Con Bà Tám – Sơn Nam

Sau mấy năm xây nò gần bãi gọi là nò cạn, Hai Nhiệm gom góp vốn liếng và vay thêm nợ của chú Xìn Phóc để phát triển công việc làm ăn: Xây nò khơi, cách xa bờ biển hàng 10 cây số ngàn, theo kiểu nò bắt cá của người Xiêm (nò Xiêm).

Hai Nhiệm làm hai bài toán rành mạch trên giấy trắng mực đen để trình với chủ nợ là Xìn Phóc.

1) Cắm hàng rào dài suốt 2.000 thước để cho cá nương theo đó mà vô nò, mỗi thước cắm hai đước: 4.000 cây.

2) Nò hình tròn, bề kinh tâm (kính) 20 thước, bề chu vi tốn chừng 800 cây đước bện lại bằng mây tàu, phỏng chừng hai tạ mây.

Kèm theo cái toa ấy, Hai Nhiệm vẽ thêm bản sơ đồ của các nò Xiêm vĩ đại, giống như cái quạt tròn, thân quạt là nơi chứa chất cá tôm, cán quạt là những hàng cây rạo đón cá vô bụng nò.

Hai Nhiệm lấy làm thích thú, ngắm nghía tới lui rồi hạ bút ghi rõ: 40 ngàn đồng!

Anh xếp cái toa và bức sơ đồ làm tư, bỏ trong hộc tủ.

Ngoài cửa có người bước vào. Anh giựt mình, đẩy hộc tủ để giữ kín kinh tài.

– Chào thầy Tư!

Thầy Tư Nhu nheo mắt:

– Cái gì mà coi bộ quan trọng dữ vậy?

– Dạ, đồ đạc giấy tờ.

– Thôi! Giấu diếm làm gì. Nghe đồn năm nay chú em muốn vay nợ của Xìn Phóc để xây nò Xiêm. Hay lắm! Tôi tới đây bàn thêm, giúp ý kiến. Nếu thấy được, cho tôi hùn năm mười ngàn.

Hai Nhiệm chép miệng, chưa biết trả lời như thế nào để khỏi mích lòng bực “đàn anh” kẻ cả! Thầy Tư Nhu tới xóm biển này từ bốn năm qua, chuyên nghề làm thầy nò. Ai sửa soạn xây nò, muốn kết quả được mỹ mãn thì đem mâm trầu rượu tới chầu chực, chờ thầy xem tuổi, xem ngày giờ khởi công. Chưa hết! Thầy còn vẽ bùa bát quái nêu rõ đâu là Đông, Tây, Nam, Bắc, Càn, Khảm, Cấn, Chấn, dạy cho gia chủ cúng Hà Bá Thủy Long. Thầy sẵn sàng xem quẻ giùm với điều kiện chủ nò phải chia cho thầy một phần ba số tiền thâu hoạch được.

Im lặng hồi lâu, Hai Nhiệm lên tiếng để chặn lời thầy Nhu:

– Tôi ít tin dị đoan.

– Chú em đừng nói vậy, rủi xảy ra điều bất lành, ăn năn không kịp. Đất có thổ công, sông có Hà Bá! Người xưa thường nói.

Hai Nhiệm cười giòn, giọng khiêu khích:

– Nhưng tôi làm ăn ở tuốt ngoài khơi, ngoài vòng của thổ công, Hà Bá.

– Ngoài đó còn Thủy Long. Thủy Long cai quản khắp miền Nam Hải.

Hai Nhiệm vẫn công kích:

– Thủy Long là vị thần của người Tàu, tôi xây nò kiểu bên Xiêm.

Nãy giờ thầy cố ý dẫn dắt câu chuyện, khiêu khích cho Hai Nhiệm thốt ra lời nói vừa rồi. Thầy kể thao thao bất tuyệt về nguồn gốc cái nò Xiêm:

“Xưa kia ở bên Xiêm, vị quan đại thần nọ có đứa con gái vừa đúng tuổi cặp kê, nhan sắc xinh tươi lạ lùng. Cô gái này thích đi dạo trên đồi, bắt bướm, hái hoa.

