Chống Giặc Tầu – Ba Tàu? Có Chi Đáng Sợ! – Hoàng Long Hải –

Chống Giặc Tầu – Ba Tàu? Có Chi Đáng Sợ! – Hoàng Long Hải –

Cuộc chiến đấu chống người Tầu xâm lăng nước ta là một cuộc chiến đấu dai dẳng, kéo dài hàng ngàn năm, kể từ năm 208 trước Tây Lịch, nếu tính đó là năm Triệu Đà chiếm Âu Lạc của Thục Phán, hay năm 111 trước TL, là năm nhà Hán tiêu diệt nước Nam Việt của Triệu Đà.

Trong suốt một ngàn năm Bắc thuộc, người Việt không bao giờ chịu khuất phục, đã nhiều lần nổi lên chống lại ách cai trị của Trung Hoa, từ cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bôn, Mai Thúc Loan, Triệu Quang Phục… và kết thúc bằng chiến thắng của Ngô Quyền, đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 939 sau TL.

Sức đề kháng mãnh liệt của tổ tiên:

Sau một ngàn năm Bắc thuộc, dưới chính sách cai trị tàn ác và nhiều thủ đọan của người Tầu, chính sách cai trị đồng hóa của họ, người Việt đã chiến thắng, không những không bị đồng hóa mà còn giành lại được quyền tự chủ, xây dựng một quốc gia riêng biệt, hoàn toàn tự chủ ở phương nam. Đó là một kỳ công, là một chiến thắng vĩ đại mà không phải dân tộc nào cũng làm được.

Sở dĩ người Việt đã làm nên được điều vĩ đại ấy, bởi vì họ có một tinh thần vững chắc: Tinh thần tự chủ, yêu dân tộc và đất nước của họ. Một ý chí mạnh mẽ và sắt đá không chịu làm tay sai cho ngoại bang.

Từ ý chí đó, họ đã có một sức mạnh của đoàn kết, sức mạnh chiến đấu của toàn dân.

Nỗi lo chung của mọi ngườihoànglonghải – Chống Giặc Tầu (Bài 1) – Tổ tiên chúng ta chống Tầu xâ

Mỗi khi có chiến tranh chống ngoại xâm, hầu như người Việt Nam đều đồng một lòng, trên dưới như nhau. Ai ai cũng lo việc nước. Câu chuyện ông Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt, nghĩ tới giặc xâm lấn, vua tới bên cạnh mà không hay là một ví dụ điển hình.

(Xem phụ lục về Phạm Ngũ Lão) -1

Sự lãnh đạo của các nhà vua

Đó là cuộc chiến đấu do vua lãnh đạo. Tất cả các cuộc chống Tầu đều do vua lãnh đạo, nhưng rõ ràng nhất là trường hợp Lê Hoàn, Ông phải lên làm vua để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống. Các nhà vua về sau thuộc đời nhà Lý, nhà Trần, điển hình là vua Trần Nhân Tông, ba lần đại thắng quân Mông Cổ, của Lê Lợi khi ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa  Lam Sơn, là Nguyễn Huệ, ông phải làm lẽ đăng quang ở núi Bân ở Huế, để được chính danh khi đem 20 vạn quân ra Bắc phá quân Thanh.

Tài ba của tướng lãnh

Dưới sự lãnh đạo của vua, là tài điều binh của các vị tướng giỏi, như Phạm Cự Lượng đời Tiền Lê, Lý Thường Kiệt đời nhà Lý, Trần Hưng Đạo đời nhà Trần, Nguyễn Trãi thời Lê Lợi khởi nghĩa,  và các tướng khác như Đô Đốc Lộc, Đô Đốc Tuyết thời chống quân Thanh.

(Xem phụ lục về Hội Nghị Bình Than) -2

Ai ai cũng đánh giặc

Vì nước Tầu dân đông binh nhiều, nên mỗi khi có chiến tranh, nước Việt phải dốc toàn lực lượng ra chống đỡ. Đời nhà Trần, ai cũng phải đi lính, tham gia binh đội khi có lệnh vua ban. Trong khi hòa bình, người dân vẫn sẵn sàng chiến đấu khi có biến loạn. Đối với người nông dân Việt Nam, nông dân chiếm đa số, người ta phải sẵn sàng chiến đấu theo như chiến lược “Tĩnh vi nông, động vi binh”. Khi nước nhà yên tĩnh, không có ngoại xâm, người nông dân được lui về làm ruộng. Khi có biến động, khi có ngoại xâm, ai ai cũng phải gia nhập binh lính, cầm gươm giáo ra trận.

Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh

Việc chiến đấu gìn giữ tự chủ không dành cho một ai, không chỉ riêng cho đàn ông con trai, mà ngay cả đàn bà cũng phải tham gia đánh giặc. Vì vậy, nước ta có câu tục ngữ “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Hai bà Trưng không chỉ lãnh đạo cuộc kháng chiến mà bà còn có hơn mười nữ tướng, phần đông là những tướng tài giỏi.

(Xem phụ lục về Hai Bà Trưng, về Bà Triệu) -3

Trẻ em, thiếu nhi cũng đánh giặc

Khi có giặc, trẻ con cũng tham gia giết giặc.

Đó là câu chuyện cậu bé làng Phù Đổng phá giặc Ân đời Hùng Vương thứ 6.

(Xem phụ lục về Phù Đổng Thiên Vương)  -4

Đó cũng là câu chuyện thiếu niên Trần Quốc Toản, không được tham dự hội nghị Bình Than nên tức giận bóp nát quả cam cầm trong tay mà không hay.

(Xem phụ lục về Trần Quốc Toản) -5

Tổ tiên cũng đánh giặc, điều khiển âm binh

Khi có giặc ngoại xâm, tổ tiên phù hộ cho con cháu đánh giặc, cùng con cháu tham gia chiến đấu, như câu chuyện những con ngựa đá đời Trần.

(Xem phụ lục về ngựa đá)- 6

Đó cũng là câu chuyện anh em Trương Hống, Trương Hát điều khiển Âm Binh, giúp Lý Thường Kiệt đáng tan quân Tống ở sông Như Nguyệt

(Xem phụ lục hai tướng Trương Hống và Trương Hát)- 7

Phật thánh cũng mang niềm đau khổ chung của dân tộc.

(xem phụ lục về bài thơ của Huy Cận) – 8

Loài vật cũng đánh giặc

Chính thần Kim Qui giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa, và cũng chính thần Kim Qui dâng vua Lê Lợi thanh kiếm đánh bại quân nhà Minh

(Xem phụ lục về sự tích Hồ Gươm)- 9

Và cũng chính những con ngựa đá đưa tổ tiên đánh giặc đời nhà Trần.

(Xem phụ lục ngựa đá) -6

Cũng chính con voi đưa Trần Hưng Đạo sang sông, mắc lầy mà chết, khiến Trần Hưng Đạo chỉ sông mà thề để kích thích quân sĩ.

(Xem phụ lục: “Lời thề sông Hóa”)- 10

Tinh thần dân chủ trong cuộc chiến chống xâm lăng

Các bô lão cũng tham gia đánh giặc khi các cụ họp Hội Nghị Diên Hồng và thề “Quyết Chiến”. Đây là hội nghị dân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, trước cả những hội nghị dân chủ Âu Mỹ hàng năm trăm năm.

(xem phụ lục về Hội Nghị Diên Hồng)- 11

Vì việc nước quên thù riêng

Đó là hành vi cao thượng của Trần Hưng Đạo, câu chuyện Trần Khánh Dư

(Xem phụ lục về Trần Hưng Đạo)- 12

Kết:

Người Việt chống xâm lăng bằng tổng lực, toàn sức mạnh của dân tộc, không phải chỉ bằng ngưòi nào, đoàn thể nào, giai tầng nào, hạng người nào. Tổ tiên chống xâm lăng không phân biệt già trẻ, trai gái, đàn ông, đàn bà… Và bằng tất cả ý chí, lòng yêu nư1ơc, và lòng quả cảm, hy sinh của họ, bằng tất cả sức mạnh tinh thần cũng như vật chất, tài sản, vật dụng. Cái gì chống giặc được thì dùng cái đó. Rõ nhất là trong ba lần đánh bại quân Mông Cổ, và chiến công của vua Quang Trung năm Kỷ dậu (1789)

Lịch sử đời nhà Hồ cho chúng ta thấy nếu chia rẽ thì sẽ thua. Hồ Quí Ly không đoàn kết được dân tộc, nên dân tộc ta lầm than trong thời bị nhà Minh cai trị.

Phụ lục:

1-/ Phạm Ngũ Lão, ngồi đan sọt, lo việc nước

Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ kể lại chuyện Phạm Ngũ Lão ra mắt Trần Hưng Đạo đại ý như sau: Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy Phạm Ngũ Lão ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi. Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ông vẫn không nhúc nhích, thấy vậy Vương dừng lại hỏi, bấy giờ Phạm Ngũ Lão mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Trần Hưng Đạo cho ông ngồi cùng kiệu đưa về kinh sư. Từ đó Phạm Ngũ Lão trở thành môn khách của Trần Hưng Đạo.

2)-/ Hội Nghị Bình Than

Hội Nghị Bình Than là một hội nghị quân sự do vua Trần Nhân Tông triệu tập vào năm 1282 để bàn phương hướng kháng chiến khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam lần thứ hai.

Hội nghị Bình Than được tổ chức vào tháng 10 năm 1282 ở làng Bình Than, tổng Vạn Ti, vùng đất ngày nay là Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Nơi họp có tính cách bí mật vì cần tránh tai mắt của bọn gián điệp đối phương. Vào thời Trần, con sông Thương cũng có tên là Bình Than.

Đây là hội nghị của những người nắm giữ trọng trách lãnh đạo sự nghiệp giữ nước và chỉ bàn hai vấn đề thiết yếu nhất: đó là xác định phương hướng chiến lược chống xâm lăng và tổ chức bộ máy chỉ huy chống xâm lăng. Ở hội nghị Bình Than, vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thánh Tông đã quyết định trao quyền Tổng chỉ huy quân đội cho Trần Quốc Tuấn, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân.

3)-/ Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng

Năm giáp-ngọ (34) là năm Kiến-võ thứ 10, vua Quang-vũ sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao-chỉ.

Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao-chỉ đã có lòng oán giận lắm. Năm canh-tí (40) người ấy lại giết Thi Sách người ở quận Châu-Diên (phủ Vĩnh tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc về tỉnh Vĩnh- yên).

Vợ Thi Sách là Trưng-Trắc con gái quan lạc tướng ở huyện Mê-linh (làng Hạ-lôi, huyện Yên-lãng, tỉnh Phúc-yên) cùng với em gái là Trưng-Nhị, nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải.

Lúc bấy giờ những quận Cửu-chân, Nhật-nam và Hợp-phố cũng nổi lên theo về với hai bà Trưng-Thị. Chẳng bao lâu quân hai bà hạ được 65 thành-trì. Hai bà bèn tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê-linh, là chỗ quê nhà.

Mã-Viện sang đánh Giao-Chỉ.

Năm tân-sửu (41) vua Quan-vũ sai Mã Viện làm Phục-ba tướng-quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan Lâu-thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng-vương.

Mã Viện là một danh-tướng nhà Đông-Hán, lúc bấy giờ đã ngoài 70 tuổi, nhưng vẫn còn mạnh, đem quân đi men bờ để phá rừng đào núi làm đường sang đến Lãng-bạc, gặp quân Trưng-Vương hai bên đánh nhau mấy trận11. Quân Trưng-vưng là quân ô-hợp không đương nổi quân Mã Viện, đã từng đánh giặc nhiều phen. Hai bà rút quân về đóng ở Cẩm-khê ( phủ Vĩnh- tường, tỉnh Vĩnh-yên). Mã Viện tiến quân lên đánh, quân hai bà vỡ tan cả. Hai bà chạy về đến xã Hát-môn, thuộc huyện Phúc-lộc (nay là huyện Phúc Thọ tỉnh Sơn-tây), thế bức quá, bèn gia mình xuống sông Hát-giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng-hà) mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm quí -mão (43).

Những tướng của hai bà là bọn Đô Dương chạy vào giữ huyện Cư- phong thuộc quận Cửu-chân. Sau Mã Viện đem quân vào đánh, bọn Đô Dương đều phải ra hàng.
Hai bà họ Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài-trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng đủ để cái tiếng thơm về muôn đời. Đến ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ hai bà để nghi-tạc cái danh-tiếng hai người nữ anh-hùng nước Việt-nam ta12.

Sử-gia Lê văn Hưu nói rằng: “Trung Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi tiếng đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như giở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho đến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi-tớ người Tàu, mà không biết xấu-hổ với hai người đàn-bà họ Trưng!”

(Sử chép rằng Lãng-bạc là Hồ-tây ở gần Hà-nội, nhưng có người bác đi bảo không).

Nay ở làng Hát-môn, huyện Phúc-thọ, tỉnh Sơn Tây và ở bãi Đồng-nhân, ở gần Hà-nội có đền thờ hai bà, đến ngày mồng 6 tháng 2 thì có hội.

            (trích VNSL – Trần Trọng Kim)

Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu

Năm mậu-thìn (248) là năm xích-ô thứ 11 nhà Đông ngô, Ngô chủ sai Lục Dậu sang làm thứ-sử Giao-châu.
Năm ấy ở quận Cửu-chân có người đàn bà tên là Triệu Thị Chinh khởi binh đánh nhà Ngô.

Sử ta chép rằng bà Triệu là người huyện Nông-cống bấy giờ. Thủa nhỏ cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu quốc Đạt, dến độ 20 tuổi gặp phải người chị dâu ác nghiệt, bà ấy giết đi rồi vào ở trong núi. Bà ấy là một người có sức mạnh, lại có chí-khí và lắm mưu-lược. Khi vào ở trong núi chiêu mộ hơn 1,000 tráng sĩ để làm thủ hạ. Anh thấy thế mới can bà, thì bà bảo rằng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng dữ, chém cá tràng-kình ở bể đông chứ không thèm bắt-chước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì-thiếp người ta.”

Năm mậu-thìn (248) vì quan-lại nhà Ngô tàn-ác, dân-gian khổ-sở, Triệu quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu-chân. Bà đem quân ra đánh giúp anh, quân sĩ của Triệu quốc Đạt thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Khi bà ra trận thì cưỡi voi và mặc áo giáp vàng là Nhụy-kiều tướng-quân.

Thứ sử Giao-châu là Lục Dận đem quân đi đánh, bà chống nhau với nhà Ngô được năm sáu tháng. Nhưng vì quân ít thế cô, đánh mãi phải thua, bà đem quân chạy đến xã Bồ-điền (nay là xã Phú-điền thuộc huyện Mỹ-hóa) thì tự-tử. Bấy giờ mới 23 tuổi.
Về sau vua Nam Đế nhà Tiền-Lý, khen là người trung-dũng sai lập miếu thờ, phong là: “Bất chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu-nhân”. Nay ở xã Phú-điền, tỉnh Thanh-hóa còn đền thờ. (VNSL – TTK)

4-/ Chuyện cậu bé làng Phù Đổng

Đời vua Hùng Vương thứ 6 có đám giặc gọi là giặc Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi. Vua mới sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Phù Đỗng, bộ Võ Ninh (nay là huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh), có đứa trẻ xin đi đánh giặc giúp vua. Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Đứa trẻ ấy xin đúc cho một con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi đi đánh giặc.

Phá được giặc Ân rồi, người ấy đi đến núi Sóc Sơn thì biến đi mất. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Đổng, về sau phong là Phù Đổng Thiên Vương.

Truyện này là truyện tục truyền như vậy, chứ không có lẽ tin làm sự thực được. Họa chăng đời bấy giờ có người tướng giỏi, đánh được giặc, về sau người ta nhớ ơn làm đền thờ thì hợp lẽ hơn. Hiện bây giờ có đền thờ ở làng Gióng tức làng Phù Đổng. Năm nào đến mồng tám tháng tư cũng có hội vui lắm, tục gọi là đức Thánh Gióng.

                                    (VNSL – TTK)

5-/ Câu chuyện Trần Quốc Toản

Đại Việt Sử ký Toàn Thư chép: Vua thấy Hoài Văn Hầu Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn kích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết. Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ: “Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua). Sau này khi đối trận với giặc, tự mình xông lên trước quân sĩ, giặc trông thấy phải lui tránh, không dám đối địch. Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước vương.

Tháng 4 năm1285, vua Trần Nhân Tông sai Chiêu Thành Vương, Hoài Văn Hầu Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái đem tiệp binh đón đánh quân Nguyên ở bến Tây Kết.

Ngày 10 tháng 5 năm đó có người về báo cho hai vua Trần là thượng tướng Quang Khải, Hoài Văn Hầu Quốc Toản và Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp cùng em là Nguyễn Truyền đem dân binh các lộ đánh bại quân giặc ở các xứ Kinh Thành, Chương Dương. Quân giặc tan vỡ lớn… Thoát Hoan, Bình Chương A Lạt rút chạy qua sông Lô.

Trong các sử sách của Việt Nam như Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Việt sử Tiêu án và các quyển sử soạn gần đây như Việt sử Tân biên của Phạm Văn Sơn, Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Trần Hưng Đạo của Hoàng Thúc Trâm đều không thấy đề cập đến cái chết của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản. Chỉ có ĐVSKTT bản kỷ quyển V có viết: “… Đến khi mất, vua rất thương tiếc, thân làm văn tế, lại gia phong tước Vương”. Nhưng các quyển sử của nhà Nguyên lại có đề cập đến cái chết của ông”.

6-/ “Xã tắc hai phen bon ngựa đá”

Sau đại thắng ở sông Bạch Đằng năm 1288, kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, Trần Hưng Đạo rước vua Nhân Tông cùng Thượng hoàng Thánh Tông về Thăng Long. Vua mở tiệc khao thưởng quân sĩ, truyền cho dân chúng mở hội mừng ba ngày đêm, gọi là “ thái bình diên yến”.

Tương truyền mấy hôm đó, người ta thấy chân đá tạc ra để chầu hầu trước các miếu, điện điều có dính bùn, tin rằng chính các con ngựa đá và muôn vật vô tri của đất nước đều có tham gia đánh giặc.

Việc đến tai vua Trần Nhân Tông, nhân lúc vui mừng vua liền ứng khẩu ngâm hai câu thơ rằng:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

Dịch:

Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng.

7)- Tướng quân Trương Hống, Trương Hát

Hai anh em Trương Hống, Trương Hát, đều là tướng giỏi của Triệu Quang Phục. Hai người theo giúp Triệu Việt Vương lập được nhiều chiến công lẫy lừng. Về sau, thế lực cùng kiệt, nhưng hai ông nhất định không chịu hàng, cùng nhịn đói mà chết

Năm 1076, nhà Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết đem quân sang xâm lược nước ta. Tướng nước ta là Lý Thường Kiệt dàn quân bờ nam sông Như Nguyệt để chống giặc.

 Một đêm, Lý Thường Kiệt đến đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở cửa sông Nam Quận dâng hương hoa lễ vật, cầu nguyện

Sau đó, mỗi khi đêm xuống, trong các trại giặc, từ tướng tới quân, chúng đều tưởng như thấy có thiên binh vạn mã từ đâu ầm ầm kéo đến … Chính hai vị tướng quân Trương Hống, Trương Hát đêm nào cũng dẫn âm binh tới uy hiếp tinh thần quân giặc, khiến quân giặc chưa đánh đã chạy.

8-/ Các vị La Hán chùa Tây Phương.

Các vị La Hán chùa Tây Phương
Tôi đến thăm về lòng vấn vương.
Há chẳng phải đây là xứ Phật,
Mà sao ai nấy mặt đau thương?

Đây vị xương trần chân với tay
Có chi thiêu đốt tấm thân gầy
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt
Tự bấy ngồi y cho đến nay.

Có vị mắt giương, mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng biển luân hồi
Môi cong chua chát, tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.

Có vị chân tay co xếp lại
Tròn xoe từa thể chiếc thai non
Nhưng đôi tai rộng dài ngang gối
Cả cuộc đời nghe đủ chuyện buồn….

Các vị ngồi đây trong lặng yên
Mà nghe giông bão nổ trăm miền
Như từ vực thẳm đời nhân loại
Bóng tối đùn ra trận gió đen.

