Đi Chơi Lăng – Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Đi Chơi Lăng – Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Đi chơi lăng là cái thú du ngoạn và thể thao của nam nữ thanh niên học sinh, sinh viên Huế. Những ai sinh trưởng hay đến Huế học hành, làm việc, thế nào cũng có “đi chơi lăng” một đôi lần. Những năm thanh bình, nhứt là khoảng thời gian từ sau Hiệp Định Genève 1954, tới hết thời Đệ Nhứt Cộng Hòa (1963), người ta đi chơi lăng nhiều, ở lại đêm hay đi những lăng thật xa, xa nhứt là Lăng Gia Long, cách Huế 13 Km, tuốt trong chưn núi Trường Sơn.

Thông thường, những ngày Lễ Phật Đản hay ngày rằm tháng Bảy Âm Lịch là ngày thanh niên nam nữ Huế rũ nhau đi chùa rồi cùng đi chơi lăng. Chùa và lăng nằm chen lẫn với nhau trong khu vực đồi núi phía tây nam thành phố Huế nên đi đi chơi lăng cũng là đi chùa. Đa số “bọn học trò”, – trong đó có tôi -, đi chùa nhưng không bao giờ vô chùa lạy Phật mà chỉ vào sân chùa, đi lòng vòng (nên có người gọi đùa là “đạo lòng vòng”) quanh sân chùa, vườn chùa, ngoạn cảnh, kiếm trái cây ăn chơi và nếu như đói bụng lắm thì trưa ghé lại Chùa Sư Nữ ăn cơm chay, dĩ nhiên là “cơm chùa”.

Rằm tháng Bảy Âm Lịch năm 1954 là năm người ta đi chùa và đi chơi lăng đông nhứt bởi vì năm đó mới ký Hiệp Định Genève 1954. Suốt từ thời chiến tranh Việt Pháp 1945-54, vì giặc giả, “người thành phố” không dám ra miền quê vì sợ bị Việt Minh bắt bỏ tù hoặc giết chết. Thanh niên Huế không dám đi xa, ít ai đi lăng, đi chùa, nên nhân dịp hòa bình mới lập lại, không còn sợ Việt Minh nữa, họ bung ra đi chơi vùng xa, cho thỏa thích mấy lâu bị bó buộc chỉ quanh quẩn trong thành phố mà thôi.

Tôi đến Huế đúng hôm trước Rằm, ngày hôm sau cùng vài người bạn lên núi Ngự Bình. Đường lên núi, phía mặt hậu, – phía ngó xuống sông Hương -, những bậc cấp đá lên núi vẫn còn, dù có chỗ bị nước xoi mòn. Khi ấy tôi còn nhỏ, không để ý gì, nhưng về sau, đọc thơ Nguyễn Khuyến, bài “Chơi Núi An Lão”, có câu: “Ghềnh đá cheo leo ngấn chữa mòn” tôi vẫn liên tưởng tới con đường lên núi Ngự Bình năm ấy. Đường lên dốc thì khó nhọc, xuống thì dễ, chúng tôi vừa chạy vừa la: “Dễ như húp chè hột sen”. (1)

Núi trọc lóc, bao nhiêu Thông trên núi đều bị Tây cho đốn sạch cho nên mới có câu thơ của cụ Ưng Bình “Núi Ngự không cây chim ngủ đất”. Trước 1945, núi Ngự có trồng Thông, không những ở trên núi mà cả các sườn núi chung quanh, hai bên con đường có bậc đá lên núi. Trước đó mấy năm, khi chưa lên núi Ngự, đọc “Nửa Bồ Xương Khô” của Vũ Anh Khanh, tôi thấy ông có mô tả cảnh trước năm 1945, thanh niên học sinh trường Khải Định, Đồng Khánh đi chơi núi Ngự mỗi cuối tuần. Họ cũng có những buổi “picnic”, văn nghệ, vui chơi tổ chức trong những rặng thông trên núi Ngự, nhiều người cũng biểu diễn những giọng sáo véo von làm xúc động người ta, như tiếng sáo của Tô Kiều Ngân vậy. (2)

Đỉnh núi Ngự bằng phẳng, hình dạng như một vầng trăng khuyết, giữa thấp, hai đầu hơi cao. Đừng ở đầu phía Đông, nhìn ra phía biển, thấy biển mịt mờ xa xa, khiến người ta đoán chừng phía đó là Thái Bình Dương, không biết đâu là bến bờ. Đứng ở đầu phía Tây là nhìn về phía Tây, chỉ thấy rặng Trường Sơn xanh biếc, mù mịt, chạy từ Bắc xuống Nam, những đỉnh núi chập chùng nối nhau không dứt, như bước chân Nam Tiến của người Việt, không biết khởi thủy từ lúc nào và mịt mù phía Nam, không biết chấm dứt nơi đâu?!

Giữa đỉnh núi, phía sau, tức phía sông Hương, sườn núi hơi khuyết sâu, dốc đứng, muốn lên núi phải bò. Trong khi phía trước, phía Nam, sườn núi tròn và thoai thoải. Do đó mới có câu ca dao: “Núi Ngự Bình trước tròn, sau méo…” (3)

Kể từ sau năm 1945, việc “picnic” ở trên núi Ngự như Vũ Anh Khanh mô tả không còn nữa. Đáng tiếc thay!

