Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Đại Diệc Toàn Bộ

Chủ đề trong 'Tử Vi - Tài Liệu Tham Khảo' do thanhtung khởi đầu 19 tháng Mười 2010.

Thread Status:
Not open for further replies.
  1. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Hoàng kim sách tổng đoạn thiên kim phú trực giải

    • HỮU TRỢ, HỮU PHÙ, SUY NHƯỢC, HƯU TÙ DIỆC CÁT:
    (Có trợ có phò, suy nhược hưu tù cũng cát)
    Câu này chỉ nói độc về dụng thần. Như mùa xuân xem quẻ dụng hào thuộc thổ, là suy nhược, hưu tù chẳng đẹp, nếu được nhật thần sinh phù, củng hợp, tuy vô khí nhưng không luận vậy, ví như người nghèo được quý nhân đề bạt, do đó kỵ thần dù vô khí cũng chẳng nên được phù trợ.​

    • THAM SINH, THAM HỢP, HÌNH XUNG, KHẮC HẠI GIAI VONG:
    (Tham sinh, tham hợp đều quên hình xung khắc hại)
    Câu này chỉ nói về dụng thần, nếu dụng thần gặp hình xung khắc hại đều chẳng đẹp, nếu chẳng được hào sinh hợp hào xung khắc đó, tất hào này tham sinh hợp chẳng đáng lo, nên gọi là quên xung quên khắc. Giả như trong quẻ có dần động, dụng thần là tỵ, dần vốn hình tỵ nhưng dần mộc có thể sinh cho tỵ hỏa cho nên tỵ hỏa tham sinh mà quên hình vậy. Lại như trong quẻ có hào hợi động xung khắc tỵ hỏa, lại có hào động mão, tức là hợi tham sinh mão mà quên khắc hợi, như dần động tức hợi thủy tham hợp mà quên xung tỵ vậy. Ấy là tham hợp, tham sinh, quên khắc, quên xung, quên hình. Ngoài ra cứ thế mà luận.​

    • BIỆN SUY VƯỢNG DĨ MINH KHẮC HỢP
    BIỆN ĐỘNG TĨNH DĨ ĐỊNH HÌNH XUNG:
    (Phân suy vượng để rõ khắc hợp, biện động tĩnh để định hình xung)
    Câu này phân biệt động tỉnh chế hóa âm dương, nếu chỉ nói suy vượng mà không biến động tĩnh tất lầm cách dùng vậy. Như hào vượng vốn khắc được hào suy, nhưng an tĩnh thì không khắc được hào suy. Hào suy không khắc được hào vượng, nhưng nếu phát động thì vẫn khắc được hào vượng. Động ví như người ngồi dậy, tĩnh như người nằm, tuy vượng tướng chẳng qua một thời vượng, tuy suy nhược trước mắt chẳng qua một thời suy thôi. Hào suy mà không được nhật thần cứu giúp thì không chịu khắc được trong ngày ấy, nếu có nguyệt kiến ở trong quẻ thì động hào đó có thể khắc được. như vậy tức lý về suy vượng, động tĩnh đã rõ.​

    • TỊNH BẤT TỊNH, XUNG BẤT XUNG, NHÂN ĐA TỰ NHÃN:
    (Tĩnh chẳng tĩnh được, xung chẳng xung được, nhân nhiều tự nhãn)
    Tịnh là hào trong quẻ mà nhật thần lâm. Xung là hào trong quẻ mà nhật thần xung.Trong câu nói hào tịnh không thể tịnh, hào xung không thể xung. Sao lại bảo không thể tịnh? Giả như ngày tí xem quẻ trong quẻ có hào tí làm dụng thần như vậy gọi là tịnh, nếu hào tí suy nhược mà có nhật thần thì luận vượng, nhưng không thể nếu hào tí này hóa tuyệt, hóa mộ, hóa khắc, đó là nhật thần biến hoại, không thể nói là thiện mà ngược lại hung tại ngày này vậy, cho nên nói tịnh mà không thể tịnh. Sao lại bảo xung không thể xung? Như ngày tí xem quẻ, trong quẻ thấy chữ ngọ làm dụng thần, nhật thần xung nó, nếu hào tí ở trong quẻ động xung khắc hào ngọ. Nếu được hào tí hóa mộ, hóa tuyệt, hóa khắc, đó là nhật thần hóa hoại, không thể hại được hào ngọ, thì ngược lại ngày này lại tốt. Cho nên xung mà không phải xung.
    Đó là 2 điều xem quẻ nhân ngày tí mà trong quẻ nhiều hào tí biến hoại như vậy. Ngoài ra cứ phỏng theo như vậy.​

