Du Lịch & Những Câu Chuyện Bên Lề – lltran

overtourism.jpg

(TVVN.ORG) Lang thang nhìn ngắm đường xa xứ lạ mang đến nhiều thú vị trong đời sống. Người du lịch để giải trí, tiêu xài thời giờ và tiền bạc dư thừa; sử dụng đất lạ như một phương tiện thử thách cơ thể như leo trèo thám hiểm rừng núi; hoặc chỉ đến để thử tài chụp hình phong cảnh, thử kiểu “selfie” mới lạ, ở nơi cheo leo, hiểm nghèo để đăng lên mạng ảo. Kẻ du lịch để tìm hiểu, học hỏi, thu góp và phân tích những điều mới lạ vì công việc làm hoặc chỉ để thỏa óc tò mò. Phim ảnh, sách vở đã và đang tiếp tục ghi nhận những điều thú vị từ du lịch. Nói chung, khá nhiều thứ bổ ích cho người thích lang thang.

Du lịch phổ thông như thế nên kỹ nghệ buôn bán dịch vụ du lịch mỗi ngày một đông đảo. Người ta buôn bán nhiều thứ, từ chương trình du lịch “trọn gói” (tour) xếp đặt sẵn, tính toán từng ngày, đêm, bữa ăn, vé vào cửa công viên, viện bảo tàng… đến việc bán riêng rẽ vé máy bay, xe lửa, xe bus… Người mua có thể lựa chọn theo ý muốn và theo túi tiền. Kỹ nghệ du lịch ăn nên làm ra và đang cạnh tranh ráo riết trên thị trường.

Ấy là chuyện người mua kẻ bán làm ăn rầm rộ trong kỹ nghệ du lịch đầy đủ hỷ nộ qua người hài lòng, kẻ thất vọng. Cả hai bên đều có sự lựa chọn. Còn những người không mua cũng chẳng bán dịch vụ du lịch như dân địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề của kỹ nghệ này thì sao? Họ là những người sinh sống trong các thành phố nổi tiếng về địa điểm du lịch và gánh chịu các hậu quả về du lịch! Không chỉ cư dân mà cả vùng sinh thái địa phương cũng gánh chịu hậu quả từ những đoàn người thăm viếng đông đảo, đông đảo gấp mấy lần hệ thống hạ tầng cơ sở có thể cáng đáng!

Khi được gặp gỡ vài nhóm sinh viên tại một số trường đại học địa phương thì Dế Mèn hiểu ra ít nhiều sự khó chịu của cư dân. Đây là những người trẻ cởi mở và khoáng đạt, sẵn sàng bày tỏ ý kiến. Vấn nạn đầu tiên là giá sinh hoạt. Ở những vùng đông khách du lịch, thức ăn có giá bán cao hơn bình thường, taxi cũng đắt hơn và tất nhiên nhà cửa thuê mướn cũng đắt hơn vì các khách sạn chung quanh đang đếm tiền hàng loạt! Những căn nhà chưa biến thành khách sạn cũng lên giá theo cho kịp thời thế. Người đi thuê không thể cáng đáng nổi đã phải dọn nhà và hệ quả đi liền với việc thay đổi chỗ ở: Họ phải đi làm, đi học xa hơn, tốn nhiều thời giờ hơn trong việc di chuyển chưa kể càng xa trung tâm thành phố, các dịch vụ thiết yếu như y tế, giáo dục lại càng hiếm hoi. Chứng cớ đầu tiên là chuyện thiếu thực phẩm ở Cuba. Từ khi khách du lịch rủ nhau đến thăm vùng đất đóng cửa khá lâu này [thủ đô cũng như các thành phố lớn đều giữ được không khí “thời 60”] nên khi bức màn sắt hé mở thì bá tánh [tò mò, ham vui trong đó có cả Dế Mèn] kéo tới rần rần. Hậu quả? Giá thức ăn nhảy vọt như hỏa tiễn, bột làm bánh mì, gạo, thịt gà, thịt heo… nhất nhất đều được khuân về thủ đô, ra hải cảng để bán cho du khách và vì thế, người địa phương với lương bổng 60 mỹ kim / tháng chẳng thể nào mua nổi! Những chiếc xe cũ được sơn sửa thành taxi, nhưng xăng dầu đều chịu giá chợ đen dù người địa phương đi bộ hoặc dùng xe bus… Chỉ vài thứ giản dị như thế đã gây bao khó khăn cho cư dân, những công nhân viên, học trò…, những người không sinh sống làm ăn trong ngành du lịch. Họ miễn cưỡng chịu đựng thời giá gia tăng cho đến khi mọi nhu yếu phẩm trở nên khan hiếm; đời sống của người nghèo trở nên khốn quẫn hơn. Ngày trước khi chưa “mở cửa”, ít ra mọi người đều có thực phẩm và đủ sống. Ngày nay, một số người khá giả hơn qua việc buôn bán nhưng công nhân viên chính phủ thì bó tay, lương bổng bị vật giá qua mặt khá xa. Điều dễ hiểu là cư dân không ưa nếu không nói là ghét bỏ, khó chịu với du khách!

Nạn kẹt xe ở Amsterdam? Làm việc quá giờ ở viện bảo tàng Louvre, Paris? Các thắng tích thiên nhiên ở đảo Mallorca, thủ đô nguyên sơ Reykjavik, thành phố nổi tiếng Barcelona, Venice và Dubrovnik… nơi nào cũng nghe cư dân kêu la rằng nơi sinh sống của họ bị du khách tàn phá, gây hư hại, xả rác…

Cuối tháng Năm vừa qua, nhân viên của Louvre đồng loạt ngưng làm việc vì họ không thể nào kham nổi việc giữ gìn cổ vật, điều khiển đám đông vì số người thăm viếng lên đến mức báo động. Họ than thở rằng Louvre đang trong tình trạng “ngộp thở”, ô nhiễm vì hơi người, thán khí và các bức tranh quý giá nọ cũng khổ sở như nhân viên của viện bảo tàng! Cư dân Barcelona 1.6 triệu người phải đương đầu với 30 triệu du khách, con đường chính La Rambla chẳng thể nào chưa bằng ấy con người. Từa tựa như cư dân Venice 50 ngàn người phải đối phó với 20 triệu người chen chân trên công trường Thánh Marco. Người Amsterdam cũng lớn tiếng phiền hà rằng tại sao thành phố không chịu kiểm soát số người đến thăm để đường sá lúc nào cũng chật cứng người qua lại? Lỡ có hỏa hoạn thì khách cũng như chủ đều chết chùm một chỗ? Everest của Hy Mã Lạp Sơn chật cứng người leo núi, phải chờ chực để có chỗ đặt chân nên hành trình cheo leo kia kéo dài và hậu quả là người ta chết vì thiếu dưỡng khí!

Ngay tại Huê Kỳ, cảnh hoa nở hàng rừng trong tháng Ba vừa qua mời gọi du khách đã tạo ra một cuộc hỗn loạn chưa từng thấy. Cảnh sát, nhân viên an ninh… đều giơ hai tay lên trời rồi chính quyền địa phương vùng Lake Elsinore, California phải ra lệnh đóng cửa mọi con đường dẫn đến rừng hoa rực rỡ nọ. The “Poppy Apocalypse” nhanh chóng trở thành “Poppy shut down” và những người chưa được xem đã tặc lưỡi tiếc rẻ nỗi chậm chân!

Du lịch là một kỹ nghệ khởi sắc nhất trong nền kinh tế thế giới: Theo United Nations World Tourism Organisation, trong năm 2017, 1.4 tỷ du khách khắp nơi đã tiêu xài khoảng 855 tỷ mỹ kim. Cả một hệ thống nhân lực cỡ 100+ triệu người phục vụ trong ngành giải trí đương đại này, cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho từng nhóm vài chục người đến các dịch vụ cho cả trăm, ngàn người. Mục đích chính là làm hài lòng du khách, biến những chuyến đi thành các kinh nghiệm quý giá, đáng nhớ.

Thomas Cook (1808-1892) được xem là ông tổ của kỹ nghệ du lịch: Chuyến du lịch đầu tiên được tổ chức cho một nhóm người ra đời vào năm 1840. Chuyến đi bao “trọn gói” này đã đưa 571 người từ Leicester đến Loughborough, Anh với đầy đủ các bữa ăn và chương trình ca nhạc giải trí. Từ năm 1855, ông Cook đã tiếp tục bán các chuyến du lịch khác và đi xa hơn là từ Anh qua Thụy Sĩ. Khách hàng là các ông hoàng bà chúa, thân hào nhân sĩ và cả các thương buôn giàu có, giới trung lưu và cả thợ thuyền. Từ khái niệm giúp công nhân nghỉ ngơi sau tuần lễ làm việc mệt nhọc, đưa họ đến những cánh đồng xanh tươi để hưởng khí trời trong lành thay vì vui chân vào quán rượu cuối phố, ông Cook đã tổ chức các chuyến du lịch ngắn ngắn, thăm đồng quê. Công ty du lịch của ông ấy thực ra đã thành công hơn qua những chuyến đi “giá phải chăng” dành cho giới trung lưu. Cũng chính ông Cook là người đã “phát minh” ra hệ thống “phiếu” (voucher) sử dụng cho khách sạn, quán ăn và in những bản quảng cáo du lịch để giới thiệu với du khách.

Theo chân ông Cook là các chuyến đi đặc biệt cho từng nhóm du khách như leo núi, săn bắn, bơi lặn… Các câu lạc bộ du lịch, “club holidays”, như “Club Méditerannée” “Club Soleil”, “Club Med”… tùy theo mục đích theo nhau xuất hiện rồi chìm lỉm như ta thấy ngày nay. Mục đích của kỹ nghệ du lịch vẫn là “làm hài lòng du khách” nhưng mục đích của du khách thì đã thay đổi khá nhiều, từ “học hỏi” đang biến dạng thành “giải trí”. Thăm thú đường xa xứ lạ không còn là kiểu du lịch duy nhất; các “amusement park”, “theme park” như Disneyland, Universal hoặc Las Vegas; kiểu du lịch có tên “artificial holiday” đang thu hút khách du lịch mỗi ngày một đông. Ở các khu dịch lịch nhân tạo này, khung cảnh được chế tạo (con thuyền trôi trên lạch nước kiểu gondola của Venice, Ý; tháp Eiffel của Paris…), chương trình giải trí cũng được chế tạo… và cả một thế giới nhân tạo để khách viếng thăm có thể nhìn ngắm và tưởng tượng ra mình đang ở đất lạ xa xôi.

Kỹ nghệ du lịch mỗi ngày một phát triển với sự đóng góp của các trang liên mạng kể chuyện du lịch, ăn uống hà rầm. Bãi biển, cảnh trí, quán ăn nào cũng dễ dàng trở thành “ngôi sao lạ”, thu hút đám đông qua các tấm hình chưa kể những địa danh “nổi tiếng” một thời vì chiến tranh; các công ty du lịch như “War Zone Tours”, “Wild Frontiers”, “Untamed Borders” đang bán các chuyến đi “khác thường” để những du khách tò mò thăm viếng Pakistan, vùng núi đồi Karakoram và Abbottabad nơi ông Osama bin Laden lẩn trốn cả chục năm; nhìn ngắm Afghanistan với các bộ tộc du mục…Kiểu du lịch “War tourism” kể trên có phần khác biệt với món “Dark Tourism” du khách muốn thăm viếng những nơi xảy ra thảm cảnh như Ground Zero tại thành phố New York.
Có thể nói kiểu du lịch truyền thống “nhìn ngắm” [di tích, di vật, cảnh trí thiên nhiên…] đang chuyển mình thành kiểu du lịch “trải nghiệm”, một cách cảm thụ mới về thế giới xa lạ chung quanh. Với sự phổ thông của “theme park”, không lạ là Orlando (Disneyworld, Universal Studio) trở thành một trong các địa điểm du lịch của thế giới. Và khi du khách ùn ùn đến thăm thì sẽ mang theo các lợi nhuận cũng như các món nhức đầu từ đám đông, các cái chết lãng nhách vì tấm “selfie” trên mỏm đá cheo leo giữa trời, mấy nhà hàng chuyên trị thức ăn “bao bụng”, all you can eat, trên con phố cổ nhỏ hẹp, quán rượu mở cửa thâu đêm nhã nhạc rầm rầm làm phiền lòng láng giềng chung quanh và du khách say sưa phá phách…

Bực bội, khó chịu nên cư dân lên tiếng. Ở những vùng đất dân chủ, người ta đang đòi hỏi nhà cầm quyền địa phương tìm cách giải quyết các vấn nạn từ việc quá đông du khách hay “overtourism”, một hiện tượng mới mẻ với đầy đủ các khó khăn về kinh tế, xã hội và văn hóa. Làm thế nào để giải quyết êm thắm sự “nổi tiếng” và được yêu chuộng của [địa phương] mình? Giải quyết êm thắm ở đây cũng có nghĩa là dung hòa được các nhu cầu của nhiều nhóm cư dân, từ kinh tế đến xã hội và văn hóa.

Tất nhiên, chính phủ địa phương vẫn muốn có du khách để lấy tiền trang trải phí tổn điều hành thành phố, cung cấp việc làm cho cư dân. Để tiếp tục, các thành phố bên trời Âu đã bắt đầu đánh thuế mạnh tay qua “Tourist tax”, mỗi du khách phải trả thêm một số tiền hàng ngày để được thở hít không khí nơi ấy. Các món tiền này được dùng để bảo trì, sửa chữa hạ tầng cơ sở của thành phố, giữ gìn di tích … Ngoài ra một số các điều lệ mới cũng đang được ban hành: Cấm tour bus kềnh càng vào thành phố, đánh thuế các phòng cho thuê không chính thức (Airbnb), vừa để thu thuế vừa để giảm nạn kẹt xe và kiểm soát lượng du khách đến thăm.

Ngược lại, ngoài tiền bạc, du khách đến thăm mang theo thói quen sinh sống, các mối liên kết làm ăn, giới thiệu với cư dân những hình ảnh, cách sinh hoạt, ngôn ngữ xa lạ… mà cư dân địa phương có thể chẳng bao giờ có cơ hội biết đến.

Như mọi câu chuyện, du lịch cũng có hai mặt, lợi và hại. Con người có thể thẩm định và lựa chọn, dùng lợi nhuận để phát triển và bảo trì thôn làng. Với sự phổ thông của liên mạng ngày nay, bế quan tỏa cảng [để bảo tồn văn hóa] không còn là một sách lược hợp thời nữa!?

Tài liệu:

http://ieg-ego.eu/en/threads/europe-on-the-road/the-history-of-tourism

Share this post