Hôm nọ nàng lên sườn đồi gặp đóa hoa tím mọc ngoài gành đá, phía dưới là khe suối chảy cuồn cuộn. Nàng với tay, gió thổi khiến đóa hoa chập chờn ẩn hiện xa gần, khi vừa tầm, khi lơ lửng giữa khoảng không. Như bị thôi miên, nàng ngây dại bò tới để hái cho kỳ được ‘giấc mộng hoa’ ấy, quên cái khe sâu thăm thẳm. Nàng tuột chân té xuống”.

Hai Nhiệm nói nhanh:

– Chuyện ngộ thiệt nhưng lạc đề.

– Bởi vì chú em nóng nảy, chưa hiểu.

– Cái gì mà không hiểu. Đóa hoa này giết chết đóa hoa kia theo kiểu tuồng tích cải lương.

Thầy Tư Nhu lại nắm chủ động, tiếp tục câu chuyện từ lúc người đẹp rơi xuống gành đá, mất dạng.

“Ông quan truyền lệnh cho binh sĩ tìm xác đứa con gái nhưng ai nấy đều lắc đầu, gành đá quá cao, vả lại nước chảy cuồn cuộn, biết xác nàng trôi tấp nơi đâu. Nếu tìm được chăng nữa, làm sao trở lên sườn đồi? Rốt cuộc, vị quan bèn đặt giải thưởng cho bất cứ ai đem được cái tử thi về nha môn để ông làm lễ tống táng: Bấy giờ ở miền duyên hải có ông Dì Xiêm nghĩ ra sáng kiến: Đóng cọc thật khít theo hình tròn để bao vây vàm sông. Xác cô gái từ khe suối, trôi ra sông, rồi lọt vào vòng rào tại cửa biển. Sau khi vớt xác lên. Ông Dì Xiêm chẳng thèm nhổ bỏ mấy cây nọc. Cá biển giành nhau mà chui để nương tựa lúc nổi sóng lên. Thế là ông Dì Xiêm trở thành thủy tổ của nghề nò Xiêm. Ông này nghe đâu là người Hải Nam. Vì vậy khi hạ nò Xiêm, người miền biển cúng tế trọng thể, rước thầy nò đến ‘nhờ xem’ phương hướng kẻo Hà Bá, Thủy Long hờn giận”.

Câu chuyện hấp dẫn khiến Hai Nhiệm suy nghĩ. Đúng rồi! Xưa nay, muốn đánh lưới hoặc muốn bao đăng, luôn luôn người ta theo nguyên tắc mành lưới hoặc kẽ đăng phải khít thân hình con cá, con tôm thì mới hy vọng túm nó được. Ông Dì Xiêm đã ngẫu nhiên phát minh ra nguyên tắc mới. Ngoài biển sóng gió, loại cá to phải lựa một gốc cây nào đó mà nương tựa cho ấm cúng. Gặp gốc cây, cá mừng quýnh như kẻ sắp chết đuối bám được cái phao. Nó chẳng bao giờ buông phao để chịu chết đuối, bỏ phao này, nó chuyền qua phao khác rồi lọt vào nò cho ta xúc, đem bán.

Để tỏ rằng mình chưa đến nỗi vong ân bạc nghĩa đối với tiên sư Dì Xiêm, Hai Nhiệm toan kết thúc câu chuyện để đuổi khéo ông thầy nò Tư Nhu.
– Mấy năm qua, tôi làm giàu nhờ ông Dì Xiêm. Nếu gặp con cháu của ông, tôi sẵn sàng đền ơn. Ổng giỏi thiệt. Nhờ ổng mà dân miền biển sáng mắt thêm: cá vô nò, dựa lưng vào mấy cây nọc để chờ chủ nó tới xúc chớ không bao giờ chạy trốn, mặc dầu miệng nò rộng hàng đôi ba thước. Và giữa hai khoảng nọc có kẽ hở lớn gấp đôi gấp ba thân mình của nó.

