Di Tính Hay Môi Trường Sống? – lltran

(TVVN.ORG) Từ Âu sang Á, ca dao tục ngữ và những câu chuyện cổ không nhất thiết dẫn đến cùng một kết luận nhưng lại là sự kết hợp của các kinh nghiệm để đời của tiền nhân dù các kinh nghiệm ấy khác nhau và đôi khi đối chỏi, như tiêu đề “con vua” và “ở bầu thì tròn”. Với những chuyên gia về nhân chủng và xã hội trên thế giới, đề tài được thảo luận ráo riết suốt mấy thập niên qua liên quan đến di tính và môi trường sống, hai yếu tố ảnh hưởng rất sâu đậm đến sự trưởng thành và thành công của một con người.

Câu tục ngữ “con vua thì lại làm vua”, xem trọng yếu tố di tính, dựa trên truyền thống “cha truyền con nối”. Cha mẹ để lại đất đai, tiền bạc, trợ giúp con cái, cháu chắt chiếm giữ và duy trì quyền lực trong cộng đồng lớn / nhỏ. Ngược lại, “con sãi chùa thì quét lá đa”, tiếp tục cuộc sống nghèo khổ, đời này sang đời khác với vài trường hợp ngoại lệ như Vua Lý Công Uẩn trong lịch sử Việt và ông… Bill Clinton trong lịch sử cận kim của Huê Kỳ. Nói một cách khác, con người xem nặng huyết thống gia tộc, nhất là trong các cộng đồng nhỏ như làng, xã… sống quây quần bên nhau nên người trong gia đình, họ hàng trợ giúp lẫn nhau để thành công.

Khi đời sống no đủ, thoải mái, con người ít thay đổi, di chuyển nhưng lúc đói khát quá, khốn khổ quá thì con người có khuynh hướng mạo hiểm, đi tìm đất sống [mới], tạo ra những cuộc di dân lớn, nhỏ. Đất mới, cộng đồng mới tạo ra một môi trường sống mới, “ở bầu thì tròn”. Những cái “mới” ấy đòi hỏi con người phải thích nghi để sống còn, họ tạo ra các khuôn mẫu mới, cách sinh hoạt mới hay một xã hội mới. Sự thay đổi tạo nên cơ hội. Nghĩa là từ những cư dân “mới”, các nền tảng của xã hội mới ấy được thành lập và đây chính là cơ hội thi thố tài năng của các “con sãi chùa”, những người khởi đầu từ con số không, tranh đấu để sống còn, thành công và từ đó có thể trở thành lãnh tụ.

Xã hội “mới” và di dân xem ra liên quan mật thiết với nhau. Lập thuyết ấy được chứng minh liên tục qua lịch sử lập quốc của con người. Huê Kỳ, Gia Nã Đại… là hình ảnh của những xã hội tương đối mới với những lớp người lãnh đạo mới so với vua chúa, hoàng gia Âu Châu lâu đời. Thế giới mỗi ngày một phẳng nên không lạ là bá tánh di chuyển từ nơi này đến nơi khác để lập nghiệp. Tại Huê Kỳ, không thiếu những tài phiệt, lãnh tụ chính trị gốc gác là di dân mới 1-2 đời. Ngược lại, vẫn có những nhóm cư dân “cũ”, tiếp tục nghèo khổ, đời cha ông đến đời con cháu. Yếu tố nào khiến những cư dân ấy “dậm chân tại chỗ”? Họ không được trợ giúp? Thiếu cơ hội tiến thân qua học vấn hoặc nghề nghiệp?

