Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Đại diệc toàn bộ (đính chính)

Chủ đề trong 'Tử Vi - Tài Liệu Tham Khảo' do ba_chau khởi đầu 22 tháng Mười 2010.

  1. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Tôi chiếm thử một quẻ về việc đi Hạ Uy Di, xin anh Lãn xem có gì sai, sửa dùm và đoán cho biết tốt xấu.

    Khởi hành ngày 2 tháng 11 2010 nhằm ngày 26 tháng 9 âm lịch năm Canh Dần, tháng Chín, ngày Bính Thìn, giờ 10 giờ 15 (giờ Tỵ). Giáp Dần tuần trung Tý Sửu không.

    Chiếm quẻ: Tháng 9, tháng 10 khởi mùng một tại Càn đánh tới ngày 26 tại Khảm (Nội Khảm). 10 giờ 15 là giờ Tỵ, đánh Tý tại Khảm tới Tỵ tại Khôn (Ngoại Khôn) được quẻ Điạ Thủy Sư (Thế tam Ứng lục). Lấy Khảm số 6 cộng với Khôn số 8 được 14 trừ 12 còn 2 là hào nhì động (X) biến thành quẻ Nội Khôn (Bát Thuần Khôn). Quẻ này chỉ tính ngày giờ khởi hành, chưa tính giờ tới nơi. Giờ đến Honolulu/Oahu là 4 giờ 45pm cùng ngày.

    Thế khắc Ứng

    __ __ Dậu Kim, Phụ - Ứng
    __ __ Hợi Thủy, Huynh
    __ __ Sửu Thổ, Quỉ (phục quái thân) Thân Kim, Phụ
    __ __ Ngọ Hỏa, Tài - Thế
    _____ Thìn Thổ, Quỉ (X)
    __ __ Dần Mộc, Tử (Thế Thân)

    Nhờ anh Lãn, Điểm, Dã Tràng và Hoa Hạ đoán dùm xem quẻ này tốt xấu, xem cho vui thôi chứ không quan trọng lắm, mục đích là thực hành, học hỏi kinh nghiệm. Nhanh lên nhé. :eek:

    Cám ơn anh.
     
  2. Điểm

    Điểm Công Dân

    Cảm Ơn Thầy Gia Cát Lãn đã chỉ cho một cách tính Cung Phi Rất Tiện Lợi chứ mỗi lần xem cho ai phải mở bửu bối ra thì thì thật là bất...tiện.
    Thầy trả lời hoàn toàn đúng với ý Điểm hỏi. Mới viết ra chưa được một chữ thì Thầy đã biết rồi mà...Vào giả nhời cho cụ thanhtung đi, thấy cụ réo tên Điểm bỗng choáng váng, thấy quẻ của cụ có : Cọp thị oai tiên phong mở đường cho cụ. Ngựa cho cụ cưỡi,lửa để cụ nướng thịt heo, thịt trâu thịt gà... Đi chơi mát mà có đủ thứ như vậy là nhất cụ rồi hihihihi. Quẻ quá tốt, đi không tốn tiền mà về lại có tài lộc nữa. Chúc mừng cụ nhá , nhớ mang về cho " em cá lòng tong nha cụ "
    Tái bút: Tạm ké nhà Thầy Lãn Vui Tính còn viết ở "kia" sợ cụ Quở.:cool: Con thăng gấp
     
  3. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Bàn tay này áp dụng cho cung Phi nam nữ. Vậy có thể áp dụng cho việc chiếm quẻ Diệc được không?

    Tôi thấy các các cung trên bàn tay đều không đúng như bàn tay chiếm quẻ Diệc đăng trong sách. Ví dụ cung Càn bao giờ cũng ở tại Tý hợp với Địa chi và Thiên Can từ trước. Trong khi đó trong bàn tay của anh Lãn đăng vào, cung Càn nằm tại Mùi, cung Ly nằm tại Tý là sao?

