Cuộc Đời Thơ Ấu Của Vua Hề Sạc Lô – Vũ Hạnh (Dịch) (1)

LỜI NÓI ĐẦU

Ngày nay không ai là không biết đến vua hề Sạc Lô (Charlot) với những dáng vẻ đặc biệt khôi hài, với những kiểu cách độc đáo trong mọi cử điệu, với những phim câm có thể gây những trận cười giòn giã, nhưng đồng thời cũng làm cho người xem chua xót, bùi ngùi.

Từ xưa vai hề được xem như kẻ phụ thuộc, cốt để làm vui khán giả hầu giúp đổi thay không khí trong các màn lớp của một vở tuồng. Nhưng với Sạc-Lô, vai hề đã được nâng cao lên đến tột đỉnh vinh quang của một vai trò chủ yếu bằng một nghệ thuật siêu đẳng. Bởi qua thiên tài Sạc Lô, vai hề không chỉ giải trí người xem mà còn đề cập đến nhiều vấn đề xã hội lớn lao, đồng thời bày tỏ một quan niệm sống. Sạc Lô đứng hẳn về phía những kẻ cùng khốn, thiệt thòi, để mà phê phán cuộc đời. Chính quan niệm sống đúng đắn ấy giúp phát hiện được hết khía cạnh của tài năng ông và làm nghệ thuật của ông gắn liền, hòa hợp với cuộc sống chung quanh. Vì thế ông được ngưỡng mộ như một vĩ nhân, và trong phạm vi nghệ thuật ông là thiên tài quốc tế được nhiều người biết đến nhất.

Chúng ta chỉ biết Sạc Lô qua những phim câm và thường nghe nói về ông như một con người có nhiều tài năng, danh vọng, nhưng chưa biết đến những ngày khốn khổ của ông trong buổi thiếu thời. Có lẽ chưa có một vĩ nhân nào đã trải qua một tuổi thơ đói nghèo như thế, và cũng có lẽ nỗi khốn khổ ấy đã sớm giúp ông đạt đến thiên tài, một thiên tài gần gũi nhiều với đông đảo người trên thế giới này.

Ở đây chúng tôi đã chọn trích dịch đoạn đầu quyển hồi ký Chuyện Đời Tôi do chính vua hề Sạc Lô viết về đời mình. Trong khi chờ đợi điều kiện thuận tiện để in toàn bộ tập hồi ký ấy, chúng tôi mong rằng đoạn trích dịch này có thể giúp các bạn trẻ suy nghĩ nhiều hơn về sự hình thành của một thiên tài, và tìm thấy trong những nỗi gian nan mà chính cậu bé Sạc Lô trải chịu, nhiều sự khích lệ cho mình cầu tiến.

Sài Gòn 1/5/1974

V. H.

Chương 1

Tôi sinh ra đời vào ngày 16 tháng 4 năm 1889 lúc 8 giờ tối, tại miền Đông Lan (East Lane). Sau đó một thời gian, gia đình chúng tôi đến ngụ tại khu Lâm Bết (Lambeth). Cứ tin theo lời mẹ tôi kể lại sau này thì chỗ mà chúng tôi tới rất là sung sướng. Ở đó có sẵn tiện nghi, chúng tôi được sống trong ba gian nhà đầy đủ bàn ghế cùng các vật dụng. Một trong những kỷ niệm đầu tiên của tôi là vào mỗi tối trước khi mẹ tôi đến hí viện, anh Xít Nê (Sydney) và tôi được đặt nằm trong cái giường tử tế, có chị bồi phòng trông nom. Trong thế giới của một đứa trẻ con mới ba tuổi rưỡi mà tôi đang sống, mọi việc có vẻ dễ dàng. Anh Xít Nê, hơn tôi bốn tuổi, có thể làm đủ các trò ảo thuật như nuốt trọn một đồng tiền và làm cho nó lọt ra ở đàng sau gáy. Tôi cũng có thể làm vậy, và một hôm tôi đã nuốt trọn một đồng xu khiến mẹ tôi phải chạy tìm thầy thuốc cứu cấp.