    • HÌNH PHI HÌNH, HỢP PHI HỢP VI THIỂU CHI THẦN:
    (Hình không phải hình, hợp không hợp vì thiếu chi thần)
    Hình là tam hình, hợp là hợp cục, Như dần tỵ thân là tam hình, sửu tuất mùi là tam hình, tí mão là nhị hình, thìn ngọ dậu hợi là tự hình. Giả như trong quẻ có 2 chữ dần tị mà không có thân, 2 chữ dần thân mà không có tỵ, có 2 chữ tỵ thân mà không có dần là thiếu 1 chữ là không thành hình. Như tam hợp là hợi – mão – mùi, dần - ngọ - tuất, tỵ - dậu - sửu, thân – tí – thìn, giả như có hợi mão mà không có mùi, hợi mùi mà không có mão, mùi mão mà không có hợi, là thiếu 1 chữ mà chẳng thành hợp vậy.
    Phép tam hình, tam hợp tất thấy toàn thể có 2 hào động tất hình hợp với 1 hào khác, 1 hào động tất không hình hợp được với 2 hào khác. Như trong quẻ có đủ hình hợp nếu an tĩnh cả thì cũng chẳng hình hợp. Như vậy chiêm nghiệm sẽ rõ ràng thông suốt.​

    •HÀO NGỘ LỆNH TINH, VẬT NGÃ NAN HẠI:
    (Hào có nguyệt kiến dù động, khó hại ta)
    Lệnh tinh là thần nguyệt kiến, vật chỉ động hào trong quẻ, nếu dụng thần là thần nguyệt kiến mạnh vượng, tức được lệnh tinh dù có thương khắc cũng không đáng sợ, cho nên bảo vật khó hại ta vậy.​

    •PHỤC CƯ KHÔNG ĐỊA, SỰ DỮ TÂM VI:
    (Phục ở đất Không, việc trái với lòng)
    Phục là phục thần, trong 6 hào của quẻ mà thiếu dụng thần thì căn cứ vào quái đầu của cung xem dụng thần phục ở hào nào trong 6 hào, hào đó là phi thần. Phi thần là hiện rõ, phục thần là ẩn. Nếu trong 6 hào không có dụng thần, mà phục thần lại gặp Tuần không, nếu chẳng đề bạt, mưu sự khó thành tựu, cho nên đã là việc trái nghịch với tâm.​

    • PHỤC VÔ ĐỀ BẠT CHUNG ĐỒ NHĨ
    PHI BẤT SUY KHAI DIỆC CUỔNG NHIÊN
    (Phục không đề bạt cuối cùng cũng vô ích - Phi không suy khai cũng uổng công)
    Cũng theo y câu trước, phục là nơi dụng thần chẳng xuất hiện mà ẩn phục nếu chẳng được nhật thần, động hào sinh phù, củng hợp vị chi là phục chẳng được nâng đỡ. Phi là hào tại đó nơi dụng thần phục, là hiển lộ thần, suy là xung, tức bảo xung khắc phi thần thì phục thần có thể xuất hiện.​

    • KHÔNG HẠ PHỤC THẦN DỊ Ư DẪN BẠT:
    (Phục tại không có dẫn bạt đề xuất ra)
    Phục thần ở tại hào phi đương lâm tuần không, hào phi gặp không giống như nhà không chủ, phục thần đến ở không bị ràng buộc, tức phục thần dễ được dẫn bạt mà xuất ra. Dẫn là củng, phù; tính, bạt là sinh, phù, củng, hợp, ý là phi xung phi dẫn phục.​

    • CHẾ TRUNG NHƯỢC CHỦ, NAN DĨ DUY TRÌ:
    (Suy nhược mà bị chế khó duy trì)
    Chế y là nhật thần nguyệt kiến chế khắc, nhược là hào suy nhược. Như vậy dụng thần suy nhược lại bị nhật nguyệt kiến chế khắc, nếu được động hào sinh cũng chẳng giúp gì được. Hào suy nhược nếu gặp nhật nguyệt kiến chế khắc ví như cây cỏ khô hư nát dù có mưa cũng chẳng thể mọc đựơc ví khó mà mọc rễ mới, đó là nói về dụng thần xuất hiện, như là phục thần mà gặp thế dù được tính, dẫn cũng vô dụng mà thôi.
    • NHẬT THƯƠNG HÀO, CHÂN LA KỲ HỌA
    HÀO THƯƠNG NHẬT, ĐỒ THỌ KỲ DANH
    (Nhật thần thương khắc hào mới thật là họa, hào thương khắc nhật chỉ là mang danh mà thôi)
    Nhật thần là chúa tể của 6 hào, coi tổng quát mọi việc. Sáu hào chỉ là bề tôi của nhật thần phân chia coi mọi việc cho nên nhật thần khắc hại hình xung với 6 hào, chứ 6 hào không thể hình xung khắc hại với nhật thần được. Nguyệt kiến với 6 hào cũng thế.​

    • MỘ TRUNG NHÂN BẤT XUNG BẤT PHÁT:
    (Người trong mộ không xung không phát)
    Đại để dụng hào nhập mộ không xung không thể tốt đẹp, vì gặp nhiều trở ngại mọi việc khó thành, chỉ phí sức mà thôi, đợi nhật thần xung, động hào xung hoặc xung khắc mộ hào mới thành công hữu dụng.
    Sách xưa có nói: XUNG KHÔNG TẤT KHỞI, PHÁ MỘ TẤT THÀNH
    • THÂN THƯỢNG QUỶ BẤT KHỬ BẤT AN:
    (Quỉ trên Thân chẳng khử thì chẳng yên)
    Thân dựa vào dụng mà nói tất là thế vậy, nhưng phàm Quan quỷ trì thế hào là nói tới mình, nhưng nếu không phải là người quan chức thì quan quỷ là thần ưu nghi trở trệ nên được nhật thần động hào xung khắc thì mới an nhiên được. Hoặc kỵ thần lâm thế cũng vậy, nhưng không thể khắc thái quá, sợ rằng ta cũng bị hại. Thánh nhân có nói: "Người mà bất nhân, bệnh đã quá loạn duy quý ở chữ trung hòa mà thôi".(Người mà bất nhân, nếu ghét nó lắm thì nó làm loạn, duy quý được trung hoà thì hay hơn)​

