Dạ Tiệc Quỷ – Võ Thị Hảo

1. Chương 1: Lời nguyền

… Vô phúc…Vô… ph… ú… c…

Tiếng rú xé gió xuyên thấu dãy nhà ngang dài hun hút đang ngủ lịm trong sương mù. Tiếng rú làm bở bục những bức tường gạch nung quá lửa bị nứt vỡ cong vều lên dưới lớp vữa nhào bằng vôi trộn mật mía, cáu xỉn lại vì thời gian và những vết chân ruồi.

Tiếng rú là một cơn gió độc lao đến căn buồng thứ bảy, nơi ông Dậm nằm ngủ, mình trần, quần lá toạ bằng lụa đã rung rúc, ống co ống duỗi, râu vểnh lên trời như một bắp ngô rậm rạp.

Tiếng ngáy hắt ngược trần nhà, đập trở xuống sập gụ chân quỳ cẩn bạc khảm trai. Lũ muỗi đang đậu trên mũi ông rung bần bật lên từng đợt như sốt rét.

Tiếng rú sỗ sàng tóm râu ông Dậm, dựng ngược dậy.

– Đứa nào sáng chưa nứt mắt mà đã làm loạn? Nhông quá hoá rồ. Mau gô lại, đánh ba hèo, nhốt chuồng lợn. Thằng Lình đâu?

Ông gọi ba tiếng.

Chẳng ai thưa.

Ông càng tức giận, giọng lạc đi. Ông gọi tiếp. Tiếng uễnh oãng vỡ ra như tiếng sói tru trong đêm lạc rừng.

Chỉ nghe tiếng huyên náo cứ dội thốc tới từ phía đã phát ra tiếng rú.

Ông Dậm vểnh tai nghe. Càng tức tối.

Ông đứng vụt dậy trên sập. Oai như dũng tướng sắp đại phá.

Chợt đầu ông đập đánh cốp vào bàn thờ. Đau điếng.

Ông Dậm nghiến răng chửi thề, co chân đạp vào bàn thờ.

– Khốn nạn! Lũ mê tín dị đoan chết rồi còn phá hoại thành phần cốt cán.

Chưa dứt lời, cạp quần lụa tía ông đang mặc bỗng rời lưng ông mà tụt xuống, phơi tô hô cặp mông lở lói chằng chịt sẹo và những vết ghẻ lở.
Chiếc quần lụa nằm thành một đống mềm nhũn dưới chân.

Ông Dậm day ngón tay lên chỗ đau trên trán, nhìn xóc lên bàn thờ. Lại nhìn xuống chiếc quần.

Màu lụa tía đã rung rúc lại khiến ông nhớ đến chủ cũ của ngôi nhà và chiếc quần này.

Chiếc quần này ông chiếm được của ông Cử, quá rộng, quá dài so với thân hình vặn vẹo của ông Dậm.

Nhưng ông Cử thì không cần mặc quần nữa. Đã khá lâu rồi ông Cử không cần mặc quần. Vì là đã là linh hồn thì đâu cần quần áo. Linh hồn chỉ trần truồng mà bay.

Ông Cử đã sang thế giới bên kia.

Tiễn đưa ông, là một chiếc cọc. Ba sợi thừng chuyên trói chó để cắt tiết và buộc lợn vào thang mà thiến của nhà ông Dậm. Một loạt đạn trong nòng súng kíp tự chế.

Rộn ràng hơn, thêm ba nhát cuốc mẻ và mười bảy nhát vồ đập đất.

Để cho vỡ nát đôi mắt thảng thốt.

Cho vỡ nát cả cái uất hận đang đọng lại dưới tròng mắt mở chong chong.

Bộ óc mẫn tiệp từng dạy học, từng làm thơ, từng cho thuốc cải tử hoàn sinh cả ngàn mạng người trong xứ, đã bị loạt đạn tự chế của con ông cu Cáy nhồi vào nòng súng làm nổ tung.

Ông cu Cáy trước đây đã được ông Cử cứu mạng trận đau bụng bão. Đau đến mức cắn đất cắn sỏi, bò lê bò càng trên mặt đất, sắp chết. Nay thì viên đạn của con ông cu Cáy đã làm tinh óc ông Cử trắng hồng phọt ra ruộng mạ. Óc ông Cử làm bữa tiệc cho lũ giun đất và sâu bọ.

Linh hồn ông Cử lên trời.

Để lại bàn thờ tổ tông chói loà bảy đời cụ kỵ khoa bảng.

Để lại thê tử, chiếc cọc và dây trói, chiếc cuốc mẻ lưỡi và những chiếc vồ đập đất bết máu.

Để lại những vỏ đạn, ngôi nhà, đồ đạc của cải và những bộ quần áo bằng lụa nõn, lụa tía quý phái.

Những thứ ông Cử để lại thì không ế.

Bài vị và tranh chân dung tổ tông thì đã có nhà hàng xóm nhanh tay tra vào bếp lửa để nấu bánh đúc ngô trộn cám.

Chỉ còn đôi lư hương mạ vàng may mà ông Dậm nhanh tay, đánh chết giấc gã hàng xóm bặm trợn mà giữ lại được, vẫn ngự trên bàn thờ.

Bản thảo của những bài thơ và sách vở thì đã bị cán bộ ở trên về và cả làng đem ra xỉ vả suốt mấy tháng.

Đọc diễn văn tố tội, tố khổ. Những lời đanh thép ngùn ngụt căm thù làm rung cả những chiếc cọc hoen máu.

Những chiếc cọc cũng không ế.

Sau bài diễn văn, chúng lại cần mẫn đứng làm cọc trói những kẻ bị xử tử mới.

Khi nạn nhân bị lôi xềnh xệch đến trước cọc, chiếc cọc khiến người xấu số rụng rời vì mùi tử khí toả ra nồng nặc.

Khi nạn nhân bị trói vào cọc, mùi máu cũ quện lớp lớp trên cọc khiến nạn nhân mê mụ.

Và khi những viên đạn, những lưỡi cuốc bổ xuống, chiếc cọc là chỗ dựa duy nhất cho những cái đầu tội nghiệp bị đập nát, đổ gục.

Chiếc cọc và dây trói cùng cuốc, vồ đập đất trở thành của thiêng.

Những lớp máu và óc hết lớp nọ đến lớp kia phủ lên nhau, ôm ấp lấy nhau, trơ gan mưa nắng và làm câm miệng những kẻ bướng bỉnh.

Những bộ quần áo bằng lụa nõn lụa tía thì ở cùng nhà ông Dậm. Kèm thêm ngôi nhà và hầu hết tài sản. Nhìn từ bên ngoài, nhà trống trơn. Từ chum vại, khung cửi, cho đến cả chiếc thuyền tán và tràng kỷ, tủ thuốc, sọt hái dâu cho tới cả cào cuốc, đều bị đám bần cố nông được chia quả thực đến vơ vét hết.

Nhưng tất cả của chìm gồm vàng bạc châu báu của nhà ông Cử chôn giấu dưới gầm bàn thờ, đều đã được ông Dậm khôn ngoan khảo đả, vừa đánh vừa dọa vừa hứa hẹn cứu giúp ông Cử khai ra trước khi bị bắn chết.

Ông Dậm lẳng lặng đợi lúc đêm khuya hì hục đào, lấy ra rồi đem giấu dưới nền chuồng lợn – không ai biết.

Những thứ ông Dậm không giấu được, chỉ là Phượng và con Tép.

Phượng là con gái thứ hai của ông bà Cử. Đẹp nổi tiếng trong vùng. Mỗi lần cô cùng bà Cử đi ra đình phát chẩn, cô hay mặc váy áo lụa thêu hoa ngâu, nước da nõn nà, mắt Phượng mày ngài lóng lánh, mở lơ mơ như ngái ngủ trông càng thêm quyến rũ.

Từ tà áo lụa thêu của cô và bà Cử toả một làn hương ngọt như mùi mật hoa đỗ trun, khiến cho những kẻ đang chìa bàn tay trước cô để nhận phát chẩn, trong đó có ông Dậm, phát cuồng vì thèm muốn và ghen tị.

Ông Dậm không nhớ nổi đã bao nhiêu lần ông vừa nuốt nước bọt vừa thề rằng phải chiếm bằng được cô Phượng.

Vậy mà ai ngờ, ông Dậm đã mang được Phượng – tiểu thư ngàn vàng của ông bà Cử, về làm vợ hai. Phượng làm vợ hai ông Dậm ngay sau khi ông Cử bị xử tử, để cứu Long – người anh cả con trai duy nhất của ông bà Cử. Nhờ có cô em gái chịu lấy ông Dậm, Long không bị bêu đầu trên cọc bắn, chỉ bị cùm chân trong gian nhà kho, rồi trốn biệt tích ngay đêm đó. Phượng cũng đang đu mình trên dây, đang trèo tường định trốn đi, thì bị ông Dậm bắt trói lại. Chín tháng sau đã sinh cho ông Dậm một bé gái. Phượng đặt tên là Miên, còn ông Dậm đặt tên là Tép.

Cái tiếng rú vừa rồi, ông Dậm nghe như tiếng Phượng.

“Con này vẫn lầm lì, ngang ngạnh như cái giống nhà nó. Tiên sư cái giống bóc lột, cái giống phản động nhà nó!” – ông Dậm lầu bầu.

Ông ngó quanh, tìm một cái gì đó để trả thù.

Ông nhìn lên bàn thờ.

Bàn thờ trống trơn. Lăn lóc vài bắp ngô khô để giống, ông mới chất lên từ mấy hôm trước. Chỉ còn đôi lư hương mạ vàng sáng chói, chạm trổ kỳ lân, đứng đó, thách thức.

Phải rồi!

Ông Dậm kiễng chân, tay quắp lấy một chiếc lư hương. Ông đặt nó xuống đất.

Đang sẵn thân mình tô hô không quần, ông ghé cái vật nhọ nhem nhọ thủi của ông vào miệng lư hương.

Một dòng nước khai nồng từ giữa hai đùi ông tồng tộc chảy xuống.

Ông Dậm cúi người ngắm kỹ cái vật dùng để đi tiểu của ông.

Và ông sực nghĩ: Chính nó, nó đấy, đã cho ông có bảy mặt con với bà Cả.

Cũng chính nó, ngoan lắm, đã làm ông nhiều lần có cảm giác như cưỡi mây bay lên tiên với mẹ trẻ Phượng và làm cho ông có đứa con thứ tám vừa đầy tháng. Đó là con Tép.

Ông Dậm rên hự lên trong một khoái cảm rợn người.

Bỗng cửa bật tung.

Một kẻ chít khăn đầu rìu nhô cái mặt lem luốc vào.

Tóc gã ta rối tung, rơi xoã ra ngoài vành khăn. Gã gọi thất thanh:

– Bố ! Bố gọi con…

Ông Dậm đang cơn, giật bắn mình, vội vồ lấy chiếc quần che thân thể trần truồng, thét lên, phun nước bọt vào mặt kẻ vừa xô cửa xông vào:

– Thằng chó Lình! Mày rúc mặt vào bãi cứt nào, để mặc lũ chúng làm loạn thế hử?

Lình tóc dựng ngược, mồ hôi thoát như tắm, nói không ra hơi, mắt tròn xoe nhìn bố đang ở truồng:

– Bố… không phải ai làm loạn…

Ông Dậm trợn mắt càng thét lớn, một chân tròng vào quần:

– À, thằng này giỏi bao che! Mày lạ lắm khi thấy con c… của bố mày à? Làm sao mà mắt mày cứ nhìn tao như mắt ốc nhồi thế hử? Mày chưa thấy con c… của bố mày bao giờ hẳn? Cái này nó đẻ ra mày đấy con ạ.

Lình ấp úng:

– Lạ gì. Trước, bố suốt ngày đóng khố. Bố tắm truồng. Đóng khố thì có khác cởi truồng là mấy.

– Thằng này láo. Thời bố mày đóng khố cởi trần đã qua rồi nhé. Đây là thời bố mày làm chủ nhân ông. Bố mày bây giờ mặc quần lụa, vai đeo xà cột. Bố mày muốn cho ai sống thì người đó được sống, bắt ai chết thì người đó phải chết. Nghe chưa?

– Dạ, con thấy.

Ông Dậm đã mặc xong quần, thoả mãn thở ra:

– Thế là mày cũng đã bớt ngu được vài phân.

Ông vớ lấy chiếc điếu bát cẩn vàng, vê vê một mồi thuốc nhét vào nõ điếu.

Chiếc điếu bát cũng toả sáng, phô bày vẻ quý phái rồng chầu nguyệt chạm cảnh vẻ. Cần điếu đã hơi mòn, óng chuốt vì bàn tay người khác.

Ông Dậm thì không quên được cái vết tay. Vết bàn tay ông Cử.

Cái bàn tay thanh nhã cầm bút lông với những móng tay dài cỡ một tấc được chăm sóc kỹ lưỡng.

Cái bàn tay ấy là chủ trước của ngôi nhà chật ních những nghiên bút và sách vở cùng những đồ đạc quý giá này.

Bỗng tiếng huyên náo, ngày càng ồn ã hơn, như một con trăn gió phóng vút tới. Ông Dậm lại thét:

– Thằng Lình, toi cơm! Sao mày để chúng nó làm loạn thế hử? Con mẹ trẻ Phượng?

Lình mặt tái tử, khổ sở lắp bắp:

– Dạ, mẹ trẻ…

– À! Mày chúa giỏi bao che. Mày đồng loã với con mẹ trẻ mày. Tao phải đập cho chết cái thói bao che của mày!

Ông Dậm hùng dũng vồ lấy chiếc điếu bát, vung mạnh.

Vừa tầm đập xuống thì ông khựng lại.

Cái ánh vàng lấp lánh khảm quanh nõ điếu xói vào mắt ông, khiến ngực ông nhói một nhát. Ông hạ điếu xuống, ngắm chiếc điếu quý, nhẩm tính xem chiếc điếu này giá bằng bao nhiêu con lợn nái.

Ông tiếc.

Ông đưa mắt nhìn quanh.

Phải kiếm một viên gạch vỡ để đập thế mạng chiếc điếu cẩn vàng.

Xét cho cùng, đập gạch vỡ thì vẫn oai phong, tiếng kêu to hơn mà không tốn kém.

Ông hạ giọng:

– Mày còn già hàm à? Không loạn, đứa nào làm gì mà rú lên như lợn bị chọc tiết thế hử? Thằng Ba, thằng Tư, con Năm, con Sáu, con Bảy đâu? Đứa nào làm loạn?

– Dạ, không phải thằng.

– Thế thì con nào? Cái thằng ngậm cứt kia!

– Dạ, không phải con, mà là… mẹ trẻ ạ..

– À, tao bảo có sai bao giờ. Con mẹ trẻ giỏi nhỉ! Đã bảo đàn bà nằm ổ, chỉ việc kiêng khem, cho con bú, còn máu non đã gào thét loạn xạ. Nó muốn xoã tóc ra đường ăn cứt chắc?

– Dạ, mẹ trẻ đã xoã tóc rồi ạ…

– Hở? Nó điên rồi hẳn? Mà con mẹ ấy cũng có máu điên điên.

Ông Dậm hạ thấp giọng, gằn gằn nhìn Lình:

– Nó điên đấy. Tao biết. Khi tao nằm trên bụng nó, nó nhìn tao trừng trừng, mắt lạc đi như một con điên…

Rồi ông cười như ngậm sỏi, mắt ánh lên dâm dục:

– Ấy thế nhưng tao càng sướng mới chết!

Lình không giấu được cái nhìn ghê tởm. Một tia căm ghét loé lên:

– Đừng nói những điều ấy với con…

Ông Dậm nghiến răng. Hàm răng ám khói nhe tận mặt Lình:

– Mày… mày ghen? Nói! Thằng chó dái kia! Nói! Mày có xí xớn gì con mẹ trẻ mày không? Nó ngon như cái bánh nếp thế mà… Thằng chó nào trông thấy nó mà chẳng dựng đứng lên! Hả?

Lình đau đớn:

– Thôi nào, bố im đi!

Ông Dậm càng quát lớn, rên lên như bị ai bóp cổ:

– Hẳn rồi! Mắt chúng mày lấc láo như quạ vào chuồng lợn. Giời cao đất dày ơi! Cả thằng Hai, thằng Ba. Con cái gì chúng mày! Thấy con mẹ trẻ là suốt ngày lượn quanh như lũ dê đực sổng chuồng! Tao không dữ đòn, thì thằng Hai, thằng Ba đã nuốt chửng con mẹ trẻ mày từ lâu rồi!

Lình khinh miệt:

– Đừng nghĩ ai cũng như bố!

Ông Dậm sấn tới, giáng cho Lình một cái tát:

– Láo! Mày nói gì? Tao là thành phần cơ bản nhất, trong sạch nhất! Thành phần cốt cán nhất. Đứa nào dám đụng đến thành phần bần cố nông, tao ghè răng nung vôi. Kể cả mày, con ạ. Sao mày không chết đường chết chợ cho khuất mắt tao?

Một tia căm hận lại xẹt ngang, làm xanh lẹt đôi tròng mắt đang cố nhìn tránh ra xa trên đầu ông Dậm:

– Bố rủa con chết đường chết chợ bao nhiêu lần rồi! Thế bố đẻ ra tôi làm gì? Thà bố bóp chết tôi từ lúc mới đẻ.

Lình càng nói càng uất, dợm chân quay ngược trở ra:

– Tôi ghét cái nhà này! Tôi đã nài bố cho tôi ở lại lều cũ của cả nhà ngoài bờ sông! Bố lấy mẹ trẻ, sao cứ bắt dọn về đây.

