Dòng Tóc Bên Đời – Đỗ Bình

Dòng Tóc Bên Đời – Đỗ Bình

Làn khói từ chiếc ống pippe lan tỏa thơm nồng khắp căn phòng nhỏ. Sợi khói cuộn vòng trong khoảng không biến ảo thành nhiều hình trừu tượng khác nhau, có sợi bay vào mái tóc ngả màu sương của ông Lê Thanh như áng mây trắng bồng bềnh, trông dáng ông ngồi trên chiếc ghế giống bức tượng một nghệ sĩ. Ông Lê Thanh có thói quen ngồi hàng giờ im lặng như một chiếc bóng, đôi mắt khép lại để suy tưởng đã lộ rõ khóe mắt những đường nét, những nếp gấp thời gian biểu hiện trên khôn mặt đầy nét phong trần. Ít người thấu hiểu trên khuôn mặt đó lại chất chứa một tâm hồn đầy nhân ái, lòng hy sinh và tính vị tha. Ông tất đa cảm, hay buồn vu vơ vì những tác động nội tâm nên gởi gấm tâm trạng qua viết lách, do đó đã đeo đuổi nghiệp dĩ văn chương.

Ông viết tiểu thuyết diễm tình văn phong thật bay bướm lả lướt, các nhân vật trong truyện được ông dàn dựng đầy kịch tính, sướt mướt, đa tình, thế mà ở ngoài đời ông lại lận đận về đường tình ái nên vẫn còn độc thân! Thuở còn trẻ, ông rất đào hoa được nhiều người đẹp ngưỡng mộ vì đã phục vụ trong một binh chủng oai hùng, và là một y sĩ giỏi gan dạ từng xông pha nơi chiến trường. Thuở đó ông rất tự tin, yêu đời, ham vui, không muốn bị ràng buộc nên đã không thích lập gia đình sớm. Đến khi Miền Nam mất ông đâm ra thất vọng chẳng còn thiết gì đến việc lập gia đình. Ông cũng như toàn dân Miền Nam đành nhắm mắt buông xuôi theo vận nước đẩy đưa, và kệt cục ông cùng chung số phận với bao chiến hữu khác xách gói vào nhà tù!
Ở trong trại tù, một hôm ông nói với mấy người bạn tù:
« -Bọn lưu manh chính trị đã thành công trong việc khai thác lòng thành của những kẻ say mê ‘tà thuyết’ để dẫm lên xương máu của người dân vô tội! Bạo lực dù có mạnh đến đâu thì cũng chỉ chiếm được đất chứ nào chinh phục được lòng người ? Ở một đất nước mà những người giỏi đều bị bắt nhốt tù hết thì làm sao đất nước đó phát triển?!»

Trong chính sách «cải tạo» của chính quyền Cộng Sản về việc giam cầm những sĩ quan, những nhân viên cao cấp trong chế độ cũ là «vô thời hạn», nghĩa là không có ấn định ngày được trả tự do. Có những tù nhân ở tù không lâu, vì nhu cầu thiếu chuyên viên kỹ thuật, nhà nước Cộng Sản buộc lòng phải thả một số ít chuyên viên kỹ thuật về sớm. Là bác sĩ, Lê Thanh thuộc diện nầy, nhưng do tính tình thẳng thắn, mà thường xuyên lại phải nghe những điều trái tai giảng dạy từ cán bộ quản giáo nên ông thường hay lên tiếng «sửa sai», chỉnh lại những lời của quản giáo. Điều đó đã khiến ông bị ghép tội chống đối, châm biếm chế độ, bởi thế ông không được thả về mà còn bị nướng gần chục cuốn lịch trải qua nhiều trại tù từ Nam ra Bắc.

Khi đươc thả ông vượt biên ngay mà không chờ đi theo diện H.O sang Mỹ. Ông thích đi Pháp vì ngày trước ông đã học y khoa bên nầy, hơn nữa trong lòng ông vẫn còn mối hận đối với một số ít chính khách Mỹ, vì quyền lợi riêng tư đã phản bội quân đội Việt Nam Cộng Hòa, những người bạn từng sát cánh với người Mỹ chiến đấu vì lý tưởng tự do. Ông nghĩ : «Trên giải đất quê hương Việt Nam người Mỹ đã đổ quá nhiều xương máu. Họ đến mang theo niềm tin cho sự tự do, như một tia sáng lóe lên trong đêm tối… rồi tắt ngấm! Sự bội tín đã bỏ lại sau lưng một thảm họa, một bầu trời đêm đen của Miền Nam! Họ ra đi nhưng trên quê hương Việt Nam vẫn còn những vết hằn sâu kín, những nỗi niềm ủ dột khiến những dòng nước mắt chảy mãi chưa khô!».

Thuở mới học xong ở Paris về nước ông có yêu một người con gái và cùng nàng thề non hẹn bể nhưng cuộc tình đắm đuối và thơ mộng đó kéo dài không lâu thì dang dở. Chàng tự trách mình có một phần lỗi trong sự tan vỡ vì ngày đó còn thích bay nhảy không muốn lập gia đình sớm bị ràng buộc trách nhiệm nên chẳng chịu ngỏ lời xin cầu hôn! Chàng viện dẫn là sắp trưng tập vào lính, đợi ra trường có chỗ ổn định mới nghĩ tới việc lập gia đình. Chàng không thể vì chút tình riêng mà thiếu trách nhiệm của người trai thời chiến, do đó chàng đã thành khẩn xin nàng thông cảm mà chờ đợi.

Cũng như bao thanh niên trong thời chiến, chàng bị trưng tập vào quân đội. Biến cố Tết Mậu Thân là động cơ thúc đẩy chàng xin ra làm y sĩ cho một đơn vị tác chiến, mặc dầu khi ra trường chàng đã có lệnh bổ nhiệm về phục vụ tại một Quân Y viện thành phố. Dù biết chiến trường đầy nguy hiểm, nhưng chàng muốn đem chút sở học săn sóc và cứu chữa những thương binh ngoài mặt trận. Họ là những người cùng lứa tuổi với chàng đang hiên ngang bước vào cõi chết, những người đã xem nhẹ bản thân mình để giữ an lành cho bao kẻ khác, trong số đó có xương máu của rất nhiều bạn bè thời thơ ấu cùng phố, cùng lớp với chàng đã hy sinh để chàng được an nhiên du học Pháp.

Cuộc tình «Anh tiền tuyến Em hậu phương» đẹp như một bài thơ, một ca khúc cũng chẳng kéo dài được lâu! Bố mẹ của nàng không muốn con gái phải trở thành góa phụ trẻ vì làm vợ một người lính trận. Ông Bà đã vội vã chấp nhận lời cầu hôn của một thương gia giàu có, trí thức gốc Chợ Lớn, tuy khá tuổi nhưng có quốc tịch Hồng Kông nên không phải đi lính. Bị bố mẹ cưỡng bách đoạn tình, nàng khóc lóc van xin ố mẹ, và cự tuyệt cuộc hôn nhân ngang trái nầy, nhưng bố mẹ vẫn quyết liệt bắt nàng phải theo lệnh gia đình. Nàng chơi vơi trong bể tình, trong lúc tâm hồn đang đau buồn

Nàng chợt nghĩ đến câu nói của Đại văn hào người Anh là William Shakesapear:
«Không có một chân tình nào mà không trải qua sóng gió.»
Để bảo vệ tấm chân tình, nên chạy đến tìm chàng mong cùng chàng thoát ly gia đình tìm phương trời xa ẩn náu để hưởng hạnh phúc. Nhưng đó chỉ l à ý nghĩ quá đơn giản khi mà khắp nơi đang mịt mờ khói lửa chiến tranh thì ẩn náu nơi đâu để có thể sống riêng hạnh phúc? Nàng may mắn sinh trưởng trong một gia đình giàu có, ngoài việc ăn học và một tình yêu đầu đời đầy thơ mộng nên chưa có kinh nghiệm đời, cứ tưởng con tim muốn là được! Tiếng gọi của con tim đã khiến nàng quên đi danh dự của gia đình mình và thế lực bên gia đình người chồng tương lai, họ nào chịu để yên? Còn gia đình chàng cũng đâu chấp nhận cậu con trai quí của mình đi cướp vợ tương lại của kẻ khác làm xấu hổ gia phong?

T ình yêu vẫn khắc trong tim nhưng lời nàng hứa là sẽ đợi chờ chàng đã bay theo gió!Do áp lực của gia đình quá mạnh, vì chữ hiếu nàng đã bóp nát trái tim mình mà đành phụ tình chàng! Nàng chợt nhớ đến câu thơ của Thi hào Nguyễn Du mà nghe lòng chua xót!:

«Nợ tình biết trả cho ai,
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.»

Ngày nàng lên xe hoa chàng hoàn toàn không hay biết, vì thời điểm đó chàng đang hành quân ở vùng Phu Lơ Cam Lộ, Quảng Trị. Ở đây mặt trận đang khốc liệt, đơn vị chàng ngày đêm chịu hàng ngàn trái pháo đủ loại trên ngọn đồi không cao quá 400 mét. Đạn pháo rát quá khiến trực thăng tải thương không xuống được bãi đáp, xác những người lính gói trong poncho bày la liệt, mùi tử khí nồng nặc! Rừng đêm sương xuống càng giá lạnh, gió núi thổi rì rào nghe não nề, nỗi chết vờn quanh. Thỉnh thoảng những trái pháo rớt gần xé màn đêm, chớp sáng loáng trên những chiếc poncho chập chờn như những oan hồn ẩn hiện. Nhiều lúc tiếng mảnh pháo rớt cạnh sườn núi nghe rợn người, tuy có mỏi mệt nhưng chàng không nao núng dù chàng đã không ngủ mấy ngày liền vì phải lo cho những thương binh. Sáng nay, tiếng súng tạm ngưng vì đêm qua địch đã bị đẩy lùi. Chàng thầm nghĩ:
«Thế là mình còn sống thêm một ngày sau những tuần lễ mưa pháo đạn hãi hùng…mình có thể lấy phép thường niên về Sài Gòn đưa em dạo phố…».
Chàng bước ra ngoài hầm trú ẩn hít một hơi thật mạnh, bỗng chàng dừng lại ở phía giao thông hào nhìn thấy những xác binh sĩ vừa chết trận đêm qua chưa kịp gói đang co quắp. Chàng thở dài than thầm: «Chẳng biết đến bao giờ cuộc chiến nầy mới chấm dứt? Ở đây nỗi chết rình rập, chiến trường quả là mồ chôn các chiến sĩ! Ôi, chiến thắng nào mà không có máu và nước mắt !».

Chàng nhớ lại những ngày ở Pháp sắp về nước:”Hồi đó phong trào phản chiến khắp nơi đang âm ỉ sắp bùng lên, những người hô hào đòi phản chiến họ chẳng biết gì về chiến tranh, họ chạy theo mode làm ra người trí thức đòi quyền sống cho nhân sinh. Họ là những người đã bị chủ nghĩa Cộng Sản làm mê hoặc qua nhãn hiệu “hòa bình,” nhưng thật ra họ sợ chiến tranh tước đoạt đi những quyền lợi của bản thân, họ không muốn hy sinh dù nhân danh bất cứ thứ gì. “
Tiến về phía hàng rào nơi anh em lính đang chuyển những xác của đồng đội mà lòng chàng trào dâng tê tái, và thầm nghĩ:
«Phải chăng chiến tranh là sự chém giết lẫn nhau của những người không quen biết để cho những người đã từng quen biết nhau đang ngồi chiếc ghế lãnh đạo ở Sài Gòn, Hà Nội hưởng lợi? Trước hiểm họa của Cộng Sản thì dù cho có phải mất mát, hy sinh hơn. Cuộc chiến một mất một còn với Cộng Sản trong lúc này là cần thiết và chính đáng, chàng bằng lòng làm kẻ hy sinh cho lý tưởng tự do, chứ không phải vì những người ấy!».
Những chiếc trực thăng tải thương xuống tấp nập, trong đó có những thực phẩm, quân trang, đạn dược và thư tín. Người lính mang đến cho chàng một xấp báo chí và mấy lá thư. Chàng vui sướng khi nhận được thư nhà và mở ra. Nhìn những hàng chữ trên thiệp hồng, chàng thấy choáng váng và buột miện than:
«Trời ơi, nàng đã đi lấy chồng!»
Chàng đau khổ, hồn thờ thẫn! Ý định nghỉ phép về Sài Gòn vụt mất! Từ đó chàng trở nên ít nói, ít cười và buông thả đời mình theo số mệnh. Mỗi lần về phép Sài Gòn chàng thường mượn men rượu, khói thuốc và đàn bà để quên tình! Trong men say, chàng nói với bạn bè:
-«Đàn bà thì người nào thề thốt cũng hay cả…nhưng chẳng ai chung tình? Họ chỉ biết… tiền thôi!».

Chàng cười ngặt nghẽo rồi gục trên vai người bạn, thiếp đi.

  Rồi biến cố tháng tư năm 1975 ụp xuống Miền Nam và đã cướp của chàng tất cả, trong đó có cuộc tình buồn! Sau khi tù ra chàng vượt biên đến Pháp tị nạn. Nhờ bạn bè cũ chàng biết tin nàng đã cùng gia đình di tản sang Hồng Kông trước năm 75 và đang định cư sống hạnh phúc ở Canada. Chồng nàng tuổi đã cao nhưng vẫn trông coi một hiệu buôn lớn, còn hai đứa con nàng đã thành tài. Mải lo chăm sóc gia đình và phụ giúp chồng điều hành công ty, mãi đến mấy năm sau nàng mới biết tin chàng ở Pháp, nàng cho chồng biết sẽ qua Pháp thăm chàng và rủ ông đi chơi thăm Paris, nhưng vì bận việc công ty ông không thể đi được. Nàng đáp máy bay, cùng đi có người con trai út đã xin nghỉ việc ngắn ngày để đưa mẹ thăm Paris.

Paris chiều nay rực nắng vàng, thỉnh thoảng có cơn gió se lạnh. Lê Thanh được một người bạn cũ gọi phôn cho biết nàng đã đến Paris, mục đích là thăm ông và hẹn địa điểm và ngày hội ngộ. Hơn hai mươi năm không gặp lại, giờ nghe tin nàng xuất hiện lòng ông nghe như rạo rực của thời tuổi trẻ, cảm giác nao nao như buổi hẹn hò ban đầu, và muốn có đôi cánh để bay đến nàng ngay. Ông ngất ngây nghĩ đến những kỷ niệm xưa, những hình ảnh cũ như những đoạn phim hiện trong tâm trí. Bỗng ông khựng lại vì thấy đôi mắt đẹp của nàng có thời làm ông say đắm, ánh mắt vẫn thánh thiện và ẩn chứa nỗi buồn. Ông chợt thở dài! Trong đôi mắt đẹp đó có cả màu gian dối mà sao ông không nhận ra! Ông giật mình vì lòng tự ái đã làm mờ lý trí nên cảm thấy mình khắc nghiệt với mối tình xưa! Ông định bỏ ý định gặp nàng, nhưng chợt nhớ câu châm ngôn của Nhà văn Nga Nicolai Alexandrovitsh Dobloljubov, thuộc thế kỷ 19 mà thấy lòng được nhẹ nhõm:
« Khi ta đánh mất tình yêu của một người phụ nữ thì chỉ có uyền trách cứ bản thân đã không biết giữ tình yêu đó.»
Ông cảm thấy thẹn và tự trách mình có một phần lỗi trong sự tan vỡ mối tình năm xưa rồi lấy xe đến điểm hẹn. Trước khi bước xuống xe ông chỉnh lại chiếc cracatte và đi đến chỗ hẹn. Con đường hẹn gặp hôm nay trở nên thơ mộng hơn ngày thường, mặc dù con đường vẫn thế, vẫn đón bước chân quen của Lê Thanh từ khi còn học Y Khoa thuở xưa.Con đường đẹp như bức tranh, hai hàng cây dọc con đường lá vàng bay như đàn bướm, lối đi đầy những chiếc lá như dát vàng. Mùa thu Paris thơ mộng, cảnh sắc rực rỡ làm tâm hồn người lâng lâng nhẹ bổng theo từng chiếc bay. Nàng đứng đó, mấy chục năm không gặp nàng vẫn như xưa, vẫn mảnh mai trong chiếc áo lụa vàng. Vẫn đôi mắt buồn xa vắng long lanh đẫm lệ. Môi nàng bỗng nhỏe nụ cười hé hàm răng đều và trắng. Nàng ngây ngất như đang sống lại thuở tình với năm xưa và gọi tên chàng. Nàng thỏ thẻ:
-«Xin anh tha lỗi cho em…,suốt mấy chục năm nay em sống như kẻ mất hồn vì luôn nghĩ em là người đã phụ tình anh!…Em sống chỉ vì con em nhưng tâm hồn em đã gởi theo anh từ dạo đó…Chồng em biết nhưng không hề can dự đến chuyện riêng tư của em…và em vẫn giữ trọn đạo làm vợ, làm mẹ cho đến ngày nay!»

Chàng nhìn nàng trìu mến nói:

-«Anh nào dám trách em!…Chuyện ngày đó chúng mình dang dở, nếu có trách…là trách anh »

Nàng mở đôi mắt buồn hỏi:

« Tại sao ngày đó anh không dám cùng em thoát ly gia đình đi tìm một phương trời mới hạnh phúc?»

Chàng bùi ngùi :

« Anh thú thật anh không đủ can đảm để vượt qua các lề thói luân lý, nếu chúng ta sống với ngoài sự chấp thuận của gia đình sẽ tạo một dư luận tai tiếng….Và còn nữa. Biết sao được đời lính của anh, lấy nhau rồi biết đâu em sẽ thành góa phụ lúc đó em sẽ một mình hứng chịu thị phi của cả xã hội và hai gia đình. Ngày đó anh vẫn hát cho em nghe ca khúc Ru Con Tình Cũ của Nhạc sĩ Đinh Trầm Ca.»

“Ba năm qua em trở thành thiếu phụ, ngồi ru con như ru tình sầu, xin một đời thôi tiếc thương nhau, xin một đời ngủ yên dĩ vãng.
Ba năm qua em trở thành thiếu phụ, ngồi ru con ru quên phận buồn, kỷ niệm nào ghi dấu trên tay, cho lòng này giải những cơn đau…”
Chàng thành khẩn:
«Thú thật ngày đó anh còn trẻ mới ở Pháp về thích được tự do bay nhảy chưa có ý thức sâu xa về hạnh phúc!»

Mắt đẫm lệ, nàng hỏi:
-«Chắc bây giờ anh hiểu thế nào là hạnh phúc?!»
Chàng nhìn nàng thiết tha và dẫn chứng qua câu nói của Nhà triết học, nhà tư tưởng người Pháp là Jean Jacques Rousseau:
-«Muốn hiểu thế nào là hạnh phúc phải biết sống cho kẻ khác, nghĩa là phải biết yêu.»

Chàng ngước lên ánh mắt xa vời nhìn những áng mây bay ở cuối chân trời, chàng hít mạnh không khí, và nói tiếp:
«Bây giờ không những anh hiểu… mà còn thấm em ạ! Em xem đám mây trắng lờ lững cuối trời, nó đẹp quá em nhỉ? Hạnh phúc thì cũng chỉ là áng mây, thứ điểm trang cho bầu trời, nó muôn sắc nhờ ánh mắt trời, nó bồng bềnh chỉ là hơi nước tụ lại nên mong manh sương khói cuối cùng rồi một thoáng cũng tan biến!»
Nàng rầu mặt buồn bã hỏi:
-«Mấy chục năm gặp lại, anh có vẻ bi quan quá ?!»
Chàng nhún vai trả lời:

-«Chẳng phải bi quan đâu em!Đây chỉ là kinh nghiệm sống mà anh đã trải qua…chiến tranh, tù đày và biệt xứ đã dạy anh hiểu thế nào là chân giá trị của sự hạnh phúc! Có bao giờ em nghĩ hạnh phúc chỉ có thật trong giấc mơ? Anh đã từng ôm những ước mơ lớn nhưng chỉ là giấc mơ hư! Và anh cũng có những ước mơ nhỏ dù đó là được củ khoai nóng những lúc đói trong tù!»

Nàng nhìn chàng thương xót, nàng nghĩ :
«Có lẽ những năm tù đày khốn khổ đã cướp mất tính hồn nhiên yêu đời của chàng?!».
Mắt nàng tha thiết nói :

-« Em muốn giúp anh một số vốn để anh dời phòng mạch về Trung Tâm Ngưới Á Châu? »

Chàng chua chát cười:

-« Xin cảm ơn lòng tốt của em. Tình yêu là thứ cao qúy nhất mà anh chẳng giữ được, tiền bạc cho lắm xuôi tay cũng thành sương khói! Vả lại anh chỉ là thày thuốc của các bệnh nhân chứ không quan trọng hóa nghề bác sĩ. Nghề bác sĩ chỉ có giá trị khi có ích lợi cho người bệnh, nghề bác sĩ không phải dể tạo danh vọng hay tiền tài!»

Biết mình lỡ lời, nhưng nàng vẫn cảm thấy nghèn nghẹn vì lòng tốt của mình đã bị hiểu lầm nên nàng cố dằn tự ái …và chuyển câu chuyện. Nàng không muốn bao năm chờ đợi, giờ tìm được nhau để rồi sẽ vĩnh viễn mất nhau!:

-« Em dạo này già rồi nên nói năng vô duyên, nhiều lúc còn hay quên nữa anh ạ!»

Chàng ngắm nàng ánh mắt trìu mến, và tha thiết nói:

-«Không phải thế đâu em! Giọng em còn trong, thanh âm ngọt ngào…và nhất là em còn trẻ đẹp lắm!…Nhan sắc nầy vẫn còn quyến rũ với đời cỡ mười, mười lăm năm nữa!»

Như một phép lạ, nàng bỗng cảm mình trở lại tuổi đôi mươi, tâm hồn đầy hưng phấn, sự ấm áp của tình yêu thuở ban đầu. Những giọt nưóc mắt sung sướng đã trào ra, nàng khép vội bờ mi nhưng nước mắt vẫn ứa đầy! Nàng yên lặng tận hưởng khoảnh khắc hạnh phúc mà tưởng chừng không bao giờ gặp lại cái giây phút mà nàng đã đợi chờ suốt mấy chục năm. Nàng biết thời gian vẫn chưa làm dung nhan nàng phai tàn, nhưng lại không tự tin khi dứng trước mặt chàng! Nàng rất hồi hộp và lo sợ, sợ khi gặp lại chàng sẽ chê già. Nàng run run thỏ thẻ:

-«Em…vẫn còn…yêu anh !»

Chàng cảm thấy đôi mắt cay, nhưng cố nén xúc động và giữ khoảng cách:

-«Anh cũng thế!»

Nàng quá xúc động bật khóc nức nở:

-«Tại sao anh không lập gia đình?»

Chàng thở dài trầm giọng:

-«Trái tim anh một nửa cho quê hương và một nửa cho em, tất cả đã xa khỏi tầm tay thì anh còn thiết tha gì nữa mà lập gia đình?!»

Hàng cây bên đường hình như thấu cảm cho mối tình ngang trái nên khẽ reo lên trong gió và buông đầy lá vàng. Nàng nức nở khóc và ngã vào cánh tay chàng. Nàng khóc ướt đẫm vạt áo chàng, nàng ôm chặt chàng và quên mất ngoại cảnh. Chàng cứ để cho nàng khóc…Khóc cho bõ nhớ nhung, cho cuộc tình vơi đi những muộn phiền đã chồng chất bao tháng ngày!

Chàng ôm chặt nàng như sợ mất, và thầm nghĩ

-«Tình ơi ta vì em và yêu em, ta khôngmuốn em lầm lỗi đánh mất sự tinh khiết !»

Chàng không muốn mình trở thành kẻ phạm tội làm khổ đời nàng thêm một lần nữa nên mạnh dạn buông nàng ra khỏi cánh tay và trân trọng tha thiết nói:

-«Anh biết suốt mấy chục năm em âm thầm đau khổ, nhưng em vẫn là người vợ tốt, người mẹ hiền. Anh hy vọng rằng em cứ giữ mãi đạo nghĩa đó. …Tấm lòng của em dành cho anh,…anh xin ghi khắc. Và dù mai nầy ở bất cứ phương trời nào anh vẫn nhớ em, xin em hãy giữ lại cuộc tình, và trân trọng nó để tình ta mãi đẹp như bài thơ anh đã viết tặng em!»

Nàng như tỉnh giấc mơ vội lau nước mắt, môi nhỏe nụ cười buồn:

-«Biết được lòng anh, em cảm thấy tình yêu của mình đầy ý nghĩa… đâu cần phải sống chung mới là hạnh phúc…Em đã hiểu được cái hạnh phúc đích thực trong ý nghĩ anh….Dù anh chỉ cho em có nửa trái tim, còn em cho anh cả tâm hồn nhưng cả hai chúng ta đều chung một hạnh phúc !»

Hai người nắmchặt tay nhau đồng cười to lên vì đã hòa tâm ý, và từ đó họ không còn gặp nhau nữa nhưng tình vẫn bên nhau. Trên con đường lái xe trở về nhà lòng chàng tràn đầy niềm vui vì:“Tiền tài, danh vọng tất cả chỉ là hư ảo, duy chỉ có tình yêu là sự thật.”

Share this post