    • ĐỨC NHẬP QUÁI NHỊ VÔ MƯU BẤT TOẠI
    KỴ LÂM THÂN ĐA TRỞ VÔ THÀNH:
    (Đức trong quẻ không mưu chẳng toại. kỵ lâm thân nhiều trở ngại khó thành)
    Đức là hợp vậy. Trong hợp có ân tình đức nghĩa, do đó phàm mưu sự mà dụng thần động hợp thế, hoặc dụng thần hóa được sinh hợp, hoặc nhật thần lâm dụng hợp thế, hoặc nhật thần có trường sinh hợp dụng hoà đều là đức vào trong quẻ mà vô mưu nên chẳng toại ý vậy. Nhưng hợp xứ phùng xung lại sợ có biến, nếu kỵ thần như vậy thì việc nhiều trở ngại khó thành.​

    • QUÁI NGỘ HUNG TINH TỴ CHI TẮC CÁT:
    (Quẻ gặp hung tinh, tránh được tất tốt)
    Hung tinh là kỵ thần, phàm dụng hào bị nguyệt kiến nhật thần thương khắc, bất luận không phục thủy chung vẫn chịu khắc không thể tránh, Nếu chẳng bị nguyêt kiến nhật thần thương khắc chỉ độc gặp trong quẻ kỵ thần phát động lại thương dụng, nếu dụng hào có tuần không phục tàng không chịu khắc, vị chi là tránh, đợi ngày xung khắc với kỵ thần thì hung có thể tan. Như dụng hào xuất hiện không có không thì chịu độc khó tránh được thương vậy do đó bảo là tránh đi thì tốt.​
     
  2. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Hoàng kim sách tổng đoạn thiên kim phú trực giải

    • HÀO PHÙNG KỲ SÁT ĐỊCH CHI VÔ THƯƠNG:
    (Hào gặp kỵ sát cứu được khỏi bị thương)
    Giữa thù, ngang nhau, chống cự, đối địch. Hào tức dụng hào, như cầu tài lấy tài hào làm dụng thần vậy. Ví như cầu tài, trong quẻ hào thuộc mộc nếu có hào kim động mà khắc tài thì hung vậy. Nếu được hào hỏa phát động khắc kim tất hào kim phải tự cứu không rành mà khắc mộc nên không lo vậy, do đấy nói: Địch chi thì không bị thương.​

    • CHỦ TƯỢNG HƯU TÙ PHẠ KIẾN HÌNH XUNG KHẮC HẠI
    DỤNG HÀO BIẾN ĐỘNG KỴ PHÙNG TỬ MỘ TUYỆT KHÔNG:
    (Dụng thần tù sợ hình xung khắc hại, dụng hào biến động kỵ gặp tử mộ tuyệt không).
    Chủ tượng cũng để chỉ dụng thần, nếu bị tử đã chẳng được việc rồi huống chi lại bị thêm hình khắc. Dụng hào phát động giống người mạnh mẽ tiến tới trước đâu lại có thể để hóa mộ tuyệt.​

    • DỤNG HÓA DỤNG, HỮU DỤNG VÔ DỤNG
    KHÔNG HÓA KHÔNG TUY KHÔNG BẤT KHÔNG
    (Dụng hóa dụng có loại hữu dụng, loại vô dụng; không hóa không tuy không mà chẳng không)
    Dụng thần hóa dụng thần có loại dụng thần hữu dụng và dụng thần vô dụng. Hữu dụng là dụng thần hóa Tiến thần, vô dụng là dụng thần hóa Thoái thần, cùng phục ngâm quái vậy. Cho nên mới phân biệt hữu dụng và vô dụng vậy.
    Hào không an tĩnh tất không thể hóa không, phát động thì có thể hóa được mà đã phát động thì chẳng phải không vậy. Hóa ra không cũng vì động mà hóa. Phàm hào động gặp không hoặc động hào biến không đều không phải là không chân thật, khi xuất thần thì lại hữu dụng vậy.​

    • DƯỠNG CHỦ HỒ NGHI. MỘ ĐA ÁM MUỘI
    HÓA BỆNH HỀ THƯƠNG TỔN, HÓA THAI HỀ CÂU LIÊN:
    (Dưỡng chủ nghi ngờ, mộ nhiều ám muội, hóa bệnh nhiều tổn hại, hóa thai khó khăn)
    Trong 12 thần tràng sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng thì tại quẻ chuẩn đích là tràng sinh, mộ, tuyệt , mỗi quẻ nên xem, mỗi hào nên kiếm, Còn mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng. suy, bệnh, tử, thai, dưỡng mỗi một đều có sinh, khắc, xung hợp, tiến thần, thoái thần, phục ngâm là luận ngược lại, không nên quá câu chấp ỡ dưỡng là chữ nghi ngờ, bệnh chủ thương tổn, thai chủ khó khăn. Trong thập bát luận đã nói rõ, học giả nên tự luận lấy cho rõ.​