Ông Dậm lại giáng cho Lình một bạt tai nữa, sải một bước đã chắn ngang lối đi của Lình. Ông hằm hè ghè cái điếu bát trên đầu Lình:

– Mày còn già hàm à? Bụng trâu như dạ bò. Mày tưởng bố mày mắt ngưỡng thiên chắc! Còn xơi! Bố mày biết tuốt tuồn tuột. Nhưng phải bắt chúng mày về. Chúng mày không về, lấy chó nó chăn lợn và cày ruộng à? Mày mà còn già hàm, coi chừng tao triệu tập đội đấu tố mày về tội a dua bọn địa chủ bóc lột róc xương hút tuỷ nhân dân…

Lình nhủn cả người, vai xệ xuống:

– Nhà này đầy người chết mắt cứ mở trừng trừng, ghê cả người…

– Ghê cái con tườu. Tuyên truyền mãi, học tập mãi mà sao cái đầu óc ngu si của mày không thủng hả? Lão Cử thuộc diện thành phần bóc lột, phong kiến tư sản hủ bại. Lão đáng bị khoét mắt đem cho chó ăn chứ không phải là chết còn mắt thế đâu nhé.

– Ông Cử là ông ngoại của con Tép, con bố đấy chứ ai!

– Ông ngoại cái con khỉ. Đã là thành phần bóc lột hủ bại thì bắn chết, đập chết tuốt tuồn tuột. Tao vẫn nhớ lúc óc lão phọt ra ruộng mạ, anh em bần cố nông trong làng đứng dưới quyền tao chỉ huy, đồng loạt reo ầm lên. Chiến thắng! Mày biết thế nào là chiến thắng không hả con?

– Tôi chưa biết!

– Bác Thắng bảo tao: Chú Dậm phải biết rằng, trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ. Khi óc lũ bóc lột phọt ra, đó là lúc chúng ta sướng, như khi đang đ… đàn bà. Đó là sướng chiến thắng. Tao biết cái sướng ấy đấy, con ạ.

– Nhưng ông Cử đã cứu cả nhà ta khỏi chết đói hồi Ất Dậu mà, ông ấy chỉ dạy học và bốc thuốc…

Ông Dậm vẫn say sưa trong khoái cảm:

– Thế rồi, mụ Cử thắt cổ chết theo chồng. Thằng con trai khôn hồn biến tăm tích. Đã trói gô lại, nhốt trong nhà kho, mà làm thế nào nó lại như độn thổ. Lạ. Chắc chắn phải có đứa phản động nào giúp nó. Có thể là tay chân của bọn địch từ bên Xiêm la cử về. Tao đang dò. Biết đứa nào, tao băm nát.

Lình lầu bầu:

– Chỉ nhớ bố và ông Chắt còn đánh nhau loã cả máu đầu để tranh vào ở nhà ông Cử.

– Ấy thế thằng Chắt mới ngu! Đứa nào không theo thì chết là phải. Thế mới gọi là tự do dân chủ công bằng. Tao là người có công vạch mặt lũ bóc lột, đưa lão Cử ra dựa cọc, thì mới có cái nhà này. Tao không ở thì còn ai đáng ở? Thằng nào dám bước chân đến đây đòi lại, chia cho đứa khác, tao băm mất xác. May tao dữ đòn chứ không thì chúng nó đã chia cái nhà này cho ít nhất ba bần cố nông cùng chui rúc rồi. Tao có công. Chẳng dọn về đây thì làm đứa ngu chui rúc lều lá cả đời á?

– Bố không biết là láng giềng qua lại lườm nguýt tôi, bảo “ác giả ác báo”. Đêm đêm, tôi cứ thấy ông Cử bị trói vào cọc, bị đập đầu bằng dùi vồ, óc phọt cả ra ruộng mạ, mẹ trẻ lăn ra chết giấc ngay bên chân ông Cử.

– Đấy! Chính thế. Cái con mẹ trẻ mày là cái đồ vô ơn. May có tao cứu, được về lại cái nhà này, chỉ việc chăn lợn, đẻ con. Thế là để lợn chết cả lũ. Rặt một lũ vô tích sự. Con nhà giàu thưa xương, dài lưng tốn vải.

– Nhưng mẹ trẻ chỉ một mực đòi chết …

– Chính thế! Tao giao cho mày canh con mẹ trẻ mọi nơi mọi lúc, đừng để nó thắt cổ chết. Nó đẹp quá, lại đang mang đứa con tao trong bụng, để nó chết thì phí của trời.

– Vâng, con đã canh, bố ạ. Đêm con không dám chợp mắt sợ mẹ trẻ nhảy xuống giếng như mấy lần trước.

– Chính thế. Về việc này thì mày giỏi, con ạ. Nếu không nó chết nhe răng từ lâu. Đấy! Tao không dưng cứ mang tiếng ác. Tao đã không để nó đập đầu chết theo cha, lại cho làm vợ. Đàn lợn cũ nhà nó ba mươi hai con nái, nay chết gần ráo. Tao đã giao hẹn: Cứ một con lợn chết là một trận đòn. Con sau chết là cứ hai trận mà tính lên. Bị đòn, sao dám trách là tao không bảo trước.

Tiếng huyên náo ồn ã dội vào. Ông Dậm lại vểnh tai nghe.

Lình như sực tỉnh, ứa nước mắt:

– Thôi đi, bố ác vừa thôi! Bây giờ thì dù cả đàn lợn nái chết, bố cũng không thể đánh chửi mẹ trẻ được nữa.

Ông Dậm lại gầm lên:

– Thằng phản phúc. Tao bóp chết! Mau lôi cổ con mẹ trẻ mày đến đây, xem còn giỏi gào rú nữa không!

Mắt Lình toé ra một tia lửa dữ dội, giọng vẫn cố lễ độ:

– Tôi không đưa mẹ trẻ đến được. Mẹ trẻ đang ở trong chuồng lợn.

– Đến ngay! Đã bảo điệu cổ đến. Đêm qua nó là cái con ngựa điên, không ngủ với tao. Tao mới dần cho một trận đã đời. Ai khiến nó cho lợn ăn sớm thế.

– Mẹ trẻ không cho lợn ăn.

– Thế thì làm gì? Cái thằng ngẫn ngờ này, bẩm báo mãi không xong một việc. Lưỡi mày rụt xuống háng rồi hả?

– Thưa bố, mẹ trẻ không cho lợn ăn, không đến nữa. Dù bố gọi thế nào cũng không đến đâu…

Mắt Lình ánh lên một tia ngạo nghễ đắc thắng:

– Mẹ thoát khỏi tay bố rồi!

Ông Dậm giẫm chân bành bạch, vồ lấy viên gạch vỡ, vung lên, thét:

– Nó trốn hả? Mau bắt lấy nó! Đem về lột truồng ra trói vào gốc cau.

– Ông đi mà bắt. Ba đời bố ông cũng không thể bắt và lột truồng mẹ trẻ Phượng…

Ông Dậm quật Lình ngã trên sàn nhà, dận một chân lên bụng, một chân lên ngực:

– Lần này thì tao giết mày! Tao chà chết cái giống phản phúc ăn phải bả của bọn bóc lột…

Lình nói trong tiếng nghẹt thở, nức nở:

– Ông giết tôi đi! Mẹ trẻ Phượng thắt cổ chết trong chuồng lợn rồi!

Ông Dậm thõng tay. Viên gạch vỡ thoát nạn, nằm ngỗ ngược trên bàn.

Lúc đó trời mới hừng đông. Những tia nắng hồng nhạt thếch đã xỏ vào giường ông Dậm.

Nắng hồng như máu loãng.

Tiếng la lối càng rộ lên dưới dãy nhà lúp túp phía đông.

Nơi ấy, dãy chuồng lợn ám khói ba mươi ba gian.

Nơi ấy, có một người.

Cái thây người treo lủng lẳng bằng sợi thừng bện lông lợn đen xỉn thõng thượt lệt quệt sát đất.

Phía trên, nút thòng lọng thít chặt lấy chiếc đòn tay gỗ xoan. Mặt người xấu số bị mớ tóc xổ tung che phủ.

Mớ tóc dài chấm đất, óng mượt, phản chiếu những tia mặt trời đầu tiên phun xói qua những kẽ lá của rặng cây.

Phun qua những song gỗ cáu bẩn của chuồng lợn và hắt bóng ở lại trên mặt bà Cả đang đứng gần đó. Mặt bà tím bầm, mắt đỏ như vừa bị phun nọc.

Bà Cả đang trân trân nhìn cái gót chân trắng nhợt của người chết lộ ra dưới suối tóc dài chấm đất.

Thân hình người chết đong đưa như đang cử động.

Cả đám đứng xem rùng mình ớn lạnh.

Dáng người mẹ trẻ đong đưa, đong đưa, trong xiêm áo yêu kiều thời con gái, như đang dợm chân bước đi.

Như sắp vươn người ra khỏi chuồng lợn rác rưởi hôi thối, qua những chiếc đòn tay rui mè mọt ruỗng quện phân lợn và bồ hóng, qua đám người thảm hại nhớn nhác chưa kịp hiểu ra điều gì.

Đôi chân xinh xắn cứng đờ vút thẳng hai mũi bàn chân ra phía trước, như sắp bước đi trên không khí, trên đám cây đậu cằn cỗi không ra nổi hoa trái, như sắp sải bước qua đám hoa dâm bụt không hiểu vì cớ gì nở vô duyên, qua những rặng cây viền ngoài ngôi nhà cổ rộng thênh và buồn thảm, qua dàn hoa đỗ trun hồng thắm thơm ngọt ngào đang nở rộ ngoài kia.

Đôi chân dợm bước theo những tia nắng ra ngoài cánh đồng bỏ hoang lúp xúp cỏ và rạ ngoài kia do trong làng ngoài xóm mải đấu tố bỏ cấy cày.
Đôi chân như sải bước lên trời.

Gió đưa đẩy làm gấu váy và những dải thắt lưng rực rỡ phơ phất bay trên nền váy lĩnh đen, khiến cái thây của mẹ trẻ Phượng càng sống động và ma mị.

Lình đưa ông Dậm đến bên người thắt cổ, quỳ xụp xuống, nấc lên:

– Lạy mẹ trẻ!

