Đồng Cỏ – Nguyễn Đình Toàn (Chương Ba)

Chương Ba

Phụng đi qua những đống gạch vụn, đi trên cái lối đi cỏ đã mọc trùm hai bên, vào trong sở.

Kể từ hồi Tết Mậu Thân, cái cơ sở này, bề ngoài trông có vẻ buồn, vì bị súng đạn làm hư nát, riêng đối với tôi nó quen thuộc và thân thiết như căn nhà thứ hai, mỗi khi phải bước qua đống vôi vữa, vào làm việc, tôi không khỏi đau lòng.

Trong nhiều ngày sau vụ Tết Mậu Thân, tới nơi làm việc này, ngồi trước máy vi âm, tôi đã không thể nào đọc được một cách bình thường nữa. Mỗi dòng chữ đọc lên tôi tưởng chừng đều vương vất tro bụi, cỏ dại trên cái nền cũ phải bước qua để vào đài. Tôi e rằng, tôi đã không giấu hết được những hình ảnh đổ vỡ nhìn thấy, nên chắc nó đã hiện ra trong giọng nói.

Hôm nay, tôi sẽ nói lời giã từ cả với những những vật âm thầm đó trước khi đi.

Tôi vào phòng vi âm, ngồi dò lại bản tin, chờ đọc trong chốc lát.

Dù biết chưa đến giờ, nhưng theo thói quen, tôi vẫn liếc nhìn cái bóng đèn đỏ được lắp sau tấm kính kẻ hai chữ On Air cũng bằng sơn đỏ, báo hiệu phát thanh.

Chúng tôi luôn có một bản tin vào mỗi đầu giờ.

Và xướng ngôn viên bao giờ cũng được các hòa âm viên báo trước giờ phát thanh bằng cách chớp chớp ngọn đèn đỏ có hai chũ On Air đó.

Đối với chúng tôi, những ngày đầu tiên làm cái công việc xướng ngôn này, ngọn đèn ấy là một sư đe dọa. Khi nó được bật sáng, xướng ngôn viên tập sự thuờng nói, họ muốn đứng tim.

Hết sợ đèn, người ta sợ đến cái micro để trước mặt.

Qua các giai đoạn này, một xướng ngôn viên mới tự thấy được những điều cần thiết để giọng nói của mình có thể rõ ràng hơn. Chẳng hạn mỗi người sẽ tự định lấy cái khoảng cách giữa miệng mình và máy vi âm thế nào là vừa. Công việc này, nghe nói, ở các đài phát thanh lớn của các nước khác, đều do các chuyên viên kỹ thuật ở ngoài phòng vi âm sắp xếp.

Chúng ta chưa đủ các nhân viên như thế, nên chúng tôi phải tự lo liệu lấy việc này, và ai có nhiều kinh nghiệm hơn thì chỉ dẫn cho người khác.

Phát âm với một cường độ đều đặn cũng là điều tối cần đối với một xướng ngôn viên. Bằng kinh nghiệm người ta có thể biết khi nào miệng nên ghé gần micro hơn một chút.

Tôi còn nhớ kỷ niệm đầu tiên khi vào phòng vi âm, thấy những chiếc bàn dùng để đọc tin, mặt bàn không liền mà được ráp bằng những thanh gỗ thành những ô lủng cách nhau chừng mười phân, đối với tôi khi ấy là một điều kỳ lạ.

Tôi hỏi nguời nam xướng ngôn viên cùng làm với tôi, tại sao người ta lại làm cái bàn như vậy?

Anh đã nhìn tôi cười bảo, để xướng ngôn viên có lỡ bỏ sót chữ nào thì nó rơi ngay xuống gầm bàn khỏi phát ra ngoài.

Dĩ nhiên tôi ngẩn mặt không hiểu.

Cả tháng sau tôi mới được Sơn giải thích cho hay, bàn phải làm như vậy, cho tiếng nói khỏi bi dội lại máy. Sơn cũng cho tôi biết, tại sao, việc mở cửa phòng vi âm trong lúc đang lúc phát thanh cũng tuyệt đối bị cấm, không phải chỉ vì sợ tiếng động lọt vào mà còn vì sự xáo trộn không khí có thể gây ảnh hưởng tới phẩm chất của chương trình phát thanh, gây khó chịu đối với thính giả.

