Cõi thơ Bùi Giáng – Khánh Lan

Cõi thơ Bùi Giáng  –  Khánh Lan

Bùi Giáng (1926-1998):

Khi những tác phẩm đầu của thi sĩ Bùi Giáng được in trong sách giáo khoa năm 1957, thì tôi còn quá nhỏ và khi ông qua đời tôi không còn sống ở trong nước và còn trẻ để có đủ kiến thức hiếu biết rộng về thơ phú….thơ của thi sĩ Bùi Qiáng lại không được lưu truyền và phổ biến nhiều như thơ của các thi sĩ khác, như Đinh Hùng, Nguyên Sa, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Quang Dũng, Hồ Dzếnh,v.v…nhất là những bài thơ của các thi sĩ này lại được phổ nhạc bởi các nhà soạn nhạc nổi tiếng như Phạm Duy, Trần Trịnh, v.v… Ngoại trừ hai nhạc phẩm “Con mắt còn lại” (1992) của Trịnh Công Sơn lấy từ cảm hứng của bài thơ “Mắt buồn” trong tập thơ “Mưa nguồn” và nhạc phẩm “Mùa thu chết” (1965) của Phạm Duy lấy lời thơ của thi sĩ Bùi Giáng, dịch từ bài thơ “L’Adieu”, nguyên tác của Guillaume Apollinaire … Nên tôi cũng bị lôi cuốn theo dòng thời gian và theo thời trang của âm nhạc thời ấy….nhất là trong những thập niên 60’S & 70’S khi nhạc ngoại quốc được yêu chuộng bởi giới trẻ như tôi…

Xem lại 12 tập thơ do tôi sưu tầm và viết tay từng bài một (1970-1982), tôi chỉ tìm thấy vỏn vẹn có một bài thơ của thi sĩ Bùi Giáng, điều này thể hiện rất rõ rệt là tôi chẳng biết gì về một thi sĩ mà được mọi người xem như một “ngôi sao”, một “thiên tài”, một “bậc thượng trí” trên vòm trời văn hoá miền Nam Việt Nam.

Càng đọc về cuộc đời và sự nghiệp của thi sĩ Bùi Giáng, tôi lại cảm thấy thán phục tài năng của ông và quả là một điều không sai, khi ông được mọi người xem như một “thần tượng” với khối óc thiên phú & uyên bác trong lãnh vực thơ văn, tự học nhưng lại có khả năng tinh thông, biết và hiểu nhiều ngôn ngữ như Mỹ, Pháp, Hán và Đức như ông, đã gây nên khá nhiều kinh ngạc trong thế giới văn thơ…

Có rất nhiều tài liệu ghi nhận rằng thi sĩ Bùi Giáng là một nhà thơ, một dịch giả và là một nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam với các bút danh là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ đười ươi, Brigitte Giáng, Giáng Moroe, Bùi Bán Dùi, Bùi Bàn Dúi, Bùi Tồn Lưu, Bùi Tồn Lê, Bùi Bê Bối, Bùi Văn Chiêu Lỳ, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng…Chỉ cần đọc qua bút hiệu của thi sĩ Bùi Giáng là chúng ta đã đoán được cái bản chất “tự cao”, “bất cần đời”, “gàn bát sách” và “ngông cuồng” của ông. Bắt đầu từ năm 1955 đến năn 1957, thi sĩ Bùi Giáng khởi sự viết về Nguyễn Du và một vài nhận định về Truyện Kiều, Bà Huyện Thanh Quan Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm, Quan Âm Thị Kính và Phan Trần. Giảng luận về Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu, Chu Mạnh Trinh, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị. Các tiểu luận triết học và văn học như Tư tưởng hiện đại, Thi ca tư tưởng, Lễ hội tháng ba, Con đường ngã ba, Con đường phản kháng, Ði vào cõi thơ… Tất cả đều được xuất bản năm 1957-1959. Năm 1962: Tập thơ Mưa Nguồn, Tư Tưởng Hiện Ðại. Năm 1963: Lá Hoa Cồn (thơ), Ngân Thu Rớt Hột (thơ), Màu Hoa Trên Ngàn (thơ), Bài ca Trăng châu thổ, Sương bình nguyên quần đảo, Rong rêu,v.v…

Theo tài liệu, bài thơ “Người xa lạ” (L’étranger) của thi sĩ Charles Baudelaire do thi sĩ Bùi Giáng dịch, là bài thơ đầu tiên trong tuyển tập Le Spleen de Paris của thi sĩ Charles Baudelaire. Đây là một bài thơ văn xuôi được xuất bản năm 1862 trong số mười bốn bài thơ văn xuôi ngắn như để cống hiến cho nàng Arsène Houssaye. Trong ấn bản sau năm 1869, bài thơ L’étranger được đặt ở trang đầu của bộ collection gồm 31 bài thơ trong sưu tập này. (L’étranger est le premier poème du recueil Le Spleen de Paris de Charles Baudelaire. L’étranger, de Charles Baudelaire, est un poème en prose paru en 1862 parmi quatorze petits poèmes en prose précédés de la dédicace à Arsène Houssaye, puis dans l’édition posthume de 1869, placé en tête du recueil comme ouverture.)

Ngoài ra còn các dịch phẩm của Mỹ, Pháp, Anh, Hán, như những tác phẩm nổi tiếng về triết học của Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại I & II. Sao gọi là không có triết học Heidgger? (1963). Năm 1965: Sa Mạc Phát Tiết, Dialogue (viết Avantpropos – viết giúp cho Nhất Hạnh), và Letre à René char, Sa Mạc Trường Ca. Dịch phẩm như Hamlet của Shakespeare, Hoàng tử bé của Saint Exupéry, Ngộ nhận của Albert Camus, Khung cửa hẹp, và Hoà âm của André Gide, Kim kiếm điêu linh của Ngoạ Long Sinh, xuất bản năm 1966. Các sách xuất bản năm 1967: Bạo chúa Caligula, Ngộ nhận, Kim kiếm điêu linh. Các sách xuất bản năm 1968: Con đường phản kháng, Mùa hè sa mạc, Kẻ vô luân. Các sách xuất bản năm 1969: Nhà sư vướng luỵ, Ophélia Hamlet, Hòa âm điền dã. Về Tạp văn: Các sách xuất bản năm 1969, Ði vào cõi thơ, Thi ca tư tưởng, Sa mạc phát tiết, Sương bình nguyên, Trăng châu thổ, Mùa xuân trong thi ca, Thúy Vân. Các sách xuất bản năm 1970: Biển Ðông xe cát, Mùa thu trong thi ca. Các sách xuất bản năm 1971: Ngày tháng ngao du, Đường đi trong rừng, Lời cố quận, Lễ hội tháng Ba, Con đường ngã ba-Bước đi của tư tưởng, Trăng Tỳ hải, Cõi người ta, Khung cửa hẹp, Hoa ngõ hạnh, Othello. Các sách xuất bản năm 1973 và 1974: Hoàng Tử Bé (1973), Mùa xuân hương sắc (1974)… là những thành quả văn học mà thi sĩ Bùi Giáng đã cống hiến cho nền văn học Việt nam và đã chứng tỏ rằng ông là một nhân tài trong thiên hạ, mà ít ai có thể sánh được.

