Chủ Nghĩa Cộng Sản: Lý Thuyết Và Thực Tế – Đỗ Văn Phúc (2)

Chủ Nghĩa Cộng Sản: Lý Thuyết Và Thực Tế – Đỗ Văn Phúc (2)

(TVVN.ORG) 12.- Thế Ðảng Cộng Sản là ai mà đòi lãnh đạo cả xã hội?

Theo họ, đảng Cộng Sản là nơi quy tụ những thành viên ưu tú nhất trong giai cấp công nhân, vì giai cấp công nhân trong xã hội tư bản là giai cấp tiền phong, bị chủ bóc lột nên sớm ý thức vai trò cách mạng của mình. Lẽ ra thì cách mạng Cộng Sản phải nổ ra ở các xã hội tư bản phát triển cực thịnh theo tiên đoán của Marx. Thực tế, chưa có cuộc cách mạng CS nào ở Hoa kỳ, Anh, Pháp cả; mà nó xảy ra tại Nga là một nước nông nghiệp lạc hậu dưới chế độ Nga hoàng. Vì thế Lenin cộng thêm thành phần nông dân vào với công nhân trong giai cấp vô sản làm nòng cốt cho đảng Cộng Sản  (dù rằng Lê Nin vẫn cho rằng nông dân còn tư tưởng tư hữu, khó có tinh thần cách mạng, vì thế, sự kết hợp nông dân chỉ là bất đắc dĩ, vì nếu không thì đám công nhân non yếu sẽ chẳng làm nên trò trống gì)

Ðảng Cộng Sản Việt nam nói riêng, và phong trào CS quốc tế nói chung, chỉ lợi dụng thành phần công nông, còn đa số bọn lãnh tụ đều xuất phát từ giai cấp tư sản, địa chủ cả. Chúng biết lợi dụng sức mạnh của công nông có thể làm nên sự nghiệp riêng, chứ chúng chẳng có gì gắn bó với công, nông dân. Trong giai đọan đầu, chúng bày trò “phong trào đi vô sản hoá”, tức là cho bọn cán bộ nòng cốt đi làm thợ một thời gian, để trở thành giai cấp công nhân, hòng lừa bịp thợ thuyền rằng mình cùng một giai cấp với nhau. Thử điểm qua vài khuôn mặt: Hồ Chí Minh là con nhà khoa bảng; Trường Chinh là con nhà địa chủ; Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Ðồng là con nhà quan lại hoặc có máu mặt mới được theo học cao trong xã hội thực dân. Chúng có bao giờ là vô sản đâu!

13. Ðấu tranh giai cấp là gì?  Bạo lực cách mạng là gì?   

Theo Karl Marx, mọi vật trên thế gian đều hàm chứa mâu thuẫn. Trong một trái cây, có mầm chua và mầm ngọt; mầm ngọt sẽ diệt mầm chua để trái cây từ xanh đến chín. Trong xã hội cũng vậy, khi nào cũng có hai giai cấp đối kháng nhau (Opposing Classes) vì quyền lợi đối nghịch; một bên là giai cấp thống trị nắm giữ trong tay tư liệu sản xuất (Means of Production),  Một bên là giai cấp bị trị không có tài sản. Giai cấp thống trị dùng quyền lực chính trị và kinh tế bóc lột đàn áp giai cấp vô sản. Sự xung đột giai cấp diễn ra khi thì âm thầm khi bộc phát dữ dội. Như một trái cây đến lúc chín, mâu thuẫn giai cấp sẽ bùng nổ ra cuộc cách mạng để giai cấp bị trị vùng lên lật đổ chế độ, thiết lập nên chính quyền của mình. Như thế, người Cộng sản coi đấu tranh giai cấp là động lực chính của cách mạng. 

