi. Để Chị tắm ở đây… một mình, được hông?

-Được, được. Nhưng coi chừng con ma da nó rút chân đó nghen. Không có ai kéo lại kịp đâu nha… Tôi vừa nói vừa bước đi.
-Hả, hả. Bộ ở đây có ma da sao, Út?

-Ai biết đâu? Thôi chị ở đó nghen. Chừng nào nó rút chân thì gọi em.

-Út, Út. Thôi trở lại đây. Đừng đi xa nữa. Bộ định bỏ chị cho… ma da thiệt sao?

-Em nói chơi mà. Làm gì có ma-da ở đây. Tôi quay trở lại.

Tôi thấy Chị Ba đứng lên, nhìn vào mắt tôi mà hai dòng nước mắt trào ra đôi má. Tôi bỡ ngỡ, không biết có chuyện gì xãy ra… vội vàng hỏi:

-Chị Ba, sao chị khóc? Bộ Chị sợ hả?

-Phải! Chị sợ. Cái gì… cũng sợ hết. Em ăn hiếp chị, hù dọa, rồi bỏ đi… Ra biển mà nhát ma da. Mai mốt không biết còn nhát chuyện gì nữa, hay có chuyện gì xảy ra, cũng bỏ chị mà đi… như vậy thôi!

Chị đưa cánh tay lên quẹt nước mắt, cử chỉ giống hệt như lần đầu Chị vén vạt áo lau nước mắt ở phòng khách nhà Chị. Tôi cảm động quá, và như có một sức mạnh vô hình thôi thúc, không kềm được, đẩy tôi bước tới ôm lấy Chị Ba… sát vào người tôi. Lần đầu tiên tôi ôm một người con gái. Tôi nghe bờ ngực trần của mình áp vào hai bờ vú tròn, êm ả. Tôi nghe tiếng tim đập rộn rã của Hân và của tôi. Hân run rẩy, thân thể mềm mại ép sát vào tôi, đầu ngã lên vai tôi. Tôi nghe dòng nước mắt ấm thấm vào vai và mùi thơm dịu dàng của da thịt con gái ngọt lịm thấm tận thất khiếu. Tôi ôm sát, dìu, thân hình trắng nuột nà quyến rủ của Hân ra xa bờ hơn, đến chỗ sâu hơn, nước lên đến ngang vai. Nước ấm của biển đêm làm Hân và tôi tỉnh hẳn. Tôi ôm nâng Hân lên mặt nước và hỏi:

-Chị Ba có muốn tập lội không?

Hân sợ ôm lấy tôi và nói:

-Không, không tập ở đây… Út, vào chỗ cạn đi. Ở đây sâu quá. Vào đi. Chị sợ!

Hân vừa nói vừa run. Không biết vì cảm xúc bởi sự đụng chạm của da thịt, vì sợ, hay vì lạnh… Tôi ôm dìu Hân vào bờ cạn hơn. Hân mặc chiếc áo tắm một mảnh màu tím, làm nổi bật mái tóc đen huyền, làn da mặt, cổ, hai cánh tay, hai bờ vai, bờ ngực, đùi chân thon dài, trắng nõn nà. Áo thấm nước in rõ những đường cong huyền ảo của bộ ngực với hai vú căng tròn, núm vú nho nhỏ nhô lên, lưng ong eo nhỏ, mông nở nang gọn đẹp… làm tôi hưng phấn đến tận làn da thớ thịt. Không dừng được nữa, tôi ôm nàng, hôn vào đôi mắt, vào má, vào cổ… Và rồi những đôi nồng cháy đã tự động tìm nhau, say đắm, ngất ngây…

Bỗng Hân rùng mình nói: – “Út, Út. Thôi, mình về nha.”

-Về, mình về… hở… Chị Ba!

-Phải, mình về đi, Út! Chị biết… biển rồi! Về đi, nha…Út!

Choàng chiếc khăn lông lớn vào cho Chị Ba, tôi dìu đưa Chị lên đồi, về phòng ngủ.

Chị tắm thay đồ ngủ xong, vội vã lên giường nằm. Để cho Chị Ba an tâm, tôi bỏ mùng của giường Chị xuống, tấn vạt mùng dưới nệm, rồi tắt đèn ngủ.

Đêm đó, có lẽ là đêm dài của Hân và tôi. Tôi nghe Hân trở mình nhiều lần… Tôi cũng vậy.

Những thân thể thèm muốn nhau vẫn trăn trở vì một khoảng cách xa nào đó còn ẩn nấp, hay vô hình, mà không phải là khoảng cách xa bốn bước của hai chiếc giường đêm vô tình… Mắt mở sáng vẫn không nhìn ra nhau. Nhắm mắt lại vẫn nhìn thấy nhau. Bóng tối của đêm không hẳn là kẻ đồng loã của tội lỗi mà còn ẩn hiện ánh sáng sâu thẳm của lương tri. Cho nên người ta mới trằn trọc… đêm dài.

**

Share this post

One thought on “Chiến Tranh Và Tình Yêu – Văn Nguyên Dưỡng (3)

Comments are closed.