    Hình như bàn tay Phi Cung Bát Trạch này có trong sách Bát Môn Thần Khóa (Kim Oanh Ký) của cụ Thái Kim Oanh, trong đó đếm: Nhứt Khảm, nhì Khôn.... cho tới cửu Ly. Còn trong quẻ Diệc thì đếm: Nhứt Càn, nhì Đoài.... cho tới bát Khôn.

    Áp dụng bàn tay này chiếm quẻ Diệc là sai hết cả. :)
     
  4. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Kính bác thanhtung,

    Dạ như cháu đã thông báo ở trên là dùng bàn tay phi cung này để tính cung phi, còn cách tính quẻ Diệc trên bàn tay thì tính khác. Dạ cháu không dám đem râu ông nọ cắm cằm bà kia đâu, tội chết tội chết.

    Kính,
    lancongtu
     
  5. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Nhờ bác thanhtung coi lại sách phần bài số 17

    Cái chữ in đậm hình như có vấn đề.

    Cám ơn bác.

    Kính,
    lancongtu
     
  6. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Bác đã mua vé chưa ạ?
     
  7. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Bỏ dấu sai: "TÌM QUẺ GÀI THẾ ỨNG", sửa luôn chữ "tứ" là bốn, đánh sai chữ "từ".

    Vé mua rồi hồi tháng tám, đại hạ giá. Sao vậy, bộ quẻ hổng tốt hả, nên biểu trả vé lại phải không? Đoán cho vui thôi, chứ không ảnh hưởng gì đâu. Trừ phi ngày đó có trời sập, động đất, thì hãng mới hủy bỏ chuyến bay và họ trả tiền lại cho mình.
     
  8. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Thấy quẻ quy hồn biến lục xung, cho nên nghĩ là bác sẽ có chuyện để không đi được như mình tính thế thôi. Có thể sai cho nên không dám nói ra, hihi :p
     
  9. Điểm

    Điểm Công Dân

    Thực ra thì khi đến Hawaii bác chỉ nên thận trọng về cách ăn uống kẻo dạ dầy nó "biểu tình". Vái trời cho con nghĩ đúng để lãnh ''Cá".
     
  10. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Cám ơn cụ Điểm chỉ điểm, muốn cho bao tử khỏi biểu tình, tôi cứ "sực" món nào không có cá thịt là an toàn nhất. Mấy năm trước đi Canada cũng nhờ áp dụng bí kiếp này tôi vẫn thong dong lượn phố Tàu xem bàn dân thiên hạ buôn bán vui chơi. :p

    Kiểu này chắc hổng có cá lòng tong về biếu cụ rồi. :eek:
     
  11. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Anh Điểm với anh Lãn cãi nhau chí chóe về chỗ khác biệt giữa cách tính Phi cung cho nam nữ. Anh Điểm theo trường phái của cụ Lê Văn Nhàn (Đại Diệc Toàn Bộ), anh Lãn theo trường phái của Thầy Quảng Đức (sách gì?). Còn một phái Trung Dung nữa, tôi tìm được trong cuốn Kim Oanh Ký của cụ Thái Kim Oanh cũng nói về cách tính Phi cung cho nam nữ một cách rõ ràng. Tôi chép vô đây cho mọi người học hỏi (Học xong nếu có thắc mắc, tìm Thầy Cò Lãn mà hỏi).

    Nếu Thầy Cò Lãn đồng ý bài viết này, xin mở khóa tàng thư đăng bài này vào chỗ Phụ Lục, dưới bài giải nghĩa Phú Huỳnh Kim để làm tài liệu.