Mỗi người một vẻ, mặt con người
Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời
Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã
Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi.

Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau
Quay theo tám hướng hỏi trời sâu
Một câu hỏi lớn. Không lời đáp
Cho đến bây giờ mặt vẫn chau.

Có thực trên đường tu đến Phật
Trần gian tìm cởi áo trầm luân
Bấy nhiêu quằn quại run lần chót
Các vị đau theo lòng chúng nhân?

Nào đâu, bác thợ cả xưa đâu?
Sống lại cho tôi hỏi một câu:
Bác tạc bấy nhiêu hình khô hạnh
Thật chăng chuyện Phật kể cho nhau?

Hay bấy nhiêu hồn trong gió bão
Bấy nhiêu tâm sự, bấy nhiêu đời
Là cha ông đó bằng xương máu
Đã khổ, không yên cả đứng ngồi.

Cha ông năm tháng đè lưng nặng
Những bạn đương thời của Nguyễn Du
Nung nấu tâm can vò võ trán
Đau đời có cứu được đời đâu.

Đứt ruột cha ông trong cái thuở
Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ
Bao nhiêu hi vọng thúc bên sườn
Héo tựa mầm non thiếu ánh dương.

Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la
Sờ soạng, cha ông tìm lối ra
Có phải thế mà trên mặt tượng
Nửa như khói ám, nửa sương tà.

Các vị La Hán chùa Tây Phương!
Hôm nay xã hội đã lên đường
Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại
Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương.

Cha ông yêu mến thời xưa cũ
Trần trụi đau thương bỗng hoá gần!
Những bước mất đi trong thớ gỗ
Về đây, tươi vạn dặm đường xuân.

27-12-1960

Trả lời Hà Minh Đức về bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”, Huy Cận nói:

“La Hán là những vị tu gần thành Phật, nhưng tôi thấy đây là những hình ảnh của cha ông và toàn là những hình ảnh đau khổ; tất nhiên không phải tất cả đều đau khổ, nhưng ấn tượng chung là như vậy. Tôi về ghi trong sổ tay mấy câu: “Các vị La Hán chùa Tây Phương, nỗi đau khổ của cha ông” nhưng không làm được bài thơ mặc dầu đã có những ý thơ đó.”

Ý tưởng về “nỗi đau khổ của cha ông” trong dòng lịch sử dân tộc, xuất hiện trong trí ông năm 1940, khi ông đi thăm chùa Tây phuơng lần đầu. Và mãi đến:

“Ngày 28 – 2 -1960 tôi đi thăm chùa Tây Phương cùng mấy chuyên gia Trung Quốc. Bóng dáng của ông cha ta ít nhiều đã phản ánh được thời đại lúc đó. Các vị La Hán ở Trung Quốc cũng rất đẹp, công phu nhưng “khí thế đằng đằng” khác với các vị La Hán đau khổ, gầy guộc nhưng rất có thần của ta. Buổi tối về tôi viết một mạch 15 đoạn. Đây không phải là tác phẩm bàn luận về Phật giáo mà chỉ là sự thể hiện một cách cảm nhận và suy nghĩ về quá khứ của lịch sử dân tộc.”

Chúng ta có thể tự hỏi: cái “Khí thế đằng đằng” là cái chi vậy?

Có phải đó là cái khí thế của Mã Viện khi đem quân qua “hỏi tội” hai bà Trưng sao dám chống lại Thiên Triều, hay cái “khí thế” của Trương Phụ, Liễu Thăng khi vượt qua ải Nam Quan. Và “các vị La Hán đau khổ, gầy guộc…” chính là nỗi gian khổ của một dân tộc triền miên chống lại kẻ thù từ phương Bắc?

Cái Huy Cận nói “rất có thần” đó là cái gì? Cái thần ông thấy mà không nói được, hay ông không dám nói chính là bản năng sinh tồn của một dân tộc nhỏ bé, phải luôn luôn chống cự bọn xâm lược từ phương bắc xuống để giữ nền tự chủ, và phát triển về phương nam để tìm kiếm sự sinh tồn. Chỉ có vậy, ông mới đem so sánh một cách khéo léo và tế nhị các ông La Hán ở bên Tầu với các La Hán ở chủa Tây Phương của ta.

Cái định kiến cứng nhắc của người Cộng Sản, kể cả Huy Cận là người ta không thấy được sự đồng nhất giữa đạo Phật với Dân tộc khi nhìn vào hình tượng các vị La Hán cũng như văn hóa của người Việt Nam, khiến họ chủ trương phải tiêu diệt nó đi để xây dựng một văn hóa mới, cái gọi là “Văn hóa Xã hội Chủ nghĩa”.

9-/ Sự tích Hồ Gươm

Khi ấy Nhà vua cùng người ở trại Mục sơn là Lê Thận cùng làm bạn keo sơn. Thận thường làm nghề quăng chài. Ở xứ vực Ma viện, đêm thấy đáy nước sáng như bó đuốc soi. Quăng chài suốt đêm, chẳng được gì cả. Chỉ được một mảnh sắt dài hơn một thước, đem về để vào chỗ tối. Một hôm Thận cúng giỗ (ngày chết của cha mẹ), nhà vua tới chơi nhà. Thấy chỗ tối có ánh sáng, nhận ra mảnh sắt, nhà vua bèn hỏi:

– Sắt nào đây?

Thận nói:

– Đêm trước quăng chài bắt được.

Nhà vua nhân xin lấy. Thận liền cho ngay. Nhà vua đem về đánh sạch rỉ, mài cho sáng, thấy nó có chữ “Thuận Thiên”, cùng chữ “Lợi”. Lại một hôm, nhà vua ra ngoài cửa, thấy một cái chuôi gươm đã mài-dũa thành hình, nhà vua lạy trời khấn rằng:

– Nếu quả là gươm trời cho, thì xin chuôi và lưỡi liền nhau!

Bèn lấy mảnh sắt lắp vào trong chuôi, thành ra một chiếc gươm hoàn chỉnh. Tới hôm sau, hoàng hậu ra trông vườn cải, bỗng thấy bốn vết chân của người lớn, rất rộng, rất to. Hoàng hậu cả kinh, vào gọi nhà vua ra vườn, được quả ấn báu, lại có chữ Thuận Thiên (sau lấy chữ này làm niên hiệu) cùng chữ Lợi. Nhà vua thầm biết ấy là của trời cho, lòng lấy làm mừng, giấu giếm không nói ra.

(Truyền thuyết này được đưa vào nội dung sách giáo khoa, nói về việc Bình Định Vương dùng gươm đó đánh nhau với giặc, cuối cùng đuổi được quân Minh và lên làm vua.)

Đầu năm 1428, Lê Thái Tổ cùng quần thần bơi thuyền ra hồ Tả Vọng. Nhận lệnh Long Quân, rùa nổi lên mặt nước.

Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Đứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm bên người tự nhiên động đậy.

Rùa tiến về thuyền vua và nói

– Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!

Vua nâng gươm hướng về phía Rùa Vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước.

Từ đó, hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.

(trích “Lam Sơn thực lục” của Nguyễn Trãi)

10-/ Lời thề sông Hóa

Năm 1288, trong một lần đem quân đánh Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng, voi của Hưng Đạo Vương bị mắc lầy bên bờ sông Hóa. Binh lính tìm đủ cách kéo voi lên nhưng không được. Vì việc quân không thể chậm trễ, Hưng Đạo Vương đành phải bỏ voi lại, dù biết voi sẽ chết khi thủy triều lên. Voi ứa nước mắt nhìn theo Vương.

Ngại binh sĩ cho đó là điềm xui xẻo, Hưng Đạo Vương tuốt gươm chỉ dòng sông, nói to lên rằng: “Nếu trận này không đánh thắng được giặc, ta thề không về bến sông này nữa!”

Vì câu nói đó, binh lính hết lòng đánh giặc. Trận đó Hương Đạo Vương thắng lớn.

Sau đó, Trần Hưng Đạo cho đắp mộ voi nơi bến sông, dân chúng lập miếu thờ. Do đó, bến sông nầy có tên là Bến Tượng.

11-/ Hội Nghị Diên Hồng

Nếu Hội Nghị Bình Than họp vào tháng 10 năm 1282 do vua Trần Nhân Tông triệu tập để bàn phương hướng kháng chiến chống quân Nguyên Mông, thì Hội Nghị Diên Hồng lại được họp 2 năm sau đó, vào tháng Chạp năm Giáp Thân 1284 và do Thượng Hoàng Trần Thánh Tông chủ trì. Hội nghị này được tổ chức trước thềm điện Diên Hồng, trong khuôn viên đế đô Thăng Long. Đây là một hội nghị được xem như dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta mà các thành viên đều là các bô lão từ khắp nơi trong nước, do dân chúng chọn lọc hay đề nghị.

Các bô lão không phải là những nhà quân sự chuyên môn mà chỉ là những người đại diện có uy tín trong dân gian, nói ra điều gì thì người dân phải lắng tai nghe và đưa ra thực hiện.

Thượng Hoàng Trần Thánh Tông chỉ đưa ra một câu hỏi cho toàn thể hội nghị, được coi như một lời trưng cầu dân ý. Câu hỏi đó là: Trước cuộc xâm lăng của quân Mông, các bô lão nên hòa hay nên chiến.

Câu hỏi đã ngắn gọn mà câu trả lời còn ngắn gọn hơn. Tất cả các bô lão đều đồng thanh hô to: Chiến. Như thế là toàn dân đã chuẩn bị cho cuộc chiến.

12-/ Câu chuyện vì nước quên thù riêng

Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha trăn trối để dò ý hai gia tướng là Dã Tượng và Yết Kiêu. Hai người bẩm rằng: “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia tướng, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi”.

(Lấy từ tích cũ: Sở chiêu vương chạy loạn, có người làm thịt dê tên là Duyệt đi theo. Sau Sở Chiêu Vương trở về nước, ban thưởng cho Duyệt. Duyệt từ chối và nói: “Nhà vua mất nước, tôi không được giết dê, nay vua về nước, tôi lại được làm nghề giết dê, tước lộc thế là đủ còn thưởng gì nữa”.)

Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi hai người. Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?”

Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến thưa: “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!”

