Chiến Tranh Và Tình Yêu – Văn Nguyên Dưỡng (4)

Chiến Tranh Và Tình Yêu – Văn Nguyên Dưỡng (4)

Trên chuyến xe từ Vũng Tàu về, Chị Ba mặc bộ quần áo thể thao trắng, ngồi băng ngoài. Tôi ngồi băng trong, kế Chị. Chiếc nón trắng vành lớn, che hết mặt. Mắt lại đeo kính mát màu nâu, gọng to, nên tôi không thể nhìn rõ mặt và mắt Chị. Chị che giấu mặt, giấu mắt, nhưng làm sao chị Chị che giấu được thứ tình yêu đang nở lớn dần trong tim? Trí óc Chị có nghĩ gì đi nữa thì thứ đó cũng không khác gì thứ mà tôi nghĩ trong trí não tôi. Tiếng đập vi mô của trái tim yêu đương là tiếng âm vang thiêng liêng thấu suốt thời gian và không gian. Tiếng đập của tim, tiếng thở yêu đương của Chị và của tôi tối hôm qua ở bến nước Vũng Tàu đã được các lượn sóng ngầm mang ra biển cả, đưa vào chốn xa xôi, không bến, không bờ. Vô tận. Nhưng trường cữu với thời gian, không thể xoá mờ được trong tâm não tôi.

Tôi khoanh tay, nhắm mắt ngồi bên Chị, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng thỉnh thoảng Chị nhìn trộm tôi. Chắc rằng Chị đang đem thời gian ra để làm thước đo… tình yêu, như trước đây tôi đã từng nghĩ tới và từng đau khổ, kêu thấu đến Đấng Chúa Trời. Chúa ở xa nhưng thật gần. Tôi nghĩ rằng trước Hân và trước tôi rất lâu, những nhà tư tưởng, những nhà văn đã nghĩ đến sự cách biệt nầy của tuổi tác. Ở đâu đó, tôi đã đọc được câu nầy của Mark Twain “Age is an issue of mind over matter. If you don’t mind, it doesn’t matter.” Tuổi tác là một nan đề trên mọi nan đề khác. Nhưng nếu ta đừng quan tâm đến nó, thì nó không phải là nan đề. Twain viết câu nầy là muốn nói về tuổi già gây trở ngại cho mọi hoạt động. Tuy nhiên, tôi muốn hiểu theo một nghĩa khác. Tôi yêu Hân, tôi muốn hiểu rằng tuổi tác không còn là một vấn nạn đối với tôi nữa. Hân sáng suốt hơn tôi, hẳn Hân hiểu rõ lòng Hân…

Tối hôm đó, Chị Ba nói với Dì Năm là Chị mệt, chỉ cho Chị ăn cháo trắng với đường. Chị đi nằm sớm. Tôi và Dì Năm ăn cơm. Dì Năm ăn xong đem cháo lên phòng cho Chị. Chị ngủ sớm hay nghĩ gì suốt đêm đó hở Chị Ba?

Sau nầy, khi đọc quyển nhật ký của Thái Hân, tôi mới biết rằng đêm đó, khi từ Vũng Tàu trở về, Hân đã bắt đầu viết trang tình sử đẫm lệ của Hân. Tôi còn nhớ rõ ràng những dòng chữ mở đầu bằng Pháp văn, là một bản văn của Học phái Duy Tri, người Pháp gọi là “École Gnostique”. Học phái nầy cho rằng bản văn là của nhân vật huyền thoại cổ Hy-Lạp và Ai-Cập, Thần Hémès-Thot, viết từ ngàn xưa:

“Dieu fait l’éternité, l’éternité fait le monde; le monde fait le temps, le temps fait devenir. L’essence de Dieu est le vrai, le bien, le beau, la béatitude et la sagesse. Celle du monde est l’ordre. Celle du temps est le changement. Et l’essence du devenir est la vie et la mort.”
Hémès Trismigiste.

Hân ghi tên tác gỉa bản văn, dưới góc phải. Hémès Trismigiste là tên của vị Thần huyền thoại nói trên.

Ở phía dưới nữa Hân ghi thêm một câu do chính nàng viết, bằng Pháp ngữ:

“Mais L’Amour est la sagesse vitale, l’essence propre et la raison d’être de la vie et l’éternité. L’Amour néglige le temps et règne l’univers. Le vent se fait et la mer se fait sous le movement mystique de la nature, mais l’Amour se fait au nom de Dieu comme une puissance réelle, la plus forte, de la création du monde. N’attend pas du lendemain. Ne dit pas du devenir. Ne se fait pas peur à l’avenir. Je ne regarde pas au changement, à l’ordre et… à la mort. J’adore la vie. Car, j’ai déjà trouvé la béatitude dans mon âme et l’essence immunuable de mon coeur. J’ai un homme dans ma vie et un amour pour jamais… Grâce à Dieu.”

Hân còn dịch lại bằng Quốc ngữ:

“Nhưng Tình Yêu là mẫn tuệ chiết trung, là nguyên lực tinh tuý, là chân lý hiện thực, của cuộc sống và sự trường cữu. Tình Yêu không màng đến thời gian và ngự trị vũ trụ. Gió chuyển, biển chao là bởi sự vận chuyển huyền bí của thiên nhiên, nhưng Tình Yêu hiện hữu, nhân danh của Đấng Tạo Hoá, như là một sức mạnh thực sự, mãnh liệt nhất, tạo dựng thế giới. Đừng chờ đợi ngày hôm sau. Đừng nói đến số phận. Đừng sợ sệt tương lai. Tôi bất chấp sự biếng thiêng, quyền uy và cái chết. Tất cả những thứ đó đều vô nghĩa đối với tôi. Tôi yêu cuộc sống. Vì tôi đã tìm được chân hạnh phúc trong tâm hồn và chân lý bất biến trong tim. Tôi đã có một người yêu và một Tình Yêu vĩnh cữu. Cảm tạ Thiên Chúa”.

Với các dòng chữ nầy, Hân cũng chứng tỏ đã đấu tranh với chính bản thân và đã tự thắng. Tôi đã biết Hân rõ ràng hơn. Tình yêu của nàng thật đậm đà. Nàng đã coi thường thời thời gian, bất chấp tuổi tác, bất chấp tương lai. Tình yêu có lý lẽ riêng của nó, như người Pháp thường nói. Hân như đã tìm ra một lẽ sống ngược thời đại, hay vượt thời đại mà hủ tục tàn dư còn quá nặng nề trong xã hội Việt Nam. Hân đã quyết tâm xông vào trận tuyến tâm lý đầy khó khăn, chỉ đơn thuần với lòng quả cảm và ý chí cương quyết tuyệt vời. Nàng đã hiểu rõ mình hơn bất cứ ai. Nàng đã tìm được chân, thiện, mỹ trong tình yêu và ân sũng của Chúa.

Có lẽ chính vì vậy mà Hân đã lấy lại được sự tự nhiên và niềm tin, nên sáng sớm ngày hôm sau, thứ Hai, còn nghỉ Hè. Hân đã gõ cửa phòng tôi và vui vẻ gọi:

-Út, dậy chưa? Dậy đi. Mình đi ăn sáng.

Chị Ba không ngờ tôi đã thức từ sáng sớm. Đang ngồi đọc một quyển sách mà không thấy được chữ nào. Tất cả các trang sách đều mang những hàng chữ chồng lên nhau, nhoè nhoẹt. Vì đầu óc tôi đang nghĩ về Chị. Không hiểu tại sao đêm qua Chị Ba đi ngủ sớm. Vào phòng đóng cửa lại. Nghe tiếng Hân gọi, tôi mừng như nghe tiếng gọi thương yêu của Đức Mẹ Đồng Trinh vọng đến từ Thiên đàng. Tôi đứng dậy, bước ra mở cửa, nói:

-Em thức từ sáng sớm. Chị sửa soạn đi rồi mình đi. Em xong rồi!

-Chưa xong đâu Cậu Út! Thay bộ quần áo đẹp đi. Mang giày. Chải mái tóc lại nữa nghen.

Khi xuống nhà, tôi dắt chiếc vélo-solex của Chị Ba ra sân, rồi định trở vào dẫn chiếc xe đạp của tôi ra, thì nghe Chị Ba nói:

-Thôi, đi một xe thôi. Bữa nay Cậu lái xe, chở tui đi. Tui hổng lái xe nữa…

Đây là lần thứ hai tôi nghe Chị Ba xưng hô với tôi bằng… cậu và xưng … tui. Và từ đó, mãi về sau, Hân dùng các chữ này để nói chuyện với tôi.

Khi ra đường, tôi hỏi:

-Mình đi đâu, Chị Ba?

-Cậu tự chọn đường đi! Sao hỏi tui?

-Chị Ba. Bộ chị còn giận em sao? Tôi ngần ngại hỏi.

-Giận chớ! Ôm người ta muốn nghẹt thở. Hôn người ta muốn trớt môi! Bây giờ còn chị… em gì nữa! Đi đâu… thì đi đi… Tự mình quyết định đi! Hỏi tui làm chi…

Nghe Cô Giáo nói, tôi hoảng hồn, hoảng vía, bước xuống xe, nhìn Cô, hỏi:

-Bộ giận thiệt. Muốn đuổi em đi sao? Em không đi đâu hết, ở đây thôi hà… Cho xin lỗi đi mà!

-Ở đây, rồi ai chở tui đi ăn sáng? Đói bụng rồi. Không thấy đêm qua người ta ăn cháo sao? Có ai đuổi xô ai đâu? Chỉ muốn nói là tự chọn tiệm ăn nào… thích. Chớ để cái gì cũng tự mình tui quyết định mãi sao? Vậy mà cũng hổng biết! Biết… ôm hôn người ta… là người lớn rồi. Phải xin lỗi… vụ đó hông? Bộ… hôn đại, rồi xin lỗi là xong sao? Thôi lên xe, chở tui đi… Chờ gì nữa.

Hân cười mĩm. Tôi cũng cười, nhưng hồn như theo với ánh nắng bay lên trên những tầng mây. Tôi ngồi lên xe, Hân vén vạt áo dài ngồi yên phía sau, hai chân xuôi một bên, vòng tay ôm ngang hông tôi. Hân nói:

-Cho… ôm lưng lại một chút được hông? Có vay phải có trả chớ. Muốn mang nợ thì mai mốt phải đèo cục nợ nầy mỗi ngày cho biết thân nha…

-Nhớ nha, nợ của tôi thì tôi mang, không được cho ai mang nghen! Hứa rồi đó! Tôi trả lời.

Tôi đưa Hân đến quán ăn trong hẻm gần Toà Đô Chánh. Chọn luôn bún nước lèo Cà Mau cho Hân và tôi, với hai ly cam vắt. Sau đó, tôi cũng tự động chở Hân đến Nhà Thờ Đức Bà. Tôi gởi xe bên hông Nhà Bưu Điện và nói với Hân:

-Mình vào Nhà Thờ cầu nguyện Chúa đi. Sáng nay chắc ít người.

-Ủa, còn sợ chỗ đông người nữa sao? Mà vào cầu nguyện việc gì? Hay đi xưng tội? Không có tội lỗi gì hết. Thương thì thương. Chúa có bắt tội đâu? À, phải rồi, mình vô cầu nguyện đi. Cầu nguyện Chúa chứng giám cho mình yêu trọn đời đi… Chịu hông? Cậu có thương tui không? Có dám cưới tui làm vợ không? Nói đi, rồi mình vào Nhà Thờ.

-Thiệt không? Hân nói thiệt hông? Có, có tôi… thương Hân. Thương nhiều lắm. Tôi muốn… Hân. Mà không biết nói làm sao? Tôi nhớ lời Hân nói từ hôm nay cho đến chết.

Tôi nói vậy khi nhìn vào mắt Hân và nắm chặt hai bàn tay Hân.

-Chắc hông hở Út? Mà Út đã nói… thương tui giữa trời, giữa nước, ở Vũng Tàu đêm thứ Bảy đó rồi… Còn nói gì nữa! Hân trả lời.

-Thì đêm đó, mới… ôm hôn có… một chút thôi mà. Có… gì đâu!