Thái độ cương quyết của Hai Nhiệm khiến thầy Tư Nhu tạm thời rút lui:

– Mai chiều, tôi trở lại thăm chú em.

– Cám ơn, để tôi thăm Xìn Phóc trước đã. Y ta chịu cho mượn tiền thì mới bàn tới chuyện Dì Xiêm, chuyện con quan đại thần hái bông ở khe núi.

Nhờ cách làm ăn ngay thẳng của mình nên Hai Nhiệm được Xìn Phóc ứng trước số tiền khá to, dư dả để mua cây, mướn người đốn lậu thuế trên 4.000 cây đước, mỗi cây dài hơn mười thước. Mướn ghe chở ra ngoài khơi để cắm nò. Số ghe này chạy ra, chạy vào để chở cây, mỗi chuyến hơn 8 cây số.

Thầy Tư Nhu vẫn chàng ràng để nài nỉ:

– Nếu chú em không cho tôi hùn vốn hoặc xem phong thủy thì thôi. Bây giờ tôi muốn giúp công, chẳng cần đền ơn, chú em nghĩ sao?

– Giúp vụ gì?

– Bữa nào khởi công “xuống nò”, tôi xem giùm ngày giờ, theo sách vở ông bà để lại. Tôi lựa ngày “bổ tróc” tức là ngày hên.

Hai Nhiệm sực nhớ tới danh từ bổ tróc ấy:

– Tôi nghe người ta nói nhiều về ngày đó. Xây nò thì phải hạ thủy đúng ngày bổ tróc, như người cất nhà xem ngày để gác đòn dông.

– Chú em hiểu bổ tróc là gì không? Bổ tức là bộ, là bủa, bủa lưới. Tróc là bắt, nã tróc. Chú em cho biết tuổi tác để tôi “đánh tay” cho.
Hai Nhiệm nói với giọng tức giận:

– Tôi thì chẳng cho thằng cha nào hùn vô hết! Năm nay tôi “xù” cái vụ coi tuổi, coi quẻ bát quái, coi ngày bổ tróc. Mình hên thì mọi việc đều xong. Nếu hết thời, một trăm ông thầy nò cũng không cứu nổi. Hơn nữa mỗi “cha” thầy nò bàn một cách; cha nào cũng tự xưng là thần, là thánh tối ngày ngồi trên đất cạn mà nói chuyện cá tôm dưới đáy biển.

Thầy Tư Nhu cau mày:

– Chú em quá gắt gao đối với tôi.

Trẻ tuổi, háo thắng, nhưng Hai Nhiệm vẫn hiểu cái thủ đoạn đối nhân xử thế. “Quỷ thần kính nhi viễn chi”. Nên kính trọng ma quỷ, thần thánh nhưng chớ khá lân la với họ – nghĩa là nên lánh xa chừng nào hay chừng ấy. Muốn tống cổ thầy Tư Nhu ra khỏi nhà chỉ còn biện pháp cuối cùng như sau:

– Xin thầy coi giùm ngày “tróc bổ”, à, ngày “bổ tróc”, tôi nói lộn ngược lộn xuôi.

Một lần nữa Hai Nhiệm sa vào quỷ kế của Tư Nhu. Thầy ung dung móc “bóp”, đem ra tờ giấy nhỏ, đầy chi chít chữ nho lẫn chữ Quốc Ngữ.