    • HUNG HÓA TRƯỜNG SINH SÍ NHI VỊ TÁN:
    (Hung hóa tràng sinh mạnh mẽ thực tan)
    Dụng hào hóa nhập ở tràng sinh là cát, nếu hung thần hóa nhập tràng sinh tức họa đã manh nha, càng ngày càng lớn, tất đợi ngày mộ tuyệt mới có thể diệt được.​

    • CÁT LIÊN MỘC DỤC BẠI NHI BẤT THÀNH:
    (Cát hợp mộc dục bại mà chẳng thành)
    Mộc dục gọi là Bại thần, lại gọi là mộc dục sát hay vô liêm vô sỉ thần, tính dâm bại, nhưng có phân biệt nặng nhẹ, Như kim bại ở ngọ trong bại kim khắc, dần mộc bại ở tí trong bại kim hình, thủy bại ở dậu trong bại kim sinh, thổ bại ở dậu trong bại kim tiết khí, hỏa bại ở mão trong bại kim sinh.
    Duy xem hôn nhân hết sức kỵ, nếu chồng chọn vợ mà tài hào hóa mộc dục kim sinh tất bại nhà bại cửa, kim khắc vì gian dâm sát thân. Như ở mọi quẻ nếu thế hào hóa mộc dục kèm sinh thì vì sắc hoại danh, khắc thì vi sắc sát thân, nếu có cứu thì trong chỗ hiểm có đường sống, cho nên bảo rằng cát thần không nên hóa mộc dục.​

    • GIỚI HỒI ĐẦU CHI KHẮC, NGÃ BẠI PHẢN ĐỨC DĨ PHÙ NHÂN:
    (Phòng hồi đầu khắc ta, chớ phản đức để giúp người)
    Hóa hồi đầu khắc là dụng thần tự hóa kỵ thần, như hào hỏa hóa thủy chẳng hạn. Nếu xem quẻ mà thế hào, thân hào, dụng hào gặp thế không tốt. Phàm dụng thần phát động không sinh hợp thế thân, mà ngược lại sinh hợp ứng hào cùng bằng hào, đều nói là phản đức giúp người. Nếu bói găp thế, điều cầu mong chẳng dễ mà tượng hại ta lợi người vậy (tổn kỷ lợi nhân).​

    • ÁC DIỆU CÔ HÀN PHU NHẬT CHI TỊNH KHỞI:
    (Ác diệu cô hàn chỉ sợ có nhật thần lâm)
    Ác diệu chỉ kỵ thần, cô là cô độc, không được sinh, phù, củng hợp. Hàn là suy nhược vô khí, phàm xem bói gặp kỵ thần cô hàn tất vĩnh viễn chẳng tổn hại cho ta. Chỉ sợ có nhật thần lâm đấy thì cô hàn lại được thế, khó tránh được hại, như gặp nguyệt kiến cũng thật đáng sợ.​

    • DỤNG HÀO TRÙNG ĐIỆP HỈ MỘ KHỐ CHI THỤ TÀNG:
    (Dụng hào trùng điệp mừng được mộ khố che dấu)
    Như trong quẻ dụng hào trùng điệp thái quá, thích (rất mừng) mộ của dụng thần trì lâm thân thế, vị chi là theo ta mà che dấu.​

    • SỰ TRỞ CÁCH HỀ GIAN PHÁT - TÂM THOÁI HỒI HỀ THI KHÔNG:
    (Việc cách trở do gián hào, có thể không tâm thoái hồi)
    Gián hào là hào ở giữa thế và ứng, 2 hào này ở giữa thế và ứng là đường ngăn cách này kia, động tất có người cách trở, muốn biết người nào ngăn trở dùng lục thần mà suy, nếu phụ mẫu động tức bậc tôn trưởng.
    Phàm thế hào tuần không thì người này biếng nhác, tâm không dũng mãnh tiến mà thành việc, cho nên nói tâm thoái hồi vì thế không.​

    • QUÁI HÀO PHÁT ĐỘNG TU KHÁN GIAO TRÙNG
    ĐỘNG BIÊN TỴ HÒA ĐƯƠNG MINH TIẾN THOÁI:
    (Quái hào phát động, nên xem giao trùng; động biến tỵ hòa, nên xem tiến thoái)
    Phàm quái hào phát động, nên khán xem giao trùng. Giao chủ tương lai, trùng chủ dĩ vãng. Như xem đào vong thấy phụ mẫu có chu tước phát động, nếu hào là giao thì có người lại báo tin, như nếu trùng hào là tin đã biết trước, ngoài ra cứ phỏng như vậy. Động biến tỵ hòa chỉ nói về nhị thần tiến thoái. Như dần mộc hóa mão là tiến thần, mão biến dần là thoái thần. Ở thập bát luận có nói rõ tiến chủ tiến trước, thoái chủ lui sau.​