-Bộ dễ… ôm hôn người ta lắm sao? Còn nói có… gì đâu, hổng có gì đâu. Còn muốn có gì… nữa hở Dân? Nếu muốn… thì ráng chờ đi… nha!

Trong nhà thờ sáng Thứ Hai rất ít người vào quì cầu nguyện. Hân dẫn tay tôi lên hàng ghế thứ nhất, làm dấu thánh, quì xuống, rồi nói:
-Mình cầu nguyện cho đủ hai người mình nghe thôi. Bây giờ… tui cầu nguyện trước.

Tôi nghe Hân khẩn cầu, sau khi làm dấu thánh lần nữa:

-“Lạy Đấng Chúa Sáng Thế, con là Hoàng Thị Thái Hân, cầu xin Chúa chứng giám cho lòng con. Con yêu Võ An Dân, con tự nguyện sẽ làm người vợ trung thành của Dân. Hạnh phước cùng hưởng, đau khổ cùng chia. Sống chết có nhau đến trọn đời. Cầu xin Đức Chúa Trời, Đức Chúa Jésus, Đức Thánh Linh chứng giám và ban phước lành cho chúng con. Xin Đức Mẹ Đồng Trinh giữ gìn tiết hạnh cho con về sau khi con hiến dâng giọt máu trinh tiết của con cho An Dân, chồng con. Cầu xin Ba Ngôi Đức Chúa Trời cao cả chứng giám. Amen”.

Khi cầu nguyện, nước mắt Hân chảy dài trên đôi má.

Tôi cũng không kềm được nước mắt, làm dấu thánh, nguyện cầu:

“Kính lạy, Đấng Chúa Trời Tối Cao, con là Võ An Dân, con biết con đã phạm lỗi khi con yêu thương người đỡ đầu, người thầy của con là Hoàng thị Thái Hân. Con xin nhận người con yêu dấu và kính trọng nầy làm vợ con. Hôm nay chúng con tự nguyện làm lễ nầy trước Chúa. Chúng con lập hôn thú không văn tự có các đấng Thần Linh chứng giám như một lời thề. Con sẽ suốt đời thương yêu Thái Hân. Hạnh phúc cùng hưởng, hoạn nạn cùng chia. Xin Chúa Ba Ngôi chứng giám và chấp nhận lời cầu nguyện của con. Amen”.

Chúng tôi đọc ba lần kinh cầu nguyện Lạy Cha và mười tuần kinh Đức Mẹ Maria. Rồi ôm nhau hôn và khóc. Lời cầu nguyện và những giọt nước mắt đã giũ sạch nỗi lo âu, khoắc khoải trong lòng của Hân và của tôi từ bấy lâu nay.

Rất lâu sau chúng tôi mới đi về. Làm dấu thánh, rồi bước lui ra. Khi ra gần đến cửa, Hân và tôi nhìn lại thấy một vị Linh mục đứng ở bục giảng nhìn theo và làm dấu thánh rồi đưa tay vẫy chào… Hình như Cha đã âm thầm chứng giám lễ kết hôn của chúng tôi.

Hân và tôi đã đi đến một quyết định quan trọng nhất trong đời. Một quyết định lớn lao như vậy mà chỉ thực hiện ngay trong một khoảnh khắc thì không thể nói là nông nổi. Mà nó là sự bộc phát của tình cảm bị dồn nén trong bao nhiêu năm của Hân và của tôi. Một thứ dồn nén tâm lý phải được cởi bỏ ở thời điểm và môi trường thích hợp nhất. Tôi biết rằng Hân và tôi đã thầm yêu nhau từ mấy năm qua. Chúng tôi biết rằng không thể xa nhau được nữa. Xa một ngày là nhớ nhung, mong ngóng. Nếu phải nhau luôn là đứt ruột, bầm gan, là cuộc đời đã chết. Thế nhân có biết không? Chúng tôi còn biết nói với ai đây. Hân chắc cũng biết rằng không thể nào Thuý Hằng, Cô Tư của Hân, hay Nhàn chấp nhận cuộc tình ngang trái nầy. Không một ai, kể cả ba, má và các anh chị tôi chấp nhận một cuộc hôn nhân kỳ khôi như vậy. Trái sầu riêng không ai hái sẽ rụng âm thầm mà thôi.

Chắc chắn sẽ không bao giờ có một hôn lễ giữa Hân và tôi trong cái xã hội lễ giáo Khổng, Mạnh từ hàng nghìn năm xưa còn tồn tại vững vàng này, dù chúng tôi đang sống trong Thế kỷ Hai Mươi. Nền tân học của phương Tây chưa đủ làm cho nó chuyển hóa. Và như vậy, cõi thế tục nầy không thể chấp nhận chúng tôi yêu nhau.

Chúng tôi đã mang tình yêu của mình vào cõi đạo. Chúa nhân ái sẽ chấp nhận cuộc tình và sự kết hôn bất thành văn của chúng tôi. Tôi đã lớn, có đủ tri giác để biết rằng tôi không thể làm khác hơn. Xa Hân là tôi sẽ mỏi mòn dần và mất cả niềm tin vào cuộc sống. Chỉ hi vọng gia đình tôi, nhất là Ba tôi và Chị Hai, đừng vì chuyện tình ngang trái này mà từ bỏ tôi và chấp nhận sự kết hợp thầm lặng giữa Hân và tôi.
Đó là niềm hi vọng duy nhất.

Tôi không bất hiếu. Trước mặt Thiên Chúa, Hân và tôi không có tội. Vậy, cứ mặc cho người đời muốn hiểu sao hay nói gì… cũng để ngoài tai.
Trên đường về, vòng tay ôm của Hân quanh thân thể tôi chặt hơn. Tôi nghe hơi ấm từ ngực Hân thấm vào tận mạch tim tôi. Chiếc vélo nhỏ nhắn trở thành chiếc thuyền lớn chở Hân và tôi vào biển sóng… tình yêu.

Sau buổi cơm trưa, Hân và tôi lên lầu. Hân đi thẳng vào phòng của cô. Trước khi vào phòng Hân vẫy tay chào tôi, kèm theo một nụ… hôn gió và một nụ cười.

Tôi vào phòng, ngủ một giấc dài đến chiều tối, như vừa trải qua một giấc mộng lớn…

**

Buổi tối, tôi thức giậy, Hân đang ngồi trên giường, vuốt tóc và hôn trán tôi:

-Út dậy, muốn ăn cơm nhà, đi ăn cơm gà tay cầm An Đông hay ăn mì La-Caze?

Tôi nắm hôn bàn tay mềm mại của Hân, nói:

-Không muốn ăn, muốn ngủ nữa.

-Thôi mà. Ngủ đủ rồi. Không ai cưng đâu… mà nhõng nhẽo. Đi rửa mặt, ăn cơm rồi nói chuyện một chút coi.

-Hồi sớm nói rồi mà!

-Hổng phải chuyện đó. Chuyện học hành của Út kia.

Nghe nói tới chuyện học hành, tôi ngồi dậy ngay. Nói với Hân:

-Để đi tắm. Ăn ở nhà. Cho ăn cơm… tay cầm, nguyên một ổ, ớt cay. Nói Dì Năm ra bến xe Ngã Bảy mua cho gần.

-Bánh mì xá xíu hay xíu mại? Thôi mua cả hai thứ luôn nghe. Hân nói xong, bước xuống nhà dưới.

Chừng nửa giờ sau, ngồi trên chiếc băng ở sân thượng, dưới cửa sổ phòng của Hân, hai người chia nhau hai ổ bánh mì, ăn ngon lành. Uống nước đá lạnh.

Hân bắt đầu:

-Tui đã viết thư cho Frère Bề Trên của Taberd xin chứng chỉ học trình cho cậu để nộp vào học trường khác. Mới nhận được giấy chiều nay. Frère phụ trách lớp của cậu phê điểm tốt lắm. Nhưng câu chót làm tôi đọc mà ngại quá. Có muốn nghe không hay muốn tự đọc cho rõ ràng hơn?

-Thì… Hân nói luôn đi!

-Câu kết luận đó như vầy:“Dân est un excellent élève. On le voit nettement dominer ses camarades, pourtant un peu irrégulier.” Sao kỳ vậy. Học trò giỏi. Rõ ràng học giỏi hơn các bạn cùng lớp nhưng… hơi bất thường là sao? Tui không hiểu. Ở trường Út có làm gì… lạ hơn các bạn học hay không?

Nghe Cô Giáo đọc lại câu phê điểm của Frère Ferdinand, thầy phụ trách lớp Đệ IV, tôi biết ngay cái sự việc mà Frère gọi là bất thường “irrégulier” là thứ gì của tôi rồi. Tôi lén nhìn Cô Giáo, nói:

-Có, ở trong lớp tôi có điều… bất thường.

-Chúa ơi! Út làm gì ở Trường vậy Út? Điều bất thường gì vậy?

Cô Giáo hỏi mà rơm rớm nước mắt.

-Thì mấy lần bị Frère Ferdinand cho ăn trứng ngỗng đôi?

-Trứng ngỗng đôi là cái gì, là sao?

-Là “double-zéros encadrés” đó. Gọi là trứng ngỗng đôi.

-Chúa ơi! Sao vậy Út? Bộ làm bài lạc đề hả? Sao tôi coi bài vỡ của Út hoài mà không thấy? Bộ giấu mấy bài đó hết rồi, hả Út? Cô Giáo hỏi.

-Hổng có giấu mà… xé!

-Chúa ơi! Bộ Út đã… gạt tui rồi sao! Hân nói xong, có vẻ buồn, định đứng dậy.

Tôi hết hồn, vòng tay ôm Hân lại, vội vàng nói:

-Không, không phải vậy. Không có gạt… Hân đâu. Tại vì tôi không thích làm mấy bài làm đó, vì không thích các tác gỉả. Nên không làm bài.

-Sao, Út nói kỹ lại nghe coi.

-Thì, mấy lần ở trong lớp Frère cho bài viết luận Pháp văn hàng tuần, mà chủ-đề của một trong hai tác giả Pháp, Jean de La Fontaine và Francois-Marie Voltaire, là tôi không thích làm. Vẫn nộp bài ghi chủ đề đầy đủ. Còn viết thêm một câu ở chỗ phải viết bài: “Kính thưa Frère, tôi không thích tác giả, nên không làm bài nầy.”

Đó, vậy là sau khi chấm bài xong, Frère trả bài lại cho lớp, và đem bài của tôi ra cho cả lớp xem hai con zéros màu mực đỏ đậm, to như hai cái trứng ngỗng thật, trên trang giấy trắng, và còn đóng khung lại. Frère nói cho cả lớp nghe “Trò Dân học giỏi mà có dị cảm với La Fontaine và Voltaire. Tại sao? Còn không thích ai nữa… trong văn học sử Pháp? Như vậy, sẽ thi rớt thôi!”. Tôi chỉ cúi mặt, không nói gì, nhận lại bài với hai con số-không đóng khung to tướng… Khi ra về, xé… bỏ. May mắn làm sao, khi thi Trung Học Đệ Nhất Cấp, tôi không gặp hai ông thi sĩ nầy, nên mới đậu. Bình thường, trong lớp, các bài viết Pháp văn của tôi được Frère chấm từ 6/20 đến 7/20 điểm, là số điểm cao nhất mà Frère cho. Người được điểm cao thứ nhì… chỉ được 4.5/20 hay 5/20 điểm. Vậy đó, tôi đâu có giấu Frère. Chỉ sợ… người ta buồn thôi… nên mới xé. Chớ đâu có gạt… người ta đâu!

-Thôi… tui hiểu rồi. May mà Frère Ferdinand thương Út học giỏi và thành thật, nên chưa đuổi… học. Cũng vì vậy, nên mới có lời phê điểm cuối niên học ghi trong chứng chỉ học trình. Bây giờ, Út nói cho tui biết tại sao không ưa tác phẩm của La Fontaine và Voltaire.