– Suốt đêm hôm, tôi lật tất cả sách vở, đem tất cả bửu bối để giúp chú em. Chú em thương thì tôi nhờ, trách mắng thì tôi chịu. Tôi làm việc theo lương tâm, theo nghiệp tổ. Nếu không coi ngày bổ tróc giùm cho chú em, rủi xảy ra điều thất bại, tôi hối hận lắm. Đây, chú em, ngày mốt nên hạ nò cách bờ biển chừng 20 dặm, phía Tây Nam, giờ Thìn. Chú em ngóng về phía Tây Nam. Chừng nào thấy một cụm mây tròn màu tím hiện ra là…

Hai Nhiệm cười khanh khách:

– Là tàn mạt. Thôi cám ơn cha nội! Chộn rộn quá. Tôi cãi lời một phen xem sao. Lát nữa, tôi khởi công lập tức, chạy ghe buồm ra ngoài khơi, gặp chỗ nào cao hứng là tôi dừng lại. Mây trắng, mây dài, mây lốm đốm màu gì cũng là điềm tốt cả. Thôi về đi, chừng nào trúng nò, tôi đền ơn hai lít rượu với một cái mền để dưỡng già.

– Sao chú em không nói luôn là để liệm tôi trong hòm. Nhất là phá Sơn Lâm, nhì đâm Hà Bá. Chú em nhỏ tuổi, nghĩa là còn nhiều dịp để thành công nhưng cũng còn nhiều dịp để thất bại. Nhớ lấy đó! Răn lấy đó!

Nò đã xây rồi từ hơn mười ngày qua.

Hai Nhiệm cười với thiên hạ mà gan ruột thì nát như tương, giống hệt tâm trạng kẻ ngồi sòng bạc chờ đợi người “cái” khui con đề. Anh ăn ngủ không theo giờ giấc nhứt định, lắm khi đói mà ăn không ngon, không buồn ngủ nhưng ráng dỗ giấc ngủ để trấn tĩnh bộ thần kinh quá căng thẳng khi gió từ phía Nam thổi lộng về sớm hơn mọi năm đến hai tháng.

Nhiều khi, anh ta thức giấc nửa đêm, thấy mơ hồ trước mắt có ngôi nhà ngói. Dưới ánh đèn “măng sông” sáng choang nào là máy hát, nồi chảo bằng nhôm, tranh cảnh bên Tây treo đầy vách. Tóm lại, từ địa vị “thường thường bậc trung” anh leo lên nấc thang phú quý tột bực xóm này. Có vài buổi bình minh u ám, anh cúi mặt, nghĩ tới trận giông Nam ác liệt đang sắp sửa hoành hành ngoài khơi, đánh tan tành cái nò trị giá trên 40 ngàn đồng trong nháy mắt, bao nhiêu cây rào đều tróc gốc, nằm xiêu vẹo như hàm răng long của bà lão trên bảy mươi tuổi.

Ngoài cửa, thầy Tư Nhu xuất hiện với gương mặt ròng ròng nước mưa, với bàn tay che giấu dưới nách.

– Chú em đừng lo, hễ buồn hoặc lo ngại thì uống rượu với tôi.

Hai Nhiệm nhướng mắt. Chai rượu của thầy Tư là thủ đoạn gây cảm tình, nhưng giờ phút này nó trở nên cần thiết. Tư Nhu nói:

– Lời tục thường nói: Bách văn bất như nhứt kiến. Nghe nói hồi hôm cá vô nò của Tư Chối, của Hai Xịu ở Xẻo Bần. Hai cha đó, xúc được bốn ngàn con cá mè đường, mổ lấy bong bóng, lập tức bán cho ghe Hải Nam từ Xanh Ga Bo qua chịu mối. Còn xác cá, mỗi con nặng hơn mười ký lô, mấy chả bỏ ngoài biển. Bong bóng cá bổ khỏe hơn sâm Cao Ly, nhà giàu ưa lắm.

Hai Nhiệm gật gù:

– Vốn 40.000 đồng, trong một đêm thâu vô gần 100.00 đồng! Ngon quá. Hồi hôm kia, tôi ra thăm dò một lần rồi. Buồn quá chưa có “màng màng gì ráo!

– Ít ra trong bụng nò cũng có lai rai vài con gì chớ!