Hai dịch phẩm nổi tiếng của thi sĩ Bùi Giáng và được nhiều người biết đến trong giới văn thơ đó là: Người Xa Lạ (L’étranger) của thi sĩ Charles Baudelaire và Bài thơ L’Adieu của thi sĩ Guillaume Apollinaire (1880-1918) như sau.

Người Xa Lạ (L’étranger)
….

  • Nhà ngươi yêu ai nhất,
    hỡi con người kỳ bí quỉ dị,
    nói ta nghe nào!
    Yêu cha, yêu mẹ, yêu chị, yêu anh em?
  • Tại hạ chả có cha, chả có mẹ, chả có anh chị em chi hết.
  • Yêu bạn hữu?….. L’Adieu
    “L’Adieu
    J’ai cueilli ce brin de bruyère
    L’automne est morte souviens-t’en
    Nous ne nous verrons plus sur terre
    Odeur du temps brin de bruyère
    Et souviens-toi que je t’attends”

Bài thơ năm câu trên đây đã đuợc thi sĩ Bùi Giáng dịch không phải chỉ dịch một lần, mà ba lần như sau.
Lời vĩnh biệt
“Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng đựợc nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó …”

Nhà thơ Bùi Giáng đã khai triển và dịch lần thứ hai.
“Ðã hái nhành kia một buổi nào
Ngậm ngùi thạch thảo chết từ bao
Thu còn sống sót đâu chăng nữa
Người sẽ xa nhau suốt điệu chào
Anh nhớ em quên và em cũng
Quên rồi khoảnh khắc rộng xuân xanh
Thời gian đất nhạt mờ năm tháng
Tuế nguyệt hoa đà nhị hoán ta…”.
Và tiếp tục dịch thoát ý sang lần thứ ba.
“Mùa thu chiết liễu nhớ chăng em?
Ðã chết xuân xanh suốt bóng thềm
Ðất lạnh qui hồi thôi hết dịp
Chờ nhau trong Vĩnh Viễn Nguôi Quên
Thấp thoáng thiều quang mỏng mảnh dường
Nhành hoang thạch thảo ngậm mùi vương
Chờ nhau chín kiếp tam sinh tại
Thạch thượng khuê đầu nguyệt diểu mang…”
(Bùi Giáng (1925-1998) dịch)
(“Ði vào cõi thơ”. Bùi Giáng, trang 80-82, nhà xuất bản Ca Dao, Sàigon, Việt Nam.1969)
Năm 1965 một bài hát do Nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác phỏng theo một bài thơ ngoại quốc L’Adieu của nhà thơ Pháp gốc Ba Lan Guillaume Apollinaire, nhạc phẩm này đuợc nhạc sĩ Phạm Duy đặt tên là “Mùa Thu Chết” và nó trở nên rất nổi tiếng trong thập niên 70 tại Sài Gòn, chính bài hát này đã gắn liền với tên tuổi của ca sĩ Julie Quang.
Lời bài hát phân ra làm 16 câu, dịch từ những câu thơ nổi tiếng của Apollinaire:

J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est mort souviens-t’en…
Nhạc sĩ Phạm Duy chuyển dịch thành:
“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi…”
Một số người cho rằng Mùa thu chết chứa ẩn ý về Cách mạng tháng 8 năm 1945 với sự sụp đổ của chế độ thực dân Pháp; tuy nhiên, trên thực tế, đây chỉ là bản phổ nhạc của bài thơ L’Adieu.
Mùa Thu Chết
“Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho: Mùa Thu đã chết rồi!
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, em nhớ cho
Mùa Thu đã chết, đã chết rồi. Em nhớ cho!…

Ðọc thêm phần tiểu sử của thi sĩ Bùi Giáng mới hiểu rõ được con người của ông, rất bền tâm và quyết chí để đạt được những mục tiêu mà ông đã dự định cho mình. Thi sĩ Bùi Giáng đã vượt qua được những khó khăn của thời cuộc, tháng 3 năm 1945, Ðại chiến thế giới thứ hai nổ, Nhật đảo chính Pháp, rồi Cách mạng Tháng Tám thành công, nhưng ông cũng đậu bằng Thành Chung. Năm 1949, thi sĩ Bùi Giáng tham gia kháng chiến chống Pháp, hai năm sau giải ngũ. Năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, thi sĩ Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài một ban văn chương, rồi lên đường ra Liên khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại học. Từ Quảng Nam thuộc Liên khu V ra tới Hà Tĩnh thuộc Liên khu IV phải đi bộ theo đường mòn trên núi hơn một tháng rưỡi. Nhưng trong ngày khai giảng, thi sĩ Bùi Giáng quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam, bỏ đi chăn bò trên vùng rừng núi Trung Phước từ năm 1950 đến 1952. Một số tài liệu cho rằng thi sĩ Bùi Giáng đã theo chân đàn bò rong ruổi khắp các vùng đồi núi, ông sáng tác bài thơ “Nỗi Lòng Tô Vũ” in trong thơ tập “Mưa nguồn” để kỷ niệm cho khoảng thời gian hai năm đi chăn bò của ông và quãng thời gian 15 năm đi chăn dê của Tô Vũ ngày xưa. Bài thơ với những lời thơ thiết tha, đằm thắm, dị thường, ông dành cho những nàng thơ của ông, đó là những con bò.

…”ngẩng đầu lên! dê ơi anh thong thả
Ðeo vòng vào em nghểnh cổ cong xinh
Ngẩng đầu lên! đây lòng anh vàng đá
Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên…”

Thật là kỳdị và lạ thường, có ai làm thơ vícon vật như là người mình yêu dấu và thềthủy chung. Khi đượchỏi vì sao thi sĩ Bùi Giáng lại bỏ sau lưng công danh sựnghiệpđểđichăn bò,ôngtrả lời hómhỉnh khi nhớ lại những tháng ngày này, ông viết: “Tôi bỏ học, chẳng biết chi sách vở, chạy về quê làm thằng chăn bò, bao nhiêu thơ làm ra, tôi âm thầm tặng hết cho chuồn chuồn châu chấu!”. Với tôi, câu trả lời của thi sĩ Bùi Giáng thật là “Ngông, gàn và ngạo mạn”. Phải chăng chỉ có thi sĩ Bùi Giáng, là người thứ hai mới ngang nhiên trả lời những câu hỏi như thế, sau thi sĩ Tô Vũ?. Năm 1952, thi sĩ Bùi Giáng trở ra Huế thi tú tài 2 ban Văn chương, thi đỗ, thi sĩ Bùi Giáng vào Sài Gòn ghi danh học Ðại học Văn khoa, nhưng ông quyết định chấm dứt việc học và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục, khởi đầu cho sự nghiệp văn chương của ông từ đấy.