Hôm nào cũng vậy, khi mẹ tôi từ hí viện về, bà có thói quen để ở trên bàn những thứ ngon ngọt mà anh Xít Nê và tôi tìm thấy vào sáng hôm sau, miếng bánh, hay những cây kẹo, và bù trở lại chúng tôi không được làm ồn vì bà thường dậy rất trễ.

Mẹ tôi thủ vai trong những hài kịch, bà người xinh xắn, tuổi tác xấp xỉ ba mươi, mặt sáng, mắt xanh, mái tóc vàng hoe và dài đến độ bà có thể ngồi lên trên. Anh Xít Nê và tôi đều yêu quý mẹ chúng tôi hết sức. Dù bà không có sắc đẹp khác thường, chúng tôi vẫn thấy bà thật kỳ diệu.

Thời ấy thành phố Luân Đôn là một đô thị yên lành. Nhịp điệu sinh hoạt ở đó khá tĩnh, những xe công cộng do ngựa kéo đi cũng tiến chậm chạp. Không khí nói chung vui vẻ, dễ chịu với những cửa tiệm đáng yêu, với những quán rượu và những rạp hát.

Rồi một tai biến xảy ra, có lẽ một tháng hay là vài ngày sau đó, thình lình tôi cảm thấy rằng mọi việc không thể dễ dàng thuận lợi giữa mẹ tôi với cuộc đời bên ngoài. Bà ra đi suốt buổi sáng với một bà bạn, và khi trở về tỏ ra kích động lạ thường. Tôi đùa nghịch dưới sàn gỗ và cảm thấy phía trên mình có sự khua động nặng nề, như tôi đang nghe ngóng dưới từ một đáy giếng. Tôi nghe mẹ tôi cất lên những tiếng than trách, thỉnh thoảng lại nức nở khóc và cứ nhắc mãi tên ông An Trung (Amstrong): Nào An Trung nói điều nọ, An Trung là thằng quỷ! Sự kích động của bà kỳ lạ và dữ dội đến mức tôi phải khóc lên khiến mẹ tôi phải ôm tôi vào lòng để mà dỗ dành. Vài năm sau đó, tôi mới hiểu được ý nghĩa những gì xảy ra hôm ấy. Mẹ tôi ở tòa án về và bà đã kiện cha tôi vì ông không chịu trả đủ món tiền trợ cấp ăn uống cho mẹ con tôi, và tòa xử không lợi mấy cho bà. An Trung là luật sư của cha tôi.

Thật tôi cũng hiểu lờ mờ rằng tôi có một người cha, và tôi cũng không nhớ thật rõ ràng ông ta có sống chung với chúng tôi một lúc nào không. Ông cũng là một nghệ sĩ, một người trầm lặng, buồn rầu, có một cặp mắt u tối. Mẹ tôi bảo rằng ông giống Nã Phá Luân. Thời ấy, ông đã lãnh lương khá cao, bốn mươi đồng “liu” (livre) mỗi tuần. Cái nguy là ông uống rượu quá mức, và theo mẹ tôi đó là nguyên nhân khiến bố mẹ xa nhau.

Thời ấy nghệ sĩ không sao tránh được say sưa, vì người ta bán đầy rượu trong các rạp hát, và khi nghệ sĩ diễn xong màn lớp của mình thì họ thường đến các “ba” ở rạp cụng ly với khán giả. Nhiều rạp thủ lợi nhờ vào bán rượu hơn là trình diễn và có một số tài tử lãnh được thù lao khá lớn không chỉ nhờ vào tài năng mà nhờ họ tiêu được khá nhiều tiền ở các “ba” đó. Do vậy, đã có rất nhiều nghệ sĩ khánh tận vì rượu, và cha của tôi là một trong số người đó. Vào năm ba mươi bảy tuổi, ông đã qua đời vì nhiễm độc rượu.