    • SÁT SINH THÂN MẠC TƯƠNG CÁT ĐOÁN
    DỤNG KHẮC THẾ VẬT TÁC HUNG KHÔN
    CÁI SINH TRUNG HỮU HÌNH HẠI CHI
    LƯỠNG PHÒNG NHI HỢP XỨ HỮU KHẮC THƯƠNG CHI NHẬT LỰ
    (Sát sinh thân ở chỗ đoán tốt, dụng khắc thế chớ lấy làm xấu, và sinh trong có phải phòng 2 mặt hình hại, trong hợp có khắc phải lo toan)
    Sát là kỵ thần, sinh là sinh hợp. Thân thì như tự coi cho mình thì dùng thế mà nói. Như trong quẻ kỵ thần thì kỵ thần phát động thì dụng thần bị thương vậy, thì sinh hợp chẳng có ích gì, huống trong sinh hợp có hình hại, có khắc có hư, kỵ thần sinh thế kiêm có hình khắc, không những mưu sự chẳng thành; điều cầu mong chẳng được vì mưu sự mà thành xấu. Như một người đi thi hương ở tháng thìn, ngày quý dậu, bói được quẻ tiết ra quẻ khảm, thế hào tỵ hỏa hóa thành dần mộc, kỵ thần trong sinh có hình lại mão mộc kỵ thần ám động sinh thế, sau đến lâm bệnh mà bỏ. Đó là kỵ sinh thân vậy, trong sinh có hình, giống vậy nếu có hại, còn khắc thì nặng hơn. Lại như dụng thần động khắc thế thì vật đến tìm ta, thì mưu dễ thành tựu chớ bảo vì khắc ta là hung. Dụng thần khắc thế vốn tốt, không nên đi sinh hợp ứng hào, vì hậu ở kẻ khác mà bạc ở ta. Tuy dụng khắc thế cũng có lúc hung vậy, xem phần sau phải biết.​

    • HÌNH HẠI BẤT NGHI LÂM DỤNG, TỬ TUYỆT KHỞI KHẢ TRÌ THÂN:
    (Hình hại không nên ở dụng, tử tuyệt há có thể ở thân)
    Phàm dụng thần, thân, thế, gặp nhật thần tương hình ắt chủ bất lợi. Xem gặp thế thì việc bất thành, xem vật thì chẳng tốt, xem bệnh thì trầm trọng, xem người thì người bệnh, xem vợ thì vợ bất trinh, xem văn hài thì sơ hở, xem kiện tụng thì bị hình tội; Với hào bị hại thì không quá tệ, đại khái cũng mô phỏng như vậy, hóa thì cũng thế, nên dùng suy, vượng, sinh, khắc mà phân cho rõ. Tử, tuyệt ở hào nhật thần lâm thế thân, dụng thần mọi việc coi đều chẳng lợi, biến động hóa nhập cũng thế, nhưng có tuyệt xứ phùng sinh để luận, học giả nên biết.​

    • ĐỘNG PHÙNG XUNG NHI SỰ TÁN:
    (Động gặp xung thì việc tan)
    Hào xung này không thể suy giống nhau. Như hào gặp tuần không an tĩnh gặp xung gọi là khởi. Hào có tuần không phát động gặp xung gọi là thực an tĩnh. Hào không có tuần gặp xung gọi là ám động. Phát động mà không có tuần gặp xung gọi là tán, còn gọi là xung thoát. Động mà gặp xung tán thoát, cát chẳng cát, hung chẳng thành hung.​

    • TUYỆT PHÙNG SINH NHI SỰ THÀNH:
    (Tuyệt gặp sinh sự việc thành)
    Đại phàm dụng thần lâm và tuyệt địa, không thể định tuyệt ở nhật thần mà luận dụng thần hóa tuyệt.​

    • NHƯ PHÙNG HỢP TRỤ TU XUNG PHÁ DĨ THÀNH CÔNG:
    (Nếu gặp hợp trụ thì đợi xung phá mới thanh công)
    Trong quẻ như dụng thần, kỵ thần gặp nhật thần hợp hoặc tự hóa hợp, hoặc có động hào hợp không kể cát hung đều không kiến hiệu, nên đợi ngày xung phá thì việc cát hung mới ứng. Giả như dụng hào động sinh thế thì việc dễ thành, nếu gặp hợp trụ việc trở trệ nên đợi ngày xung phá mới thành. Về sau phép đoán nhật kỳ cũng theo vậy.​
     
  3. lancongtu

    lancongtu Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Hoàng kim sách tổng đoạn thiên kim phú trực giải