Vài thập niên trước, tại Huê Kỳ đã có những cuộc “thí nghiệm” xã hội (social experiment) để tìm hiểu và thay đổi môi trường sống của một số địa phương nghèo khổ: phong trào chống nghèo đói và thí nghiệm “Moving to Opportunity” ra đời bắt đầu từ Los Angeles sau trận nổi loạn của cư dân da màu (https://www.hud.gov/programdescription/mto). Quốc Hội Hoa Kỳ đã tài trợ một ngân khoản đáng kể cho chương trình thí nghiệm này, một số cư dân nghèo (10% dưới mức nghèo khó) tại Baltimore, Boston, Chicago, Los Angeles, và New York City, đã được tặng phiếu trợ cấp; giúp họ dọn đến một khu xóm khá giả hơn, con cái được đi học tại trường học tử tế hơn… Nhóm cư dân [may mắn] này được theo dõi, tìm hiểu trong suốt 10 năm [và các dữ kiện như lương bổng, công việc làm, học vấn của con cái… được so sánh với nhóm cư dân không được trợ giúp]. Kết quả thu góp từ thí nghiệm này cho thấy một sự thất bại: Cư dân [được trợ giúp] vẫn… nghèo, vẫn không kiếm được việc làm khá hơn và con cái họ vẫn không học hành thành tựu. Nói giản dị là bất kể sự trợ giúp đặc biệt liên tục trong 10 năm, xã hội vẫn không thay đổi được tình trạng sinh sống của nhóm cư dân nghèo kể trên, lập thuyết “con sãi chùa” dường như được chứng minh là đúng!

Thế rồi một bài tường trình mới hơn được công bố, bài tường trình của các chuyên viên (Raj Chetty và Nathaniel Hendren) từ Đại Học Harvard năm 2015 (http://www.equality-of-opportunity.org/images/nbhds_exec_summary.pdf), đã chứng minh ngược lại các kết quả từ thí nghiệm [xã hội] “Moving to Opportunity”. Đây là một bài tường trình quy mô, tìm hiểu việc di chuyển của trên 20 triệu đứa trẻ khắp Hoa Kỳ qua bản khai thuế của cha mẹ chúng, những gia đình sinh sống tại các thành phố nghèo khó của Huê Kỳ. Tác giả thu góp các dữ kiện liên quan đến những gì đã xảy ra cho các đứa trẻ này: đứa trẻ nào sinh con trong tuổi dậy thì, đứa trẻ nào ra khỏi xóm nhà lá và trở thành cư dân trung lưu, đứa trẻ nào tiếp tục sống trong xóm nghèo… Tác giả kết luận rằng nơi sinh sống không chỉ tách biệt người giàu kẻ nghèo mà còn là yếu tố chính dẫn đến việc thành công của những đứa trẻ [con nhà nghèo].

Với các dữ kiện tương đồng (học vấn, lương bổng của cha mẹ, được chăm sóc…), trẻ em [nghèo] sinh sống trong xóm nghèo khi ra đời có số lương 35% thấp hơn so với trẻ em [nghèo] sinh sống tại những nơi “dễ sống” (an toàn, đầy đủ các sinh hoạt xã hội như công viên, sân chơi…) với mức thất nghiệp thấp, một cộng đồng “thoải mái”.

Số năm học trong một cộng đồng “thoải mái” là một yếu tố quan trọng khác: khôn lớn tại một địa phương an toàn, vững chắc càng lâu, đứa trẻ càng có nhiều cơ hội phát triển theo một khuynh hướng lành mạnh, “upward mobility”.

Theo bài tường trình từ Harvard, danh sách “xóm nhà lá” bao gồm các thành phố lớn như Baltimore, Atlanta; Chicago; Los Angeles; Milwaukee; Orlando, West Palm Beach và Tampa của Florida; Austin (Texas); the Bronx (New York); và một phần của Manhattan… Các vùng này đều đông cư dân da màu, và chủng tộc xem ra cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến khuynh hướng phát triển của trẻ em: Mọi đứa trẻ (da trắng cũng như da màu) sinh sống trong xóm nhà lá đông người da màu đều chịu “thui chột”, ít cơ hội phát huy tiềm năng. Cả hai nhóm trẻ em kể trên đều khó có thể đạt mức “trung lưu”, và đều có cùng cơ hội thăng tiến khi được di chuyển đến sinh sống tại các cộng đồng lành mạnh.

Các địa phương được xem như khuôn mẫu của xã hội lành mạnh bao gồm các thành phố lớn như San Francisco, San Diego, Salt Lake City, Las Vegas và Providence (Rhodes Island); và các vùng ngoại ô như Fairfax (Virginia); Bergen (New Jersey); Bucks (Pennsylvania); Macomb (Michigan); Worcester (Massachusetts); và Contra Costa (California). Các vùng này có chung một số yếu tố: Trường tiểu học có điểm trung bình cao, phần lớn các gia đình đều có đầy đủ cha và mẹ, cư dân tham gia các hoạt động xã hội & tôn giáo và nhất là có sự hòa đồng giữa các gia đình trung lưu với các gia đình nghèo.

Di chuyển từ xóm nhà lá đến các cộng đồng lành mạnh, trẻ em có nhiều cơ hội thành công nhất khi được di chuyển trong giai đoạn thơ ấu, trước tuổi dậy thì và thay đổi nơi sinh sống càng sớm càng tốt: Trẻ em sinh con trong tuổi dậy thì với tỷ lệ thấp hơn, và chúng có mức học vấn cao hơn.

Tác giả kết luận rằng việc chọn lựa nơi sinh sống của phụ huynh do đó, ảnh hưởng sâu đậm đến tương lai của con em.

Sự khác biệt giữa chương trình “Moving to Opportunity” và bài tường trình từ Harvard, theo ý riêng, là yếu tố “phụ huynh”, những người quyết định và thực hiện việc di chuyển [đến một cộng đồng lành mạnh]: Chỉ khi phụ huynh nhìn ra các khuyết điểm của nơi sinh sống và muốn thay đổi để con em có cơ hội phát triển thì việc di chuyển mới được thực hiện. Cộng đồng “lành mạnh” thường đi kèm với chi phí sinh hoạt cao hơn (nhà cửa giá đắt hơn, thuế má nặng hơn…) và phụ huynh chịu chấp nhận hy sinh cho tương lai con cái. Nhóm phụ huynh “chủ động” này xem ra khác với nhóm phụ huynh được [chính phủ] lựa chọn và tài trợ việc dọn nhà, sự di chuyển có tính cách “thụ động”.

Sự chủ động so với thụ động của phụ huynh hẳn đã ảnh hưởng sâu đậm đến cách sinh hoạt của con em trong gia đình?

Dựa trên các tài liệu kể trên, một số các chuyên viên kinh tế đã hô hào việc thay đổi các chính sách cung cấp nhà ở. Hiện nay, cư dân phải chờ đợi để được trợ cấp nhà ở theo danh sách của chính phủ. Và chính phủ cũng giảm thuế cho các thương gia chịu xây cất nhà ở tại những xóm nghèo thay vì tài trợ các thương gia địa ốc trong việc xây cất nhà cửa [rẻ] trong các cộng đồng lành mạnh.

Một ý kiến khác: Tài trợ việc thay đổi xóm nghèo, biến xóm nhà lá thành các cộng đồng lành mạnh thay vì tài trợ việc di chuyển cư dân.

Thay đổi con người ta cần cả một thế hệ. Thay đổi một cộng đồng đòi hỏi rất nhiều tài lực và thời gian, một chính sách kéo dài có thể vài ba thế hệ. Theo thể chế chính trị, chính phủ Huê Kỳ thay đổi theo nhiệm kỳ. Mỗi chính sách xã hội chỉ kéo dài được 4-8 năm theo nhiệm kỳ của đảng cầm quyền rồi thay đổi theo… hướng gió chính trị. Dường như đây là nhược điểm tệ hại của một cường quốc giàu có nhất thế giới?!

Share this post