Chương 2: Trăng lạnh

Dậy nào, ngẩng
Ra kia đòi lại xương thịt
Khóc hờ rã rượi linh hồn
Thành cổ.
Ánh xanh buốt lạnh hờ hững phun từng tia.
Xuyên qua lớp sương mờ, ánh trăng xanh chuyển thành màu vàng úa, ngập ngừng chập chờn trên những bóng đen la liệt dưới mặt đất.
Ngổn ngang những bóng bất động không rõ hình thù.
Là là sát đất, dường như các bóng đen đã chờ chực sẵn, khô khát nuốt chửng, hút lấy ánh trăng chưa kịp chạm đất, làm tiêu tan cả những luồng sáng mong manh.
Thi thoảng, lại có một đám mây lầm lũi che ngang vầng trăng. Mặt trăng tối lại như rụng xuống. Thê thảm tiếng gào của mèo hoang.
Màn đêm tối như một chiếc mùng tái nhợt được giăng mắc trong đêm che ngang một chiếc giường tang tóc khổng lồ chợt nhăn nhúm, co rúm lại mỗi lần có một cơn gió lạnh thổi qua. Làn gió lạnh thất thường từ phía mặt sông Hãn không hẹn giờ bỗng đâu cứ thổi tới như lên đồng, cứ vuốt hờ trên mặt những thây người.
Miên man những thây người.
Cuộc chiến đã tàn.
Súng ống đã câm họng.
Những tiếng hô xung phong đã tắc nghẹn trong cổ. Những chiếc cổ có thể còn nguyên lành, cũng có thể đã bị phạt ngang bởi mảnh đạn bom. Khi chiếc cổ bị phạt ngang, những tiếng hô xung phong cũng nằm lại trong phần cổ họng bị đứt.
Những tiếng van vỉ, rên xiết, tiếng gọi mẹ, tiếng chửi rủa, tiếng kêu cứu cũng đã chững lại, tuột hẫng ra khỏi những cổ họng đã hết thở.
Hơn bẩy ngàn chín mươi ba xác người nằm lại trên mặt đất. Hai phía vào trận chỉ còn là những cái xác bất động. Lặng câm nghĩa địa.
Chỉ còn những lời kêu gọi và báo tin chiến thắng, tin thương vong ở cả hai phía cùng những bài hát đang ra rả phát đi từ những chiếc radio vẳng tới từ các nhà dân và đập vào mặt nước sông Hãn.
Những bộ máy cổ vũ chiến tranh đã không còn phải làm gì với những thây người trên thành cổ này.
Chỉ còn việc phải làm là tính trăm phương ngàn kế để che giấu con số thương vong. Lại khởi động hết cỡ những băng từ, những bài rao giảng và lên dây cót cho những người lính.
Hy sinh cùng căm thù. Căm thù và hy sinh. Giữ được độ say máu. Trông chừng và kiểm soát tất cả những phần tử có dấu hiệu uể oải của cuộc chiến. Dựng lên những hình tượng anh hùng và dũng cảm, đại loại như mẹ bóp mũi cho con thơ chết trong vòng tay để cứu lấy một người lính, hoặc một người lính hầu cùng chủ mình bị vây hãm trong rừng và đã cắt thịt đùi mình dâng cho chủ ăn để làm chủ no lòng.
Bộ máy khởi động chiến tranh còn quá nhiều việc để làm vào ngày mai và ngày hôm sau. Cần nhẩm tính số lượng trai tráng phơi thây trong cuộc đọ sức ngày mai và chuẩn bị cho đợt kế tiếp để kịp thời điều quân.
Cần lùa ra trận một loạt những người lính mà mười phần chắc chín sẽ gục ngã trước họng súng, trước lưỡi lê, chết mở trừng mắt.
Cũng cần phải tính toán thời điểm đắt giá nhất để rỏ vài giọt thương khóc những mạng lính trước công chúng. Những giọt nước mắt khóc vào thời điểm đẹp, rỏ xuống nơi đắc địa không làm ai tiếc thương người chết mà chỉ càng khiến bao kẻ sục sôi mong ước ra trận để làm một người hùng.
Chết nhanh và thắng nhanh. Khi có kẻ nhận ra sự phi lý thì đã muộn. Ý nghĩ đúng đắn duy nhất đã xám ngoét cùng da thịt đang bị huỷ hoại.
Chết mà chưa nhận ra gương mặt thật của những kẻ lái súng, những kẻ đứng đằng sau, ẩn mình sau những hầm ngầm chống pháo chống bom tấn bom nguyên tử để khởi động bộ máy chiến tranh nhân danh những lý tưởng cứu vớt cùng những điều tốt đẹp.
Để khi chiến tranh kết thúc, trên những chiến địa đầy xác chết, trên những xương thịt tim óc thường dân bị vương vãi giăng mắc trên những xương cây, máu còn đặc sệt tanh nồng trong sông suối, những kẻ khởi động bộ máy chiến tranh sẽ xúm xít lại bên những mâm cỗ và chia chiến lợi phẩm, chia nhau giang sơn.
Và chia quả thực, đương nhiên sẽ là những cuộc kể công và tự ngợi ca, trước đó không quên hối lộ các linh hồn bằng vài bài hát cầu hồn repeat lại trên băng từ.
Chẳng còn ai để đặt tay lên những đôi mắt trẻ còn mở trừng trừng. Những đôi mắt tròng xanh lơ, đồng tử hình thoi trong veo còn lưu lại những giọt nước mắt của ngừơi mẹ tội nghiệp rũ người xuống mà nuốt tiếng khóc vào ngực để không làm uỷ mị đứa con còn lại sắp sửa ra đi. Những người mẹ không khóc khi con đi. Mẹ khóc sẽ bị cộng đồng cho là không yêu nước.
Mặt trăng luồn ra khỏi đám mây.
Một lần nữa cơn gió ma quái lại mang hơi nước trên mặt sông Hãn vuốt hờ lên những bàn tay cứng đờ chĩa lên trời trong những tư thế kỳ quặc.
Những đôi mắt xanh lẹt bắt ánh trăng như da rắn lục.
Đồng loạt rên xiết tiếng gào của lũ mèo hoang làm tình trên những cái thây.
Những cái xác đồng loạt bật dậy.
Dậy trước hết là những cái xác còn tươi.
Đấy là những kẻ tử trận may mắn với một viên đạn trúng vào tim, trên mình còn mang bộ quần áo tân binh.
Những hồn ma này còn có thể tham dự cuộc thi thời trang chiến tranh của Diêm vương. Máu ướt đẫm trên ngực trái biến màu áo xanh cỏ úa thành nâu đất. Qua một ngày, chỗ áo thấm máu đã khô cong, những trứng của lũ ruồi nhặng gieo lên đó ngày hôm trước chưa đủ để nở thành dòi bọ.
Đôi khi trên ngực áo còn có lá thư tình bị đạn xuyên thủng những lời hẹn ngày về đã bị máu nhồi các con chữ lại thành một đám vón cục nằm bết trên cái núm vú nhỏ xíu giờ đã đen thẫm lại của người chết. Những núm vú này, lồng ngực này chưa một lần được hôn, chưa từng một lần được làn môi mềm mại ướt như sương của đàn bà mơn man trên da.
Dậy thứ nhì là những kẻ cụt chân cụt tay, mất môi mất má. Hoặc trườn hoặc bò hoặc nhẩy lò cò từng bước trên bãi tử thi, họ giương đôi mắt không chớp dáo dác tìm kiếm.
Họ lần đi, rà soát tất cả những cái thây, những mảng thịt da đang nằm, đang dính bệt với đủ mọi tư thế, phơi rải rác trên tất cả mọi ngóc ngách trên chiến địa.
Kìa là những người đang cố nhướn đôi mắt nhoèn máu tìm những mẩu thịt mẩu xương vung vãi khắp nơi như những củ sắn bị một kẻ điên vằm bằng dao phay rồi vãi trên mặt đất.
Họ tìm đến các mảnh thịt xương, tẩn mẩn sờ soạng mân mó chúng, háo hức chắp nối lại, rồi cố ướm vào những chỗ xương thịt đã bị tiện đứt trên người họ bởi mảnh bom mảnh đạn, ngột ngạt mong mỏi đến đuối hơi xem có phải là xương thịt của họ không.
Hầu hết là ê chề thất vọng. Mớ xương thịt đã bị trộn lẫn, cả bên quốc gia và bên cộng sản, cả người thành phố và người miệt vườn, người Hà Nội và người Sài Gòn, người nạo nghêu ven bờ biển và người vùng chiêm trũng.
Một cái cối xay thịt khổng lồ đã khiến cho bao cố gắng tẩy não của những bộ máy chiến tranh cùng đám văn nghệ sĩ xúi giục xua người ta ra trận làm bia đỡ đạn được mùa gặt hái.
Với mớ xương thịt và những xác người nằm lại trên chiến địa, chỉ còn tiếng reo của đám dòi bọ trên mớ thịt người.
Người nằm mặc kệ tiếng những cành lá đang xào xạc bởi ngọn gió đang thổi trên mặt sông cùng ánh trăng mờ đang phủ sự dịu ngọt của mình xuống nhân gian.
Những người đi tìm xương thịt của chính nhảy lò cò hoặc bò thật nhanh ra khỏi những lập trường mỗi bên tham chiến. Họ chạy đua với tốc độ huỷ hoại của đám dòi bọ vô kể không biết từ đâu ngoi lên. Lũ ròi bọ thản nhiên hưởng thụ những thịt da và máu đọng thành vũng cùng những mảnh xương tim óc rơi vãi.
Rồi đây, trong những cái dạ dày bé tí và tham lam vô độ ấy của lũ dòi bọ, dịch vị của lũ li ti râm ran ấy lại thêm một lần nữa làm nốt cái công việc còn dang dở của cối xay thịt chiến tranh.
Trong những dạ dày, là sự hoà trộn tuyệt đối đến từng tế bào giữa những đồ đệ của cả hai phe, của những bài ca cài hoa lên nòng súng, của những anh lính nguyện “thân này dẫu bọc trong da ngựa”.
Hoà quyện trong dạ dày của những lũ li ti và râm ran, là những tế bào trẻ trung, săn chắc, bị đẩy bắn ra khỏi linh hồn uất hận của những người đã chết.
Đám người nhẩy lò cò hoặc trườn bò và hối hả tìm kiếm này nhanh chóng làm cho vùng đất chết trở nên náo loạn.
Thức tỉnh lớp tử thi thứ ba.
Dậy thứ ba là những người chết cháy.
Lửa na-pan đã nhảy múa và thè chiếc lưỡi nóng bỏng liếm lên cơ thể họ.
Sau sóng nhạc dạo đầu của những chiếc lưỡi, da thịt của lính chiến bị nung chảy, tạo thành hang hốc hun hút sâu vào tận xương tuỷ. Chúng biến xương người thành những đám tro xốp khét lẹt.
Khi chưa thể chết lịm, những người này đã quằn quại trong lửa, co rúm lại, giãn nở ra hết mức, quằn quại thét vỡ ruột. Bầu trời nghẹt kịt những tiếng kêu thét điên loạn. Để kết cục là co rúm lại thành một khối dị dạng, hai tay ôm đầu đen như những cục than, làn da còn dính phốt pho lập lòe như đom đóm trong đêm.
Những tử thi gập bụng, gẫy cả nửa người vì đau, rên rỉ di chuyển nhọc nhằn trên mặt đất. Họ thèm khát nhìn làn da trắng bệch vì mất máu của những thi thể nằm la liệt chung quanh.
Một vài người táo tợn trong bọn bước tới, đặt bàn tay nham nhở những ngón cụt lên da trán của một người đeo một bông mai. Người này nằm ngửa mặt lên trời, làn môi đã bị phạt mất, răng nhe ra như đang cười rỡn trăng.
Bàn tay của người chết cháy toan bóc thử lớp da đó để dán lên mặt mình. Nhưng gương mặt đã biến dạng bỗng càng nhăn nhúm lại đau đớn. Móng tay không còn. Bàn tay người chết cháy thõng thượt xuống. Lớp da trán của người đeo bông mai vàng thoắt xô lại nhăn nhúm như một lớp váng sữa rồi vỡ bục ra dưới những ngón cụt đen đúa.
Thức dậy thứ tư là những tử thi trông y hệt những chiếc túi nặng trĩu đựng da và máu với lổn nhổn những viên bi luồn sâu trong da thịt.
Chân bước nặng trịch như những cỗ máy. Khi các tử thi bước đi, các viên bi chạm vào nhau kêu lạo sạo lột sột. Khi ánh trăng xuyên qua, những viên bi xô nhau chạy trong thi thể, để lại vệt sáng thép lạnh.
Những tử thi này đưa tay chộp lên da thịt như bắt rận, bàn tay nhẩy cóc từ chỗ nọ sang chỗ kia theo đường chạy của những viên bi trông như người phát phiền.
“Đói! Không có bát cơm quả trứng. Thiếu! Thiếu cả đôi đũa tre. Đói!”. Họ gào lên và dùng hai ngón tay cái và trỏ rạch da móc lấy những viên bi bỏ vào miệng nhai xào xạo.
Tiếng vỡ xào xạo của những viên bom bi trong miệng những con ma đói làm giật thột lớp tử thi thứ năm.
Dậy thứ năm là những người đã nát tan thi thể. Những phần thân thể của họ đã tơi tả trên mặt đất và được đám máu đã chảy ra từ hơn bẩy ngàn chín mươi ba thi thể sống nâng đỡ, như nước trong vũng làm nổi nênh những đám bèo. Lớp máu dềnh lên như sóng. Những đợt sóng màu nâu thẫm làm những đám xương thịt cũng phập phồng trên đầu con sóng như bọt.
Cả mặt đất ven thành cổ thở dài phập phồng tắc nghẹn dưới biển máu và phóng lên không trung những luồng khí tanh nồng vẫy gọi đàn quạ đen bay tới rợp trời.
Chúng tắm qua biển máu, cất lên tiếng kêu như tiếng người và nằm gục rúc đầu vào nách những tử thi.
“Chúng ta có quen nhau không nhỉ?”
Cái thây cài bông mai vàng khẽ ngọ nguậy chạm tay vào thây mặc áo màu cỏ úa đang nằm gục trên bụng anh ta.
Người chết gục gân guốc tay nắm chặt một lưỡi lê. Lưỡi lê ngập đến tận đầu nòng súng trong ngực tử thi cài bông mai vàng.
Tử thi màu cỏ úa hơi cựa quậy.
“Không quen!”
“Ông bà cha mẹ ta có mắc nợ gì nhau không nhỉ?”
“Chắc là không. Một kẻ đầu chữ S. một kẻ cuối chữ S. Xa cả ngàn cây số…..!”
“Trước khi mặc cái bộ áo này, cầm cái lưỡi lê này anh làm gì?”
“Học. Năm thứ hai Văn khoa. Còn anh?”
“Sinh viên năm tư khoa Triết học. Chơi vĩ cầm.”
“Cắt tiết gà hồi nào chưa?”
“Chưa!”
“Vậy chúng ta biết giết người từ bao giờ?”
“Chúng ta được dạy để giết người từ ngày khoác lên vai bộ quần áo lính và ai đó đã đặt vào tay chúng ta lưỡi lê.”
“Đương nhiên. Lưỡi lê thì không phải là cây bút hay vĩ cầm. Chúng ta cùng trở thành ma!”
“Và chúng ta chết cho ai nhỉ?”
Bốn ngón tay từ hai cái thây cùng chỉ lên trời và biến thành bốn dấu hỏi dập dờn ngơ ngáo in lên nền mây mờ trăng rồi thõng thượt đổ xuống.
“Đi nào! Đi thôi!”
“Đi! Cuộc đời này không phải của ta. Cả cái biển tanh ngòm này cũng sẽ tuột mất khỏi tay ta rồi. Đi thôi! Đi thôi nào!”.
“Thiên đường hay ngục?”
“Cả thiên đường và địa ngục ta cũng đã bị cướp đoạt. Nào, rút mũi lê ra khỏi ngực nhau hộ cái nào. Không lê bước được. Bây giờ ta thuộc về nhau…”.
“Cây lê và báng súng làm gậy chống. Chân tôi đã bị bom bên anh tiện đứt rồi. Thay cho chân gẫy, ta cùng đi, được không?”
“Lưỡi lê không bao giờ làm được gậy chống. Cái chân bị bom tiện cụt của anh sẽ được mọc ra ở thế giới của người ma.”
“Không! Người chết trận không còn gì để được tái sinh. Đầu thai cũng không!”
Trăng đã lên. Đứng hoang mang giữa đỉnh trời vàng rười rượi. Não nuột úa vàng như hơi thở dài thổi xuống những hồn ma.
Hai thây người đã chết dìu nhau leo lên tường thành cổ, đứng lật lưỡng, căng mắt nhìn xuống những đống tử thi phơi trên chiến địa.
– Nhìn kìa! Có cái gì đang động đậy.
Mắt họ bỗng sáng lên.
Trong đám tử thi thuộc về năm loại người chết trận đang cử động, đang di chuyển một cách kỳ lạ bỗng náo loạn cả lên. Xuất hiện một cái thây tóc dài. Mớ tóc đen mượt bỗng chuồi ra. Những con quạ đang rúc vào nách lớp thi thể bỗng hoảng hốt kêu quàng quạc và vụt bay sang phía bên kia thành cổ, khiến cho những lớp máu dềnh lên như sóng cất lên tiếng kêu oài oạp rởn gáy như tiếng quạ.
Tử thi đó là một cô gái. Tóc đen mượt dính bết máu. Cô chết toàn thây. Đôi môi hình cánh hoa sen như môi đức Phật mím chặt, tái nhợt thành màu trắng.
Đó là cái thây phụ nữ duy nhất trên bãi tử thi này.
Những lớp tử thi đã lồm cồm trỗi dậy vì cồn cào kiếm tìm những phần đã mất của mình đang di chuyển một cách lào quào ngờ nghệch trong không khí bỗng đứng sững lại, nhìn cái tử thi phụ nữ duy nhất lạc lõng trong ánh trăng.
Trắng nhợt, thân hình eo thon. Bộ ngực đã chết vẫn nhô cao khiêu khích trong thân thể cứng đờ. Đôi mắt mở to nhìn sững lên trời mây trong tròng con ngươi đông cứng. Nhìn lại tưởng rằng mơ mộng. Thân hình người con gái lãng đãng như trôi dạt trên nền chiến địa.
Bảy ngàn chín mươi ba tử thi còn lại. Nhìn chằm chằm vào tử thi của người con gái không dưng lạc vào chỗ không phải của đàn bà.
Cô ta có thể là một cô gái vác đạn, cứu thương hay là một bé gái thường dân bị dồn đuổi vào trận địa, tình cờ nhập cuộc mũi tên hòn đạn?
Sự lộ diện của người con gái đã khiến bãi tử thi rộn ràng hẳn lên.
– Kìa, cô ấy cũng đi cùng chúng ta.
– Cô ta sẽ nấu cơm chứ? Đàn bà sinh ra để làm cấp dưỡng.
– Thật ngu xuẩn! Người chết không bao giờ cần cấp dưỡng.
– Sao người ta vẫn cúng người chết?
– Họ cúng cho chính họ. Không cho người chết!
– Thế cô ta làm gì? Những kẻ kia đã điên hết cả rồi sao?
Tử thi mặc áo màu cỏ úa khoát tay ra ngoài xa.
Ngoài kia, là cả một cuộc náo động.
Năm lớp tử thi đã lần lượt trở dậy. Năm lớp tử thi đã dậy và dò dẫm đi tìm xương thịt rơi vãi của họ đã dạt tứ tung về muôn phía, bây giờ bỗng nhất loạt xoay chiều về phía mớ tóc đen dài bết máu.
Những tử thi tiến tới. Lướt chầm chậm như những mạt sắt bị nam châm hút vào. Như hoàn toàn mù loà.
Có một hơi hướng gì đó tương tự sự sống đang dâng lên, thoảng hoặc khó nhận ra, thoảng mùi tanh của hàng triệu triệu tinh trùng.
Những dòng tinh dịch trắng đục phun vọt, hoà lẫn vào những suối máu đã đông đặc lại như bùn và làm chúng nhão ra thành nước.
Thi thể của người lính mặc áo màu cỏ úa và người có bông mai vàng cũng giật lên trong những vũ điệu kỳ cục.
Người lính rên lên trong hoang lặng:
– Điên thật! Cái gì thế này!
Tiếng rên của anh ta lập tức nhập vào một dòng sông những tiếng rên rỉ đau đớn như khoái lạc của bảy ngàn chín mươi ba tử thi còn lại.
– Trời ơi! Tội tổ tông tôi!
– Không sao! Chúng ta sẽ tái sinh trong bụng cô ta.
– Không! Tôi không muốn tái sinh! Tôi ghê tởm cái kiếp sống này. Tôi khoái lạc biết hôm nay tôi đã chết, tôi không còn phải nghe tiếng ra rả của những kẻ giả lả đưa thiên hạ vào cối xay thịt.
– Nhưng mẹ anh đang khóc ở kia. Và kìa, bụng cô ta đang phồng vọt lên kia. Anh không thấy gì sao?
Tử thi mặc áo màu cỏ úa khoằm mặt, căng mắt nhìn kỹ. Miệng anh ta há hốc trong sự ngạc nhiên.
Từ cái bụng còn phẳng lì và thon eo của tử thi con gái, bây giờ như có ai bơm cái gì đó vào, phồng căng dần lên trông như sắp vỡ, làm bục hết cả quần áo, để lộ đôi đầu vú còn nhọn hoắt, hơi ngả sang hai phía như dịu dàng và kiêu hãnh nhưng đã bắt đầu thâm đen. Và chiếc rốn đã lồi lên trên cái bụng căng tròn.
– Sexy! Tôi chưa bao giờ ngắm thân hình trần truồng của một người đàn bà chửa.
Hai tử thi, và hơn bảy ngàn chín mươi mốt tử thi cùng nín thở, rạo rực ngắm cái bụng con gái giờ đã phồng căng như sắp vỡ.
Trông tỏ mồn một dưới ánh trăng những đợt sóng chuyển động dồi lên dập xuống.
Từ lỗ rốn sâu hút của tử thi rãn nở rộng. Một tiếng thét bất ngờ bật lên giữa đôi hàm răng nghiến chặt của tử thi cô gái.
Tất cả tử thi trên bãi chiến địa cũng đồng loạt rú lên.
Một đứa trẻ đã trồi lên từ bụng cô gái.
Đứa trẻ không khóc.
Chui ra khỏi bụng với đám dây rốn và bộ nhau thai lòng thòng cũng trắng nhợt không nhuốm máu.
Đứa trẻ nhìn quanh, rồi cúi gập người xuống, tự cắn vào cuống rốn của mình, nhổ nước bọt, tự liếm vào nơi cuống rốn vừa bị cắn đứt.
Đứa trẻ gom đám nhau thai lòng thòng vừa bọc lấy thân hình nó vào thành một gói, cuốn lại, rồi ăn ngon lành như cách người ta ăn gỏi.
Trong thoáng chốc, đứa trẻ đã xơi gọn đám nhau thai và cuống rốn vừa ra đời cùng nó.
Đứa trẻ lại thư thả ngẩng đầu lên nhìn quanh.
Trăng đã tỏ hơn trên bầu trời.
Trăng soi rõ dung mạo của đứa trẻ.
Làn da xanh lét, đôi môi màu đen mắt sáng như hai ánh đèn pha, nơi dành cho tay chân mọc thì rất chật chội, nơi cư ngụ của những chiếc cổ cũng quá chật chội.
Rõ ràng là đứa trẻ có ba đầu và sáu tay.
“Cái gì đó?” – Tử thi có gắn bông mai khẽ hỏi.
“Con!” – Tử thi màu cỏ úa thì thào.
– Anh đã làm tình bao giờ chưa?
– Chưa! Còn anh?
– Chưa!
– Vậy thì đứa trẻ gớm ghiếc này thuộc về tôi và anh!
– Chưa hẳn
– Vừa nãy, tinh trùng của tôi đã bắn vọt về phía cô ta.
– Tôi cũng thế. Nhưng bảy ngàn chín mươi mốt cái xác ở đây cũng đều đã có phần trong bụng con chúng ta.
– Thật ghê tởm!
– Không có gì là ghê tởm. Đó là cuộc tái sinh cuối cùng dành cho những người chết vì chiến tranh. Đó là vận số của một giống loài.
– Chỉ là tinh trùng và trứng của phần thi thể đàn ông và đàn bà nát vụn hoà vào biển máu này rồi chúng tự tìm kiếm tử cung của một người đàn bà và thành một đứa bé.
– Thế cũng đã là quá nhiều.
Người lính ngắm đứa trẻ xanh lẹt ba đầu sáu tay, ngán ngẩm hỏi:
– Ta chết rồi, nuôi nó bằng gì?
– Nó tự mút cuống rốn mà sống. Đâu cần ai nuôi. Lúc khát, nó uống nước mắt của mẹ anh và mẹ tôi.
“Vận số nào dành cho con chúng ta?”
“Con của những tử thi chết trận sẽ bay là là, không đi lại được trên mặt đất. Chúng bay dưới những đám mây đen mang hình trâu bò. Chúng đến không ai biết, đi không ai hay…”

