Đồng Cỏ – Nguyễn Đình Toàn (Chương Chín)

Chương Chín

Tôi trở về nhà, sắp xếp lại vài thứ trong phòng, dành cho Thảo chút ngạc nhiên về những đồ dùng tôi vừa mua cho nó, đầu óc nhẹ tênh, chân tựa hồ đi không chạm tới mặt đất.

Mẹ tôi hỏi:

– Thảo nó đâu?

Tôi thưa:

– Dạ nó về nhà. Lát con sẽ tới đón nó.

Nhân dịp này tôi cũng xin lại mẹ tôi, việc cho Thảo tới ở đây, giúp nó yên tâm học, khi tôi đi rồi, nhà cũng bớt cô quạnh.

Mẹ tôi bảo:

– Được rồi. Mẹ sẽ thưa với thầy và tới nói với cô chú. Giấy tờ con đã lo xong chưa?

– Dạ, xong cả rồi.

Tôi đưa cho bà xem tất cả những giấy tờ cần thiết đã hoàn tất, cất chung trong một cái bao bằng nhựa nhỏ. Mẹ tôi giở xem từng thứ. Tôi biết bà coi để mà coi thôi, chứ có biết giấy nào vào giấy nào.

Mẹ tôi hỏi:

– Gì mà lắm thế?

Tôi nói:

– Dạ, người ta bắt phải làm đủ như thế ạ.

Mẹ tôi tần ngần nhìn tấm ảnh mặt mũi ngơ ngác của tôi, dán trong cuốn sổ thông hành.

Chuyến đi của tôi, hình như tới lúc này, bà mới thấy rõ. Hai tay bà run rẩy. Dù biết tôi sẽ đi xa, nhưng chắc bà không thể hình dung nổi cái khoảng cách ấy thế nào. Chính tôi cũng chỉ mường tượng một cách mơ hồ cái khoảng cách đó trên những đường vẽ ngoằn ngoèo của những tấm bản đồ. Đối với bà, có khác gì bà giao tôi cho nắm giấy bà đang cầm trên tay?

Tôi phải làm sao cho mẹ tôi bớt lo lắng. Tôi muốn ôm lấy mẹ tôi, khóc một hơi, rồi ở lại.

Tôi không tiếc gì chuyến đi. Nhưng cũng chẳng có lý do nào chính đáng để hủy bỏ. Ở lại để làm gì mới được chứ?

Đây là cơ hội tôi có thể thay đổi lại cách suy nghĩ của mình, tình cảm của mình. Tôi hy vọng điều đó sẽ giúp tôi tìm thấy ý nghĩa đời sống của mình, không thể lênh đênh như một phiêu vật.

Một danh tướng Do Thái đến thăm Việt Nam đã nói rằng đất tốt đến độ, vứt một cái gậy tre xuống, nó sẽ mọc thành một bụi tre.

Một xứ sở như thế tại sao người ta lại muốn chạy trốn?

Trong một chuyến ra Trung, tôi đã có dịp đi qua con đường nối liền Đà Nẵng và Huế. Trời, biển, sông, núi, cây, cỏ, có những quãng đẹp như tranh. Hơi mát của biển, hơi mát của rừng, những phiến đá sóng biển và năm tháng đã gọt mòn, tròn trịa, nằm xếp lớp hai bên mép nước như đồ trang sức, cả phái đoàn sinh viên, ai cũng ao ước, giá có thể cất một căn nhà sống trọn đời ở đây. Nhưng suốt dọc đường, chỗ nào cũng thấy dấu tích tàn phá, những hố bom, mìn, những cây cầu bị giật sập, cất lại trên đống đổ nát. Dọc theo một con lạch, một bên bờ là vách núi đất dựng đứng, người ta đã cất nhà dựa lưng vào vách đất đó dài theo con lạch, những căn nhà nhỏ, tường mái cũ kỹ, rêu phong, nhà nào cũng có những bực thềm ăn xuống mặt lạch, một vài chỗ có những đứa trẻ đang tắm, đùa nghịch làm nước bắn tung toé, những cô gái đứng khom mình giặt quần áo, và quanh đó, có những căn nhà bị cháy rụi, chỉ còn lại một đống than đen bên cạnh những căn khác còn nguyên vẹn hay lỗ chỗ vết đạn, rêu cỏ mọc xanh nhưng không che kín hết.

