Đồng Cỏ – Nguyễn Đình Toàn (Chương 10)

Chương Mười

Tôi đến nơi hẹn với Sơn.

Anh đã tới trước và đang chờ tôi ngay tại cái bàn chúng tôi đã ngồi lần trước.

Bằng cái nhìn của Sơn, tôi biết, tôi được yêu, lần thứ nhất trong đời.

Tôi ngồi xuống ghế hỏi:

– Anh đợi em lâu không?

Sơn nói:

– Anh cũng vừa tới.

Quán đông khách. Tôi đã đi qua cả một quãng đường dài mà chẳng để ý gì đến cảnh chiều. Bây giờ, ngồi xuống chiếc ghế, ngó ra ngoài cửa kính, tôi mới thấy trời hoàn toàn khô ráo, trong sáng. Tôi có thể nhìn thấy bồn hoa của khu công viên trước Tòa Đô Chánh đang phun những tia nước trắng xóa. Mấy cây liễu mới trồng hôm nào bắt đầu xanh cao, rủ lá.

Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng.

Câu hát ấy đột nhiên thoáng qua trong đầu tôi.

Tôi cũng thấy quanh tôi một sự êm đềm, dịu dàng, mọi vật đều như được những tấm gương lắp trong quán phản chiếu, sáng cái vẻ trong mát, hân hoan.

Vâng, lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy tôi hạnh phúc, dù đó chỉ là thứ hạnh phúc mong manh.

Tôi nhìn thấy mình trong tấm gương không đến nỗi xấu xí.

Tấm gương như mặt hồ. Tôi giống như cây liễu. Tôi biết tôi đang được hơ trong hơi ấm của tình ái.

Có lẽ tình ái chỉ có thật trong tưởng tượng thế này chăng?

Tôi thấy lòng mềm nhũn, tưởng chừng như tôi sẵn sàng tan hòa vào mọi ý muốn của Sơn.

Tôi yêu anh chăng?

Tôi có cần tự hỏi tôi mãi như thế không?

Giả thử tôi yêu anh? Giả thử tôi không yêu anh? Mọi sự cũng không có gì thay đổi cả. Buổi chiều vẫn giữ nguyên cái vẻ trong sáng của nó bên ngoài ô kính. Bàn ghế vẫn được bầy ở những vị trí này. Tất cả những người ngồi trong quán vẫn có thể soi thấy bóng mình trong mấy tấm gương kia. Tôi ngó lại mình một lần nữa. Tôi nhìn thấy hai mắt Sơn dịu dàng, hết sức dịu dàng nhìn ngắm tôi. Tôi có cảm tưởng khôi hài, cuộc tình của chúng tôi, nếu có thể gọi như thế, đã bắt đầu ngược, nghĩa là đã bắt đầu từ chỗ hết và đang lần trở lại phút khởi đầu. Sự việc vừa có vẻ bi thảm vừa có vẻ tức cười.

Tôi cười với Sơn trong tấm gương và tôi quay lại nhìn anh bên ngoài.

Sơn hỏi tôi:

– Chuẩn bị xong xuôi rồi chứ?

Tôi gật đầu thay cho câu trả lời. Tôi không muốn nghe bất cứ một sự nhắc nhở nào nữa về chuyến đi sắp sửa.

Tôi dần dà nhận ra trong những tiếng nhắc nhở đó, không còn ý nghĩa thăm hỏi nữa, mà có vẻ gì đó xua đuổi.

Sơn bảo:

– Mình đi chơi một lát.

Sơn đưa tôi tới một cái quán ăn rất lạ, đằng sau một khu chợ cá, chợ đã tan, người ta đang xối nước cọ rửa các sạp, lối đi nhớp nháp, tanh tưởi, qua một cái sân khá rộng lát gạch vuông đỏ, leo một cái thang gỗ nhỏ lên lầu một căn nhà sàn được thiết kế thành quán ăn. Quán xập xệ, không tường vách, trông thẳng ra mặt sông và chỉ có độ năm sáu bàn, nhưng cũng có vẻ đẹp riêng. Ngồi ở đó, người ta có thể nhìn suốt dọc một quãng sông đầy ghe, thuyền, phía xa là cảng Khánh Hội. Tôi ngửi thấy mùi thuốc lá nồng trong không khí, có lẽ là từ ống khói của nhà máy làm thuốc lá từ bên Khánh Hội thả ra.

Sơn nói:

– Khu Venise của Sài Gòn đấy.

Mặt sông vào giờ triều lên mênh mông và xanh hơn. Ghe thuyền đâu sát nhau quanh bến làm thành một xã hội nổi, nhiều khoang bên trong có nệm chiếu, tủ bàn, y như những căn phòng.

Ở đầu một chiếc ghe khác, người ta quây gỗ và tôn làm một phòng tắm lộ thiên, tôi nhìn thấy một phụ nữ đang tắm.

Từ chỗ đang ngồi, tôi còn nhìn thấy một ngôi chùa nhỏ, ngai thờ sơn son thiếp vàng, mâm hoa quả, đèn nến thắp sáng, và một nhà sư, không phân biệt nổi nam hay nữ, đang ngồi tụng niệm.

Sơn nói:

– Ngồi ở đây có thể nhìn thấy một cái panorama của Sài Gòn.

Tôi cười bảo:

– Không ngờ lại có một chỗ ly kỳ thế này.

– Mưa, ngồi ở đây thích lắm.

– Đáng tiếc em không còn có dịp nữa.

Chiều đã hết hẳn trên con nước. Bầu trời vẩn mây, đen thẫm, những vì sao giống như những con mắt yếu đuối của người sống, người chết, từ nơi xa thẳm nào nhìn vọng về. Quê tôi ở phía nào? Hà Nội ở phía nào? Giờ này, đứng ở một nơi nào đó trên cầu Long Biên, bên hồ Trúc Bạch, giữa đê Yên Phụ, có lẽ người ta cũng nhìn thấy những ngôi sao như tôi đang nhìn thấy đây. Nhưng bao giờ người ta có thể đổi chỗ để nhìn như thế?

Chúng tôi ra về khi có vài người khách tới ngồi ở chiếc bàn bên cạnh.

Những chiếc bàn cũ kỹ không mấy sạch sẽ, nhưng cũng là một bữa ăn, một chỗ ngồi chắc tôi sẽ còn nhớ mãi.

Lối đi ra bây giờ đã lờ mờ dưới ánh đèn.

Sơn nói:

– Coi chừng té.

Chúng tôi ra đường, gọi một chiếc taxi, về lại khu phố chính.

Ngồi trên xe, tôi bảo với Sơn:

– Ngày mai, em không gặp lại anh nữa.

Sơn bóp mạnh bàn tay tôi anh đang nắm trong tay anh. Anh hôn phớt trên môi tôi và trong một giây tôi nhận ra sư liên hệ giữa chúng tôi có một vẻ gì bi thảm, không còn cách gì có thể sửa chữa được.

Sửa chữa cái gì đây?

Sơn đưa tôi về chỗ ở của anh. Đó là một căn phòng nhỏ, trong một khu xóm đông đảo. Tôi nhớ là tôi đi qua một con đuờng hẻm tráng xi măng, đi qua những căn nhà có hàng rào gỗ sơn những màu khác nhau, đi qua những tàn cây trứng cá-

Căn phòng bầy biện sơ sài, bàn viết, kệ sách, giường ngủ, thêm một chiếc bàn nhỏ và hai chiếc ghế làm chỗ tiếp khách.

Cái chỗ ở lặng lẽ của Sơn làm tôi bàng hoàng. Tới phút này, tôi mới biết ra rằng, tôi không biết gì về anh, anh cũng không biết gì về tôi.

Nhưng quả thật tôi đang được sống những giây phút êm đềm, tốt đẹp. Căn nhà có vẻ gì đó ấm cúng, quen thuộc kỳ lạ, hình như tôi đã biết, đã có lần ra vào. Đây là nơi tôi có thể ở lại như mái nhà đích thực của mình. Cửa sổ của căn phòng trông ra một vách tường quét vôi xám. Một cây tràm bông đỏ đầy hoa phất phơ trong gió.

Sơn chỉ một chiếc ghế bảo tôi:

– Em ngồi xuống đó.

Tôi ngồi xuống chiếc ghế của bàn viết trông ra cây tràm. Căn nhà ở khá sâu trong hẻm, tôi chỉ còn nghe vẳng những tiếng động từ phía đầu ngõ vừa đi qua vọng lại.

Sơn cũng ngồi xuống chiếc ghế bành còn lại, kê sát tường, liền với bàn viết, xây lưng ra phía ngoài của sổ.

Tôi thầm nghĩ, nếu tôi đến đây trước, có lẽ đã không có chuyến đi này.

Nhưng bây giờ mọi sự đã quá muộn.

Nếu mỗi người đều có một định mệnh an bài trước, hẳn cái phần số đã được định trước của tôi phải có chút gì đó vương vất nơi đây.

– Chưa bao giờ anh nói với em về chỗ ở này.

Tôi nói với Sơn và muốn tưởng tượng những ngày tháng nếu chúng tôi chung sống với nhau sẽ ra sao?

Chân tay và cả đầu óc tôi, bỗng nghe nặng nề, khi tôi chợt nghĩ rằng, có lẽ sẽ chẳng còn có dịp bước qua cái ngưỡng cửa kia, để vào đây nữa.

Thực sự tôi có mong trở lại đây không?

Bốn năm, những gì sẽ xẩy ra? Chúng tôi lại cũng chẳng ước hẹn gì với nhau.

Căn nhà có vẻ lạnh lẽo, nhưng đó là cái lạnh lẽo dễ thương của một chỗ thiếu hơi đàn bà.

Người đàn bà nào sẽ mang hơi ấm đến đây?

Tôi bảo Sơn:

– Thôi, em về.

Sơn không nói gì. Yên lặng một lát, anh đứng dậy, đi tới, đứng đằng sau chiếc ghế tôi đang ngồi, ôm choàng lấy tôi và cúi xuống hôn tôi.

Cử chỉ của anh tựa hồ đã được sắp đặt trước nhưng vẫn làm tôi hết sức cảm động.

Sơn hỏi:

– Em sẽ trở lại chứ?

Tôi cười, bảo:

– Vâng.

Rồi tiếp:

– Nếu em chưa già.

– Sợ già à?

– Sợ.

Không khí trong giây phút bỗng trở nên nửa vui nửa buồn. Tôi chỉ định nói đùa với Sơn, nhưng trong những lời đùa bỡn hình như vẫn có một phần sự thật. Sợ già ư? Tôi không thể biết trước có sẽ trở về đúng kỳ hạn. Giả thử tôi có trở về đúng kỳ hạn chăng nữa, tôi cũng đã có thêm bốn năm già. Bốn năm sống một mình ở nơi xa lạ đó, tôi sẽ ra sao? Sơn sẽ ra sao? Với cuộc chiến tranh mù mịt này nữa, cả đất nước sẽ ra sao? Và, sau cùng, tôi có ước mơ gì để thực hiện ở đây?

Đó không phải là những nỗi khó khăn sao?

Tôi sẽ già. Mọi sự sẽ đổi thay, từ tình cảm đến con người và hoàn cảnh.

Sơn nói:

– Anh rất tiếc em không còn ở lại đây nữa.

Tôi tin anh thành thật khi nói vậy. Em cũng tiếc như anh. Chúng ta khám phá ra đời sống quá muộn. Đời sống cũng chỉ bầy ra cái vẻ quyến rũ nửa vời như vậy.

Cũng rất đáng tiếc, vẻ quyến rũ đó không đủ ý nghĩa để chúng ta hủy bỏ tất cả những gì khác để theo đuổi như một cách thực hiện đời mình.

Tôi thử tưởng tượng một thời khắc chung sống với Sơn, như một cặp tình nhân, yêu nhau đã lâu, tình không còn sôi nổi, không cần bầy tỏ, đã có thể sống với nhau trong lặng lẽ. Tình yêu tựa một mặt nước, tình nhân giống như những con cá, tung tăng, lờ lững hay vùng vẫy bơi xa, cũng vẫn ở trong tình.

Sơn nói:

– Khi trở lại, em hãy đến thẳng đây.

Tôi cười hỏi:

– Anh sẽ nói sao nếu lúc ấy lại có mặt một người đàn bà khác?

– Cô nhầm nhà chăng?

– Em sẽ đóng kịch tiếp với anh.

– Thử coi.

– Người quen của tôi xưa, ở căn nhà này, xin lỗi ông bà, tôi muốn nói có lẽ ở căn nhà này, đã có nhiều thay đổi, tôi không dám chắc.

– Cô có nhớ tên người đó không?

– Dạ, không ích gì.

– May ra chúng tôi có thể giúp cô tìm lại người ấy.

– Ông bà có căn nhà xinh quá. Chúng tôi ngày xưa đã định mua căn nhà này. Tôi lại phải xin lỗi lần nữa, đáng lẽ tôi phải nói, hình như là căn nhà này.

– Không sao. Ngay bây giờ, nếu cô còn giữ ý định ấy, chúng tôi có thể sẽ nhượng lại. Đã vài lần chúng tôi tính đến việc di chuyển rồi.

– Không đâu ạ. Tôi tin ông bà đã gặp may mắn. Những may mắn tôi đã bất hạnh không giữ được.

– Cô làm chúng tôi có cảm tưởng, trước khi đi xa, cô đã hứa hôn với một người nào ở đây.

– Hứa hôn? Không, chúng tôi đã vượt qua giới hạn ấy từ lâu.

– Tôi không ngờ chuyện lại phiền muộn đến như vậy.

– Dạ, làm gì có chuyện đó. Đây chỉ là những điều tôi tưởng tượng ra thôi ạ.

Tôi bắt đầu thấy ngột ngạt.

Tôi phải ra về thôi. Nếu không, cái khoảnh khắc hạnh phúc mỏng manh này cũng sẽ biến mất.

Tôi bảo với Sơn :

– Em về đây. Đừng tiễn, để em đi một mình.

Sơn có vẻ hơi ngạc nhiên về sự lạnh lùng của tôi. Chắc anh không thể hiểu nổi tại sao có cái đêm ở ngoài Vũng Tàu. Không sao. Trời biển sẽ giữ cho chúng ta niềm bí mật ấy.

Tôi muốn chấm dứt mọi chuyện ngay phút này, không muốn Sơn đưa tôi ra đường, không muốn kéo dài sự bịn rịn. Sơn có cho là tôi khó hiểu, kỳ cục cũng chẳng sao, có khi còn tốt hơn cho cả tôi lẫn anh. Tình nếu đã không có cơ hội, thắt lại mà làm chi? Cách chấm dứt đau đớn nhất là cố nuôi hy vọng. Cách giản dị nhất là nghi ngờ. Nghi ngờ rằng cái tình có lẽ không có thật. Như trong một giấc mơ, mỗi người thấy mình vừa ra khỏi. Người ta có thể mỉm cười với chính mình và với người trong mộng.

Như vậy không hay sao?

Tôi tiếc những gì tôi đã cho anh chăng?

Không, tôi không đủ nặng tình với anh để tiếc chi cả.

Tiếc một giấc mơ là chuyện để người ta cười một mình.

Kẻ may mắn có một mối tình lớn trong đời.

Người không may chỉ có thể có những khoảnh khắc hạnh phúc.

Nếu chúng ta không có được một trong hai điếu ấy, chúng ta cũng đã có với nhau một kỷ niệm.

Tôi không thể từ chối việc Sơn đưa tôi ra ngõ, dù tôi đã muốn như thế.

Tôi nói:

– Anh không sợ sự quyến luyến sao?

Anh nhìn tôi bảo:

– Anh rất tiếc không còn được gặp em lại.

Tôi cười bảo:

– Đáng lẽ anh phải nói điều ấy sớm hơn.

Sơn cũng cười bảo tôi:

– Anh sẽ cố nói điều đó đúng lúc, nếu còn có dịp.

Tôi nghe một cơn đau bóp nhẹ trong ngực, hệt như cái lần tôi ngửa mặt nhìn cây đào trổ bông giữa triền dốc trên Đà Lạt.

Tôi ao ước Sơn có đủ thô bạo hay say mê làm dữ với tôi một điều gì đó. Anh bắt nhốt tôi ở lại đây chẳng hạn. Tôi không đủ say mê để tự nguyện ở lại. Cả hai đều không ai có đủ lực để làm cái việc đáng đời như thế.

Vậy thì phải coi như định mệnh không can dự gì vào chuyện của chúng ta

Và chúng ta đành phải chia tay thôi.

Chúng tôi ra khỏi nhà.

Sơn đóng cửa trước khi quay ra cùng đi với tôi.

Con ngõ ra đường được soi sáng bằng những ánh đèn hắt ra từ các căn nhà hai bên đường. Tôi nhìn thấy bóng tôi và bóng Sơn lảo đảo đổ trên lối đi lồi lõm.

Thôi nhé, đối với anh, em không chỉ đang đi ra khỏi cái ngõ không tên này, mà em đang đi ra khỏi đời anh.

Tôi không muốn nhìn, muốn nhớ một vật gì quanh mình nữa.

Ngoài đầu ngõ, khu phố vắng vẻ, vàng vọt trong ánh sáng của những ngọn đèn lộ.

Chúng tôi dừng lại dưới một tàn cây, bên hè đường.

Sơn nói:

– Đứng đây chờ xe.

Sơn đã hôn tôi cái hôn từ biệt ở đây.

Tôi cũng muốn Sơn kéo dài cái hôn và anh hút khỏi dùm tôi cái vầng trăng lạc trong lồng ngực.

Nhưng không bao giờ, sẽ không bao giờ anh hiểu được tôi nghĩ gì vào lúc đó, phải không anh?

Share this post

Đồng Cỏ – Nguyễn Đình Toàn (Chương Mười)

Chương Mười

Tôi đến nơi hẹn với Sơn.

Anh đã tới trước và đang chờ tôi ngay tại cái bàn chúng tôi đã ngồi lần trước.

Bằng cái nhìn của Sơn, tôi biết, tôi được yêu, lần thứ nhất trong đời.

Tôi ngồi xuống ghế hỏi:

– Anh đợi em lâu không?

Sơn nói:

– Anh cũng vừa tới.

Quán đông khách. Tôi đã đi qua cả một quãng đường dài mà chẳng để ý gì đến cảnh chiều. Bây giờ, ngồi xuống chiếc ghế, ngó ra ngoài cửa kính, tôi mới thấy trời hoàn toàn khô ráo, trong sáng. Tôi có thể nhìn thấy bồn hoa của khu công viên trước Tòa Đô Chánh đang phun những tia nước trắng xóa. Mấy cây liễu mới trồng hôm nào bắt đầu xanh cao, rủ lá.

Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng.

Câu hát ấy đột nhiên thoáng qua trong đầu tôi.

Tôi cũng thấy quanh tôi một sự êm đềm, dịu dàng, mọi vật đều như được những tấm gương lắp trong quán phản chiếu, sáng cái vẻ trong mát, hân hoan.

Vâng, lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy tôi hạnh phúc, dù đó chỉ là thứ hạnh phúc mong manh.

Tôi nhìn thấy mình trong tấm gương không đến nỗi xấu xí.

Tấm gương như mặt hồ. Tôi giống như cây liễu. Tôi biết tôi đang được hơ trong hơi ấm của tình ái.

Có lẽ tình ái chỉ có thật trong tưởng tượng thế này chăng?

Tôi thấy lòng mềm nhũn, tưởng chừng như tôi sẵn sàng tan hòa vào mọi ý muốn của Sơn.

Tôi yêu anh chăng?

Tôi có cần tự hỏi tôi mãi như thế không?

Giả thử tôi yêu anh? Giả thử tôi không yêu anh? Mọi sự cũng không có gì thay đổi cả. Buổi chiều vẫn giữ nguyên cái vẻ trong sáng của nó bên ngoài ô kính. Bàn ghế vẫn được bầy ở những vị trí này. Tất cả những người ngồi trong quán vẫn có thể soi thấy bóng mình trong mấy tấm gương kia. Tôi ngó lại mình một lần nữa. Tôi nhìn thấy hai mắt Sơn dịu dàng, hết sức dịu dàng nhìn ngắm tôi. Tôi có cảm tưởng khôi hài, cuộc tình của chúng tôi, nếu có thể gọi như thế, đã bắt đầu ngược, nghĩa là đã bắt đầu từ chỗ hết và đang lần trở lại phút khởi đầu. Sự việc vừa có vẻ bi thảm vừa có vẻ tức cười.

Tôi cười với Sơn trong tấm gương và tôi quay lại nhìn anh bên ngoài.

Sơn hỏi tôi:

– Chuẩn bị xong xuôi rồi chứ?

Tôi gật đầu thay cho câu trả lời. Tôi không muốn nghe bất cứ một sự nhắc nhở nào nữa về chuyến đi sắp sửa.

Tôi dần dà nhận ra trong những tiếng nhắc nhở đó, không còn ý nghĩa thăm hỏi nữa, mà có vẻ gì đó xua đuổi.

Sơn bảo:

– Mình đi chơi một lát.

Sơn đưa tôi tới một cái quán ăn rất lạ, đằng sau một khu chợ cá, chợ đã tan, người ta đang xối nước cọ rửa các sạp, lối đi nhớp nháp, tanh tưởi, qua một cái sân khá rộng lát gạch vuông đỏ, leo một cái thang gỗ nhỏ lên lầu một căn nhà sàn được thiết kế thành quán ăn. Quán xập xệ, không tường vách, trông thẳng ra mặt sông và chỉ có độ năm sáu bàn, nhưng cũng có vẻ đẹp riêng. Ngồi ở đó, người ta có thể nhìn suốt dọc một quãng sông đầy ghe, thuyền, phía xa là cảng Khánh Hội. Tôi ngửi thấy mùi thuốc lá nồng trong không khí, có lẽ là từ ống khói của nhà máy làm thuốc lá từ bên Khánh Hội thả ra.

Sơn nói:

– Khu Venise của Sài Gòn đấy.

Mặt sông vào giờ triều lên mênh mông và xanh hơn. Ghe thuyền đâu sát nhau quanh bến làm thành một xã hội nổi, nhiều khoang bên trong có nệm chiếu, tủ bàn, y như những căn phòng.

Ở đầu một chiếc ghe khác, người ta quây gỗ và tôn làm một phòng tắm lộ thiên, tôi nhìn thấy một phụ nữ đang tắm.

Từ chỗ đang ngồi, tôi còn nhìn thấy một ngôi chùa nhỏ, ngai thờ sơn son thiếp vàng, mâm hoa quả, đèn nến thắp sáng, và một nhà sư, không phân biệt nổi nam hay nữ, đang ngồi tụng niệm.

Sơn nói:

– Ngồi ở đây có thể nhìn thấy một cái panorama của Sài Gòn.

Tôi cười bảo:

– Không ngờ lại có một chỗ ly kỳ thế này.

– Mưa, ngồi ở đây thích lắm.

– Đáng tiếc em không còn có dịp nữa.

Chiều đã hết hẳn trên con nước. Bầu trời vẩn mây, đen thẫm, những vì sao giống như những con mắt yếu đuối của người sống, người chết, từ nơi xa thẳm nào nhìn vọng về. Quê tôi ở phía nào? Hà Nội ở phía nào? Giờ này, đứng ở một nơi nào đó trên cầu Long Biên, bên hồ Trúc Bạch, giữa đê Yên Phụ, có lẽ người ta cũng nhìn thấy những ngôi sao như tôi đang nhìn thấy đây. Nhưng bao giờ người ta có thể đổi chỗ để nhìn như thế?

Chúng tôi ra về khi có vài người khách tới ngồi ở chiếc bàn bên cạnh.

Những chiếc bàn cũ kỹ không mấy sạch sẽ, nhưng cũng là một bữa ăn, một chỗ ngồi chắc tôi sẽ còn nhớ mãi.

Lối đi ra bây giờ đã lờ mờ dưới ánh đèn.

Sơn nói:

– Coi chừng té.

Chúng tôi ra đường, gọi một chiếc taxi, về lại khu phố chính.

Ngồi trên xe, tôi bảo với Sơn:

– Ngày mai, em không gặp lại anh nữa.

Sơn bóp mạnh bàn tay tôi anh đang nắm trong tay anh. Anh hôn phớt trên môi tôi và trong một giây tôi nhận ra sư liên hệ giữa chúng tôi có một vẻ gì bi thảm, không còn cách gì có thể sửa chữa được.

Sửa chữa cái gì đây?

Sơn đưa tôi về chỗ ở của anh. Đó là một căn phòng nhỏ, trong một khu xóm đông đảo. Tôi nhớ là tôi đi qua một con đuờng hẻm tráng xi măng, đi qua những căn nhà có hàng rào gỗ sơn những màu khác nhau, đi qua những tàn cây trứng cá-

Căn phòng bầy biện sơ sài, bàn viết, kệ sách, giường ngủ, thêm một chiếc bàn nhỏ và hai chiếc ghế làm chỗ tiếp khách.

Cái chỗ ở lặng lẽ của Sơn làm tôi bàng hoàng. Tới phút này, tôi mới biết ra rằng, tôi không biết gì về anh, anh cũng không biết gì về tôi.

Nhưng quả thật tôi đang được sống những giây phút êm đềm, tốt đẹp. Căn nhà có vẻ gì đó ấm cúng, quen thuộc kỳ lạ, hình như tôi đã biết, đã có lần ra vào. Đây là nơi tôi có thể ở lại như mái nhà đích thực của mình. Cửa sổ của căn phòng trông ra một vách tường quét vôi xám. Một cây tràm bông đỏ đầy hoa phất phơ trong gió.

Sơn chỉ một chiếc ghế bảo tôi:

– Em ngồi xuống đó.

Tôi ngồi xuống chiếc ghế của bàn viết trông ra cây tràm. Căn nhà ở khá sâu trong hẻm, tôi chỉ còn nghe vẳng những tiếng động từ phía đầu ngõ vừa đi qua vọng lại.

Sơn cũng ngồi xuống chiếc ghế bành còn lại, kê sát tường, liền với bàn viết, xây lưng ra phía ngoài của sổ.

Tôi thầm nghĩ, nếu tôi đến đây trước, có lẽ đã không có chuyến đi này.

Nhưng bây giờ mọi sự đã quá muộn.

Nếu mỗi người đều có một định mệnh an bài trước, hẳn cái phần số đã được định trước của tôi phải có chút gì đó vương vất nơi đây.

– Chưa bao giờ anh nói với em về chỗ ở này.

Tôi nói với Sơn và muốn tưởng tượng những ngày tháng nếu chúng tôi chung sống với nhau sẽ ra sao?

Chân tay và cả đầu óc tôi, bỗng nghe nặng nề, khi tôi chợt nghĩ rằng, có lẽ sẽ chẳng còn có dịp bước qua cái ngưỡng cửa kia, để vào đây nữa.

Thực sự tôi có mong trở lại đây không?

Bốn năm, những gì sẽ xẩy ra? Chúng tôi lại cũng chẳng ước hẹn gì với nhau.

Căn nhà có vẻ lạnh lẽo, nhưng đó là cái lạnh lẽo dễ thương của một chỗ thiếu hơi đàn bà.

Người đàn bà nào sẽ mang hơi ấm đến đây?

Tôi bảo Sơn:

– Thôi, em về.

Sơn không nói gì. Yên lặng một lát, anh đứng dậy, đi tới, đứng đằng sau chiếc ghế tôi đang ngồi, ôm choàng lấy tôi và cúi xuống hôn tôi.

Cử chỉ của anh tựa hồ đã được sắp đặt trước nhưng vẫn làm tôi hết sức cảm động.

Sơn hỏi:

– Em sẽ trở lại chứ?

Tôi cười, bảo:

– Vâng.

Rồi tiếp:

– Nếu em chưa già.

– Sợ già à?

– Sợ.

Không khí trong giây phút bỗng trở nên nửa vui nửa buồn. Tôi chỉ định nói đùa với Sơn, nhưng trong những lời đùa bỡn hình như vẫn có một phần sự thật. Sợ già ư? Tôi không thể biết trước có sẽ trở về đúng kỳ hạn. Giả thử tôi có trở về đúng kỳ hạn chăng nữa, tôi cũng đã có thêm bốn năm già. Bốn năm sống một mình ở nơi xa lạ đó, tôi sẽ ra sao? Sơn sẽ ra sao? Với cuộc chiến tranh mù mịt này nữa, cả đất nước sẽ ra sao? Và, sau cùng, tôi có ước mơ gì để thực hiện ở đây?

Đó không phải là những nỗi khó khăn sao?

Tôi sẽ già. Mọi sự sẽ đổi thay, từ tình cảm đến con người và hoàn cảnh.

Sơn nói:

– Anh rất tiếc em không còn ở lại đây nữa.

Tôi tin anh thành thật khi nói vậy. Em cũng tiếc như anh. Chúng ta khám phá ra đời sống quá muộn. Đời sống cũng chỉ bầy ra cái vẻ quyến rũ nửa vời như vậy.

Cũng rất đáng tiếc, vẻ quyến rũ đó không đủ ý nghĩa để chúng ta hủy bỏ tất cả những gì khác để theo đuổi như một cách thực hiện đời mình.

Tôi thử tưởng tượng một thời khắc chung sống với Sơn, như một cặp tình nhân, yêu nhau đã lâu, tình không còn sôi nổi, không cần bầy tỏ, đã có thể sống với nhau trong lặng lẽ. Tình yêu tựa một mặt nước, tình nhân giống như những con cá, tung tăng, lờ lững hay vùng vẫy bơi xa, cũng vẫn ở trong tình.

Sơn nói:

– Khi trở lại, em hãy đến thẳng đây.

Tôi cười hỏi:

– Anh sẽ nói sao nếu lúc ấy lại có mặt một người đàn bà khác?

– Cô nhầm nhà chăng?

– Em sẽ đóng kịch tiếp với anh.

– Thử coi.

– Người quen của tôi xưa, ở căn nhà này, xin lỗi ông bà, tôi muốn nói có lẽ ở căn nhà này, đã có nhiều thay đổi, tôi không dám chắc.

– Cô có nhớ tên người đó không?

– Dạ, không ích gì.

– May ra chúng tôi có thể giúp cô tìm lại người ấy.

– Ông bà có căn nhà xinh quá. Chúng tôi ngày xưa đã định mua căn nhà này. Tôi lại phải xin lỗi lần nữa, đáng lẽ tôi phải nói, hình như là căn nhà này.

– Không sao. Ngay bây giờ, nếu cô còn giữ ý định ấy, chúng tôi có thể sẽ nhượng lại. Đã vài lần chúng tôi tính đến việc di chuyển rồi.

– Không đâu ạ. Tôi tin ông bà đã gặp may mắn. Những may mắn tôi đã bất hạnh không giữ được.

– Cô làm chúng tôi có cảm tưởng, trước khi đi xa, cô đã hứa hôn với một người nào ở đây.

– Hứa hôn? Không, chúng tôi đã vượt qua giới hạn ấy từ lâu.

– Tôi không ngờ chuyện lại phiền muộn đến như vậy.

– Dạ, làm gì có chuyện đó. Đây chỉ là những điều tôi tưởng tượng ra thôi ạ.

Tôi bắt đầu thấy ngột ngạt.

Tôi phải ra về thôi. Nếu không, cái khoảnh khắc hạnh phúc mỏng manh này cũng sẽ biến mất.

Tôi bảo với Sơn :

– Em về đây. Đừng tiễn, để em đi một mình.

Sơn có vẻ hơi ngạc nhiên về sự lạnh lùng của tôi. Chắc anh không thể hiểu nổi tại sao có cái đêm ở ngoài Vũng Tàu. Không sao. Trời biển sẽ giữ cho chúng ta niềm bí mật ấy.

Tôi muốn chấm dứt mọi chuyện ngay phút này, không muốn Sơn đưa tôi ra đường, không muốn kéo dài sự bịn rịn. Sơn có cho là tôi khó hiểu, kỳ cục cũng chẳng sao, có khi còn tốt hơn cho cả tôi lẫn anh. Tình nếu đã không có cơ hội, thắt lại mà làm chi? Cách chấm dứt đau đớn nhất là cố nuôi hy vọng. Cách giản dị nhất là nghi ngờ. Nghi ngờ rằng cái tình có lẽ không có thật. Như trong một giấc mơ, mỗi người thấy mình vừa ra khỏi. Người ta có thể mỉm cười với chính mình và với người trong mộng.

Như vậy không hay sao?

Tôi tiếc những gì tôi đã cho anh chăng?

Không, tôi không đủ nặng tình với anh để tiếc chi cả.

Tiếc một giấc mơ là chuyện để người ta cười một mình.

Kẻ may mắn có một mối tình lớn trong đời.

Người không may chỉ có thể có những khoảnh khắc hạnh phúc.

Nếu chúng ta không có được một trong hai điếu ấy, chúng ta cũng đã có với nhau một kỷ niệm.

Tôi không thể từ chối việc Sơn đưa tôi ra ngõ, dù tôi đã muốn như thế.

Tôi nói:

– Anh không sợ sự quyến luyến sao?

Anh nhìn tôi bảo:

– Anh rất tiếc không còn được gặp em lại.

Tôi cười bảo:

– Đáng lẽ anh phải nói điều ấy sớm hơn.

Sơn cũng cười bảo tôi:

– Anh sẽ cố nói điều đó đúng lúc, nếu còn có dịp.

Tôi nghe một cơn đau bóp nhẹ trong ngực, hệt như cái lần tôi ngửa mặt nhìn cây đào trổ bông giữa triền dốc trên Đà Lạt.

Tôi ao ước Sơn có đủ thô bạo hay say mê làm dữ với tôi một điều gì đó. Anh bắt nhốt tôi ở lại đây chẳng hạn. Tôi không đủ say mê để tự nguyện ở lại. Cả hai đều không ai có đủ lực để làm cái việc đáng đời như thế.

Vậy thì phải coi như định mệnh không can dự gì vào chuyện của chúng ta

Và chúng ta đành phải chia tay thôi.

Chúng tôi ra khỏi nhà.

Sơn đóng cửa trước khi quay ra cùng đi với tôi.

Con ngõ ra đường được soi sáng bằng những ánh đèn hắt ra từ các căn nhà hai bên đường. Tôi nhìn thấy bóng tôi và bóng Sơn lảo đảo đổ trên lối đi lồi lõm.

Thôi nhé, đối với anh, em không chỉ đang đi ra khỏi cái ngõ không tên này, mà em đang đi ra khỏi đời anh.

Tôi không muốn nhìn, muốn nhớ một vật gì quanh mình nữa.

Ngoài đầu ngõ, khu phố vắng vẻ, vàng vọt trong ánh sáng của những ngọn đèn lộ.

Chúng tôi dừng lại dưới một tàn cây, bên hè đường.

Sơn nói:

– Đứng đây chờ xe.

Sơn đã hôn tôi cái hôn từ biệt ở đây.

Tôi cũng muốn Sơn kéo dài cái hôn và anh hút khỏi dùm tôi cái vầng trăng lạc trong lồng ngực.

Nhưng không bao giờ, sẽ không bao giờ anh hiểu được tôi nghĩ gì vào lúc đó, phải không anh?

Share this post