-Ngụ ngôn của La Fontaine là dạy đời. Nghe riết nhức lỗ tai. Đi dâu cũng bị giảng morale đã mệt rồi, vô lớp còn nghe thêm các trò dạy đời nữa, nhức đầu thêm. Chữ nghĩa văn chương làm sao nhét vào óc được nữa. Còn ông Voltaire, chống đối Hội Thánh Công Giáo. Có thể tôi hiểu nhầm ông vì ông đã kích dữ dội sự cuồng sát của những cánh quân Thập Tự Chinh ngày xưa. Tuy nhiên, lúc đó ông cũng nói… Đức Chúa Trời sẽ không còn nữa… Đến tàn cuộc đời Voltaire bị chết thê thảm. Điên loạn, sợ sệt như là có bàn tay khác thường kéo ông ta đi… tạ tội trước Thánh Chúa. Ông ta tự xé nát da thịt mình mà chết. Ông ta không thích, không thương Chúa. Tôi không thích, không đọc tác phẩm của ông. Có vậy thôi!

-Phải! Út thành thật với chính mình. Hèn chi mình gặp nhau cũng phải. Thôi, xích lại gần chút nữa đi… vợ cho hôn. Mà hôn một chút thôi. Một lần nầy nữa thôi nghe, rồi để dành… Mai mốt, ráng thi đậu Tú Tài rồi cho hôn nhiều… Rồi mới…

-Mới làm sao? Hay ý muốn nói “nếu chưa thi đỗ, thì chưa…động phòng chớ gì?”

-Phải đó! Chịu hông?..

-Chịu… để dành một thứ… đó thôi. Hổng chịu để dành… cái khác đâu!

-Cái khác, là gì há?

-Giống như… ở biển đêm đó, đó.

-Ý là hổng chịu tạm đình chỉ…ôm hôn, chớ gì? Ăn quen rồi nhịn hổng quen. Riết rồi làm sao người ta… còn g…in được nữa!

-Còn cái gì g…in?

-Thì hôn hít riết, mất mùi… gin con gái của người ta hết!

-Đâu có mất đâu. Còn làm… ngây ngất người ta đây nè. Ủa, mà bộ chỉ con gái có, còn con trai hổng có… mùi gin sao?

-Chắc có hông? Chớ hổng phải bị gái Cà Mau hưởng mất rồi sao?

-Có ai đâu?

-Thì… người đẹp, thiệt đẹp… Bội Mỹ đó!

-Ý, Trời! Còn cái vụ nầy nữa…

-Không có… ghen đâu! Chỉ thấy tủi tủi trong lòng thôi… Tết nào cũng về Cà Mau ba bốn ngày liền. Ở trên nầy buồn, nhớ… Người ta ở dưới quê được con gái đẹp hơ hớ như vậy thương yêu, mà hổng tủi sao được? Chẳng lẽ hổng có… gì sao? Mà có hông? Hết… con trai rồi phải hông?

-Hổng có mà. Hổng có… Còn mà!

-Bộ hổng có hôn nữa hả?

-Đâu có. Chỉ mới biết… hôn cô… giáo nầy thôi hà.

-Phải hông? Thiệt hông?..

-Phải mà! Thiệt mà!

-Nếu thiệt, thì người ta chịu… cho hôn, hổng để dành nữa. Để dành… cái khác thôi, nghen. Nghe hông? Chịu hông?

-Thì hổng nghe, hổng chịu, cũng hổng được. Thôi, bây giờ… mắc đền đi.

-Mắc đền cái vụ gì vậy?

-Thì hồi nãy bảo người ta xích lại gần… đó. Chờ lâu rồi…

-Thì… đây nè…

Buổi nói chuyện với Hân ít nhiều cũng gợi nhớ cho tôi về Bội Mỹ. Tôi không nghĩ dù trở thành một cô gái đẹp như một bông hoa tươi thắm, hay một hoa khôi, nhưng ở tuổi mười bảy, mười tám, chưa hẳn Mỹ có thể là một thục nữ, một giai nhân, như tôi đã hình dung, qua những thiên tiểu thuyết mà tôi đã đọc.

Khuê môn thục nữ phải là giai nhân sắc nước hương trời, mắt như hồ thu, da như ngọc, dáng buồn như liễu, làm say đắm lòng người. Lại phải tài hoa, có học thức. Lại phải có đức hạnh, hiền thục, kiên trinh, trung hậu làm cho ai cũng cảm lụy. Người thục nữ đó nhất định phải ở độ tuổi trên dưới ba mươi. Tuổi đó là tuổi chín mộng như một quả đào thơm, hương bay theo gió thoảng, dù là bậc trượng phu, anh hùng, hiền sĩ cũng phải luyến lưu không muốn rời chân. Huống chi tôi chỉ là một thanh niên mới lớn, sống trong mơ hơn là trong thực tế.

Nhưng khi nhìn thấy Thái Hân trong thực tế, ngay ở phút đầu tiên, lòng tôi đã rúng động. Người con gái ở tuổi đẹp chín mùi nầy đã làm tan biến bức tranh tố nữ trong mộng của tôi. Vì Hân là hiện thể sống động, biết bao lần đẹp hơn bức tranh của mơ mộng. Rồi bao nhiêu năm sống chung dưới một mái nhà, tôi biết Hân có đầy đủ tài sắc, đức hạnh, phong cách của một giai nhân, một thục nữ, ở thời đại nầy. Và trên hết mọi điều là tôi biết Hân cũng yêu tôi.

Hân sống trong một gia đình cao sang quyền quiy1, lễ giáo như một tiểu thơ khuê các, nhưng đã mang nỗi buồn bất tận. Khi vừa lớn khôn đã chịu cảnh mất cha mẹ và anh cả. Chính Hân tự mình phải đảm đang trách nhiệm của người gia trưởng, quán xuyến tài sản của tổ phụ, và thay cha mẹ mà nuôi em. Hân hình như bao giờ cũng cô đơn. Chính nỗi cô đơn nầy đã khiến cho Hân yêu tôi. Hay chính tôi đã được hồng ân của Đấng Tối Cao ban cho tình yêu say đắm nhưng nghiệt ngã, chênh lệch này.

Hân thương yêu tôi như một người em và quí trọng tôi như một người tình. Hân bắt đầu đóng cửa dạy… chồng -trước sự kết hợp của Chúa. Và tôi cũng hiểu rằng tôi phải làm gì để xứng đáng với tình yêu của Hân. Chúng tôi vẫn giữ đúng chương trình sinh hoạt hàng tuần như trước, đi lễ Nhà Thờ, dạo phố, ăn uống, giải trí, thể thao, thể dục. Có giờ giấc học hành, nghỉ ngơi, không thay đổi. Vì vậy, dù yêu Hân, tôi vẫn tôn trọng Hân như một người thầy. Từ ngày đó, tôi không mạo phạm hay lạm dụng vật chất như thường tình của những kẻ yêu nhau.

Vả lại, tôi cũng hiểu rằng, có những đôi nhân tình yêu nhau, có âu yếm nhau, nhưng không vượt quá làn ranh tình cảm, không bị cám dỗ đến si cuồng, cho đến lúc mà thời gian cho phép, hay vì một nguyên do nào đó, đã được an định, họ mới thực sự ăn ở với nhau như vợ chồng. Hân và tôi ở trong tình trạng này. Hân đã tự chế và đã khuyến khích tôi tự chế để hoàn thành việc học vấn mà gia đình tôi mong mỏi mà chính Hân và tôi cũng muốn như vậy.

Hân chú trọng chỉ dẫn cho tôi nhiều hơn về văn chương chữ nghĩa, toán và khoa học. Tôi ghi danh vào học ở một trường tư thục mở các lớp luyện thi Tú tài I Pháp các ban A, B và C.

Hân bảo tôi chọn Ban A về Khoa học, thi sẽ dễ hơn là Ban B, Toán và Ban C, Văn chương. Nhất định tôi không chọn Ban B, vì tôi dốt Toán. Hân khuyên tôi không nên chọn Ban C, mặc dù tôi có khiếu về văn chương, nhưng chỉ sợ tôi không thích thêm một vài tác giả văn học Pháp nữa, thì là đánh đu với số phận, mà người ta thường nói là “học tài, thi phận”. Tôi cũng biết rõ tôi về điều nầy. Thích là thích, không thích là không thích. Rõ ràng, không sợ hậu quả.

Phòng đọc sách là nơi mỗi tối Hân dạy thêm cho tôi học. Ở đó có đầy đũ tiện nghi, tài liệu tham khảo, sách học theo từng chương trình.

Thường ngày, Hân mặc bộ đồ Thượng Hải đen, trắng, hay hường tay ngắn. Nhưng khi dạy tôi học, tôi cứ nhìn vào hai bàn tay mũn mĩn và hai cánh tay trần trắng nuột nà của Hân. Nàng biết. Tình nghĩa là vợ chồng trước Thiên Chúa, nhưng danh phận vẫn là thầy trò, Hân tìm cách hạn chế bớt sự cám dỗ. Chỉ một tuần sau, Hân thay các áo tay ngắn bằng áo tay dài, cổ áo kín, eo rộng. Nhưng mùi hương da thịt vẫn quyến rũ, nên Hân không dám đứng gần ghế ngồi của tôi, mà ngồi ở ghế đối diện mỗi khi dạy tôi. Tôi càng quí trọng và càng thương yêu Hân hơn. Tôi cũng hiểu tâm sự của Hân, nên tập trung ánh mắt vào sách hơn là nhìn Hân. Chỉ khi học bài xong, ở hai bàn đánh răng, trước khi đi ngủ, Hân mới nhìn tôi cười. Sau đó ôm nhau, hôn nhẹ nhàng trên má, trên môi, rồi về phòng riêng. Quen rồi cũng thành lệ.

Tết năm 1952, tôi đang phân vân không biết phải về quê hay không. Hân đã từng nói về sự mong ngóng ngày trở lên của tôi. Nhưng tôi thương nhớ Mẹ. Hân biết, đánh điện gọi vợ chồng Út Hằng và con trai về Sai-Gòn ăn Tết. Hân hỏi tôi:

-Út có nhớ nhà không? Có muốn Tết về Cà Mau thăm Ba, Má không?

Tôi nói thật:

-Có, nhớ Má. Má bệnh nhưng mỗi khi tôi về Má như hết hẳn. Tôi về chừng ba ngày thôi. Mồng Ba trở lên được không?

-Thì Út phải về chớ. Tui đâu có… giành chỗ của Má được. Nhưng nhớ, đừng ở lâu nghen. Người ta nhớ…

Sáng ngày 29 Âm Lịch, trước khi đưa tôi ra bến xe, Hân ôm tôi thật chặt, hôn rồi nói:

-Nhớ nha, lên sớm nha. Về… hôn Má thôi. Đừng có ỷ mình đẹp trai, được người đẹp Bội Mỹ thương, rồi lén phén nha. Hôn… người đẹp, về mất mùi… tui biết đó. Nhớ hông?

-Nhớ mà. Chỉ hôn người đẹp Thái Hân nầy thôi. Giữ g…in cho người nầy thôi. Chịu chưa?

Về Cà Mau lần nầy, cả nhà mừng rỡ. Ba nói với Chị Hai và Chị Bảy, “thằng Út nó lớn đại, thành thanh niên rồi”. Má tôi yếu hơn trước nhưng vẫn biết tôi về thăm. Nhưng có một việc làm tôi ngỡ ngàng.

Tôi có ý mong Mỹ, để nói một lần cho khỏi mắc nợ trong lòng, nhưng không thấy Mỹ đến. Buổi tối, Chị Hai nói với tôi mà rơm rớm nước mắt:

-Bây giờ mới về… Mất vợ rồi!

-Chị nói gì vậy Chị Hai? Mất vợ… nào?

-Bội Mỹ, chớ ai? Bộ còn ai nữa hả?

-Đâu có… ai đâu. Mà Bội Mỹ thì sao? Cưới hồi nào mà mất.

-Ờ, bởi không chịu cưới, mới mất. Có người làm mai, làm mối, nó ưng một người Việt triệu phú, gốc Đài Loan rồi. Chưa cưới, nhưng làm lễ hỏi rồi. Mỹ lại được bảo lãnh đi Đài Bắc du học. Mới đi cuối tháng Mười Một…

Tôi như có gì hụt hẫng, hỏi:

-Mà Mỹ học cái gì bên đó?

