Đọc Khalil Gibran: The Prophet – Nguyễn Ngọc Chính

Đọc Khalil Gibran: The Prophet – Nguyễn Ngọc Chính

Năm 1970 tôi có duyên may nhận được quyển sách “The Prophet” qua chương trình tặng sách của Asia Foundation. Đây là chương trình của một tổ chức văn hóa phi lợi nhuận dành cho quân nhân và công chức trong chính phủ VNCH dưới sự tài trợ của Hoa Kỳ.

Vào thời đó, những người tại miền Nam biết rất ít về chương trình tặng sách này: cứ mỗi sáu tháng, người đọc được Asia Foundation tặng 5 cuốn sách có trong danh mục của thư viện. Đó cũng là lý do tôi được làm quen với Khalil Gibran qua tác phẩm “The Prophet”.

Quyển sách mà tôi được tặng là ấn bản lần thứ 85 của Borzoi Book do nhà xuất bản Alfred A. Knoff in năm 1969. “The Prophet” tương đối mỏng (96 trang) nhưng lại không ít những điều thú vị được rút ra. Cho đến ngày nay, những sách thuộc loại “lời hay ý đẹp” thường xuất hiện nhiều danh ngôn của Khalil Gribran để lại cho đời.

Khalil Gibran sinh ra tại Liban năm 1883, ông là nhà thơ, nhà văn và cũng là một họa sĩ. Trong thế giới Ả Rập, Gibran được coi là “một kẻ nổi loạn trong văn học và chính trị”, riêng tại Liban ông nổi tiếng là một thiên tài văn học. Khi còn trẻ ông di cư cùng gia đình đến Boston, Hoa Kỳ. Tại đây, Gibran nghiên cứu nghệ thuật và bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình.

Khalil Gibran sáng tác bằng cả tiếng Anh và tiếng Ả Rập. Sự nghiệp văn chương của ông được biết đến trong thế giới nói tiếng Anh qua cuốn sách “The Prophet” năm 1923. Tác phẩm là một loạt bài tiểu luận về triết học được viết rất ngắn bằng một thể loại văn chương mới mẻ: “thơ bằng văn xuôi” (prose poem).

“The Prophet” khi mới xuất bản đã gặp nhiều phản ứng trái chiều vì có khuynh hướng “chống lại nền văn minh của xã hội đương thời”. Cho đến những năm 1930, cuốn sách trở thành một bestseller. Nhiều nhà phê bình văn học cho rằng Gibran là tác giả có sách bán chạy vào hàng thứ 3 trên thế giới, chỉ sau Shakespeare và Lão Tử.

Đặc biệt trong “The Prophet” có kèm 12 bức tranh do chính Khalil Gibran sáng tác. Chúng tôi sẽ giới thiệu đầy đủ những bức tranh này để minh chứng ngoài khả năng viết và lý luận, ông còn có một tài năng về hội họa trừu tượng tuyệt vời.

“The Prophet” đã được dịch sang 40 ngôn ngữ, gần 200 lần tái bản với hơn 100 triệu cuốn. Trong đó số đó có những bản dịch tiếng Việt của nhiều dịch giả từ thời VNCH cho đến ngày nay. Xưa nhất là bản dịch mang tựa đề “Mật Khải” của Phạm Bích Thủy (Sài Gòn, 1969).

Sau năm 1975 còn có bản dịch “Nhà Tiên Tri” của Nguyễn Ước hay dịch bằng thơ cũng lấy tựa đề “Mật Khải” của Yên Hồng. Những vần thơ được trích dẫn dưới đây đều trích từ “Mật Khải” của Yên Hồng.

Bối cảnh của “The Prophet” là buổi chiều chia tay của nhà tiên tri Almustafa với dân thành Orphalese, những người đã chung sống trong yêu thương ông suốt 12 năm. Trước khi lên đường trở về hòn đảo sinh thành, ông trả lời mọi câu hỏi được những kẻ đưa tiễn đặt ra.

Đó là những vấn đề liên quan tới tình yêu và sự chết, lao động và khoái lạc, tự do và của cải, hôn nhân và tình bằng hữu, tôn giáo và lề luật… Như đã nói ở trên, sách được viết dưới dạng tiểu luận triết học, không chia thành Chương như thường thấy trong các tác phẩm cổ điển.