Cứ suy ngẫm về cuộc đời của thi sĩ Bùi Giáng, ta thấy từ khi sanh ra cho đến lúc trưởng thành, ông đương đầu với khá nhiều biến cố và bất hạnh trong cuộc sống, nếu không muốn nói là vật lộn với sách vở, công danh, nghĩa vụ ở lứa tuổi còn khá trẻ, năm 1944, thi sĩ Bùi Giáng cưới vợ năm 18 tuổi, là bà Phạm Thị Ninh, nhưng chỉ vài năm sau, bà bị bệnh, sinh non và cả 2 mẹ con cùng chết … Vì thế, trong thơ của thi sĩ Bùi Giáng sau này, chúng ta thường thấy ông nhắc đến sự mất mát, sự chia ly, sự thương nhớ một hình bóng cũ. Lời thơ biểu lộ sự đau đớn, xót xa cho số phận của mình như ta tìm thấy trong thơ của thi sĩ Ðinh Hùng, khóc thương người tình hồng nhan bạc mệnh tên Bích.

…”Có hàng cây đứng ngóng thu
Em đi mất hút như mù sa bay…”
Phải chăng đây là một trong những lý do khiến thi sĩ Bùi Giáng bị mất tin tưởng và trở nên hơi “mát mát và tửng tửng”?. Có những lúc, thi sĩ Bùi Giáng không còn tha thiết với công danh bổng lợi…mà chúng ta thấy thể hiện rõ ràng trong những năm 1950-195-1965 khi nhà của ông bị cháy, mất hết các bản thảo, sự mất mát này làm cho ông chán nản và buông suôi tất cả mọi sự ở năm 1969. Trong những năm 1970, 1971-1975-1993, thi sĩ Bùi Giáng có những hành vi bất thường như nửa tỉnh nửa mê và tự cho mình một cái tên mới lạ, kỳ dị “Điên rực rỡ “. Trong thời gian này, thi sĩ Bùi Giáng sống như một kẻ hành khất, hôm nay thì bỏ Sài Gòn đi lang thang, ngày mai rong chơi qua các miền lục tỉnh, Long Xuyên, Châu Đốc rồi quay trở lại Sài Gòn. Bất kỳ ở đâu, thi sĩ Bùi Giáng sống trong cảnh say sưa, điên dại, không ở một nơi nào nhất định, lúc thì gục ngã nơi các quán nhậu, khi thì tại các Chùa (Giá Lâm, Vạn Hạnh, Long Huê, Tịnh Xá Trung Tâm, Pháp Vân và nhiều Chùa ở Miền Nam nước Việt là những nơi ông thường xuyên lui tới. Vốn thích “chơi chữ”, cộng thêm bản tính ngông cuồng, thi sĩ Bùi Giáng gọi đây là những cuộc “Lang thang du hành lục tỉnh” hay “Ðiên rồ lừng lẫy” hoặc “Chết đi sống lại vẻ vang”… có thể đây là nguyên nhân thứ hai khiến ông trở nên không bình thường chăng?
…”Thu đô thị đã mấy lần lừa phỉnh
Em cùng ta về Lục Tỉnh nghe không
Để nhớ lại lần xưa em đã định
Cùng ta đi ngó cỏ nội hoa hồng…”
(Chào thu lục tỉnh)
Ðể giải thích rõhơn về nguyên nhân thứ hai, khiến Thi sĩ Bùi Giáng có những hành vi không bình thường, thì tài liệu ghi nhận rằng: Trong các buổi gặp gỡ với Bùi Tộc Vĩnh, Bùi Dương Thạch và Nguyễn Thanh Hoài tại Sài Gòn được Nguyễn Thanh Hoài ghi âm: “Vào những năm đầu tiên của thập niên 1960, thi sĩ Bùi Giáng viết rất nhiều, gần như không có ngày nào dừng bút, bản thảo chưa kịp in thì xảy ra vụ cháy nhà nơi ông đang ở trên đường Phan Thanh Giản, khiến những bản thảo bị cháy rụi. Thi sĩ Bùi Giáng tâm sự rằng ông quá tiếc và đau đớn nhất là công trình biên soạn về truyện Kiều ròng rã suốt ba năm, vì buồn nên ông bỏ hết để rong chơi khắp lục tỉnh, sông nước kênh rạch để giải sầu. Khi về đến Sài Gòn, thi sĩ Bùi Giáng được nhân viên của Tòa đại sứ Pháp và Đức mời ông, đề nghị tặng cho ông một số sách mà ông cần nhưng ông từ chối không nhận. Tuy nhiên, hai tòa đại sứ kia vẫn tìm cách gửi đến cho thi sĩ Bùi Giáng mấy thùng sách quý của các tác giả nổi tiếng ở nước họ và trên thế giới, vì không có chỗ để nên ông gởi người bạn là chủ của NXB VT, nhưng sau ông chủ NXB VT không giữ lời hứa và không trả lại sách. Thi sĩ Bùi Giáng nổi cơn điên, chửi bới và chọi bể kính xe của ông chủ nhà NXB VT, nên ông chủ NXB VT gọi điện thoại cho em ruột của thi sĩ Bùi Giáng đến mắng vốn và để chở thi sĩ Bùi Giáng về. Khi về đến nhà, em của thi sĩ Bùi Giáng nghĩ rằng ông điên, nên đã lừa dối là hôm sau sẽ chở ông đi Vũng Tàu nghỉ mát. Nhưng thực tế, em của thi sĩ Bùi Giáng lại chở ông đến nhà thương điên Biên Hòa. Thi sĩ Bùi Giáng cay đắng vì chuyện đã rồi và không ai tin ông, nên thi sĩ Bùi Giáng hạ bút viết mấy câu thơ thương cho số phận”. Phải chăng đây là nguyên nhân thứ ba khiến ông trở nên không bình thường?
…”Gặp người tôi tưởng người điên,
Gặp tôi tôi tưởng tôi điên như người….”.
Câu hỏi được đặt ra: Thi sĩ Bùi Giáng có phải là một người điên không?
Ðó là câu hỏi và cũng là thắc mác của rất nhiều người, theo như tác giả Trần Ðới khẳng định: “Thi sĩ Bùi Giáng chưa bao giờ điên, ông cũng chẳng bao giờ giả điên hay cảm thấy bất mãn trước sự đảo lộn của thời cuộc, ông sống theo thời thế và văn nghệ. Thời kỳ của thi sĩ Bùi Giáng bộc phát ra bên ngoài mà chúng ta gọi là điên, ấy là thời kỳ tỉnh lại và hưng phấn cùng độ của người nghệ sĩ. Tất cả lẽ chân thiện mỹ của nghệ thuật thi ca từ nhiều đời nhiều kiếp đều dồn về lúc đó”…

Thi sĩ Bùi Giáng cũng đã tự viết về mình như sau: “Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên, thì trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy”.