-Nghe nói học Hoa ngữ phổ thông, học kế toán, thương mại gì gì đó. Nó có chồng giàu, học để giữ của chớ.

-Bộ đi… không có nói gì sao?

-Sao không có. Mỹ trước khi ưng người nầy, có tâm sự với Chị, tại em không chịu nó, yêu người khác. Tuyệt vọng, nó phải dứt tình với em. Chị hỏi Mỹ, em thương yêu ai? Mỹ nói biết người đó, người yêu của em, mà không chịu nói cho Chị nghe. Bảo Chị hỏi em. Ai vậy?

-Thì… người ta muốn có chồng giàu, nói như vậy. Chớ có ai đâu?

-Thiệt hông? Mỹ nói, mà khóc nữa. Đâu phải nói suông đâu.

Tôi hỏi lại:

-Chồng chưa cưới của Mỹ cỡ tuổi nào, đẹp trai không?

-Chừng hai mươi lăm, hai mươi sáu gì đó. Người trông cũng được. Nhưng đâu đẹp trai như em… Hơi già so với Mỹ, nó mới mười chín.

-Thì có chồng lớn hơn như vậy nó mới cưng nhiều chớ bộ.

-Uổng quá. Mỹ trẻ đẹp như hoa hậu mà em không chịu. Không hiểu nổi. Nhà mình mất một người dâu đẹp đẽ, nết na như vậy, thiệt tiếc quá. Con mắt của em chắc bị mù lạch rồi. Kiếm đâu cho ra người như Bội Mỹ… Tháng Giêng Dương Lịch nầy em mười tám, nhưng hai mươi tuổi ta, bằng tuổi tây với Bội Mỹ nhưng lớn hơn một tuổi ta. Xứng đôi vừa lứa biết bao nhiêu. Tức quá đi…

**

Mùa Hè năm đó tôi thi đậu Tú Tài I. Hân xem kết quả xong, mừng đỏ mặt, nói với tôi:

-Đậu rồi! Lại đậu hạng “Bình Thứ” nữa. Giỏi quá! Ý mà…

-Ý mà sao? Sợ… trả nợ hả. Thôi, cho… khất đó. Chịu hông?

-Ai biết đâu nà. Muốn đòi… thì trả. Muốn khất… thì tuỳ người ta. Tui hổng biết.

-Thôi, bây giờ đi nhà Bưu Điện gởi điện tín về Cà Mau, đi Nhà Thờ tạ ơn, rồi tín vụ nợ nần sau, chịu hông?

-Thì bây giờ tính sao, tui cũng chịu hết. Thua rồi, chịu ẹp thôi!

-Nói nghe tội nghiệp quá. Để về nhà rồi… thương nhiều.

-Thương nhiều mới… chết người ta!

-Có đâu. Có ai… chết đâu?

-Vậy, định… đòi nợ rồi hả?

-Để coi người ta có… sẵn sàng trả không đã. Bị… buộc phải trả, ai mà nở đòi! Phải hông? Cô Ba…

Tôi suy nghĩ nhiều về chữ nợ nầy. Tôi học và thi đậu là nhờ Cô Ba dạy dỗ. Tôi mang ơn, mang nợ Cô, còn chưa trả được. Cô có nợ gì tôi đâu. Hay nếu có thì đó là thứ nợ tình, nợ nghĩa, nợ đời… của một định mệnh. Nợ của lời thề non hẹn biển, của lời hứa nghĩa tình mà con người biết trọng danh dự phải giữ cho tròn. Nhất là lời hẹn thề trước Thiên Chúa. Tất nhiên là việc gì phải đến sẽ đến. Hân và tôi không thể rời xa nhau được nữa. Vậy, tại sao phải làm tình làm tội nhau. Chờ đợi… có ích lợi gì, hay chỉ làm cho cõi lòng thêm khắc khoải, tinh thần thêm mệt mỏi, thể xác thêm héo gầy. Tôi thật lòng muốn nói với Hân, nhưng khó thốt nên lời.

Hình như Hân hiểu tôi hơn tôi tưởng. Và hình như cũng đã nghĩ như tôi. Nên sau khi ra Bonard mua hai chai champagne và mấy hộp bánh tây, trên đường về, đi song song với nhau, Hân nói với tôi:

-Con gái lớn lên mong muốn khi thành hôn là lúc trả hiếu cho cha mẹ. Mời cha một chung rượu, mời mẹ một lá trầu để cha mẹ vui lòng. Lễ lớn hay lễ nhỏ, cũng phải có để ra mắt thân tộc, bà con, hàng xóm mà giữ danh giá cho gia đình và phẩm hạnh cho chính mình.

Tôi không may mồ côi… Chỉ còn một đứa em, một vài người bà con. Nhưng tự quyết định cuộc đời mình. Chúa đã khiến cho tôi gặp gỡ và thương yêu Cậu, trái phận, ngang duyên, nhưng lòng tôi không dời đổi.

Tôi bất cần thứ mà người ở đời tôn trọng ở mặt nổi của xã hội. Không phải tôi không tôn trọng lễ giáo tự nghìn xưa. Nhưng tôi sống thật với lòng mình.

Tôi tự hỏi điều mà người ta đặt ra để bắt tôi tuân theo là đúng để giữ gìn trật tự xã hội hay không? Hay chính hành động tự quyết từ tim từ óc tôi khiến tôi phải tuân theo là đúng? Tôi không phạm tội. Người ta có thể nào buộc tội tôi là đã phá hoại nề nếp, trật tự của xã hội này được sao… khi mà tôi chọn người tôi yêu và và yêu tôi… để làm chồng? Cậu đã thành niên, tôi giữ lời hứa với Chúa, giữ lời nguyện với Đức Mẹ là giữ lòng chung Thủy sau khi hiến dâng tiết trinh cho chồng. Tôi nói Cậu có nghe rõ không? Tôi gọi Cậu… là Cậu… là tiếng của vợ gọi chồng. Tôi yêu chồng tôi, không cần tiệc lớn, không tiệc nhỏ. Chỉ có chai rượu và mấy hộp bánh nầy, về nhà mình sẽ mở rượu, mở bánh mời Ba Má, Anh Hai, chứng nhận cho mình làm lễ tơ hồng. Sau đó… mình uống rượu… hợp cẩn… Chịu hông?

-Tôi nghe Hân rất rõ. Tôi yêu Hân nhiều lắm. Tôi cám ơn Hân đã giúp tôi nên người, đã chọn tôi làm chồng. Tôi biết vong linh người đã khuất sẽ chấp nhận. Người đã mất, thuận theo ý Trời, nhưng người còn sống sẽ hành xữ theo tâm lý xã hội. Tuy nhiên, tôi nghĩ Ba và Chị Hai tôi là những người hiểu biết, sẽ chấp nhận tình yêu của mình thôi. Chắc cũng bất cần hôn lễ của mình. Bây giờ tôi đổi tiếng gọi được không?

-Định gọi người ta là gì đây? Bộ gọi tên, hoặc… em, nghe hổng được sao?.. Hay gọi bằng… mình?

-Thì gọi gì cũng được. Nhưng tôi muốn gọi là… Cô. Cô là em, mà Cô cũng là cô giáo đã dạy tôi học. Để tôi không bao giờ quên vợ mình đã từng là… thầy mình, bao giờ cũng phải quí trọng. Có như vậy mới tránh khỏi tiếng nặng tiếng nhẹ với vợ sau này. Tình nghĩa sẽ cao thâm hơn một bậc.

-Á, thôi. Hổng chịu làm thầy nữa đâu. Chịu làm… vợ thôi. Tình nghĩa vợ chồng không thể đậm đà hơn được sao, khi mình yêu nhau tha thiết, khi mà Cậu không nặng lời với tôi, nhất là đừng chê tôi…

-Thôi, không nói tiếp. Nếu chê thì chê… hồi đó lận. Người ta mê muốn xỉu luôn. Đi xa một ngày nhớ muốn đứt ruột. Người ta cũng từng… thất tình muốn chết luôn. Hổng nhớ sao?

-Nhớ mà. Nhớ hoài, nên mới… cưng quá như vậy chớ.

Trong buổi cơm trưa, tôi nghe Hân nói với Dì Năm là tôi đã thi đậu. Hân nhờ Dì Năm đi lên vườn mang rượu và bánh lên cho Cô Tư và nói với Nhàn chọn cho một cặp sầu riêng, một chục xoài đường và mua vài chục nem Lái Thiêu về biếu cho Bác Sĩ Quỳnh. Dì đi, mai về, không nên về buổi chiều tối. Nên đi sớm để kịp cho Nhàn lo chọn trái cây cho ngon. Cơm nước xong Dì Năm đi Thủ Giồng Một. Dì đã quen đường xá, xe cộ lâu rồi. Tuy không học nhiều nhưng là người Sài Gòn mấy chục năm nên rất rành rẽ mọi việc. Một tay Dì lo tất cả việc nhà, việc mua sắm, chợ búa. Đôi khi Dì còn thay mặt Cô Ba, rất bặt thiệp trong xã giao, tiếp khách. Dì rất đảm đang, tận tuỵ, thương yêu lo lắng cho Cô Ba từ lúc còn nhỏ, chẳng khác nào như một người dì ruột.

Đêm hôm đó chúng tôi hợp cẩn. Quỳnh hoa đã khai nhuỵ. Chúng tôi yêu nhau đến tận cốt tuỷ, tận làn da thớ thịt. Hân gói chiếc khăn tay trắng thêu tên Hân và tên tôi chéo vào nhau… mang những giọt máu trinh nguyên của nàng vào một chiếc hộp thật đẹp. Hân khóc và nói với tôi:

-Linh hồn và thân xác của người ta hoàn toàn dâng hiến cho Cậu… hết rồi. Gìn vàng giữ ngọc một đời, chỉ cho một người. Nhưng… em đã tìm thấy hạnh phúc. Sẽ giữ mãi chiếc khăn và nhớ mãi đêm nay cho đến trọn đời. Cậu có nhớ không? Hài lòng không? Có yêu thương vợ nhiều không?

-Đã vào thiên thai, đã đến được đào nguyên. Ngắm tiên mà mê mẫn cả tâm hồn, quên cả đường về cõi tục rồi… sao lại không hài lòng. Sao lại không nhớ. Thương lắm! Yêu vợ nhiều lắm!

-Mà thiên thai có đẹp không, đào nguyên có xinh hông? Ngắm tiên, thiếu xiêm y, hay có… Thứ nào đẹp hơn? Nhìn thấy… đẹp không? Có nhìn… kỹ hông, hay mắc… tùm lum, có ngắm nghía gì… đâu. Phải hông?

-Thì tiên có xiêm y hay không, cũng tuyệt vời cả mà. Chỉ với đôi mắt nhìn vời vợi, cái thân hình trắng mịn mởn mơ, cũng làm người ta cũng đủ chết ngất rồi. Người ta còn tân chớ bộ. Nếu để…nhìn lâu, đâu… kềm được. Bây giờ… ngắm chưa kỹ thì mai mốt sẽ… Lo gì?
-Thôi, thôi… hổng có… sẽ đâu. Vậy, vậy… được rồi. Người ta mắc cỡ muốn chết mà!

Từ đó, mỗi ngày Hân và tôi làm bổn phận vợ chồng. Ít nhiều cũng ra cái… sự đời. Có điều khá lạ kỳ là ban ngày tôi đâm ra thích nhìn trộm… vợ khi nàng mặc áo dài trắng hay đen ngồi lên vélo, đi làm. Nhìn vòng một nổi hây hây, vòng hai eo thắt, vòng ba tròn trịa gọn gàng, gợi cảm. Thích nhìn vợ ở nhà mặc áo ngắn tay, màu trắng, màu đen, đẹp lộng lẫy, khi đi, khi đứng, khi ngồi. Nhất là khi nằm, người gợn sóng dưới lớp lụa khêu gợi, nhìn chỗ nào cũng muốn nổi… mây mưa. Tôi tự hỏi có diễm phúc gì mà được ôm ấp một giai nhân như vậy? Hơn nữa, tại sao nàng cũng yêu tôi? Ban đêm, tôi nâng niu vóc ngọc. Vuốt mái tóc huyền buông xoã đến lưng, xoa mắt, xoa mặt, xoa cổ, xoa…ở đâu, không nhớ. Hôn lên từng vùng da thịt. Ở đâu cũng có mùi hương thơm dịu dàng, cám dỗ. Rồi… vào giấc vu sơn. Tôi cũng thường thưởng lãm vùng đồi núi nguy nga ngan ngát và ngắm nhìn vùng đồi nhỏ có khe suối, cỏ mượt mà, còn ủ nét hoang sơ. Vợ ngoan hẳn phải chìu. Tuy miệng nói thôi… thôi anh, đừng… đừng mình ơi… nhưng tấm thân nõn nà vẫn uyển chuyển nhích dần, xê xích, đổi dời, theo sư dìu dắt, đòi hỏi không biết… có vô lý hay không, miễn sao cho vừa lòng, mãn ý… người yêu.

Tôi sức trai mới lớn, cường tráng, biết thể dục thể thao, biết văn chương chữ nghĩa, nên cũng biết lúc cương lúc nhu trong chuyện gối chăn. Tự học. Tự phát. Đâu cần ai bày vẽ, đâu cần xem sách vỡ gì, cũng… dạy được vợ biết yêu, biết chìu, biết nói biệt ngữ ái tình và… xít xoa rên rỉ… dù không muốn cũng không giữ được. Đó là thứ tiếng ái ân thiêng liêng khi âm dương giao hưởng, như hiện tượng biểu trưng của đất trời chuyển động. Tình yêu tạo ra sự thông thái, chân lý và bất diệt…

Luật trời có vay có trả. Người ta dạy mình việc nầy thì người ta học mình vụ khác.

Niên khoá cuối cùng 1952-1953, năm chót của chương trình Tú Tài toàn phần Pháp, tôi không ghi danh học ở trường, mà tự học. Vợ soạn cho bài vỡ đúng chương trình. Buổi tối, trước khi đi ngủ, Cô Giáo ghi các bài học cho hôm sau. Cô kiểm bài sau buổi cơm tối. Rồi, tôi trả bài nầy và bài nọ… đều đều mỗi đêm mà vẫn sáng suốt. Học chữ tới đâu nhớ tới đó. Còn tốn công tìm tòi hiểu thêm. Sách vỡ trong phòng đọc sách rất phong phú. Công khó nhọc đó đôi khi làm cho vợ ngạc nhiên. Cô Giáo thì càng ngày càng đẹp hơn. Da dẽ hồng hào hơn, dáng người rạng rỡ hơn.

Mùa thi Tú Tài II năm 1953, tôi thi đậu Ban A, hạng “Bình”. Như vậy là nhờ Cô Ba chu toàn cho tôi hoàn tất chương trình Trung học Pháp trong năm năm thay vì bảy năm. Tôi đã trở thành Ông Tú mười chín tuổi.

Mùa học trò sắp nghỉ mấy tháng Hè năm đó, tôi thấy Cô Ba lo đứng lo ngồi. Sợ tôi về Cà Mau sẽ không bao giờ trở lên nữa. Nhất là sợ gia đình bắt tôi… cưới vợ. Đêm nào Thái Hân cũng than thở, “Làm sao đây… Út ơi? Làm sao trở lên được nữa… Nếu Ba bắt cưới vợ rồi làm sao đây hở… Út?”.

Cây kim trong bọc, lâu ngày cũng nhô ra, Dì Năm rồi cũng biết Cô Ba và tôi đã dan díu nhau. Trong một buổi cơm tối, đầy đủ ba người, Dì Năm nói với tôi:

-Cậu Út, cậu không được bỏ Cô Ba. Cậu thi đậu Tú Tài II rồi. Lần nầy về thăm nhà, tìm cách nói với Ông Một, trở lên. Tốt hơn là nói lên trên nầy để đi học thêm, hay để dễ kiếm việc làm. Cậu về ở dưới Cà Mau luôn, chắc Cô Ba… chết đó! Hay Cậu nói thật với Ông Một, không cưới hỏi cũng được. Chỉ chịu cho hai người ăn ở đời với nhau là được rồi. Cậu đã thành đàn ông. Cô Ba còn trẻ như con gái đôi mươi. Tuổi tác thì quan hệ gì. Mà Dì nói thật nghen, Cô Ba nên… có chửa đi. Ông Một ham cháu nội thì phải chịu thôi.

Cô Ba ngó Dì Năm trân trân:

-Dì Năm, nói chuyện gì kỳ vậy?

-Thì, nói chuyện đó. Chuyện Cô với Cậu Út. Dì biết lâu rồi. Mà Dì tán thành. Thương nhau thì cứ thương. Có… con đi, thì xong hết mọi đàng. Đừng sợ. Dì nuôi… em bé, như nuôi Cô với Cô Út Hằng hồi nhỏ vậy. Có gì đâu mà sợ.

Tôi nín khe, thầm phục cho sự trung thành và tình thương của Dì đối với Cô Ba. Cô Ba hơi ngượng. Nhưng cũng nói:

-Con cám ơn Dì Năm. Con cũng sợ Cậu Út về rồi không lên nữa. Sài Gòn đâu có trường đại học nào. Không thể viện cớ xin lên đây để đi học thêm. Lại còn không biết Bác Một có lo cho Út qua Pháp học không nữa? Biết đâu! Thôi, còn cái vụ… có chửa, sanh con, thì Chúa cho sao hay vậy. Ai mà biết được.

Tôi nói:

-Dì Năm an tâm. Ba con không cho, thì con cũng lên. Không qua Pháp qua Mỹ, không học hành gì nữa hết. Đủ rồi. Con không còn là con nít nữa. Đã lớn khôn rồi. Không tự mình quyết định được sao?

-Ờ, Cậu nói vậy, Dì an tâm.

Tôi thấy Cô Ba mĩm cười. Tôi đã thật sự thành nhân. Tình yêu có đui mù như Jean de La Fontaine nói hay không? Tôi luôn luôn nhớ đôi mắt đẫm lệ của Hân trong đêm đầu của cuộc tình. Tôi nhớ đã đọc ở đâu đó dòng chữ nầy “je me rapelle ces larmes qui montraient à quel point on s’aimait, mais je me rapelle surtout à quel point je fais l’amour avec toi et que je t’aimerai toujours.” Anh nhớ nhất những dòng lệ đó đã tuôn rơi ở điểm cao nào đó khi người ta yêu nhau, nhưng anh nhớ nhất là lúc cao điểm khi anh làm tình với em và anh sẽ yêu em mãi mãi.

**

Đầu tháng Bảy, tôi về Cà Mau một tuần. Bịnh tình Mẹ tôi đỡ hơn. Những cơn mê, hay ảo tưởng của Bà không kéo dài cả buổi hay cả ngày như trước theo lời Chị Hai nói. Chính tôi thấy Mẹ rất sáng suốt trong tuần lễ đó. Lúc đó Ba tôi còn đang giận Anh Năm tôi vì anh đã âm thầm thi đậu vào Trường Võ Bị Đà Lạt, hồi đầu năm. Anh cũng sắp ra trường. Nhưng Ba thấy tôi về sau khi thi đậu, nên cũng quên chuyện Anh Năm. Chị Bảy tôi sắp có chồng là một thầy giáo tốt nghiệp sư phạm cùng dạy chung trường tiểu học của thị xã. Chị Hai vẫn đẹp và vẫn tĩnh bơ trước cuộc sống, không buồn, không vui. Chỉ biết Chị luôn luôn kề cận bên Mẹ. Chị là liều thuốc an thần của Mẹ. Vắng Chị một chút là Mẹ hỏi “Chị Hai con đâu rồi?”.

Chị Hai trong mấy ngày liền hỏi tôi đủ thứ. Một hôm Chị hỏi:

-Bây giờ em tính sao? Bội Mỹ coi như chim trời cá nước rồi. Ở Sài Gòn có cô nào chưa? Hay là để chị chấm một cô khác cho em. Con gái thị xã mình có mấy đứa… mết em lắm. Để chị mời mấy cô đó đến chơi, thử coi em thích cô nào, nghen?

Tôi chỉ cười cười, trả lời:

-Chị khỏi mời mọc ai hết. Không… thích cô nào nữa. Em có bồ rồi.

-Ai vậy? Con nhà ai? Đẹp không? Giỏi không?

Tôi nói:

-Đẹp. Giỏi. Con nhà quan quyền. Có học thức.

-Mà ai vậy? Có ảnh không? Cho chị xem coi mặt mũi ra sao? Coi đẹp bằng Bội Mỹ không? Mỹ có gởi thơ và ảnh về. Bây giờ sang, đẹp, như con gái Hồng Kông. Muốn coi ảnh nó không?

-Thôi, Chị Hai. Cho dĩ vãng qua luôn đi. Em cũng có bồ rồi, xem ảnh Mỹ làm chi nữa. Bồ em đẹp hơn Mỹ gấp bội.

-Vậy mà cứ giấu hoài. Nói cho biết coi.

-Thì mai mốt thế nào cũng biết mà.

-Ủa, em định cưới cô đó sao?

-Dạ, định… cưới.

-Thiệt hông? Để chị lên Sài Gòn coi mặt rồi trình cho Ba biết nghen.

-Khỏi mà Chị Hai. Chừng nào tới đâu hay tới đó. Bây giờ chỉ nên thưa với Ba cho em trở lên Sài Gòn kiếm việc làm trước. Có tiền rồi mới… tính chuyện cưới vợ sau. Lo chi sớm vậy. Ba còn định cho em đi Pháp học nữa kìa.

-Ờ, phải rồi. Nhưng cái vụ xuất dương du học bây giờ khó lắm đó. Cũng không chắc đủ tiền cho em qua Pháp học đâu.

-Em đậu hạng “Bình”, nếu xin còn có thể được học bổng nữa. Nhưng thời buổi nầy đi học xa, em không muốn. Vậy, chị nói với Ba giùm em đi. Lo kiếm việc làm để có tiền giúp thêm cho Ba Má. Coi bộ Ba cũng yếu rồi. Nhà mình đâu có dư giả gì. Em đi học mấy năm tốn tiền nhiều lắm rồi.

-Đâu có tốn gì đâu. Thái Hân không chịu lấy tiền trọ, mà còn đóng tiền học cho em nữa. Mấy tháng đầu gởi tiền lên, Hân nói giữ lại đó, mở trương mục ở ngân hàng cho em. Mấy tháng sau, Hân không lãnh ngân phiếu nữa. Gởi trả về. Phải đình chỉ thôi.

-Sao Chị không nói cho em biết.

-Em biết thì cũng vậy thôi. Để cho em an tâm học. Hân dặn dò như vậy. Nên đâu có nói gì. Ba cũng không biết luôn. Không phải chị lợi dụng sự giàu có của Hân. Mà vì tình nghĩa gắn bó giữa hai gia đình từ lâu. Chị là người bạn duy nhất và chí thân của Hân. Vả lại Hân coi em như em ruột. Thôi thì sau nầy có dịp em trả ơn cho gia đình Hân. Nhớ đừng quên. Còn cái vụ thuyết phục ông già để chị nghĩ lại coi phải nói làm sao đây?

Sau mấy ngày bận rộn bên xưởng cưa, một buổi tối Ba tôi bàn chuyện tương lai của tôi với gia đình. Ông hỏi:

-Chuyện thằng Út bây giờ tính sao đây. Tiếp tục học cao hơn, hay tìm việc làm. Ba muốn cho nó đi Pháp học nữa, nhưng chưa biết được không? Thời buổi khó khăn nầy.