Bây giờ cái đèn đỏ trong phòng vi âm đó là biểu hiện cho sinh khí đích thực của cơ quan. Nó giống như trái tim của đài phát thanh.

Khi đang đọc bản tin, tôi thoáng trông thấy Sơn ở phía ngoài. Anh chờ tôi đọc xong bản tin, để đi ghi âm một chương trình khác cho buổi tối.

Trong lúc để người bạn bên cạnh đọc đoạn tin kế tiếp (chúng tôi có lúc áp dụng lối đọc xen kẽ hai giọng), tôi ngửng lên nhìn Sơn, mỉm cười chào anh.

Sơn cũng cười chào lại tôi.

Và lạ lùng thay, khi tôi cúi xuống đọc tiếp bản tin, tôi có cảm tưởng không phải Sơn chỉ nhìn tôi bằng đôi mắt của anh, mà anh đã nhìn tôi bằng cả tấm kính ngăn phòng vi âm với phòng máy.

Lúc tôi ra ngoài, Sơn nói:

– Cô mặc cái áo lụa mỡ gà này hợp lắm.

Tôi cũng đã nhìn thấy bóng mình trong tấm kính trong của phòng vi âm, vì phia ngoài hơi tối hơn một chút, và tôi cũng có cái sung sướng thấy mình dễ coi.

Đàn bà nhiều khi cũng giống như chim sẻ, có thể đẹp hơn trong trong một ngày trời lạnh.

Tôi cười hỏi Sơn:

– Thật không anh?

Sơn bảo:

– Cô nên mang chiếc áo này theo, thỉnh thoảng mặc.

Tôi nói:

– Tôi sẽ nghe anh.

Ra hẳn bên ngoài phòng máy, nhìn qua cửa sổ, tôi mới biết trời lại đang mưa. Mưa tuôn ròng ròng trên cây đa nhỏ và trên mấy bụi hoa giấy đầy bông tím.

Tôi nói:

– Tưởng hết mưa rồi.

Sơn cũng nhìn ra ngoài cửa sổ, bảo:

– Tôi đến đây đã bị ướt giữa đường.

– Bữa nay tôi có đem theo áo mưa, không sao.

– Vậy hả? Tôi không có áo, xin trời chừa tôi ra.

Tôi lại giật mình thấy ra Sơn có nhiều vẻ giống như người đàn ông tôi đã nhiều lần tưởng tượng nhưng đã không vẽ nổi trong trí. Cái gì đã khiến tôi không nhận nổi ra anh trong bấy lâu?

Tôi nói, và rõ ràng tôi nghe trong giọng nói của mình một sự cố tình giăng bẫy:

– Nếu trời không chừa anh, tôi sẽ cho anh đi chung áo mưa với tôi.

Sơn cười nhìn tôi. Trong ánh mắt anh có sự riễu cợt nhưng cũng có sự ấm áp đáng tin cậy, làm tôi phấn khởi.

Sơn nói:

– Không ướt áo lại đau tim còn khổ hơn.

Tôi hỏi Sơn:

– Anh đã bị đau tim lần nào chưa?

Sơn cười bảo:

– Tôi vẫn cứ tự hỏi thế.

– Thế anh nói dối anh sao?

– Không biết đấy là bệnh mình làm ra hay bệnh di truyền.

– Không lý từ xưa tới giờ không ai làm gì anh cả?

– Làm sao cũng chẳng làm sao mà.

– Tôi trông anh đâu có vẻ cứng cáp cho lắm.

– Trái lại nữa đằng khác. Tôi là người rất dễ mủi lòng.

– Anh thường thương người hay thương thân?

– Thương người trước rồi thương thân sau.

– Như thế, anh phung phí sự chung thủy quá phải không?

– Con gái Viêt Nam bây giờ hiền lành lắm cũng cỡ cô. Nào có ai để cho một người yêu hết sự chung tình của mình đâu.

– Bây giờ phải làm sao?

– Xuất cảng dần dần là vừa.

Chúng tôi cùng cười với nhau. Cô nữ hòa âm viên vừa điều chỉnh những chiếc nút trên máy phát thanh vừa quay nhìn chúng tôi bảo:

– Các ông bà này nói riết rồi lúc nào cũng tưởng trước mặt mình là cái micro.

Tôi cũng cười với cô bảo:

– Em “đã điều chỉnh âm thanh vừa đủ nghe để khỏi làm phiền hàng xóm” rồi mà.

Cô bạn cười rũ trên ghế.

Tôi và Sơn đi sang một phòng vi âm kế cận thâu thanh cái chương trình sẽ phát vào buổi tối.

Lúc đi sát khung cửa sổ nhìn xuống vườn, tôi trông thấy những bông hoa giấy rụng lẫn với những chiếc búp đa màu đỏ trên mặt đất sũng nước.

Trời coi bộ chưa thể tạnh mưa được.

Một câu nói nghe thấy lúc đi ngang qua một phòng vi âm lớn, bên trong, một ban nhạc thâu thanh, nhưng mọi người đang dừng tay để chờ cô hòa âm viên thay một cuốn băng mới lên máy “cô ấy đang thay băng, xin quý vị vui lòng chờ, băng cũ quá không thấm nữa”.

Cô hòa âm viên chừng cũng đã quen với những lời đùa nghịch tương tư, vẫn cặm cụi lắp cuốn băng vào máy, làm như không nghe thấy gì.

Sơn nhìn tôi cười.

Tôi cũng không giữ nổi cho mình khỏi cười.

Hình như cụ Nguyễn Văn Vĩnh ngày xưa có viết một bài phê bình người Việt Nam cái gì cũng cười, hay dở gì cũng hì một tiếng là xong. Cụ không còn sống đến lúc này để thấy, cười được như thế là may đấy. Chúng tôi làm việc, đã có những ngày buồn bã muốn chảy nước mắt, vì gần như ngày nào cũng phải loan đi những tin đau lòng. Đọc nhiều tin chiến sự quá đến nỗi ai cũng có cảm tưởng mình có thể làm phóng viên chiến trường được. Không ai biết, đã có những lúc chúng tôi thực hiện các phóng sự trong một căn phòng bịt kín bằng chăn, quá kín để có thể thở được, nhưng lại chưa đủ kín để làm một phòng vi âm, những ngày đài bị vỡ nát trong dịp Tết Mậu Thân, chưa kịp phục hồi, chúng tôi gọi là “phòng tắm hơi”.

Ở trong đó ra người nào người ấy mồ hôi mồ kê nhễ nhại

Và là dịp để phát sinh ra những lời chọc ghẹo mới.

“Này đóng cửa làm gì nhau mà đến nỗi ướt hết thế kia?”

“Tắm hơi hả?”

“Có cần massage, để tôi”.

“Ở trong chăn ra với nhau mà chẳng có tình nghĩa gì cả”.

“Anh với em vào phòng đi”.

“Cứ để đèn trông cho rõ”.

Những ngày mới đi làm, tôi sợ hãi quá sức kiểu đùa bỡn ấy.

Nhưng dần dà tôi hiểu ra, đó là những liều thuốc lại sưc mau chóng, dù nhiều khi, đã đùa bỡn khó tránh được sự quá trớn, chỉ những đứa con gái như chúng tôi là khổ.

Tuy nhiên, tôi vẫn phải nói, xin cám ơn những lời nói tục.

Cũng có lần tôi nói chuyện với Sơn về lối cười cợt đó, tôi hỏi anh, có phải cái cười của chúng ta càng ngày càng “nặng” thêm không?

Sơn nói:

– Cũng tại hơi hướm của các bà, các cô cả. Càng ngày bà Hồ Xuân Hương càng thắng lớn.

– Coi chừng ăn nói vớ vẩn có ngày chết.

– Không, cái này đã tự kiểm duyệt, chỉ phổ biến hạn chế.

Sơn hỏi tôi:

– Cô có coi phim Prenez garde à la flotte không?