Rằm tháng Bảy năm đó, sau khi lên núi Ngự, tôi cùng bạn bè không đi những chùa gần như Chùa Trà Am (ở mặt trước núi Ngự) hay Chùa Báo Quốc, Từ Đàm ở sát nách thành phố Huế. Chúng tôi đi những chùa thật xa, như Chùa Viên Thông, Chùa Thiên Thai, – “chùa Phật trong cõi Tiên”, gần chân dãy núi Trường Sơn. Khi đi chùa Thiên Thai, chúng tôi nói đùa rằng tiếc không gặp cô tiên nữ nào như hai chàng Lưu Nguyễn. Nếu có gặp chăng thì nên rút kinh nghiệm Lưu Nguyễn, không nên trở lại trần gian sau khi đã lên tới cõi tiên rồi. Chùa Thiên Thai nầy, không ở trên cõi tiên mà còn trong cõi tục, ra khỏi chùa là trở lại cõi trần. Lần đi chơi ấy, tôi chưa đi lăng, chỉ mới đi chùa.

Cũng năm ấy, 16 tuổi, tôi đến Huế để đi học. Tuy tôi không còn hoạt động trong Hướng Đạo nhưng vẫn thường quan hệ với bạn bè và huynh trưởng trong đoàn thể ấy. Do sự sắp xếp của họ, chuyến đi chơi lăng đầu tiên của chúng tôi diễn ra gần một tuần lễ trước ngày thi Trung Học. Lý do đi chơi hôm đó của chúng tôi là sau mấy tháng học thi mệt nhọc, căng thẳng, cần đi chơi một chuyến cho trí óc nhẹ nhàng trước khi cầm bút vào phòng thi.

Khi đi chơi lăng, thông thường người ta đi phía hữu ngạn sông Hương, tức là đi lên ngã Dốc Nam Giao hay Dốc Bến Ngự, qua Đàn Nam Giao là nơi cứ ba năm một lần vua làm lễ tế Trời ở đây, rồi đi theo đường xe hơi đất đỏ để lên Lăng Tự Đức. Cứ theo con đường đó, người ta ghé Lăng Thiệu Trị, Đồi Vọng Cảnh, Lăng Khải Định, rồi lên Bãng Lãng, bến đò Tuần. Bên kia sông (tả ngạn) là Lăng Minh Mạng. Từ Lăng Minh Mạng đi tiếp lên là Lăng Vua Gia Long, xa nhứt.

Bọn chúng tôi gần 10 người kể cả hai anh huynh trưởng Hướng Đạo, đi theo phía tả ngạn, đạp xe đạp theo con đường dọc theo bờ sông Hương, qua Kim Long, Chùa Linh Mụ, vượt qua Văn Thánh, nay là một đồn binh Quân Đội Quốc Gia. Văn Thánh chỉ còn lại những bức tường cao quá đầu người, đổ nát, loang lỗ, rồi đi xuyên qua làng Nham Biều, làng có nhiều người đổ đạt và làm việc cho chính quyền, qua hai ngôi làng kế nhau, có tên khá hay là làng Long Hồ và làng Ngọc Hồ.

Theo bản đồ in từ thời Pháp thuộc, con đường bên tả ngạn nầy ghi là “route parossable”, nghĩa là đường xe hơi chạy được. Tuy nhiên, năm ấy, khi chúng tôi đi du ngoạn, thì cái gọi là “đường xe hơi đi được” ấy đã trở thành con đường mòn nối các xóm trong làng, từ làng nầy qua làng kia, thỉnh thoảng có chiếc “cầu khỉ” bắt ngang qua những con suối cạn. Chúng tôi phải vác xe đạp lên vai để lần qua cầu. Mấy năm chiến tranh, ngoại trừ làng Nham Biều gần Văn Thánh, Việt Minh ít mò về, còn Long Hồ, Ngọc Hồ nằm hơi xa về phía núi nên ở đó gọi là “Vùng Tự Do”. Đó là thứ “tự do” của Cộng Sản, còn nói cho đúng nơi nầy là “vùng Việt Minh”. Để gây khó khăn cho Tây hay Quân Đội Quốc Gia đi lùng, Việt Minh phá hết các cây cầu ở hai làng nầy. Ngoài ra, vì thiếu tu bổ, nhiều đoạn đường đã hư hỏng hoặc biến mất vì bờ sông bị lở sụt.

Hết làng Ngọc Hồ, không còn đường sá gì nữa cả, chúng tôi vác xe đạp lên vai, vượt lên một sườn đồi cao nhưng thoai thoải khá đẹp, trồng chè xanh rồi đi xuống bên kia đồi, có một con đường mòn dẫn ra mặt sau “Điện Hòn Chén”.