Về việc này, mẹ tôi đã kể khá nhiều câu chuyện vừa buồn lại vừa hóm hỉnh. Khi bố tôi uống, tính tình của ông trở nên hung hãn khác thường. Gặp một dạo nọ ông nổi cơn lên, mẹ tôi phải chạy đi trốn tại một nơi khác, và khi ông đánh điện hoảng hốt hỏi bà : “Em làm gì đó? Trả lời ngay đi”, bà đã điện lại như sau : “Nhảy nhót, ăn chơi, anh yêu dấu ạ”.

Mẹ tôi là người chị cả của hai chị em. Thân phụ của bà là một thợ giày quê quán ở Ái Nhĩ Lan. Ông có đôi gò má hồng như quả táo, một mái tóc bạc và một chòm râu giống như Cạc-Lin (Carlyle – Sử gia Tô Cách Lan, thế kỷ 19) trong một bức họa. Người ông gập lại làm đôi vì bệnh phong thấp và theo ông bảo là tại ông ngủ nhiều năm trong những cánh đồng ẩm ướt để trốn cảnh sát, vào dịp các cuộc khởi nghĩa của những thành phần yêu nước.

Bà ngoại của tôi cũng gần như thuộc vào hạng du mục lang thang. Đó là mối nhục ở trong gia đình. Bà vẫn thường khoe rằng gia đình bà luôn luôn trả tiền thuê đất mà các đoàn du mục đã cắm trại. Về bà, tôi chỉ còn ghi lại kỷ niệm của một cụ già nhỏ bé và đầy nhiệt tình, và cũng trò chuyện với tôi như với một đứa sơ sinh. Tôi chưa lên được sáu tuổi thì bà đã qua đời rồi. Bà đã sống xa ông tôi do những lẽ nào mà không ai chịu nói rõ. Nhưng theo dì Cát thuật lại thì chính vì ông tôi từng bắt gặp bà tôi ngoại tình.

Phán đoán giá trị đạo đức gia đình chúng tôi theo những tiêu chuẩn đạo lý thông thường là phạm vào một lầm lẫn quan trọng như đem một cái nhiệt kế nhúng vào nước sôi. Thừa hưởng truyền thống như thế, hai cô gái đẹp của ông thợ giày đã sớm rời bỏ gia đình ra đi, lôi cuốn bởi ánh đèn màu sân khấu.

Dì Cát (Kate), người em ruột của mẹ tôi, cũng là diễn viên sân khấu, nhưng chúng tôi không được biết khá nhiều về bà, vì bà xuất hiện rất ít ở trong đời sống chúng tôi. Xinh đẹp và nóng nảy, bà không hòa hợp được với mẹ tôi. Thỉnh thoảng các cuộc thăm viếng của bà thường được kết thúc một cách đột ngột, do một nhận xét khó chịu của bà về một đôi điều mẹ tôi đã nói hoặc là đã làm.

Vào năm mười tám, mẹ tôi đã qua Phi Châu với một người trai cũng độ tuổi ấy. Bà thường kể chuyện đời sống của bà ở đó, một đời nhung lụa giữa các đồn điền, giữa các kẻ hầu người hạ, giữa những ngựa xe. Vào năm mười tám bà sinh anh Sít-nê tôi. Người ta bảo rằng anh là con trai của một huân tước và khi nào anh hai mươi mốt tuổi anh sẽ hưởng một gia tài độ chừng hai ngàn đồng “liu”, điều này làm tôi thích thú nhưng cũng làm tôi khó chịu.

Mẹ tôi không nán lại Châu Phi mà quay trở về nước Anh và lấy cha tôi. Tôi không hiểu rõ vì sao cuộc đời của bà ở nơi miền đất xa lạ đã được chấm dứt, nhưng vì phải sống trong cảnh khốn cùng tôi thường phiền trách mẹ tôi sao lại từ bỏ cuộc đời xa hoa như thế. Nghe vậy, bà cười và bảo lúc ấy bà còn trẻ quá nên không có đủ khôn ngoan để biết lo xa.

Tôi cũng không rõ mối tình mẹ tôi đối với cha tôi ra sao, nhưng mỗi khi nói về ông, giọng bà vẫn giữ một vẻ thản nhiên, điều đó khiến tôi nghĩ rằng mẹ tôi không tha thiết lắm nên mới có một thái độ khách quan như thế. Đôi khi bà gợi lại kỷ niệm cũ với lòng xót thương, đôi khi bà nhắc lại sự say sưa và sự hung bạo của ông. Sau này, mỗi lần có điều gì phải giận tôi, bà nói một cách buồn rầu : “Mầy sẽ kết thúc đời mầy trong rượu như cha mầy thôi”.

Mẹ tôi đã biết cha tôi trước khi bà đi Phi Châu. Hai người yêu nhau và cùng đóng chung trong một gánh hát. Mới mười sáu tuổi, mẹ tôi đã thủ một vai đào nhất trong gánh hát mình. Nhưng trong một chuyến lưu diễn của đoàn, bà đã gặp được vị huân tước nọ và theo ông sang Phi Châu. Khi quay về Anh Cát Lợi, bà đã gặp lại cha tôi và cùng ông nối lại đường tơ đã đứt rồi họ cưới nhau. Ba năm sau đó, thì tôi ra đời.

Tôi không hiểu có yếu tố nào khác ngoài chuyện rượu chè đã can dự vào đời sống của cha mẹ tôi, nhưng một năm sau khi tôi ra đời thì họ xa nhau. Mẹ tôi không đòi phụ cấp gì cả, vốn là đào hát có hạng, mỗi tuần thù lao tới hai mươi lăm đồng “liu” bà có thể tự lo liệu mọi sự chu cấp cho mình và cho con cái. Chỉ đến khi gặp rủi ro bà mới tìm cách đòi hỏi cha tôi giúp đỡ, không thì chẳng bao giờ bà quyết định nhờ tới pháp luật can thiệp.

Bà phải khổ sở vì cái giọng nói của bà. Giọng nói không được lớn lắm và cứ mỗi lần cảm mạo thì lại bị sưng cuống họng kéo dài đến nhiều tuần lễ. Nhưng bà bị bắt buộc phải làm việc đến nỗi giọng nói lần lần hư cả. Giữa một bài hát, giọng bà bể đi, và bất thình lình giọng hát biến thành một tiếng thì thầm khiến cho khán giả cười rộ rồi cùng la ó phản đối. Mối lo buồn đó khiến cho sức khỏe của bà suy yếu và tinh thần bà tiều tụy thêm lên. Rồi những giao kèo với những đoàn hát càng ngày càng giảm sút dần cho đến một lúc bà phải hoàn toàn thất nghiệp. Chính vì lý do như thế mà lúc mới lên năm tuổi tôi phải xuất hiện lần đầu ở trên sân khấu. Mẹ tôi thường thích mỗi tối dẫn tôi đến rạp hơn là để tôi ở nhà một mình. Bà diễn xuất ở rạp Can-Ti-Ni (Cantini), thời đó là một rạp hát tồi tàn, bẩn thỉu, khán giả chỉ gồm phần lớn là các binh lính. Họ là một thứ công chúng ồn ào và dựa vào đủ cơ hội để mà diễu cợt diễn viên. Đối với nghệ sĩ, phải đóng một tuần ở đó là cả một sự thử thách khó khăn. Tôi còn nhớ lúc tôi đang ở trong hậu trường thì giọng hát của mẹ tôi bỗng dưng bị tắt, chỉ còn là một hơi thở. Công chúng cười rộ, hát nhại lời bà rồi huýt sáo. Sự ồn ào cứ gia tăng khiến mẹ tôi bị bắt buộc ra khỏi sân khấu. Khi bà bước vào hậu trường, bà rất bối rối, rồi bà nói chuyện với viên giám đốc vốn từng thấy tôi hát trước một số bạn hữu mẹ tôi nên ông bảo tôi đi ra thay thế cho bà. Giữa sự hỗn loạn như vậy, ông dắt tay tôi bước ra và sau vài lời giải thích với đám khán giả, bỏ tôi đứng lại một mình ở trên sân khấu. Rồi trước ánh sáng chói chang và những khuôn mặt mờ khuất trong khói, tôi bắt đầu hát.