– Sao?

– Cô cứ tưởng tượng sắp lâm trận, một ông đô đốc Mỹ vác ống nhòm nhìn quanh, thấy trên cột cờ của chiến hạm thay vì lá quốc kỳ lại là một chiếc quần lót đàn bà bay phất phới, do binh sĩ dưới quyền ông kéo lên.

– Trời đất! Rồi ông ta làm sao?

– Hình như ông ta bảo: “Cứ để họ thắng trận đã”.

Câu chuyện của Sơn vừa khó hiểu vừa buồn cười.

Đó cũng là lần thứ nhất tôi tự hỏi, thực ra, người đàn ông này là ai?

Chúng tôi tới phòng thâu thanh, dặn dò nhau trước những đoạn nào ai đọc, chỗ nào sẽ ngừng sẽ để bên ngoài cho chạy nhạc chuyển đoạn.

Sơn bảo:

– Cô sẽ có dịp nói vài lời từ biệt Việt Nam.

– Thế thì hay quá.

– Đi mất hay còn trở lại cũng phải từ biệt chứ.

Tất nhiên tôi hiểu, đó chỉ là cách nói của Sơn, trong bài viết sẽ có một câu nào đó có ý nghĩa như thế và chỉ chúng tôi biết với nhau, chứ tôi làm gì có tư cách nói lời chào với thính giả trên sóng.

Vì là chuơng trình ghi âm trước, nên có gì trục trặc có thể làm lại, nên tôi cũng không dò bài trước. Tôi cũng muốn được khám phá những sự bất ngờ trong đó.

Trong lúc chờ đợi hòa âm viên sửa soạn công việc, cửa phòng vi âm chưa đóng, tôi lại nghe vọng từ phòng thâu kế cận, một bài hát có âm điệu dịu dàng do một nữ ca sĩ hát:

Một ngày trên quê hương chúng ta
không còn chinh chiến nữa
Một người thanh niên xưa lúc đi
nay về thấy mình già

Nỗi mơ ước vừa buồn bã vừa thiết tha, hình như nó đã tẩm đẫm khắp mọi nơi, trong những giọt mưa đang rớt xuống ngoài kia, trên những khóm lá và cả trong lòng người nữa.

Tôi nói với Sơn:

– Chiều thứ Năm tôi mời anh tới nhà ăn cơm.

Sơn có vẻ ngạc nhiên:

– Có chuyện chi?

Tôi cười bảo:

– Bữa cơm mấy chị em tôi họp mặt trước khi tôi đi. Anh là khách duy nhất.

Sơn nói:

– Vậy thì tôi không còn cách gì từ chối. Tôi sợ những buổi tiếp tân lắm.

– Anh sẽ có dịp sợ luôn cả những buổi không phải là tiếp tân nữa.

– Một lần không sao.

– Tôi có cô em họ đang học kiến trúc. Tôi muốn giới thiệu anh với nó.

Sơn cười không nói gì.

Chúng tôi bắt đầu thâu thanh.

Trời vẫn tiếp tục mưa.

Trong bài viết của Sơn có đoạn trích một bài Đường thi nói về mưa.

Ở về phia nam triều đình có bốn trăm tám mươi ngôi chùa, trong đó có bao nhiêu cái chìm trong khói mưa?

Nam triều tứ bach bát thập tự
Đa thiểu lâu đài yên vũ trung

Hết mưa đến trăng.

Năm nào là năm thứ nhất trăng chiếu xuống nhân gian?

Ai là người thứ nhất trên đời nhìn thấy trăng?

Trong đêm trăng sáng này có bao nhiêu kẻ luân lạc nương theo ánh trăng bay về được cố hương?

Tôi không thể nhớ hết những gì đã đọc.

Nhưng đầu óc tôi bị huyễn hoặc bởi cái ánh trăng tưởng tượng, của cái vầng cổ nguyệt vằng vặc trên bầu trời sơ khai.

“Quê hương”, hai tiếng đó nặng nề đến như vậy sao? Khi tóc người đã bạc, bao nhiêu màu sắc thắm tươi của đời lặn sâu cả vào tâm khảm, tô đậm thêm có mỗi cái hình ảnh đó sao?

