Đi Thăm Đất Nước – C.D.M.

Đất nước tôi không lớn lắm, nhưng đi hết cuộc đời không hiểu hết chữ yêu !

Đất nước tôi nhiều dân tộc, ngôn ngữ. tôn giáo … cả đến những ăn uống, đi đứng, giải trí … cũng đa sắc thái vô cùng.

Tôi làm sao nói hết! Chỉ một vẻ đạp của phụ nữ tôi đã chào thua … hết đường diễn tả! Người Bắc nói đẹp Ghê Gớm. người Trung nói đẹp Dễ Sợ, người Nam nói đẹp Tàn Sát!

Về già cái thú lớn nhất của tôi là đi du lịch. Đi thăm Đất Nước ! Ông Trịnh Công Sơn là chúa nói dóc. Ông nói khi đất nước tôi thanh bình … mà không thấy ông đi thăm An Lộc. Đồng Xoài, Bình Giả… không ngó xem cái hố bom CBU nó sâu cỡ nào? (hay là ông nghĩ đất nước chưa Thanh Bình). Thôi bỏ đi Tám! Chuyện buồn nói mãi làm chi! Tôi xin nói chuyện vui, dù có người vui không nổi!

Nhiều tác giả nghiên cứu Việt Nam nói rằng đất nước này tươi đẹp và sẽ … giầu đẹp! Một chuyên gia kinh tế Mỹ (hợp tác với Giáo Sư Vũ Quốc Thúc viết về kinh tế Việt Nam thời Hậu Chiến) nói rằng Việt Nam còn ba cái kho lớn: Cao Nguyên Dak Lak, rừng Cà Mau, đồng Tháp Mười).

Dak Lak thì tôi đã đi lâu rồi. Đây là vùng mưa nhiều tới 4 mét nước! Đất đỏ rất màu mỡ, đất đen còn mầu mỡ hơn! Nơi đây có kinh đô Ốc Đồn của nước Xích Thổ!!!

Các nhà khảo cứu cứ nói cái nước hùng mạnh Xích Thổ ở mải tuốt Mã Lai, Nam Thái Lan! Ôi! Sai bét! Chính nhờ cụ Nguyễn Văn Siêu nói nước này đóng đô ở ỐC ĐỒN mà tôi biết nó chính là YOK DON (người Pháp ghi nơi này là bản Don, nhưng may thay ngày nay người ta lập Lâm Viên Quốc Gia và trả lại tên em là YOK DON). Chính nơi này vua Bảo Đại đi săn voi và té gãy chân. Kẻ độc miệng nói rắng ngài bắt bồ với vợ Tây và bị chồng bắn vào đùi! Ngay thành phố Bun Ma Thuộc có ngôi chùa của Thái Hậu Từ Cung khá đẹp.

Cái kho báu mênh mông này không hiểu sao lúc hấp dẫn lúc không. Thời cụ Diệm dân số tỉnh Dak Lak là 200.000 người, thời ông Thiệu 300.000. Nay thì theo thống kê chính thức là 1.8oo.ooo, nếu kể cả dân lậu thì không biết bao nhiêu? Người ta di cư ồ ạt, di cư vô tội vạ, di cư không có “chỉ đạo”(!). Có những dân miền núi tận biên giới phía Bắc vô ở mãi tận ven lâm trường, mỗi nhóm chừng 10 nhà, khó kiển soát nổi! Lâu lâu các bộ đi một vòng lượm các chú về, áp tải tới tận quê biên giới phía Bắc… nhưng… ba ngày sau người ta lại thấy các chú hiện diện ở ven những lâm trường mầu mỡ này!!! Còn các quan lớn, các đại gia thì sao? Họ “xin“ những miếng đất rộng mênh mông trồng những cây cho gỗ cực quý, cực quý … đợi 100 năm sau thu hoạch!!!

Người Âu Mỹ tới đây mua cà phê “sa cạ“ vớ giá rẻ mạt. Về đó họ lựa ra trái chin, phẩm chất cao, pha bán cho các Đại gia với giá ngất ngưởng trên trời. còn trái nhỏ, trái non, trái xanh… họ pha chất tạo đắng, tạo mùi, tạo mầu bán cho dân ngáo thì cũng đắng, cũng thơm, cũng nổi bọt, cũng ngon chớ bộ !!!