Vấn đề đâu tiên được tác giả đề cập đến là Tình Yêu. Kahlil Gibran cho rằng nếu những người đang yêu với nhiều khát vọng thì hãy ước được thức giấc vào buổi mai với con tim chắp cánh và cảm tạ có thêm một ngày nữa để yêu. Yên Hồng trong “Mật Khải” diễn ý bằng 4 câu thơ:

“Mỗi bình minh thức giấc
Nghe lòng chắp cánh bay
Xin tạ ơn trời đất
Được yêu thêm một ngày”

Để trả lời câu hỏi về Hôn Nhân, ngôn sứ Almustafa định nghĩa mối ràng buộc này một cách đơn giản: “Các ngươi sinh ra gần nhau thì sẽ gần nhau mãi mãi. Các ngươi sẽ gần nhau cho tới khi đôi cánh trắng của tử thần đến phá nát ngày của mình”. Ý đó được dịch qua 4 câu lục bát:

“Trời sinh ra kiếp vợ chồng
Bên nhau mãi mãi, một lòng cùng nhau
Bên nhau cho đến bạc đầu
Đến ngày tang tóc, bể dâu chia lìa”

Về Con Cái, vị ngôn sứ dạy: Con cái các ngươi chẳng thuộc về các ngươi… vì chúng có những khao khát của riêng của bản thân mình. Chúng đến “qua” các ngươi nhưng chẳng “từ” các ngươi (They come through you but not from you). Và dẫu ở cùng các ngươi, chúng chẳng thuộc về các ngươi.

Tư tưởng này thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn nhưng nghĩ cho cùng, đó là một thực tế không thể phủ nhận. Người Việt mình có câu “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”, hình như cũng có điểm tương đồng với ý niệm của Khalil Gribran. Cái mà Gibran gọi là “những khao khát của riêng của bản thân mình” chính là cá tính của từng đứa con.

“Là con cái, cũng chẳng là con cái
Là con ta, cũng chẳng phải con ta
Những đứa trẻ, cả trai lẫn gái
Chúng là con của khát vọng sâu xa”

Almustafa khuyên những người giàu có: “Các ngươi cho rất ít khi đem cho những thứ các ngươi sở hữu. Đem cho chính bản thân, ấy mới thực là cho”. Quả là một quan niệm “cách mạng” về các hoạt động… từ thiện. Xem ra, quan niệm của Gibran về sự trao tặng có phần hơi “cường điệu” vì mấy ai trên cõi đời này có thể hiến cả mạng sống của minh khi “cho” tha nhân?

“Đem cho của mình có
Thật ít ỏi làm sao!
Đem cho thân mạng mình
Mới là cho đúng nghĩa”

Gibran cũng không quên về chuyện ăn uống hàng ngày. Ông khuyên, khi giết một con thú để làm thức ăn, ta phải nghĩ rằng cùng một quyền năng tiêu diệt, chính bản thân ta cũng sẽ là mục tiêu của sự hủy diệt. Đơn giản chỉ vì khi luật lệ vào tay ta cũng sẽ giao vào một bàn tay khác, mạnh mẽ hơn!

Tư tưởng của ông bàng bạc chuyện sát sinh mà nhà Phật vẫn thường nói đến. Tại sao người ta ăn chay? Phải chăng vì không muốn thấy quyền sinh sát của con người với động vật cũng sẽ là quyền hủy diệt của tạo hóa đối với chính con người?

“Khi giết thịt để ăn, lòng hãy nhủ lòng
Hỡi con vật đáng thương hôm nay ta giết
Cũng chính sức mạnh này sẽ giết chính ta…”

Công việc, lao động hay cần lao cũng là một đề tài trong “The Prophet”. Phàm con người thường hay phàn nàn về công việc mình làm và cho đó là nỗi bất hạnh của từng cá nhân.

Tuy nhiên, Almustafa lại cho rằng khi làm việc, con người đang hoàn tất một giấc mơ thầm kín nhất có từ khi chào đời. Tiếp tục công việc cần lao có nghĩa là tiếp tục yêu đời.

Ngày xưa, dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, miền Nam có đảng Cần lao – Nhân vị của ông Ngô Đình Nhu, bào đệ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày nay, người ta cũng thường vinh danh: “Lao động là vinh quang”.

“Cần lao chính là tình yêu hiển thị
Nếu ai không mở lòng tri kỷ với cần lao
Thà đầu đường xó chợ tiêu dao
Nhận bố thí từ những kẻ cần lao hăng hái”

Cũng như triết lý “Tái ông thất mã” của ta, vui đó nhưng cũng buồn đó, khóc và cười cứ nối tiếp, đan xen. Thế cho nên:

“Niềm vui là chính nỗi buồn
Lộ diện chân tướng vở tuồng dấu che
Cùng một giếng nước sau hè
Chứa đầy lệ đắng, múc về niềm vui”

Nhà cửa đối với ngôn sứ chỉ là “những nấm mồ do người chết xây cho người sống” và dù huy hoàng tráng lệ, “nhà cửa sẽ không giữ được bí mật trong việc che đậy những khát vọng trần tục”.