Trương Nhược Hư.

Cái tên hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Những bóng hình chờn vờn trong các bài thơ đó hình như cũng không còn liên hệ gì với cái đời sống này nữa. Chúng ta đã bỏ thơ hay thơ bỏ chúng ta?

Thâu thanh xong, Sơn bảo tôi:

– Bây giờ cô có thể yên tâm đi được rồi.

Câu nói đùa của Sơn làm tôi xúc động.

Không, đó mới là lúc tôi nhận rõ sự xúc động cảm thấy khi đọc bài.

Tôi nói:

– Chắc tối nay tôi phải nghe lại chương trình này.

Sơn bảo:

– Nên lắm.

– Mưa thế này lam sao về đây?

– Thế mà lúc nãy cô còn định cho tôi đi nhờ áo mưa nữa.

– Tôi vẫn không đổi ý.

– Không lý bây giờ lại đội mưa đi để cô có thể giữ lời?

– Anh muốn đi tôi cũng đi.

– Sao bỗng nhiên cô trở nên hăng hái vậy?

– Mai mốt có muốn đi cũng không còn dịp nữa. Anh đi chứ?

– Chờ tôi ghi giờ giấc vào phiếu thâu thanh để tối nhân viên phụ trách biết đường phát đã.

– Anh làm đi.

Trong khi chờ Sơn, tôi đi lại phía cửa sổ nhìn xuống vườn.

Dưới vườn bây giờ không còn phải là ướt nữa, có nhiều chỗ nước đọng từng vũng. Trên những vũng nước đó, bóng của những tàn cây in những vết đen giống như bóng đêm, không rõ rệt, vì gió thổi hắt mưa xóa mờ hết hình ảnh.

Cỏ mọc lan man trên những khoảng đất trống.

Phia xa, phòng thâu tin với những dẫy máy tự động đang đập xành xạch trên các cuộn giấy.

Hai chiếc ống cống không biết ai mang vào trong sân để làm gì, nay thành đồ thừa, dựng sát nhau ở góc vườn.

Sơn tới với chiếc dù cầm trong tay, bảo:

– Có dù sẽ đỡ ướt hơn.

Một trận gió thổi qua giậu hoa giấy, vít những cành cao xuống, thả bật trở lại, làm hoa rụng tơi tả.

Trời dường sa thấp xuống tận mấy cái cột ăng-ten và dây điện trên nóc đài.

Trận gió cũng reo thành tiếng trong cái hành lang chỗ chúng tôi đang đứng.

Sơn hỏi tôi:

– Cô vẫn nhất định đi à?

Tôi nói:

– Anh có quyền đổi ý.

Sơn bảo:

– Không sao. Một mai cô sẽ nhớ mà trở về.

Tôi cũng cười bảo:

– Tôi đã nói tôi không đi luôn mà.

Sơn giương chiếc dù của anh lên ngắm nghía.

– Con gái mà.

– Khó tin phải không?

– Những người có kinh nghiệm cho rằng, thà lấy đàn bà chứ đừng tin đàn bà.

– Thật là một một kinh nghiệm đen tối.

Chúng tôi ra đường.

Mưa mù mịt cả khu phố, ngay cả cái ngã tư gần nhất tôi nhìn cũng không rõ. Những hàng cây cao lớn hai bên lề cành nối liền với nhau thành một con đường lợp lá.

Tôi nhớ những buổi sáng mặc áo trắng đi qua những con đường đó, áo đổi thành màu hồ thủy.

Chúng tôi đi qua một giáo đường còn đang xây cất dở. Trí óc tôi hình như đã thừa mứa những hình ảnh, không còn muốn ghi nhận gì nữa.

Nhìn xuống chân mình, hai mũi giầy đã lấm bùn.