– Đôi ba trăm con cá chim, xúc uổng công, bán mười đồng bạc là cùng!

Thầy Tư Nhu đứng dậy dậm chân:

– Trời đất ơi! Chú em khờ khạo quá. Hễ cá chim chịu vô, tức là hai ngày sau cá mè đường kéo tới tràn nò, bể nò ăn thua. Hiện giờ ở trong cái nò của chú em có hơn 100.000 đồng rồi. Ra coi thử mới được. “Bách văn bất như nhứt kiến”. Nghề làm nò quý ở chỗ chủ nò đích thân coi sóc từng giờ từng phút. Nằm nhà nghe đồn phong thanh hoài, tức chết đi!

Nghe lời nói chí lý ấy. Hai Nhiệm quát to:

– Bạn ta đâu? Tay lưới đâu? Tụi bây ra ngoài nò với tao, với thầy Tư một phen để xúc cá.

Vài đứa cằn nhằn:

– Trời nổi giông, biển động mạnh từ hai đêm rồi, cá tôm gì mà xúc. Đi ra ngoài khơi, để ngắm cảnh họa may. Nhưng trời mưa giông có cảnh gì mà ngắm? Chẳng lẽ mình ra ngoài để kiếm vài cái thây ma chết trôi?

Thầy Tư Nhu nói gắt:

– Đứa nào nói bậy đó? Ở nhà nghe không? Tao cấm tuyệt không cho đứa nào đi theo tao.

Thầy Tư Nhu day qua Hai Nhiệm:

– Chú em nghe nó chửi tôi không? Làm ăn, nên tránh những tiếng nói đem xui xẻo.

Bây giờ Hai Nhiệm đâm ra cảm động trước thái độ quá ư thành khẩn của Tư Nhu. Anh bắt buộc tên gia nhân ấy ở lại nhà. Đoàn ghe lên đường, xông ra ngoài khơi, dưới trận mưa tối tăm trời biển. Trống ngực Hai Nhiệm đánh thình thình. Thầy Tư Nhu đưa chai rượu lên môi mà ực liên tu bất tận, tưởng chừng như nếu ai gỡ chai rượu ấy ra, thầy mất phần hồn lăn ra chết xỉu. Hàng rào xuất hiện. Mớ cây đước cắm giăng hàng ngang để chận cá vẫn đứng vững trước bảo táp phong ba. Đoàn ghe nương theo đó mà tiến vào bụng nò. Hai Nhiệm và thầy Tư đều đứng thẳng người.
Bụng nò còn nguyên chưa hư hao. Vài bầy cá chim bay nhảy khỏi mặt nước, rớt xuống khuất dạng.

Tư Nhu bỗng run rẩy:

– Con gì? Ghê quá! Trời đất ơi là Trời!

Hai Nhiệm hỏi như cà lăm:

– Thầy nói gì? Tôi đâu thấy? Thấy ma hả?

– Đâu có! Bữa nay không có thì mai mốt có cá. Mình được quyền chờ đợi. Đợi ba tháng nữa mới mắn mùa nò. Nhưng mà nó ở dưới đáy biển kia, nó sửa soạn nổi lên. Nó sống nhăn. Nó không phải là người. Tôi thấy vài lần rồi.

Trong giây phút, Hai Nhiệm nhớ tới cá nược, cá “vuông”, loại cá ông thứ nhỏ thường xông pha vào để phá nò. Anh ta cãi lại:

– Đâu có! Nếu là nó, thì nó xịt vòi nước rồi quậy ầm ầm chìm ghe chìm xuồng rồi.

Từ dưới biển một cái đầu đỏ hói nổi lên, to và tròn bằng trái dừa khô thứ lớn nhất: Miệng nó hả ra giống như mỏ chim, mắt nhắm híp lại.
Con quái vật ấy như bất chấp số khán giả trên mặt biển. Hai Nhiệm run lẩy bẩy:

– Vái Bà Cậu, mô Phật. Cầu xin Thủy Long chư vị… Rồi day qua thầy Tư Nhu:

– Con gì vậy? Ông gì vậy?