Má tôi thì không có ý kiến gì, chỉ ngồi nhìn tôi. Chị Bảy và anh Lễ, hôn thê của Chị cũng ngồi im, không dám có ý kiến. Chị Hai nói với ông cụ:

-Con nghĩ, Ba nên cho Út trở lên Sài Gòn sẽ có cơ hội tốt hơn là ở cái quận lỵ nhỏ bé của mình, ăn không ngồi rồi. Lên trên đó, tạm thời có thể xin việc làm nào ở các hảng xưởng Tây, để học thêm tiếng nói. Nếu mai mốt được du học cũng có thêm kinh nghiệm. Nó sẽ hai mươi vào tháng Giêng Dương lịch năm tới, bây giờ nên chưa đến tuổi động viên. Ba còn đủ thời gian để lo việc du học cho nó. Nhất định là không ra Hà-Nội học. Việt Minh đánh tứ tung xung quanh Hà-Nội. Nhưng việc du học bên Pháp cũng không phải dễ xin. Ba cứ tiến hành thử coi. Tạm thời, cứ để nó ở nhà Thái Hân. Hân sẽ hướng dẫn nó. Ba coi, nhờ Hân mà chỉ trong năm năm, một cậu bé Tiểu học như Út, đã đậu Tú Tài Toàn Phần. Hân nó giỏi lắm. Ba yên tâm đi. Út cũng còn trẻ lắm, hai năm nữa, du học vẫn được. Không chừng một vài năm Sài Gòn sẽ có Trường Đại học, Út có cơ hội đi học tiếp. Chúa định hết. Ba lo cũng không được…

-Ờ, tạm thời thì tính vậy đi. Nhưng Ba cũng phải lên Sài Gòn lo việc xuất ngoại du học của Út coi sao và cám ơn Cô Ba Giáo sư. Hôm nào Ba rảnh sẽ đi. Vậy, Út, con liệu chừng nào muốn lên Sài Gòn thì cứ đi. Nhớ, đừng có ăn chơi, đàn đúm, rượu chè, cờ bạc. Đừng lân la vào Đại Thế Giới, hay vô mấy cái vũ trường. Lậm vô đó là hết học hành, sẽ hư đốn. Con có lần nào vào các nơi đó hay chưa?

-Thưa Ba. Con đâu biết mấy chỗ đó. Lo học tối ngày, đâu có đi đâu.

-Ờ, cứ theo đường cũ mà đi. Thói cũ mà làm. Cũng nhớ đừng làm bận lòng Cô Ba. Như vậy mới phải đạo. Thôi ở nhà mấy ngày nữa cho Má con đỡ nhớ. Rồi hãy đi. Có cần tiền bạc gì thì hỏi Chị Hai.

Tôi thấy Chị Hai nhìn tôi nheo mắt, báo hiệu thành công trong việc thuyết phục Ba tôi. Ở trong nhà tiếng nói của Chị Hai là được Ba tôn trọng nhất. Mười điều Chị nói là ông cụ nghe theo hết chín điều rưởi.

Ông cụ vừa đưa Mẹ tôi vào phòng để mẹ nghỉ ngơi, tôi ôm Chị Hai, hôn đánh chụt vào má. Chị la:

-Á, cái thằng sa tăng nầy. Làm chị muốn té. Cái thằng thiệt… Vậy mà con gái không mê sao được.

Anh Lễ và Chị Bảy cười. Anh Lễ nói:

-Cậu Út đẹp trai quá. Mà galant nữa. Chắc nhiều đào lắm phải không?

-Không nhiều đâu. Một cô thôi. Mà em ga lăng đâu có bằng anh Lễ. Chị Bảy em xiêu lòng là anh ghê lắm đó nha. Chừng nào đám cưới nhớ cho em biết nghen Anh… Bảy.

-Ờ, anh hứa. Ai ngờ có cậu em vợ ngon lành vậy há.

Trở lên Sài Gòn, tôi vừa vào cửa Dì Năm mừng rỡ, gọi lớn:

-Cô Ba ơi, Cậu Út lên rồi nè.

Hân ở nhà sau bước ra, cầm chiếc khăn tay chậm nước mắt chảy ròng ròng. Tôi không còn uý kỵ nữa, ôm chặt Hân và hôn lên mắt, lên má. Hân cũng ôm tôi, dúi mặt vào vai tôi khóc. Đúng như cảnh chồng đi xa mới về. Không phải như ngày trước, cậu học trò mới ở tỉnh lên, đứng ngoài sân, chỉ nhìn lén Cô Ba, không dám bước vào cửa. Trường đời biến thiêng không hiểu nổi. Dì Năm cười, xách giỏ trái cây tôi bỏ trên nền gạch, ra nhà sau, còn nói vọng lại:

-Khóc cả tuần rồi đó. Sưng mắt hết rồi. Ráng dỗ đi Cậu Út.

-Dì Năm mua giùm con mì, hoành thánh. Mua cho Cô Ba và Dì ăn luôn. Nhớ cho thêm hai ly cam vắt.

Nói xong cũng vừa đến chân cầu thang, tôi bồng Hân lên lầu. Đặt Hân nằm lên giường nàng, hôn và nhẹ nhàng cởi… dần, tới đâu… hôn tới đó. Nữ thần tình ái cũng rung chuyển huống chi da thịt mượt mà của giai nhân. Trường tình vừa lâm trận, ngựa còn đi nước kiệu nhịp nhàng đã nghe róc rách tiếng suối reo, nước trong nguồn dào dạt báo hiệu sắp bung bờ. Phải phi nước đại… cho kịp kết thúc chiến trường với người ta. Lại nghe người ta thở dồn dập, hợp xướng với tiếng rên nho nhỏ. Rồi… nước vỡ. Chỉ còn biết siết chặt nhau… trân mình chịu trận nước tuôn. Lần lâm trận nầy tuy ngắn ngủi mà thật mỹ mãn, thật tuyệt vời.

Tôi thường học được cái nước tức cảnh sinh tình, buột miệng ngâm, “Đi xa thì nhớ người xa. Về gần giáp trận đã… ra đầm đìa”. Ủa không phải, vầy nè, “về gần một thoáng đã xa người gần”.

Hân nói:

-Thôi, để… tối, mắc đền cho nhiều. Tại người ta nhớ quá chớ bộ. Sớm có một chút mà cũng hỏng chịu, còn than thở nữa. Có vầy có khác chớ bộ. Người ta… tê tái cả người. Bộ hổng thấy, hỏng biết sao?

-Đâu có than đâu. Thấy, biết rõ hết mà. Cũng tại vậy, người ta s… quá nên mới ra…

-Ra… thơ điệu “con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.” Phải hông? Làm thơ trên… bụng vợ mà cũng làm. Mấy… ông đại thi sĩ biết, họ bắt chước, thi ca tiêu tùng luôn. Không biết có ai làm thơ về cái vụ nầy không, hay chỉ có mình Cậu biết làm thôi?

-Có, thi sĩ Xuân Diệu. Nhưng ông nầy đã theo Hồ Chủ Tịch… khiến chán…g, chắc tịt nguồn thơ tình rồi. Thơ… nước rút của thi sĩ có câu như vầy, “mau với chứ, vội vàng lên với chứ, em ơi em tình non… sắp già rồi”. Tuyệt hông?

-Tuyệt! Giống hồi nãy mình… đua nước rút quá hén. Em mới biết… đua lần đầu. Mê thiệt!

-Đâu thua gì Hồ Xuân Hương hồi trước, “chàng thừa lúc em đang thế bí, đem chốt đầu dú dí vô cung.” Bây giờ thì có… Dì Năm, không biết làm thơ, nhưng biết xúi vợ tui… mau có chửa. Cũng vui vẻ thôi mà. Chớ hỏng có cái vụ đó làm sao… thế giới trường tồn cho được.

-Nói trây phải hông? Choàng cái khăn lớn nầy nè… đi tắm. Rồi đi ăn.

-Thì… mình đi chung đi.

-Hỏng được. Chỗ đó ở trong phòng đọc sách… thánh hiền. Để… tối nghen cưng.

Tuần lễ sau, tôi đã tìm việc làm theo sở thích, tuy chỉ là bước đầu tập sự thôi. Tôi đi làm… ký giả. Thằng bạn học cũ của tôi là nhà văn Dương Hà, người Bạc-Liêu, chuyên viết tiểu thuyết miệt vườn, cưới một cô vợ giàu làm chủ một nhật báo. Tôi tập tành viết phóng sự cho tờ báo của hai người bạn nầy. Rồi được thêm một nhật báo nữa thu nhận. Rồi xin thêm chân phóng viên thu thập tin tức thời sự Sài Gòn và vùng phụ cận cho một nhật báo Pháp. Mỗi tháng tiền lương bằng lương công chức hạng B.

Mấy tuần sau, Ba tôi lên Sài Gòn lo việc du học cho tôi. Ghé thăm và cám ơn Cô Ba. Cho biết không hy vọng nhiều, vì lúc đó chính phủ của Hoàng Thân Bữu Hội đã ra lệnh cứu xét rất kỹ việc cho du sinh học ở nước ngoài. Chiến cuộc đang gia tăng rộng lớn. Đã ban lệnh động viên, mở rộng các trường huấn luyện sĩ quan, hạ sĩ quan. Ba tôi gởi gấm… tôi cho Cô Ba. Tội nghiệp, ông cụ có biết gì đâu về việc Cô Ba và tôi!

Trước Giáng Sinh năm 1953, Bộ Ngoại giao ra thông tri sẽ mở khóa thi Tham Vụ Ngoại Giao vào đầu năm tới. Tôi hí hửng mang thông tri về. Vợ đọc xong đã rơm rớm nước mắt, nói với tôi:

-Mình ơi. Em mất kinh hai tháng rồi!

Tôi ôm Hân vào lòng, hôn tới tấp. Kéo áo vợ lên hôn vào bụng bà bầu, mà chưa thấy bầu. Xé thông tri bỏ xọt rác. Tôi buông mộng hải hồ.

Để tiện việc đi lại, Cô Ba định gởi bán chiếc vélo, giữ chiếc xe đạp lại và định mua một Vespa Italy mới. Tôi ngần ngại không muốn. Hân biết ý tôi, nên giải thích:

-Tiền mua xe là của Cậu đó. Tiền thưởng hai giải tennis hai ngàn đồng. Tiền Chị Hai gởi lên, bỏ trong ngân hàng, ba ngàn. Tiền lương của Cậu mấy tháng qua hơn hơn sáu ngàn. Tính ra trên hai mươi lượng vàng. Mua một chiếc vespa đâu có bao nhiêu. Đi mua nghen cưng. Để có xe mà đi… ba người chớ.

-Thì mua thêm chiếc xe vespa, nhưng giữ chiếc vélo lại.

Cô Ba nói:

-Bộ muốn bắt người ta đi vélo một mình nữa hả?

Tôi giật mình. Thật là kém thông minh. Phải nói rõ lại với Cô:

-Không phải vậy. Chỉ muốn giữ làm kỷ niệm. Xe đạp và xe vélo có đôi. Bây giờ tách ra sao được. Còn, ai nở lòng nào để cho bà bầu đi một mình. Làm chồng, làm tài xế kiêm vệ sĩ luôn, chịu hông?

Cô Ba cười. Ôm tôi hôn.

-Vậy, mới là cục cưng của người ta chớ. Mai mốt, đẻ cho thằng cu con giống… hệt nghen.

Từ đó, đi đâu tôi lái vespa chở vợ đi. Cô giáo đi dạy mỗi ngày đã có chồng đưa rước. Chiếc vespa thật là hữu dụng cho Hân và tôi.

Lật bật đã gần Tết Nguyên Đán năm 1954. Cô Ba mang bầu đã hơn ba tháng. Hết còn eo, cái bầu đã tròn tròn nhô lên áo, ngực và mông phát triển. Hấp dẫn cách khác. Đêm nào rọ rạy, vợ cũng bảo, “nhẹ nhẹ thôi nghen… mình, coi chừng đụng… nó”.

-Thì để anh thăm nó một chút.

-Thăm ở ngoài hỏng đủ sao. Con so… vô thăm hoài hỏng tốt. Ít thôi. Nhẹ thôi nghen mình.

-Ờ thì ít, thì nhẹ nhẹ thôi cưng. Cưng hết. Cưng mẹ, cưng con.