Trong khi tôi hát, một cơn mưa tiền rơi xuống sân khấu. Tôi vội đứng lại, bảo rằng tôi cần phải lượm tiền trước mới tiếp tục được. Điều đó khiến người ta cười nhiều hơn. Người giám đốc đoàn bước ra với chiếc khăn tay để giúp đỡ tôi lượm tiền. Tôi tưởng rằng ông ta muốn giữ lấy số tiền đó. Khán giả hiểu sự lo lắng của tôi càng cười hơn nữa, nhất là khi ông biến mất sau màn với chiếc khăn tay và tôi ngơ ngác theo ông. Tôi chỉ tiếp tục hát lại sau khi ông đã giao trọn số tiền cho mẹ tôi. Tôi thật sung sướng. Tôi nói chuyện với khán giả, tôi nhảy nhót, tôi hát nhại đủ kiểu lối. Với sự ngây thơ của mình tôi nhại cả bài mà mẹ tôi hát, tôi lại bắt chước giọng bà bị tắt nửa chứng và tôi hết sức ngạc nhiên thấy điều đó tác động đến khán giả chừng nào. Có nhiều tiếng cười, những tiếng tán thưởng và một trận mưa tiền khác tuôn xuống. Đến khi mẹ tôi bước ra sân khấu để đưa tôi vào, bà đón được tràng vỗ tay như sấm. Đêm đó là đêm xuất hiện đầu tiên của tôi ở dưới ánh đèn sân khấu và cũng là đêm cuối cùng của mẹ tôi. Khi định mệnh đã bắt đầu chi phối số phận của người, định mệnh gần như không biết đến lòng thương xót, đến sự cảm thông. Mẹ tôi không còn bao giờ tìm được giọng nói của mình, rồi như mùa đông nối tiếp mùa thu, cảnh ngộ chúng tôi càng khốn đốn thêm. Dù rằng mẹ tôi sớm biết lo xa và có dành dụm được ít nhiều tiền để phòng thiếu thốn, món tiền ấy cũng được tiêu rất chóng. Rồi đến các món nữ trang của bà và bao nhiêu đồ vật dụng nhỏ nhặt khác nữa cũng được bà đem cầm đỡ để mượn món tiền nuôi sống qua ngày với niềm hy vọng ngày kia có thể tìm lại giọng nói của mình. Trong cảnh chờ đợi như vậy, chúng tôi không còn ở ba căn nhà như cũ mà thu gọn trong hai căn, rồi lại một căn, đồ đạc chúng tôi cũng thâu hẹp lại và gian phố chúng tôi ở càng ngày trông càng buồn thảm.

Mẹ tôi bèn quay lại với tín ngưỡng, hy vọng nhờ thế bà sẽ tìm lại giọng nói. Bà đi lễ rất đều đặn và chủ nhật nào tôi cũng phải ngồi ngoan ngoãn để nghe giọng hát sùng đạo vang dội trong ngôi giáo đường như tiếng động của bước chân kéo lết. Những bài hát ấy hình như là cảm động lắm vì tôi thỉnh thoảng bắt gặp mẹ tôi yên lặng ngồi lau nước mắt, điều đó khiến tôi bối rối phần nào.