Trần Quốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm Trần Quốc Tuấn đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Tảng tiến lên thưa: “Tống thái tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.”

Trần Quốc Tuấn rút gươm mắng: “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra” và định giết Quốc Tảng. Hưng Vũ vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha.

Sau đó, ông dặn Hưng Vũ vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng.”

&

Năm Thiệu Bảo thứ 7, Ất Dậu, 1285, thế giặc bức bách, hai vua ngầm đi chiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (Quảng Ninh ngày nay), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn (mũi biển, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) để đánh lừa giặc.

Lúc ấy, xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Trần Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Quốc Tuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi. Còn nhiều việc nữa, đại loại như thế.

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết: “Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử, như hào cửu tứ của quẻ Tùy (xem Kinh Dịch) thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa. Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy.”

Quan hệ với Trần Quang Khải

Trước kia, Trần Thánh Tông thân đi đánh giặc, Trần Quang Khải theo hầu, ghế tể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương bắc đến. Trần Thái Tông gọi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tới bảo: “Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm định lấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc.”

Trần Quốc Tuấn thưa: “Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồ thì thần không dám vâng chiếu. Huống chi quan gia đi đánh giặc xa, Thái sư theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, e có chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Thượng tướng. Đợi khi xa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn.”

Một hôm, Trần Quốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngày mới trở về. Trần Quang Khải vốn sợ tắm, Trần Quốc Tuấn thì thích tắm thơm, từng đùa bảo Trần Quang Khải: “Mình mẩy cáu bẩn, xin tắm giùm”. Rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông và nói: “Hôm nay được tắm cho Thượng tướng.” Trần Quang Khải cũng nói: “Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho.”

Trước đây, hai ông tuy một là Quốc công tiết chế, một là Thượng tướng thái sư nhưng do lo lắng về mối thù của Trần Liễu để lại mà có mối hiềm nghi xa cách. Sau khi được Trần Quốc Tuấn tắm cho, hai ông trở nên thân tình, tin tưởng nhau, tình nghĩa qua lại giữa hai ông ngày càng thêm mặn mà. Trong việc giúp đỡ nhà vua, hai ông đều đứng hàng đầu.

                                                                        (theo Wiki)

Câu chuyện Trần Khánh Dư

Trần Khánh Dư tuy trước đó có công, nhưng vì thông dâm với công chúa Thiên Thụy, vợ của Hưng Vũ Vương Nghiễn là con trai Trần Quốc Tuấn, nên bị đoạt hết quan tước, tịch thu tài sản.

Trần Khánh Dư về ở Chí Linh làm nghề bán than.

Lúc vua Trần tới bến Bình Than, Khánh Dư đội nón

lá, mắc áo ngắn ở trên một chiếc thuyền lớn chở than củi. Vua Trần thấy vậy cho mời vào. Vua bảo quan thị thần:

“Người kia chẳng phải là Nhân Huệ Vương hay sao?”

Lập tức sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Đến cửa Đại Than thì kịp. Quân hiệu gọi:

“Ông lái ơi, có lệnh vua triệu”.

Khánh Dư trả lời: “Lão là người buôn bán, có việc gì mà phải triệu?”

Quân hiệu trở về tâu thực như thế. Vua bảo:

“Đúng là Nhân Huệ đấy, ta biết người thường tất không dám nói thế”.

Vua lại sai nội thị đi gọi. Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá đến gặp vua. Vua nói:

“Nam nhi mà đến nỗi này thì thực là cùng cực rồi”, bèn xuống chiếu tha tội cho ông. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự, cho ngồi các hàng dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua.

Nhưng rốt cuộc Khánh Dư cũng không sửa đổi được lỗi lầm xưa.

Với người Tàu, người Việt có hai điều: Ghét và Sợ.

Ghét thì cũng ghét từ đời cha ông truyền lại. Sợ thì cũng cái sợ từ đời cha ông truyền lại. Truyền lại hay truyền thống thì có khác chi nhau?

Có lẽ cái sợ bắt nguồn từ thời Bắc thuộc.

Lịch sử nước ta dù ít nói tới cái ác của thời Bắc thuộc, nhưng không quên cái ác nhứt là cái ác của Tô Định, hay độc địa như hành động của Mã Viện.

Thật vậy, người ta không quên câu chuyện “Cột đồng” của Mã Viện. Sau khi dẹp tan cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã Viện dựng một cột đồng, đề chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt.” Có nghĩa là cột đồng nầy mà đổ, thì người Giao Chỉ bị diệt, bị diệt như 99 Việt ở phía nam song Dương Tử.

Người Giao Chỉ đã mất nước, lại còn sợ dân tộc mình bị tiêu diệt, nên cố giữ cột đồng sao cho khỏi đổ. Tổ tiên ông Tôn Văn chẳng có “cột đồng cột chì” gì cả, nên chẳng lo gìn giữ nòi giống Việt của họ!

Còn tổ tiên chúng ta đã làm cách nào để giữ cột đồng?

Cách như sau: Mỗi người đi ngang, bỏ vào cột đồng một cục đá. Càng ngày, đá càng chồng chất, lên cao ngất, phủ kín cả cột đồng. Nhờ vậy, cột đồng không thể đổ được. Đến nỗi ngày sau, không ai biết cột đồng Mã Viện dựng ở đâu, dấu tích đô hộ bị xóa mất. Thế mới biết, tinh thần dân tộc của người Giao Chỉ, tổ tiên chúng ta, mạnh mẽ chừng nào! Cũng do đó mà ông Hoàng Cao Khải, viết một câu mai mỉa:

            Cột đồng Đông Hán tìm đâu thấy
            Chỉ thấy Tây hồ bóng nước gương!”

Không thấy dấu tích “chiến công” của Mã Viện ở đâu cả, chỉ thấy mặt nước Tây Hồ, nơi Hai Chị Em Bà Trưng tự vẫn, sáng bóng như gương (1)

Tuy vậy, tổ tiên chúng ta rất thủy chung, ân oán đâu đó rõ ràng: Sử còn chép thời Bắc thuộc, có ba chú ba Tàu sang làm thái thú ở Giao Châu,  giúp đỡ cho người Lạc Việt: Đó là các ông Tích Quang, Nhậm Diên (Nhậm chớ không phải Nhâm, không có  dấu nặng) và Sĩ Nhiếp, được dân chúng lập đền sau khi họ về Tàu hay qua đời!

“Việt Nam Toàn Thư” của Phạm Văn Sơn viết về thời kỳ Bắc thuộc như sau:

“Người cổ của chúng ta mỗi ngày một tiến rồi một ngày kia biết lặn lội trong những khoảng ruộng bùn lầy, tưới những giọt mồ hôi xuống đất cứng để sinh sống. Bấy giờ chưa có gia súc, chưa có dụng cụ tinh xảo, họ trần lực lấy sức tay chân tranh đấu với Thiên nhiên. Họ đẽo đá làm thành những lưỡi cuốc nhọn,  để sới đất khô và đập cho nhỏ chờ lúc nước sông tràn vào ruộng, ruộng sẽ có bùn ngầu cho họ gieo giống. Họ biết tháo nước ra vào để khỏi nạn úng thủy hay thiếu nước. Gần bể nên họ biết dùng mực nước thủy triều lên xuống ở các ngành sông để lấy nước vào ruộng. Nhờ vậy ngay thời bấy giờ tại Trung châu Bắc Việt đã có nơi làm ruộng được cả hai mùa. Sau này sum họp với người Tàu họ biết dùng lưỡi cày sắt và trâu bò.

Qua đoạn văn trên, nếu nhận xét theo phương pháp của các sử gia, thì thời kỳ ấy, tổ tiên chúng ta còn ở thời kỳ đồ đá (đẽo đá làm thành những lưỡi cuốc nhọn để sới đất khô và đập cho nhỏ). Nhờ người Tàu, người Việt tiến từ thời kỳ đồ đá lên thời kỳ đồ sắt: “Họ biết dùng lưỡi cày sắt và trâu bò”. Từ thời kỳ đồ đá lên thời kỳ đồ sắt là một bước tiến xa của nhân loại.

Tuy nhiên, xin nói thêm, thời kỳ ấy, người Lạc Việt đã văn minh hơn người Tàu: Người Việt đã biết trồng lúa nước, ăn cơm, trong khi người Tàu vẫn còn ăn bo bo. Hai bên bờ sông Hoàng Hà, người Tầu chỉ biết trồng bo bo. Không lý dân tộc ăn bo bo lại văn minh hơn dân tộc đã biết ăn cơm? Văn minh nhân loại là đi từ ăn bo bo lên ăn cơm, chớ không đi ngược lại!

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba chấm dứt năm 939, – sau khi Ngô Quyền đuổi quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành quyền tự chủ -, có lẽ không gây ấn tượng cho người Việt bằng cuộc đô hộ của nhà Minh, năm trăm năm sau, với nhiều việc làm hung dữ, tàn ác và kinh  khủng, được Nguyễn Trãi mô tả mộ cách rõ ràng trong Bình Ngô Đại Cáo:

Quân cường Minh đã thừa-cơ tứ ngược,
Bọn gian-tà còn bán nước cầu vinh,
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung-tàn,
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai-vạ.

Chước dối đủ muôn nghìn khoé,
Ác chứa ngót hai mươi năm.
Bại nhân-nghĩa nát cả càn-khôn,
Nặng khóa-liễm vét không sơn-trạch
Nào lên rừng đào mỏ, nào xuống bể mò châu,
Nào hố bẫy hươu đen, nào lưới dò chim trả,
Tàn-hại cả côn-trùng thảo-mộc,
Nheo-nhóc thay! quan quả diên liên
Kẻ há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy! no-nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục-dịch cho vừa,
Nặng-nề về những nỗi phu-phen,

Bắt-bớ mất cả nghề canh-cửi.
Độc-ác thay! trúc rừng không ghi hết tội,
Dơ-bẩn thay! nước bể khôn rửa sạch mùi,

 Người xưa chẻ tre thành từng thẻ nhỏ, viết lên đấy, gọi là “thanh sử” (sử xanh) – khi ấy người ta chưa biết làm giấy – Trúc rừng mà ghi, cũng không ghi hết tội, lấy hết nước biển đông mà rửa, mùi hôi thối cũng không đi. Nói như thế là quá rõ ràng.