Vậy thì Thi sĩ Bùi Giáng là người như thế nào? Ông là một người điên hay là một người bình thường? Sự thật thì Thi sĩ Bùi Giáng đã từng là bệnh nhân của bệnh viện tâm thần Biên Hoà. Ông Cung Tích Biền kể: “Khoảng đầu thập niên 70, từ nhà thương điên trở ra, ông thấy Thi sĩ Bùi Giáng rất tỉnh, Cung Tích Biền hỏi Thi sĩ Bùi Giáng: “Nhà thương Biên Hoà trị cái tẩu hoả hay nhỉ!”. Thi sĩ Bùi Giáng trả lời: “Chữa trị quái gì đâu, chẳng là ở ngoài mình thấy mình điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra mình là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn mình nhiều, do vậy mà mình tự động thôi điên”. Cung Tích Biền kể tiếp: “Không ai biết Thi sĩ Bùi Giáng, đọc thơ của thi sĩ Bùi Giáng mà không yêu mến ông, vì gọi ông thế nào cũng được, “tỉnh hay điên”, mà dù là tỉnh hay điên ông cũng đã để lại cho đời những vần thơ mênh mang trác tuyệt, một thế giới thi ca cao vời, ảo diệu”.

Theo tôi, thi sĩ Bùi Giáng chẳng điên mà cũng chẳng khùng, nhưng say thì có. Khi say, thi sĩ Bùi Giáng chẳng làm hại ai, chẳng phá phách, mà chỉ hơi “lạng quạng”. Ðiên mà có thể để lại cho nền văn học Việt những sáng tác để đời hay sao? Ðiên mà thi sĩ Bùi Giáng lại là một tác giả có những tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam trước năm 1975. Một điều rất lạ, thi sĩ Bùi Giáng không phải là một học giả cần mẫn, viết lách ngày đêm, mà còn ngược lại, trong cái phong thái của một người nhàn nhã, ông suốt ngày lang thang rong chơi đây đó, bia rượu say lúy túy, rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, bỏ cả ăn, nhưng khi các nhà xuất bản cần bài để in sách là thi sĩ Bùi Giáng cung cấp ngay trong chốc lát cả bảy trăm trang. Ông Thanh Tuệ, Giám đốc Nhà xuất bản An Tiêm nói: “Ông rất thích thơ văn của thi sĩ Bùi Giáng, và đã dành ưu tiên xuất bản tác phẩm của thi sĩ Bùi Giáng trước mọi tác giả khác, đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung mãn nhất của thi sĩ Bùi Giáng, cõi văn cõi thơ của thi sĩ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, thi sĩ Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm”.

Trong buổi phỏng vấn giữa phóng viên nhà báo Người việt và ông Vũ Đình Hải tại Sài Gòn. Ông Vũ Ðình Hải tâm sự: Thi sĩ Bùi Giáng là hàng xóm của ông nên thi sĩ Bùi Giáng ghé nhà ông chơi rất thường. Mỗi khi ghé chơi nhà ông Hải, thi sĩ Bùi Giáng lại sáng tác rất nhiều bài thơ để tặng ông. Ông Hải đưa cho phóng viên nhà báo Người việt xem 5 tập thơ viết tay (1995) mà thi sĩ Bùi Giáng làm tại nhà của ông. Ông Hải nói: Những bài thơ này chưa hề được xuất bản và chưa ai biết, trong trang đầu của mỗi tập thơ, thi sĩ Bùi Giáng đều viết: “Kính tặng sư phụ đại ca Vũ Ðình Hải” và trong trang cuối những tập thơ, thi sĩ Bùi Giáng viết: “Chân thành cảm tạ ông Vũ Ðình Hải đã giúp ra tập thơ này”. Ông Vũ Ðình Hải nói: Ông rất quý những tập thơ này và không bao giờ muốn bán bản quyền hay xuất bản những tập thơ ấy. Ông Hải nói: “Những tập thơ này sẽ mãi mãi thuộc bản quyền của dòng họ Vũ, nó là một kỳ duyên, một kỷ niệm giữa tôi và thi sĩ Bùi Giáng, có thể mai sau tôi sẽ tặng lại cho gia đình của thi sĩ Bùi Giáng”.

“Còn hay mất? Ngày mai xuân trở lại
Thu trở về làm vĩnh viễn thu xuân
Ta gặp gỡ nghìn xuân thu vô tân
Em trùng lai từ lận đận muôn trùng “.
(Mất? Còn? – 1995)

Sau một thời gian ngắn, ông Vũ Ðình Hải dọn nhà đi nơi khác, nhưng thỉnh thoảng thi sĩ Bùi Giáng quần áo chỉnh tề đến thăm ông Hải, uống rượu và làm thơ. Cũng có lúc thi sĩ Bùi Giáng ở lại nhà ông Hải và thi sĩ thường ngủ ở cái võng mắc sau vườn.
“Bữa nay nhìn ngó mặt trời
Tôi buồn bã lắm – rạc rời máu tim
Bịnh gì không bịnh, bịnh điên!
Còn say tùy hứng, làm phiền anh em
Hết bậy bạ, hết lem nhem
Ðời người đến thế, còn nên cái nỗi cóc khô gì?”
(Bữa nay – 1995)
Ông Hải khẳng định rằng thi sĩ Bùi Giáng không hề “Điên” khi ông ghé thăm ông Vũ Hải, theo lời của ông Hải, thi sĩ Bùi Giáng thích uống rượu, khi say, thi sĩ rất hiền và không đập phá, nhưng lại hay chửi bới nên bị đánh rất nặng….Ngoài những bài thơ trên, thi sĩ Bùi Giáng sáng tác rất nhiều những bài thơ khác trong năm tập thơ viết tay để tặng ông Vũ Ðình Hải.
Nhìn vào sự nghiệp văn chương của thi sĩ Bùi Giáng, có ai dám cho rằng ông là người điên chứ? Phải chăng cái điên của ông chỉ là một sự trá hình khôn ngoan của khối óc thông thái, muốn nhắm mắt trước những bất công của xã hội, mà ông cho rằng do cơ hội đã làm đảo ngược ngôi vị trong buổi giao thời. Phải chăng với khối óc thông minh vược bực ấy đã khiến thi sĩ Bùi Giáng trở nên kiêu hãnh, ngang ngược và khác người. Và theo tôi: Phải chăng thi sĩ Bùi Giáng đã dùng hành vi “điên” để đánh lừa thiên hạ?…

NHẬN ÐỊNH VỀ TÁC PHẨM CỦA BÙI GIÁNG.