Tôi thật không dám cà khịa với các vị có trách nhiệm, nhưng thực ra cách làm ăn cà chớn này không biết tương lai đi về đâu, khi ta cứ hãnh diện là xuất khẩu thứ nhất, thứ nhì thế giới! Nhưng gì thì gì cái thủ phủ cà phê của chúng ta cũng xứng đáng chễm chệ trên một trong ba kho báu lớn của nước nhà!

Cái kho báu thứ hai của chúng ta cũng lớn lắm. Chiếm hết tỉnh Cà Mau và còn thêm vạt U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang.

Có hồi người ta nói sẽ lấy than bùn làm nhà máy điện để phát triển miền Tây sông Hậu! Than bùn! Xưa rồi Diễm! Có lẽ ta để dành cái lẻ tẻ này chơi! Các nước văn minh đang tìm cách chơi điện gió, điện thủy triều, điện mặt trời, điện Hydro! Người Mỹ đang chế ra thứ ngói như pin mặt trời để mọi nhà thừa điện dung khỏi truyền từ xa! Người ta còn hoang tưởng nói rằng thu năng lượng từ những đám sấm sét!!!

Người ta tưởng bở khi cho anh Ba Tầu làm nhà máy Khí Điện Đạm. Nhưng không hữu hiệu và cho lượng lớn như người ta khoa trương!

Tôi đi từ Cà Mau ra tận đất mũi, thấy rằng đa số du khách Việt Nam tới đây đều chỉ để chụp hình với cây số O để tỏ mình có tình với tận cùng đất nước! Còn du khách ngoại quốc chưa nhiều vì đường chưa ngon! Du khách ngoại quốc thích nhất là đi xuồng nhỏ dưới rừng Đước! Nhưng khốn khổ cho giòng họ Đước này vì bị tiêu diệt ngày càng nhiều! Ngày xưa than Đước là một nguồn lợi lớn đến nỗi bà Ngô Đình Nhu phải với tay tới! Tôi là khách thích thưởng trà mà tự nấu nước rồi pha bằng than Đước thì thật là thú vị!

Ngày nay người ta quên ơn giữ nước của anh chàng Đước ! Người ta không nấu nướng bằng than đước nên coi anh ta là đồ vô tích sự chăng ?

Tôi đi từ Năn Căn về Nam, đường không qua huyện lỵ Đầm Dơi, Cái Nước, Ngọc Hiển nên vắng hoe. Qua khỏi Năm Căn chừng mươi cây số thì hai bên đường nước mênh mông, mênh mông (vì mùa mưa) không có một vạt lúa, chỉ toàn cây nhỏ chừng dăm mét mà nước ngập … hai, ba mét! Tôi đi như cỡi ngựa xem hoa nên không thấy rùa, rắn, thú rừng, tổ ong! Không biết dân sống như thế nào? … nhưng các cháu nhỏ … tôi nghĩ tới thì thương lắm! Các cháu phải đi học bằng xuồng ở những điểm trường không hiệu trưởng, thiếu bàn ghế, sách vở … không hiểu các cháu lượm được bao nhiêu con chữ!!!

Ôi! Nghĩ tới chữ Phát Triển, Bay Cao, Bay Xa sao thấy nó xa vời quá! Hay là ta nhờ anh Hòa Lan đắp những con đê ngăn mặn, tốn kém tới mấy chục ngàn tỷ đô la chăng???

Tôi đi một vòng miền Tây: Cao Lãnh, Tháp Mười, Tràm Chim, Hồng Ngự, Tân Chây, Tịnh Biên, Giang Thành… Đúng là tươi đẹp, tươi đẹp dù kinh tế chưa phát triển như mong đợi!

Cao Lãnh rất phát triển và rất đẹp. Những con lươn và vòng xoay trồng sen trên cạn mà bông lớn đẹp. Điều tôi mong muốn là vào trung tâm Đồng Tháp Mười. Cái Đồng Tháp Mười trong cuối thời Nguyễn và đầu thời Pháp là bịa đặt cả đấy. Ông Nguyễn Duy Dương thua trận ở Gia Định chạy về Bạch Tháp là nơi vùng Gò Công (nay còn cái tháp trắng đó). Ông thấy chống Pháp không nổi nên lên thuyền chạy về Thập Tháp (giữa đường bị đắm thuyền chết ở cửa biển Thầm Mẫu – Phan Thiết). Thưa độc giả: Thập Tháp là Quy Nhơn đấy (quê của ông). Sau này người ta nói mười cái tháp hay tháp thứ mười hay tháp mười từng là sai lầm thôi! Tôi bài bác tài liệu xưa nhưng vẫn hoan nghênh người ta lập đền thờ ông. Người Anh Hùng thì thờ ở đâu mà chẳng được (!)