Nhưng đâu phải chỉ có người Tàu sang cai trị mới tham lam, tàn ác với người Việt đâu?! Thế “Bọn gian tà bán nước cầu vinh” nữa chi?! Thời kỳ nào mà không có bọn nầy?! Nhắm bộ ngay bây giờ, nước ta không có bọn “bán nước cầu vinh” hay sao?! Điều nầy có bài hát của ông Việt Khang làm chứng.

Điều ác ấy, thời Minh thuộc, cách nay cũng mới năm trăm năm, người Việt chưa quên đâu!

Ghét thì đúng!

Nhưng sợ?

Người Tàu, nôm na là chú Ba, chú Ba ở Chợ Lớn, ở HồngKông hay chú Ba ngồi tại Trung Nam Hải, có chi đáng sợ đâu! Họ sợ chúngta đấy!

Ông bạn tù cải tạo vong niên Ngô Văn Tăng của tôi, mấy năm ăn chung, ngủ chung trong trại tù Xuân Lộc kể:

“Vô “rờ sẹc”, tao lận khẩu súng lục vô lưng quần, ra Chợ Cũ, vói tay chỉ miếng thịt heo quay treo trên cao, biểu chặt gói cho tao. Chú Ba “dạ” luôn miệng, làm y lời đâu đó, đưa cho tao, không tính tiền!

Hỏi sao không tính tiền, ông bạn tù già bảo: “Vói tay lên cao là để lòi cây súng dắt ở lưng ra, biết tao làm “sua-rờ-tê”, mấy chả sợ muốn chết, tính tiền gì nữa!”

Ấy là cái nhát gan của người Tàu chợ Cũ Saigon. Nhưng người Tàu Chợ Lớn, người Tàu hải ngoại có khác chi?

Việc làm của ông bạn già, không hẳn vì tham ăn, mà chính là vì, như ông nói, “làm cho bỏ ghét mấy chú Ba chơi!”

Ai không nhớ bọn cướp Tàu Ô, nổi tiếng một thời cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20?

Khi đám Tàu Ô của tướng Lư Hán, Tiêu Văn qua VN tước khí giới quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, người Việt không mấy ưa đám lính Tàu đói ăn nầy!

Trong thế giới chiến tranh thứ 2, khi Nhật đóng quân ở Đông Dương, mấy chú Ba ở xứ ta rét lắm, vì ở bên Tầu đang có Trung – Nhật chiến tranh. Mấy chú Ba ở VN mà theo phe Tưởng, Nhật bỏ tù, có khi thủ tiêu, như trường hợp nhạc sĩ La Hối ở Hội An.

Đến khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, quân Tàu Tưởng qua VN tước khí giới quân Nhật, mấy chú Ba lên mặt dữ.

Ông anh cả tôi, lúc ấy mới 15 tuổi, từng làm thông ngôn cho Nhật, bị mấy chú Ba vây đánh, phải bỏ chạy.

Năm 1946, Việt Minh hô hào toàn dân kháng chiến chống Pháp, một vài chú Ba không tuân lệnh, cho rằng “Tây và VN đánh nhau, không liên can gì tới họ”. Việt Minh dọa đốt nhà, họ mới chịu đi. Đến khi hồi cư, họ lợi dụng chỗ quen biết với Tây mà ức hiếp người Việt. Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, cũng có người trốn về Đài Loan để khỏi thi hành quân dịch.

Nhìn chung thì số đông tốt bụng, nhưng riêng một số, “ăn cơm của tui”, “uống nước của tui” mà lại trung thành với Mao xếnh xáng, dù con cháu của họ có làm nghị viên ở Nam Cali.

Chuyện ghét người Tàu thì nhiều lắm, kể không hết được! Tạo ra vụ “nạn kiều”, lột sạch tài sản rồi cho lên tàu mà đẩy ra biển. Việc làm ấy của đảng Cộng Sản VN là vì ghét người Tàu mà cũng là điều bất nhân thậm tệ, ít có ai làm được.

Xưa, đời nhà Trần, đời nhà Lê, bắt được quân Tàu còn cấp lương thực, cấp cả ngựa mà cho về Tàu, không làm điều độc ác như vậy. Chỉ có chủ nghĩa Cộng Sản, chủ nghĩa hận thù mới dạy cho con người làm được những việc như thế!

&

Xã hội Tàu trọng nam khinh nữ. Xem truyện Tàu, người ta thấy, khi một anh tướng nhát gan đóng cửa thành cố thủ, thì anh tướng tấn công, tới cửa thành chưởi bới om sòm, quăng cho một bộ áo quần đàn bà để làm nhục.

Tuy nhiên, trong lịch sử Tàu, thiếu chi vua quan Tàu, núp bóng đàn bà để mong được yên thân. Chuyện Chiêu Quân Cống Hồ là một ví dụ.

Trong bài “Mùa Xuân nói chuyện mê gái” về câu chuyện Vương Tường, tôi viết như sau (trích):

Hán Nguyên Đế giữ được giang sơn nhà Hán, nước Tầu được yên  nhờ có Chiêu Quân.

Chiêu Quân còn gọi là Vương Tường, Vương Chiêu Quân, một trong “tứ đại mỹ nhân”. Cái đẹp của Chiêu Quân thuộc hàng “chim sa” như trong thành ngữ “chim sa cá lặn”, Tầu gọi là “trầm ngư lạc nhạn”. Trong “Cung Oán Ngâm Khúc” có câu “Lững da trời nhạn ngẩn ngơ sa” là mượn điển tích nầy.

Sách cũ viết rằng khi Chiêu quân sang đất Hồ, ngang qua một sa mạc lớn, lòng buồn vì thân phận, vì xa quê, đang ngồi trên lưng ngựa,  Chiêu quân bèn gãy bản đàn tên “Xuất tái khúc”. Tiếng đàn hay đến nỗi con ngỗng trời đang bay ngang qua, nghe tiếng đàn mà ruột gan đứt đoạn, sa xuống đất chết. Đó là điển tích “lạc nhạn”.      

Hồ Hàn Tà là vua xứ Hung Nô dọa đem quân đánh phá nước Tầu, nếu vua Tầu không gả cho y một công chúa. Thay vì gả một công chúa, vua Nguyên Đế nhà Hán gả cho y 5 cung nữ. Dĩ nhiên, cung nữ thì không ai xấu bao giờ. Thấy vua Hán lấy 5 mà đổi 1, Hồ Hàn Tà bằng lòng. Vương Tường là một trong năm cung nữ đó.

Tuy nhiên, trường hợp Chiêu Quân có nhiều oan trái hơn.

Chiêu Quân vốn có sắc đẹp tuyệt hạng, lại có tài đàn hay hát giỏi. Vì vậy, khi được tuyển vào cung, Chiêu Quân không chịu đút tiền hối lộ cho tên thợ vẽ Mao Diên Thọ. Mao Diên Thọ trả thù bằng cách khi vẽ hình Chiêu Quân xong, y thêm một chấm đen dưới con mắt của cô. Sách tướng nói chấm đen đó là nốt ruồi “thương phu trích lệ” (Giọt nước mắt khóc chồng), tức là tướng sát phu (giết chồng).

Khi gọi Chiêu Quân lên để đưa sang xứ Hung Nô, nhà vua thấy Vương Tường đẹp quá, muốn giữ lại, nhưng ngại triều thần, đành phải cho đi mà lòng tiếc rẻ.

Về cái chết của Chiêu Quân có nhiều giả thuyết khác nhau:

a)- Đến “Nhạn Môn Quan”, Chiêu Quân gieo mình xuống sông tự vẫn. Khi đi qua cửa ải cuối cùng nầy, Chiêu Quân cảm tác nhiều bài thơ hay, hòa cùng tiếng đàn của Chiêu Quân, trở thành điển tích Hồ Cầm. Hồ là rợ Hồ hay hồ là nói chung các nhạc khí của Tàu. Vì vậy, đàn tỳ bà cũng có khi gọi là Hồ cầm. Xem bài thơ của Quang Dũng trích ở phần sau.

Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương

là hai câu thơ nói về tài đàn của Thúy Kiều (truyện Thúy Kiều)

b)- Chiêu Quân đến đất Hồ, nàng yêu cầu vua Hồ giết chết gian thần Mao Diên Thọ, rồi sau đó nàng tìm cách tự tử, nhảy xuống sông để xác nàng theo dòng trôi trở về đất Trung Nguyên.

c)- Một thuyết khác cho rằng Chiêu Quân đã sống một thời gian dài bên Hung Nô.

Chiêu quân đã góp phần mang lại hòa bình trong 60 năm giữa nhà Hán và Hung Nô.

Phải nhờ đến sự hy sinh của một người đàn bà để vua quan dân chúng Tầu được yên thân, vui chơi hưởng thụ, giàu sang phú quí, có thể đó là điều không vinh dự gì cho người Tầu và cho cả lịch sử Tầu nữa đấy.

Người Việt Nam khéo léo phê phán bằng một bài thơ:

Vương Tường oán triều đình (1)

Vật chi muông cỏ dám lăng loàn?
Âu hẳn trong triều ít kẻ ngoan? (2)

Mặt thấy thư Hồ, văn vỡ mật,(3)

Tai nghe nhạc bắc, võ run gan.

Mỡ thơm luống để nuôi thù khấu? (4)

Bùn sũng nào hay đắp ải quan?
Vực nước ví dầu tài Vệ, Hoắc, (5
)
Tanh hôi chi để lụy hồng nhan ?

giải thích:

1)- Vương Chiêu Quân là cung nữ của vua Hán Nguyên Đế, gả Chiêu Quân cho chúa Hung Nô để đổi lấy quan hệ hòa hiếu. Nàng chịu sang Hung Nô nhưng cuối cùng vì buồn thương và uất hận nàng đã tự vẫn.

2)- Câu thơ 3 và 4: Sự hèn nhát của các quan văn võ trong triều.

3)- Thù khấu: Kẻ thù

4)- Vệ,  Hoắc: Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, hai người đánh tan được quân Hung Nô (đời Hán).

Năm 1309, Huyền Trân Công chúa về Chiêm quốc với Chế Mân. Triều thần có người không thuận. Trong dân chúng có bài thơ nói về việc Chiêu quân cống Hồ để ám chỉ việc gả công chúa Huyền Trân.