Từ khi mẹ tôi lo chuyện tín ngưỡng, ít khi bà gặp lại bạn bè hát xướng ngày xưa. Tất cả thế giới ấy biến tan rồi, chỉ còn là một kỷ niệm. Và chúng tôi phải luôn luôn sống trong nghèo túng, thoi thóp sống trong hoàng hôn u ám lạ thường. Việc làm tìm rất khó khăn, mẹ tôi chỉ chuyên về nghề trình diễn, còn đau khổ thêm vì nhiều chuyện khác. Bà vốn bé nhỏ, tế nhị và đa cảm, phải chống đối lại một cách khó khăn với những điều kiện sinh hoạt khủng khiếp trong cái thời đại mà sự giàu sang cùng với nghèo nàn đạt tới biên giới tột cùng, ở cái thời đại mà phụ nữ nghèo không có sự lựa chọn nào khác là làm tôi tớ hoặc kéo lê lết như những nô lệ trong các xưởng thợ. Thỉnh thoảng bà cũng tìm được việc làm như phụ tá trong bệnh viện nhưng chuyện đó rất hiếm hoi và không được bền. Kể ra, bà cũng có nhiều khả năng : chính bà may lấy quần áo sân khấu của mình và bà có thể sử dụng đường kim mối chỉ để may mặc cho kẻ khác, nhưng việc làm ấy cũng không đủ bảo đảm được sự sống cho ba chúng tôi. Lại thêm cha tôi say sưa, các đoàn hát ít chịu ký giao kèo với ông nên các món tiền phụ cấp hàng tuần của ông cũng không đều đặn.

Mẹ tôi bây giờ đã bán hầu hết đồ đạc trong nhà, chỉ còn lại mỗi chiếc rương với những áo quần sân khấu mà thôi. Bà vẫn bám víu vào đó với niềm hy vọng tìm lại giọng nói của mình để quay về với sân khấu. Thỉnh thoảng bà lại sục sạo trong rương tìm vật gì đó, chúng tôi thấy một chiếc áo dài rực rỡ, một món tóc giả, và chúng tôi bảo mẹ tôi mang vào. Tôi còn nhớ lại hình ảnh của bà khoác các áo mão vào mình và hát một trong những bài hát cũ do bà đặt lời đã được trình diễn thành công.

Bà vừa nhảy vừa hát với sự thoải mái kỳ lạ, quên hết mọi việc vá may, và chúng tôi lại có dịp thưởng thức những bài hát khác của bà, vừa nhảy theo bà, cho đến khi bà hụt hơi và đuối sức hẳn.

Càng ngày chìm sâu hơn trong nghèo đói, tôi vẫn đem cái tấm lòng ngây thơ con trẻ phiền trách mẹ tôi sao không trở lại hí trường. Bà mỉm cười bảo đời sống sân khấu là một cuộc đời giả tạo, sai lạc, và trong cuộc đời như thế người ta dễ dàng quên mất tín ngưỡng của mình. Tuy vậy mỗi lần có dịp nói về sân khấu bà lại biểu lộ tấm lòng cuồng nhiệt khác thường. Nhiều ngày, gợi lại những kỷ niệm cũ, bà bỗng ngồi yên rất lâu vừa cúi xuống để vá may, và tôi cũng cảm thấy buồn vì chúng tôi không còn tham dự nữa vào cái cuộc đời xán lạn như thế. Và khi mẹ tôi nhìn lên, thấy tôi buồn bã, mẹ tôi lại tìm mọi cách để an ủi tôi.

Mùa đông vừa đến, anh Sít Nê không có đồ mặc ấm, mẹ tôi phải lấy chiếc áo nhung cũ của bà, chiếc áo có những cánh tay sọc đỏ, sọc đen với những nếp xếp ở vai mà mẹ tôi cố xóa bỏ nhưng không sao được như ý. Anh Sít Nê khóc khi bị bắt buộc phải đeo chiếc áo khoác ấy:

– Nghĩ xem, bạn bè sẽ nghĩ ra sao về chiếc áo này?

Mẹ tôi bèn đáp:

– Người ta nghĩ gì, kệ họ. Hơn nữa, chiếc áo này có vẻ sang.

Mẹ tôi cũng có khiếu năng thuyết phục đến nỗi tới ngày hôm nay anh Sít Nê vẫn không hiểu tại sao lại chấp nhận mặc món đồ như vậy. Nhưng anh vâng lời, và áo khoác ấy với một đôi giày đã được mẹ tôi xén gót khiến anh thành một đề tài sôi động ở trường.

Đó là thời kỳ mẹ tôi bắt đầu than phiền về chứng đau đầu và không thể nào tiếp tục may vá được nữa.

Trải nhiều ngày liền bà phải nằm dài trong phòng u tối với đôi mắt băng bó đầy xác trà. Họa sĩ Pi Cát Xô (Picasso) đã có một thời kỳ xanh, chúng tôi đã biết một thời kỳ xám, trong thời kỳ này chúng tôi đã sống qua ngày nhờ lòng thương hại của chốn giáo đường, những phiếu kiếm cháo và những món hàng gởi đến do những cơ sở từ thiện. Giữa các giờ học, anh Sít Nê đi bán báo, và dù sự đóng góp ấy chỉ như giọt nước trong biển cả cũng đem lại được an ủi phần nào.

Một hôm, mẹ tôi đang nằm với một cuộn băng trên mắt thì anh Sít Nê nhảy bổ vào phòng, vất báo trên giường và kêu to lên: “Con đã lượm được túi tiền!” Anh đưa túi tiền cho mẹ mở ra, bà thấy có một chồng bạc. Bà vội khép lại, và đuối sức vì xúc động bà ngã xuống giường.

Anh Sít Nê bán báo trong các xe buýt. Trên ghế của một chiếc xe, anh bắt gặp được túi tiền ở một chỗ ngồi để trống. Anh vội thả một tờ báo lên trên, làm như vô ý, rồi cúi xuống lượm cùng với túi tiền và bước xuống xe vội vàng. Đến một vườn rào, nơi một khu đất bỏ hoang anh mở ra xem và thấy đầy bạc. Anh kể cho chúng tôi nghe tim anh đã đập ra sao, và không kịp đếm số bạc anh đã chạy thẳng về nhà.

Khi mẹ tôi bình tĩnh lại, bà rốc túi tiền lên giường. Bên trong còn một túi khác bọc kín và bà mở ra, đếm được bảy đồng tiền vàng. May thay không tìm thấy địa chỉ nào, nếu không mẹ tôi sẽ chẳng yên lòng sử dụng tiền ấy.

Tôi cũng không hiểu căn bệnh mẹ tôi thuộc về thể xác hay là tinh thần nhưng sau đó độ một tuần thì bà khỏi hẳn. Món tiền sớm hết, mẹ con tôi lại đối diện với những thời buổi khó khăn. Mẹ tôi tìm việc nhưng kiếm không ra. Tiền nợ chậm trễ, người ta lấy lại máy may. Và cả món tiền mười đồng mỗi tuần cha tôi chu cấp, ông cũng thôi luôn.

Quá đỗi tuyệt vọng, mẹ tôi nhờ đến một luật sư khác nhưng vì thấy không hưởng được gì nhiều trong vụ, ông khuyên mẹ tôi giao con cho nhà chức trách ở khu Lâm Bết để buộc cha tôi thanh toán tiền thiếu.

Không còn phương cách nào khác: Mẹ tôi có hai đứa con mà bà lại đau yếu mãi, bà quyết định ba mẹ con vào hết trong Viện Tế Bần Lam Bết để sống qua ngày.

Share this post