Thật ra, tôi cũng biết hạn chế cho Hân nghỉ ngơi, ăn ngủ đều đặn. Sanh con cho mạnh. Chưa bao tôi giờ cảm thấy hạnh phúc hơn thời gian đó. Cô Ba cũng vậy. Mỗi buổi tôi đi làm về, thường thấy Cô và Dì Năm ở ngoài vườn. Tôi biết là Cô chờ tôi nhưng nói là hoạt động cho cái thai mạnh và dễ sanh. Còn Dì Năm luôn luôn kèm Cô bên cạnh là do tôi yêu cầu. Tôi cũng biết Cô Ba sợ sự cô đơn đã từng ám ảnh Cô trong cái biệt thự lẻ loi nầy từ bao nhiêu năm về trước, khi cha mẹ mất, anh mất, còn lại người em gái có chồng, cũng bỏ Cô lại với quạnh hiu. Sự hoang vắng tình thương và cô đơn, làm Cô luôn luôn sợ cuộc sống đến độ thui chột cả linh hồn, mất hết niềm vui của tuổi trẻ.

Tôi đã đến đúng vào lúc sự cô đơn đó lên đến tột điểm. Chúng tôi yêu nhau và biết rằng sẽ không bao giờ rời xa nhau được nữa. Chúng tôi hạnh phúc.

Nhưng… chiến tranh kéo đến như bão tố, cướp mất tình yêu, hạnh phúc và tất cả. Nó gây tang thương, đau khổ, không chừa một ai.

——–ooOoo——-

CHƯƠNG II: CHIẾN TRANH GIỮA NHỮNG NGƯỜI ĐẸP.

Một buổi sáng vào tòa soạn của vợ chồng Dương Hà, Tôi nhận được một bức thư lạ ghi rõ tên tôi. Gởi từ Hồng Kông. Bên trong là một danh thiếp loại lớn bằng carte postale. Trên góc trái in mấy hàng chữ: Giã Kiến Long, Editor-in-Chief Hong Kong Stars Magazine and Cho Lon Daily News, bằng Anh ngữ. Giữa thiệp viết bằng Quốc ngữ “Kính mời Ông vui lòng đến Khách Sạn Majestic ngày 29 m lịch, lúc 7 giờ tối. Ăn Tối và Bàn Việc xuất bản Nhật Báo Việt ngữ ở Sài Gòn”. Phía góc dưới ghi “Xin trả lời trước ngày…”. Không có ký tên, chỉ ghi ngày tháng gởi thư.

Tôi mang thiệp mời về cho Cô Ba xem. Cô không lộ vẻ mừng và chỉ nói có lẽ họ muốn mời tôi cộng tác trong tờ báo Việt ngữ nào đó sắp xuất bản ở Sài Gòn. Cứ đi thử, nói chuyện với họ. Nhắm được thì làm, không thì thôi. Tôi viết thơ hồi âm cho Ông Giã Kiến Long là sẽ đến.

Đúng ngày, tôi vận bộ veston màu xanh nước biển đậm, áo sơ mi trắng, cà vạt xanh ba sọc xéo trắng, giày đen bóng. Vừa mới đứng dậy đã nghe vợ khen:

-Chúa ơi. Chồng tôi đẹp trai, coi sang trọng quá. Cho em hôn một chút rồi đi. Ăn cơm, bàn việc, rồi về nha. Họ có mời đi đâu, đừng có đi nghen. Anh Hai nói, mấy người Tàu hay mời đi nhảy nhót, uống rượu, thuốc phiện, rồi còn… đưa gái từ Hồng Kông qua nữa. Nói chuyện rồi về. Đừng có bị cám dỗ rồi đi theo họ nghen. Đi về là tui biết đó.

Tôi đi taxi đến Khách Sạn Majestic trên bến sông Sài Gòn. Sau khi đưa thiệp mời của ông Giã Kiến Long cho người tiếp khách của khách sạn. Người nầy cho bồi phòng hướng dẫn đưa tôi lên phòng của ông Long. Gõ cửa, nghe tiếng một người đàn bà trả lởi:

-Xin mời vào, cửa không khóa.

Mở cửa bước vào, tôi nhìn thấy một phụ nữ, dáng người đẹp, trẻ, sang trọng, mặc bộ áo Thượng Hải dài màu trắng thêu hoa kim tuyến, đứng giữa phòng, kế bên một chiếc bàn vuông, trải tắm nắp bàn trắng, có hai chiếc ghế đối diện nhau. Tôi nghe người phụ nữ, đúng hơn là một cô gái, nói:

-Anh Út. Anh chưa nhận ra em sao? Nhìn kỹ đi!

Tôi nghe tiếng nói quen quen. Nhìn kỹ hơn. Và đã nhận ra cô gái là Bội Mỹ. Tôi khá bất ngờ. Nhưng giữ được bình tỉnh, nói:

-Tôi đã nhận ra Cô rồi. Bội Mỹ có khoẻ không? Lâu quá…

-Hết… ngộ, nị rồi phải không? Xa lạ rồi. Mới chỉ hơn ba năm thôi mà. Chắc là anh không nhớ rõ đâu. Mời anh ngồi.

Tôi định ngồi xuống ghế, nhưng thấy Bội Mỹ vẫn đứng im. Vì lịch sự, tôi bước đến sau lưng Mỹ, kéo ghế mời. Mỹ chần chừ một lúc… rồi ngồi xuống ghế. Có lẽ Bội Mỹ chờ một vòng tay ôm hay ít nhất cũng một lần tay nắm tay sau nhiều năm xa cách. Tôi không làm gì hơn là trở lại ngồi xuống ghế đối diện, nhìn Mỹ. Mỹ đã thật sự là một mỹ nhân. Tóc bới cao thời trang, gương mặt trắng đẹp rạng rỡ, mắt trong sáng, mi mắt cong lên, môi chỉ thoa son hồng tươi phớt nhẹ, miệng cười với hàm răng trắng đều đặn. Dáng điệu đã thay đổi, trang trọng hơn, đài các hơn.

-Anh Út. Anh nhìn tôi trân trối vậy. Bộ tôi lạ lắm sao?

-Cô khác trước nhiều lắm. Đẹp và sang hơn trước rất nhiều. Giống như một người đẹp Hồng Kông. Không còn là một cô gái nhu mì hiền hậu, mái tóc suông, kẹp, hay buông xỏa xuống vai, của thị trấn nhỏ bé ngày xưa. Đi ra đường chắc không nhận ra.

-Bộ trông em dữ lắm sao, thay đổi nhiều lắm sao? Ngay ở đây, anh còn chưa muốn nhận ra em, chớ đừng nói ở đâu.

-Tôi xin lỗi. Nhưng cô…

-Khoan, để em gọi thức uống trước, rượu ngọt khai vị hay champagne nghen. Anh còn thích tôm, cua, sò, cá nướng trui, như ngày trước ở quê nhà không? Hay nay đã thích beefsteak bơ, con đuông sữa, ốc nhồi nấm, hay gà nướng mật ong, cavia. Súp bào ngư, vi cá hay yến. Thích rượu vang, hay rượu mạnh? Thôi mình uống champagne mừng ngày gặp lại hôm nay nghen.

-Chúa ơi. Cô thay đổi đến như vậy sao Mỹ? Tôi chỉ uống nước đá lạnh, nước chanh hoặc nước cam thôi. Tôi chưa từng nếm qua những thứ rượu đó. Cô nghĩ là tôi thay đổi nhiều lắm phải không?

Bội Mỹ bấm chuông gọi bồi phòng, bảo đem hai ly nước cam và một chai champagne, súp yến, ốc nhồi thịt nấm, beefsteak, khoai tây và salade.

-Anh nói là anh không thay đổỉ. Chỉ một mình em thay đổi thôi, phải không? Em không nghĩ như anh. Ai thay đổi thì anh biết rõ hơn em. Cô giáo sư có thai rồi phải không?

-Sao Cô biết?

-Tôi nhìn tận mắt hai người. Anh dắt tay bà bầu đi dạo phố mà. Chỉ mới chiều hôm qua thôi.

-Sao bây giờ Cô nói chuyện nầy. Cô đã… lập gia đình rồi mà.

Mỹ mở champagne, thành thạo, chỉ một chút bọt trào ra miệng chai. Rót vào hai ly. Mời tôi:

-Uống đi anh mừng ngày hội ngộ hôm nay đi. Biết đâu sẽ không bao giờ gặp lại nhau lần nữa.

Tôi chạm ly vớ Mỹ. Và đó là lần đầu tôi biết uống loại rượu của giới sang trọng lúc đó. Tôi nghe Mỹ nói tiếp:

-Anh vừa nói là tôi đã lập gia đình rồi phải không? Chưa. Tôi chưa lập hôn thú, chưa thành thân với ông Long. Tôi còn con gái. Một nụ hôn cũng chưa có. Tôi còn tự do. Tôi còn tự quyết định được cuộc đời tôi cho đến hôm nay. Ông Long đối với tôi không có nghĩa gì cả. Tôi không yêu ông ta. Tôi yêu… anh và anh đã phụ bạc tôi.

-Như vậy, Cô mượn thiệp ông Long viết mời tôi đến đây không phải nói chuyện báo chí mà chỉ để nói cho hả lòng, phải không?

-Đúng, mà không đúng. Tôi nói Ông Long viết thiệp mời anh. Thật sự có ý mời anh cộng tác với… tôi ra một một nhật báo ở Sài Gòn mà tôi sẽ là chủ nhiệm. Tôi muốn về Sài Gòn làm báo là…vì anh. Anh đã đến. Vậy, anh có thì giờ nghe tôi nói hay không? Tôi còn nói nhiều chuyện khác nữa. Nếu anh sợ Cô Ba… ghen thì anh cứ tự nhiên. Còn không, xin anh cho tôi chừng một đến hai tiếng, cho tôi nói hết, được không?

-Thôi thì Cô hãy nói cho hết đi. Sự thật, tôi cũng muốn gặp Cô từ lâu để nói chuyện một lần cho không còn thắc mắc trong lòng tôi.

-Xin anh đừng nói chuyện… lòng của anh nữa. Tôi ở Đài Bắc, nhưng cũng biết khá ít nhiều chuyện của anh, dù gia đình anh không biết gì hết về Anh và Cô Ba. Em trai tôi, thằng Toàn, đang học ở Sài Gòn, Tết này nó đã mười bảy. Ở trọ học nhà một người bà con, gần nhà Cô Ba. Nó gần như thấy anh chở Cô Ba đi, về, trên con đường đó hằng ngày. Nó còn đề cập cả đến vòng tay Cô Ba ôm anh sát sao như thế nào nữa, khi ngồi trên vespa. Nó biết anh rất rõ. Chỉ có anh là người vô tình với tôi và gia đình tôi. Năm bảy năm về trước anh biết nó. Bây giờ anh quên nó cũng như đã quên tôi. Tôi biết. Nhưng tôi không ngừng yêu anh. Anh có biết tôi yêu anh khi mình học cùng lớp ở Cà Mau hay không? Anh nói đi.

-Có, tôi cảm thấy.

-Anh chỉ cảm thấy thôi sao? Sao anh không nói là anh biết.

-Phải, tôi không nói là tôi biết. Bởi vì lúc đó tôi… nể cô giỏi quá. Học nhất lớp. Tôi có mặc cảm thua kém. Không dám thương cô.

-Vậy là anh biết tôi yêu anh. Trời ơi, nếu hồi đó tôi biết anh nghĩ như vậy, tôi đã giả ngu giả dại để chiếm tình yêu của anh rồi. Tôi yêu anh bằng mối tình đầu chơn chất của một cô học trò mười bốn, mười lăm. Đã năm bảy qua rồi, tôi đã trưởng thành. Tôi vẫn yêu anh. Tôi yêu anh vì cái tài hoa ẩn chìm của anh, vì sự im lặng it́ nói của anh và cũng vì vẻ đẹp trai thích hợp với người trong mộng của tôi. Cuối cùng tôi không hiểu tại sao tôi yêu anh…

Mỹ uống một hớp nước cam, rồi nói tiếp:

-Cho đến một ngày tôi gặp Cô Ba. Tôi biết tôi là người thua cuộc. Tôi thất vọng, thất tình… Nên tôi quyết định chịu làm lễ hỏi với ông Long và bỏ xứ mà đi… Vì tôi biết, trước một vẻ đẹp thiên kiều bá mị như vậy, làm sao tôi không mất anh! Bây giờ anh muốn biết tôi đang nghĩ gì về anh hay không?

-Cô nghĩ gì thì việc cũng đã dĩ lỡ rồi. Tôi yêu Cô Ba. Và chúng tôi sắp có con. Cô biết rồi đó.