Chương 3: Cưỡng hiếp một đôi chân

Chết!
– Nó chết thật?
– Nó cả gan chết ?
– Nó dám treo cổ?
Ông Dậm lẩm bẩm như mê sảng.
Ngoái nhìn gương mặt vã mồ hôi lạnh, tái xanh tái tử của Lình.
Cái thây đang đung đưa trước mặt nhoè đi.
Hiện lên một cái thây khác.
Trong tiếng chân chạy rậm rịch, tiếng la hét ắng nghẹn của ai đó.
Cũng là thây người thắt cổ.
Một thây khác. Còn ấm nóng. Mũi giày thêu đập vào mặt ông.
Đôi giầy ấy, đêm hôm trước, ông đã nhìn thấy, đã nhớ. Và nhớ rất rõ.
Không, ông nhớ rõ cái đôi chân nhỏ xíu, trắng xanh, lồng quyền quý trong đôi giấy gấm này. Giầy gấm kết cườm thêu chỉ bạc.
Ông đã cưỡng hiếp đôi chân ấy. Lấy hai bàn chân đã chết cứng ấy mà cọ vào dương vật của ông cho đến khi ông gào rú lên.
Ông đã gào rú lên vì khoái cảm khi nhìn thấy đôi chân nhỏ xinh như hai chiếc lá bươm bướm bạc nắng. Đôi chân ông đã trộm nhìn thấy, thấp thoáng ẩn hiện dưới gấu váy lĩnh óng chuốt trong những dịp bà Cử cùng cô Phượng đi phát chẩn.
Con mắt ông Dậm hoăm hoắm theo đôi chân từ hôm ấy, thấy bụi đất bám vào đế giày gấm mà tiếc của, rồi ông nghĩ ngược lên, ông mường tượng ngược lên bắp chân, từ bắp chân ngược lên đầu gối rồi từ đầu gối ngược lên đùi và lên cao, cao nữa.
Nhưng ông Dậm chịu thua, không mường tượng nổi. Cả đời ông chưa được nhìn thấy một cái gì đẹp đẽ như bà Cử và Phượng.
Không thể biết nó tròn méo ra sao, ông điên cuồng muốn được nhìn thấy. Điên cuồng muốn đập nát cả túp lều và gốc cây cổ thụ cả chín sinh mạng nhà ông nương thân. Để thoả thuê tốc cái váy lĩnh lên, nhìn chằm chặp vào cặp đùi lạ lẫm, cưỡng hiếp cả hai cái người có đôi chân như đôi lá bươm bướm ấy.
Rồi thì đôi chân đi giầy ấy thõng xuống, tái nhợt, đung đưa ngay cửa giữa ngôi nhà lớn mà ông vừa cướp được của ông Cử.
Cái thây thắt cổ ấy đập thẳng vào mũi ông lúc gà gáy.
Lúc gà gáy, ông hùng hổ dẫn đầu một đàn bảy đứa con và vợ, rời túp lều lá ngoài bờ sông, tay cuốc tay thuổng xông vào. Ông lại gào thét xỉ vả mấy đứa con cầm xà beng, cầm cào, dao phay dao phát đang chần chừ phải phá tung cánh cổng chính, đập vỡ nát cánh cửa gỗ lim của gian chính điện, xông vào.
Cái thây còn ấm nóng, vừa treo cổ chết, đập vào mặt ông đêm ấy là của bà Cử.
Người đàn bà có đôi chân đã bị ông cưỡng hiếp tối hôm qua.
Và ngày hôm qua cũng là ngày óc ông Cử đã bị loạt đạn súng kíp tự chế bắn vãi tung ra ngoài ruộng mạ.
Cánh cửa gỗ lim nhà ông Cử chắc chắn đến mức bà Cử kịp treo mình lên xà nhà và tắt thở trước khi ông Dậm cùng đàn con phá xong cửa, hằm hè xông vào.
– Nhà nó có mả thắt cổ.
Như bị đánh trúng gáy, ông Dậm vục mặt vào tường. Đôi vai xệ xuống.
Nhưng chỉ trong chốc lát, ông Dậm đã hồi lại. Ông thét:
– Nhà lũ bóc lột có mả ăn cắp. Mả thắt cổ.
Ông lại lẩm nhẩm, mặt tươi lên:
– Đó là con đường tất yếu của những kẻ bóc lột. Cán bộ đội đã phổ biến thế! Quả thật người nói mà như thần nói, không sai một ly.
Ông Dậm lại vồ lấy chiếc cào phân lợn bên cạnh, lăm lăm trong tay, huơ lên đầu Lình:
– Thế cái lũ bóc lột phản động nó kêu gào cái gì bậy bạ trước khi nó chết? Mày nghe gì?
Lình nhìn bố, mắt đỏ đọc:
– Nói bố nghe, lại chửi mất mả.
– Nói! Mày phải nói!
– Bố muốn à?
– Mày không nói, tao đập chết!
– Thôi được. Bố muốn đập chết thì cứ đập. Tôi cũng chẳng thiết sống.
Mẹ Cả bảo: nghe mẹ trẻ gào lên: Tao chết đi nguyện làm giống quỷ, báo thù cho cha mẹ họ hàng chết thảm.Vô phúc. V… ô… ph… ú… c.
– Khốn nạn!
Ông Dậm ngồi bệt xuống đất. Chốc lát, quay ra, mắt long sòng sọc:
– Con mẹ già mày đâu? Nhìn thấy nó thắt cổ mà không ngăn lại. Rặt một lũ chó chết!
Ông Dậm thét. Chiếc cào phân vung lên, đập đánh hự vào đầu Lình.
Lình choáng váng ngồi thụp xuống. Không kêu la. Nét mặt không động. Chuyện cơm bữa.
Ông Dậm không đập bất cứ cái gì vớ được trong tay, bất cứ lúc nào, vào đầu cậu mới là chuyện lạ.
Cung cách ông Dậm đập cái gì đó vào đầu Lình thật diệu nghệ. Giống như con rắn đang bò êm ru trên cỏ như đang bỏ đi, như đang mơ màng tận bên kia bờ ao, bỗng thình lình quay ngoắt lại mổ một phát chí tử vào con nhái.
Như một người tiện tay quẳng đi miếng vỏ cam vừa bóc xong. Những chiếc răng của chiếc cào phân không trúng đầu, sượt qua má, để lại một vệt xước chạy từ thái dương xuống mũi. Đôi mắt xếch của Lình lại lần nữa toé lửa.
Từ khi biết chạy trên những gốc rạ nhọn để lùa vịt hay chăn trâu thuê, bấu chân trên mặt đường làng trơn trượt, mọi lỗ chân lông dựng đứng, cố bám níu đường trơn cho khỏi ngã vập mặt, vai bị dây thừng siết tướp đỏ máu, cố trì kéo những bó cỏ to gấp năm lần cái thân còm cõi, Lình không nhớ rõ đã bao lần cậu toan giết bố.
Mỗi sáng, vừa mở mắt, Lình lại đứng dậy, quay mặt về hướng đông, nhìn mặt trời bắt đầu ló chùm tia trên rặng ổi xanh mốc ở Bụi Thằng Quỷ. Lình nhổ nước bọt lên lòng bàn tay trái, dùng bàn tay phải đập bép một nhát cho thiêng.
Lình quỳ xuống khấn.
Khấn rằng ngày hôm nay, ông Trời có thương Lình thì xin hãy cho sét đánh chết tươi cậu và ông bố của cậu. Khấn rằng trời hãy giết ông Dậm chết đi, chết ngay, cho ông không thể ác với cậu, mẹ cậu và mọi người được nữa.
Lình mong mỏi được nhìn thấy ngày ông Dậm chết do bàn tay ông trời.
Lình khấn: Tôi nói dứt khoát với trời đây này! Nếu trời không giết bố tôi hoặc giết tôi, tôi sẽ giết bố!
Nước mắt Lình chảy mặn xót trên đôi má chi chít vết thương. Vết thương mới chồng lên vết cũ. Từ những cú đánh bất thình lình của ông Dậm.
Thường thường Lình chuẩn bị giết bố vào khoảng nửa đêm.
Khi sau một ngày Lình mệt nhoài, chân đầy vết đỉa cắn. Những dòng máu chảy ra miệng những cái vết thương tròn ghê tởm, nhờn nước dãi và nọc độc từ cái miệng hút máu của lũ đỉa. Nếu không biết bóc lá nón cũ ra mà dán vào, máu trong người sẽ cứ rỉ ra mãi. Máu nơi chân Lình đã được cầm lại bằng nước miếng và lá nón, đen bầm loang lổ dọc bắp chân.
Những đêm Lình thốt tỉnh sau một giấc ngủ ngắn, người đầm đìa mồ hôi lạnh, là lúc Lình lủi như một con chó dại vào xó buồng, mắt cũng vằn những tia máu như mắt chó dại.
Bà Cả nhiều lần trông thấy thằng Lình – con cả của bà, nửa đêm chồm dậy, mắt long sòng sọc, ôm đầu chui vào xó buồng, miệng lảm nhảm vừa rên khóc vừa chạy tới chỗ chiếc áo của bố nó vắt trên sào, giật lấy rồi dùng hai tay gồng lên vừa vặn, xoắn, vừa rú lên như bóp cổ ai đó.
Kết thúc những cơn mê sảng ấy, đứa con cả của bà lại lăn ra ngủ.
Bà đến gần, thấy một vết thương mới trên đầu trên mặt Lình.
Những vết thương đó chẳng lần nào giống lần nào. Lúc tròn lúc méo. Lúc rộng lúc hẹp.
Bà thuộc lòng hình thù của các loại vết thương trên đầu Lình.
Bởi vì, trên người bà, cũng đầy những vết thương với hình thù đa dạng như vậy.
Nó tuỳ thuộc vào kích thước và loại đồ vật nào mà ông Dậm vớ được lúc ông đột nhiên lên cơn tức giận và ông lập tức trút vào đầu một ai đó.
Đương nhiên, người gần ông nhất là người được tận hưởng.
Có điều khác với thằng con cả, những vết thương của bà hội họp nhau ở chỗ khác. Không ở trên đầu.
Đó là khu vực vú và cửa mình.
Bầm tím. In những ngón tay xoắn vặn, máu ri rỉ chảy.
Đó là đặc ân của người chồng dành cho vợ.
Ông Dậm cho rằng vợ là một loại gia súc không phải nuôi, thậm chí nó còn nuôi lại mình và lũ con. Vợ mang hình thù của con người, bị xích bằng trăm ngàn sợi dây chắc hơn dây thừng lông lợn. Nhược điểm duy nhất của vợ kém loài gia súc, là không đem mổ thịt được nhưng bù lại, không có loài gia súc nào sống lâu như thế.
Ban đêm, trong ngôi nhà lớn, im rợn, lạnh lẽo của ông Cử, mẹ con bà Cả và Lình cùng những đứa con khác tận hưởng mộng mị và thế giới của riêng mình.
Bà Cả cũng vụng trộm một mơ tưởng giết chồng.
Sở dĩ bà sống được vì giấc mơ ấy.
Nhưng khi mặt trời lên, mọi thứ đổi khác.
Những tia mặt trời xuyên qua nhà này sau một đêm chật chội ác mộng đã mang màu xanh lét. Và gương mặt bà Cả, Lình cùng sáu đứa còn lại cũng chuyển màu theo.
Một sự phục tùng vô điều kiện. Một sự luồn cúi thảm hại hoàn toàn xâm lấn gương mặt bà Cả.
Bà lom lom lo sợ nhìn mặt bạo chúa của bà. Chỉ cần ông chồng nhếch mép, bà sẵn lòng chiều ý và sẵn lòng bò xuống đất để ông khỏi nổi giận.
Bà nể sợ, thậm chí hãnh diện vì ông Dậm của ngày hôm nay khác hẳn ông Dậm của một năm trước.
Trước đây, ông bị cả làng gọi là phường khố rách áo ôm. Thì nay, ông oai phong. Mỗi lần ông đi qua, cả làng cúi mặt. Nếu ai không tránh được thì lại xoăn xoe luồn lọt.
Cả một đời đói rạc đói rài. Nếu trước đây mùa giáp hạt nào cả nhà bà cũng lo chết đói, thì nay, bà chỉ ngồi một chỗ cũng thu được ối thứ. Những kẻ đánh dậm hay đặt lờ bắt lươn, mang nơm đi đơm cá, khi mò lên bờ, việc đầu tiên phải làm là lựa những con lươn, con cá to nhất cho vào một giỏ, đem đến nhà ông Dậm trong khi quần áo còn ướt lướt thướt.
Mà ai cũng biết, đem đến nhà ông là phải lựa lúc.
Cái lúc ông Dậm và cán bộ đội cải cách đang ở nhà, để nhìn thấy món quà biếu của họ.
Bở vì, nếu không, rất có thể bà Cả nhanh tay mang ra chợ bán trộm mà ông Dậm không biết.
Vì cả làng ai cũng thuộc tính ông Dậm.
Dù đã có được một ngôi nhà lớn với nhiều của chìm, bản thân hút điếu bát vàng chiếm được của ông Cử, sáng rượu trưa rượu tối rượu, nhưng ông Dậm vẫn giả nghèo giả khổ, bắt vợ con phải mặc áo rách, ăn cơm độn ba phần khoai hai phần rau má.
Lình cũng vậy, khi mặt trời mọc.
Mặt trời lên độ con sào, Lình đã cày được áng chừng một phần ba thửa ruộng. Con trâu được chia “quả thực” cũng từ chuồng trâu của ông Cử đã bắt đầu thở hồng hộc, trở chứng không muốn bước, thì trở đường cày, đã thấy bố ngật ngưỡng đi ra ruộng, miệng còn nồng nặc hơi bữa rượu buổi sáng.
Ông Dậm đứng đầu bờ, tay chống nạnh, bắt đầu quát tháo bắt bẻ đường cày sao không thẳng, sao mày cày được ít thế. Sao tao đẻ ra mày, tao chăm chỉ đầu tắt mặt tối, làm hộc tốc dốc gan mửa mật mà mày lười chảy thây, ngủ ươn xác, sắp đứng ngọ rồi mà chưa được ba đường cày.
Ban ngày, hễ thấy bóng ông bố là Lình giật thột, co rúm lại.
Căm và sợ.
Nỗi sợ lâu ngày thành quen, như con nhái tê điếng đi khi nhìn thấy con rắn.
Tê điếng thế này, là thói quen từ năm Lình lên năm tuổi đến bây giờ. Lình lên năm, ông Dậm mang Lình đi đánh dậm. Nước ngập đến cằm, có lúc lút cả đầu sắp chết đuối vẫn phải lội xuống vì sợ bố. Mỗi lần Lình sơ ý để sổng một con cá to cỡ nửa bàn tay hoặc vào mùa đông rét căm căm, Lình cố ngủ nướng không thức dậy đúng giờ Tý để đi cất vó tôm, ông Dậm thộp ngực áo cậu, đấm đá tận lực, đến lúc đứa con còm cõi rũ ra như một miếng giẻ rách và ông mệt thở hổn hển mới thôi.
Trước năm mười bốn tuổi, Lình là một đứa trẻ thất thần, thường run như giẽ, nghe tiếng ai nói to là muốn lăn ra chết giấc… Mỗi khi bố đấm đá đau quá, Lình còn biết ôm chân bố van lạy, nước mắt lã chã.
Nhưng đến mười bốn tuổi rưỡi, khi chỏm tóc chạm mái lều, ra vào cửa đều phải cúi đầu, người nhà ngạc nhiên nhìn thằng Lình.
Nó đã trở thành một người khác. Nó trở nên dạn đòn. Nếu ông Dậm nổi cơn đấm đá, nó không kêu khóc, không van xin, chỉ đứng nhìn trân trân ra phía rặng ổi. Miệng thầm khấn mặt trời.
Khi thằng Lình không biết lạy bố nữa, ông Dậm từ đấm đá chuyển sang thói đập và đạp.
Hễ trong tay cầm cái gì là ông đập luôn vào đầu thằng con cả. Nhiều lần ông đập chày hoặc gạch vỡ, thằng Lình có nhanh nhẩu nghiêng người tránh được không chết nhưng cũng tạt ngang mặt, máu chảy luễ loã.
Thực ra Lình không chết là bởi ông Dậm đập cũng có nghề như bố ông trước đã từng đập ông. Ông bố vừa đập vừa giảng giải: tao đập mày là để tao dạy mày. Sau này mày phải thờ tao cả đời vì mày đã được bố mày đập đấy con ạ. Thương cho roi cho vọt. Các cụ dạy thế. Tao đập mày đau nhưng không phạm chỗ hiểm, vì để mày sống, còn có thằng cày ruộng, thằng chống gậy.
Trong những trận bị đòn, ông Dậm đã bao lần nghiến răng thầm nghĩ, sau này có con, ta quyết không bao giờ đánh con, vì ta đã bị bố ta đánh đập như con chó con trâu, ta muốn giết bố ta. Để con ta sau này không giết bố, ta sẽ không đánh đập chúng.
Nhưng khi đã có con, ông Dậm bỗng sinh thói đánh đập vợ con tàn tệ. Nhiều khi nhìn thằng Lình hoặc vợ máu chảy ròng ròng, ông Dậm cũng thoáng ân hận, nhưng rồi sau lại đâu vào đấy.
Lình cũng quen dần, đã biết luyện miếng nghiêng đầu né đòn. Có thể tránh những cơn điên giận có báo trước, khi thấy mặt ông Dậm sầm sì. Nhưng những cơn nổi điên bất thường của ông thì không biết đường nào mà lần.
Đôi lúc, nhìn máu trên đầu con chảy xuống má thành dòng, bà Cả xót con gào khóc, quên cả sợ, liều mạng lôi cả tông cả giống nhà ông Dậm ra mà chửi.
Thế là ông Dậm sấn vào, túm tóc vợ tát liên hồi kỳ trận.
Nhiều lần, ông lột truồng vợ trước mặt con, quấn tóc bà vào cây cau, trói bêu cả đêm phơi sương.
Đàn con xót mẹ, lấy áo rách đắp cho mẹ, xấu hổ nhục nhã trước xóm giềng, kêu khóc như ri.
Ông Dậm vồ lấy chiếc roi tre. Một trong bảy chiếc roi tre hong mồ hóng dẻo quánh, không thể gẫy được, đã lên nước bóng loáng. Ông cần roi quất vung vít. Cả lũ bỏ mẹ lại bên gốc cau, chạy tán loạn.
Hôm đó, ông sẽ ngồi uống rượu và chửi ba ngày liền, không đánh dậm, không đi cày, ngồi kẹp lấy hũ gạo và chum khoai khô đặt trong buồng. Cả mấy đứa con đói meo sợ mất mật, không dám bén mảng đến cửa buồng, đành đợi đến khi bố say ngã lăn ra cửa buồng rồi mới dám ra gốc cau cởi trói cho mẹ.
Bà Cả được cởi trói. Toàn thân bà tê phù, đổ sụp xuống gốc cau, tóc bị giật đứt một nhúm, thân mình chằng chịt vết dây trói. Bà không còn nước mắt để khóc, nằm gục xuống gốc cây một chốc, rồi lê ra vườn nhặt lá nhọ nồi nhai nát đắp vào vết thương trên đầu Lình và dịt vào những lằn roi rớm máu trên người bà.