“Điện Hòn Chén” ở trên núi Ngọc Trản, là nơi thờ “Bà Chúa Thượng Ngàn”, “Công Chúa Liễu Hạnh”, thánh tổ của “Đạo Lên Đồng” như người ta thường gọi. Đó là đạo Tiên, gọi văn hoa là “Thiên Tiên Thánh Giáo”. “Đạo” nầy rất thịnh hành ở Huế, nhứt là trong giới bình dân, đạo của các mẹ, các chị. “Điện Hòn Chén” là nơi thờ chính, ngoài ra, trong thành phố Huế còn nhiều am miếu khác của Đạo Tiên nầy. Các ngày rằm, mồng một, tín hữu lễ bái và lên đồng ở các am miếu ở Huế, còn mỗi năm, không rõ mấy lần họ làm lễ rất lớn ở “Điện Hòn Chén”, rước “Bà Chúa Thượng Ngàn” về am miếu của mình. Lễ rước thường đi bằng đò, có khi người ta ghép hai chiếc đò làm một cặp để dựng một “sàn nhảy” cho thật rộng, mặc sức cho các bà lên đồng rộng chỗ múa may. Có những vài ba sàn nhảy như thế. Bọn trẻ chúng tôi ít khi vắng mặt tại các buổi cúng lễ tại am miếu, không phải để lên đồng nhưng để xin chuối oản hay “chôm” “chè xôi chuối” ở những bàn thờ vắng vẻ. (4)

Con đường chúng tôi đến Điện Hòn Chén là ở mặt sau. Phía trước điện là một bến đò. Tín đồ đi đò từ Huế lên hay các nơi khác tới thường ghé bến đò ở mặt trước, có bậc cấp đi ngược lên điện. Điện nằm cheo leo bên sườn một ngọn núi, dưới là sông, khung cảnh thật hùng vĩ và trang nghiêm. Điện thờ rất uy nghi. Có lẽ người ta chọn nơi nầy làm điện thờ cho phù hợp với tính tình ngổ ngáo của một công chúa “Con Trời” có nhiều phép tắc cao cường mà phải tới Phật Bà Quan Âm mới trị được (xin xem phần chú thích về sự tích Công Chúa Liễu Hạnh).

Khi chúng tôi tới thì điện đang cúng. Mấy bà đang lên đồng (chúng tôi gọi đùa là “nhảy đầm solo”, – tức không có kép). Các ông thì đang hát “chầu văn”, kèn trống lóc cóc leng keng inh ỏi. (5)

Từ Điện Hòn Chén, đi một đoạn ngắn thì lên tới bến đò Tuần, phía trước lăng Minh Mạng. Những năm hòa bình, từ Huế, có xe đò chạy theo con đường phía hữu ngạn lên bến đò nầy. Đoạn sông Hương chảy qua trước lăng Minh Mạng là một ngã ba sông, thường gọi “Ngọn Sông Đào”, nước rất trong và mát. Ca dao Huế có câu:

Muốn tắm mát lên ngọn sông Đào
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.

Có người cho rằng câu ca dao nầy là vịn vào đoạn nầy của sông Hương.

Qua đò Tuần, du khách tới lăng Minh Mạng. Từ lăng Minh Mạng, đi xe đạp dọc theo một con đường nhỏ bên bờ sông, con đường khá gập ghềnh và nhiều dốc, chúng tôi lên lăng Gia Long.

Hôm ấy, khi về, chúng tôi không theo đường cũ, phía tả ngạn. Từ Lăng Minh Mạng, qua bến đò Tuần, chúng tôi theo “đường xe hơi chạy được” bên phía hữu ngạn. Trên đường về, chúng tôi ghé lại dòng tu Thiên An. Khung cảnh ở dòng tu nầy hết sức đẹp, như chúng ta thường thấy trong tranh phong cảnh ở Pháp. Tôi không hiểu sao mấy năm chiến tranh, Việt Minh không “quậy” dòng tu nầy. Chúng tôi còn đi bộ ra phía sau dòng tu Thiên An, băng qua một ngọn đồi, cách cũng không xa lắm, chỗ đó có một ngôi mộ, người ta thường gọi là “Lăng Ba Vành” vì nó có ba vòng thành thấp. Ngôi mộ lớn hơn các ngôi mộ thường thấy, hình dạng như mu rùa. Ở một đầu mu rùa có một chỗ bị đào sâu xuống, tối đen, không thấy gì trong đó cả.

Theo dư luận Huế và theo Giáo Sư Nguyễn Thiệu Lâu, – ông có viết một bài đăng trên báo “Gió Mới” khoảng đầu thập niên 60 -, thì khi ông còn dạy học ở trường Khải Định Huế trước 1945, (Nay là trường Quốc Học), – ông đã cùng học sinh thực hiện một cuộc nghiên cứu Lăng Ba Vành, chính là lăng vua Quang Trung. Sau khi diệt nhà Tây Sơn và lên ngôi vua, Vua Gia Long đã cho đào mồ lấy hài cốt của Vua Quang Trung. Về việc nầy, sách Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết:

“Đến tháng bảy năm Nhâm Tuất (1802), Thế Tổ về Kinh, đem vua tôi nhà Tây Sơn về làm lễ hiến phù ở đền Thái Miếu, rồi đem ra tận pháp trường xử trị. Lại sai quật mả vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và vua Thái Tổ Nguyễn Huệ lên, đem vứt thây đi, còn đầu thì đem bỏ giam ở trong ngục tối”.
(Sách đd, tập 2, trang 170)

Ở Huế, người ta chê Vua Gia Long không có những hành vi cao thượng, như bỏ đầu lâu vua Quang Trung vào trong một cái giỏ tre, rồi ngày ngày cho quân lính tiểu tiện vào đấy. Việc làm nầy vừa thỏa mãn lòng hận thù của Nguyễn Ánh từng bị Nguyễn Huệ đánh nhiều trận thất điên bát đảo, vừa để ngăn ngừa Nguyễn Huệ không tái sinh, gây phiền nhiễu về sau.