-Vậy anh nghĩ là mọi sự đã chấm dứt giữa anh và tôi chớ gì? Tôi thì tôi nghĩ trái lại. Tôi sẽ nói rõ cho anh nghe. Rồi xin anh chọn giùm tôi một giải pháp thích hợp nhất giúp tôi an định tâm hồn. Dứt khoát một lần nầy mà thôi.

-Cô nói đi, điều gì có thể làm được tôi sẽ làm cho Cô.

-Trước tiên, tôi muốn nói với anh rằng, có lúc tôi căm hận anh ngút ngàn. Lúc đó, nếu anh là thứ ung nhọt trong đầu tôi, hay ngay cả trong tim tôi, tôi cũng muốn giải phẫu, cắt, vứt bỏ, quăng ném cái ung nhọt đó dầu có nguy hiểm đến tính mạng. Nhưng ác nghiệt thay, anh không phải là thứ hữu thể độc hại đó, mà như là một bào ảnh, lúc ẩn, lúc hiện trong trí não tôi, trong tim phổi tôi. Làm sao mà tôi có thể cắt bỏ cho được. Anh như là chiếc bóng vô hình nhưng hiện hữu trong tim óc tôi rõ từng nét mặt điển trai, thiệt thà, đôi mắt nhìn hiền hậu, cái miệng không nói mà chỉ cười. Tôi đã khóc, vì không dứt bỏ được bóng hình anh.

Thời gian đó là lúc anh bệnh, Cô Ba đưa anh từ Sài Gòn về. Tôi nhớ anh quá, lại lo sợ không biết anh ra sao. Mấy ngày liền, tôi hết nhờ Chị Hai đến Chị Bảy, giúp cho gặp anh. Anh nhất quyết không chịu gặp mặt tôi. Tôi định vào phòng thăm anh. Anh nói với Chị Hai… cấm tuyệt không cho tôi vào. Tại sao anh xữ tệ với tôi như vậy?

-Lúc đó tôi đang bệnh và không còn nghị lực để gặp Cô.

-Có đúng không? Không đúng, tôi cho rằng anh sợ anh gặp tôi trước mặt Cô Ba. Sau đêm tôi nói chuyện với Cô Ba, tôi biết rằng anh yêu Cô và Cô cũng đã yêu anh. Anh thường nói tôi là một cô gái thông minh. Đúng phần nào. Vả lại năm đó tôi đã mười tám tuổi. Đâu còn nhỏ nữa. Tôi biết hai người yêu nhau mà không nói được. Anh thất tình sinh bệnh. Chớ có gì đâu. Tôi hiểu không sai đâu, vì tôi cũng thất tình như anh. Tôi yêu anh. Anh yêu người ta. Tôi ghen tị và khổ sở lắm. Nhiều lần tôi đã nói tâm sự tôi cho Chị Hai nghe. Anh có biết không? Kìa sao anh không ăn, cứ nhìn tôi đăm đăm vậy? Đồ ăn nguội hết.

-Có thật cô muốn đãi tôi ăn không? Hay cô muốn hành hạ tôi.

-Thật tình tôi muốn làm lành với anh, muốn anh ăn ngon. Nhưng thấy anh ăn mặc như vầy, càng đẹp trai gấp bội ngày xưa, và thực sự thành đàn ông, nên tôi càng… ghen. Tôi nói cho vơi bớt nỗi đau trong lòng. Đắng cay quá, không thể ngậm mãi bồ-hòn mà chịu được nữa.

Mỹ khóc. Chiếc khăn tay chậm mắt, lệ vẫn chưa vơi.

-Thôi Mỹ… đừng khóc. Tôi nghe cũng đủ rồi. Tôi đã hiểu rồi. Bây giờ cô nói mấy cái… giải pháp gì đó đi.

-Anh húp hết chén súp yến cho ấm lòng rồi nghe tôi nói tiếp.

-Từ ngày đi Đài Loan cho đến nay, tôi ở với gia đình cô tôi, là vợ của một ông Tham Vụ Lãnh Sự Quán Việt Nam tại Đài Bắc được sự tin cậy của ông Tổng Lãnh Sự. Chính bà cô này đã làm mai mối cho ông Giã Kiến Long về Cà Mau, đi… hỏi tôi. Tôi nhân dịp đó nhất định đi xa để… quên anh. Qua bên đó, tôi mới biết ông Long là một thương gia cơ hội. Ông ta bắt tay với nhân viên Tòa Lãnh Sự Quán Việt Nam chỉ với mục đích đó. Cha là người Đài Loan nhưng mẹ là người Việt, ông Long lịch lãm và phóng túng trong tình trường. Làm báo chủ báo là hình thức che đậy hoạt đông thương mại của ông ấy. Các tờ báo đó cũng là phương tiện giúp ông ta thành công. Tóm lại ông ta là tay đầu cơ lém lỉnh. Tôi biết, nên không bao giờ đi chơi riêng rẻ với ông Long. Tôi định từ hôn.

Trong khi đó, thì có một ông tham vụ ngoại giao trẻ, độc thân, người Sài Gòn, thường đến nhà cô tôi chơi, gặp tôi và… mê tôi. Đã từng tỏ tình với tôi. Tôi cũng làm ngơ. Vì tôi vẫn hy vọng có một ngày trở về với anh.

Một người muốn lợi dụng tôi. Một người nói là yêu tôi. Một người tôi yêu. Tôi như kẻ đứng trước ngả ba đường đời. Sau cùng, tôi chọn con đường quay về với anh. Nhưng tôi bị trở lực lớn lao quá, không thể vượt qua nổi. Anh nghe rõ tình cảnh và tâm trạng của tôi chưa?

Tôi thở mạnh, nghe xốn xang trong lòng.

-Anh thở dài, và im lặng, không trả lời tôi. Như vậy là anh còn nghĩ đến tôi. Anh nói thật đi. Ngày xưa, anh có từng thầm kín yêu tôi hay không? Mấy năm học ở Sài Gòn nầy, có lúc nào anh nhớ đến tôi không? Hay chỉ biết có Cô Ba mà thôi.

-Tôi… … …

-Anh không nói được, nghĩa là anh có yêu tôi. Có nhớ tôi… Phải không?… … … Lại không nói, anh vẫn là anh Út ngày xưa của tôi. Im lặng. Không nói. Tôi yêu anh. Tôi coi anh là người tình đầu và duy nhất của tôi. Anh nghe rõ đây. Tôi đã nghĩ kỹ rồi. Đời người chỉ có một lần. Tôi muốn trao tặng tiết trinh của tôi… cho anh. Ngay hôm nay, hay bất cứ lúc nào tôi còn ở Việt Nam. Ngày mai, Ba Mươi Tết, tôi về Cà Mau thăm gia đình. Mồng Sáu tôi trở lên. Tôi sẽ ở lại khách sạn nầy một tuần nữa, đợi anh, trước khi đi Đài Loan, sẽ không trở về nữa, dù tôi có lập gia đình với ông Long hay ông Toàn, tham vụ ngoại giao.

-Tôi… … …

-Thôi anh suy nghĩ lại đi. Bây giờ… anh về đi. Kẻo người ta đợi. Anh đứng lên đi và đứng yên cho tôi ôm anh, hôn anh một lần. Tôi xin anh. Tôi sẽ không đòi hỏi anh ôm hay hôn tôi đâu. Tôi không hề ân hận vì đã yêu anh. Mai mốt xa anh, tôi vẫn nhớ là tôi đã ôm hôn được hình bóng của người yêu trong mộng.

Tôi không thể từ chối tấm chân tình của Bội Mỹ. Mỹ ôm tôi, hôn lên má tôi và tựa vào vai tôi khóc. Tôi để yên. Không dám ôm Mỹ và cũng không hôn, dù là cái hôn phớt nhẹ trên mái tóc. Mùi thơm trinh nữ phảng phất, gieo âm hưởng tận tâm não tôi. Mùi thơm của Hân hay của Mỹ? Tôi tự hỏi, có phải tôi đã phản bội Bội Mỹ không? Hay tôi đã phản bộ cả Thái Hân, khi đứng trơ như một pho tượng để cho Mỹ hôn và khóc, nước mắt thấm ước vai tôi. Có phải tôi là một tên hư đốn… trong lớp con người sớm Sở, tối Tần, như Ba tôi nói hay không? Dù sao tôi vẫn là con người… Tôi bàng hoàng trước tấm chân tình của Mỹ.

Đàn ông có… vợ khác hơn đàn bà là… không giữ được Thủy chung… Họ dễ xiêu lòng và dễ bị cám dỗ hơn là các bà vợ. Nếu các bà đã có chồng mà còn lăng nhăng thì người đời cho là lẳng lơ, lăng loàn. Họ lại quá rộng lượng với các ông chồng ham đó bỏ đăng, năm thê bảy thiếp. Bước về thương vợ con, nhưng bước ra là mèo mỡ. Họ sống trong một xã hội đốn mạc, cần đào thảy.

Tiếc thay tôi là một người con trai, một người đàn ông sống trong cái xã hội đó. Biết tôi có giữ được Thủy chung với Thái Hân hay không? Ngay lúc Mỹ tựa vào vai tôi khóc, tôi đã xiêu lòng. Cảm thương cho nàng… đã sớm khổ vì tình yêu. Đã khổ vì yêu tôi… Tôi ôm Bội Mỹ đặt lên giường, để cho nàng khóc một mình, hôn nhẹ lên trán rồi bước ra, đóng cửa phòng lại.

Cái hôn phớt nầy tôi phải trả giá… đắt sau đó.

**

Tôi thẩn thờ bước vào cửa hàng rào sắt trước sân, Dì Năm đã đon đả chạy ra, nói nhỏ:

-Chết rồi Cậu Út ơi. Cô Út Hằng và con trai ở Nha Trang đi xe lửa về hồi tối, đang tố khổ Cô Ba trên sân thượng.

-Tố khổ việc gì? Còn anh Thành có về không?

-Không. Tố khổ việc… cái bầu đó. Cậu phải dàn xếp sao cho yên. Coi bộ khó quá!

Tôi đi thẳng lên phòng, thay đồ, đi tắm. Xong tôi trở lên phòng, đóng cửa lại, lên giường nằm. Đêm đã sắp vào khuya. Vắng lặng, trừ tiếng gõ mõ của gánh mì bán dạo trong đêm. Tôi không biết hai người người đàn bà đẹp, chị em ruột nầy, nói với nhau những gì. Một lúc sau nghe ngoài hanh lang có tiếng động nhẹ. Tôi nghĩ là Cô Út Hằng đi xuống lầu. Chừng năm phút sau, tôi nghe tiếng gõ cữa thật nhẹ. Tôi bước ra. Cô Ba nắm tay tôi ra sân thượng. Cô Ba không nói gì kéo tay tôi đặt lên cái… bầu, rồi gục đầu vào vai tôi, khóc. Cũng may, vì đang tủi thân, nên cô không hói hang về chuyện của tôi đi… ăn cơm khách buổi tối. Tôi cũng không biết mùi hương thơm của Bội Mỹ còn vương vấn trên mặt mũi của tôi hay không.

Tôi xoa bụng Hân, hôn và má nàng, hỏi:

-Cô Út sanh… giặc rồi phải không?

Chỉ thấy Hân gật đầu, không trả lời.

-Thôi, đừng khóc. Để ngày mai, tôi nói chuyện với Cô Hằng. Thương nhau, thì phải có con chớ. Tôi có trốn chạy đi đâu, mà nặng nhẹ với Hân.
Chúng tôi ngồi im một lúc lâu. Hân nói:

-Em mệt rồi. Để đi ngủ. Đêm nay… mình về phòng, không ngủ ở bên nầy, nghe. Đừng buồn.

-Mình cũng đừng buồn. Đi ngủ đi, khuya rồi. Đừng khóc nữa, động thai, không tốt.

Tôi đưa Hân vào phòng ngủ. Ôm hôn môi. Đợi Hân lên giường nằm, tôi bước ra, đóng cửa phòng lại. Đêm ấy, tôi lại trằn trọc, khó ngủ. Đủ thứ chuyện trong đầu.

Share this post