    PHI CUNG BÁT TRẠCH

    Xem ngày Lập Xuân nhằm ngày đầu tiên năm dương lịch mấy, để toán con số đặc biệt của năm đó ra Phi cung. Bởi ngày Lập Xuân còn trong tháng Chạp, có khi trễ đến gần giữa tháng giêng, nếu chưa Lập Xuân phải tính theo năm cũ. Dùng năm dương lịch phi ra như sau: thí dụ năm 1968 xem cung Phi cho họ, bạn cộng các số năm đó ra bao nhiêu, nếu hơn 9 thì trừ cho 9 còn bao nhiêu, lẽ dĩ nhiên năm đó có con số 9 nào bỏ ngay ra, như năm 1968 phải bỏ con số 9 ra, cộng các số còn lại: 1+6+8 = 15, trừ 15 cho 9 còn 6. Số 6 này là con số duy nhất, toán ra Phi cung cho năm 1968. Ví du: Nữa đến năm 1999, chỉ việc bỏ hết mấy con số 9, còn số 1 dùng con số 1 ấy toán ra Phi cung cho năm 1999 vậy.

    Bạn xòe bàn tay trái ra dò theo hình vẽ ở dưới (mượn bàn tay của anh Lãn cho đẹp), nhận thức cung nào cho quen mới mau hiểu.

    [​IMG]

    Bàn tay Phu Cung Bát Trạch​

    Mỗi lóng tay có ghi số từ 1 đến 9. Số 1 tại chân ngón trỏ là cung thứ nhất là nhứt Khảm, số 2 là nhì Khôn, số 3 là tam Chấn, số 4 là tứ Tốn, số 5 là ngũ Trung, số 6 là lục càn, số 7 là thất Đoài, số 8 là bát Cấn, số 9 là cửu Ly. Cung nào đóng ngôi ấy không thay đổi.

    Riêng cung Ngũ Trung đóng tại đầu ngón tay giữa khi bấm tuổi nam mạng nhằm cung đó thì tính ông ấy cung Khôn, bằng bấm tuổi cho nữ mạng thì cung ấy là cung Cấn (Nam Khôn, nữ Cấn), còn tám cung kia thì rõ rệt mỗi cung rồi, đặc biệt không tính ba cung Hợi, Tý, Sửu dưới chân ngón út và ngón áp út và ngón giữa.

    Nam nữ đồng một tuổi với nhau mà cung Phi lại khác, nam Đoài nữ Cấn, nhược nam Cấn thì nữ Đoài, chỉ có cung Chấn nam nữ mới trùng với nhau.

    Phép toán này nam khởi thuận hành tại cung Khảm, nữ khởi nghịch hành tại Ngũ Trung và cất mỗi cung một chục (10, 20, 30...), hết tuổi chục đến tuổi lẻ, đến tuổi lẻ của người ta tại cung nào thì tính cung đó.

    Số đặc biệt mỗi năm có một số, từ 1 đến 9, năm nào toán nhằm số 2 thì khởi 2, cung kế là 12, 22, 33... hết tuổi chục đến tuổi lẻ, hoặc nhằm năm đó có số 5 thì khởi 5, lên 15, 25, 35, 45... còn lẻ nữa thì tiếp 46, 47, 47, 48, 49, 50, 51 v.v... đến tuổi người ta xem sẽ dừng lại tại đó.

    PHI CUNG BÁT TRẠCH

    - Nam mạng khởi Khảm thuận hành: Giả như năm 1968 bạn coi cụ 70 tuổi cung gì? Năm 1968 theo cách tính trên con số 6 là con số đặc biệt chiếm Phi cung cho năm 1968.

    Bàn coi hình bàn tay, khởi số 6 đặc biệt ấy lên cung nhứt Khảm, cất mười thuận hành thì 16 tại nhì Khôn, 26 tại tam Chấn, 36 tại tứ Tốn... tới 66 tại thất Đoài, đếm tiếp số lẻ 67 bát Cấn, 68 cửu Ly, 69 nhứt Khảm, 70 nhì Khôn. Ông 70 tuổi này năm 1968 là cung Khôn.