Đó là lúc tôi biết ra, tôi đang muốn tìm kiếm một cái gì khác chứ không phải chỉ những thân cây cao ngất, nứt nẻ, những mái nhà cũ kỹ với những lớp ngói đen. Bầu trời thân thuộc này, có thể, mai đây sẽ làm tôi đau lòng, nhưng bây giờ đã đủ nhàm chán. Không, có lẽ tôi ước muốn một điều gì khác. Không phải tôi không còn muốn nhìn thấy một vật gì trong tất cả những thứ tôi còn nhìn thấy kia nữa. Nhưng nhìn làm chi, ghi nhớ làm chi, chỉ thêm nặng nề lúc ra đi. Tôi muốn làm sao thu nhận hết, không bỏ sót chi cả, nhưng thu gọn vào đâu đây, bằng cách nào đây, đó là cái tôi đang thấy lờ mờ hiện ra trong tiềm thức, giống như những vết bùn trên hai chiếc giầy, mỗi lúc một nhiều hơn, nhưng chỉ là những vết hoen ố, không ra hình thù gì cả.

Dưới chiếc ô, chúng tôi đi với nhau như một cặp tình nhân, và trên một quãng đường dài, chẳng ai nói với ai một câu nào.

Gió vẫn không ngừng reo ào ào trên các tàn cây và làm bạt cả hơi thở.

Đây là lần đầu tiên tôi thở một hơi thở chung với người khác và tôi biết rõ như vậy.

Tới lúc này tôi mới thấy Sài Gòn thiếu nhiều thứ. Thiếu công viên. Thiếu ghế ngồi. Không có chỗ nghỉ chân, dù hai chân mỏi rời. Trời đất trống trơn chứ không che phủ.

Có phải tôi cảm thấy như thế vì tôi chỉ là người tình giả?

Tôi liếc nhìn Sơn, da mặt người đàn ông xanh rờn, hơi nước bám mờ trên cặp kính cận của anh, tóc bị gió thổi tung, khuôn mặt anh như nhìn thấy qua một lớp khói mỏng.

Sơn lấy thuốc lá châm hút.

Khó khăn lắm anh mới quẹt được lửa. Chúng tôi phải đứng lại, tôi xây người với anh, cởi bớt một cái cúc áo mưa lấy vat áo che gió, cái ngọn lửa ấm áp bất ngờ bật lên, khói thuốc Sơn thở ra dường làm cho bầu không khí bao quanh chúng tôi khác hẳn.

Cái ánh lửa trên hộp quet kề sát bên ngực tôi, soi rõ màu vàng nhạt của chiếc áo, soi rõ độ cong của ngực tôi dưới lớp vải, và khi cài áo lại, tôi có cảm tưởng đã nhốt trong đó cái chút ánh sáng ấy.

Chúng tôi cùng cười với nhau vì cái công việc nhỏ này.

Tôi cũng có thể tin chắc một điều, trong cái khói thuốc đầu tiên Sơn thở ra đó, không hoàn toàn chỉ có khói thuốc.

Thời khắc trong một giây nghe như hòa với niềm vui vừa nhen lên trong lòng chúng tôi.

Trên một khoảng đường ngắn không có tàn cây, mưa rơi thẳng từ trên cao xuống bắn vỡ trên mặt đường, trông chẳng khác những dấu chân chim nhẩy nhót. Đi gần tới trường tôi, tôi mới nhớ ra, cạnh trường có một cái công viên, mưa thế này chắc chẳng có ma nào và chúng tôi có thể tới đó ngồi chơi.

Tôi bảo Sơn:

– Qua đây, anh.

Đi qua cổng trường, tôi ngó vào cái sân nhỏ bên trong.

Tôi đã học ở đây hai năm và không tìm thấy một sự thân thuộc nào. Ngày Chủ nhật không ai đến trường cả. Đèn hành lang cũng tắt. Màu sơn nâu trên các khung cửa ra vào trông sẫm hơn một chút, làm cho ngôi trường đã cũ lại có vẻ cũ hơn. Cũ như những bộ sách đóng gáy da dày cộm xếp trong các ngăn tủ.

Giã từ mi, ta đã vào nhầm cửa, ta xin đi ra, nhường chỗ cho người khác.

Tôi đọc được trong một tờ báo mẩu chuyện vui nhỏ, thế này.