Trước và sau năm 1975, đã có nhiều bài viết về thi sĩ Bùi Giáng và sự nghiệp văn chương cũng như thơ của ông. Theo tôi, tôi nhận thấy qua thơ văn của thi sĩ Bùi Giáng, thì ông nghiêng về triết học Hiện Sinh, chủ yếu là đưa con người trở lại với con người, trở lại địa vị con người, nhũn nhặn, sáng tác bằng những gì thuộc khả năng của mình. Thi sĩ Bùi Giáng viết với tri giác, với trí tưởng tượng và hồi ức, từ chối vai trò sáng tạo theo phong cách của Thượng Đế…Ðiều này chẳng khác cho lắm khi thi sĩ Bùi Giáng muốn sống với thiên nhiên, với chính mình và những gì mình muốn. Thi sĩ Bùi Giáng trong mắt tôi là một nhà thông thái và có thể nói là nhân tài của đất nước, nhất là khi được duyệt qua các tác phẩm và đọc qua những thành quả sự nghiệp văn chương có giá trị kể trên của thi sĩ Bùi Giáng, chúng ta phải công nhận ông đã góp một phần rất lớn trong lịch sử văn học Việt Nam.

Nhận xét về thơ của thi sĩ Bùi Giáng, nhà bình luận & biên khảo Thụy Khuê đã phân tích: “Trong những bài thơ do thi sĩ Bùi Giáng sáng tác, luôn luôn biểu lộ con người của ông, thích rong chơi, lãng mạn, tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ sinh tồn, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn khuất khía cạnh dục tình khép mở của Hồ Xuân Hương…Từ Nguyễn Du, tạo nên một môtip bạc mệnh hiện đại, có màu sắc siêu thực qua tính cách tạo hình, có chất hoang mang của con người bất khả tri về mình, về người khác trong cuộc sinh tồn hiện hữu…”, như vậy có nghĩa là nhà bình luận & biên khảo Thụy Khuê cũng đồng ý với tôi là thơ của thi sĩ Bùi Giáng đã nghiêng về triết học Hiện Sinh. Điển hình là trong bài thơ “Đi tu tâm niệm” đã thể hiện rõ ràng cái bản tính tinh nghịch, đùa cợt và hóm hỉnh của thi sĩ Bùi Giáng.

….”Ði tu em nhớ một lời
Ðừng bao giờ trở lại đời làm giai nhân
Ðừng đẹp đẽ đến vô ngần
Chỉ cần chút đỉnh đẹp tần ngần tu..”
(Ði tu tâm niệm)
Tôi hoàn toàn đồng ý với biên khảo & bình luận gia Thụy Khuê rằng: Thi sĩ Bùi Giáng đã tái dựng lục bát trong bối cảnh mới của thời đại hiện sinh. Nguồn thơ của thi sĩ Bùi Giáng rất phong phú, xuất hiện một cách trực khởi và hiển nhiên đến nỗi nhà biên khảo & bình luận Thụy Khuê ví ông là người có khả năng “Hạ bút thành thơ “. Còn tôi, tôi cho thi sĩ Bùi Giáng là một hiện tượng độc đáo trong thiên hạ, là một mẫu người của “Ngông thời đại, say sưa và chán đời” của thế kỷ 20,”Kỳ quặc” và “lạ lùng” không kém gì con người của ông, thật là khác hẳn với Nguyễn Khuyến trong thế kỷ 19 và Tản Đà ở đầu thế kỷ 20 như biên khảo & bình luận gia Thụy Khuê đã nghĩ.
Trong số gần 500 bài thơ của thi sĩ Bùi Giáng, có khoảng 10 bài thơ được nhiều độc giả yêu thích và cho là hay nhất gồm: Vì Sao Khùng, Mai Sau Em Về, Chào Nguyên Xuân, Ông Điên, Anh Về Bình Dương, Phụng Hiến, Mắt Buồn, Ai Ði Tu, Trăm Năm Tắm Gội. Tôi xin trích dẫn dưới đây một vài đoạn thơ mà trong đó, thi sĩ Bùi Giáng như chia sẻ mỗi miền tâm sự của mình qua vần thơ mà ông gọi là “thơ điên”…Có phải chăng “Ðiên” để quên hiện tại, “Khùng” để chấp nhận cái mà người ta gọi nôm na là “Định mệnh đã an bài” hay “Số phận đã định” hay xa hơn nữa, để sống tự do, không cầm đi theo một quy luật nào?

“Vì yêu dấu quá Nàng thơ
Với em vô tận nên ngơ ngẩn buồn
Thần tiên Thánh Phật bao dung
Hiểu lòng tôi lắm – tôi khùng vì thơ”.
(Vì Sao Khùng)
“Ông điên từ bữa hôm qua
Tới hôm nay nữa gọi là ba hôm
….Ông điên từ một lần đầu
Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau”….
(Ông Ðiên, 1996)

Bài thơ “Phụng Hiến” và “Mắt Buồn” của thi sĩ Bùi Giáng nói lên sự bất mãn, chán nản và cô quạnh của một thiên tài đã lầm lỡ sinh ra không đúng thời … Chẳng trách vì sao thi sĩ Bùi Giáng lại hành động khác thường, ngẫm lại cuộc đời của ông trong quá khứ, ông đã trải qua và chứng kiến những biến chuyển xẩy ra trong xã hội. Thời trẻ tuổi, thi sĩ Bùi Giáng là nhân chứng của cuộc Nhật đảo chánh Pháp, vợ con mất sớm, nhà cháy, nghèo đói, thiếu thốn, nạn nhân củanhà thương điên Biên Hòa … khi về già thì sống trong hoàn cảnh đất nước chia đôi…cuộc sống và tâm hồn của ông luôn luôn như bị khuấy độngbởinhữngsự việc không mấy may mắn,không như ông ao ước. Thay vào đấy, sự tuyệt vọng càng lúc càng tăng cao đến cực độ, không ngừng nghỉ, xối xả đầy ắp đến với thân xác ông, hầu như vô tận, như thúc đẩy đẩy những suy nghĩ của ông lùi dần vào khoảng không gian vô định … Phải chăng có những lúc thi sĩ Bùi Giáng tự hỏi lòng mình: Tôi là ai và mục đích của tôi là gi? Tôi trong cuộc đời hiện hữu là chi? Có phải chỉ có “RƯỢU” mới giúp ông vượt qua được nỗi khó khăn, đương đầu với sự thật, tạm quên tương lai và hàn gắn được vết thương lòng? Xin hãy đọc hai bài của thi sĩ Bùi Giáng để chúng ta có thể hiểu rõ về con người của ông hơn: (Phụng Hiến)
“Ngày sẽ hết tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu…..”
…..”Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con”.
(Mắt Buồn)