    Ví dụ thứ 2: Năm 1974, anh 26 tuổi cung gì? Năm 1974 bỏ số 9 ra, cộng các số còn lại: 1+7+4 = 12, trừ số 12 cho 9 còn số 3 là con số đặc biệt để chiếm Phi cung cho năm 1974. Khởi 3 tại nhứt Khảm, cất mười thuận hành đến 13 tại nhì Khôn, 23 tại tam Chấn, đếm tiếp số lẻ 24 tại tứ Tốn, 25 tại Ngũ trung, 26 tại lục Càn, anh 26 tuổi năm 1974 này là cung Càn. Dùng cung Càn chọn hôn nhân cùng việc tạo tác phương hướng mới đúng việc kiết hung (Coi bàn tay Phi Cung Bát Trạch).

    Nữ mạng khởi Ngũ Trung nghịch hành: Chiếm Phi cung nữ mạng khởi tại Ngũ Trung nghịch hành cũng dùng số đặc biệt của năm ấy và cất mười hết tuổi chục tiếp tuổi lẻ.

    Thí dụ năm 1968 bà 38 tuổi cung gì? Năm 1968 số đặc biệt là con số 6, bấm 6 lên Ngũ Trung rồi nghịch chiều lại, cất mười là 16 tại tứ Tốn, 26 tại tam Chấn, 36 tại nhì Khôn, đếm tiếp số lẻ 37 tại nhứt Khảm, 38 tại cửu Ly, bà 38 tuổi này năm 1968 là cung Ly. Dùng cung Ly chọn hôn nhân cùng các việc tạo tác phương hướng v.v...

    Ví dụ thứ 2: Vào năm 1972 chị 18 tuổi cung gì? 1972 bỏ con số 9 ra, cộng các số: 1+7+2 = 10, trừ 10 cho 9 còn số 1, đó là số đặc biệt để chiếm Phi cung nữ mạng. Khởi số 1 lên Ngũ Trung, cất mười nghịch hành 11 tại tứ Tốn, 12 tại tam Chấn, 13 tại nhì Khôn, 14 tại nhứt Khảm... tới 18 tại lục Càn là tuổi chị năm 1972 này là cung Càn. Dùng vào việc hôn nhân và tạo tác phương hướng mới đúng việc kiết hung (Coi bàn tay Phi Cung Bát Trạch).

    PHI CUNG ĐẶC BIỆT

    Còn một lối Phi cung đặc biệt hơn, khách nói tuổi vừa xong, tôi đã biết là cung gì rồi, cũng nhờ tìm ra có số riêng biệt của mỗi năm mà biết lẹ làng, nhưng mình phải biết mình cung gì trước đã, mới biết được của người ta. Muốn hiểu cung mình thì xem cách toán phi cung ở trên. Biết mình cung gì rồi, bạn làm ba thí dụ sau:

    Thí dụ 1: Năm Mậu Thân 1968 này, người 52 tuổi cung nhì Khôn là số 2, cộng số 52 là: 5+2 = 7, đem số 7 trừ cho số 2 (nhì Khôn), còn dư 5. Số 5 này là số đặc biệt dùng để tính cung Phi năm 1968. Giả như ông khách 54 tuổi, nói vừa dứt lời, tôi biết ngay ông là cung Tốn, vì số 54 năm nay phải bỏ con số 5, còn lại số 4 là tứ Tốn, hoặc nói ông 75 tuổi thì biết ngay là ông cung thất Đoài, vì bỏ số 5 còn lại số 7 là thất Đoài, hoặc giả ông 43 tuổi, thì cộng 4 với 3 là 7, trừ cho 5 còn số 2 là cung nhì Khôn.

    Năm nào gặp những ông năm mươi mấy như 51, 55, 57 tuổi hoặc có tuổi lẻ như 15, 35, 75, chỉ việc bỏ phức con số 5 ra, số còn lại là cung phi của họ, giả như ông 35 hay 53, bỏ ngay con số 5 còn lại số 3. Hai ông ấy đồng cung tam Chấn.

    Thí dụ 2: Nhằm trường hợp cộng tuổi người ta lại nhỏ hơn con số trừ của năm đo phải làm thế nào? Giả như người 21 tuổi, cộng hai với 1 là 3, trong năm 1968 này phải trừ cho số 5 là số đặc biệt thì 3 trừ 5 không được.

    a.- Để nguyên số 21 trừ cho 5 còn 16, cộng 1 với 6 là 7, nhằm cung thất Đoài.

    b.- Hoặc thêm 9 cho 3 là 12, trừ cho 5 còn 7 cũng vậy, gặp những số tuổi cộng lại nhỏ hơn số đặc biệt năm đó thì cứ thêm 9 vào số tuổi sẽ trừ cho số đặc biệt hàng năm thì không sai.

    Thí dụ 3: Thêm một thí dụ nữa để cho bạn vững lòng tin lối Phi cung này là đúng một trăm phần trăm. Như thí dụ thứ nhất trên đây, năm Mậu Thân 1968 có ông 52 tuổi cung nhì Khôn, lấy số tuổi của ông trừ cho cung nhì Khôn là 2 thấy được rồi, nhưng qua năm Kỷ Dậu 1969 nếu trừ lại con số 2 nữa thì phải sai hoặc phải dùng con số nào khác chăng?

    Nhứt định không sai, trót đời ông cung nhì Khôn ấy, bắt cứ năm nào cứ trừ tuổi ông ta cho cung nhì Khôn của ông, lấy số trừ ấy trừ cho tuổi của ai ra cung người ấy không sai. Giả như 1968 ông 52 tuổi, trừ cung nhì Khôn ra còn dư 5, lấy số 5 mà trừ. Qua năm 1969 ông ấy 63 tuổi, cộng 5 với 3 là 8, trừ cung nhì Khôn là số 2 còn dư 6, lấy số 6 trừ cho họ phải đúng vì mỗi năm các ông tăng một tuổi, con số đặc biệt cũng tăng theo mãi. Như năm 1968 ông 45 tuổi trừ 5 còn số 4 là cung tứ Tốn, qua năm sau nữa ông 1969 ông 46 tuổi, trừ lại cho 6 cũng còn số 4 là tứ Tốn, qua năm sau nữa 1970 ông được 47 tuổi, lại trừ cho con số 7 còn lại số 4 là tứ Tốn, không sai được.

    Bài này rất dài dòng, bạn nào không hiểu tức học lực còn non kém, vậy hãy để bàn tay lên mà tập vài lượt thì hiểu được, còn bạn nào học lực khá hơn, xem chừng nửa bài này cũng hiểu được rõ ràng. Nói cho dài dòng chứ thật ra năm 1968 bất cứ tuổi nào ai cũng lớn hơn cung Phi của mình 5 bậc. Qua năm 1969 ai cũng lớn hớn cung Phi của mình 6 bậc, mỗi năm mỗi tăng đến 9 bậc rồi trở về 1,2...

    Khi bạn hiểu thấu tức biết năm nay dư 5, sang năm dư 6.

    PHI CUNG NỮ MẠNG

    Phải cho nam mạng lẹ như thế đó, còn nữ mạng phải chậm hơn, vì Phi cung của nữ mạng phải tùy theo Phi cung của nam mạng mà biến ra. Nhớ rằng nam nữ đồng tuổi nhau, hễ nam nhứt Khảm thì nữ ngũ trung Cấn, nam nhì Khôn thì nữ tứ Tốn, nam tam Chấn thì nữ tam Chấn, nam tứ Tốn thì nữ nhì Khôn, nam ngũ trung thì nữ nhứt Khảm, nam lục Càn thì nữ cửu Ly, nam thất Đoài thì nữ bát Cấn, nam bát Cấn thì nữ thất Đoài, nam cửu ly thì nữ lục Càn. Ví dụ: Năm 1968, ông 69 tuổi là cung nhứt Khảm, bà 60 tuổi là cung ngũ trung Cấn - hay ông 61 là cung nhì Khôn, thì bà 61 là cung Tứ Tốn v.v... Nhớ như vầy: nam nhứt nữ ngũ, nam ngũ nữ nhất, nam nhị nữ tứ, nam tứ nữ nhị, nam tam nữ tam, nam lục nữ cửu, nam cửu nữ lục, nam thất nữ bát, nam bát nữ thất.
     
  12. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Xem dùm lỗi đánh máy trong bài Tiên Thiên Diệc Số

    Kính mời Thầy Cò Lãn công tử, ba_chau và Hoa Hạ kiểm tra lỗi đánh máy sai trong các bài Tiên Thiên Diệc Sô đã đăng vào. Báo cho thầy cò Lãn công tử biết để nhờ điều chỉnh dùm.

    Chân thành cám ơn.
     
  13. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Xin ghi chú ra đây để học viên nào muốn coi và hiểu rõ cách luận quẻ Tiên Thiên Diệc Số của tác giả như thế nào mà thôi (không dám đăng trong sách học)

    Quẻ Địa Thủy Sư, hào 2 động biến Khôn vi Địa (Bát Thuần Khôn). Quẻ Sư thì nội Khảm (Thủy) ngoại Khôn (Thổ) thuộc lũ quẻ Khảm hành Thủy

    Dậu - - (ứng) Phụ Mẫu
    Hợi - - Huynh Đệ
    Sửu - - Quan Quỉ
    Ngọ - - (thế) Thê Tài
    Thìn Tị O Thê Tài Quan Quỉ
    Dần - - Tử Tôn

    (- -) hào âm; ( O ) hào động trùng, hay dương động

    Luận: động phùng trị phùng hiệp có nghĩa là hào động thì chờ ngày trực ngày hiệp. Ngày trực (trị) là ngày Dần vì hào Dần trong quẻ ám động, ngày hợp là ngày Hợi vì Dần Hợi nhị hợp.
     
  14. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Quẻ Địa Thủy Sư, Nội Khảm: Dần Thìn Ngọ; Ngoại Khôn: Sửu Hợi Dậu.


    ĐỊA THỦY SƯ, Khảm thuộc Thủy
    Thế khắc Ứng

    __ __ Dậu Kim, Phụ (quái thân)
    __ __ Hợi Thủy, Huynh
    __ __ Sửu Thổ, Quỉ (phục quái thân) Thân Kim, Phụ
    __ __ Ngọ Hỏa, Tài
    _____ Thìn Thổ, Quỉ (X) động biến Tỵ Hỏa, Tài
    __ __ Dần Mộc, Tử (Thế thân)​
    Hào nhì dương, động biến thành âm (X)
     
  15. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Kính nhờ anh Lãn vào sửa lỗi kỹ thuật các bài viết trong cuốn Tiên Thiên Diệc Số sau đây:

    Quẻ Càn:

    - Số 7.- Hỏa Địa Tấn, sửa chữ khác ==> khắc (phi lai khắc phục).

    Quẻ Khảm:

    - Số 9.- Bát Thuần Khảm, sửa chữ cư cơ ==> sơ (Tý Ngọ trì thế thân cư sơ). Thế thân dóng ==> đóng.

    - Số 11.- Thủy Lôi Chuân: viết hoa chữ Khảm (tượng khảm). Sửa chữ trung ==> trúng (là trúng).

    - Số 14.- Lôi Hỏa Phong: sửa chữ tjai ==> tại.

    - Số 15.- Địa Hỏa Minh Di: Thiếu chữ Ứng tại sơ hào: - Ứng. Sửa chữ Thát ==> Thất. Nhịp một khoảng cách cho chữ Ngọ sau dấu phết. Nhịp một khoảng cách cho hai chữ hàolâm ==> hào lâm. Thêm một chữ u cho chữ hư == >hưu.