Ông Dậm vẫn nằm trấn giữ hũ gạo và chum khoai khô trước cửa buồng, cằm vểnh lên trời như một bắp ngô rậm rạp và ngáy như kéo gỗ. Mấy mẹ con đành lếch nhếch kéo nhau ra đồng nhặt rau má và đào khoai ăn sống cầm hơi.
***
Vô… phúc…
Không gian rùng rợn. Tiếng rú lay lắt. Lời nguyền đặc quánh thít chặt lấy dãy chuồng lợn và những toà nhà ngang dọc.
Tiếng rú đã tắt mà như còn bay lượn ở đây, xuyên thấu buổi ban mai.
Rụng rời những tia nắng đầu tiên của rạng đông.
Ông Dậm mắt lạc thần.
Ông nhìn vào dãy chuồng lợn. Dãy chuồng ám khói ba mươi ba gian.
Thời ông Cử, dãy chuồng này nuôi ba mươi ba con lợn nái.
Mười một tháng sau khi toà nhà ông Cử lọt vào tay ông Dậm, hai mươi chín gian chuồng bỏ không, chỉ còn bốn gian, trong có ba lợn cấn, một lợn nái vừa đẻ.
Trước cửa chuồng thứ hai mươi chín, có con lợn nái vừa đẻ, một đám ngừơi bu đen. Hoá ra họ đứng đây từ lâu, trước cả ông. Mãi giờ ông mới nhận ra.
Bà Cả – được lên chức từ khi ông Dậm ép Phượng – con gái ông Cử phải làm vợ hai, đã được đàn con gọi là mẹ Cả để dễ phân biệt với mẹ trẻ Phượng, đang đứng vòng ngoài, tóc chưa kịp vấn, mặt tái nhợt. Bà đang chỉ trỏ, hoa chân múa tay như lên đồng, mặt không giấu được vẻ đắc thắng.
– Bố đến! Bố đến! Mau tránh ra.
Bây giờ ông Dậm mới nghe được tiếng kêu dẹp đường của thằng Hai.
Bây giờ thì ông Dậm đến, mới nhìn thật rõ vợ bé của ông đang treo lủng lẳng trên sợi thừng bện bằng lông lợn, thân hình mảnh mai lệt quệt gần sát đất mà chân vẫn như dợm bước về phía trước.
Đầu trên của thòng lọng thít chặt lấy chiếc đòn tay gỗ xoan. Mặt người xấu số bị mớ tóc xổ tung che phủ. Mớ tóc dài chấm đất, óng nuột, sinh động, phản chiếu những tia mặt trời đầu tiên phun thẳng qua kẽ lá của những rặng cây, phun qua những song gỗ cáu bẩn của chuồng lợn và hắt bóng trở lại trên mặt bà Cả.
Ông Dậm bỗng xót ruột cồn cào.
Phượng, vợ bé của ông, dáng liễu yếu đào tơ như người đẹp trong tranh tố nữ, bây giờ treo lủng lẳng ở đây. Nhìn xa, chỉ như một chùm tóc rũ rượi.
Chùm tóc như một đám mây đen sầm sập.
Trong đám mây cuồng nộ ấy có tiếng sét lằn rạch tia chớp sởn gai lưng.
Ông Dậm rùng mình.
Mắt ông bị hút chặt vào đôi gót chân vàng nhợt của mẹ trẻ Phượng.
Đôi gót chân nhỏ xíu giống hệt đôi gót chân quý phái trong đôi giầy gấm thêu chỉ bạc của bà Cử.
Vô… phúc!
Ông Dậm thở hắt ra.
Một cơn giớ từ mảnh vườn hoang phía sau lưng thổi tới. Mái tóc người chết tung lên, dạt sang trái, những sợi tóc quấn cả lên cây cột cáu bẩn của gian chuồng lợn, lộ rõ cái hình hài của người đàn bà.
Người chết mặc áo mới, váy lĩnh đen yếm hoa hiên ba lớp, áo choàng ngoài màu mỡ gà. Hai vạt trước của áo tứ thân buộc lại thành nút rũ tình tứ xuống cặp đùi thon dài in hằn còn như rạo rực qua lần lụa lĩnh thâm .
Đôi dải áo so le đung đưa.
Thân mình mẹ trẻ Phượng bất chợt như sống lại, uyển chuyển dưới sợi dây thừng bện bằng lông lợn.
***
“Hộc!”
Những người đang đứng vây quanh giật thót. Rụng rời chân tay.
Thây người thắt cổ bỗng đột ngột xoay lại, sau tiếng hộc của con lợn nái đang dồn đàn con mới đẻ vào góc chuồng, đứng chặn phía ngoài mớ rơm rạ rải dầy trong chuồng, mắt long sòng sọc.
Đám người hét lên một tiếng kinh hoàng.
Ông Dậm cũng bủn rủn chân tay. Người như sắp đổ vào bức tường gạch.
Bỗng một tiếng trẻ khóc. Vút lên.
Như đâm vào tim.
Mảnh như lưỡi dao lá lúa.
Dội ngược lên từ đám rạ trải nền chuồng lợn.
Nơi con lợn nái đang sục sạo ngửi hít.
Có cái gì động cựa trong đám rạ.
Từ vồng ngực người chết, đôi bầu vú bỗng trễ xuống, căng vồng lên.
Những tia sữa trắng đục phun ra từ đầu vú, dào dạt làm ướt đầm ngực áo, rỏ thành đôi dòng xuống đám rơm rạ đang cựa quậy dưới chân người chết.
Lập tức, trong không gian mênh mang hương hoa lúa, hương của loài nếp cái đang trổ đòng ngậm sữa, át cả mùi phân chuồng hoai hoai và mùi mồ hôi nồng nặc phả ra từ những chiếc áo nâu cũ vá chằng vá đụp của đám đông người.
Lình chăm chú nhìn đám rạ đang vồng lên dưới chân người chết.
Rẽ đám người, Lình bước hẳn vào chuồng lợn cúi xuống bới tìm.
Ngón chân cái để trần, xinh xắn của mẹ trẻ Phượng đung đưa trước mặt Lình như một cánh hoa tàn.
Lình ngộp trong hương hoa lúa phả ra từ đôi dòng sữa.
Một cảm giác ngây ngất tràn ngập.
Lình ngước nhìn mẹ trẻ Phượng.
Không còn đâu nỗi ghê sợ trước một người chết.
Hình như mẹ trẻ thoáng mỉm cười.
Lình khấn một lần nữa về phía mặt trời, rồi cúi xuống, dõi theo dòng tia sữa đang tuôn chảy từ ngực mẹ trẻ Phượng.
Lình cau mày, đưa tay gạt lớp rạ.
Hoá ra, dưới lớp rạ là một cái nôi mây chắc chắn. Lòng nôi bọc gấm hồng và những dải đăng ten màu trắng.
Trong nôi, một bé gái đang khóc ngằn ngặt. Một dải lụa hồng đã thắt nút thòng lọng quấn quanh cổ.
Bé Miên – đứa em cùng cha khác mẹ với Lình.
Đứa con gái mới sinh tròn tháng tuổi của ông Dậm và mẹ trẻ Phượng, mặt phơn phớt một lớp lông tơ vàng óng. Cái miệng rộng với môi trên hơi cong cong, khóc mà như hé cười. Tròng mắt màu xanh lơ tương phản với một cái bớt màu tím hình bông hoa sao nhỏ xíu ngay dưới mí mắt trái.
Ngày sinh bé Miên, ông Dậm vừa nhồm nhoàm nhai thịt thủ lợn, vừa khinh miệt nói: Dào, đằng nào thì cũng chỉ là cái hĩm, Miên với chả Du chi cho mệt xác, uốn quẹo cả lưỡi. Chi bằng cứ gọi là con Tép cho dễ nghe. Gọi thế để trong nhà lúc nào cũng có tôm tép mà ăn, chẳng lại đến cái đận đói rã họng.
Tiếng khóc xé ruột lại dội lên từ dưới nôi mây, thọc thẳng vào tim Lình.
Nhưng bé vẫn tên là Miên.
Lình mở lớp vải bọc gấm hồng.
Lình đồ chừng, mẹ trẻ Phượng toan tính mang bé Miên đi cùng về thế giới bên kia. Nhưng đến phút cuối, mẹ trẻ đã không nỡ siết nút dây thòng lọng quanh cổ đứa con còn đỏ hỏn.
Bé Miên trong nôi càng ngằn ngặt khóc.
Lình bế lên, ghé miệng bé vào bầu sữa của người chết đang nhểu giọt. Bé Miên hối hả mút chùn chụt.
Nước mắt Lình nối nhau rỏ xuống chiếc nôi hồng.
Bét Miên nín khóc dần.
Bé đã no bụng và thiu thiu ngủ. Con lợn nái mắt vẫn lom lom nhìn Lình, dè chừng. Đàn lợn con trong chuồng ngửi thấy hơi sữa, bắt đầu ủn ỉn sục sạo quanh nôi.
Bầu sữa của mẹ trẻ Phượng cũng đã cạn kiệt. Khi những giọt cuối cùng nhểu xuống, gương mặt của người mẹ đang lắc lư dưới sợi dây thừng bỗng vọp lại, đôi gò má nhọn hoắt như gò má của một bà lão.
Ông Dậm đứng ngoài chuồng lợn, nãy giờ nhìn lom lom, buông một câu thản nhiên:
– Đưa cái giống quái này đi. Không được để nó trong nhà này.
Lình sửng sốt nhìn ông Dậm, năn nỉ:
– Kìa bố, hột máu của bố mà. Nó chết mất.
Ông Dậm quay ngoắt lại, chỉ mặt Lình:
– Tiên sư mày! Hột máu của mày ấy! Cái giống quái, giọt máu của cái giống vô ơn, cường hào áp bức bóc lột thì có. Của mày đấy. Mày giỏi mày nuôi! Nếu mày còn dính líu đến nó, bước khỏi nhà này.
Lình nhìn sững ông bố, như nhìn một loài sâu bọ chưa có tên:
– Bố có thể nói thế thật?
Ông Dậm quát:
– Tao nói thế đấy. Nó là con tao thật, nhưng một nửa con này lại là máu của cái giống nhà bóc lột, phải đào tận gốc trốc tận rễ. Nó dám bỏ tao. Tao căm cái giống nhà nó tận xương tuỷ.
– Ông bà Cử đã cứu bố khỏi chết đói. Bố quên à?
– Chuyện qua rồi, xưa rồi mày ạ. Cái gì qua rồi là để nó qua. Bây giờ là lúc phải chứng tỏ lập trường. Lập trường không rõ ràng, là mất nhà, lại ra lều lá. Mày ngu lắm.
– Vậy để chứng tỏ lập trường thì bố phải để hột máu của bố chết?
– Sống chết là việc của nó. Ra ngã ba, cổng chợ, có ai xin thì cho đi cho khuất mắt tao.
– Con hỏi lại: bố có định làm thế thật không?
Ông Dậm giơ tay, lại chực tát tai Lình:
– Thằng khốn nạn! Sao mày cứ đi bao che cho bọn bóc lột? Cút đi theo con mẹ trẻ này cho khuất mắt.
Lình ôm chặt bé Tép đang ngủ vào lòng, dợm bước ra khỏi chuồng lợn:
– Tôi tởm ông.
Một chân Lình vừa bước ra, con lợn nái từ nãy vẫn trấn góc chuồng lại hộc lên, nhảy xổ tới kéo gấu quần Lình, đứng thẳng trên hai chân sau, vươn hai chân trước và cái mõm hồng hồng đến rà sát như hôn hít trên người bé Tép.
Con lợn rên ư ử như tiếng người khóc.
Lình cúi xuống, vuốt ve con lợn nái:
– Mày chỉ là giống lợn, mà còn biết thương người. Thôi mày ở lại. Tao mang con Tép đi.
Lình bước vào nhà, khẽ khàng sợ làm bé Miên tỉnh dậy. Bỏ chiếc khăn đầu rìu xuống, vơ vội hai bộ quần áo nâu bạc màu đang phơi lõng thõng trên dây ngoài hiên nhà gói vào khăn buộc ngang lưng. Lật viên gạch kê chân cột lên, lấy mấy đồng bạc dành dụm từ những ngày đi mót lúa và cày thuê nhịn không dám ăn trưa. Đội chiếc nón rách lên đầu, Lình nhổ một bãi nước bọt vu vơ xuống nền đất, ôm con bé, quày quả bước ra đầu ngõ.
– Lình, mày bỏ mẹ mày?
Mẹ Cả lình tóc tai xoã xượi, đuổi theo khóc gọi.
Không ngoái lại, Lình đáp:
– Không ở được cái nhà này, mẹ ạ.
Bà Cả khóc lớn hơn:
– Mày đi, từ nay bố mày đánh, ai đỡ đòn cho mẹ?
Lình hơi xoay người, không nhìn vào mắt mẹ Cả:
– Mẹ khổ cả đời vì ông ấy chưa đủ, sao không biết thương xót kẻ khác, lại còn xúm tay giúp ông ta hại người?
Mặt mẹ Cả lập tức sắt lại:
– Tao quá khổ vì cái thằng bố mày. Thì tao không để đứa nào sướng. Nó trẻ đẹp hơn tao. Nó là con nhà giàu có. Thế thì bây giờ nó phải khổ hơn tao. Mày quyền gì mà nói với tao bằng giọng ấy?
Lình cười nhạt, càng ôm chặt bé Tép vào lòng, cắm cổ bước ra khỏi cổng, bắt đầu đặt chân vào con đường gập gềnh ổ trâu dẫn tới phố huyện.
Lại chao chát tiếng quát tháo chửi bới phía sau lưng:
– Thằng vô ơn bạc nghĩa kia! Tao nói thế, mà mày dám bước chân ra khỏi cái nhà này à? Mày rời cái nhà này là chết đói rục xương, tao nói cấm có sai.
Lình không quay lại, lầm lũi bước đi.
Vẫn nghe tiếng ông Dậm giục bà Cả rối rít:
– Mụ chạy ngay theo nó. Cái mẽ nó thì dám bỏ đi đâu. Hai mẹ con mụ mang con bé ra phố. Rẻ cũng được vài mươi đồng bạc. Không được ăn quà ngả ngớn ngoài chợ. Mang ngay về đây. Tiêu riêng, tao đánh tuốt xác.
Lình cắm cổ chạy, ôm con bé ướt mèm vào ngực.
Lại vẳng tiếng gọi nghèn nghẹt như bị ngạt mũi của bà Cả:
– Lình! Mày đâu rồi? Nghe bố mày nói gì chưa?
Lình nghe nói, ruột quặn thắt trong một cơn buồn nôn cố nén:
– Con nghe rồi. Mẹ Cả cứ về đi. Con cũng tính mang nó đi bán rồi mang tiền về tậu trâu. Con đi lên chợ huyện, bán xong rồi mang tiền về ngay.
Bà Cả nghi ngờ:
– Mày nói thật đấy chứ, hả thằng Lình? Mày không bỏ mẹ mày chứ?
– Vâng!
Lình vâng một tiếng thật to, rồi cắm cổ chạy gằn trên con đường gập gềnh sống trâu.
Con Tép lại tỉnh giấc, khóc ngằn ngặt trên ngực Lình.
Mắt Lình như hai hòn than bốc cháy.
Sẽ đi. Đi xa, thật xa. Mỗi bước đi là để lại đằng sau một rác rưởi.
Đi đi. Nơi không có bố mẹ. Không có người phải thắt cổ chết.
Nơi cậu không phải đổ máu đầu vì những cú đập bất thường của người cha.
Nơi sáng sáng cậu không phải nhìn mặt trời và khấn rằng ngày hôm nay, xin trời hãy cho sét đánh chết cậu và ông Dậm để cậu khỏi mang tội giết cha vào một ngày nào đó.
Lình nhớ lại. Trước mắt cậu chập chờn cái đêm mà cậu chợt tỉnh giấc, nhận ra mình đang đứng trước chiếc giường của ông Dậm. Cậu cầm con dao, nhìn trừng trừng vào cái cổ thô bỉ như cổ trâu.
Cậu nhớ, cậu đã cố ghìm hết sức, để giữ cho cánh tay phải không vung lên.
Nhưng một sức mạnh man dại, như từ đâu đó, sai khiến. Một cơn điên khùng không thể nào kiềm chế. Như một lằn chớp rạch sắp nổ ra.
Cậu nhìn cái cổ và đôi bàn tay của người cha. Cái cổ họng đó bây giờ thì ngoan, nhưng ban ngày thì từng hô hét để trói người vào cọc bắn, từng hô đập người chết phọt óc, từng chửi bới mạt sát cậu, mẹ Cả và mẹ trẻ Phượng, tục tằn không thiếu một lời nào bẩn thỉu.
Và cái đôi bàn tay này, đặc biệt, cái bàn tay phải này, mười đầu ngón tay toè ra như vồ đập đất, khốn khổ vì gần hết một đời nghèo hèn lam lũ.
Cậu đã có lúc ngồi khóc vì ngồi thương cái bàn tay dị dạng lam lũ khốn khổ đó.
Vậy mà bàn tay đó lại thường xuyên tạt tai, đánh đập cậu. Bất thình lình như một con rắn hổ mang bành. Bất cứ lúc nào. Phản trắc như một con rắn. Và cũng bàn tay ấy, đã nhiều lần trói mẹ Cả vào gốc cau. Cũng đã nhiều lần đánh đập mẹ trẻ Phượng.
Toàn thân Lình run lên.
Cậu nhìn chằm chằm vào cái cổ.
Bỗng cậu thấy sợ hãi, tháo mồ hôi lạnh.
Cậu luyến tiếc rời mắt khỏi cái cổ.
Nhưng cậu lại luyến tiếc đưa mắt vào cánh tay phải và đóng đinh cắp mắt vào đó, không thể rời ra được.
Con dao cậu vung lên.
Ta sẽ chặt cái bàn tay này. Chặt đi, để bàn tay này không thể tác quái được nữa.
Con dao ngập ngừng.
Ngập ngừng. Rồi vung lên.
Bỗng có một bóng đen bước nhanh tới sau lưng.
Bóng đen đó lẹ làng giữ chặt lấy cánh tay Lình.
Sự bất ngờ làm Lình rụng rời cả chân tay.
Cậu há miệng định kêu lên.
Nhưng bóng đen đã thọc cả nắm tay vào miệng Lình, chặn nghẹt, không cho tiếng kêu thoát ra khỏi miệng.
Lình mắc cứng họng. Giẫy giụa. Hung hăng vừa cắn vừa nhìn xem kẻ nào cả gan.
Thì thấy một đôi mắt thật buồn.
Rọi nhìn thăm thẳm vào mắt Lình.
Mẹ trẻ Phượng.
“Đừng!”.
Mẹ trẻ thì thầm.
“Đừng có điên rồ thế!”
Rồi rút nắm tay bé nhỏ rớm máu vì vết răng cắn ra khỏi họng Lình.
Lình rũ người xuống, con dao rựa rơi trên mặt đất.
“Tôi sẽ giết ông ta, nếu ông ta còn đụng đến tôi hoặc mẹ trẻ!”
Lình bỏ đi, miệng bất chợt nhai nhóp nhép.
Cái đêm ấy qua đã lâu rồi. Cách đây bảy tháng.
Lình cúi xuống, ngắm nhìn bé Tép.
Cậu chợt mỉm cười, nhìn cái miệng bé xíu mà đã phảng phất giống đôi môi hồng của mẹ trẻ Phượng. Lòng cậu lại đau nhói. Giá như đứa bé này là con của cậu và mẹ trẻ Phượng!
Mười sáu tuổi, nếu người ta được ngủ với đàn bà, liệu người ta có con không nhỉ?
Chợt nơi chót lưỡi cậu, rồi trong họng, cồn cào cái vị của nắm tay bé nhỏ đã chặn họng cậu đêm nào.

Chương 4: Cậu cả và cậu Út

Biệt thự của ông Thạc.
Chiếc máy lạnh Sanyo cỡ lớn vẫn mở.
Hai cánh cửa sổ, thay vì đóng chặt, thì khép hờ.
Có tiếng reo vè vè của đám ruồi nhặng, đang lồng lộn náo nhiệt hết tản ra lại tụ vào nơi chiếc giường gần cửa sổ.
Nghe rất rõ tiếng vo ve đắc thắng của chúng, bốc lên sự no nê, giữa chiều chạng vạng.
Tiếng vo ve toé ra từ những cặp cánh mỏng trong suốt được nâng đỡ trên bầu không khí đặc sệt mùi xú uế của căn phòng. Đám mây ruồi nhặng đen mốc, quầng vẩn lên trong không khí, trông chẳng khác gì như một lớp váng nổi bềnh lên trên mặt nước vào những ngày động trời khiến mặt ao tù hãm bỗng đổi màu.
– Đầu óc ông già để đâu? Máy lạnh thì mở hết cỡ, cửa sổ lại không đóng!
Cậu Cả lẩm bẩm, nhấn chuông liên tục. Theo sau cậu là người nhà, mang theo hành lý lỉnh kỉnh gồm quần áo, tư trang vật dụng và những đồ đạc mới mua sắm sau chuyến đi nghỉ cuối tuần ở Singapore.
Mọi người đều sốt ruột, chỉ muốn ào thật nhanh vào ngôi nhà được trang bị hệ thống máy lạnh hiện đại nhất và những bồn tắm dát vàng để chạy trốn cái nóng mùa hè đang hầm hập đuổi theo sau lưng.
Nhấn chuông hàng mấy chục lần, cánh cửa vẫn đóng im ỉm, cậu Cả nhíu mày tỏ vẻ căng thẳng. Chợt cậu nhìn theo đám mây ruồi nhặng đang bay nơi cánh cửa sổ hé mở với vẻ nghi hoặc. Trong khi đó, cậu Út thì cười phớ lớ:
– Gọi điện thoại di động, ông già không trả lời. Bây giờ bấm chuông hàng chục lần, ông già không mở cửa. Có khi ông già đang nhốt bồ trong nhà nhỉ?
Cậu vừa nói vừa nheo mắt nhìn mẹ, ra dáng trêu chọc đắc ý.
Bà mẹ còn trẻ, ăn mặc rất diêm dúa, đeo đầy kim cương và hồng ngọc, tỏ ra rất tự tin:
– Ông già mày có nhốt bồ trong nhà là may cho tao đấy. Tao sẽ có cớ để đi “ăn nem”. Mày chịu không?
Hai cô con dâu thú vị trước lời đối đáp rất chịu chơi của mẹ chồng, cười ầm lên hưởng ứng:
– Ông cứ liệu đấy ông con giời ạ. Ông đừng có tưởng là cánh đàn bà chúng tôi suốt đời chỉ có ôm chân chồng, không biết ăn miếng trả miếng đâu nhé…
Trong nhà, vẫn vẳng ra bản nhạc I love you ngọt ngào. Tiếng cô ca sĩ mượt mà và năn nỉ. Cậu Út nhìn cậu Cả, cười mỉm ý nhị.
Cửa vẫn không mở.
Cậu Cả sốt ruột bước tới, bấm mã số “Con mắt thần” ở cửa mở. Có thể nhìn vào phòng khách. Phòng khách lộng lẫy, trật tự ngăn nắp và sạch bóng, không hề bị xáo trộn. Cậu Cả yên tâm, rút máy bộ đàm, gọi vào nhà.
Trong nhà vẫn im thít.
Cậu Cả linh Cảm thấy bất thường.
Cậu nói:
– Không thể thế này được. Ông già bao giờ cũng đúng hẹn. Biết đâu ông già bị cảm, nằm một mình trong nhà không ai biết!
Bà mẹ bắt đầu lo lắng:
– Thằng anh mày nói đúng. Phải phá cửa vào nhà xem có chuyện gì xẩy ra. Chỉ tại bố mày, nói mãi mà không chịu thuê người giúp việc. Khi cả nhà đi vắng, ở một mình, có trái gió trở trời thì ai lo…
Cậu Út lườm mẹ:
– Không phải ông già không muốn thuê vệ sĩ đâu. Mẹ biết đấy. Ông già không muốn ai biết ông có chiếc đệm vàng… ông đang đương chức. Cán bộ là đầy tớ của nhân dân. Đầy tớ nằm đệm vàng, chủ nhân ông nằm chiếu rách. Tai vách mạch rừng, bọn nhà báo mà biết thì… đi tong.
Cậu nôn nóng đi xuống tầng hầm, nơi nhà kho cạnh garage auto, đem lên một chiếc xà – beng, một búa và một kìm vạn năng.
Cậu Cả và cậu Út hè nhau cậy cửa.
Sau một hồi loay hoay, cánh cửa bật mở
Từ trong nhà oà ra, xộc vào mũi mọi người một cái mùi ngòn ngọt lờm lợm như mùi thịt ôi.
Cái mùi khó tả đó khiến cả bầu đoàn thê tử thấy rờn rợn, liền đi tìm quanh quất, rồi xô vào phòng ngủ, nơi đám ruồi nhặng thấy động, đang vù vù bay tứ tung ra khỏi cửa phòng, hốt hoảng đập cả cánh vào mặt người rồi rụng lả tả xuống sàn nhà.
Cảnh tượng bày ra trước mắt khiến vợ ông Thạc ngã xuống ngất xỉu.
Hai cô con dâu thì khuỵu xuống rồi bò trở ra, không nói nên lời, miệng nôn thốc tháo.
Cậu Cả và cậu Út há hốc miệng, không kêu nổi.
Ông Thạc nằm trên giường.
Máu ông Thạc từng giọt từng giọt nhiễu qua những thoi vàng.
Vô số thoi vàng ken sít nhau tạo thành mặt đệm chói lọi hoà với màu đỏ sẫm của máu.
Một màu vàng ảm đạm phản chiếu trở lại trần nhà lộng lẫy. Ánh sáng tán xạ lên gấp cả chục lần ánh chói loà của những thoi vàng trong bức tranh pha lê khảm hình thiên thần bằng vàng và những đám mây hồng.
Vàng không thấm máu.
Máu chuội đi từng giọt lưỡng lự rồi lăn tròn. Chúng chờ nhau trên mặt đệm vàng, lưỡng lự nhập thành những đường rãnh nhỏ. Những rãnh nhỏ tìm chỗ thấp mà chảy, âm thầm rỉ xuyên qua lớp đệm dày.
Máu nặng nhọc nhiễu xuống sàn nhà gỗ mun, nhuộm màu đen mờ của gỗ, hoà với màu đỏ sẫm của máu thành một màu đen như màu máu đỉa. Hệt một miệng cống ùn tắc bởi rác rưởi, máu đọng thành vũng trên nền nhà và đã bắt đầu quẹn khô, mép vũng đã cong gồ lên viền lấy những vũng máu.
Bức tranh pha lê trên trần phản chiếu gương mặt người chết.
Đôi mắt ông ta trợn tròn như kinh ngạc. Lông mày hình dấu ngã. Hai hàm răng nghiến chặt. Đôi môi trắng nhợt nhành ra, nhường chỗ cho đôi hàm răng dày, đều, ken sít như nanh sói.
Trên thi thể, màu xanh nhợt của xác chết đã ăn hết đôi bàn chân, thành màu vàng sáp. Màu xanh nhợt ăn lên đôi bàn tay, trở thành như đôi miếng lót đế giày bằng cao su sơ chế thô thiển.
Trên bộ pyjama bằng lụa Myanma màu vàng thổ, bàn tay phải của người chết giơ lên khum khum ngang mặt, như muốn che đỡ, như muốn xua đuổi. Trong những ngón tay trái co quắp còn nắm chặt một bức thư không nhuốm máu.
Màu xanh nhợt ăn lên tinh mũi, thành một vệt đen như con giun đất vắt ngang mặt ông Thạc.
Cả nhà chết điếng người. Không ai bảo ai, đều trợn trừng trợn trạc nhìn chằm chằm vào chiếc đĩa CD siêu mỏng màu đỏ đang cắm gần ngập vào cổ ông Thạc rồi dáo dác ngó quanh.
Trong phòng ngủ rộng đến cả trăm mét vuông này, giữa ngôi nhà nhiều góc khuất của biệt thự yên tĩnh, giữa khu phố dày đặc công an canh gác và rào dây thép gai điện tử này, cái chết của ông Thạc là một nỗi kinh hoàng rợn ngợp. Mùi tử khí ám vào từng người, bám chết vào da thịt.
Cậu Cả quay phắt lại. Cậu cảm thấy nhột lạnh đằng sau gáy. Cậu nhìn quanh tứ phía. Táo tợn hơn anh, cậu Út lấy lại bình tĩnh rất nhanh và đi lục soát khắp các phòng để tìm dấu vết của thủ phạm. Cả nhà chìm trong không khí hãi hùng. Dường như kẻ giết người vẫn còn lẩn khuất đâu đây, dõi theo nhất cử nhất động của những kẻ trong nhà này và cái chết sẽ thình lình giáng xuống bất cứ lúc nào.
Không có gì để đảm bảo rằng sẽ không có một lúc bất kỳ nào đó, một đĩa CD siêu mỏng màu đỏ tương tự sẽ không chém phập vào cổ họ, sắc lẻm còn hơn cả lưỡi máy chém của đao phủ.
Ngay cả tiếng ruồi nhặng cũng biến đi.
Rồi chợt vỡ oà tiếng nức nở, tiếng gào của vợ ông Thạc và hai cô con dâu.
Cậu Út cũng đã kịp gỡ bức thư giữa những ngón tay co quắp của ông Thạc và bắt đầu đọc.
Cậu Cả run lẩy bẩy, cố rút chiếc đĩa CD ra khỏi cổ bố.
Nhưng chiếc đĩa cắm quá chặt, cắm sâu cả vào đốt xương sống ở cổ. Dù đã dùng hết sức bình sinh, ngã bật ngửa về phía sau, sức vạm vỡ của cậu chỉ đủ để vặn chiếc cổ của ông bố ngật sang một bên. Dòng máu thoát ra từ chỗ vết thương nơi cổ, bị chặn lại bởi chiếc đĩa CD, bây giờ có chút kẽ hở, liền thoải mái trào ra, chảy nốt xuống đệm vàng.
Cậu Út càng đọc, vẻ mặt càng xanh tái.
Cậu sững sờ nhìn chiếc đệm chói lói. Nhìn xác ông Thạc nằm đồ sộ, cứng đờ, tanh tưởi trên giường.
Cậu đột ngột nghiến răng đấm mạnh tay xuống giường:
– Tao thề lột da mày!
Cậu lao bổ tới máy điện thoại đặt trên chiếc đôn làm bằng gỗ đàn hương chạm trổ hình đầu rồng đặt ngay cạnh giường người chết, cạnh một chiếc đĩa cũng bằng pha lê viền vàng trên có chỏng trơ một chiếc thìa, một nĩa và món yến hầm đang ăn dở.
Cậu hối hả bấm máy.
Cậu Cả mặt sắt lại, mắt ngầu tia đỏ.
Cậu lao tới dãy tủ tường, đột ngột mở toang các cánh cửa. Cậu muốn một lần nữa chắc chắn rằng không phải hung thủ đang lẩn khuất trong nhà.
Những ngăn tủ vẫn y nguyên. Vẫn xếp theo thứ tự, ngăn nắp, chặt chẽ những đồ đạc quý giá và quần áo đắt tiền của ông Thạc, cùng những phong bì lớn đầy đô la, và những gói quà tặng chưa mở ra.
Nghe tiếng bấm máy điện thoại, cậu Cả vội sững lại, lao tới chặn tay cậu em.
Cuộc giằng co khiến chiếc điện thoại rơi xuống, cái đôn gỗ đàn hương đổ đánh rầm.
Cậu Cả rít trong kẽ răng:
– Gọi cảnh sát? Mày thôi cái trò ngu xuẩn ấy đi!
Cậu Út tức tối, dùng đôi tay vạm vỡ đẩy ông anh trai ngã ngồi xuống sàn:
– Ông không muốn tìm ra đứa giết cha à? Sao ngăn tôi?
Cậu Cả đứng lên, vuốt lại nếp áo, khinh miệt nhìn ông em:
– Cha đằng nào cũng chết rồi. Cảnh sát có đến cũng không làm sống lại được. Mày hình dung xem có vui không, khi cảnh sát đến đây, nhìn thấy bức thư, cái đệm vàng này và cái đĩa CD khốn kiếp này?
– Cảnh sát không nhìn thấy, làm sao lột da nó? – Cậu Út đáp, không kém khinh miệt.
– Mày thích cảnh sát biết những chuyện về ba mà quân giết người đã viết trong bức thư chó chết này?
– Cảnh sát biết thì đã sao? Ta sẽ nói là vu cáo! Rồi tôi sẽ đập tan xương cả ba họ nhà chúng cho ông xem!
Cậu Cả lại cười thương hại:
– Tiếc thay, tất cả lại là thật. Những điều mà kẻ giết người viết trong đó là thật, không ai nêu lên thì thôi, chứ nêu lên là có chứng có cớ chết người ngay đấy cưng ạ.
– Kiểm tra được thì sao? Ông ấy chết rồi, ai bắt được người chết chịu tội?!
Cậu Cả vằn mắt:
– Mày đúng là đứa ngu xuẩn. Ba chết. Muốn tìm ông ấy, Cảnh sát cứ chui xuống ba lớp đất đen mà tìm. Nhưng còn cái nhà này. Còn tao và mày và mẹ, và bao nhiêu của cải, đất đai, mỗi thành phố trong cả nước này, ở ngã tư ngã bảy đều có một cái nhà của ba mang tên mày, tên tao, tên cháu họ, còn bao nhiêu thứ tài khoản ở nước ngoài… Người ta điều tra là phát hiện ra ngay. Mày đem xung công quỹ nhé?
– Đứa nào đụng một cái móng tay vào nhà này, tôi sẽ cho đám thuộc hạ của tôi chôn sống cả nhà nó!
Cậu Cả dựng cái đôn lên, điềm tĩnh:
– Chôn sống. Thôi được, tao biết mày có thể chôn sống nó. Nhưng sự việc sẽ vỡ lở. Bọn đối thủ của bố, của mày, của tao, lâu nay thèm rỏ dãi, muốn hất cẳng chúng ta, uất nghẹn vì chưa có cơ hội, thì sẽ nhân việc này mà trỗi dậy, róc xương tao và mày ra nấu cao.
Cậu Út ngớ người.
– Mà việc lớn của tao chưa thành. Tao đang phải ẩn nhẫn chờ thời. Rồng đang náu là rồng yếu. Rồng chưa bay lên được. Khi rồng chưa bay được, rồng nhẽo nhèo, bị đập khẽ là chết. Lâu nay ba còn sống, cũng như bức tường thành bảo vệ con rồng. Nhưng nay ba chết rồi, phải tiếp tục ẩn nhẫn chờ thời, nhóc ạ.
Cậu Út khùng khịu:
– Bao giờ mới đến thời của ông?
Cậu Cả sải bước, hăng hái đi lại trong phòng:
– Khi nào à? Tao đã chuẩn bị. Tao đã lo liệu và cài đặt sẵn chương trình và bệ phóng. Không lâu nữa đâu. Khi rồng đã bay, của cải của một nửa nước này thuộc về tay ta. Ông phá gia chi tử ơi! Báo cảnh sát ư? Không ai ngu bằng mày. Việc lớn chưa thành, báo cảnh sát là tự đưa tròng vào cổ đó.
Cậu Út gật gù, nhưng lại sôi lên tức tối:
– Không báo, ai sẽ tìm được đứa giết cha để trả thù này?
– Có những người bí mật chuyên làm việc đó cho những người có tiền như chúng ta đấy, ông trời con ạ! Thời nào cũng thế, người có tiền muốn lật béng cả quả núi cũng chỉ là chuyện bằng cái mắt muỗi. Có những người ăn lương trong hệ thống điều tra, trong hệ thống toà án, trong viện kiểm sát, dùng phương tiện trang bị của nhà nước mà có thể làm theo bất cứ yêu cầu nào của ta, và có cậy răng cũng không tiết lộ điều gì, vì sao mày biết không?
– Vì đã há miệng mắc quai.
– Giỏi. Ít ra, đi theo ba lâu ngày, mày cũng có học được đôi điều. Thế đấy. Giai cấp của mày và tao và ba tồn tại, phè phỡn, ăn tiêu vô bờ, kẻ nào tố cáo, phần lớn cũng chỉ như đấm bị bông, trăm vụ thì chín mươi chín vụ không ai giải quyết, là vì người cùng giai cấp thống trị thì phải kết lại thành thành luỹ.
– Đúng! Giai cấp thống trị cả nước! Đoàn kết lại!
Cậu Cả lườm:
– Mày đừng đùa. Đúng thế đấy. Đã là như thế. Bọn dân đen không có cách gì chọc thủng thành lũy. Nếu để một đứa nào đó chọc thủng thành luỹ, thì dứt dây sẽ động rừng. Như thế sẽ làm cho lũ dân đen lại tưởng lầm rằng chống tiêu cực cũng có người chịu giải quyết, đâm ra chúng hy vọng, suốt ngày hết kêu oan lại tố cáo, sinh ra bao nhiêu phiền toái. Nhưng cũng không thể chủ quan, nhất là khi ba vừa chết. Dù sao, chúng ta vẫn như cái gai trước mắt bọn điều tra và lũ dân đen. Mày phải biết là chúng nó không mù. Chúng nó tinh tường lắm. Ba đầu sáu tay cơ đấy.
Cậu Út hằm hè:
– Ba đầu sáu tay gì cái lũ nghèo kiết mùng tơi. Lũ chúng cứ nhao cả lên. Có vụ báo chí gọi là “tham nhũng” tầy trời, hồi trước bọn chúng tưởng đã đưa được bố vào tù, nhưng rồi chịu thua ông già hết. Ông anh không thấy bọn tố cáo và vài thằng nhà báo hăng máu bị vào tù sau vụ của ba đấy à?
– Mày rốt cuộc cũng chỉ là thằng nông cạn. Ông bán giời không văn tự à. Mày thì cứ lo ăn chơi. Còn tao và ba chạy bở tóc gáy, một tay tao dàn xếp đằng sau hết. Chi cũng nhiều. Nhưng chỉ là con muỗi so với tài sản của ba. Trong vụ này, phải kể đến bàn tay của ông Dậm bạn của ba và ông Hai, ông Ba. Tao rất khoái vì đưa được mấy thằng nhà báo đi tù vì tội vu cáo cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, trong khi chúng nó đăng báo đều là sự thật.
– Ông anh giỏi!
– Thế đấy! Điều quan trọng của những người như ba và chúng ta là đứng thành một dây chuỗi quyền lực, sau đó biến của những người trong hệ thống từ trên xuống dưới thành một chuỗi chấm mút, thì không ai dám tố cáo cả. Vì há miệng mắc quai, vì đói khổ nên phải tìm cơ hội để chấm mút, vì đấu tranh thì tránh đâu, dưới gầm trời này đụng đâu cũng là chúng ta. Hung thủ dù có giết, giết sao xuể được. Giết ông Thạc này rồi thì đẻ ra hai ông Thạc con lên thế chỗ…
Mặt cậu Út tươi lên. Cậu Cả đã kê xong cái đôn, đặt máy điện thoại lên ngay ngắn như ban đầu, rồi nói tiếp:
– Vì thế, mày hãy án binh bất động. Tao không bao giờ quên bất cứ một mối thù nào, dù chỉ bằng sợi tóc. Việc đó để tao lo. Việc của mày là trấn an mẹ và cái đám đàn bà kia. Với cơ quan ba và bàn dân thiên hạ, ta thống nhất báo là ba bị cảm bất ngờ, xuất huyết não đột tử. Rồi đây sẽ có bác sĩ làm cho cái giấy đó.
Cậu Út càng nghe, càng thấy ông anh mình cao kiến.
Cậu cảm thấy yên lòng. Ông anh khôn ngoan của cậu sẽ che chở được cho cậu và cái gia đình này cùng đám thuộc hạ của bố. Ông ta sẽ lấp được chỗ trống do ông bố nghiêng trời lệch đất của họ vừa bị giết và ông anh cậu sẽ còn thành đạt hơn cả bố cậu, sẽ tàn nhẫn hơn và tích cóp được nhiều hơn bố cậu.
Cậu yên tâm đưa bà mẹ và đám vợ chân dài sang phòng bên, cho uống thuốc trợ tim và hít long não, dặn nhất nhất không được than khóc thành tiếng trước khi cậu và anh Cả bàn soạn xong thời điểm loan báo cho hàng xóm và cơ quan biết tin ông già bị cảm chết.
Sau khi nghe phân tích điều hơn lẽ thiệt, vợ ông Thạc thấy con Cả tính toán mọi việc thật không chê vào đâu được.
Vốn là một người có bản lĩnh, bà Thạc điềm tĩnh đi thay quần áo, kiểm tra mãi trước gương xem đôi mắt có bị xấu xí đi sau khi khóc chồng không, rồi lên giường nghỉ. Mọi sự đã có cậu con Cả khôn ngoan và con Út lo liệu, đối đãi với thiên hạ.
Bà nhẩm tính, ông Thạc chết thì bà được gì và mất gì. Mất người chồng quyền thế nghiêng lệch thiên hạ. Mất một cái máy nhả ra tiền mà bản thân bà hoặc ông Thạc cũng thực sự không biết được đó là bao nhiêu tiền. Bởi vì tiền đó đến từ vô số nguồn. Phong bì phong bao có vô số kiểu. Từ cỡ một hai triệu của đám viên chức thuộc hạ cho tới vài tỉ đồng từ đám chạy dự án hoặc chạy chức chạy quyền. Tiền đó có thể đưa trực tiếp, nhưng càng ngày việc đưa trực tiếp càng ít đi, mà thay vào là chuyển qua tài khoản tại ngân hàng Thuỵ Sĩ. Thích nhất là tiền không thể tính được, nằm trong những mảnh đất, những ngôi nhà vị trí hái ra tiền, chỉ cần buông một lời thì đám tìm đất mở văn phòng đại diện nước ngoài hoặc mở siêu thị đã sẵn sàng chi ra vài chục tỉ để giữ chỗ. Chưa kể những quyền lợi và thần thế khác, việc mất ông Thạc là thiệt hại không thể bù đắp được.
Nhưng cũng may, ông Thạc, dù vốn xuất thân từ nông dân, do chịu khó học hỏi chuỵên đời và kế buôn vua của Lã Bất Vi mà lên, nhưng được cái lo xa, biết rằng nếu hoạnh phát thì sẽ có ngày tổn thọ hoặc sẽ có một cái hoạ trời giáng bất thình lình. Ông đã tính toán cài sẵn vị trí cho cậu con Cả, dạy cho nó cách ẩn nhẫn chờ thời, để chuẩn bị lên thay bố hoặc rồi sẽ lên chức cao hơn. Vì thế, nếu ông Thạc có chết hoặc mất chức giữa chừng, quyền lực và tiền của của gia đình ông cũng không bị hề hấn gì đáng kể.
Bà Thạc ngả người xuống chiếc đệm mát lạnh. Bà thấy lạ. Lẽ ra, bà phải rất đau đớn trước cái chết của chồng, hoặc chí ít cũng phải nhớ tiếc. Nhưng không hẳn thế. Không đau đớn như bà tưởng. Thậm chí, còn cảm thấy nhẹ nhõm bên cạnh sự hụt hẫng.
Đó là cảm giác của một người đầy tớ hạng sang vừa được lên làm chủ, vì người chủ vừa chết hoặc bỏ đi mất. Bây giờ, bà là chủ tài khoản. Là chủ của hàng loạt những tài sản nằm trong ngân hàng, trong bất động sản, thứ mà trước đây chỉ ông Thạc mới có quyền quyết định chúng.
Trước đây, bà tha hồ ăn tiêu, nhưng vẫn ấm ức vì ông Thạc lại có không biết bao nhiêu cô nhân tình ở các thành phố lớn trong cả nước, để đi công tác ở đâu thì có nhân tình ở đó chiều chuộng, vừa đỡ mang tiếng đi chơi gái bằng tiền ngân sách như nhiều ông bạn còn thấp tay của chồng bà, lại vừa đảm bảo ngăn ngừa được bệnh tật.
Bà cũng biết rằng không thể làm gì được sở thích dâm dục của ông chồng, nhưng bà không chấp, vì biết rằng ông ta là kẻ ăn thùng uống vại, rượu cả vò chó cả con, gặp gái nào lọt vào tầm mắt cũng vồ lấy, chơi hết trẻ không tha già không thương rồi chẳng nhớ ai bao giờ.
Ông ta dù giàu có vô kể, nhưng trong người không có lấy một chút máu hào hoa nào để ăn chơi cho sang trọng, chẳng qua cũng chỉ vung tiền theo kiểu trọc phú, thu phục được hạng đàn bà con gái hời hợt, đàng điếm. Cái cô nhân tình mà bà thấy khả dĩ nhất, là một cô thư ký tại tỉnh Hà Tĩnh, chưa học hết cấp ba, mua được bằng Tiến sĩ rởm về Văn hoá quần chúng. Vốn xuất thân từ đoàn ca múa của tỉnh, nhờ ông Thạc mà lên được chức Phó Giám đốc Sở Văn hoá Thông tin nhưng cô ả vẫn giữ cái thói đong đưa rất hàng chợ trong ứng xử và trong công việc. Vì thế, quan khách đến tỉnh làm việc với Sở Văn hoá, lại cứ ngỡ ngàng tự hỏi đây là bà Phó Giám đốc Sở hay là bà chủ nhà nghỉ bình dân.
Bà Thạc biết, dù mất cái máy in tiền là ông Thạc, nhưng tiền của ông để lại cũng đủ tiêu thêm mấy kiếp nữa. Ông chết đi, bà không còn phải nơm nớp lo ngày ông vào tù nếu sự việc bị phanh phui. Gia đình cũng thoát nạn bị bêu tên trên báo chí vì phát hiện ra tội tham nhũng. Chẳng có ai dựng người chết dậy để truy tố cả.
Bà Thạc ngủ thiếp đi, trong khi cậu Cả và cậu Út ngồi toan tính. Cậu Cả mở tủ rượu, lấy một chai X.O hạng nhất, được đặt ở nơi dành riêng cho ông Thạc. Thực ra X.O không phải là loại rượu sang nhất. Nhưng đó là sở thích của ông Thạc. Những chai rượu X.O, theo ông Thạc, là quyền lực của ông chủ gia đình.
Cậu Cả không thích rượu X.O. Cậu tu một ngụm, rồi nhăn mặt. Cậu ưa một loại rượu tinh tế hơn, pha trộn nhiều hương vị. Nhưng từ nay, cậu sẽ uống X.O. Cậu đặt chai rượu vào vị trí cũ, rồi nhấn mấy nút trên điện thoại di động
– Ông Hoàng này, có việc gấp. Đến đây ngay, mang theo đồ nghề. Ông già tôi…