    • NHƯỢC NGỘ HƯU TÙ TỐT SINH VƯỢNG NHI THÀNH SỰ:
    (Nếu gặp hưu tù tất sinh vượng mới được việc)
    Phép đoán nhật kỳ không thể cùng nhắc phải linh hoạt mới khỏi sai lầm.
    - Như dụng, hào hợp trú thì dùng ngày xung mà đoán
    - Dụng thần hưu tù tất đợi lúc sinh vượng mới thành cho nên vô khí thì đợi ngày
    tháng vượng tướng mà đoán.
    - Dụng hào vượng tướng bất động tức dùng ngày tháng xung động mà đoán.
    - Nếu dụng hào có phát động tất dùng ngày hợp mà đoán, động mà sinh hợp thế
    thân tất dùng ngày đó mà đoán.
    - Dụng hào thụ chế tất dùng ngày tháng chế sát mà đoán
    - Nếu dụng hào được thời vượng động, mà ngược lại được sinh phù tất quá vượng, thì dùng ngày tháng mộ khí mà đoán.
    - Dụng hào vô khí phát động mà gặp sinh phù tất dùng ngày tháng sinh phù mà đoán.
    - Dụng hào nhập mộ, dùng ngày tháng xung mộ, xung dụng mà đoán.
    - Dụng hào có tuần không an tĩnh tất dùng khắc xuất tuần gặp xung mà đoán.
    - Dụng hào gặo tuần không mà phát động, tức dùng ngày đó khi xuất tuần mà đoán.
    - Dụng hào phát động gặp tuần không có hào tất dùng ngày xuất tuần mà xung để đoán.
    - Dụng hào tuần không an tĩnh bị xung tất dùng ngày xuất tuần hợp để đoán.
    - Dụng hào tuần không phát động bị xung ấy là xung thực tức dùng ngày đó mà
    đoán,
    Đó là phép tóm tắt rất quan trọng trong lý rất linh diệu, học giả cần linh hoạt phân
    nặng nhẹ, phân dụng, kỵ mới chẳng sai.​

    • TỐC TẮC ĐỘNG NHI KHẮC THÊ, HOÃN TẮC TĨNH NHI SINH THÂN:
    (Nhanh tất động mà khắc thế, chậm tất tĩnh mà sinh thân)

    Đây cũng là phép đoán nhật thần để xem định kỳ nhanh chậm.
    - Nếu dụng thần động mà khắc thế thì rất nhanh, như động mà sinh thế thì chậm,
    - Tĩnh mà sinh thế thì chậm.
    - Lại nên dùng suy, vượng, động, tĩnh, suy nghiệm thì chẳng bao giờ sai. Như suy thần phát động khắc thế ấy là vượng tướng động khắc vậy thì chậm. Ngoài ra ứng phỏng vậy.​

    • PHỤ VONG NHI SỰ VÔ ĐẦU TỰ - PHÚC ẨN NHI SỰ BẤT XỨNG TINH:
    (Hào phụ gặp không xong việc chẳng có đầu mối, hào tử ẩn thì việc chẳng hài lòng)
    Câu này chỉ nói việc công, xem văn thư, văn thư tất hào phụ mẫu vậy. Phòng xem việc tư nên khán phúc đức, phúc đức tức hào tử tôn. Phàm xem công danh, công môn, công sư, dùng hào phụ mẫu làm đầu mối về văn thư, sau mới đến quan quỷ. Nếu văn thư hào gặp không vong sợ việc chưa đích xác. Cho nên nói: Phụ gặp không vong việc không đầu mối.
    Xem việc riêng dùng hào tử tôn làm thần giải ưu, vui vẻ, lại dùng căn nguyên của tiền, há phục mà không hiện sao. Cho nên nói: phúc ẩn nhi tự bất xứng tình.​

    • QUỶ TỤY HỌA TAI, PHỤC DO VÔ KHÍ:
    (Quỷ tuy tai họa, phục thì vô khí)
    Hào quan tuy nói là thần tai họa, nhưng ở trong 6 hào cũng không nên xuất hiện an tĩnh, không nên tàng phục. Tàng phục thì trong quẻ vô khí, huống chi hào quan mọi việc đều phải có chỗ nhờ cậy cho nên quan trọng. Như cầu danh lấy hào quan là dụng, xem văn thư lấy hào quan làm nguyên thần, xem kiện lấy hào quan làm quan, xem bệnh lấy hào quan là bệnh, xem đạo tặc lấy hào quan làm đạo tặc, xem quái dị lấy hào quan làm quái dị, xem tiền bạc mà không hào quan sợ hào huynh dùng quyền khó tránh hao tổn.
    • TỬ TUY PHÚC ĐỨC ĐA PHẢN VÔ CÔNG:
    (Tử là phúc đức xuất hiện nhiều chịu khắc thì vô công)
    Đa là hiện nhiều, phản là chịu khắc chỉ có xem công danh tử tôn là ác sát, ngoài ra hào tử tôn là phúc đức. Xem thuốc lấy hào tử tôn làm dụng thần, nếu hiện nhiều trong quẻ tất uống thuốc tạp loạn, rồi cũng chẳng được gì. Nếu cầu tài gặp tử tôn hào bị thương chẳng những vô lợi mà sợ cả hao vốn nữa.​