Tôi đã “đi chơi” hầu hết các lăng tẩm ở Huế, đi một lần thì chỉ có Lăng Gia Long, còn những lăng khác, gần Huế hơn, không sợ Việt Cộng chận đường bắt thì đi nhiều lần như Lăng Tự Đức, Khải Định, Đồi Vọng Cảnh, chùa Trà Am, v.v…

Nhìn chung, mỗi lăng có những nét đặc biệt của nó, thường thể hiện cá tính của ông vua chôn ở lăng đó. Khi chưa băng hà vua đã lo xây lăng cho mình. Lăng là một triều đình của ông vua đó, có “tẩm” là nơi chôn thi hài (tẩm được dấu kín, sợ bị “đào mồ”), điện thờ vua sau khi chết, thờ thái hậu, hoàng hậu (chỉ được phong sau khi chết), các bên nội ngoại của vua, v.v… Lại cũng có cả điện chầu, sân chầu, nhà bia kể công trạng, v.v….

Vị vua đầu tiên nhà Nguyễn, Gia Long, có cuộc đời khá thăng trầm, xông pha, chiến đấu cam go, bị đánh thua nhiều trận lớn, chạy trốn ra những hòn đảo xa xôi như Côn Đảo ở biển đông, Phú Quốc, Thổ Chu trong vịnh Thái Lan, có lần qua nương náu, trông nhờ sự che chở của vua Xiêm (Thái Lan ngày nay). Có khi người ta tưởng ông đã không toàn mạng. Vậy rồi cuối cùng ông giành lại được quyền bính, thống nhất đất nước từ Ải Nam Quan cho tới Cà Mau, chấn chỉnh mọi việc cai trị, nông nghiệp, luật lệ, v.v… Do đấy, người ta thấy trước nhứt, ông ta phải là người có ý chí mạnh mẽ lắm, mới rửa được thù nhà, giành được giang sơn. Khi nhà Tây Sơn khởi nghĩa đánh đổ chúa Nguyễn và Trương Phúc Loan năm 1775, Nguyễn Ánh mới 15 tuổi. Từ biến cố đó, ông chạy vào Nam, rồi xông pha biết bao gian nan, nguy hiểm, mãi đến năm 40 tuổi (1802), ông mới lên ngôi vua. Do đó, lăng Gia Long mang bản sắc của ông, có những nét hào hùng của một người từng xông pha tên đạn. Lối kiến trúc của lăng hoành tráng, kỳ vĩ. Vật liệu chính xây dựng lăng là đá, có những viên thật lớn. Lăng lại nằm vào chỗ xa Huế nhứt, một bên là sông sâu, một bên núi cao, nói lên được cuộc đời xông pha của ông từ khi còn trẻ. Lăng cũng có sân chầu với hai hàng tượng đá văn võ hai bên. Những năm chiến tranh 1945-54, Việt Minh tuyên truyền vua quan nhà Nguyễn là bọn phong kiến phản động nên mặc sức phá hoại lăng. Các hàng tượng đá đều bị đập gảy đầu, lăn lóc dưới đất. Hai hàng tượng đá chỉ còn lại những tượng không đầu (6)

Nét đặc biệt của Lăng Minh Mạng là cái gì cũng ngay ngắn, cân đối, sắp đặt một cách hoàn hảo. Vào hết cổng Tam quan là đi qua một chiếc cầu, cân đối mỗi bên một nửa hồ bán nguyệt, qua khỏi cầu là một ngã tư, đi về phải hay trái, đều có những điện thờ, khoảng cách, hình dạng, độ lớn, như nhau, v.v… Cuối cùng là một vòng thành tròn lớn, giữa vòng thành là một ngọn đồi nhỏ, cây cối um tùm. Mộ chôn ở đấy, không chính xác ở một địa điểm nào.

Lăng Minh Mạng xây trong vòng 4 năm mới xong (1840-1843). Tuy việc xây lăng được xúc tiến mạnh mẽ sau khi vua băng hà, do Vua Thiệu Trị để tâm coi sóc, thực hiện cho cha, nhưng tất cả đã được khởi sự từ khi vua Minh Mạng còn tại vì, thành thử nó là sản phẩm của ông vua cha chứ không phải vua con.

Hàng ngàn binh lính được huy động vào việc xây lăng, dựng lên 40 ngàn đền đài miếu mạo ao hồ, v.v… với nhiều kích thước, kiểu cách khác nhau trong một vòng thành hình bầu dục khá lớn. Lớn nhứt là Sân Chầu, Nhà Bia, Điện Sùng An, Đình Minh Lâu và Tẩm.

Ngoài 30 tuổi, Thái Tử Đảm mới lên nối ngôi (1820), tức là vua Minh Mạng. Ông là người thông minh, hiếu học và chăm việc nước. Trước ông, Gia Long, đã ngồi ở ngai gần 20 năm, những công việc căn bản về cai trị, luật pháp, quan chế, học hành, thi cử, v.v… thì Gia Long đã làm. Nay ông chỉ phát triển, cải cách, xây dựng thêm những giềng mối có sẵn, thành ra lăng Minh Mạng biểu lộ cá tính đó của nhà vua. Do đó, nhiều người thấy lăng Minh Mạng tuy to lớn, uy nghi nhưng không thích lắm. Có lẽ tâm lý người ta không ưa những cái gì quá khuôn phép như trong việc cai trị cũng như cảnh tượng trong lăng của ông, cái gì trông vào cũng thấy ngay ngắn, phép tắc cả.

Vua thứ ba là Thiệu Trị, ở ngai chỉ có 7 năm (1840-1847). Dưới triều đại ông, việc cai trị đã có Gia Long xây dựng, Minh Mạng củng cố, phát triển nên việc trị nước của ông chẳng có gì thay đổi lớn, chẳng có gì đặc sắc nên lăng của ông cũng vậy. Lăng nhỏ, đơn giản, không có gì lôi cuốn bọn học trò chúng tôi. Trên đường đi chơi các lăng khác, đi chùa, lên chơi Đồi Vọng Cảnh kế bên Lăng Thiệu Trị, tiện đường và có thời giờ thì tạt vào một chút, còn không thì thôi. Chúng tôi qua lăng Tự Đức, thích hơn.

Lăng Tự Đức tên tự Khiêm Lăng, là lăng của một ông vua thi sĩ. Sự nghiệp thi ca của ông có mấy ngàn bài thơ. Do đó, Khiêm Lăng biểu lộ cá tính một nghệ sĩ. Ngoài những điện thờ, sân chầu, nhà bia như các lăng khác, lăng Tự Đức có nhà Thủy Tạ nổi tiếng đẹp. Người ta có thể ngồi ở mặt sau của nhà Thủy Tạ để xem hoa sen ngủ sắc dưới hồ hay nhìn ra Hòn Non Bộ ở giữa hồ. Bên kia hồ, có chiếc cầu cong nối liền bờ với Hòn Non Bộ, thành thử du khách có thể theo chiếc cầu ấy ra Hòn Non Bộ ngồi xem cá lội tung tăng. Đi ngược lên là một con đường nhỏ quanh co bên bờ suối. Bên cạnh đường đi có con đường dẫn xuống suối hay ngược lên một ngọn núi đá nhỏ. Du khách có thể lên đứng trên ngọn núi nhỏ để xem toàn cảnh một dòng suối quanh co. Cuối con suối là một chiếc cầu vòng nho nhỏ, nối hai con đường hai bên bờ suối, đưa người ta vào sân chầu.

Nhìn vào tảng đá Thanh vĩ đại được chuyển từ Thanh Hóa vào để tạc bia ghi công trạng nhà vua, nhìn viên gạch nung to gần bằng viên gạch “lốc”, người ta không khỏi khâm phục nghề làm gạch của tổ tiên ta ngày trước, và nhìn vào lớp vữa hồ rắn chắc, dù ở giữa nắng mưa bao đời nay vẫn không suy suyển, những người biết chút ít lịch sử nhà Nguyễn như tôi không thể nào không nghĩ đến “Giặc Chày Vôi”.

Thái Tử Hồng Nhậm lên ngôi khi chưa đầy 20 tuổi, niên hiệu Tự Đức. Ông ở ngôi khoảng 35 năm (1847-1883). Đó là một triều đại nhiều sóng gió và bắt đầu vận suy của nhà Nguyễn. Bên trong thì “nồi da xáo thịt”. Anh là Hồng Bảo tranh ngai vàng với em. Sự tranh giành nầy là lý do quan trọng đưa đến “Giặc Chày Vôi” về sau.

Khiêm Lăng được xây ở làng Vạn Niên, gọi là Vạn Niên Cơ, (7) khởi sự năm 1864 đến năm 1867 thì xong. Giống như việc xây Lăng Minh Mạng, trong khoảng thời gian 3 năm ấy, hàng vạn binh lính, thầy thợ làm việc vô cùng cực nhọc, bệnh hoạn chết chóc cũng nhiều. Do đó, Huế có câu ca dao:

Vạn Niên là Vạn Niên nào
Xương chất thành núi, máu đào thành sông.

Lợi dụng cảnh gian nan khổ cực của binh lính phải đi xây lăng, những người chỉ huy xúi bẩy binh họ nổi loạn. Họ dùng chày đâm vôi (để trộn vôi với lá ô-dước, v.v… ) làm vữa hồ để làm vũ khí nên tục gọi là “Giặc Chày Vôi”.

Sử chép:

“Nguyên vua Dực Tông (Tự Đức -tg) là con thứ mà được nối ngôi, là vì người anh là Hồng Bảo phóng đãng, không chịu học hành cho nên không được lập. Ông ấy lấy điều đó làm tức giận, bèn mưu đồ với một nước ngoại quốc để tranh ngôi vua. Chẳng may sự lộ ra, ông ấy phải bỏ ngục, rồi uống thuốc độc mà chết. Còn con ông thì được tha mà phải đổi tên là Đinh Đạo (Đinh là họ mẹ -tg)

“Đến năm bính-dần (1866) là năm Tự Đức thứ 19, nhà vua đang xây Vạn Niên Cơ tức là Khiêm Lăng bây giờ, quân sĩ phải làm lụng khổ sở, có nhiều người oán giận. Bấy giờ ở Kinh có Đoàn Trưng cùng em là Đoàn Hữu Ái, Đoàn Tư Trực, và bọn Trương Trọng Hóa, Phạm Lương, kết làm “Sơn Đông Thi Tửu Hội” để mưu việc lập Đinh Đạo lên làm vua. Bọn tên Trưng mới chiêu dụ những lính làm ở Vạn Niên cơ và cùng với quan hữu quân Tôn Thất Cúc làm nội ứng, định ngày khởi sự.