Khác với các chủ thuyết khác từ trước đến nay luôn dựa  trên căn bản đạo đức nhân ái. Cộng sản luôn kêu gọi lòng căm thù, khơi dậy sự khác biệt giữa các tầng lớp để tạo mối hận thù nhằm khích động đấu tranh. Cộng sản chủ trương: “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Chỉ cần đạt đến mục tiêu, chúng có thể dùng tất cả mọi phương tiện, dù tàn nhẫn, phi nhân, dù lừa gạt, dối trá. Chúng cho đó là đạo đức cách mạng. Trong đấu tranh nhất thiết phải dùng bạo lực để trấn áp, dùng khủng bố để hạ tinh thần đối phương. Tám mươi năm qua, từ khi có chế độ Cộng sản trên thế giới ta thấy Cộng sản luôn đi đôi với khủng bố và máu lửa. Muốn bảo vệ chính quyền vô sản, họ chủ trương tiêu diệt tất cả mầm mống chống đối, dù chỉ ở trong tình trạng nghi ngờ. Sau khi Hồ Chí Minh nắm quyền ở Bắc việt,  ông ta đã nêu ra 4 thành phần cần tiêu diệt: Trí (trí thức, có học), Phú (những người có tài sản, giàu có), địa (những người có đất ruộng), và Hào (những người có thế lực). 

Mở đầu, Hồ phát động phong trào cải cách ruộng đất (Land Reform). Các làng xã thi đua tìm cho ra thật nhiều địa chủ để đấu tố. Nhiều nơi không có địa chủ, chúng đưa những người trung nông có chút ăn chút mặc so với đám bần nông nghèo khó ra thay thế; làm sao cho xã mình cũng sánh kịp xã khác (nếu không hơn được) trong phong trào đấu tố. Ðấu tố ở  Trung Cộng giết chết khoảng ba triệu nông dân là một vết đen trong lịch sử nhân loại. 

Ðể nắm được tận tư tưởng giới trí thức, Hồ Chí Minh phát động phong trào Trăm hoa đua nở, khuyến khích các văn nghệ sĩ nói lên sự thực. Tưởng Hồ thực tâm, các nhà văn nghệ sĩ bèn viết lên chân thực suy nghĩ của mình và rồi bị Hồ cho vào trại cải tạo hàng chục năm dài. Sau 1975, Lê Ðức Thọ chỉ huy cuộc cải tạo tư sản miền Nam, từng bước lừa gạt các giai tầng tư sản, tiểu thương để rồi chiếm đoạt toàn bộ tài sản, nhà cửa của họ; sau cùng đày ải họ vào các vùng rừng thiêng nước độc gọi là đi xây dựng kinh tế mới. Không thể giết chết hơn hàng triệu quân nhân và viên chức chính quyền miền Nam, Cộng sản cho tất cả vào các trại tù  mà họ đặt mỹ danh là trại Cải tạo. Con cái của các tầng lớp địa chủ, hào phú, viên chức chính quyền cũ bị ngược đãi đè bẹp tận cùng đáy xã hội trong hàng chục năm trời.

Sau khi Liên sô tan rã, tại Nga, người ta phát giác hàng ngàn hố tập thể đầy hài cốt của hàng trăm ngàn người bị giết sau cách mạng tháng 10-1917. 

Cộng Sản không những ác với kẻ đối nghịch. Họ còn rất tàn nhẫn với ngay chính đồng chí, đồng đội. Cũng vì quan niệm cứu cánh biện minh cho phương tiện, họ sẵn sàng lùa vào lò lửa chiến tranh hàng triệu sinh mạng thanh niên, phá hủy toàn bộ tài sản, làng mạc phục vụ nhu cầu chiến lược chiến thuật. Hồ Chí Minh đã từng nói dù phải hy sinh một nửa nước, ông ta cũng quyết làm, miễn sao chiếm được miền Nam. 

15.  Giữa Cộng sản và Phát xít, ai tàn ác hơn?

Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, Phát xít Ðức giết hàng chục triệu người một cách dã man. Tổng cộng, Cộng sản cũng giết hàng chục triệu người, nhưng tàn nhẫn hơn là họ giết ngay chính đồng bào của họ, có khi cả đồng chí của họ nếu thấy nghi ngờ về lòng trung thành, hay chỉ vì tranh chấp quyền hành. Ðôi lúc, giết người chưa hẳn là tàn nhẫn nếu so với việc tiêu diệt lần mòn thể xác và ý chí con người, dày đọa con người xuống tàn tệ hơn loài súc vật như Cộng Sản thực hiện với anh chị em sĩ quan chế độ Cộng hoà miền Nam. Những người này không bị giết để được giải thoát một lần, mà phải kéo lê cuộc sống tuyệt vọng, đói khổ, lạnh lẽo, bị khủng bố, chà đạp nhục nhã hàng ngày và bất lực biết tin gia đình tan vỡ, con cái mất tương lai ngoài xã hội. Nếu không vì kiệt quệ kinh tế và bị thế giới bao vây, cô lập, nếu không vì đồng dollar đầy quyền lực của Mỹ, thì không bao giờ Cộng sản chịu thả những người tù cải tạo và cho ra đi nước ngoài như chuơng trình Định Cư Cựu Tù Nhân Chính Trị mấy năm qua. 