Chương 5: Bụi thằng quỷ

Ông Dậm cởi nút dây thừng, gỡ xác mẹ trẻ Phượng xuống.
Ông vác thi thể Phượng ra khỏi chuồng lợn, đặt thịch xuống giống cái kiểu người ta ném bao thóc. Thi thể Phượng như duỗi ra, như vươn vai, nằm dài trên mặt đất vương vãi những mớ rơm đã bị xéo nát dưới mấy chục đôi bàn chân tò mò.
Đám người đứng xem đã tản đi.
Bà Cả, thằng Hai, thằng Ba, con Tư, con Năm, con Sáu, con Bảy và đám hàng xóm đã tản đi, ai lo việc nấy dưới cái trừng mắt của ông Dậm.
Còn lại một mình, ông Dậm lom lom ngắm nhìn thi thể Phượng.
Hôm qua Phượng ở trong tay ông. Tưởng đã bị khoá chặt, như con mồi nhỏ bé bị ngậm trong cái miệng rộng ngoác lởm chởm răng của một con cá sấu, không cách gì thoát ra được. Thế mà hôm nay, Phượng đã nằm đó, xa lạ, thây còn tươi như bó lúa trĩu bông vừa cắt khỏi cây.
Ông Dậm nghĩ: Thật phí của! Lúa đã gặt thì có thể đem phơi khô, cho vào cối xay rồi giã ra thành gạo mà ăn. Nhưng người chết thì thật vô dụng. Cái thây không thể đem đi xay giã dần sàng mà nấu thành cơm được.
Nằm đó. Trĩu ghìm cả chiếc lưng ong, cả bộ ngực cũng như bị hút trĩu xuống mặt đất. Vuột khỏi tay ông. Mắt mở lên trời, trêu chọc, thách thức, chơi vơi bên ngoài.
Xa xăm.
Con người đó đã không còn giật mình thon thót trước mỗi giọng e hèm hoặc tiếng khạc nhổ của ông. Cũng không thèm co rúm lại trước những cái vòng tay ôm quàng bất chợt, bị bất thần vít xuống phản, hoặc đè nghiến xuống mặt đất, bất kể lúc nào ông lên cơn. Cũng không thèm nhăn mặt ghê sợ nữa, như những ngày đầu, khi ông hùng hục ụp lên Phượng cái thân mình nồng nặc mùi bùn già, mùi mồ hôi, mùi tỏi, mùi cá mắm mặn chát, mùi chấy rận, mùi khoai sắn, mùi lưu cữu lại từ cơn mây mưa lần trước của ông.
Ông Dậm dường như không bao giờ chán, không bao giờ nguôi vợi cái ham hố sùng sục đổ sập xuống, bất kể lúc nào, lên tấm thân nõn nà, luôn man man mùi thơm dài dại của lá cỏ mần trầu, hoa nhài buổi sáng, hoa hồng ban đêm và mùi ngọt ngào thảm thương của cánh hoa đỗ trun đã rủ xuống cuối ngày.
Cái thân mình đó, từng nằm bất động, mắt nhắm chặt và răng nghiến chặt, không kêu một tiếng, rung chuyển trước những cái dập xuống liên hồi như đập đất từ cái mông đầy sẹo thâm, sẹo lồi, nồng nặc mùi bùn già.
Ông Dậm luôn vừa mê mệt, vừa căm giận trước vẻ mặt câm lặng, làn môi mím và đôi mắt nhắm nghiền của Phượng. Đôi môi chỉ còn là màu tro của cánh hoa hồng đã tái nhợt vì bị giam hãm dưới tấm thân hộ pháp của ông.
Đó là một gương mặt luôn dè chừng, luôn để chịu đựng tra tấn, không hé một tiếng kêu rên, xin xỏ. Một gương mặt mà mỗi lần bị kéo vào cuộc hành lạc của ông là một lần dọn mình để chết.
Có lần, sau khi đã thoả mãn, ông nằm vật ra thở hồng hộc. Ông gác bộ mông nặng lên người Phượng. Ông khoá chặt người Phượng bằng cặp đùi và xoắn chặt bằng đôi cẳng chân dẻo như dây chão. Ông không cho Phượng tuồn ra khỏi chỗ nằm. Khi đã yên tâm, ông lập tức ngáy khò khò. Rồi chỉ trong vòng ăn dập miếng trầu, ông đã tỉnh dậy.
Ông cảm thấy bất an, bất giác cau mày, rồi hấp tấp nhổm người lên, nhìn vào mặt mẹ trẻ Phượng.
Đôi mắt Phượng nhắm nghiền. Câm lặng. Thân thể loã lồ không buồn che đậy. Như một người đã chết.
Ông bỗng thấy nhục nhã. Hoá ra, cái con người đó, dù ông đã cướp về, nhốt trong nhà, dù đã dùng trăm phương ngàn kế, vẫn cách biệt, xa vời, một thế giới khác, dù bị hành hạ khổ hình, mà vẫn thuộc về chính cô ta. Không hoà vào ông. Không thuộc về cái thế giới chấy rận, húp soàn soạt và thô bỉ.
Ông hùng hổ vùng dậy, véo mạnh vào đôi má tái nhợt như đã chết.
Một bên má Phượng lập tức đỏ bầm, in hằn vệt ngón tay ông, còn rõ ràng cả cái vệt ngón tay trỏ ngắn ngủn và thô bằng quả cà trên má. Ông nghiến rít qua kẽ răng:
– Sao mày lúc nào cũng câm như hến?
Mẹ trẻ Phượng vẫn nằm im thít.
Một cái véo chết điếng người nữa. Từ bàn tay trái. Ông Dậm cười gằn:
– Mày vẫn câm! Thì tao cho nốt má bên này vều lên nữa cho xứng.
Một dòng máu ứa ra từ đôi môi đẹp, chảy xuống chiếc cằm nhỏ, trông tội nghiệp như cằm trẻ nít và trông càng nhỏ nhắn, lút đi giữa đôi má đã bắt đầu sưng lên:
– Giết tôi đi!
Ông Dậm cười:
– Tao không ngu. Giết mày, tao ngủ với ai. Ngủ với mày sướng lắm!
– Tôi buồn nôn vì ông!
Ông Dậm cười khằng khặc:
– Mày cứ tha hồ buồn nôn. Mày nói gì cũng mặc. Mày càng cưỡng lại, tao càng hứng.
Ông lại lật người lên, ụp xuống Phượng, vục mặt ngoạm vào đôi môi nhoèn máu:
– Sao mày không khóc đi! Tao thích mày khóc. Mày thật ngang ngạnh quá. Mày khóc thì đẹp hơn. Tao thích thấy mày ướt nhoèn những nước là nước. Nhất là những lúc thế này!
Mẹ trẻ Phượng giọng lạc đi vì làn môi đã bắt đầu sưng lên, ngạt trong những bụm máu tụ trong miệng:
– Tôi sẽ giết ông! Đồ chấy rận!
Ông Dậm cười hân hoan:
– Mày mà giết tao ư? Đồ tiểu thư người mỏng như lá, trói gà không chặt!
Bây giờ thì Phượng nằm đó. Không còn thon thót giật bắn mình trước mỗi cử chỉ và lời nói của ông.
Đôi mắt vô hồn Phượng ngửa lên trời, lòng trắng mắt vẫn xanh biếc, tròng đen in hình bầu trời cao rộng. Những đám mây xanh và mây trắng trên bầu trời rực rỡ, non tơ óng chuốt buổi sáng, nối nhau bay trong tròng mắt xanh lơ, bất động, như một tấm gương thanh thản bao dung tất cả bầu trời xa xăm.
Trong tròng mắt này không có ông.
Chưa bao giờ trong tròng mắt ấy có ông cả. Điều đó luôn làm ông nổi điên.
Phượng lúc sống đã không thèm nhìn ông, dù là nhìn khinh miệt hay căm hận. Ông Dậm biết, trước đây Phượng chưa bỏ trốn hoặc chưa tự tử là vì muốn ông để cho cậu em trai không bị bêu đầu trên cọc bắn. Khi người em trai bỏ trốn, thì Phượng cũng không thể chết vì đang mang cái thai trong bụng. Khi Phượng sinh ra con Miên, đứa con gái là kết quả cuộc hãm hiếp của ông, ông Dậm chắc mẩm rằng từ nay thì khỏi phải lo trông coi Phượng, vì Phượng không thể bỏ đứa con còn đỏ hỏn. Con Miên vừa mới đầy một tháng tuổi, thì Phượng đã thoát khỏi tay ông, bằng con đường đi chơi vơi với một sơi thừng trên cổ.
Con đường đó bà Cử – mẹ Phượng đã đi, để thoát khỏi đau đớn và ô nhục.
Để giữ Phượng, ông Dậm đã công phu đóng mọi cổng ngõ. Cổng ngõ kiên cố nhất là đứa con gái mới một tháng tuổi. Nhưng cánh cổng kiên cố nhất đã phải rụng xuống trước một sợi dây thừng.
Ông Dậm chưng hửng, máu trong người như có ai kề kiềng củi vào mà nung sôi lên.
Ông ngắm kỹ cái xác đang nằm sõng sượt dưới đất.
Ông lật đôi chân lên.
Đôi chân này cũng giống hệt đôi chân ông đã cưỡng hiếp lúc trước, đôi chân lồng trong đôi giầy gấm của bà Cử.
“Quân ăn cắp!”
“Nhà nó có máu thắt cổ!”
“Quân lừa đảo!”
Ông gầm lên, vung tay phải, giáng vào mặt người đã chết những cái tát liên hồi kỳ trận.
Gương mặt người đã chết như phù lên trong một cái nhếch cười. Ngạo nghễ.
Những thớ thịt rung động trên mặt. Đất rung chuyển dưới chân, rơm rạ giật mình như bèo dạt trên mặt nước.
Từ khoé miệng Phượng, như mọi lần bị ông tát vào má, lại ứa ra một dòng máu đỏ bầm.
Dòng máu nhuộm sẫm chiếc yếm, nhuộm sẫm chiếc cổ cao hằn vệt dây thừng khía sâu thành rãnh.
Dòng máu đổ xuống đất, bò dần đến chân ông Dậm.
Máu ướm vào bàn chân to bằng bàn cuốc. Thấm vào ngón chân cái ngoạc ra, như một quả cà dái dê, thò ra khỏi chiếc quần lá tọa bằng lụa, đang bấu chặt lấy mặt đất.
Những ngón chân ông Dậm lúc nào cũng bấu chặt lấy mặt đất, như cách người ta bấm chân để khỏi ngã lúc đường trơn.
Ông Dậm giật mình như phải bỏng. Lùi lại, ông đưa chân dụi lấy dụi để vào đống rơm để chùi vệt máu.
Nhưng vệt máu đã ăn vào ngón chân cái của ông, thành một vệt tím đen như miếng da chó.
Đã rất nhiều lần, ông Dậm muốn giấu đôi chân với hai ngón chân cái to dị dạng, khiến ai cũng phải để ý và không thể không nhấm nháy bình phẩm sau lưng ông. Đến khi ông đã vào ở nhà ông Cử, thừa hưởng toàn bộ quần áo và giầy dép của người đã chết, ông cố bới tìm trong đống guốc mộc và giầy dép một đôi cho vừa chân ông. Nhưng không chiếc nào có thể chứa nổi ngón chân cái của ông, cứ xoè ngang ra, to bè như một quả cà dái dê. Bực quá, ông bèn vứt cả đống giày dép vào xó bếp, đi chân đất cho khoẻ.
Thỉnh thoảng, nhìn đôi ngón chân cái của mình, ông Dậm lại thắc mắc. Ông nhớ lại câu chửi của thằng Chai, lúc hai đứa vật nhau dưới bùn để tranh bắt đàn cá diếc đang cuống cuồng lẩn trốn dưới đám rạ mùa vừa gặt:
– Thằng dái dê! Bố mày hiếp mẹ mày dưới gốc cà dái dê đẻ ra cái giống mày!
Ông Dậm chưa bao giờ nhìn thấy bố. Mẹ đã bỏ ông mà đi, khi ông đã cao chạm cái hốc lớn nhất của gốc đa, và ông đã biết cào vào mặt mẹ khi cả hai mẹ con chỉ có ba củ khoai, bà nhường ông ăn hai củ mà ông vẫn chưa no. Ông đã giẫy lên khóc, đòi nốt củ khoai kia và cào vào mặt bà, hét lên: “Mẹ mày!”.
Thường ngày, mỗi khi có điều gì không ưng ý, hoặc vòi vĩnh cái gì không được, ông vẫn chửi mẹ. Ông chửi hồn nhiên, buột miệng. Một câu đầu lưỡi, như nhiều đứa trẻ con và người lớn xung quanh nhà, hễ mở miệng ra là văng tục, và càng chửi bẩn thì càng được tán thưởng.
Bà mẹ ông đi khập khiễng. Một con rắn cạp nong đã mổ vào chân bà, trong lúc bà đang loay hoay dò bắt chuột đồng. Đầu tiên bà tưởng hang rắn là hang chuột. May mà bà kịp cúi xuống vết cắn, hút nọc nhổ đi, rồi dùng lưỡi liềm rạch cho máu chảy, trôi hết nọc độc, mới thoát chết. Bà mất một tháng nằm liệt với đôi chân sưng vù.
Không đi bắt cua được nữa, bà lê đôi chân khập khiễng, teo lại vì nọc độc, lang thang xin ăn khắp nơi. Xin được cái gì, bà cũng cắp về dành cho con. Bà chỉ ăn rất ít, đủ để có sức lê chân ra chợ.
Nhưng đến khi thằng con đã lớn, cào vào mặt bà, thì hôm sau bà đi không về.
Thằng Dậm không thấy mẹ về. Nó chờ một hôm hai hôm, đói quá, đành ra chợ đi xin ăn.
Rồi một hôm, nó tìm được một cái dậm.
Cái dậm đó để chỏng chơ trên bờ sông. Không biết của ai. Còn mới. Có lẽ đó là của một người đánh dậm nào đó mới lần hồi đến bờ sông này. Xuống sông để làm gì đó và không thấy lên bờ nữa.
Thằng Dậm không biết tên mẹ. Nó cũng không biết tên bố. Nó không bận tâm lắm về tên bố hay tên mẹ. Chỉ có những lúc đói khổ quá, nó hay nhìn xuống ngón chân cái, rồi ngửa mặt lên trời, chửi bâng quơ:
– Tiên sư thằng dái dê đẻ ra ông làm ông khổ!
Vệt máu làm đen thẫm ngón chân cái của ông Dậm. Ông Dậm vội rụt chân lại.
Ông lại nhớ. Lần này thì nhớ đau đớn. Nỗi oán hận về hai cái người nào đó, đã sinh ra ông. Sinh ra không phải trong một chiếc giường, mà sinh ra trong một gốc đa, để làm cái kiếp ăn mày tứ xứ và kiếp đánh dậm.
Ông đã đổi được kiếp đánh dậm. Đổi kiếp túp lều gốc đa. Lại đã có vợ có con. Như thế là ông đã cật lực lam làm. Bây giờ ông đã có nhà cao cửa rộng. Đã có người đẹp trong tay để tha hồ giày vò.
Thế mà Phượng đã thoát khỏi tay ông.
– Quân kẻ cướp!
Con mẹ này, chính nó – người đã bị ông bắt về làm vợ hai, người đàn bà đêm đêm bị ông hãm hiếp, đã bị ông dằn ngửa trên giường, chịu đựng những cơn thú vật của ông bằng một gương mặt hoá đá và cái nhếch mép khinh miệt, đã tự đánh cắp chính nó ra khỏi tay ông!
Ông nhớ mùi thân thể của Phượng.
Đó là một mùi ngọt, đắng và tươi, như mùi phấn hoa đỗ trun. Phấn của những bông hoa màu tím hồng, mọc thành chùm hình ống, khẽ hé những cánh hoa, đung đưa trong gió như những chiếc chuông nhỏ bị đập vỡ, đến mùa lại rủ xuống thành những đường viền màu hồng hoa mỹ bên cổng nhà ông Cử, phủ một làn hương ngọt ngào mênh mang trong không gian.
Phải trả thù này!
Ông cúi sát xuống, nhìn tận mặt Phượng một lần nữa.
Đôi hoa tai vàng lấp lánh trên tai Phượng.
Ông nghiến răng rứt mạnh hoa tai ra khỏi đôi trái tai tái nhợt, mỏng mảnh như lá.
Đôi tai đứt. Máu chỉ rỉ vài giọt đen bầm nơi tai. Hoa tai nằm gọn trong tay ông.
Ông Dậm run lên. Ông vẫn không kìm được những cơn run bắn mỗi khi chạm tay vào vàng. Ông hối hả ngậm đôi hoa tai vào mồm, không để người khác trông thấy.
Ông cảm thấy vị ngọt lờ lợ của máu người còn dính trên đôi hoa tai. Nhưng vị lờ lợ này không khiến nổi ông nhè đôi hoa tai ra. Ông bậm môi lại.
Nhưng rồi ông sực nhớ, nhìn quanh:
– Việc gì phải giấu ai. Giờ tao là chủ. Đố bố thằng nào làm gì được tao.
Ông hất hàm, gọi bà Cả đang chạy tới chạy lui trong nhà. Bà đang hối thúc người mang chiếu rách tới để bó xác Phượng đem chôn mau cho khuất mắt.
– Cái này cho mày.
Ông nhổ đôi hoa tai còn dính chút máu đông của người chết vào tay bà Cả:
– Của nó đấy. Cho mày, đeo đi!
Bà vợ già nhìn đôi hoa tai. Gương mặt nhăn nheo đầy sẹo để lại từ những trận đòn của ông Dậm sáng lên trong phút chốc.
Bà lại nhìn xuống gương mặt người chết.
Bà nhìn thấy đôi trái tai bị rứt đứt. Lẫn trong mớ nước bọt của ông Dậm đang lều phều trong lòng bàn tay bà. Bà hiểu ra.
Mặt tối sầm lại, bà lắc đầu ghê sợ:
– Không!
Ông Dậm lại gầm lên, giật phắt lấy đôi hoa tai:
– Mày chê hả? Chó lại còn chê cứt.
Ông tức tối bước vào nhà, gói đôi hoa tai bằng một chiếc khăn lụa cũng để lại từ thời ông Cử, cất kỹ vào hộc tủ khảm trai, khoá lại.
Mãi đến chiều muộn, xác mẹ trẻ Phượng mới được bó chiếu rách, buộc lại sơ sài bằng lạt tre.
Một chiếc đòn đám ma đẽo vội từ cây xoan còn nham nhở vỏ.
Bốn người đàn ông hàng xóm khiêng thi thể bó chiếu của Phượng ra đồng.
Họ đào một chiếc hố nông choèn ở góc Cồn Nhà, cạnh Bụi Thằng Quỷ, chuẩn bị vùi đất.
Trời đã sắp tối. Mặt trời le lói hấp hối sau rặng cây.
Lúc đó, ông Dậm mới thủng thỉnh đi đến.
Ông thản nhiên ra lệnh cho bốn người đàn ông đang chực hất những xẻng đất xuống huyệt:
– Để đó tao làm cho. Chúng mày về.
Mấy người hàng xóm mừng rỡ, phủi tay vào quần rồi rảo bước, rời khỏi Bụi Thằng Quỷ.
Trời gần sập tối.
Xác mẹ trẻ Phượng bó chiếu nằm bơ vơ dưới huyệt.
Ông Dậm đứng trên miệng huyệt, nhìn xuống, ngần ngừ một chút, rồi cả quyết bước xuống.
Ông cởi bỏ chiếc quần lụa nõn.
Thân hình ông lại tồng ngồng phơi ra. Lần thứ hai trong ngày, như buổi sáng nay.
Ông giật bỏ những nút lạt tre đang bó tròn bên ngoài chiếc chiếu.
Ông cởi bỏ lớp vải liệm. Chỉ là thứ vải trắng nhợt, cứng quèo, đầy nút chắp vá do bàn tay vụng về nào đó dệt nên, phơi nắng lem nhem bán cho người người nghèo mua làm vải liệm.
Bộ váy áo đẹp đẽ của Phượng không biết ai đã lột mất. Có lẽ là bà Cả lột cất đi vì tiếc của.
Dưới lớp vải liệm, là Phượng.
Thân hình Phượng đã chết, cứng ngắc, trần mình phơi ra, dưới sự giằng giật không thương xót của đôi tay ông Dậm.
Một thân hình nuột nà, tái nhợt, vẫn đẹp mê hồn, tội nghiệp đến nao lòng dưới những tia sáng mờ cuối cùng của ban ngày.
Ông Dậm điên cuồng phục xuống, cưỡng hiếp như điên dại.
Những cú đạp chân của ông Dậm khiến đất trên miệng huyệt đổ xuống, trộn lẫn mồ hôi, thành những đám nhão, tuột xuống khỏi lưng sau những rung giật, để lại những vệt vằn vện trên lưng.
Có tiếng chim cô hồn kêu từng chuỗi như tiếng nấc nghẹn, dội lên từng hồi từ rặng ổi xanh um trong Bụi Thằng Quỷ.
Ông Dậm chợt nhìn thấy đôi mắt không nhắm nổi của người chết. Không ai vuốt mắt cho Phượng.
Đôi mắt mở trừng làm ông Dậm xìu xuống.
Ông hậm hực vì chưa đã cơn.
Ông nghĩ ra một cách.
Ông lấy chiếc chiếu rách phủ lên mặt người chết.
Đôi mắt mở trừng trừng bị che phủ. Chỉ còn thân hình người đã chết phơi ra dưới huyệt.
Giờ thì ông Dậm đã lại nổi hứng.
Ông lại phủ sấp mình lên cái thây và cưỡng hiếp điên dại, rồi kết thúc trong một tiếng rú như tiếng tru của chó sói.

Share this post