Điều này quá đúng đối với xã hội ngày nay. Những biệt phủ, lâu đài tráng lệ làm sao che đậy được những khát vọng của những người sống trong đó. Họ là ai thì mọi người bên ngoài đều biết.

“Dù cho tráng lệ nguy nga
Bí ẩn không được cửa nhà dấu che
Những khát vọng, những đam mê
Cửa nhà cũng chẳng bảo kê được gì”

Tội Ác – Trừng Phạt (Crime – Punishment) là một vấn đề gây nhiều tranh cãi nếu ta nhìn nó từ góc độ của một triết gia chứ không phải là một phán quan. Almustafa đặt giả định, nếu có ai muốn đem xét xử một người đàn bà ngoại tình thì kẻ ấy hãy đem trái tim của người chồng lên bàn cân và đo lường tinh thần hắn. Ông kêu gọi các phán quan:

“Hỡi phán quan, kẻ mang nặng lời thề:
phải xét xử công bằng liêm chính
Phải tuyên án gì cho nững người lương thiện ở bên ngoài
nhưng lại là kẻ cướp ở trong tâm?
Phải tuyên án gì cho những kẻ sát nhân
giết người khác, nhưng lòng mình bị giết?”

Luật Lệ và Tự Do cũng được đưa vào triết lý sống của Khalil Gibran. Ông cho rằng con người vui thích khi đặt ra luật lệ nhưng chính con người cũng vui hơn khi phá luật lệ. Chẳng khác gì trò chơi trẻ con thường xây lâu đài trên cát để rồi cười vang khi chính chúng xóa đi.

“Người hân hoan khi bày ra luật lệ
Cũng hân hoan khi xóa số luật mình
Như trẻ thơ xây lâu đài trên cát
Bên biển xanh rồi phá nát, cười vang”

Còn Tự Do? Con người sẽ hoàn hoàn tự do khi ngày không còn một nỗi lo âu và đêm không còn sầu thảm. Thật ra, cái gọi là Tự Do lại là sợi xích chắc chắn nhất trong mọi thứ xiềng xích. Xiềng xích ấy lúc nào cũng lóng lánh làm chóa mắt mọi người!

Almustafa thuyết giảng với dân thành Orphalese về Tình Bạn: “Với bạn bè, thiếu thốn của các ngươi được đáp ứng. Hắn là cánh đồng các ngươi gieo hạt bằng tình yêu và gặt hái bằng tri ân. Hắn là bàn ăn và bếp lửa khi các ngươi đói, các ngươi sẽ tìm thấy ở đó sự bằng an”.

“Mỗi khi đói khát đòi cơm
Bạn là bếp lửa, mâm cơm trên bàn
Khi lòng nặng trĩu cưu mang
Bạn là dòng suối bình an ta tìm”

Một thi sĩ thưa: “Xin thầy hãy nói về Cái Đẹp”. Almustafa đặt vấn đề làm sao đi tìm được cái đẹp trừ khi Nàng là đường đi và đồng thời là kẻ hướng dẫn. Làm sao có thể nói đến Nàng trừ khi Nàng là kẻ dệt nên những lời nói từ miệng chúng ta?

Kẻ mệt mỏi, nhọc nhằn sẽ nói Cái đẹp là những lời thì thầm êm ái. Kẻ hiếu động lại cho rằng ta đã từng nghe tiếng Nàng gào thét giữa núi rừng. Ban đêm người lính tuần sẽ nói Nàng sẽ xuất hiện vào bình minh đến từ Phương Đông…

Đó là tất cả những điều người ta nói về Cái Đẹp. Tuy nhiên, nó không phải là hình ảnh con người có thể thấy, cũng không phải là một ca khúc có thể nghe. Vẻ đẹp là sự vĩnh cửu nhìn vào chính mình trong gương.

Khalil Gibran đã từng nói:

“Tôi đến đây để nói một lời và giờ đây tôi sẽ nói. Nhưng nếu cái chết ngăn trở tôi, Ngày Mai sẽ nói lên vì Ngày Mai không bao giờ nói sai những bí mật trong một cuốn sách Đời Đời”.

Chỉ trong một tác phẩm nhỏ nhoi, “The Prophet”, ông đã nói rất nhiều. Những vấn đề nêu ra ở trên chỉ là một phần những gì ông suy nghĩ. Hẹn các bạn vào một dịp khác chúng ta sẽ trở lại với Khalil Gibran để cùng tìm hiểu những gì mà “Nhà Tiên Tri” ấp ủ.

Share this post