Đứng trên đỉnh đèo, thở mây vào trong ngực, nhìn rừng núi chập trùng, biển xanh bát ngát, tất cả những người có mặt, đều thấy như mình có chút gì đổi khác.

Tưởng tượng lại cảnh những người lính trấn thủ lưu đồn xa xưa, những vị quan từ Đằng Ngoài đi võng vào kinh triều kiến long nhan, leo có lẽ phải cả tháng mới qua hết những núi non này, máu của những vị quan, những người lính nào, máu của những ái thê, tì thiếp nào, đã thấm ở đây, để bây giờ biến thành những khóm hoa đẹp thế kia?

Những khóm hoa đủ màu sắc, leo mọc khắp các triền núi, bò ra cả các lối đi, những dây hoa cuốn chằng chịt che kín cả những tàn cây cao ngất.

Ngồi uống bát nước trên ngọn phù vân này, ai cũng ngỡ như nuốt vào trong bụng một chút mây khói, một chút trời biển, một chút men rừng.

Tôi cũng nhớ lại lúc vào thăm Đại Nội. “Sân Rồng” dường chỉ có thật trong các truyện Tầu, lúc nhìn thấy tận mắt, với những phiến đá đen sạm như bằng gang lát trước Điện Thái Hòa, vẫn không hình dung nổi một buổi thiết triều như thế nào. Ngự uyển ở chỗ nào, nhìn quanh chỉ thấy cỏ. Trong khe ráp của những viên gạch, đá, cũng lác đác mầm xanh trồi lên. Không, vẫn còn những cây hoa đại đã trở thành cổ thụ, trồng bao quanh sân rồng, dài ra tới ngọ môn, trổ đầy bông trắng pha vàng tỏa hương thơm ngát.

Trên ngọ môn chiếc trống đại, lớp son sơn đã phai, tróc, cũng vẫn còn treo đó.

Các khu đất trống phía sau đại nội, cỏ gianh mọc cao gần tới mặt tường thành. Người ta không nghe thấy tiếng gì hết ngoài một sự yên lặng mênh mông, cái yên lặng như còn sót lại từ một trăm năm, một nghìn năm trước.

Đỉnh Ngự Bình phía xa lưa thưa những hàng cây nhỏ.

Sông Hương lặng lờ trôi trước mặt.

Trên cột cờ, lá cờ vàng ba sọc đỏ lớn, bay phất phới trong gió.

Chúng tôi đi quanh thành nội để xem. Đường đi cũng được lát bằng những phiến gạch to. Tận cổng sau đại nội, có một bờ lũy bao boc và một cái hồ, có lẽ ngày xưa trồng sen, thả cá, nhưng giờ đầy lục bình.

Chúng tôi cũng được hướng dẫn đi xem hồ Tĩnh Tâm.

Huế đã yên tĩnh, ở đây, sự yên tĩnh còn tăng bội phần.

Có một chiếc cầu nhỏ bắc ra một thủy đình. Hồ vẫn đươc thả sen. Sen lẫn với bèo tấm. “Lá sen tàn tạ trong đầm”. Đứng trên cầu, tôi đã nhớ tới câu thơ đó của Tản Đà. Mọi vật, những ngọn tre, những lá cỏ, cây cối quanh hồ, toát ra một vẻ gì đó như đã quên thời gian, phơ phất những cái ngọn ẻo lả, in bóng xuống mặt nước tù hãm, lặng lẽ, còn sống đó, nhưng linh hồn đã bay theo muôn năm trước, hiện thân còn hay không còn nữa cũng không đáng kể chi.

Người bạn đi cùng cho chúng tôi hay rằng, hạt sen trong hồ này, nấu chè là một món tuyệt phẩm. Sen không cần ninh cũng bở, nhưng phải nấu bằng đường phèn. Cái ngọt mát của đường phèn thấm vào các hạt sen nóng, khẽ nhai thôi, hạt sen đã tơi ra, theo nước miếng trôi vào cổ họng, lúc ấy mới thấy cái quý của những hạt sen trồng trong hồ này, gần như nó còn giữ nguyên vẹn mùi thơm của hoa, dù chỉ còn là những cái hạt đã khô. Người bạn còn nói nhỏ thêm với tôi, cứ mỗi năm, vài hạt sen lại biến thành răng của các cô gái Huế. Tôi tiếc đã không được ra tắm ở bãi biển Tiên Sa. Người bạn ưa khôi hài trong chuyến đó bảo rằng, tắm ở biển Tiên Sa lên, nhan sắc của mỗi người sẽ tăng năm phần trăm.

Tôi còn nhớ lại một chuyện nữa, của anh ta, khi ngồi uống nước trên đèo Hải Vân,

Anh ta kể, trong số danh sĩ của nước ta xưa, có người đi với người vợ trẻ, khi qua đỉnh Hải Vân, phong cảnh hữu tình, trời đất vắng vẻ, động lòng mây mưa. Gió máy làm sao đó, vị quan đã chết trong cái tư thế tuyệt vời nhất của nhân loại, trên một phiến đá giữa đám cỏ hoa.

Cả bọn đã cười khi nghe anh nói vậy.

Anh hỏi riêng tôi, có tin chuyện đó không?

Tôi thẳng thắn nói rằng, tôi có thể tin được lắm, và rằng, trừ những nữ tu, ai chẳng muốn có dịp đi qua đèo như thế một lần.

Người bạn hỏi:

– Chị có biết cái người vợ trẻ đó đi từ đâu tới không

– Từ đâu?

– Từ Thăng Long tới, từ Hà Nội tới.

– Bậy quá!

Anh ta khuyên tôi, trên đường đi từ Hải Vân về Đà Nẵng, hễ nhìn thấy phiến đá nào phẳng hãy nhắm mắt lại.

Chuyến đi ấy tôi còn nhớ lại hoài.

Chiến tranh cứ thu hẹp mãi đời sống vào quanh các thành phố, nên mong ước được đi đây đi đó để nhìn đất nước của tôi, sau đó, chẳng còn có dịp nào thực hiện.

Có thể chuyến đi này sẽ cho tôi thấy rõ xứ người hơn đất nước mình không chừng.

Mẹ tôi giục tôi đi ăn cơm trưa.

Tôi nói:

– Vâng. Để con làm cái này chút đã.

Tôi nói và lo sắp xếp lại tủ quần áo, lấy những thứ mới mua để vào trong ngăn, lấy bớt những đồ tính mang theo, để lại cho Thảo.

Mẹ tôi nước mắt rơi xuống ròng ròng. Tôi muốn bà yên lòng đôi chút, nhưng vẫn không biết cách nào né tránh đả động tới chuyến đi, nên đành phải bảo:

– Có gì đâu mà mẹ khóc.

Mẹ tôi lặng lẽ lau nước mắt.

Tôi tiếp:

– Thảo về đây ở, chừng nào mẹ thấy nó thi xong con cũng về.

Mẹ tôi bảo:

– Thôi ra ăn cơm.

Thầy tôi lại bỏ bữa cơm trưa. Độ này chứng đau da dầy thường làm thầy tôi ít ăn, không được vui vẻ. Có thể đó chỉ là những biến chứng của một căn bệnh khác, bệnh già.

– Thầy lại đau hả mẹ? Tôi hỏi.

Mẹ tôi nói:

– Thầy không được khoẻ từ hôm qua.

Ăn xong, tôi vào phòng hỏi thăm sức khoẻ của thầy tôi.

Ông nói, chỉ hơi khó chịu thôi.

Tôi thưa:

– Thầy có cần thuốc gì, lát con sẽ ra phố mua.

Thầy tôi nói:

– Không. Thầy không sao.

Giọng nói bình thường của ông làm tôi nhẹ lòng. Cứ nghĩ đến chuyến đi tôi lại thấy áy náy. Tôi sẽ không quên tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ báo thức nhỏ thầy tôi vẫn để trên chiếc kệ kê ở đầu giường, mỗi ngày ông đều đặn lên dây. Tiếng vặn chìa khóa ông làm mỗi buổi sáng đã in hằn vào trí nhớ, tôi dễ dàng hồi tưởng lại. Màu gụ của chiếc thành giường ông nằm, bao giờ cũng được mẹ tôi lau chùi bóng láng, làm tăng thêm vẻ sạch sẽ của những tấm khăn trắng trải giường. Hai chiếc gối to cũng luôn luôn được bọc bằng vải trắng. Tôi không mong gì hơn sau này, lập gia đình, tôi có thể được sống trong cái hạnh phúc đơn giản như thầy mẹ tôi đã sống, như hai chiếc gối được kê sát cho đến lúc cả hai người đầu đã bạc. Cái bức tường quét vôi màu xám nhạt, bao nhiêu năm vẫn còn giữ được nguyên vẻ sáng sủa, đồ đạc ngăn nắp, vì nhà không có trẻ con.

Anh tôi chưa có vợ, mẹ tôi phàn nàn mãi về việc này, riêng thầy tôi không tỏ ý gì.

Mỗi lần anh tôi ở đơn vị, được nghỉ phép về nhà, thầy tôi thường bảo anh tôi ngồi xuống ghế uống nước như mời một người khách. Ông ít biểu lộ sư vui mừng hay buồn giận, nhưng vào những lúc ấy, tôi biết, ông cảm động hơn ai hết. Ông hỏi anh bằng những lời ngắn ngủi, đi bằng cái gì về, được nghỉ mấy ngày, sau đó, ông vào phòng nằm đọc báo, bình thường, y như anh tôi chưa hề có lúc nào xa nhà cả. Tới bữa ăn, gia đình xum họp, mẹ tôi làm thêm cái ăn, giục anh ăn thêm món này, món kia. Chúng tôi mời ông bà trước khi ăn. Thầy tôi hỏi mẹ tôi vài câu về chiếc khăn tay đã giặt ủi chưa chẳng hạn, để đâu sao ông tìm không thấy. Mẹ tôi trả lời ông, và trong khoảnh khắc, tôi có cảm tưởng như chúng tôi vẫn hoàn toàn còn nhỏ dại, gia đình không hề có một sự thay đổi nào.

Chuyến đi này của tôi, hẳn không thể nào nhà còn được như thế. Lúc ăn cơm, nhìn vào cái chỗ anh tôi thường ngồi mỗi khi anh có mặt ở nhà, tự nhiên tôi ứa nước mắt.

Tôi nói:

– Thưa thầy, mai con đi.

Thầy tôi không nói gì. Cặp kính lão của ông, đã có lần nghịch ngợm, tôi đã thử đeo lên mắt, không những chẳng nhìn thấy gì mà còn chóng cả mặt.

Thầy tôi buông cuốn sách đang cầm xuống, gỡ cặp kính ra khỏi mắt, cầm trên tay, hỏi:

– Giấy tờ con lo đầy đủ rồi chứ?

– Dạ rồi ạ.

– Chỗ ăn chỗ ở thế nào?

– Da, một người ban hiện đang ở bên ấy sẽ giúp con.

Thầy tôi đeo lại cặp kính lên mắt, bảo:

– Ra rót cho thầy tách nước mang vào đậy.

Nghe ông nói câu đó tôi thấy thư thái hẳn. Tôi ra ngoài, rót nước, mang vào cho thầy tôi.

Thầy tôi nói:

– Để đấy cho thầy.

Tôi đặt tách nước xuống mặt chiếc bàn nhỏ, nghe tiếng chiếc đĩa chạm trên mặt gỗ và tiếng chiếc tách va trên mặt đĩa, hai tiếng lách cách nhỏ đó làm nghe ra cả sự yên tĩnh của căn phòng.

Tôi cũng thưa với thầy tôi về việc em Thảo có thể sẽ đến đây ở cho yên tĩnh để học và xin thầy tôi cho phép.

Thầy tôi nói:

– Ờ, thử nói với mẹ mày xem.

Ông không nói thêm gì nữa, nhưng tôi biết lời xin của tôi đã được chấp thuận.

Tôi đi ra ngoài, khép cửa phòng lại cho ông.

Đã xế trưa. Có lẽ tôi cũng nên nằm nghỉ một lát. Tôi trở về phòng mình. Trời im gió, căn phòng hâm hấp nóng.

Mẹ tôi vẫn còn đang kỳ cạch với những công việc của bà đằng sau bếp.

Cứ nghe tiếng động tôi có thế biết bà đã rửa xong chén bát, đang tráng một lần nước nữa, úp vào chiếc khay kê ngang bồn rửa cho khô. Những tiếng lanh canh, lách cách đó làm tôi nhớ lại tiếng va chạm của tách trà tôi vừa đặt trên chiếc bàn nhỏ trong phòng thầy tôi. Có lẽ phải còn lâu lắm tôi mới được nghe lại những tiếng động ấy. Chừng như chúng tôi đang dần dà lắng chìm vào một thế giới khác. Thời gian, đời sống, giống như dòng chảy của một con sông, cuốn trôi và nhận chìm tất cả. Trong đầu tôi dường cũng đang có một vũng xoáy nhè nhẹ, những nỗi hy vọng, tuyệt vọng, những hình bóng mờ mờ của quá khứ, chuyện vui buồn nhớ quên, tựa những cành củi mục trôi lềnh bềnh, nổi lên, chìm xuống, trong lòng cùng một lúc nhen lên một chút bi thương, một chút phấn khởi.

Tôi cũng nhớ tới buổi hẹn với Sơn.

Tôi vừa muốn bỏ buổi hẹn vừa muốn biết chắc, khi bỏ đi, còn có người thật sự nhớ và mong gặp lại mình chăng?

Cái gì khiến tôi ngờ rằng Sơn không còn muốn gặp lại mình?

Không có dấu hiệu nào khiến tôi phải nghĩ như thế.

Nhưng mọi hy vọng trong lòng tôi, tựa ngọn đèn, tôi đã thắp lên liên tiếp trong nhiều ngày, đã cạn hết dầu, le lói, chỉ cần một cơn gió nhẹ đủ thổi tắt.

Sự thật có phải vậy không?

Tôi không biết.

Người ta ví nhan sắc và tuổi trẻ của một người đàn bà chẳng khác một bông hoa, đó không phải chỉ là sự ví von cho thêm đẹp, thêm buồn: đời người qua mau.

Và, điều đáng sợ hơn nữa là người ta khó có thể sống một mình.

Nghĩ cho cùng, nếu thời gian đứt rời, người ta chẳng thể nối liền với quá khứ, tại sao tôi không dám sống hết hiện tại của mình? Nhất là cái hiện tại ấy lại ngắn ngủi không hơn một giấc mơ?

Tôi không yêu Sơn.

Sơn cũng không yêu tôi.

Anh chỉ là cái cơ hội bắt gặp, tôi mong mỏi, để khám phá ra chính mình

Ngày còn nhỏ, tôi đã có lần theo anh tôi học cách chụp hình và rửa ảnh. Hai anh em đã lấy chăn quây quanh gầm giường để làm phòng tối. Chiếc phim được kẹp sau một miếng kính soi trên ngọn đèn, cho in hình xuống miếng giấy ảnh. Anh tôi đã dậy tôi đếm 1, 2, 3, 4- sau đó miếng giấy ảnh được gỡ ra. Miếng giấy vẫn giữ nguyên vẹn màu trắng ngà, đem ngâm vào chậu nước, gọi là thuốc rửa ảnh, vài giây sau ảnh sẽ hiện ra. Công việc dù đã làm nhiều lần, nhưng mỗi lần nhìn thấy cái ảnh hiện trên khuôn giấy, tôi vẫn không ngớt ngạc nhiên.

Sơn đối với tôi cũng giống như cái chất thuốc làm hiện hình đó.

Tôi phải gặp lại Sơn.

Để làm gì? Tôi cũng không biết. Nhưng tại sao, tôi phải lẩn tránh?

Tôi không chờ đợi gì ở anh, không hy vọng gì ở anh nên tôi cũng chẳng sợ thất vọng.

Có những lúc tôi không biết mình đang suy nghĩ trong lúc thức hay chỉ trong một cơn mê. Rõ ràng là khi mở mắt, nhìn mọi vật, tôi tưởng như mình vừa thức dậy. Tôi đã không nghe một tiếng động nào trong một lúc khá lâu. Tôi không biết chuyện gì xẩy ra quanh mình. Mồ hôi rướm trên trán và sau lưng, tôi cũng chẳng hay. Vậy ắt là tôi đã ngủ. Nhưng ngay lúc mở mắt nhìn, ý nghĩ của tôi vẫn liên tục trong đầu. Hai mắt cay sè, triệu chứng mình đã không ngủ được chứ không phải vừa thức dậy.

Tôi trở dậy vào phòng tắm. Nước mát làm thức dậy từng phần cơ thể. Tôi thấy mình trong một tình trạng tinh thần buồn bã. Tôi không cảm nhận một nỗi khao khát nào của thân mình. Tôi giống như kẻ mắc chứng lanh lùng.

Có thể như vậy sao?

Tôi nhận ra mình như một khối đông cứng, da thịt không hứa hẹn gì lại đầy vẻ đe dọa.

Tôi trang điểm, mặc một bộ đồ mới. Tôi đánh sáp môi và nhận ra một chút nhan sắc của mình. Màu hồng của ống sáp môi làm tôi liên tưởng tới màu hoa đào đã nhìn thấy trong một kỳ lễ Giáng Sinh ở Đà Lạt. Anh tôi kể rằng, ở quê chúng tôi xưa, ông tôi có trồng một cây đào bên trái hiên nhà. Tết, trời lạnh đến nỗi tưởng chừng hoa tàn được. Vậy mà dưới sân hoa vẫn rụng đầy. Những cánh hoa mỏng, nhỏ, dù đã rụng nhưng màu sắc vẫn còn nguyên vẻ thắm tươi. Mỗi khi mẹ tôi quét sân, quét thềm, thầy tôi có vẻ tiếc cái vẻ điểm trang của những cánh hoa rụng đó. Thật ra, chẳng bao giờ người ta quét hết được hoa trong những ngày như thế. Bởi chỉ sau một nhát chổi, hoa lại tiếp tục rơi xuống, trên mặt sân sạch sẽ hơn và cũng vì thế, trông càng đẹp hơn. Nhưng cũng theo anh tôi nói, hoa đào miền Bắc khác với đào Đà Lạt. Khác là khác thế nào đây? Vậỵ cái màu son tôi thoa đây, là màu đào nào trên đất nước tôi, Đà Lạt hay Hà Nội?

Tôi tiếc quê hương đứt ruột.

Share this post