Một cậu bé hỏi bố:

“Tại sao luật pháp lại cấm người ta lấy hai vợ?”.

Ngẫm nghĩ một chút, người bố đáp:

“Sau này, lớn lên con sẽ hiểu, luật pháp được làm ra là để bảo vệ những người không thể tự bảo vệ được lấy mình”.

Ngày đầu tiên cắp sách bước qua ngưỡng cửa trường này, tôi đã nhớ lại chuyện đó và cười một mình.

Chúng tôi tới công viên.

Cái bể nước này nhiều hôm ngồi trong lớp tôi vẫn nghe thấy tiếng vòi phun nước.

Bữa nay mưa, các vòi đều được khóa, nhưng mặt nước trong bể vẫn reo rì rào vì mưa và gió.

Quả thật công viên không có một người nào. Chỉ có điên như chúng tôi mới tới đây vào một ngày giông bão thế này.

Tôi không thể không cười thành tiếng vui thú vì sự vắng vẻ này.

Chúng tôi chui vào ngồi dưới gầm cái đài xây vòng phía trên môt góc hồ.

Gió từ các ngả đường thổi tới reo rì rầm quanh các chân cột. Con rùa bằng đồng đỏ, đội một chiếc cột, đã tróc mất một miếng vẩy và bắt đầu có những vết rỉ xanh.

Có mùi hoa ngọc lan thoảng trong gió.

Sơn chừng như không chú ý gì đến tôi, không để ý gì đến cả trời mưa ngoài kia.

Vậy, anh nghĩ đến cái gì, anh bạn?

Tôi nói:

– Đây là khu phố đẹp nhất Sài Gòn.

Sơn ngước nhìn tôi. Anh có vẻ ngơ ngác hình như không nghe hiểu tôi nói gì.

Mấy con cá nhỏ mừng nước, đùa rỡn bơi đuổi nhau, luồn lỏi qua các đám rong.

Tôi bảo với Sơn:

– Từ ngày mai tôi sẽ nghỉ luôn, không đến sở nữa.

Tới lúc này Sơn mới như sực nhớ ra điều gì, cầm điếu thuốc đang ngậm trên môi ra tay và mở to mắt nhìn tôi.

Anh thấy tôi ra sao trong đám mưa này? Tôi nghĩ và mỉm cười với anh.

Sơn hỏi:

– Cô lo giấy tờ xong hết rồi chứ?

– Dạ, xong rồi.

– Cô có người bạn nào bên ấy không?

– Không.

– Còn việc ăn ở?

– Cơ quan họ sẽ giúp lo liệu những ngày đầu.

– Sau đó?

– Quen rồi sẽ tự lo lấy thân.

Sơn nhìn tôi cười. Tôi không biết anh cười với tôi vì câu chuyện anh đang nói hay vì một ý nghĩ nào vừa chợt nẩy ra trong đầu lúc anh nhìn tôi.

Tôi cũng chỉ còn biết cười lại với anh.

Và tôi cũng thoáng nhìn thấy răng của chúng tôi in hai vệt trắng mờ trên mặt bể nước bên dưới. Tôi cố nhận dạng nét mặt mình và nét mặt Sơn nhưng không được, mặc dầu tôi có thể phân biệt rõ ràng màu của chiếc áo mưa mình đang mặc. Chiếc áo mưa đỏ và cả chiếc mũ đỏ của tôi in giữa nền trời mờ xám trông như một đóa hoa lớn.

Sơn nói:

– Làm với cô bao lâu mà tôi không biết là cô xinh đẹp.

Câu nói của Sơn như âm vang của cái điều tôi nghĩ về anh lúc chúng tôi ngồi trong tiệm nước. Đó là một lời nói dối, một lời nói cho vui hay cũng có một phần sự thật?

Sơn làm tôi bật cười.

Tôi bảo với anh:

– Anh nhận ra tôi lần nữa thì tôi già mất rồi còn gì.

Sơn cười. Trong đôi mắt anh, tôi nhìn thấy sau cặp kính đã bị bám mờ hơi nước, một sự dịu dàng, âu yếm.

Sơn nói:

– Tôi e rằng cô đi rồi người ta sẽ không để cho cô về nữa.