16. Ðạo đức cách mạng (Cộng Sản) là gì? 

Xã hội Việt Nam dựa trên nền tảng đạo đức cổ truyền, thấm nhuần chân lý 3 tôn giáo chính Nho, Phật, Lão; lấy 5 tín niệm Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín mà cư xử với nhau, trong đó Nhân được đưa lên hàng đầu. Ca dao tục ngữ Việt nam luôn kêu gọi lòng nhân ái, đối với đồng bào, đồng loại. Xã hội Tây phương lấy căn bản đạo Chúa Ky tô, trọng công bằng và bác ái. Người Cộng sản tự đặt cho mình một hệ thống đạo đức hoàn toàn khác hẳn, họ gọi đó là đạo đức cách mạng. Trước hết và trên tất cả là lòng trung thành tuyệt đối với đảng. Khẩu hiệu “Hồng hơn Chuyên”, Hồng là màu đỏ, là màu của cách mạng, là màu cờ Cộng Sản, là máu tươi, là sự sôi sục tâm can. Hồng có nghĩa là phải thuấm nhuần tư tưởng Cộng Sản, phải mang tính đảng. Người Cộng Sản không có quốc gia, họ tôn thờ thuyết đại đồng, coi quốc tế cộng sản là tổ quốc chung, coi lãnh tụ Cộng Sản quốc tế là tổ tiên, cha mẹ, thầy học mình. Từ đó con người phải hy sinh tất cả cho sự nghiệp của đảng. Họ không coi gia đình là nền tảng xã hội, họ coi tôn giáo là một thứ thuốc phiện đầu độc tâm hồn con người; vì thế ta thường gọi Cộng Sản là Tam Vô: Vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc.

Người Cộng sản không biết đến cha mẹ, vì đã có đảng nuôi nấng, giáo dục. Họ không coi nặng tình cảm vợ chồng, vì vợ chồng chỉ là phương tiện sinh tồn, việc hôn nhân phải do đảng thu xếp sao cho hợp với quyền lợi của đảng. Người Cộng Sản cũng nói đến yêu thương, nhưng là yêu thương đồng chí với nhau, và chỉ là đồng chi khi nào họ cùng mang chung một quan điểm, không có chút dị biệt nào. Họ cũng đôi lúc nói đến yêu thương đồng bào, nhưng phải là thứ đồng bào theo đảng, và bên cạnh yêu thương phải luôn luôn cảnh giác coi chừng đồng bào là phản động. Con người trong chế độ Cộng Sản luôn luôn nhòm chừng nhau, nghi ngờ nhau, vợ có thể tố cáo chồng, con cái tố cáo cha mẹ, và coi đó là  nghĩa vụ đối với đảng. Nhà trường Cộng sản từ mẫu giáo cho đến đại học không có môn giáo dục đạo đức, chỉ có môn phê bình và tự phê bình, như một cách xưng tội và tố giác kẻ khác. Vì thế trên tờ báo Thanh niên của đoàn Thanh niên Cộng sản Sài Gòn năm 1989, có bài viết của em Phạm Hồng Sơn, đặt vấn đề: “tại sao hàng chục năm qua, không giáo dục đạo đức mà chỉ biết dạy hận thù?” Có gì lạ đâu, bởi hận thù là bản chất cố hữu của người Cộng sản. Nhờ có hận thù, cộng sản mới khích động được một tầng lớp người nổi dậy đấu tranh dành chính quyền. Họ phải duy trì lòng hận thù để trấn áp những thành phần chống đối.

Mặt khác, đạo đức Cộng sản lấy man trá, lừa lọc làm cách sống. Từ trung ương đến hạ tầng, họ lừa lọc nhau, tô vẽ mọi điều tốt đẹp, tâng bốc nhau. Bởi dè chừng nhau,trong dân chúng, bạn bè, vợ chồng, không ai dám nói thật điều mình suy nghĩ, lâu dần sự dối trá trở thành bản chất và người ta không thấy xấu hổ hay mặc cảm tội lỗi khi làm điều gian dối. Lịch sử Cộng sản là những chuỗi lừa lọc, phản bội, họ phản bội những người đã hiến xương máu, tài sản cho sự thành công của đảng; họ phản bội nhân dân các nước đã từng vì hiểu lầm mà ủng hộ cho họ thành công. Hôm nay Trung Cộng còn là đồng chí, “ núi liền núi sông liền sông, tình hữu nghị sáng như rạng đông”, ngày mai là bọn bành trướng, thâm thù, bè lũ phản động. 

19. Thế nào là nếp sống văn hoá mới.

Cộng sản cho rằng văn hoá tư bản là đồi trụy, nên chủ trương xỏa bỏ triệt để để xây dựng nên nền văn hoá mới Xã hội chủ nghĩa. Những năm đầu sau 1975, chúng cho bọn thanh niên a dua (cách mạng 30 tháng 4) đi sục sạo từng nhà, tịch thu và đốt đi tất cả sách vở, dù là sách khoa học kỹ thuật, từ điển, những tác phẩm lừng danh của nhân loại. Thay vào đó, chúng bán rẻ trong nhân dân những sách lý luận của Mác, Lenin, Hồ Chí Minh, những tác phẩm xuyên tạc đời sống miền Nam. Sách của Hồ Chí Minh thì có hàng trăm tựa đề, tựu trung là một số bài diễn văn được in đi in lại, sắp xếp theo các thứ tự khác nhau, dùng chủ đề khác nhau. Ðặc biệt sách lý luận chính trị của Hồ và các đồng chí Nga Hoa bán rất chạy; vì vừa rẻ mạt vừa cân nặng ký, nên được các bà buôn ve chai mua từng tạ. Nếp sống văn hoá mới là coi những hình thức lễ nghi cổ truyền là tàn dư phong kiến. Già trẻ lớn bé gọi nhau là anh là chị ráo trọi. Nếp sống văn hoá mới là cách ngồi xổm trên cả ghế salon, đưa hai hàng móng chân đen sì đầy cáu bẩn ra mà ngọ ngoạy, là kéo nhau hàng lũ cán bộ đến nhà người ta chờ chực ăn bữa cơm, hút chĩa điếu thuốc thơm đầu lọc; là ăn nói xô đẩy thô bạo sỗ sàng với bất cứ phụ nữ nào. Văn hoá mới cũng là những bài ca sặc mùi máu lửa, lao động sản xuất, khi hát lên chỉ nghe âm thanh re ré; Thứ văn hoá mới khi va chạm với miền Nam, chỉ thời gian ngắn thôi đã lộ rõ nguyên hình là thứ quái tượng cần xoá sạch.

20. Trí tuệ tập thể

Người Cộng sản tự cho họ là “Ðỉnh cao trí tuệ loài ngườI”, nghĩa là trong nhân loại, chỉ có người Cộng sản là thông minh, ưu việt và trí thức nhất. Cái trí tuệ đỉnh cao của họ thể hiện qua việc những cán bộ cao cấp, trung cấp không cần biết đọc biết viết cũng có thể đảm trách chức vụ Chủ tịch, Giám đốc, điều khiển hàng trăm hàng ngàn người. Năm 1990, có bốn ứng cử viên vào quốc hội thuộc Ðặc khu Vũng tàu, do đảng đề cử. Cả bốn anh đều tốt nghiệp Ðại học cao cấp, nhưng chưa hề qua trường tiểu học, trung học ngày nào. Các bản tiểu sử cho thấy họ chỉ là những giao liên, bộ đội chiến đấu từ lúc mười hai mười ba tuổi; rồi đùng một cái, được đưa ra Hà Nội theo học Ðại học cao cấp. Sau này, vì thấy không có bằng cấp thì nhẹ thể đối với dân miền Nam, Cộng sản mở các lớp bổ túc văn hoá gọi là lớp học tại chức cho cán bộ có chức quyền theo học. Chương trình Trung học 7 năm, họ chỉ cần học vài tháng. Vả lại, các anh giáo viên nào dám buộc học trò thứ dữ này học hành nghiêm chỉnh. Họ đi học trong các lớp học ở tiệm ăn, nhà tắm hơi…, và nhờ ở ‘đỉnh cao trí tuệ’, bọn cán bộ đều tốt nghiệp trung học, rồi đại học trong một thời gian mà bình thường, một học sinh giỏi chỉ học nổi được một môn thôi.

Cộng sản cho rằng, ngồi lại với nhau, thì phát sinh “trí tuệ tập thể”, bất cứ cái gì cũng biết, bất cứ nan đề gì cũng giải quyết xong. Ðó là thứ lý luận “Tam ngu thành hiền”, ba anh chăn trâu giỏi bằng một nhà bác học. Ðiều này có lẽ đúng trong xã hội nguyên thủy, khi trí tuệ con người chỉ quanh quẩn giải quyết những nhu cầu đơn sơ: dựng cái mái lều, chặt một cây cao, nhóm một ngọn lửa… Nhưng ở thời đại khoa học kỹ thuật này, một vạn thằng ngu ngồi với nhau đến sói đầu cũng chẳng làm sao bằng một chú học sinh tiểu học. Trong thời gian xây dựng lại con đường sắt xuyên Việt năm 1976, Việt cộng giao từng đoạn đường cho từng đơn vị quân, dân. Có một tiểu đoàn nọ phải làm lại một cây cầu sắt mà trong tay không một phương tiện kỹ thuật, trong đơn vị không ai hề biết gì. Cán bộ tiểu đoàn trình bày lên trên, liền bị rầy la, kiểm thảo ngay: “Thế trí tuệ tập thể của đoàn viên, đảng viên đâu, sao không vận dụng?” Không rõ loay hoay thế nào để họ làm xong cây cầu. Nhưng kết quả là con đường sắt sau khi hoàn thành, xe lửa cổ điển chỉ dám chạy với tốc độ 20, 30 cây số giờ. Cũng nhờ trí tuệ tập thể của đám người đỉnh cao đó, đất nước Việt Nam đang từ mức phát triển trước 1975 (dĩ nhiên trong Nam thôi), chỉ mười lăm năm năm thôi, đã tiến lên hàng nghèo đói và lạc hậu nhất trên thế giới. 

21. Ðoàn ngũ hoá.

Trong chế độ Cộng sản, mọi người phải nhất nhất giống nhau; từ tư tưởng suy nghĩ cho đến sinh hoạt. Ðôi dép râu, chiếc nón cối cho cả thanh niên lẫn thiếu nữ, cho cụ già lẫn em bé (cứ ra Hà Nội thì thấy). Phát ngôn phải cùng luận điệu, mở đầu thường là “nhờ công ơn bác Hồ và Ðảng…” Trong một trăm bài báo cáo chính trị các đảng bộ, từ trung ương đến địa phương, đều cùng một bố cục, một nội dung, bao gồm những câu khẩu hiệu. Nào là: “Chủ nghĩa Mác Lenin bách chiến bách thắng…Tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội…. Hoà trong khí thế thi đua của cả nước…. “

Thời kháng chiến, nhiều đơn vị bộ đội có lệ ra ngắm trăng tập thể, nghĩa là tất cả mọi người cùng được lệnh ra xem trăng lên, đố ai dám vắng mặt.  Ăn tập thể, ở tập thể, vui tập thể, và xin lỗi chắc cũng có màn làm tình tập thể cho trọn đạo Mác Lênin.

Bởi vậy, cho nên Cộng sản chú trọng đến việc đoàn ngũ hóa nhân dân, già trẻ lớn bé. Hội phụ lão cứu quốc, đoàn Thanh niên Cộng sản, hội Phụ nữ yêu nước, đội thiếu nhi Bác Hồ…. Tất cả đều là đoàn thể ngoại vi của đảng, là công cụ để trói chặt con người, theo dõi kiểm soát từng hành vi, tư tưởng của nhân dân. Khi có chiến tranh, những đoàn thể này lại được trưng dụng làm lao công chiến trường; khi hoà bình, đảng xài họ trên các công trường, nông trường làm một thứ nô lệ, đã không được trả công mà còn phải đem tiền bạc, lương thực tự nuôi mình.    

22. Anh hùng xã hội chủ nghĩa. 

Chúng ta chỉ gọi là anh hùng, những người có những hành động dũng cảm hơn người, và hành động đó phải có một ý nghĩa xứng đáng làm gương cho dân chúng. Cộng sản ban phát danh nghĩa anh hùng một cách vô tội vạ, vì chúng không tốn kém gì mà lại kích động được bọn người ngu tối sẵn sàng vì hai chữ anh hùng mà làm theo điều chúng muốn. Một người gánh gánh phân đầy, nặng cả tạ, cũng được nêu lên là anh hùng. Hai chữ anh hùng không đổi ra cơm gạo được, nhưng nó làm cho bao con thiêu thân trở thành thân tàn ma dại trên các công, nông trường. Việt cộng khoe: “miền Bắc đi đâu cũng gặp anh hùng.” dân miền Nam liền mỉa mai: “đi đâu cũng gặp thằng khùng thằng điên!”

23. Tư tưởng Hồ Chí Minh

Các vị lãnh tụ lớn thường có những sáng kiến trong các lãnh vực chính trị, và khi được đem ra áp dụng thì người ta lấy tên đặt cho những sách lược đó. Ví dụ : Học thuyết Monroe của Tổng Thống Hoa kỳ James Monroe coi châu Mỹ của người Mỹ, học thuyết Truman (Tổng thống Harry Truman) về bao vây ngăn chận (Containment) khối Cộng sản. Phiá Cộng sản thì có tư tưởng Lenin, tư tưởng Mao là sự thêm thắt vào chủ nghĩa Cộng sản cho phù hợp với hoàn cảnh nước họ. Hồ Chí Minh thì chẳng có gì mới lạ, vì bản thân y chẳng có tài trí gì để có thể thêm bớt những tư tưởng lớn của nhân loại. Y chỉ là một con vẹt, lặp đi lặp lại những gì quan thầy mớm cho. Nhưng Cộng sản cũng bày đặt ra tư tưởng Hồ Chí Minh mà chúng ta mất công nghiên cứu cũng không tìm thấy điều gì khác. Có chăng đó chỉ là một mớ tạp nham ăn cắp từ các câu nói của các nhà triết học Ðông Tây, kim cổ rồi tự nhận là của mình (chúng tôi đã chứng minh qua các phần trên). Sau này, trong một tài liệu do một cựu đảng viên Cộng sản đã lập lại câu nói của Hồ, đại ý: các tư tưởng lớn đã do Lenin, Karl Marx viết ra cả rồi, Hồ chẳng có điều gì khác lạ.

24. Chính sách đổi mới 

Thứ gì Nga sô có, Trung Cộng có, thì Việt cộng cũng phải có. Khi Gorbachev lên làm lãnh tụ cộng sản Nga, ông ý thức sự cần thiết phải thay đổi đường lối để cứu vãn nước Nga sau hơn 70 năm thực thi Cộng sản; ông đề ra chính sách cởi mở và đổi mới (Glasnov, Petrestroika), cải thiện sinh hoạt chính trị và chăm sóc đến đời sống dân Nga. Việc này đưa đến cách mạng nhung lật đổ chế độ Cộng sản, đưa nước Nga trở lại dân chủ tự do; và mở màn cho việc tan rã cả khối cộng sản Ðông Âu. Việt Cộng cũng đề ra chính sách đổi mới: nới tay ra cho tiểu thương được buôn bán trở lại, bỏ hẳn các hàng rào kiểm soát thu thuế của các địa phương, kêu gọi tư bản nước ngoài vào đầu tư. nhưng chúng chỉ áp dụng đổi mới một phần nào về lãnh vực kinh tế mà không đá động đến chính trị. Thay vì trước đây, nhà nước quản lý toàn bộ hoạt động kinh tế, thì nay chúng cho hoạt động song song nhiều thành phần (nhưng kinh tế quốc doanh vẫn là chủ đạo). Nhìn qua thấy bộ mặt kinh tế có đổi thay, tại các thành phố lớn có vẻ tấp nập, phồn thịnh; dân chúng ăn xài hàng ngoại nhập, xa hoa. Nhưng có ai biết được đến 90 phần trăm dân chúng nông thôn và ngay cả dân lao động thành thị đang sống trong điều kiện cùng cực của đói nghèo. Một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không bao giờ đi đôi được với nền chính trị độc đoán xã hội chủ nghĩa. Vì hai nghịch lý này nằm ở hai thái cực đối chọi nhau và chỉ muốn tiêu diệt nhau thôi.

25. Tư bản đỏ

Sau khi Nga sô dựng lên nước Cộng sản Nam Tư, một đồng chí của lãnh tụ cộng sản Nam Tư Tito, ông Milovan Djilas sớm thức tỉnh và viết ra cuốn Giai Cấp Mới (The New Class), mô tả bọn cán bộ Cộng sản khi có quyền đã tạo ra cho mình thành một giai cấp đầy đặc quyền đặc lợi, vui hưởng xa hoa phung phí trên đau khổ của đồng bào. Ðiều này xảy ra tại Việt Nam ngay sau khi Cộng sản chiếm chính quyền. Bọn chúng chia nhau nắm giữ các chức vụ then chốt về hành chánh, kinh tế, xã hội… Bóc lột, tham nhũng tài sản quốc gia và của dân chúng để làm giàu riêng, trong khi hàng năm khai lổ lã cho các xí nghiệp do chúng quản lý hàng trăm triệu đồng. Bọn này được chính thức cho phép mua hàng xa xỉ với giá rẻ mạt, cả những thứ chúng đã dư dùng. Những năm 1980, cán bộ cấp giám đốc được mua xe Honda Dream miễn thuế, chỉ trả tượng trưng vài ba chỉ vàng, trong khi cán bộ nhỏ hơn mua giá cao hơn chút đỉnh, dân chúng thì mua với giá ba, bốn lượng vàng. Giai cấp này có hệ thống săn sóc y tế riêng với đủ thứ thuốc ngoại nhập, có hộ lý riêng, có nhà nghỉ mát riêng tại các trung tâm du lịch…. Nhờ chính sách “Cởi mở” và “Ðổi mới”, bọn này làm giàu nhanh chóng, gửi ra ngân hàng ngoại quốc hàng trăm triệu dollars. Những tên tép riu như Dương Văn Ðầy, giám đốc du lịch Sai Gon, Ngô Thế Dũng, giám đốc du lịch Vũng Tàu đọc không nổi một cái tên ngoại kiều (tôi đã phải cố lắm để khỏi bật cười khi nghe tên Dũng đọc tên Thérese là Té rè xe), nhưng sống xa hoa hơn cả các nhà đại tư bản Hoa kỳ. Cộng sản có chủ trương tư bản hoá bọn cán bộ cao cấp để một khi tình thế đòi hỏi tự do bầu cử, bọn này sẽ có đủ tài chánh đứng ra ứng cử, tự nhận là thành phần tư bản nhưng lại tiếp tục con đường Cộng Sản một cách hợp pháp. 

Hiện nay, tại Việt Nam có hàng trăm cán bộ cao cấp Cộng sản thủ đắc những tài sản khổng lồ lên tới hàng tỷ đô la Mỹ.

26. Có phải Cộng Sản học thói tham nhũng từ chế độ Tư Bản? 

Có người hỏi tôi rằng: “Ngày trước ở miền Bắc, Cộng Sản rất liêm chính, vào Nam mới học thói tham nhũng của chính quyền ta?”. Câu hỏi hay đấy. Nhưng thử hỏi như thế này: “Giữa đám ăn mày với nhau thì lấy gì mà tham nhũng?” Xã hội miền Nam ta giàu quá, nên các ông to tham những thường ăn của đút bạc trăm ngàn, bạc triệu. Ở miền Bắc, ăn không có được bữa cơm; mặc không có chiếc áo lành, thì thử hỏi tên cán bộ muốn vòi điều gì? Chúng cũng tham lam, thèm muốn lắm. Nhưng trong cảnh nghèo đói của đồng bào Bắc Việt, một điếu thuốc lá Thăng Long đen sì, một miếng thịt chó nướng kèm ly rượu quốc doanh là những của đút lót thông thường. Khi chúng tôi còn ở trong tù (gọi là Trại Cải Tạo), nhiều người đã cho tên cán bộ điếu thuốc rê, vài gram bột ngọt, là có thể được an nhàn. Về sau, nhờ tình hình kinh tế gia đình có phần khá hơn, thì của đút là cây lạp xưởng, thuốc đầu lọc… Tham nhũng trong xã hội miền Nam là do những kẻ làm sai pháp luật, trốn tránh nghĩa vụ bày ra để thoát thân. Tham nhũng trong chế độ Cộng Sản là do cán bộ có uy quyền tuyệt đối, sanh sát với nhân dân nên sinh ra lạm dụng. Trước khi chiếm miền Nam, chúng chỉ biết chiếc đồng hồ, cái radio bỏ túi, chiếc xe đạp là những “mơ ước của một đời ngườI” (Lời một cán bộ trung cấp). Khi mới vào Nam, nhiều đứa chưa hề biết đến vàng, chưa hề thấy viên ngọc, kim cương đen đỏ ra sao (có tên thú nhận rằng đã nhặt một valise kim cương ở phi trường Ðà Nẳng mà vứt đi không thèm lấy, chỉ ham cái xe honda thôi). Chỉ vài năm thôi, trên báo Nhân Dân, Thanh Niên, Công An, ngày nào cũng có hàng chục chuyện về cán bộ tham nhũng; và sau này thì nó đã trở thành phổ biến ở hết cả các cấp. Tham nhũng trắng trợn chứ không lén lút kín đáo như hồi xưa ở miền Nam. Nay thì bọn Cộng sản đã biết ăn hối hàng trăm ngàn đô la rồi, vượt lên làm thầy những ông tướng tá tham nhũng của miền Nam trước kia.

27. Nói thế tất cả những người Cộng Sản đều xấu cả sao?

Bàn tay có ngón ngắn ngón dài, người có người tốt kẻ xấu. Trong chế độ ta, tương đối tốt nhưng cũng có nhiều viên chức xấu. Chế độ Cộng Sản thì xấu cùng cực, nhưng ta cần phân biệt như sau.

Có người yêu chuộng điều tốt, yêu nước thương dân thật lòng, bị lý thuyết Cộng Sản mê hoặc mà đi theo; đến khi thấy được thì đã muộn. Ðó là những vị tham gia cuộc kháng chiến, tưởng Cộng Sản sẽ đem lại hạnh phúc ấm no cho dân; sau này vỡ mộng chỉ biết âm thầm chịu đựng mà thôi. Có người sinh ra lớn lên trong xã hội Cộng sản, bị giáo dục của nó làm hư hỏng hay có người vẫn còn giữ được nhân tính, nhân cách. Ðạo đức không có giá trị tuyệt đối, nơi này coi điều này là tốt, thì nơi kia coi là xấu. Một bộ lạc ở Phi châu cho rằng ăn thịt cha mẹ là có hiếu thay vì đem chôn xuống đất cho sâu bọ ăn. Cộng sản coi điều dối trá, điều ác là đúng thì người dân trong xã hội Cộng sản làm điều ác, điều dối trá mà không thấy tội lỗi. Vì vậy họ đáng thương hơn đáng trách. Chỉ có bọn lãnh đạo, chúng biết hơn ai hết, nhưng chúng vẫn làm điều ác vì quyền lợi riêng chúng. Ðó là bọn có hình dạng người nhưng tâm địa loài dã thú. Chúng không những có tội với dân mà còn có tội ngay cả với bản thân chúng vì đã tự tiêu diệt mầm nhân tính trong thể xác người mà cha mẹ, thượng đế đã tạo ra cho.

28. Muốn chống Cộng Sản, phải dùng học thuyết gì là hay nhất?

Chống Cộng Sản trước hết là chống sự độc tài, vì thế, ta không thể áp đặt một chủ nghĩa độc tôn nào được. Tự Do, Dân Chủ ví như một vườn hoa, trong đó có đủ sắc hoa thơm cỏ biếc, nhưng cũng phải có loài cỏ dại. Ðảng Cộng Sản vẫn hiện hữu ở Hoa Kỳ, các nước Âu Châu, có sao đâu! Khi dân trí cao, mức sống cao, thì cộng sản không phát triển được. Ví như thân thể tráng kiện thì có thứ vi trùng nào xâm nhập hoành hành được. Vì Cộng Sản vô thần, chúng ta chọn hữu thần, tin tưởng vào một đấng thiêng liêng, tin theo những giá trị luân lý để hạn chế điều xấu trong con người. Vì Cộng ản vô gia đình, nên ta chọn gia đình làm nền tảng, làm hạt nhân của xã hội. Vì Cộng Sản vô tổ quốc, nên ta chọn Tổ Quốc, Dân Tộc làm cứu cánh thiêng liêng nhất để phụng sự. Tự do kinh tế để đẩy mạnh nhịp phát triển. Tự do dân chủ Tây phương nhưng phối hợp nhịp nhàng với các giá trị đạo đức cổ truyền để xã hội được lành mạnh, bền vững. Và quan trọng hơn hết là biết quý trọng con người vì con người là chủ thể cao quý nhất của xã hội. 

Share this post