Vua Hán dụ Vương Tường

gả cho chúa Thuyền Vu

            Hán Hồ dẫu muốn vẹn trăm đường

            Há trẫm riêng tây có phụ nường

            Bắc quốc tuy rằng ngoài dị vực

            Biên đình song cũng một biên cương

            Ở đây hạnh thắm nên mai nhạt

            Về đấy sen tàn lổi cỏ hương

            Hơn thiệt tôi đừng ai oán nữa

            Chờ ngày áo gấm lại hoàn hương.

Việc ví von như thế nầy là khiên cưỡng. Hành động của Huyền Trân Công Chúa cao quí hơn hành động của Vuơng Tường nhiều!

Quang Dũng có bài thơ chê vua Hán như sau:

Tuyết lạnh che mờ trời Hán Quốc

Tì bà lanh lảnh buốt cung Thương

Tang tình năm ngón sầu dâng lệ

Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang

Đây Nhạn Môn Quan đường ải vắng

Trường Thành xa lắm Hán Vương ơi!

Chiêu Quân che khép mền chiên bạch

Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi!

Ngó lại xanh xanh triều Hán Đế

Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung

Quân vương chắc cũng say và khóc

Ái khanh! Ái khanh! Lời nghẹn ngùng

Hồ xang hồ xang xự hồ xang

Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng

Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống

Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang.

Vua Hán chỉ biết say va khóc thôi sao? Anh hùng nhỉ?
Tản Đà có bài văn tế Vương Tường, Nguyễn Thiện Kế dịch ra Nôm

Cô ơi, cô đẹp nhất đời

Mà cô mệnh bạc, thợ trời cũng thua

Một đi, từ biệt cung vua

            Có về đâu nữa, đất Hồ nghìn năm!”

&

Thủy Hoàng nhà Tần dựng nên Đế Quốc Trung Hoa năm 221 trước Tây Lịch, tính ra đến nay là được 2.234 năm. Trong khoảng thời gian dài đó, tình hình nước Tàu phần nhiều loạn lạc.

Trong Chinh Phụ Ngâm có câu “Nước thanh bình ba trăm năm cũ”, nghĩa là nhà Hán do ông Lưu Bang lập nên, nước Tàu được thanh bình ba trăm năm (cũ). Đây không phải là lời nói xạo, mà chỉ là cách nói vuốt, nói để tránh tội với triều đình.

Thật ra, nhà Hán được thành lập năm 206  trước công nguyên, với không ít máu xương của dân lành vô tội, do cuộc tranh bá đồ vương giữa Lưu Bang và Hạng Võ, và kéo dài đến bốn thế kỷ. Trước nhà Hán là nhà Tần, sau nhà Hán là thời Tam Quốc.

Thời Đông Châu, trước đời Tần Hán, nước Tàu bị loạn lạc, văn hóa suy đồi. Ông Khổng Tử ôm cái mộng “bình thiên hạ” của ông mà chu du qua nhiều nước, cuối cùng cũng đành phải về nước Lỗ mở trường dạy học trò. Sau đời Hán, nước Tàu lại rối loạn.

Người Tàu thường tự hào về triều đại nhà Hán của họ, cho là thời kỳ thịnh vượng, biên cương mở rộng sang tới Tây Vực, mở ra “con đường lụa”, giao thương với Châu Âu, cai trị người Giao Chỉ, nhưng ngay chính trong nước họ, thời kỳ gọi là ba trăm năm thanh bình, thực ra, loạn lạc không bao giờ ngừng: Loạn Vương Mãng, nhà Hán phân ly thành Tây Hán và Đông Hán. Cuối cùng, nhà Nam Hán xâm lăng Nam Việt, bị đánh bại.

Tuy người Tàu có đánh đông dẹp bắc, cai trị và bóc lột các nước chung quanh, nhưng cũng không khỏi ngậm hờn khi họ bị dân tộc các nước mà họ gọi là “rợ”, là “di” vào làm vua đất trung châu (nước Tàu), cai trị người Tàu trong một thời kỳ, không ngắn ngủi chi.

-/ Người Mông Cổ cai trị nước Tàu hơn một trăm năm (1271-1368).

-/ Người Mãn Thanh cai trị nước Tàu cũng bằng một thời gian gấp ba lần như thế! (1644-1911). Trong suốt thời kỳ bị ngoại bang cai trị, người Tàu “im re”.

-/ Nhà Đường cai trị nước Tầu từ năm 618-907, tính khoảng chừng ba trăm năm, bắt đầu từ Đường Cao Tổ, tên thật là Lý Uyên.

Tổ tiên Lý Uyên thuộc giống người Địch Đạo, là một chi nhánh người Hồi, sinh sống rất đông ở tỉnh Cam Túc bên Tầu. Cam Túc nằm về phía Tây-Bắc lục địa Trung Hoa, phía bắc là Mông Cổ, phía nam là sông Hoàng Hà, giáp với Thanh Hải, Nội Mông và Cao nguyên Hoàng Thổ.

Trong lịch sử, người Hồi không bao giờ chịu nằm yên để người Tầu cai trị, nên người Tầu phải “Tây chinh” không ít lần.

Trong Chinh Phụ Ngâm của Bà Đoàn Thị Điểm có câu:

Lũng Tây chảy nước dường uốn khúc
Nhạn liệng không sóng giục thuyền câu
Ngàn thông chen chúc khóm lau
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.

Lũng Tây thuộc Cam Túc. Trong Chinh Phụ Ngâm, đó là nơi người chinh phu đi đánh giặc. Người vợ trông chồng, nhìn về hướng đó, hướng chồng đang chinh chiến, không thấy bóng chồng, chỉ thấy chim nhạn, thuyền câu, ngàn thông… (Độc giả có thể đọc thêm ở bài “Tân Cương trong văn chương Việt Nam, bài số 2, cùng tác giả).

Chính vì các vị vua nhà Đường gốc là người Hồi, nên An Lộc Sơn mới được ưu đãi, gây nên cái loạn An Lộc Sơn vì mối tình giữa tên tướng người Hồi nầy với Dương Quí Phi, khiến Đường Minh Hoàng phải giết Dương Quí Phi ở Mã Ngôi để yên lòng binh lính.

Lý Thường Kiệt từng đem quân đánh Quảng Đông, Quảng Tây.

Giả tỉ như vua Quang Trung không băng hà sớm, làm vua thêm mấy chục năm nữa, thực hiện cái mộng lấy lại đất Hoa Nam, thì không chừng vua Quang Trung hay con cháu của ông làm lễ lên ngôi tôn ở Bắc Kinh rồi cũng nên.

Lịch sử “Đế quốc Trung Hoa”, kể từ Tần Thủy Hoàng, “tóm thâu lục quốc” mà dựng nên năm 221 Tr TL, đến nay hơn hai ngàn năm, thì đã có ba thời kỳ, người “ngoại tộc” – không phải người Hán, cai trị Trung Hoa, cộng chung khoảng hơn 850 năm thì có gì gọi là vẻ vang cho người Tầu?!

Vậy nhưng người Tầu bao giờ cũng tự hào là người Hán (Sino), hậu duệ người nước Tần của Tần Thủy Hoàng. Về sau, họ cứ gọi chung người Tầu là người Hán, thuộc Hán tộc. Ngay cả 99 bộ tộc người Việt bị Hán hóa, như Mân Việt, Cán Việt, Dương Việt, Điền Việt… họ cũng quên mất gốc Việt của họ mà tự xưng là người Hán. Đó chính là trường hợp Tôn Văn, người Tầu thường gọi là “Quốc Phụ”. Tổ tiên ông là một giống Việt chớ không phải người Sino (Tầu).

Người con trai Tầu thường tự xưng là “Nam tử Hán”, có nghĩa là người có “trung, hiếu, tiết nghĩa…” là “đạt nhân quân tử”, giỏi giang và cao thượng, “cứu khổn phò nguy” như Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên của Cụ Đồ Chiểu.

Đó là sự tự hào “dổm” của mấy chú Ba. Họ thường hèn nhát, sợ chết, quỵ lụy, van xin… Năm 1941, khi người Nhật chiếm đóng Đông Dương, người Nhật thường nói “để 5 người Tầu trên bàn tay, họ thổi bay mất”.

Khi “Bát quốc liên minh” đánh vào Bắc Kinh, quân nhà Thanh chỉ có rút lui mà không đánh (nỗi). Khi đánh nhau với người Nhật trong “Trung Nhật chiến tranh” 1895, người Tầu chỉ có… thua mà thôi. Trong “Thế giới Chiến tranh thứ hai”, quân Nhật đánh vào lục địa Trung Hoa như vào chỗ không người, đuổi Tưởng Giới Thạch chạy tuốt vô Trùng Khánh. Trong “Chiến tranh Cao Ly” 1950-53, cái gọi là “Hồng Quân Trung Hoa” đầu hàng Đồng Minh chỉ có… nửa triệu.

Người ta nói chính cái triết lý Nho học của ông Khổng đã trói buộc người Tầu, làm cho người Tầu mất đi cái ý chí cầu tiến.

Bài thơ sau đây là một ví dụ:

            Nhân kỵ tuấn mã, ngã kỵ lư

            Tư tế tư lương, ngã bất như

            Hồi đầu, hựu kiến thôi xa Hán

            Thượng tuy bất túc, hạ hữu dư.

(Người ta cưởi ngựa, tôi cưởi lừa,

            Nghĩ ra, tôi không bằng người.

            Ngoái đầu nhìn lui, thấy một người Hán đang đẩy xe.

            Trước không bằng người, sau thì hơn người.

Đấy là cái tư tưởng “Trung dung” của ông Khổng. Không quá bên trái, bên phải, không cao quá, thấp quá; cứ đứng giữa là đúng.

Cái tư tưởng “đứng giữa” ấy làm cho người Tầu mất đi cái ý chí cầu tiến. Không cần đi xe hơi vì đi nhanh hơn người đi bộ là được rồi. Người Mỹ lên tới mặt trăng nhưng mấy chú Ba cứ đi loanh quanh mặt dịa cầu là được rồi.

Vì cái tinh thần “đứng giữa” ấy nên người Tầu tìm ra la bàn trước nhất nhưng chẳng dùng làm cái gì cả, tìm ra giấy trước tiên nhưng tới đầu thế kỷ 20 người Tầu còn dùng “giấy bổi”, thứ giấy dùng làm giấy vàng bạc khi cúng quảy, tìm ra thuốc súng nhưng chỉ dùng để làm… pháo bông.

Bây giờ thấy mình thua thiệt nhiều quá, bèn nổi máu tham, giành cái nầy, giựt cái kia, tạo nên tiếng xấu cho nước Tầu.

Ai sợ Nam Tử Hán?

Chỉ có mấy anh Cộng Sản Việt Nam là sợ Tầu một phép!

&

Tuy nhiên, trong những thời kỳ loạn lạc, người đàn bà Tàu đã đóng một vai trò quan trọng, không phải để cho nước Tàu được yên mà làm cho các cuộc rối loạn thêm phần kịch liệt.

Tất cả “tứ đại mỹ nhân” của Tàu, đều có liên hệ đến chính trị, nhưng không mấy ai được khen: Tây Thi góp phần vào cuộc chém giết giữa Việt Câu Tiễn va Ngô Phù Sai, đến khi Phạm Lãi đem Tây Thi trốn vào trong núi, nước Tàu mới yên. Vua Hán nhờ núp đằng sau cái bóng Chiêu Quân nên nước Tàu hòa hoãn với Hồ Hàn Tà, chúa Thuyền Vu, được 60 năm. Điêu Thuyền thì tạo nên cuộc chém giết giữa hai cha con Đổng Trác và Lữ Bố. Còn như Dương Quí Phi chính là “tác giả” cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn, một tình nhân của một người đàn bà đã có chồng.

Sự phản trắc của Ngô Tam Quế không phải là không đáng buồn cười.

Vua nhà Minh sai Ngô Tam Quế, thống lĩnh một trăm ngàn quân trấn giữ Sơn Hải Quan để ngăn chận quân Mãn Thanh tấn công vào nước Tàu. Thế rồi Lý Tự Thành cướp ngôi nhà Minh, Ngô Tam Quế theo về với Lý, nhưng lại được tin tướng Tự Thành cướp mất người thiếp yêu là Trần Viên Viên, Quế nổi giận, bèn liên minh với quân Thanh, cùng quân Thanh chiếm Bắc Kinh.

Chỉ vì một người thiếp yêu, Ngô Tam Quế mang tội phản quốc, “rước voi” về giày nước Tàu ba trăm năm.

(Xưa thì có Trần Viên Viên, bây giờ thì có Bành Lệ Viên, cùng là Viên cả đấy, hạ hồi phân giải!)

Thời phong kiến bên Tàu, không phải chỉ có chừng đó bà mà hết đâu. Võ Tắc Thiên cũng là một “quái kiệt”. Võ Tắc Thiên cũng tự xưng là vua bởi vì bà cho rằng đàn ông làm vua được thì đàn bà làm vua cũng được vậy. Đó là tư tưởng tiến bộ, nam nữ bình đẳng, nhưng Võ Tắc Thiên còn cho rằng, nếu vua ông có “tam cung lục viện” thì sao vua bà lại không! Do đó, bà cũng nổi tiếng dâm loạn không khác chi các ông vua Tầu.

Từ Hi Thái Hậu không làm vua, nhưng bà là người dựng nên các ông vua bù nhìn. Đằng sau ông vua bù nhìn chính là Từ Hi. Thành ra, bà thuộc hạng “siêu vương”, “siêu hoàng đế”.

Độc giả đừng nghĩ rằng việc ấy chỉ xảy ra thời phong kiến Tàu.

Thời Cộng Sản, Giang Thanh, vợ thứ ba của Mao xếnh xáng cũng nổi tiếng không kém các bà ngày trước.

Đặng Dĩnh Siêu, vợ Chu Ân Lai, là một quái kiệt trong chính trường nước Công Sản Tàu, còn với Hồ Chí Minh, bà là người chủ chốt trong cuộc hôn nhân của Hồ với Tăng Tuyết Minh. Vậy thì ông Hồ không trung thành với “mẫu quốc” của ông làm sao được?

Lâm Bưu là nguyên soái của quân Tàu Cộng, Diệp Quần, vợ ông ta, có người gọi đùa là đại nguyên soái, vì bà ta nói gì, ông nguyên soái cũng nghe theo.

Vương Quang Mỹ, vợ Lưu Thiếu Kỳ, tương đối ít tai tiếng hơn ba bà nói trên.

Mới đây, qua vụ Bạc Hy Lai, người ta biết thêm Cốc Khai Lai ngoại tình, giết người. “Truyền thống” của Tàu không chỉ chừng đó đâu! Sẽ có “lai” nào xuất hiện nữa đây!

Trong lịch sử chống Tàu của dân chúng Đại Việt, ít khi người nước Nam thua người Tàu, ngoại trừ thời Bắc thuộc, khi ấy người Lạc Việt còn yếu. Đến khi đã có nền tự chủ rồi, không mấy khi tổ tiên chúng ta thua quân Tàu, ngọai trừ khi người nước Nam tự phân hóa, chia rẽ.

Thái tử Hoàng Tháo đem quân đánh Ngô Quyền, bị quân Ngô bắn chết trên sông Bạch Đằng. Nghe tin, vua Nam Hán khóc rống lên! “Tởn!”… không dám xâm lăng nước ta nữa.

Đời Tiền Lê, quân Tống xâm lăng nước ta, bị Lê Hoàn đánh bại.

Cũng đời Tống, vua Tống lăm le Đại Việt, Lý Thường Kiệt đánh phủ đầu, đem quân chiếm các châu Ung, châu Khiêm của Tàu. Nhà Tống phục thù nhưng khi tiến đến sông Như Nguyệt thì không tiến được nữa, đành chấp nhận Đại Việt xin hòa.

Phạm Ngũ Lão và tướng sĩ của ông đánh giặc giỏi và gan dạ, chận đường rút về của Thoát Hoan, bắn tên ra như mưa, quân Nguyên chết vô số kể, Thái tử Thoát Hoan sợ quá, bèn chui vào nằm trong ống đồng, khiến quân lính bỏ lên xe kéo chạy về Tàu.

Chiến công của quân Việt đối với nước Tàu kể không hết được, kể từ trước kia cho đến Lê Lợi, Quang Trung, chỉ xin trích một đoạn trong “Bình Ngô Đại Cáo” để độc giả đọc:

            Trận Bồ-Đằng sấm vang sét dậy,
Miền Trà-Lân trúc phá tro bay,
Sĩ-khí đã hăng,
Quân-thanh càng mạnh,
Trần Trí, Sơn Thọ, mất vía chạy tan.
Phương Chính, Quý An tìm đường trốn-tránh.
Đánh Tây-Kinh phá tan thế giặc.
Lấy Đông-Đô thu lại cõi xưa,
Dưới Ninh-Kiều máu chảy thành sông,
Bến Tụy-Động xác đầy ngoài nội.
Trần Hiệp đã thiệt mạng,
Lý Lương lại phơi thây.
Vương Thông hết cấp lo-lường,
Mã Anh khôn đường cứu-đỡ
Nó đã trí cùng lực kiệt, bó tay không biết tính sao,
Ta đây mưu phạt tâm công, chẳng đánh mà người chịu khuất.
Tưởng nó đã thay lòng đổi dạ, biết lẽ tới lui,
Ngờ đâu còn kiếm kế tìm phương, gây mầm tội-nghiệt.
Cậy mình là phải, chỉ quen đổ vạ cho người,
Tham công một thời, chẳng bỏ bày trò dở-duốc.
Đến nỗi đứa trẻ con như Tuyên-Đức, nhàm võ không thôi. (a)
Lại sai đồ nhút-nhát như Thạnh, Thăng đem đầu chữa cháy.
Năm Đinh-mùi tháng chín,
Liễu Thăng tự Khâu-ôn tiến sang,
Mộc Thạnh tự Vân-nam kéo đến.
Ta đã điều binh thủ hiểm, để ngăn lối Bắc-quân,
Ta lại sai tướng chẹn ngang, để tuyệt đường lương-đạo.
Mười-tám, Liễu Thăng thua ở Chi-lăng,
Hai-mươi, Liễu Thăng chết ở Mã-yên,
(b)
Hai-mươi-lăm, Lương Minh trận vong,
Hai-mươi-tám, Lý Khánh tự vẫn,
Lưỡi dao ta đang sắc,
Ngọn giáo giặc phải lùi,
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến rằm tháng mười diệt tặc.
Sĩ-tốt ra oai tì-hổ,
Thần-thứ đủ mặt trảo nha.
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận sạch không kinh-ngạc.
Đánh hai trận tan-tác chim-muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê cũ.
Thôi Tụ phải quỳ mà xin lỗi,
Hoàng Phúc tự trói để hàng.
Lạng-giang, Lạng-sơn, thây chất đầy đồng,
Xương-giang, Bình-than, máu trôi đỏ nước.
Ghê-gớm thay! sắc phong-vân phải đổi,
Thảm-đạm thay! sáng nhật-nguyệt phải mờ.
Binh Vân-nam nghẻn ở Lê-hoa, sợ mà mất mật.
Quân Mộc Thạnh tan chưng Cần-trạm, chạy để thoát thân,
Suối máu Lãnh-câu, nước sông rền-rĩ,
Thành xương Đan-xá, cỏ nội đầm-đìa.
Hai mặt cứu-binh, cắm đầu trốn chạy,
Các thành cùng khấu, cởi giáp xuống đầu.
Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội,
Thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh.
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ-hôi.

(a) Bình Ngô Đại Cáo gọi vua Tuyên Đức (Tuyên Tông) của nhà Minh là “đứa trẻ con”.

(b) Liễu Thăng bị chém chết ở núi Đạo Mã Pha, còn có tên là Mã Yên Sơn, gần ải Chi Lăng.

&

Khi Nhật chiếm Đông Dương và hô hào chủ trương Đại Đông Á, không ít người Việt ủng hộ Nhật và vui mừng trước “thắng trận như chẻ tre” của quân Nhật ở bên Tàu.

Sau khi Minh Trị Thiên Hoàng canh tân Nhật Bản, nước Nhật trở thành một cường quốc châu Á, đánh bại Tàu trong nhiều cuộc xung đột:

-/Trung Nhật chiến tranh 1894-95, Tàu phải nhường Đài Loan cho Nhật và “trả độc lập” cho Triều Tiên.

-/Thế giới Chiến tranh Thứ nhất xảy ra, mặc dầu nước Tàu đã lật đổ được ách cai trị của nhà Thanh, nhưng cũng phải chịu thua thiệt trước những yêu sách của Nhật, để Nhật tăng cường quyền lợi kinh tế và chính trị ở Tàu. Tàu thì rơi vào tranh chấp xâu xé nội bộ, như “truyền thống phân ly” của người Tàu, giữa những tay Quân Phiệt, khiến nước Tàu càng ngày càng yếu đi.

Chiến tranh Thế giới thứ 2 chưa bùng nổ, Nhật đã có hành động chèn ép Tàu. Chưa thỏa nãm với những gì đạt được, ngày 7 tháng 7 năm 1937, Nhật tạo ra vụ Lư Cầu Kiều, khơi mào cho cuộc xâm lăng Tàu của Nhật, chiếm Bắc Kinh, tấn công Thượng Hải, gây ra cuộc chiến tranh Hoa Nhựt. Chính phủ Trung Hoa Quốc Gia chạy về Trùng Khánh, Mao Trạch Đông rút vào Thiểm Tây.

Nếu Mỹ không buộc Nhật đầu hàng Đồng Minh bằng hai quả bom nguyên tử, người ta cũng không thể biết được cuộc chiến Trung Nhật sẽ diễn biến như thế nào, chắc gì nước Tàu được như ngày nay?!

Sau Thế giới Chiến tranh thứ 2, Tàu còn tham gia hai trận đánh lớn nữa:

 Chiến tranh Triêu Tiên (Cao Ly), 1950-53. Sau khi quân Bắc Triều Tiên bị quân Đồng Minh đánh đuổi chạy lên tới sông Áp-Lục, ranh giới Bắc Triều Tiên và Tàu, thì Mao cho khoảng hơn 300 ngàn quân “chí nguyện” can thiệp. Gọi là “chí nguyện” nhưng số đông là quân đội Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch đầu hàng Mao. Mao cho số quân nầy bỏ mạng ở Triều Tiên để tránh hậu họa. Quân của Mao hao hụt khoảng 150 ngàn, gồm tử trận, chết rét, tai nạn và mất tích, bị thương và đầu hàng gần nửa triệu, kể cả dân công.

Thứ hai là chiến tranh “anh em Cộng Sản” với nhau, dọc theo biên giới 6 tỉnh Hoa-Việt. Tài liệu chính trị, quân sự cho biết như sau:

Theo đánh giá của tác giả King C. Chen, quân Trung Quốc có lẽ đã đạt được 50-55% các mục tiêu có giới hạn của mình. Bên cạnh thành công trong việc bám theo được khá sát các kế hoạch tiến quân và rút quân, quân Trung Quốc đã không đạt được kết quả như các mục tiêu đã công bố: họ đã không tiêu diệt được sư đoàn nào của Việt Nam; không chấm dứt được xung đột có vũ trang tại vùng biên giới; không buộc được Việt Nam rút quân khỏi Campuchia; không gây được ảnh hưởng lên chính phủ Việt Nam trong vấn đề Hoa kiều. Điểm yếu của quân Trung Quốc là vũ khí và phương tiện lạc hậu. Ngoài ra, họ đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Việt Nam. Sự thiếu kinh nghiệm chiến đấu và tinh thần kém cũng nằm trong các điểm yếu của quân Trung Quốc.

Về quân sự, tác giả Edward C. O’Dowd đánh giá rằng quân Trung Quốc đã thể hiện trình độ chiến đấu kém trong cuộc chiến. Tại Lạng Sơn, 2 quân đoàn Trung Quốc đã bị một trung đoàn Việt Nam cầm chân trong 1 tuần, một quân đoàn khác cần 10 ngày để lấy Lào Cai và Cam Đường – hai đô thị cách biên giới không đến 15km. Trung Quốc chiếm Cao Bằng vất vả đến mức cần ít nhất 2 quân đoàn để tiếp tục tấn công một thị xã mà Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được. Tại Quảng Ninh, một trung đội Việt Nam đã cầm chân 5 tiếng đồng hồ một trung đoàn Trung Quốc đang trên đường chiếm núi Cao Ba Lanh giáp biên giới, gây thương vong cho 360 trong quân số 2800 của trung đoàn này. Những tổn thất nhân mạng như vậy lặp lại trên toàn mặt trận và đem lại ít hiệu quả. Quân Trung Quốc đã không sử dụng được số quân đông một cách hiệu quả bằng các chiến thuật thích hợp và do đó không thể đạt được tốc độ hành binh như mong muốn của chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” (tốc chiến tốc thắng). Đây là hậu quả của sự lạc hậu về chiến thuật tác chiến của quân đội Trung Quốc vốn gần như không được cải thiện kể từ sau chiến thuật biển người ở chiến tranh Triều Tiên những năm 1950. Thất bại về mặt chiến thuật đã buộc Quân ủy Trung ương đảng Cộng Sản Tàu đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa quân đội nước này.

Ngày nay, thời đại khoa học kỹ thuật, đánh giặc không phải cần quân lính đông mà thắng. Với nhiều loại vũ khí đặc biệt, khác nhau, bằng hóa học, vật lý học… nhiều loại “vũ khí giết người hàng loạt” được sáng chế ra, nếu có dùng chiến thuật lấy số đông áp đảo, như “chiến thuật biển người” cũng không hẳn chắc thắng. Trong chiến tranh Việt Nam trước đây, Cộng Sản Bắc Việt xâm lược thắng miền Nam không hẳn vì quân số đông hơn, vượt trội hơn mà chính là, điều đáng nói nhất, là “tinh thần chủ bại” của người Mỹ, từ đó gây ra nhiều hậu họa cho quân dân miền Nam VN.

Với ba quân chủng: Hải, Lục và Không quân, ngày nay, Lục quân không còn đóng vai trò quyết định như ngày xưa nữa.

Quân đông thì gặp nhiều khó khăn, nhất là về tiếp liệu. Trong chiến tranh Cao Ly, chiến tranh biên giới Hoa-Việt, người Tàu gặp rất nhiều khó khăn về tiếp vận, khiến binh lính của họ nhiều lúc không còn tinh thần chiến đấu.

Trong viễn tượng đó, vai trò của Không quân, của Hải quân và ngày nay, hỏa tiển tầm ngắn, tầm xa… là hết sức quan trọng, quyết định việc thắng thua. Thành ra, “quân Tàu đông” không còn là điều đáng sợ nữa. Cái lợi thế dân đông, quân đông của người Tàu, kém đi nhiều.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, trong chiến đấu, bao giờ cùng là “Tinh Thần”.

Khi xâm lăng miền Nam VN, quân đội Cộng Sản, từ cấp lớn đến cấp nhỏ, mỗi người chỉ có hai bàn tay trắng. Họ không có gì để tiếc, mà không ngại xông lên.

Khi xâm lăng Kampuchia, quân đội Cộng Sản là một thứ “quân viễn chinh”. Quân viễn chinh ít khi khác nhau, dù là quân viễn chinh Việt Cộng ở Kamphuchia hay người lính viễn chinh Ma-rốc, Senegal trong quân đội viễn chinh Pháp khi Pháp tái chiếm Đông Dương 1945-54.

Nói thẳng ra, tinh thần người lính của quân Cộng Sản Bắc Việt khi xâm lăng miền Nam Việt Nam trước đây không còn nữa, khi tướng tá, sĩ quan cao cấp, trung cấp có tài sản trong tay. Họ đã vỡ mộng tuyên truyền sau khi chiếm đóng miền Nam, họ trở nên giàu có khi “quân đội làm nhiệm vụ kinh tế” với bao nhiêu ưu đãi và độc quyền.

Từ hai tay trắng, nay là những tiểu gia, đại gia thì còn đánh chác gì nữa???!!!

Họ sợ chú Ba là phải!

Còn dân ta thì không!

hoànglonghải

(1)- Bác sĩ Lê Trọng Lộc, ở Maryland nói với tôi là bác sĩ có đọc sử Tàu bằng tiếng Anh. Tàu nói là họ bắt hai chị em bà Trưng, đem về bên Tàu.

Theo tôi hiểu thì việc ấy không có chi lạ đâu! Giết xong kẻ thù, thì cắt đầu đem về dâng vua để lập công. Cái đầu tượng trưng cho kẻ thù. Có lẽ trường hợp hai chị em bà Trưng cũng vậy. Mã Viện cho cắt đầu đem về Tàu. Sử Tàu viết theo cái ý ấy. Cho nên, xác nhiều vị tướng, sau nầy lấy lên, bộ xương thì còn, nhưng cái đầu thì bằng sáp. (Như trường hợp Huỳnh Công Lý, phó tổng trấn Gia Định Thành, bị Lê Văn Duyệt xử án tử hình, đầu của ông được đưa về Huế để trình lên vua Minh Mạng hay Quan Công trong Tam Quốc, bị Tôn Quyền xử trảm năm ông mới 58 tuổi. Một hôm, sư cụ chùa Phổ Tịnh nghe trên không có tiếng la lớn: “Trả đầu cho ta!” Phổ Tịnh hỏi: “Ở đâu?” Hồn Vân Trường bèn thưa: “Đây là đâu? Xin cho biết pháp danh!”. Sư Phổ Tịnh trả lời: “Đây là Phổ Tịnh, trước đã gặp nhau ở Dịch Thủy, chắc Quan Hầu chưa quên.”  Vân Trường nói: “Trước kia được ngài cứu, nay vẫn chưa quên! Xin Ngài chỉ đường cho tôi ra khỏi Bến Mê!” Sư Cụ nói: “Việc đời nhân quả đều có cả. Nay nhà ngươi bị Lữ Mông giết, “đòi trả đầu cho ta!” Vậy ai trả đầu cho Nhan Lương Văn Xú, “quá ngũ quan, trảm lục tướng” với bao nhiêu tướng sĩ rơi đầu nữa, ai trả đầu cho họ?” Quan công nghe nói, tỉnh ra, bèn biến mất!

Share this post