Người Pháp tới, vẽ bản đồ ghi: Plaine des Joncs vắt dài từ Đức Hòa Đức Huệ tới vùng Láng Linh Châu Đốc. Sau này người ta dùng danh xưng Đồng Tháp Mười để chỉ vùng phía Tây Long An, phía Bắc Cao Lãnh. Vùng này theo bi ki của người Miên hay Chà là BIỂN SỮA chăng???

Cái BIỂN này mỗi ngày mỗi thu hẹp, ngày nay 2017 còn rất nhỏ vì nó bị bao vây bởi ba thị xã chung quanh: Mộc Hóa, Cai Lậy, Hồng Ngự!

Tôi đi từ Cao Lãnh lên phía Bắc mà lòng lâng lâng thích thú. Thị trấn Mỹ An phát triển mau và đẹp. Thời thi sĩ Nguyễn Bính nó chỉ là cái chợ nhỏ. Mỹ An, Thiên Hộ, Cái Bèo chỉ là những nơi trao đổi buổi chiều giữa người trong Bưng và người ở ngoài vì người ở trỏng rất cần những nhu yếu phẩm từ Mỹ Tho và Sài Gòn.

Chả biết cây Ô Môi ra hoa vào mùa nào mà tôi nhớ thi sĩ vô cùng:

Hình thôn dáng xóm thương thương
Hoa ô môi nở bốn phương anh đào

(Cái ông thi sĩ gàn này, ngày 27 tháng Bảy viết biểu ngữ “Chết Mà Bất Tử“ bị ông tư lệnh bắt phải sửa, người miền Nam nói chết bất tử theo nghĩa khác. Thi sĩ ấm ức hoài, tan họp rồi vẫn còn lẩm Bẩm ).

Xui cho tôi, giữa mùa nước mà cánh đồng mênh mông không nhiều sen, chỉ có chừng hơn trăm túp lều cỏ cho khách ngồi nhâm nhi cà phê ngắm sen (chắc lợi lộc không nhiều).

Thăm đền Thiên Hộ Dương và Đốc Binh Kiều thì tôi cảm động, nhưng thăm nơi thờ tự thần Civa, ngẫu tượng Mukhalinga và các tượng thần thì tôi chẳng hiểu bao nhiêu! Tôi đành giã từ BIỂN SỮA và đi về phía Tây.

Tràm Chim đối với tôi không hấp dẫn lắm, nhưng đối với rất nhiều người, nhất là khách Ba Lô thì Tràm Chim hấp dẫn vô cùng. Hàng ngàn loài chim, hàng ngàn loài cá trên một vùng mênh mông nước, khách ngồi Ca Nô luồn lách qua những khu rừng ngập nước vô cùng sảng khoái, vô cùng thích thú! Tôi nghĩ Tràm Chim sẽ có một tương lai sáng lạng.

Điều hồi hộp thứ hai sau trung tâm biển sữa là tôi sẽ đến Hồng Ngự và sông Sở Thượng! Ôi! Lại nhớ đến công lao người xưa! Hồng Ngự là do tên xưa HÙNG NGỰ vì vua Nguyễn hồi xưa đã đặt một cơ binh tinh nhuệ ở đây để phòng ngự! Sao lại nói trại đi như thế???. Người lính phòng ngự cũng là lính đồn điền nên mới có những sở đồn điền mang tên Sở Thượng, Sở Hạ!

Hỏi người dân thường thì người ta không biết có sông Sở Thượng trên đời này, mặc dù ngay chỗ sông Sở Thượng đổ vào sông Tiền ở Hồng Ngự có cái cầu đề ba chữ cầu Sở Thượng to tổ bố! Nơi đây ngày nay trên bến dưới thuyền, thuyền đậu dài dài rất bắt mắt! Có một ông chủ quán cà phê, người duy nhất cho tôi biết tên sông và nói ở thượng nguồn còn làm ruộng và nghèo! Nhưng ngày nay người ta đã lập một cửa khẩu ở Dinh Bà phía thượng nguồn để buôn bán và… buôn lậu. Phải thế chứ, Hùng Ngự sẽ vươn lên, giầu có để khỏi tủi linh hồn người lính phòng ngự, làm đồn điền và người thiếu phụ mong chồng, đêm đêm ngồi ru con:

Share this post