Có thời gian thi sĩ Bùi Giáng sống thật buông thả, nhất là sau khi nhà bị cháy, gia tài của ông là những bản thảo văn học chưa kịp xuất bản bị thiêu rụi, ông như người điên. Có người lại kể rằng thi sĩ Bùi Giáng đeo đầy ống lon trên người, đứngchỉdẫn giao thông, sống lây lất đầu đường, vỉa hè, quán chợ, ông chẳng còn tha thiết với cuộc sống, thậm chí ông chẳng màn tắm gội cả tháng, lang thang khắp mọi nơi, lúc nào cũng say sưa … Có lẽ đây là thời gian mà ông bị rơi vào tình trạng trầm cảm trầm trọng nhất…
“Trăm năm tắm gội dưới trời
Ngày thì tắm nắng tối rồi tắm trăng
Nhớ em tắm với chị Hằng
Tận cùng tắm với ngọn đèn cô đơn”.
(Trăm Năm Tắm Gội)
Không chỉ là một giọng thơ lạ lùng, cuộc đời Bùi Giáng cũng có vô số chuyện lạ lùng bởi ông chẳng sống theo thời thế, mà chỉ biết sống theo chiều hướng tự do và sở thích của riêng mình, đùa cợt với ái tình, lời lẽ cỡn bợt để che đậy cho tình cảm không được đáp ứng qua những vần thơ.
…”Anh vẫn tưởng đầu đường thương xó chợ
Ai có ngờ xó chợ cũng thương nhau….”
(Tình thứ nhất )
…”Uống xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời
Em còn ở lại vui chơi
Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn
Riêng anh về suốt suối vàng
Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà…” (Uống Rượu)

…”Tôi cười tôi khóc bâng quơ
Người nghe cười khóc có ngờ chi không?…” (Bao giờ)
Cuộc đời là mộtgiai thoại ly kỳ, không ai có thể hiểu được con người của ông đang nghĩ gì và muốn gì? Điều làm cho mọi người kinh ngạc khi thi sĩ Bùi Giáng vừa là một nhà thơ, vừa là một dịch gia danh tiếng trên thế giới, viết sách nghiên cứu triết học đông tây kim cổ với những kiến thức vô cùng uyên bác, nhưng đồng thời lại có những hànhvi của những người mất trí.Tác giả Trần Ðình Thu đã thu thập rất nhiều tài liệu về thi sĩ Bùi Giáng, ông nói: “Ngòi bút của thi sĩ Bùi Giáng không chỉ bóng bẩy và hoa mỹ, mà còn thể hiện sự sắc sảo, tinh tế lạ thường khi phân tích tác phẩm về Truyện Kiều của Nguyễn Du, hay khá nhiều cuốn sách về con người, về tác phẩm và tư tưởng của các nhà văn, nhà triết học phương Tây như cuốn Tư tưởng hiện đại đề cập đến Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Albert Camus, Simone Weil, Paul Claudel, Saint Exupéry, Jean Paul Sartre, André Malraux, thể hiện một kiến thức uyên bác của tác giả”.
“Người yêu ta xấu với người
Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau
Nỗi niềm tưởng tới mà đau
Hàng rào giun dế gặm sâu cẳng gà
Con ơi học lấy nghề cha
Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm”.
Vẫn theo tác giả Trần Ðình Thu: Khi bước vào con đường nghiên cứu, thi sĩ Bùi Giáng quan tâm đến thi hào Nguyễn Du cùng với một số tác giả cổ điển khác. Nhưng đặc biệt về thi hào Nguyễn Du, thi sĩ Bùi Giáng rất phục và gọi Nguyễn Du là thiên tài Nguyễn Du, thêm vào đó, thi sĩ Bùi Giáng thường nhắc đến tên của thi hào Nguyễn Du trong thơ văn, trong khi giới thiệu tư tưởng triết học và trong những bản dịch tiểu thuyết nước ngoài. Thi sĩ Bùi Giáng sáng tác nhiều bài thơ về Nguyễn Du và một số bài thơ khác ông đề tặng thi hào Nguyễn Du.
“Nhớ hoài ông Nguyễn ông Du
Ông Như ông Tố Ðiếu Ðồ biển Nam
Hồng Sơn Liệp Hộ hội đàm
Hồng Sơn sơn nguyệt minh quang một mình”.
(Nhớ ông)
Hoặc:
“Tôi nay lão nhược hơn ông
Tôi ngoài bảy chục thong dong một mười
Ông chưa tới tuổi sáu mươi
Lìa đời lúc mới tuổi ngoài năm lăm”.
(Tố Như nhớ quê)
Cũng theo tác giả Trần Ðình Thu: Trong tình yêu Thi sĩ Bùi Giáng yêu cũng thật lạ lùng, ông để ý đến rất nhiều người đẹp, nhưng nữ nghệ sĩ Kim Cương và diễn viên điện ảnh Marilyn Monroe đã chiếm một vị trí đặc biệt trong vô thức của ông. Thi sĩ Bùi Giáng dùng lời thơ kỳ quái của trạng thái tâm thần không bình thường để nói về Kim Cương trong bài thơ Cô Kim Cương ơi, in trong tập Sa mạc phát tiết.
“Nếu ngày sau tôi chết đi,
Mà cô không thể giỏ cho một giọt nước mắt
Thì cô có thể giỏ cho một giọt nước tiểu cũng được
(Nhớ giỏ ngay trên nấm mồ)
Ở dưới suối vàng tôi sẽ ngậm cười mà đón nhận
(Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây)”.
Về phần nữ diễn viên điện ảnh Marilyn Monroe cũng được thi sĩ Bùi Giáng sáng tác một số bài thơ “Trời khóc Marilyn” trong tập Hoa lá cồn, xuất bản năm 1963:
“Trời xanh úp mặt nghe tin
Thôi rồi! Em Má Ri Lyn đi rồi
Từ đây ta bỏ ngai trời
Thu thời gian đập tơi bời càn khôn
Giữa hư vô nếu em còn
Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta
Úp môi ôm mặt khóc oà
Cồn lê lên miệng là ba bốn lần”.
Ngoài ra, tác giả Trần Ðình Thu viết: Nam Phương Hoàng hậu và ni cô Trí Hải cũng thấy xuất hiện trong các trang viết của thi sĩ Bùi Giáng, cuốn Mùa thu trong thi ca ông viết: “Suốt bao năm dài tại hạ làm thơ, chung quy chỉ vì cái màu xuân xanh bất tuyệt ban sơ của Dương Hoàng Hậu. Màu xuân ấy đã một lần tái sinh cách đây ba mươi năm trong hình hài máu me Nam Phương Hoàng hậu. Tại hạ yêu Dương Quý Phi bao nhiêu thì cũng yêu Nam Phương Hoàng Hậu bấy nhiêu”. Bùi Giáng sáng tác bài thơ Chiêm bao Nam Phương Hoàng hậu:
“Kê bô tí xí đêm đà
Ki ba ri xí i à xán da
Xã dan xoàng xĩnh giang hà
Ồ mô pha cố cồ ri xa ì
Tử tì mỉm tí tì ti
Miệng vàng hợp nhất nhu mì nhị biên
Ra sông ngồi ngó diện tiền
Ngần sương sái diện uy quyền nữ vương”.
Bên cạnh Hoàng hậu Nam Phương, thi sĩ Bùi Giáng gọi ni cô Trí Hải là Trí Hải ni cô, mẫu thân Phùng Khánh. Thi sĩ Bùi Giáng làm rất nhiều bài thơ về ni cô Trí Hải như Mẹ Phùng Khánh, Kính tặng Phùng mẫu thân, Mẹ Phùng Thăng Khánh, Phùng Khánh Mẫu Thân… Theo tác giả Trần Ðình Thu: Phải chăng trong tiếng gọi mẹ thiêng liêng ấy là một sự cô độc tận sâu thẳm hồn người? Trong suy tư, trong cảm xúc, trong cuộc đời… thi sĩ Bùi Giáng lúc nào cũng hồn nhiên như con trẻ.( tác giả Trần Ðình Thu).
“Mẹ còn nhớ nữa con chăng
Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên…
…”Nghe tin con chết giữa đường
Mẫu thân Phùng Khánh càng thương con nhiều…”
Khi viết về khả năng sáng táccủa Thi sĩ Bùi Giáng thì ông Huỳnh Ngọc Chiến thuật lại rằng thi sĩ Bùi Giáng trả lời rất thành thật, chẳng có một chút biểu hiện cao ngạo nào cả. Thi si Bùi Giáng cười và nói: “Qua làm thơ cũng giống như em là kỹ sư mà làm toán lớp ba rứa thôi”. Phân tích về cuộc đời thơ ca của Thi sĩ Bùi Giáng, thơ tình yêu của ông chiếm đại đa số và chia thành hai nhánh: Một về cõi thực, một về cõi mơ. Hầu như tất cả những bài thơ của Thi sĩ Bùi Giáng đều gắn liền với quê xưa đó là quê xứ Quảng của ông, đượcthểhiện rõ ràng qua những bài thơ: Tình yêu, Gái bờ mương, Lời sơn nữ, Mộng, Chuyện chiêm bao. Chúngta cũng có thể gọi là thi sĩ Bùi Giáng là thi sĩ của “Tình yêu và thân phận”. Trong “cái thân phận” đó con người đã gặp nhau, đã vui sướng, đã đau khổ, và đã dằn vặt lẫn nhau:
“Yêu nhau nhiều lúc mộng liều
Nhớ nhau quá độ nhớ nhiều như thương,
Thương nhau quá độ bình thường
Trở thành quái gỡ mộng trường tịch liêu

Tại người đâu phải tại ta
Tại người như thế thành ta điên rồ”.
(Tình yêu)

“Gánh than lên bán chợ Trời
Thiên Thần xúm hỏi: Em người ở đâu?
Thưa rằng: Em ở rất lâu
Trần gian dưới đó dãi dầu liên miên
Bảo rằng: chưa rõ tuổi tên?
Thưa rằng: tên tuổi là Em đây rồi
Nghĩa là Sơn Nữ đó thôi
Hỏi rằng: sao chẳng thấy môi em cười?
Thưa rằng: cười gượng không vui
Nên đành mím miệng một đời cho qua…”
( Lời sơn nữ)

Cũng có lúc, thơcủa thi sĩ Bùi Giáng chất chứa một nỗi buồn như là một cách để giải tỏa tâm trạng, tự than khóc cho cuộc đời của mình như trong các bài: Huế làm thơ, Chào thu lục tỉnh, Hận, Mắt buồn,
“Tôi vào Sài Gòn lúc đầu
Thật là bỡ ngỡ mối sầu Thừa Thiên…”
(Huế làm thơ)
“Thu đô thị đã mây lần lừa phỉnh
Em cùng ta về Lục Tỉnh nghe không
Để nhớ lại lần xưa em đã định
Cùng ta đi ngó cỏ nội hoa hồng
Ðây Mỹ Tho Cần Thơ Châu Ðốc
Long Xuyên ơi và Sa Đéc em ơi
Trời kỷ niệm đi về trong đáy mắt
Thổi dư vang từ dĩ vãng xa vời”…
(Chào thu lục tỉnh)

Thơ của thi sĩ Bùi Giáng được đánh giá là khó hiểu, trong thơ ông thường dùng những chữ “điên”. Có lẽ bởi vì cuộc đời của ông rất lạ lùng nên chất thơ của ông cũng lạ lùng không kém. Điển hình là trong các bài: Em mọi điên, Kỷ niệm chín suối, Lời người điên, Lời người điên, Mộng, Ông điên, Ở trong rừng, Riêng mình, Thưa cô nương, Áo xanh, Hang rừng, Hoàng hậu, Chào em vô tận

…”Trời ma đất quỷ hai nơi
Em điên từ bữa ra đời em điên”…
(Em mọi điên)
“Ông điên từ bữa hôm qua
Tới hôm nay nữa gọi là ba hôm…”

…”Ông điên từ một lần đầu
Tới lần đuôi đứt ruột rầu rĩ đau…”
(Ông điên)

Theo tôi, Thi sĩ Bùi Giáng sáng tác theo nguồn cảm hứng, với sự cảm nhận của khối óc và những rung động của con tim, đã kết hợp thành những vần thơ nghệ thuật thi ca. Phải chăng những dòng thơ của thi sĩ Bùi Giáng biểu hiện cho sự mất mát, đau khổ, thực tế, hiện tại, thiên nhiên, tình yêu chan chứa giữa con người và sau cùng là … cho tha thứ, khoan dung, thánh thiện như ông đã gọi: Ðó là “Niết bàn của thi sĩ” theo triết lý của Phật giáo hay có người còn gọi ông là “vị Bồ tát của văn chương”.
Vậy thì một câu hỏi thứ hai được đặt ra: Triết lý của Phật giáo có thực sự trong thơ của thi sĩ Bùi Giáng hay không?

Một số tài liệu và tác giả Nhiên An cho rằng, trong thơ của thi sĩ Bùi Giáng thấy có triết lý của Phật giáo, những từ ngữ trong thơ của ông đượm tinh thần Phật giáo như ông nhận ra được cuộc sống này là “hư vô” là không thật, là hữu hạn, là biến đổi không ngừng nghỉ. Có lẽ ông cảm nhận điều này nên ông đã làm một kẻ lữ hành rong chơi suốt cả một đời không vướng víu, “đời chỉ là cõi tạm”, chỉ là “quán trọ trần gian”, chỉ là chỗ nghỉ chân.

…”Cũng vô lý như lần kia dưới lá
Con chim bay bỏ lại nhánh khô cành
Ðời đã mất tự bao giờ giữa dạ
Khi lỡ nhìn viễn tượng lúc đầu xanh”…
(Hư vô và vĩnh viễn)
…”Lỡ từ lạc bước bước ra
Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng.”
(Chớp biển)

Theo quan niệm của đạo Phật, cuộc sống của một kiếp người là đau khổ, với sinh lão bệnh tử ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc…Thế gian là cõi tạm, cuộc sống là vô thường, biến hoại, không hằng hữu, chỉ có quê nhà mới là nơi êm ấm, là chốn bình yên.
…”Sực nhớ rằng đây rừng rú thẳm
Là quê thân thiết biết bao chừng…”
(Người về)
Theo Thi sĩ Bùi Giáng Chỉ có “chân tâm” mới là quê nhà thật sự, chỉ có hạnh phúc thật sự là ở mãi trong tâm. Thi sĩ Bùi Giáng đã rất khéo léo vận dụng ngôn ngữ của Phật giáo và trong thơ ông, trở lại quê nhà ở đây không khác là trở lại với chân tâm, chính nơi đây mới là hạnh phúc và giá trị của hạnh phúc
…”Lòng chim gieo sáng dệt vân sa
Trên bước đường xuân trở lại nhà
Mở sách chép rằng: vui một sáng
Nghìn năm còn mãi tấm lòng ta…”
(Áo xuân, 1942)
Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Trước thi sĩ Bùi Giáng, Đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng nói về “Tâm” khi khẳng định về thân phận của kiếp người qua hình ảnh của nàng Kiều: “Thiện căn ở tại lòng ta, chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
… “Ðường đi ngõ quạnh lang thang,
Niềm vui tao ngộ muôn vàn lạ thay.
Trái tim mỗi mỗi mỗi ngày,
Mỗi giờ phút đọng mây trời rung rinh”.
Ðiều này ứng với giáo lý của nhà Phật là: “Tâm viên, ý mã”, thi sĩ Bùi Giáng Bùi Giáng hiểu được điều này, chính vì vậy mà ông muốn “trở về cố quận” để tìm lại cõi “nguyên xuân” của kiếp người. Cõi “nguyên xuân” đó chính là quay về với tự thân của cuộc sống đời thường. Thi sĩ Bùi Giáng đã nhận chân ra được hạnh phúc nên ông đã sống một cuộc đời không bon chen không danh lợi, ông tìm vui trong những gì đơn sơ nhất, giản dị:
…”Mỗi sáng tôi nhìn mặt trời mọc trong mây,
Mỗi chiều tôi nhìn mặt trời lặn trong mây,
Suốt ngày tôi lắng tai nghe tiếng chim hót trong lá cây reo,
Và nhìn thấy rất nhiều mùa xuân mênh mông đang đi tới”.
(Nhìn thấy – “Đêm ngắm trăng”)
Cuộc sống rất ngắn ngủi, cái chết chẳng đợi ai nên cứ an trú trong phút giây hiện tại để thấy mình còn hiện hữu trên cõi đời này. Chỉ có giờ phút hiện đại mới tìm thấy được hạnh phúc mà hạnh phúc đó là trạng thái của Niết Bàn.
“Ðường xa mỏng mộng vô thường
Trái tim chợt tỉnh tôi nhừng nhịn tôi…”
hay :

…”Hỏi rằng người ở quê đâu
Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà”.
hay :
…”Từ đâu ngươi đến? – Từ đây ta về”.
Tóm lại, qua những vần thơ của thi sĩ Bùi Giáng, vui hay buồn, lạ lùng hay kỳ quặc đều là những phản ảnh của cuộc đời ông. Tôi bỗng thấy lòng mình chùng xuống và tiếc thương cho số phận của người thi sĩ tài hoa & thông thái, một dịch giả phi thường và một nhà nghiên cứu văn học lỗi lạc, nhưng lại có một cuộc đời quá đỗi lạ lùng và bi thương. Thi sĩ Bùi Giáng đã ra đi, nhưng ông đã để lại cho thế giới văn thơ Việt Nam một giá trị văn hóa vuợt thời gian. Thi sĩ Bùi Giáng mất lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998, sau một cơn tai biến mạch máu tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn sau những năm tháng sống “điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang” . Theo ông Vũ Ðình Hải, đám tang của thi sĩ Bùi Giáng được gia đình của ông tổ chức rất lớn và chu đáo tại chùa Vĩnh Nghiêm. Trong số nghệ sĩ đến tiễn chân thi sĩ Bùi Giáng về nơi an nghỉ cuối cùng, ông Hải nhận thấy có sự hiện diện của nữ nghệ sĩ Kim Cương, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và rất nhiều những nghệ sĩ khác….
Khánh Lan xin nghiêng đầu cảm phục một nhân tài của nước Việt và xin được kết thúc bài bình luận & biên khảo của mình với bài thơ “Ngày Mai” mà thi sĩ Bùi Giáng đã sáng tác để tặng ông Vũ Ðình Hải tại Sài Gòn năm 1995.

“Ngày mai tôi sẽ ra đi
Rong chơi chín suối như người thần tiên
Bấy giờ tôi sẽ hết điên
Nằm yên mộng mị, liên miên mơ hoài “.

Vâng, đấy là Bùi Giáng. Rất trân quý.

Share this post