Thầy Tư im lặng vì cái đầu đỏ hói ấy đã lặn xuống biển.

Mặt nước lại xao động. Lần này một thân hình to lớn trồi lên, thoạt nhìn qua giống hệt như con trâu nằm vũng. Trên lưng nó, nhiều miếng vảy xanh lè đầy rong rêu, trơn nhớt, sắp đặt theo kiểu vảy trên lưng rùa. Từ đầu tới đuôi, thầy Tư Nhu đếm kỹ thấy có tám cái sọc nổi cao lên, chạy song song.

Thầy buộc miệng quát to:

– Con Bà Tám! Loại rùa khổng lồ có tám cái sọc trên lưng. Nghe đâu nó ở miền Xanh Ga Bo, lâu lâu xiêu lạc qua xứ mình. Phải đuổi nó ra cho khéo léo, kẻo bao nhiêu cây nọc cây rạo của nò mình ngả nghiêng hết.

Hai Nhiệm thọc cây chèo xuồng đập thử vào mai con rùa mang danh là Bà Tám. Nó im lìm, ngóng mỏ, trông hiền lành quá. Anh nói:

– Tại sao mình không bắt nó về, bán cho quan chánh tham biện chủ tỉnh, nuôi rồi đem về bên Tây.

Dường như con Bà Tám biết nghe. Đột nhiên nó cựa quậy vòng vo, quậy nước ầm ầm rồi nhắm vào hông nò mà xắn tới. Hàng chục cây nọc gãy rôm rốp, dây mây dứt tiện. Như một giấc chiêm bao! Con Bà Tám đã đi rồi, to bằng cái lu thứ lớn, sau khi đập phá.

Cái nò còn vài di tích mơ hồ trên mặt biển. Hàng rào vô dụng dài cỡ cây số còn đó, bụng nò bị bể. Mấy cây nọc còn sót lại đu đưa, rồi biến mất khi sóng ngoài khơi bỏ vòi báo hiệu trận giông Nam.

Về tới nhà, Hai Nhiệm nằm thở phào, thầy Tư bèn an ủi, khi cơn giông làm rung chuyển căn nhà nhỏ bé:

– Tại chú em ỷ tài ỷ sức, xuống nò không đúng ngày “bổ tróc”. Người làm nò giống như cô gái hái đóa hoa ngày xưa trên gành đá, bên Xiêm.

Hai Nhiệm nhìn thầy Tư Nhu:

– Làm cách nào bây giờ? Nợ của Xìn Phóc 40.000 đồng. Năm nay hoàn toàn thất bại. Liệu năm tới nó dám cho tôi mượn thêm để thử thời vận! Mình đâu bắt được con Bà Tám đem về chủ nợ coi để làm bằng cớ!

Thầy Tư Nhu nâng chén rượu mà lẩm bẩm:

– Có thứ khác, gọi là con Bà Ba, trên lưng có ba sọc. Hồi còn đi làm mướn cho ông chủ Rờ Nô ở đảo Phú Quốc, tôi nghe ổng nói đó là giống rùa xưa từ vài triệu năm về trước và sót một mớ ở Thái Bình Dương, ăn no dưới biển, về ngủ trên bãi. Súng cà nông bắn, nó không sợ. Biển xứ mình ăn thông với… năm châu bốn biển. Đời tôi gặp con Bà Tám này lần thứ nhứt… bấy lâu, nghe đồn đại…

Hai Nhiệm đáp:

– Tôi cũng gặp nó lần thứ nhất. Tôi không tốn một xu, còn Xìn Phóc thì tốn 40.000 đồng. Năm tới, chắc tôi trở lại nghề móc cua, bắt ba khía ở bờ biển. Chủ nợ dư hiểu, chẳng bao giờ thưa kiện ra tòa. Luật giang hồ mà.

Sơn Nam

Share this post