– Anh không muốn tôi về nữa hả?

Sơn cười không nói gì.

Trận mưa vẫn chưa có vẻ gì sẽ ngớt. Gió cuốn những đám mưa reo xèo xèo trên mặt hồ nước và mỗi lúc thêm lạnh. Buổi chiều như treo lơ lửng giữa sự êm đềm và nặng nề. Lá và những cành cây nhỏ rơi đầy trên mặt đường.

Tôi nói:

– Đi cũng buồn, ở lại cũng buồn.

Sơn hỏi:

– Sao?

Tôi nhìn lại Sơn. Tất cả những gì tôi và anh nghe, đọc, nhìn thấy hàng ngày, không có gì buồn cả sao?

Tôi cũng nghĩ, đáng lẽ chúng tôi phải nói với nhau một chuyện gì khác. Một người con trai, một người con gái, ngồi với nhau giữa một công viên dù không đẹp lắm, trong một chiều mưa, vắng vẻ thế này, lại không có điều gì nói với nhau ngoài những chuyện buồn bã sao?

Tôi nói :

– Tôi đã nao nức chờ đợi, đến lúc này lại thấy đi được chưa chắc đã là điều đáng vui mừng.

Sơn nói:

– Coi như một kỳ nghỉ hè.

– Chẳng biết bao giờ mới yên.

– Rồi cũng phải yên thôi.

– Lắm lúc tôi tưởng tượng được đọc một bản tin, bằng tiếng của mình, ở cái chốn xa lạ ấy, là một điều thích thú, lúc khác tôi lại sợ.

– ?

– Đất nước không ổn định, những tiếng nói thả bay giữa trời đó, không có chỗ đáp xuống, cũng giống như mình, sẽ trôi giạt về đâu?

Sơn yên lặng không nói gì.

Tôi cũng không còn muốn kéo dài nỗi buồn chán, giống như trận mưa không ngớt , giữa câu chuyện của chúng tôi nữa.

Tôi bảo với Sơn:

– Thứ Năm anh nhớ đến nhà tôi nhé

Sơn gật đầu:

– Vâng, tôi sẽ cố.

– Không cố. Anh phải đến.

Tôi nói và lại nhìn xuống hai cái bóng của tôi và của Sơn, chập chờn trên mặt bể nước. Đôi lúc tôi có cảm tưởng đau đớn, dường như mình không sống mà đã trôi lều bều trong cuộc sống.

Trong đầu tôi chợt nẩy ra một ý định mờ ám.

Và tôi hỏi Sơn:

– Tôi có thật đẹp như lời anh vừa nói với tôi không?

Sơn không trả lời câu hỏi của tôi. Có lẽ anh cho rằng anh đã trả lời tôi trước khi tôi hỏi anh rồi. Cũng có thể tại câu hỏi của tôi hơi lố lăng một chút.

Tuy nhiên, tôi rất hài lòng vì đã nói ra câu ấy trước mặt anh.

Sơn bảo:

– Bây giờ, cô về chứ?

Tôi nói:

– Về. Tôi còn phải tới nhà môt người quen có chút công việc.

Cái ý định mờ ám của tôi, giống như bầu trời mù mịt bên ngoài, đã được câu nói bình thường của Sơn làm cho quang đãng trở lại. Hình như tôi đã muốn quyến rũ anh. Ý tưởng chưa kịp thành hình đã tan biến.

Tôi vừa mừng vừa hơi chán.

Tuy nói vậy nhưng chúng tôi vẫn chưa ai đứng dậy.

Sơn hỏi tôi một câu bất ngờ:

– Cô không tin là cô xinh đẹp sao?

Tôi cười bảo:

– Đó là điều đâu có dễ tin, phải không?

Chúng tôi đứng dậy, đi lại phía nhà thờ, và ở đó, tôi vẫy được một chiếc taxi để đi.

Sơn còn đứng lại đó khi tôi đi khỏi.

Tôi chắc mình sẽ còn nhớ mãi cái hình dáng anh đứng co ro đằng sau mấy bức tường màu son đó.

Share this post