Chương Trình Giáo Dục Tại Việt Nam – RFA

Chương Trình Giáo Dục Tại Việt Nam – RFA


Chảy Máu Chất Xám – Bao Giờ Chấm Dứt? – Lan Hương (RFA)

Nhiều bạn trẻ Việt Nam không muốn công tác trong nước mà tìm cách định cư ở nước ngoài để sinh sống, làm việc.
Số liệu thống kê mới nhất của bộ Giáo dục và Đào tạo cho thấy hiện có khoảng 60.000 du học sinh Việt Nam trên khắp thế giới. Trong số này có đến khoảng 70% không trở lại Việt Nam để làm việc mà quyết định phát triển sự nghiệp của bản thân nơi xứ người.
Về tình trạng này, chuyên gia kinh tế- tiến sĩ Lê Đăng Doanh, lý giải nguyên nhân:
Tình hình chảy máu chất xám và những học sinh giỏi ở Việt Nam khi đi học ở nước ngoài thì tỷ lệ quay trở lại Việt Nam là thấp. Lý do thì có thể có nhiều, có thể nêu vài lý do như sau: thứ nhất là tiền lương cho người trí thức quá thấp, tiền lương cho một ông tiến sĩ ở nước ngoài học về thì cũng chỉ khoảng 3,5 – 4 triệu, không thể đủ sống ở những thành phố như Hồ Chí Minh và ở Hà Nội. Đấy là một lý do.
Cũng có những người thì sẵn sàng chấp nhận tiền lương thấp, họ vẫn sẵn sàng làm việc, nhưng lý do thứ hai có thể nghiêm trọng hơn, đó là khả năng phát triển và phát huy kiến thức và tài năng của họ là thấp. Có những trường hợp những người tiến sỹ đó về không được phân công, không được tận dụng, không được cho phát huy năng lực để giảng dạy. Có người thì được phân công làm thư ký khoa, tức là một chức hành chính chỉ nhận công văn giấy tờ, thế rồi những người đó sau đó cũng bỏ đi. Thứ ba, là điều kiện vật chất cũng như điều kiện nghiên cứu chưa đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu của họ. Phòng thí nghiệm thì chưa được trang bị đáp ứng nhu cầu, còn tài liệu và cách tiếp cận thông tin, khả năng đi dự các hội thảo nước ngoài, tiếp xúc các hội nghị quốc tế cũng hạn chế.
Nhà hoạt động xã hội, tiến sĩ Nguyễn Quang A bổ sung thêm rằng Việt Nam cũng như các nước chậm phát triển khác ở châu Á đều bị nạn chảy máu chất xám gây ảnh hưởng rất nhiều. Nguyên nhân một phần còn là do những người có tài không được trọng dụng.
Thực tế ở các nước phát triển, chính phủ luôn khuyến khích những người tài giỏi và tạo điều kiện cho họ phát triển thêm kỹ năng, thậm chí là khuyến khích những người như vậy nhập cư vào đất nước của họ.