“Đến đêm hôm mồng 8 tháng 8, bọn tên Trưng đem quân vào cửa tả dịch, chực xông vào điện giết vua Dực Tông. May nhờ có quan chưởng vệ là Hồ Oai đóng được cửa điện lại, hô quân bắt được tên Trưng, tên Trực và cả bọn đồng đảng.

Đinh Đạo phải tội giảo, Tôn Thất Cúc thì tự vẫn chết, còn các quan có trách nhiệm đều phải chiếu tội nặng nhẹ, hoặc phải cách. (8)
(Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim.
Tập 2, trang 272)
(Xin xem thêm phần phụ lục)

Từ bến đò Bảng Lãng, trên đường về Huế, qua khỏi một ngọn đồi, người ta ngạc nhiên khi thấy hiện ra sừng sững trước mặt, trên một ngọn đồi cao, một ngôi nhà đồ sộ, kiến trúc theo lối Pháp pha lẫn nét Á Đông, không hoàn toàn mang những đường nét Á Đông như người ta thường thấy ở các lăng khác.

Từ khi Khải Định lên ngôi, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp nên lăng Khải Định đậm nét nửa Tây nửa ta, như bộ quần áo ông mặc trong lần ông tham dự cuộc đấu xảo bên Pháp vậy: Đầu đội khăn vàng nhưng vai đeo ngù như sĩ quan Pháp và mang thắt lưng to bản. Chân mang giày và ghệt, giống như cậu Cả tôi đã tả trong bài “Huế Của Mỗi Thời” vậy. Lăng của ông cũng y chang. Trước mặt lăng là một bậc cấp rộng và cao, có 49 bậc, trông rất uy nghi, nhưng điện thờ thì mang nét kiến trúc u Tây. Giữa điện thờ có tượng đồng của ông ngồi “bảnh chọe” trên ngai vàng. Ông cho dùng bê tông để xây lăng, mái lợp ngói đen như thường thấy ở u châu xưa và dùng sắt để làm vòm điện. Vòm điện cũng vẽ tranh và dùng kính màu như ở các nhà thờ bên Pháp. Các mặt tường trong cũng như ngoài điện dùng những mảnh kính màu và mảnh sành khảm vào tường hình rồng phượng như ta thường thấy ở các tấm bình phong hay cổng tam quan ở đình chùa miền quê nước ta.

Có hai trường phái nhận xét và phê bình trái ngược nhau về lăng Khải Định. Các nhà nghiên cứu Cộng Sản thì cho rằng Khải Định biết kết hợp nghệ thuật trang trí cổ của dân gian (khảm mảnh sành) với nghệ thuật trang trí hiện đại u Tây, vẽ hình trên vòm điện như trong các nhà thờ ở u Tây, trong khi các nhà nghiên cứu miền Nam trước 1975 thì cho rằng lăng Khải Định đúng là sản phẩm của môt anh nhà quê ít học, một thứ trưởng giả học làm sang, của một anh giàu xổi dốt đặc cán mai nhờ thời thế đổi thay mà nên người vương giả: Salông của Tây để chung với tủ chè sập gụ như một số nhà văn trước 1945 chê nghị Hách vậy (9). Có lẽ họ đồng ý với câu nói của nhà văn Anh sinh ở Ấn Độ Rydiard Kypling: “Đông là đông, Tây là Tây. Đông Tây không bao giờ gặp nhau”.

Người ta đi chơi lăng có nhiều cách. Có thể một chàng, một nàng nắm tay nhau quanh quẩn trong lăng, xem hết cảnh nầy qua cảnh nọ, đôi khi lợi dụng chỗ vắng thì… hôn nhau. (Các bạn trẻ nên nhớ người Việt không có tục hôn nhau công khai như thường thấy bên u-Mỹ) hoặc nhân dịp ngày vía lớn bên đạo Phật, một đám con trai hay con gái rủ nhau đi chơi lăng; hoặc bạn học chung lớp cả trai lẫn gái, có khi do thầy cô đứng ra tổ chức đi chơi lăng vào dịp lễ hay cuối tuần. Cũng có khi do nhà trường tổ chức cắm trại, v.v… Tất cả những cách đi chơi lăng như thế, tôi đã từng trải qua. Có những lần đi chơi lăng khó quên: Năm 1957, trường “Quốc Học Ngô Đình Diệm” (nay là Quốc Học) tổ chức trại Tết ở đồi Thiên An cho các lớp Đệ Nhứt. Cũng năm đó, lớp chúng tôi đi chơi lăng nhiều lần, một lần đi với Giáo Sư Lê Hữu Mục (dạy Sử Địa) và một lần với Giáo Sư Nguyễn Văn Trung (dạy Triết).

Tôi không phải là nhà nghiên cứu sử. Tôi không có khả năng và cũng không muốn làm công việc ấy. Tôi chỉ muốn ghi lại đây một quãng đời tôi đã sống qua nơi ấy, với những gì tôi nghe, thấy, biết và nhớ lại, với một nỗi xúc động sâu sắc với quê hương mình. Tất cả những gì tôi viết ra đây, như tôi đã nói trong bài tựa cuốn “Viết Về Huế”, tập 1: “Đời vui chi trong sương gió…” là viết những gì trong trái tim tôi. Huế cũng như mọi nơi, có cái hay cái dở, cái tốt cái xấu. Cách nhìn đó, còn tùy thuộc ở lăng kính mỗi người. Tôi viết theo cách của tôi, từ những mối xúc cảm sâu sắc khi tôi còn niên thiếu mà chắc chắn không bao giờ tôi quên được. Xin đừng tìm nơi đây những bài nghiên cứu về Huế, về lăng tẩm, đền đài miếu mạo, điện ngọc cung vàng. Đây chỉ có tâm sự tôi gởi gắm lại, những nỗi nhớ nhung, ngậm ngùi của một người con xa Huế đã hơn ba mươi năm, thầy cô, bạn bè bây giờ thất tán phương nào?

(1) Chén chè hột sen chỉ có 4 hoặc 5 hột, còn lại toàn là nước, “ực” một cái là xong chén chè.

(2) Tiếng sáo Tô Kiều Ngân, có khi người ta gọi là Tiếng Sáo Tao Đàn vì Tô Kiều Ngân thường thổi sáo trong Chuơng Trình Tao Đàn của Đài Phát Thanh Sài Gòn trước năm 1975.

(3) Theo ông Châu Trọng Ngô, giáo sư trường Quốc Học Huế, một người thổi sáo khá hay, thì điệu sáo của Tô Kiều Ngân không phải do ông Ngân sáng tác. Đó là của một ông già mù ăn xin ở chợ An Cựu. Ông già ngồi bên đường thổi sáo kiếm tiền. Nhiều thanh niên Huế học tiếng sáo của ông. Trong những thanh niên đó, có ông Châu Trọng Ngô, như ông tự nhận và có lẽ có cả Tô Kiều Ngân chăng?

(4) “Núi Ngự Bình trước tròn, sau méo
Sông An Cựu nắng đục, mưa trong.”

(Ca dao Huế)

(5) Theo cổ tích thì “Công Chúa Liễu Hạnh” là con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế. Dĩ nhiên con trời thì đẹp nhưng bà công chúa nầy tính tình ngổ ngáo. Vì công chúa làm bể một cái chén ngọc trên Thiên Đình nên bị Ngọc Hoàng đày xuống hạ giới. Công chúa dựng một cái quán ở đèo Ngang buôn bán với khách qua đường. Thấy cô chủ quán đẹp, hoàng tử con vua Lê Thánh Tông đến chọc ghẹo, bị công chúa cho một trận đòn dằn mặt. Nhà vua tức giận cho quân đến đánh nhưng đánh không lại công chúa, bèn cầu cứu với Phật Bà Quan Âm, công chúa mới chịu phép. Sau đó, Công Chúa Liễu Hạnh sinh một con trai rồi bỏ về trời. Công chúa bị đày xuống hạ giới một lần thứ hai nữa. Lần nầy công chúa làm nhà sinh sống ở đèo Ba Dội và sinh thêm một người con trai thứ hai. Người đó sau nầy là Trạng Quỳnh. Vì công chúa là con Ngọc Hoàng Thượng Đế có nhiều phép tắc cao cường, trừ gian diệt bạo, nên được dân chúng tôn thờ, về sau là thánh tổ “Thiên Tiên Thánh Giáo”. Ở Hà Nội, Huế và Saigon đều có đền thờ Liễu Hạnh Công Chúa. Người theo đạo Thiên Tiên Thánh Giáo thường tin vào phép tắc nên bị người ta cho là mê tín dị đoan. Những năm dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, tuy chính quyền có chương trình bài trừ “tứ đổ tường” và “mê tín dị đoan” nhưng tôn giáo nầy không bị đánh phá, không bị đàn áp, lại nhờ hòa bình nên phát triển thêm ra. Tôi không rõ dưới thời Cộng Sản, tình trạng tôn giáo nầy như thế nào.

Về Đạo Tiên, Huế cũng có đền thờ Lão Tử, tên gọi là đền Linh Hựu. Khi Pháp xâm lược nước ta, đền thờ Linh Hựu bị quân Pháp phá hủy. Địa điểm nầy, hiện nay là nhà thờ đạo Thiên Chúa Tây Linh, trong thành nội Huế, gần đồn Mang Cá.

(6) Lóc cóc leng keng là âm thanh của những nhạc khí cổ truyền được xử dụng trong khi cúng tế. Người Huế có câu nói đùa: “Lóc cóc leng keng con gà mô béo để riêng cho thầy.”

(7) Lần ấy, chụp hình, chúng tôi núp sau tượng, ló đầu lên, vươn tới cho đầu nằm trên cổ tượng đá. Thành ra chúng tôi có những tấm hình mình là tượng đá quan văn, quan võ, còn đầu lại là đầu những anh học trò toét miệng cười khoái trá.

(8) Trước 1945, Nhà Máy Nước Huế cũng được xây ở Vạn Niên, bị “tiêu thổ kháng chiến” phá hoại hoàn toàn trong chiến tranh Việt Pháp (1945-54), nay không còn dấu tích gì. Nhà máy nước hiện nay xây ở Cồn Giả Viên hồi đầu thập niên 1950.

(9) Việc Tự Đức giết anh (Hồng Bảo) và cháu (Ưng Đạo sau đổi ra họ mẹ là Đinh Đạo) là đề tài khiến người Huế bàn tán không ít về cảnh “nồi da xáo thịt” nầy. Từ nhỏ, tôi thường nghe bài thơ của Tào Thực bị Tào Phi buộc “bảy bước làm một bài thơ” còn không sẽ trị tội. Tào Thực sợ, vừa bước từng bước, vừa khóc làm bài thơ như sau:

Củi đậu đem nấu đậu
Đậu trong nồi ngồi khóc
Cùng một gốc sinh ra
Đốt nhau gì thật gấp.

Ngoài ra, người ta còn nói tới bài thơ “Răng Cắn Lưỡi” của Nguyễn Hàm Ninh như sau:

“Nguyễn Hàm Ninh là một đại thần, làm quan từ đời Minh Mệnh cho đến đời Tự Đức. Vào năm 1854, anh vua Tự Đức là Hồng Bảo toan mưu việc tranh ngôi, Tự Đức bắt Hồng Bảo phải tự tận và bắt giam con của Hồng Bảo là Ưng Đạo vào trong ngục sau khi phải đổi họ là Đinh. Một bữa, Tự Đức nhân vô ý nhai cắn phải lưỡi, liền bảo các quan hãy lấy đó mà vịnh một bài thơ. Nguyễn Hàm Ninh tức thì mượn dịp, nhắc lại vụ Hồng Bảo một cách bóng gió như sau:

Sinh ngã chi thời nhĩ vị sinh
Nhĩ sinh chi hậu ngã vi huynh
Nhất đường cọng hưởng trân cam vị
Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình.

Nghĩa là:

Cái lúc sinh ta, chú chửa sinh
Chú sinh sau phận chú em anh
Một nhà chung hưởng mùi ngon ngọt
Sao nỡ quên đi cốt nhục tình

“Tự Đức xem thơ, có ý cảm động, sau đó truyền tha Ưng Đạo, và cho vào học trong Quốc Tử Giám.

(10) Nghị Hách: Nhân vật chính trong truyện “Giông Tố” của Vũ Trọng Phụng, một người giàu xổi, vừa thiếu đạo đức vừa thiếu văn hóa.

(11) Khóa thi Trung Học năm đó nhằm ngày 31-5-1955. Một ngày trước đó, ông Hồ Hán Sơn đến Huế tham dự một cuộc biểu tình rất lớn, ông lên máy vi âm hô hào dân chúng Huế ủng hộ “Chí Sĩ” Ngô Đình Diệm, lật đổ vua Bảo Đại-.

(12) Lần đi chơi lăng với bạn học năm 1957 tôi còn nhớ tên các chị là Thu Phong, Thu Nguyệt, (hai chị em sinh đôi), Phong Ty, (chị của Nguyễn Hữu Châu Phan) và Phan, “cặp bài trùng” Kiều Diệm và Túy Diệp, Nguyễn Thị Đường, Trần Thị Ngọc Hương, Dương Thị Thanh Hương, Võ Thị Trà Liên, Hoàng Thị Ngọc Trâm. Bạn trai có Nguyễn Đắc Hải, Nguyễn Đình An, Nguyễn Đình Hồng, Nguyễn Văn Anh, Trần Đoàn, Lê Phú Lư, Nguyễn Văn Thuận, Nguyễn Hữu Ngô, Nguyễn Thanh Trầm, Trần Văn Viên (em chị Ngọc Hương. Hai chị em nầy là cháu nội ông Thị Ngô, là đề tài trong một truyện ngắn của tôi), Nguyễn Văn Anh, v.v…

Lên tới lăng Minh Mạng, bọn học trò chúng tôi tản ra đi loanh quanh xem lăng. Trưa, họp nhau trong một cái nhà mát bên hồ bán nguyệt ăn trưa. Trong chương trình văn nghệ sau ăn trưa các bạn yêu cầu tôi ngâm thơ và hát vì họ cho rằng tôi có máu văn nghệ văn gừng. Dĩ nhiên, xong một màn thì có vỗ tay vì… lịch sự. Chương trình văn nghệ vãn thì xuống tắm ở “Ngọn Sông Đào”. Chỉ có bọn con trai tắm sông, mấy chị ngồi chơi trên bờ, không ai tắm cả. Thời ấy, đàn bà con gái mấy ai “phơi mình phơi mẩy” ra trước chỗ đông người. Thu Phong, Thu Nguyệt, gọi tôi lại, đưa cho tôi một cái chai không, biểu tôi bơi ra xa bờ lấy cho các chị một chai nước đầy. Khi mang vào, tôi cầm cái chai đưa cao lên, la to để lập công, xương sườn xương sống của tôi lộ rõ ra. Bất ngờ có anh bạn nào đó chụp một tấm hình. Mấy hôm sau, ngay tại lớp học, trong khi chờ Bác Sĩ Lê Bá Vận vào dạy (ông nầy chúa đi trễ), Trà Liên cầm tấm hình đó đưa cao lên, miệng oang oác: “Ê! Tụi bây tới coi. Đếm thằng Hải có đủ băm sáu cái xương sườn”, khiến mọi người ai cũng cười ồ lên (bọn con gái thường kêu bạn trai cùng lớp bằng tên hay “thằng”, trong khi con trai kêu bạn gái bằng tên hay “chị”; sau lưng họ mới dám gọi “con ni con tê”).

Cũng nhân khi tắm sông, có mấy chị ngồi coi, Nguyễn Hữu Châu Phan, tay chưn lòng khòng như con vượn, bơi thì dở ẹt nhưng muốn biểu diễn, bèn bơi ra giữa dòng, bị nước cuốn nhanh. Anh ta hốt hoảng la to cầu cứu, nhờ chiếc đò ngang đang qua sông, người trên đò kéo anh ta lên. Anh ta bị một mẻ hết hồn nhưng trở thành một trò cười cho cả lớp.

Share this post