    - Số 16.- Địa Thủy Sư: Xóa bỏ (quái thân) thêm -Ứng ở hào sáu. Thêm - Thế ở hào ba. Nhịp một khoảng cách cho chữ huynh sau dấu phết.

    Cám ơn anh.
     
  16. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Tiên Thiên Dịch Số (đính chính)

    Câu viết đậm ờ trên cụ Nhàn viết hơi khó hiểu. Nếu sửa lại là "Thế động hóa hồi đầu khắc" thì dễ hiểu hơn.

    Nếu theo quẻ đã an thì chiêm được quẻ Trạch Thiên Quại hay Quải, tam và lục hào động biến quẻ Thiên Trạch Lý.

    Nhờ bác coi lại có phải đúng vậy không?

    Kính
     
  17. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    Re: Tiên Thiên Diệc Số (đính chính)

    Đăng bài nhờ anh Lãn đính chính, anh âm thầm vào làm việc tới bữa nay mới lên tiếng vì cách viết văn của người người xưa. Cụ Nhàn viết và an quẻ chính xác, chỉ hơi khó đọc vì cụ giải thích bằng tiếng Việt pha trộn tiếng Hán, nếu không phải là người học Dịch lâu năm như anh Lãn thì khó hiểu.

    Quẻ Thiên Trạch Quại, cụ viết tam lục hào động (không có dấu phết) giữa hai chữ này, tôi phải thêm vào để hiểu rằng hào tam và hào lục động hóa Thiên Trạch Lý.

    Cách an quẻ của cụ rất hay, trước tiên vạch hào (nguyên thủy), kế đến địa chi, rồi lục thân và sau cùng lục thần. Hào động được biểu thị bằng (O) trùng và giao (X) tại mỗi hào. Nhìn vào đồ hình ta thấy rất dễ hiểu. Tiếc vì kỹ thuật trình bày trong này không cho phép sử dụng Table, nên tôi phải vạch các hào bằng những phím có sẵn trong bàn gõ không được đẹp lắm.

    Cuốn sách Tiên Thiên Diệc Số tôi đã gõ xong phần Phú Huỳnh Kim giải nghĩa, cũng trong tình trạng tiếng Việt pha trộn tiếng Hán, ai không hiểu xin xem bài giảng Phú Huỳnh Kim bằng tiếng Việt do anh Lãn đăng trong Phụ Lục của cuốn Đại Diệc Toàn Bộ.

    Cám ơn sư hợp tác của anh Lãn. :eek:
     
  18. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Tiên thiên dịch số (đính chính)

    Quẻ 54 phần trước tên là Trạch thiên Hoại, nhưng trong quẻ số 2 thì lại viết là Trạch thiên quại, xin nhờ bác thanhtung coi lại.
     
  19. thanhtung

    thanhtung Công Dân

    À thì ra vấn đề chữ "Hoại" hay "Quại". Đúng ra là "Quại", tác giả viết là"Quạy", cũng như trong bài chữ "Quái" là quẻ, tác giả viết "Quáy". Lỗi chánh tả tùm lum nên không biết đúng sai. Anh sửa dùng quẻ 54 là Trạch Thiên Quại.

    Anh Lãn ơi! Tôi đã yêu cầu anh vào thêm hai chữ ở trong quẻ số 16.- Địa Thủy Sư. Thêm: -Thế ở hào ba và - Ứng ở hào sáu. Nhờ anh vào giúp dùm.

    Cám ơn anh.
     
  20. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Nhờ bác thanhtung coi lại phần chữ đậm ở trên. Lãn nghĩ là quẻ ngoại động thì đúng hơn là hào nhi động vì Thủy Phong Tỉnh biến Hòa Phong Đỉnh là quẻ ngoại biến từ Thủy sang Hỏa.

    Kính
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn