Đông Yên Và Nhã Lan & Phạm Mạnh Trinh

Đông Yên Và Nhã Lan & Phạm Mạnh Trinh

– Nguyễn Mạnh Trinh: Đối với tôi, tên tuổi của tác gả Đông Yên chưa quen thuộc lắm. Nhưng khi đến thăm tiệm sách, nhìn những tác phẩm của ông với tổng số hơn 20 cuốn, tôi nghĩ một thiếu sót lớn của một người ham mê đọc sách như tôi là chưa đọc tác phẩm của tác giả Đông Yên. Tôi vào trang mạng của tác giả Đông Yên và chọn một vài tác phẩm về đọc với nhiều thể loại khác nhau, tôi đã tìm thấy một tác giả đa diện với những tác phẩm thật phong phú. Tôi thắc mắc. Ông là thi sĩ, là người viết truyện ngắn, là dịch giả, là nhà biên khảo văn chương, là người viết sách về chính trị học, kinh tế học, là người soạn từ điển tin học? Để trả lời, có lẽ mời ông làm khách quý trong chương trình Tản mạn Văn Học do tôi và Nhã Lan thực hiện là một phương cách hay nhất để ông tự giới thiệu mình với độc giả. Thú thực tôi chỉ đọc vài tác phẩm tiêu biểu của ông nên cái nhìn chưa được tổng quát hay toàn diện, Cho nên phỏng vấn để ông có thể một cách chủ quan nói về chính đời sống thực và đời sống văn chương là một cách tiếp cận tác giả và tác phẩm gầm gũi nhất.

– Nhã Lan: Trước hết, xin một vài nét về tiểu sử của tác giả Đông yên. Ông tên thật là Lương Tấn Lực, sinh quán làng Đông Yên, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, nên ông mới lấy nơi sinh quán làm bút hiệu. Trước năn 1975 ông là giáo sư sinh ngữ thuộc Khối Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị Quốc Gia, Đà Lạt. Ở Hoa Kỳ, ông là chủ nhiệm kiêm chủ bút Nguyệt San Đỉnh Sóng và chủ biên của Diễn Đàn Đỉnh Sóng. Ông tốt nghiệp Master’s Degree, Computer Science tại Đại Học CSU Long Beach, và đã biên soạn bộ Từ Điển Tin Học (Information Technology Dictionary). Là một tác giả đa dạng với các tác phẩm phong phú, ông đã hoàn tất hơn 20 tác phẩm trong đó có Thơ, như Loài Chim Du Mục; Truyện ngắn song ngữ, như Người Đi Săn Mặt Trời (The Sun Hunters); dịch thuật văn học, như Thi Ca Tuyển tập Anh Mỹ; Thi Ca Lãng Mạn Pháp; Truyện Ngắn Song Ngữ I và II; biên khảo kinh tế, như Kinh Tế Đại Cương, Kinh tế Darwin; biên khảo khoa học, như Vũ Trụ Từ Hư Không, Cuộc Chiến Hố Đen, Lai Lịch của Thời Gian, Đĩa Bay và Người Hành Tinh (gồm năm tập)…; biên khảo chính trị, như Mặt Trái Hệ Thống Chính Trị Hoa Kỳ, Kỷ Nguyên Âm Mưu, Ma Túy Dầu Mỏ và Chiến Tranh, Chết Dưới Tay Trung Quốc, Trung Quốc sẽ Sụp Đổ, Hổn Loạn Thế Giới Mới, Chân Tướng Hollywood…

Tác giả Đông Yên đã trải qua những thời thế đặc biệt của Chiến Tranh Việt Nam nên những tác phẩm của ong có khi là những ngoái nhìn quá khư những vẫn nhận thức và tìm tòi để rút kinh nghiệm ở hiện tại và hướng về tương lai với chủ đích đi tìm lẽ sống tuyệt hảo cho người tị nạn. Chúng ta sẽ được nghe chính ông phác họa qua từng tác phẩm của mình, những tâm cảm của người tị nạn và gợi ý đến những bước đi sắp tới của tương lai.

– Nguyễn Mạnh Trinh: Thưa anh Đông Yên, như ở phần đầu, tôi có thắc mắc về chân dung văn học đích thực của anh. Anh là nhà thơ, nhà văn, biên khảo, hay dịch giả?

Đông Yên: Thưa anh, thực ra xưng hô nào đều phiến diện cả, nhưng vì muốn gọn nhẹ trong ngôn từ, tôi thường để hai chữ “Nhà văn” bên cạnh chữ Đông yên. Khi nào đặc biệt nói về thơ thì tôi để “Nhà thơ,” thế thôi.

– Nhã Lan: Có người nhận định trong thơ và truyện ngắn của anh cuộc chiến vừa qua hình như là chủ đề chính. Theo anh, nhận định ấy có chính xác không?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, chính xác như thế, mặc dù ngoài hai cuộc chiến Pháp Việt và Chiến Tranh Việt Nam, hai tác phẩm Loài Chim Du Mục và Người Đi Săn Mặt Trời còn liên quan đến những hậu quả chính trị theo sau hai cuộc chiến đó, nhất là thực trạng chính trị tha hóa ở trong nước và chủ nghĩa duy lợi Do Thái Trị ở Hoa Kỳ từ hơn nửa thế kỷ nay.

– Nhã Lan: Tại sao anh lại chọn thể loại song ngữ? Anh viết bằng Anh Ngữ trước rồi chuyển ngữ hay ngược lại?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, nếu tôi viết bằng tiếng Việt không thôi chì chỉ có người Việt đọc mà thôi. Thông điệp của tôi liên quan rất nhiều đến người Mỹ. Tôi muốn họ cũng có cơ hội đọc để có thêm một góc nhìn của người trong cuộc thay vì cứ tự bằng lòng với những gì truyền thông Mỹ nhét vào tư duy của họ từ hơn nửa thế kỷ nay, nhất là truyền thông Mỹ đã và đang bị Do Thái thao túng, lũng đoạn và làm chủ: Phản chiến và thân cộng. Có thể phần lớn họ không thích nghe tôi nói, nhưng đâu sao? Họ cũng cần biết rõ hơn tại sao người Việt Nam lại định cư ở đây và ngưng xem cộng đồng người Việt trên đất Mỹ nầy là một nhà trẻ lên ba chỉ biết nói SORRY và THANK YOU. Tôi không thích thú với trò hát cho nhau nghe. Riêng về câu hỏi viết tiếng Việt trước hay tiếng Anh trước thì tôi xin thưa: Vài phần đầu được viết bằng Tiếng Việt và sau đó dịch sang tiếng Anh rồi gởi cho nhà xuất bản để họ “edit” tức biên tập trước xem sao. Khi nhận lại bản tiếng Anh tôi thấy họ sửa khá nhiều và thậm chí làm xáo trộn các đoạn văn gốc của tôi. Đó là quyền tuyệt đối của các nhà xuất bản, bất luận chúng ta có viết hay đến cỡ nào họ cũng sửa theo ý họ, chúng ta đồng ý thì tiếp tục, không đồng ý thì rút lui. Như thế, tôi lại mất thêm thì giờ sửa lại phần tiếng Việt đã viết cho phù hợp. Từ đó trở đi tôi viết bằng tiếng Anh trước để họ tha hồ sửa trước khi tôi dịch sang tiếng Việt.

– Nhã Lan: Thời thế Việt Nam đã có mặt thế nào trong truyện ngắn của nhà văn Đông Yên? Anh có kèm theo một thông điệp nào của người tị nạn không?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, như tôi vừa trình bày trong câu trả lời vừa rồi, thông điệp của tôi là như thế nầy: Người Mỹ cần hiểu Chiến Tranh Việt Nam theo đúng như lịch sử đã ghi chú không phải theo hệ thống truyền thông phần lớn do Do Thái làm chủ. Và Do Thái là một trong những thế lực bức tử chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đã cướp đoạt đưa sang Israel các khoản viện trợ lý ra dành cho VNCH; họ đã ra rức buộc chính phủ Mỹ bỏ rơi Miền Nam để chống lưng cho Israel ở Trung Đông. Và thông điệp cho người tị nạn là như thế nầy: khi đã ra đi vì lý do chính trị thì, ngoài trừ những trường hợp bất khả kháng, xin đừng mang tiền của về Việt Nam mà nuôi dưỡng một chế độ đã và đang áp bức dân tộc mình, đừng mặc áo gấm về làng để thỏa mãn bản năng mặc cảm tự tôn với người trong nước và xóa bỏ mặc cảm tự ti ở xứ người.

– Nguyễn Mạnh Trinh: Thưa nhà thơ Đông Yên, tập thơ Loài Chim Du Mục là tập thơ về quê hương chiến tranh hay tình yêu đôi lứa?

Đông Yên: Thưa Anh, LOÀI CHIM DU MỤC không chỉ là chứng tích của những cuộc tình hiện ra rồi mất đi theo nhiều tần số khác nhau, theo những chiều hướng không gian khác nhau, chứa đựng những ẩn số khác nhau, phơi bày những suy niệm triết lý và tình cảm khác nhau; đó còn là sự nổi loạn của nhà thơ trước thời thế được thể hiện xuyên suốt hai trong số những cuộc chiến nhơ bẩn nhất lịch sử nhân loại. LOÀI CHIM DU MỤC phơi bày mặt trái của bản chất con người thông qua những chủ thuyết chính trị gian manh và đê tiện. Đó còn là cuộc hành trình đi tìm lại chính mình. Không gian của LOÀI CHIM DU MỤC đôi lúc là vùng cát trắng Quảng Nam thời tao loạn với hình bóng của “Người Gánh Nước Giếng,” “Đám Lúa Nếp Ven Rừng,” đôi khi là vùng trời bằng lăng của “Cánh Hoa Lài trên Tỉnh Lộ,” “Con đường có hai hàng cây sao,” của những ngày hè trong bài “Và Tháng Sáu đi về qua Bảo Lộc,” của Cao nguyên mây trắng trong bài “Đồi Vàng,” v.v.

Bất luận khung quy chiếu là gì, thơ Đông Yên không chỉ là ngôn ngữ của tình yêu mà còn là tiếng rên xiết bất tận như từ bên kia biên giới vũ trụ hữu hình, nỗi dằn vặt của một lữ hành có đi mà không có đến cho nên cứ phải mãi dìu thân phận trên một căng thẳng vô biên, hay như chính nhà thơ đã từng tâm sự:

Thơ tôi viết như máu từ huyết quản
Nhuộm Ngân Hà và chẻ dọc không gian

– Nhã Lan: Bài thơ Xa Lộ Những Người Mù (The Blinds’ Freeway) đã được gởi đến Tòa Bạch Ốc và Sứ quán Mỹ tại Hà Nội như một lá thư phản đối. có ý nghĩa nào được biểu lộ trong sự kiện nầy? Và có feedback từ các giới chức có thẩm quyền không?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, thông điệp chính của bài thơ Xa Lộ Những Người Mù là, ngoài trừ tập đoàn Do Thái quốc tế, phần còn lại của nhân loại dường như không hề hay biết những gì đã và đang xảy ra, vì thế giới mà chúng ta đang sống là một thế giới của âm mưu và lừa bịp, bưng bít và lừa đảo. Peter Dale Scott, một nhà văn Hoa Kỳ đã phải gào thét lên: “Bên dưới cái bề mặt có vẻ trật tự của chính phủ Hoa Kỳ là cả một hệ thống phức tạp, chỉ được cấu trúc một phần, liên kết kể ảnh hưởng của Wall Street, đám quan liêu thối nát, và guồng máy quân sự-kỹ nghệ. Đây mới là quyền lực thực sự của Đế Quốc Hoa Kỳ: Cái mạng nhện hậu trường không do ai bầu ra, không chịu trách nhiệm với bất cứ ai, và miễn nhiễm với mọi đối kháng của quần chúng.” Phiên bản Tiếng Anh của bài thơ Xa Lộ Những Người Mù chỉ là một phần nhỏ trong nhiều thông điệp bằng tiếng Anh mà tôi đã gởi đến Tòa Bạch Ốc, Sứ Quán Mỹ, Thượng Viện California, Hội Nghị Thượng Đỉnh G-20 ở Hàn Châu, Trung Quốc, các tờ báo địa phương như LA Times hay OC Register. Nhã Lan hỏi có feedback nào không. Tôi xin trả lời: Hoàn toàn không. Tất cả những gì mà tôi gởi đi chỉ như lá rụng một chiều.

– Nhã Lan: Thơ của anh chuyên chở nhiều sự kiện của lịch sử thời thế – có phải anh muốn dùng thi cả để nói lên hoài bao và tâm trạng của mình trong đời sống lưu lạc hiện tại?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, thơ văn của tôi không chỉ nói lên hoài bão và tâm trạng cá nhân mà còn là một vũ khí chính trị. Các tay độc tài trên hành tinh không sợ súng đạn hay bạo động phản kháng; nhưng điều mà chúng sợ nhất là nghệ thuật và thi ca. Nếu mọi sáng tác chỉ quanh quẩn cái tôi của mình thì chẳng khác nào đi tìm ý nghĩa cuộc sống bằng cách đứng mãi trước gương để soi mãi bóng mình. Theo thiển nghĩ của tôi, thi ca là cửa ngõ đi vào cộng đồng nhân loại và cùng với nhân loại bước ra khỏi thực trạng áp bức chính trị từ cả hai phía cộng sản và Do Thái, bước ra khỏi xa lộ những người mù.

– Nguyễn Mạnh Trinh: Có phải những nơi chốn, những địa danh của quê hương và xứ Quảng thường được đề cập nhiều trong thơ và văn của nah với tâm tình hoài cổ?

Đông Yên: Thưa Anh, những địa danh Quảng Nam tự chúng là huyền thoại, âm thanh, ca dao, đồng giao, dĩ vãng, hoài khúc, những vùng không gian kỳ ảo, những phóng ảnh ba chiều, và là những điệp khúc khôn nguôi của hành trình và ước vọng. Những địa danh Quảng Nam đó chính là thực thể tâm linh đối với tôi, những khung quy chiếu siêu hình, đồng thời là không gian tiềm thức trong đời sống tri thức và tình cảm của tôi; chúng là hiện thân của chiến tranh, đói khổ, mất mát, vong thân, phản kháng, nổi loạn, chia ly và hoài niệm.

– Nguyễn Mạnh Trinh: Nhưng có người lại nhận định đó là sức sống của thơ van anh dù viết về quá khứ hay hiện tại. Anh nghĩ thế nào về vấn đề ấy?

Đông Yên: Thưa Anh, đó không chỉ là sức sống của thi văn mà còn là gạch nối siêu hình giữa không gian và thời gian, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa âm thanh và màu sắc, giữa con người, tư duy, và vũ trụ. Bây giờ Quảng Nam đang cách xa tôi hơn nửa vòng trái đất, nhưng sao tôi thấy quả địa cầu bỗng nhiên bé lại khi tôi có trong tay tập thơ Loài Chim Du Mục và đọc lại những bài thơ do chính tay mình đã viết ra.
– Nhã Lan: Theo anh, dịch thơ có phải là một công việc sang tạo? Bời vì, có khi bản dịch là một tác phẩm mới?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, người ta thường nói, dịch tức là phản dịch. Theo tôi nghĩ nhận định đó muốn ám chỉ lối dịch từ chương và quy ước, lệ thuộc quá nhiều vào ngôn từ trong bản chính và gò bó quá nhiều vào cấu trúc trong ngôn ngữ trung gian. Tôi quan niệm dịch phải là sáng tác, không những tôn trọng tối đa phần tư tưởng của tác phẩm gốc mà còn phải khai thác được linh hồn của bài thơ, giọng thơ cũng như âm thanh và màu sắc trong bản dịch tiếng Việt, sao cho người đọc không có cảm tưởng đó là một bài thơ dịch. Những yếu tố nầy đòi hỏi, thứ nhất, khả năng thượng thừa về ngoại ngữ, thứ hai, khả năng làm chủ Tiếng Việt, thứ ba, trình độ triết lý văn học, và, cuối cùng bản lãnh tri thức.

– Nhã Lan: Khả năng mang tính cách khoa bảng ảnh hưởng thế nào khi anh là dịch giả?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, nếu khoa bảng có nghĩa là khô khan, gò bó, và mô phạm thì những công trình sáng tác và dịch thuật của tôi không khoa bảng chút nào. Ngược lại, nếu khoa bảng có nghĩa là quy phạm, trung thực, uyên thâm, sâu sắc, độc sáng, phong phú và trang nhã về cả âm thanh, màu sắc và độ dày của tư suy, thì hầu hết những công trình sáng tác và dịch thuật của tôi là khoa bảng. Nhưng bên cạnh thuộc tính khoa bảng, các công trình của tôi còn có tâm hồn thi nhân và trình độ sáng tạo của tôi: tôi dịch thơ trước hết và trên hết như một nhà thơ và sau đó là một nhà hàn lâm. Nhưng điều quan trọng hàng đầu là phải yêu thơ thì mới dịch được thơ, nếu không nói phải biết làm thơ thì mới dịch được thơ.

– Nhã Lan: Anh hoàn tất như thế nào với các tác phẩm phỏng dịch? Có phải đó là những cuốn sách về chính trị và kinh tế mà mọi công dân Hoa Kỳ lưu tâm?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, nếu nói là mọi công dân Hoa Kỳ đều lưu tâm đến những tác phẩm mà tôi dịch thì dứt khoát không đúng. Thẳng thắn mà nói những tác phẩm về chính trị mà tôi dịch thường rất ít người đọc, vì chúng không được truyền thông Hoa Kỳ quảng bá, ai biết thì đọc không biết thì càng tốt đối với họ. Thậm chí nhiều tác phẩm loại nầy đều bị Do Thái “trù ém.” Các tác giả nhiều khi phải luồn lách mới xuất bản được tác phẩm của họ. Đôi khi họ phải viết “nửa nạc nửa mỡ,” nghĩa là phải xen vào một nội dung thân Do Thái thì mới hy vọng “lọt lưới”. Lý do rất đơn giản là Do Thái nắm phần lớn kỹ nghệ in ấn và phát hành ở Hoa Kỳ. Nhiều người, nhất là các cộng đồng thiểu số ở Mỹ, vẫn tin vào mấy chữ “tự do thông tin,” “tự do ngôn luận,” và “tự do tư tưởng.” Đó là bánh vẽ, tự do bài Hồi, tư do ton hót Do Thái, tự do nói nhảm, tự do không biết, không nghe, không thấy, tự do làm thinh, và tự do không nói sự thật, tự do nói sao ghe vậy, nghe sao nói vậy, tự do của các “cháu ngoan Bác Hồ và con ngoan của đảng”.

– Nhã Lan: Tại sao anh viết về đề tài Trung Quốc như Trung Quốc sẽ Sụp Đổ hay Chết Dưới Tay Trung Quốc?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, đó là đề tài mang tính thời sự liên quan đến vận mệnh của Hoa Kỳ và Việt Nam, trước hết và trên hết.

– Nguyễn Mạnh Trinh: Qua sách vở và thực tế, anh nhìn tình hình Hoa Kỳ hiện nay ra sao?

Đông Yên: Thưa Anh, nhận định cá nhân của tôi được phản ảnh rất rõ nét và đầy đủ trong các tác phẩm của tôi. Tôi không lạc quan về hệ thống chính trị Hoa Kỳ, trước cũng như sau. Có một số người mỉa mai và cho rằng tôi có thái độ bi quan và thường chỉ trích Hoa Kỳ. Tôi thú nhận chuyện đó. Nếu ai có hỏi tại sao thì tôi xin thưa rằng tôi là người Quảng Nam, nghĩ sao nói vậy, không quàng xiên, không bóng gió, không sợ sệt, không ton hót, chỉ vì… tôi không phải là nịnh thần của bất kỳ ai và không học nghề đánh giày và hô khẩu hiệu. Tôi cũng không có bổn phận phải ton hót Đảng Cộng Hòa hay bưng bô cho Đảng Dân Chủ, vì cả hai đảng nầy tựu trung chỉ là một, đều tuân thủ nghị trình của Hệ Thống Siêu Quyền Lực Do Thái. Một số người khác cho rằng những bài viết của tôi chỉ làm lới cho Cộng Sản, làm cho cộng sản cười hả hê mầ thôi. Xin thưa rằng hiện nay cộng sản rất hâm mộ các chính quyền Mỹ, đang bợ đỡ các chính quyền thân cộng và phản chiến của Mỹ, từ trên xuống dưới họ đang đua nhau tìm cách “vượt biên” sang Mỹ cùng với những tài sản cướp đoạt của dân tộc Việt Nam. Tôi nói ra sự thật chỉ phật lòng đám lãnh đạo cộng sản mà thôi. Vả lại tôi chủ yếu điểm mặt tập đoàn Do Thái âm mưu chứ tôi không hề phê phán Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ; trước sau như một, đất nước nầy là ân nhân của tôi, gia đình tôi và những đồng bào không cộng sản của tôi.

– Nhã Lan: Trong Mặt Trái Hệ Thống Chính Trị Hoa Kỳ, anh có đề cập đến người Do Thái và Judaism. Có phải đó là nguyên nhân Hoa Kỳ bỏ rơi Nam Việt Nam?

Đông Yên: Thưa Nhã Lan, hình như tôi đã đề cập vấn đề nầy trong một câu hỏi trước. Nhưng không sao. Tôi xin nói thẳng, trước hết và trên hết, Do Thái là nguyên nhân băng hoại của hệ thống chính Hoa Kỳ. Tập đoàn nầy đã thao túng và lũng đoạn nước Mỹ về mọi mặt từ tài chánh, giáo dục, giải trí, truyền thông, và nhất là chính trị đối nội và đối ngoại. Quê hương của họ là Israel chứ không phải Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Israel mà Do Thái đã o ép chính phủ Mỹ bỏ rơi miền Nam. Họ góp phần bức tử Nam Việt Nam bằng cách đánh cắp các khoản viện trợ lý ra dành cho miền Nam. Tên trùm Do Thái Henry Kissinger giả vờ giải quyết chiến cuộc nhưng thực chất đã đi đêm với Mao Trạch Đông để bán đứng miền Nam và tạo điều kiện cho các tay tài phiệt và chủ ngân hàng Do Thái làm giàu thêm với thì trường bao la của một nước Tàu lạc hậu. Tướng độc nhãn Mosh Dayan giả vờ “đi quan sát” miền Nam chỉ để tuyên bố láo lếu có lợi cho Bắc Việt và khiến Hoa Kỳ nản lòng bỏ cuộc. Xin dừng vội quên rằng Do Thái là một trong số rất ít những quốc gia không thừa nhận VNCH.

Trở lại vấn đề “bỏ rơi Nam Việt Nam” như Nhã Lan vừa hỏi, tôi xin nói rõ: Tôi vạch mặt bọn Do Thái không phải vì nuối tiếc chế độ miền Nam hay cay cú vì là bên thua cuộc. Trang sử nào có ngày mở ra thì cũng có ngày đóng lại. Cũng như mọi chế độ chính trị khác của loài người, chế độ Miền Nam không là ngoại lê. Nếu có một nuối tiếc nào đó thì đó chỉ là nuối tiếc một quê hương đã mất, một cảm thức tôi đã bất giác trực diện khi đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất trong dịp về lại Việt Nam vào năm 2005 – chủ yếu để trùng tu mồ mả và nhà thờ Lương Tộc ở Quang Nam. Công trình phơi bày âm mưu của tập đoàn Do Thái quốc tế trong các tác phẩm của tôi sẽ không dừng lại bao lâu âm mưu đó còn lũng đoạn và thao túng hệ thống chính trị Hoa Kỳ và bao lâu Do Thái và các chính quyền thân Cộng và thân Do Thái của Hoa Kỳ còn tiếp tục hà hơi tiếp sức cho chế độ độc tài Hà Nội dưới chiêu bài “bình thường hóa” và “hợp tác chiến lược.” Vận mệnh Việt Nam thuộc về dân tộc Việt Nam; nếu Do Thái và Hoa Kỳ không thể làm gì để giúp dân tộc đó thì đừng nhúng tay vào; và người trong nước nên tự định đoạt số phận của mình, đừng ngồi yên mà trông đợi bên ngoài. Hãy tự cứu trước khi trời cứu.

(…)

Share this post