Chủ trương chưa thành công
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh ghi nhận chính phủ Việt Nam đã nhận rõ được tình trạng chảy máu chất xám và đưa ra nhiều chủ trương, chính sách để thu hút nhân tài, đưa ra những đặc cách hấp dẫn hơn chẳng hạn như mức lương cao vượt hơn hẳn mức bình thường, sẵn sàng trả lương ngàn đô cho những nhân tố tài năng, hay những người từng du học nước ngoài. Tuy nhiên việc thực hiện những biện pháp như thế đến nay có thể nói là chưa thực sự hiệu quả bởi nguồn ngân quỹ của Nhà nước hạn hẹp; trong khi đó thì quá trình để phát triển hệ thống phục vụ nghiên cứu cho nhân tài đòi hỏi nhiều thời gian:
Việc quản lý tiền lương không thể áp dụng được cho tất cả mọi nơi bởi vì nguồn nhân sách không cho phép. Điều quan trọng là khả năng phát triển, tức là những người đó phải được sử dụng vào đúng vị trí, tạo điều kiện có phòng thí nghiệm, có cơ sở nghiên cứu, có cộng tác viên, có một môi trường nghiên cứu khoa học dân chủ, cầu thị, tôn trọng ý kiến khác nhau, không quy chụp, thành kiến với những người có ý kiến khác mình. Tất cả những cái đó cần phải có thời gian, và quan trọng nhất là cần phải có người đứng đầu đơn vị khoa học đó có trình độ, thái độ cầu thị, ủng hộ tranh luận dân chủ, ủng hộ ý kiến đa chiều. Đó là điều quan trọng hơn rất nhiều.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A cũng có nhận định về các chủ trương, chính sách khuyến khích nhân tài của chính phủ Việt Nam:
Việt Nam nói thì nhiều nhưng mà họ làm thì không được mấy cả. Chúng ta nhìn thấy từ thời Hồ Chí Minh, những người tài như Trần Đại Minh, Lý Đức Thảo, theo phục vụ cho chính quyền thì hoạt động cũng luôn cầm chừng. Những người có tư tưởng độc lập, nhất là về vấn đề xã hội. Đấy là sáu, bảy chục năm trước cũng như thế. Cho đến thời gian vừa rồi họ cũng hô hào nhiều nhưng mà bản thân nhà nước về cơ bản không làm được cái gì cả. Cải thiện môi trường là một việc, họa chăng ra thời gian vừa qua hoặc trong thời gian tới thì khu vực tư nhân là khu vực có thể thu hút nhân tài. Chứ còn bản thân khu vực nhà nước với một chính quyền như thế này thì tôi nghĩ không thể thu hút được nhân tài bởi vì những nhà khoa học người ta không quen với kiểu của các quan chức nhà nước là, thường ăn bổng lộc là chính chứ không phải bằng thù lao hay lương.
Mong mỏi gì trong tương lai
Trước vấn nạn chảy máu chất xám của Việt Nam, các chuyên gia chỉ ra rằng rằng cần phải có những chuyển biến, đổi mới trong chính sách đãi ngộ nhân tài của Chính phủ, và những thay đổi trong hệ thống doanh nghiệp trong nước để biến Việt Nam thành một môi trường thực sự hấp dẫn, hứa hẹn một tương lai tốt đẹp cho những con người tài năng. Ông Lê Đăng Doanh đề ra một số gợi ý:
Hiện nay đã có một số nhà khoa học về nước và thành lập một số doanh nghiệp tư nhân như các công phần mềm hay các công ty về khoa học. Ví dụ như tiến sĩ Nguyễn Thành Mỹ đã thành lập công ty Mỹ Lan hoạt động rất có kết quả ở Trà Vinh, rồi ở Hà Nội thì có công ty cổ phần phích nước Rạng Đông đã thiết lập một trung tâm nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ và đã thu hút được nhiều giáo sư, các chuyên gia trong nước và đã mời các giáo sư Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc sang làm việc.
Tôi nghĩ rằng trong thời gian tới đây, yêu cầu phải phát triển một cách bền vững, nâng cao hiệu quả, năng suất lao động sẽ đòi hỏi nhà nước và doanh nghiệp phải vận dụng khoa học công nghệ nhiều hơn, vận dụng các chất xám của các chuyên gia, nhà trí thức nhiều hơn, do đó có thể sẽ có sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa.
Môi trường làm việc là một nhân tố hết sức quan trọng trong việc quyết định nơi sinh sống, công tác của đội ngũ nhân tài. Nhận thấy môi trường làm việc ở Việt Nam chưa thực sự thân thiện, cởi mở để thu hút nguồn chất xám, chuyên gia Lê Đăng Doanh đã cho đó là một điểm yếu mà chính phủ, doanh nghiệp Việt Nam cần xem xét để thay đổi tình hình trong tương lai.
Người có bằng đại học thất nghiệp tràn lan
Tỷ lệ lao động thất nghiệp có bằng cấp cao đẳng, đại học, trên đại học tăng cao. Nhiều người đã phải tiếp tục đi học nghề, thậm chí làm công nhân. Tại sao lại có tình trạng này và làm thế nào để khắc phục vấn đề đó? Các chuyên gia nói gì?
Không đủ kỹ năng làm việc
Theo báo cáo mới nhất về tình hình thị trường lao động trong quý 3 năm 2016 của Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội, cả nước hiện có 1.117.700 người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, tăng 29.000 người so với quý 2/2016.
Đáng chú ý, tỷ lệ lao động thất nghiệp có bằng cấp tăng cao ở nhóm lao động có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp, trình độ Đại học và trên Đại học. Hiện tại đã có hơn 202.300 lao động có trình độ Đại học trở lên thất nghiệp chiếm 18,1%.
Theo báo Người lao động cho biết, hiện tượng có rất nhiều sinh viên tốt nghiệp đại học, nhưng không đáp ứng đủ yêu cầu của nhà tuyển dụng đành phải chấp nhận ở nhà chờ việc, hoặc làm các công việc khác, thậm chí cá biệt còn có người phải chọn lao động tay chân để trang trải cuộc sống, đó là điều hết sức phổ biến. Cũng có những người bỏ bằng Đại học để đi học nghề với hy vọng để có việc làm.
Chị Thu, một người đã tốt nghiệp đại học hơn 10 năm nay, nhưng do không xin được việc làm đúng ngành học, hiện nay đang kinh doanh nhỏ tại Hà Nội cho biết:
“Trước tôi nghĩ rằng mình học đại học có tấm bằng sẽ được hưởng mức lương cao hơn. Song khi tốt nghiệp thì mãi cũng chẳng tìm được việc làm phù hợp với tấm bằng mà mình học. Chính vì thế mà tôi lựa chọn một nghề phổ thông khác phù hợp với khả năng của tôi.”
Một chuyên viên thuộc Viện Khoa học Lao động và Xã hội yêu cầu giấu danh tính thấy rằng, với một số lượng lớn những người tốt nghiệp đại học và cao đẳng là một sự lãng phí vô cùng lớn. Tiếc rằng, vấn đề này theo bà chưa được nhà nước quan tâm giải quyết. Bà cho biết:
“Khi mà họ đã tốt nghiệp đại học song lại đi làm các công việc phổ thông, mà không sử dụng đến năng lực đại học thì đơn giản nó cũng là vấn đề lãng phí chi phí của gia đình dành cho các em để theo học. Vậy mà các em học được rất nhiều kiến thức mà không được sử dụng thì theo tôi đó là vấn đề rất lãng phí?”
Ông Phạm Viết Bình, một người phụ trách công tác tuyển dụng cho một tập đoàn kinh doanh lớn ở Hà nội cho biết, tình trạng đa phần mọi người trong xã hôi nghĩ rằng có tấm bằng đại học, cao đẳng sẽ dễ xin việc. Với kinh nghiệm của một người làm công tác tuyển dụng lao động trên 20 năm, ông chia sẻ:
“Câu chuyện xin việc thật ra là việc đánh giá phẩm chất và kỹ năng của sinh viên. Vì thế nếu anh có tố chất hay phẩm chất gì không phù hợp, mà anh cứ cố xin vào một cơ quan nào đó không phù hợp với mình. Không xin được việc còn phù thuộc vào ngay chính bản thân con người đó, tôi nói thật có những người có học đến 10 bằng đại học rồi cũng sẽ không có cơ quan nào muốn nhận.”
Nói về nguyên nhân của tình trạng này, bà Kim Anh một nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Giáo dục thấy rằng, về góc độ xã hội thì ở VN, việc chọn nghề phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của các bậc phụ huynh, cộng với tâm lý muốn có bằng đại học để lấy tiếng. Sau nữa, chương trình đào tạo không sát với thực tế, nhà trường chỉ dạy cho sinh viên những gì họ có, chứ không dạy điều xã hội cần.
Theo bà vấn đề giáo dục kỹ năng là yếu tố quan trọng và cần thiết, song đã không được quan tâm. Bà nói:
“Tôi nghĩ rằng với sự hướng dẫn của các thầy cô giáo và nhà trường phải trang bị cho các em một kỹ năng sống cũng như về trình độ, khả năng, năng lực và phẩm chất. Những cái đó hiểu được sẽ giúp cho các em tự tin và khi đó các em sẽ tự lựa chọn được những nghề phù hợp với khả năng của mình.”
Trả lời câu hỏi, cần có giải pháp nào để khắc phục tình trạng này?
Bà Kim Anh thấy rằng, chương trình giáo dục phổ thông hiện tại thiếu sự phân luồng học sinh, lẽ ra hết bậc THCS, cần phải phải chia luồng học sinh, sao cho số lượng học tiếp để vào đại học chỉ chiếm khoảng 40-50%, còn lại theo trung học học nghề, ở đó vừa học văn hóa vừa đào tạo công nhân lành nghề. Theo bà nhà trường cần giáo dục cho sinh viên biết rằng, trong môi trường công việc đầy cạnh tranh và năng động, trang bị tốt cho mình các kỹ năng sống khác ngoài kiến thức sách vở, đó là yếu tố quyết định. Bà nhận định:
“Nếu muốn giải quyết được việc này thì chúng ta phải giải quyết thật tốt việc dự báo thì trường lao động, cụ thể là dự báo nhu cầu ngành nghề để hướng dẫn cho các em ngay từ khi còn đang họ ở các trường phổ thông.”
Hướng giải quyết
Nữ chuyên viên thuộc Viện Khoa học Lao động và Xã hội, bà Kim Anh thấy rằng VN thiếu một quy hoạch lâu dài về nhu cầu lao động để có các kế hoạch đáp ứng. Theo bà, nếu quy hoạc tốt sẽ đáp ứng đầy đủ nhu cầu lao động cho nền kinh tế, thì sẽ cơ bản khắc phục được tình trạng này. Hơn nữa, việc tạo điều kiện có các chính sách ưu đãi, khuyến khích cho các sinh viên mới ra trường tổ chức và khởi nghiệp các doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề cần được chú ý xem xét, để tăng thêm công ăn việc làm. Bà cho biết:
“Nếu công tác đào tạo có một quy hoạch tốt, đáp ứng nhu cầu của xã hội thì tôi nghĩ sẽ không xảy ra các hiện tượng dư thừa và lãng phí nguồn nhân lực. Vì nếu các em được giáo dục chuyên môn trong thời gian 4 năm là điều các em cũng đã mất rất nhiều thời gian của bản thân, mà không làm được những việc khác.”
Theo tạp chí Khoa học Giáo dục, trước thực trạng này Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định ra lộ trình giảm đến dừng hẳn tuyển sinh hệ cao đẳng và trung cấp. Theo đó, hệ cao đẳng sẽ giảm chỉ tiêu tuyển sinh 30% mỗi năm và dừng tuyển sinh trước năm 2020; Cơ sở giáo dục đại học đang đào tạo trung cấp phải dừng tuyển sinh đào tạo trình độ này trước năm 2017.
Các chuyên gia và các nhà nghiên cứu mà chúng tôi có dịp tiếp xúc đều có chung nhận định cho rằng, quyết định nói trên của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm hạn chế tỷ lệ sinh viên thất nghiệp ngày càng cao, nhưng đồng thời cũng cho thấy sự khủng hoảng trong hệ thống giáo dục hiện nay.

Share this post