    • CỨU PHỤ MẪU SUY VI THẾ THỐNG, LUẬN QUAN QUỶ ĐOÁN TÁC HỌA ƯƠNG. TÀI NÃI LỘC THẦN. TỬ VI PHÚC ĐỨC, HUYNH ĐỆ GIAO TRÙNG TẤT CHI MƯU VI ĐA TRỞ TRỆ:
    (Xem phụ mẫu suy kỹ chung thân, luận quan quỷ đoán tai họa; tài là lộc thần, tử là phúc đức, huynh đệ giao trùng thì mưu sự việc nhiều trở trệ).
    Câu này nói tổng quát về ngũ loại (lục thân) nhưng cũng phân biệt các dùng hào phụ mẫu để luận xuất thân, như làm quí nhân có khí thì hậu duệ của nhà làm quan, như lâm hình hại vô khí là con nhà bần tiện, như xem họa ương nên xem quan quỷ mang, lâm con thú nào hoặc trị huyền vũ tức họa đạo tặc, tài là người lâm quan (nhân chi thực lộc) cho nên bảo là lộc thần, Tử tôn có thể giải ưu khắc quỷ cho nên gọi là phúc đức, huynh đệ là động bọn ép tài. Động tất khắc tài, tranh đoạt, cho nên bảo: mưu nhiều trở ngại vậy.​

    • QUÁI THÂN TRÙNG ĐIỆP TU TRI SỰ THỂ LƯỠNG GIAO QUAN:
    (Quái thân trùng điệp biết sự việc có liên hệ)
    Quái thân tức nguyệt quái thân vậy, theo phép thế dương thì khởi từ tháng tí thế âm thì khởi từ tháng ngọ, câu này mở rõ sự còn u tối cần phải luận rõ. Phàm hào quái thân là thể của việc xem vậy. Nếu trong lục hào có hai hào xuất hiện tức là uyên ương cầu việc hoặc việc liên quan ở hai nơi. Nếu tại huynh đệ tất với người đồng mưu, huynh đệ khắc thế hoặc lâm quan quỷ phát động tất có người tranh mưu. Quái thân chẳng xuất hiện việc chưa định hướng xuất hiện mà sinh thế, trì thế, hợp thế việc đã định, nên xuất hiện chứ không nên động, động nên phòng có biến, nếu biến hoại thì việc cũng biến hoại, nếu trì thế thì việc này tự mình có thể điều động, nếu lâm ứng thì biết việc do quyền ở người khác.
    Hoặc động hào khác để biến thành thì biết người đó cũng thuộc vào việc này, nếu tử tôn là tăng đạo, bọn cháu chắt nếu phục tại hào nào cũng y như vậy mà suy. Nếu có 6 hào phi biến phục đều không có quái thân thì căn do của việc chưa đích. Không vong mộ tuyệt thì việc khó thành, đại để quái thân tác động vào việc. Xem vào đó thì lâm như ứng vào nhân thân mà xem thì tướng mạo người xem đẹp ác đều dùng quái thân mà xem là có thể biết. Phàm quái thân khắc thế tức việc tìm ta tốt, thế khắc thân thì hung. Nếu thân hào sinh hợp thế hào cũng tốt.​

    • HỔ HUNG NHI NGỘ CÁT THẦN BẤT HẠI KỲ VI CÁT.
    LONG ĐỘNG NHI PHÙNG HUNG DIỆU NAN YỂM KỲ VI HUNG.
    HUYỀN VŨ CHỦ ĐẠO TẶC CHI SỰ DIỆU TẤT QUAN HÀO.
    CHU TƯỚC BẢN KHẨU THIỆT CHI THẦN. NHIÊN TU HUYNH ĐỆ
    TẤT BỆNH ĐẠI NGHI THIÊN HỈ, NHƯỢC LÂM HUNG CÁT TẤT SINH BI.
    XUẤT HÀNH TÔI PHẠ VÃNG VONG NHỦ HỆ CÁT THẦN CHUNG HOẠCH LỢI THI CÔ CÁT
    HUNG THẦN SÁT CHI ĐA ĐOAN HÀ NHƯ SINH KHẮC CHẾ HÓA CHI LÝ:
    (Bạch hổ nếu gặp cát thần chẳng hại mà tốt. Thanh long động mà gặp sao hung khó ngăn được hung, Huyền vũ chủ việc đạo tặc cũng nên ở quan hào. Chu tước vốn khẩu thiệt nhưng nên ở huynh đệ, tất bệnh rất nên có thiên hỉ, nếu gặp hung sát tất sinh đau khổ. Xuất hành rất sợ vãng vong, nếu có cát thần rồi cũng thu lợi. Vì thế thần cát hung sát rất nhiều rắc rối sao như lý lẽ sinh khắc chế hóa)

    Đại để bốc-dịch nắm ngũ hành lục thân, không thể lộn xộn mà dùng thần sát ở thần sát đoán loạn. Sách xưa bị đến thời Kinh Phùng tiên sinh làm loạn Dịch lưu tại cát hung tinh mê hoặc người sau như thiên hỉ, vãng vong, đại sát, đại bạch hổ, đại huyền vũ chẳng hạn làm người ngày nay theo đó, mà thật chẳng có gì đáng tin. Nhưng thần sát qua nhiều há có thể dung hợp mà dùng sao?
    Phép dùng lục thú chẳng phải thấy thanh long là tốt, bạch hổ là hung, chu tước là khẩu thiệt, huyền vũ là đạo tặc chẳng phân biệt lâm trì, dụng thần nguyên thần, kỵ thần, câu thần, phép đoán đại để như vậy, thì mất kỳ diệu lẽ tiên thiên. Chẳng lẽ bạch hổ động mà hung, nếu lầm vào hào sinh phù, củng, hợp, thế thân tất chẳng hại gì ở ta, cho nên bảo hung mà chẳng hại, mà tốt.
    Thanh long động vốn tốt, nếu lâm vào hào kỵ hình xung khắc hại dụng thần tất chẳng ích gì, cho nên cát mà khó ngăn chận được hung. Chu tước tuy khẩu thiệt nhưng lâm huynh đệ chẳng thành khẩu thiệt. Huyền vũ tuy chủ đạo tặc nếu chẳng lâm quan hào thì chẳng phải là đạo tặc. Lục thú dựa vào ngũ hành, lục thân sinh khắc vậy.
    Như Cát tinh thiên hỉ, xem bệnh mà gặp nếu đại tượng hung cũng đoán chẳng chết, nếu lâm vào kỵ thần thì ta lấy làm xấu, mà chẳng lấy làm mừng.
    Xuất hành gặp vãng vong hung sát tuy đại tượng cát lợi mà đoán hung chết. Nếu lâm vào hào hỉ mình động sinh phù cảng hợp thế thân dụng hào, ta sẽ lấy làm lợi mà chẳng lấy làm hại.
    Cho nên quyền của thần sát nhẹ mà quyền của ngũ hành nặng. Do đó mà xem gặp cát tất cát, gặp hung tất hung, liên hệ ở đây mà không liên hệ ở kia, nghiệm ở lý mà không nghiệm ở sát, hà tất dùng huyền mà nói vậy, dùng ngổn ngang trăm mối mà hại lý mà loạn người làm sao nhất nhất tránh được. Thần sát này không thể dựa vào đó để đoán chư lý sinh khắc, chế hóa, vì làm quá nhiều ngõ ngách thông cho thỏa sáng tỏ các lý, đủ lẽ biến động. Lục thân là gốc, lục thú là ngọn, còn như hung cát thần, thiên hỉ, vãng vong, thiên y… là nhâm hữu gốc ngọn. Muốn dùng chỉ cần lục thú, phải nên trọng ở gốc mà nhẹ ở ngọn, với lục thú có thể suy tính tĩnh, hình dáng và cát hung dù sinh khắc ở lục thân lâm chủ. Học giả dựa và đó thì đẩy đủ gốc và ngọn, thì mấy điều lý đều thông suốt được cả.​

    • Ô HÔ BỐC DỊCH GIẢ, TRI ĐIỀN BỐC DỊCH:
    (Than ôi! Kẻ bói Dịch biết pháp trước thì dễ)
    Người đời đều nệ, cổ pháp phải biến thông mới tốt, cho nên có long hổ suy buồn, vui, thủy hỏa đoán mưa, tạnh, không vong là hung, nguyệt phá tất vô dụng; thân vị định chi nhân thân, ứng hào để thay thế, Phàm bói thế khó định hơn người. Lưu Bá Ôn tiên sinh viết sách lấy cái lý bài bác cái nghĩa ngắn, để tỏ rõ cái tâm của thời cổ mà nay đã mất. Người đời chấp nệ ở phép cổ mà chẳng có chi điều giải; thuật giả có thể nói rõ những điều thông biến ở Dịch như thế nào.​

    • CẦU CHIÊM GIẢ GIÁM HẬU TẮC LINH:
    (Cầu coi sau tất linh)
    Người đoán bói dùng sự thông biến mà cầu, người coi cũng không thể không biết đạo cầu bói mà thành tâm vậy.​

    • PHỆ TỐI THÀNH TÂM:
    (Bói tất thành tâm)
    Thánh nhân làm dịch để tán thần minh, đạo này hợp trời đất vậy do đó bói dịch cần chân thành kính cẩn có lòng cầu tất cát hung, họa phúc luôn luôn nghiệm. Nay có người bói mà cử chỉ chẳng nghiêm trang, ăn mặc bê bối, thậm chí thắp hương chẳng rửa tay nên có nghiệm phú quý cũng sai; Hoặc sai gia nhân bói hộ hoặc thân hữu bói giúp, tuy long thành tâm mà người thay thế còn chẳng tin thì cầu cảm với thần minh sao có được, há chẳng trân trọng ư?​

    • HÀ PHƯƠNG TÍ NHẬT:
    (Ngày tí có hại gì đâu)
    Trong sách âm dương lịch có ngày tí không bói, nên người đời này kỵ, Lưu Quốc Sư có nói: việc ứng của cát hung đều cảm thần minh, không phải thần minh lai vãng có giờ nên lúc cảm lúc không, mà cảm cách thì lúc nào cũng nghiệm. Cho nên bói Dịch chỉ tại lòng thành mà không ở tại ngày tý hay không tý.
    Ở trên là toàn thiên nói về phép Tổng đoán, Dịch là chương thông suốt đại chỉ, không như thế mọi việc khó quyết, người có chí như vậy trước nên học thiên này thì có thể hiểu điều che khuất dấu kín. Ai đọc lý này đã rõ tất từ việc đến vật đều có thể phân giải rõ ràng.
     
Thread Status:
Not open for further replies.

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn