Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Đi Tìm Kho Tàng Trong Đũa Thần Và Bút Thần Điện Toán

Chủ đề trong 'Nhà Của Đũa Thần Điện Toán Tech PRO 2020' do laongoandong khởi đầu 30 tháng Tám 2012.

  1. laongoandong

    laongoandong Người nhà

    Mở Cửa Đi Vào Kho Tàng

    Mỗi Đũa Thần hoặc Bút Thần Điện Toán đều có một cuốn sách nhỏ Cẩm Nang Bỏ Túi để hướng dẫn một vài căn bản nhưng rất cần thiết về cách cắm và cách tắt ĐT&BT ĐT, những điểm chính cần lưu ý cho người sử dụng , trả lời những câu thường hỏi v.v… Nếu cần có thêm tài liệu đầy đủ hơn cùng với cách sử dụng một số thảo trình quan trọng , qúy vị có thể mua tại văn phòng Sách Hướng Dẫn Sử Dụng ĐT&BT ĐT quyển 1 được đóng gáy bìa màu đẹp mắt với giá tượng trưng 15 Mỹ Kim. Tuy nhiên, nội dung quyển 1 này đã có trong ĐT&BT ĐT, quý vị có thể đọc thẳng trên màn hình của máy điện toán.

    Trong những bước khởi đầu của bài viết, tôi sẽ dựa vào Sách Hướng Dẫn Sử Dụng này để trình bày thêm, hoặc tóm lượt ngắn gọn về cách sử dụng ngay từ những bước rất căn bản:

    1/ CÁCH THỨC CẮM CHIẾC ĐT&BT ĐT:

    a.- Vài nét tổng quát:

    Đũa Thần hoặc Bút Thần Điện Toán về hình thức vẫn là một USB Flash Driver.

    - USB : là chữ viết tắt của Universal Serial Bus , để các máy điện toán có thể liên lạc qua cổng USB (Port USB). Port USB lại có ba loại, còn gọi là thế hệ (generation):
    - Thế hệ 1.x có tốc độ 12 MB/ giây
    - Thế hệ 2.x có tốc độ 40 MB /giây
    - Thế hệ 3.x bắt đầu xuất hiện vào cuối năm 2009 với tốc độ 600 MB/ giây
    Những máy điện toán của quý vị mua từ năm 2009 mới có ổ cắm này, tuy nhiên ĐT&BT ĐT vẫn sử dụng được ba loại ổ cắm USB.

    - FLASH DRIVE : Có nhiều tên gọi khác nhau như : Jump drives , Thumb Drives
    Pen Drives và USB Keychain Drives . Mặc dầu có nhiều tên gọi, nhưng vẫn có một mục đích chính là USB conection có hình dạng không quá 3 inches, nhưng có sức chứa cao hiện đang có những USB có sức chứa trên 64 Gigabytes)

    Tuy nhiên, ĐT&BT ĐT không phải là một USB Flash Drive thông thường như những Flash Drive bán ngoài thị trường vì nó không phải chỉ là kho chứa (storage) các dữ kiện , mà là nơi chứa các thảo trình hoạt động một cách độc lập nên còn được coi như là MÁY ĐIỆN TOÁN BỎ TÚI . Cũng vì đặc điểm này mà Ban Kỹ Thuật phải đặt hàng riêng với hãng Kingston mới có khả năng đáp ứng nhu cầu cần thiết cho những thảo trình được chứa trong USB Flash Drive . Tôi muốn nói lên đặc tính này để chủ nhân của ĐT&BT ĐT biết được giá trị và trân quý vật mà mình đang sở hữu .

    b.- Cách thức cắm ĐT&BT vào máy điện toán:

    Bất cứ một máy điện toán nào cũng có các cổng USB. Nếu máy để bàn (desktop) có thể có cổng USB phía trước; nhưng chắc chắn các USB nằm phía sau của máy. Còn các máy sách tay ( lap top ) các cổng USB nằm ở bên hông phải hoặc trái .

    Cổng USB trong máy điện toán có hình dạng là một ô hình chủ nhật với chiều dài hơn ½ inch một chút xíu, và chiều rộng ¼ inche . Chiếc USB Flash Drive có phần cắm vào máy điện toán cũng là hình chủ nhật nhưng chiều dài là ½ inche còn chiều rộng lại nhỏ hơn ¼ inche một chút xíu để có thể nằm gọn trong cổng USB của máy điện toán. Cổng USB và USB Flash Drive đều có một đặc tính chung là: Được chia làm hai phần theo chiều ngang: Phần đặc nằm sát một bên, và phần trống còn lại nằm hẳn sang một bên. để phần đặc của Flash Drive sẽ cắm vào phần trống của cổng USB tạo thành một cái ngàm không thể lầm lẫn được; vì nếu cắm sai chiều sẽ không lọt vào trong cổng USB được (có một số USB Flash Drive chỉ có phần đặc thôi nhưng hai mặt của phần đặc lại khác nhau: Một mặt có bốn miếng đồng dẹp và mặt phía bên kia không có. Muốn cắm vào cổng USB đúng hướng, ta phải cắm mặt có miếng đồng vào phia ranh giới của phần đặc và phần trống thì mạch điện mới kết nối được. Tuy nhiên quý chủ nhân các ĐT&BT ĐT không phải bận tâm vì ĐT&BT không nằm trong trường hợp này)

    Những vị có máy để bàn (desktop) nên mua thêm một dây nối (USB Extension) để đễ sử dụng, còn những vị có lap top thì rất dễ dàng: Các cổng USB đều nằm ngang nên sau khi quan sát chiếc ĐT&BT , để mặt có in hình bản đồ và lá cờ vàng ba sọc đỏ nằm ngửa phía trên theo chiều ngang của máy rồi cứ thế cắm vào cổng USB là đúng chiều.

    2.- CÁCH MỞ CÁC TÀI LIỆU:

    Vì giới sử dụng máy điện toán vẫn còn dùng windows XP, VISTA và WINDOW 7, và sắp sửa có thêm window 8. Nhưng Ban Kỹ Thuật vẫn có chương trình dự liệu cho các BT&ĐT ĐT để đáp ứng được những khác biệt trên. Tôi xin tóm lượt một cách ngắn gọn về sự khác biệt của ba loại windows hiện nay:

    a.- Với Windows Vista và Windows 7 thì sau khi quý vị cắm chiếc ĐT&BT vào máy khoảng vài giây , một màn hình Auto Play sẽ hiện ra . Cả hai loại windows này đều có hàng chữ “Open folder to view files “. Chúng ta chỉ việc chuyển mũi tên của con chuột vào hàng chữ này rồi Double Click.

    b.- Với Windows XT thì hơi rắc rối một chút: Sau khi cắm Đũa Thần vào máy, phải chờ một lúc khá lâu (có thể vài giây, cũng có thể vài chục giây) rồi cái màn hình Auto Play mới xuất hiện, nhưng lại có một chiếc đèn cứ quẹt qua quẹt lại về hướng bầu trời (như thầm nói với chúng ta rằng: Quý vị đang dùng cái gì mà chỉ có Trời mới biết!) Xin quý vị đừng chờ đợi, bấm ngay chữ Cancel. Rồi một màn ảnh khác xuất hiện với lời nhắn: Quý vị muốn Windows làm gì? Xin quý vị nên bấm ngay chữ Cancel.

    Bước kế tiếp, quý vị chuyển mũi tên xuống góc bên trái của màn hình và bấm vào chữ Start . Liền sau đó một khung hình sẽ hiện ra, và quý vị sẽ bấm vào chữ My Computer . Rồi cũng chờ một thòi gian khá lâu sẽ có một màn hình nhỏ hiện ra. Quý vị cứ thấy có hình lá cờ và bản đồ Việt Nam cùng hàng chữ TECH2020PRO (drive E, F hay G ) là bấm vào đó.

    Đến phần này thì cả ba loại windows đều có cùng một khung với nội dung giống nhau gồm các hàng chữ như sau:
    - Application
    - Documents
    - TecMainMenu
    - Autorun
    - Runme

    Nếu chúng ta chỉ muốn đọc những tài liệu mà chưa cần đến nhu cầu sử dụng các nhu liệu thì xin bấm vào chữ Documents, sau đó chọn những phần nào mình muốn biết như nghe nhạc, phim dạy nấu ăn, slideshows, đọc cuốn Cẩm Nang Cách Sử Dụng cuốn 1 v.v… Và muốn vào danh bạ chính, hãy Double Click vào hàng cuối cùng là runme tức thì danh bạ chính gồm 22 hình biểu tượng đầy màu sắc sẽ hiện ra trên phần đầu của màn hình trông thật ngoạn mục. Bây giờ chúng ta nên đóng cái khung có hàng chữ cuối cùng là runme lại để màn ảnh có thêm khoảng trống.

    [​IMG]

    Công việc đầu tiên là nên đọc Cuốn “Cẩm Nang Sử Dụng Đũa Thần Điện Toán“ bằng cách di chuyển hình mũi tên của con chuột vào phần đầu cùng phía bên trái của danh bạ có 22 hình biểu tượng, chúng ta thấy hình một bìa sách màu vàng.

    [​IMG]

    Hãy bấm vào hình này, tức thì chúng ta sẽ thấy có ba danh mục hiện ra phía dưới: Đũa Thần Điện Toán , Hướng Dẫn Tài Liệu, Làm Thẻ TVTC. Xin hãy Double Click vào phần Đũa Thần Điện Toán. Nội dung của cuốn cẩm nang sẽ hiện trên màn hình ở dạng PDF với kích thước được định sẵn là 48,1% chắc chắn sẽ khó đọc nên chúng ta cần tăng kích thước lên ở độ vừa phải là 100% bằng cách nhìn trên hàng đầu ở khoảng giữa có một ô màu trắng có mũi tên chúc ngược, quý vị bấm vào đó rồi bấm chọn hàng 100%. Quý vị có thể chọn một kích cỡ cao hơn, tuy chữ hiện ra sẽ lớn nhưng vượt quá khung của màn hình nên việc đọc phải mất công chuyển qua phải rồi qua trái để đọc những hàng chữ vượt quá khung.

    Bây giờ thì quý vị nên dành nhiều thì giờ đọc trọn phần tài liệu này để có một khái niệm tổng quát trước khi chọn những phần mà quý vị đang cần biết và cần có. Nếu mỏi mắt hoặc có việc cần khác thì quý vị bấm vào chữ thập đỏ thật lớn ở vị trí cuối cùng bên phía tay phải của 22 hình biểu tượng, quý vị sẽ thấy các hình biểu tượng lần lượt biến mất cho đến hàng cuối cùng, sau đó ở góc cuối của màn hình bên tay phải sẽ hiện ra hàng chữ “The USB….Device can now be safety removed from the computer.” lúc bấy giờ quý vị mới có thể rút ĐT hay BT ĐT ra một cách an toàn, còn nếu có chữ "can’t" thì nên kiểm soát lại xem có tài liệu hay thảo trình nào mình chưa đóng trước khi tắt danh bạ chính. Đôi khi có những trục trặc ngoài ý muố , mặc dầu đã kiểm soát rất kỹ mà vẫn không có dấu hiệu cho phép lấy Đũa Thần ra. Tốt nhất là hãy tắt máy điện toán hoàn toàn rồi mới lấy đũa thần ra (biện pháp này chỉ là tạm thời và bất đắc dĩ chứ không nên sử dụng thường xuyên)

    Trước khi sang phần khác, tôi có một vài từ ngữ chuyên môn thuộc lãnh vực điện toán cần trình bày:

    1/ Chữ CLICK và DOUBLE CLICK cho đến nay vẫn chưa thống nhất cách dùng chữ Việt. Chữ CLICK khá giản dị, có thể dùng chữ BẤM chứ không cần phải dài dòng là BẤM MỘT LẦN . Nhưng chữ DOUBLE CLICK dịch là BẤM HAI LẦN thì ý nghĩa vẫn không rõ rệt , vì bấm hai lần mà thời gian giữa hai lần bấm nếu quá một giây vẫn không có kết quả, nên phải dùng chữ BẤM HAI LẦN LIÊN TỤC. Từ ngữ vẫn hơi rườm rà. Nếu có thể được, xin đề nghị dịch chữ DOUBLE CLICK qua tiếng Việt là BẤM ĐÔI hay BẤM KÉP ( Chúng ta đã có từ ngữ MÓC ĐÔI, MÓC KÉP; mà chữ ĐÔI hay KÉP có ý nghĩa là hai phần phải liền nhau ) Tạm thời , tôi vẫn dùng nguyên ngữ tiếng Anh là DOUBLE CLICK. còn chữ BẤM CHỌN không thể thay thế cho chữ CLICK hay DOUBLE CLICK được.

    2/ PDF là chữ viết tắt của Portable Document Format, là dạng của Adobe System rất được thịnh hành cho cả máy điện toán MAC và PC trong việc chuyển tải các tài liệu qua điện thư, qua mạng internet hay phát hành sách báo vì có đặc tính là bảo vệ nguyên bản nên người đọc không thể thay đổi, thêm bớt hoặc chỉnh sửa dữ liệu, chỉ có thể tăng hay giảm kích cỡ của màn hình để dễ đọc mà thôi (dĩ nhiên có những thảo trình để thay đổi hoặc sửa chữa nội dung trong dạng PDF, nhưng không phải là phận sự của chúng ta)
     
  2. laongoandong

    laongoandong Người nhà

    Một vài trở ngại có thể xẩy ra .

    Khi quý vị đọc được cuốn Cẩm Nang Cách Sử Dụng ĐT&BT ĐT qua bài viết này thì không hẳn quý sẽ không còn gặp những trở ngại nào khác. Sỡ dĩ tôi phải quan tâm đến là vì những chương trình chống bọ điện toán ( anti-virus ) đã có sẵn trong máy của quý như Norton, McAfee, Kapersky… v.v… hình như không muốn kết bạn với chiếc ĐT&BT ĐT của chúng ta . Đó là điều dĩ nhiên , vì “ hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ “ ! Họ được giới tiêu thụ bỏ tiền ra mua thì nhiệm vụ của họ là tận tình tận lực để giữ vai trò bảo vệ máy điện toán một cách tối đa, Họ cũng có quyền xem mọi chương trình lạ là kẻ thù cần phải ngăn chận hoặc tiêu diệt .

    1.- Trường hợp “ lịch sự “ thì họ hỏi mình : Có muốn scan cái USB này không ? Hoặc mạnh bạo thì họ báo : Cái này có virus , ngài có muốn tôi truy lùng rồi tiêu diệt trước khi ngài sử dụng ? Cả hai trường hợp chúng ta đều phải trả lời NO .

    2.- Sau khi cắm ĐT vào máy, đôi khi phải chờ một lúc khá lâu mới có kết quả như hiện ra khung hình có hàng chữ “ Open folder to view files “ ; hoặc có sự trả lời rất là chậm như là một cụ lão chống gậy, mãi sau mới chạy lại mau bình thường . Sỡ dĩ có trường hợp như vậy vì chương trình chống bọ trong máy đang sử dụng phần tự động tra tìm vật lạ ( auto scan ) mà ĐT&BT có trên 450 thảo trình phải bị scan nên mới chậm và lâu như vậy. Đành chịu thôi. Qúy vị có thể khiếu nại đến hãng sản xuất để giải quyết tình trạng này .

    Bình thường, khi gặp bất cứ một trở ngại nào , qúy vị cần phải tin tưởng BT&ĐT ĐT là trong sạch, là " không có một chút vướng bụi trần nào cả “ ! nên chúng ta cần xem xét để hiểu rõ nguyên nhân từ trong máy điện toán của quý vị chứ không nên quả quyết ngay là tự Chiếc Đũa Thần có trục trặc .

    Có rất nhiều trường hợp khi lần đầu sử dụng ĐT&BT ĐT ta gặp nhiều trở ngại, nhưng sau một vài lần thử đi thử lại thì nó chạy bình thường, như kiểu “ ban ngày thì mắc cỡ, tối ở quên về “.Cũng giống như những cuộc hôn nhân gượng ép ngày xưa của các thế hệ trước chúng ta : Chẳng hề quen biết nhau nên không thể có chữ “tình yêu” như thời đại Xuân Diệu, TTKH v.v…Thế mà ở với nhau rồi cũng keo sơn gắn bó . Hy vọng là mối tình giữa Đũa Thần và các chương trình chống sâu bọ điện toán sẽ trở nên mặn nồng , nhất là chúng ta có thể sử dụng được Sandboxie .

    Cuộc chiến giữa các chương trình chống sâu bọ với BT&ĐT ĐT có thể không dễ dàng chấm dứt đâu ,. Nếu cuộc tình bị gẫy cánh giữa đường , có nghĩa là chúng ta không thể sử dụng được Sandboxie, phần qúy vị phải có một chọn lựa :

    a/ Vẫn giữ chương trình chống bọ điện toán có sẵn trong máy. Thật sự những chương trình nổi tiếng này như Norton, McAfee , Kaspersky v.v…hoạt động khá tốt đẹp, có thể bảo vệ sự an toàn của máy trên 90% , tiện lợi, thoải mái vì luôn luôn được tự động cập nhật hóa, thỉnh thoảng tự động hoặc đề nghị chúng ta scan toàn diện máy, rồi đánh giá mức an toàn của máy quý vị . Chỉ có một điều là khó có thể dùng Sandboxie phối hợp với Firefox Plus để tận hưởng những tuyệt chiêu của 72 phép thần thông . Chỉ có một cách duy nhất là trình bày những trở ngại cho hãng sản suất ra Norton hay McAfee .. để có thể họ cho một biện pháp khắc phục, hoặc cho thảo trình chống virus trên tạm ngưng hoạt động trong vòng vài tiếng để qúy vị có thể sử dụng Sandboxie . Nếu không có biện pháp nào, dĩ nhiên “bỏ thì thương, vương thì tội “. Đành phải có sự chọn lựa dứt khoát : Một là “ giữ trọn tình quê “, còn ngược lại thì : “ thôi chia ly từ đây “ !!!

    b/ Tháo bỏ hẳn chương trình sáng giá Anti-Virus trong máy để thay thế một chương trình rất căn bản và miễn phí như : AVAST, AVG v..v… Những chương trình này thực sự chỉ giữ vai trò người soát vé trước khi bước vào mạng. Sau khi đã vào được Sandboxie phối hợp với Firfox Plus thì tình trạng an ninh của máy sẽ đạt được gần 99% cộng thêm những thú vị khác. Vậy thì sự hy sinh này có xứng đáng được bồi đắp hay không ? Nhất là nếu còn gặp trở ngại thì cứ tìm đến Ông P324530 , mọi sự sẽ được giải quyết thỏa đáng . Vậy thì : “ Còn chần chừ gì nữa ?!!! “

    3.- Trong khi sử dụng một trong 22 hình biểu tượng ( cộng thêm với dấu gạch chéo màu đỏ để tắt và rút ĐT ) , phần nhiều là phần trên khung hình của Windows Explore chìm trong 22 hình biểu tượng. Nên sau khi sử dụng một thảo trình nào đó và muốn tìm dấu gạch chéo màu đỏ ở ngay góc phải để tắt thảo trình cũng không được, vì mỗi lần chuyển mũi tên của con chuột vừa đến gần là một hay hai hình biểu tượng trồi ra phía trước như kiểu tranh giành để được phục vụ : “ Tôi đây! Tôi đây ! Qúy đang gọi tôi hả ? Cho dù mũi tên của con chuột đang ở ngay vị trí dấu chéo đỏ, nhưng mỗi khi một hay hai hình biểu tượng trồi ra phía trước mà qúy vị bấm nút bên trái của con chuột, tức thì một trong hai thảo trình có hình biểu tượng trồi ra ngoài sẽ hoạt động . Thê là qúy vị có hai khung hình của Windows Explore , cái mới thì hiện trên màn hình còn cái cũ nằm ở cuối màn hình .

    Quý vị cần phải tắt tất cả các thảo trình đang sử dụng trong 22 danh bạ trước khi tắt danh bạ chính và rút USB ra khỏi máy. Vậy thì phải làm sau ? Rất dễ, chỉ cần chuyển mủi tên của con chuột vô thẳng trong hình 22 biểu tượng, có thể thẳng ngay một hình biểu tượng hoặc hai hình đang trồi ra tranh giành, quý vị bấm nút phải của con chuột ( phải nhớ là nút bên PHẢI ) . Một khung chữ hiện ra , khởi đầu là : Icon setting, kế tiếp là Add Item v.v..Hãy chuyển mủi tên xuống hàng Screen Position . Ngay tức thì sẽ có một khung chữ bên cạnh gồm : Top, Bottom, Left , Right . Hãy bấm vào chữ Right, tức thì toàn bộ 22 hình biểu tượng sẽ chuyển tới phía bên phải của chúng ta . Bây giờ chúng ta có thể từ từ tắt tất cả các thảo trình của danh bạ chính mà không bị “ cản mũi ky đà “ nữa .

    Sau khi đã đọc trọn vẹn Cuốn Cẩm Nang số 1, mọi người chúng ta đã có một khái niệm về nội dung của ĐT&Bt ĐT cùng như các thảo trình căn bản . Chúng ta sẽ có dịp bàn thêm nhiều chi tiết ở những bài viết khác .


    Còn tiếp
     
  3. laongoandong

    laongoandong Người nhà

    KHO TÀNG KIẾN THỨC

    Sau khi đã đọc xong toàn bộ cuốn Cẩm Nang Sử Dụng ĐT & BT ĐT, bước kế tiếp cũng trong hình biểu tượng cặp giấy màu vàng, xin quý vị Double Click vào hàng chữ Hướng Dẫn Tài Tiệu bên cạnh. Nhiều tiết mục được liệt kê trong khung Windows Explores như: Âm Nhạc, Nấu ăn, Slideshow , Sách Giáo Khoa, Phim v.v… Tôi sẽ lần lượt đề cập tới từng tiết mục một . Trước hết là âm nhạc.

    ÂM NHẠC
    Ngay từ khi có muôn loài sinh vật sống trên quả địa cầu này thì đã có âm thanh để trao đổi, thông tin cho nhau, diễn tả những hỷ lạc ái ố trong cuộc sống hàng ngày. Loài người vốn sẵn thông minh lại có đủ phương tiện để ghi lại những âm thanh trầm bổng của ngôn ngữ và phát minh những dụng cụ phát ra những âm thanh cao thấp để phụ họa cho lời hát, thể hiện rõ những tư tưởng và tình cảm đến cho mọi người. Thanh nhạc (âm thanh của ngôn ngữ) và Khí nhạc (dụng cụ phát ra âm thanh) là một tổng hợp cần thiết cho danh từ ÂM NHẠC.
    Từ thuở Hồng Hoang cho đến nền văn minh hiện đại, âm nhạc luôn luôn phát triển không ngừng qua rất nhiều giai điệu, nhưng vẫn có một đặc tính chung: Âm nhạc là một ngôn ngữ quốc tế. Cho dù ta không hiểu hoàn toàn về ngôn ngữ của từng dân tộc, nhưng khi nghe âm điệu của âm nhạc ta vẫn thấy tâm hồn giao động và biến chuyển theo những âm thanh của một bài hát, một bản hòa tấu v.v… Chính vì những đặc tính này mà âm nhạc cũng đã trở thành một liệu pháp để chữa bệnh như: làm giảm những kích động, đưa bệnh nhân vào trạng thái thư giãn, buồn ngủ. Trong chiến tranh, âm nhạc được dùng như một sức mạnh tinh thần cho đồng đội vối những bản hùng ca, nhưng cũng có thể làm chùn bước oai hùng của các chiến sĩ với những bản tình ca ướt lệ v.v…

    LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM

    Âm nhạc thường có trước sự xuất hiện của chữ viết, và lịch sử âm nhạc cũng gắn liền và song song với lịch sử dân tộc. Mỗi dân tộc đều có một lịch sử âm nhạc khác nhau. Riêng Việt Nam thân yêu của chúng ta, nền âm nhạc rất đa dạng và phong phú. Đa dạng vì sự thành hình của Nước Việt có một chiều dài lịch sử trên 4 ngàn năm với bao nhiêu thăng trầm, Phong phú vì mỗi một lãnh vưc âm nhạc của Việt Nam có những nét riêng của từng Miền và mỗi Miền cũng có những dấu tích lịch sử riêng và có ít nhiều ảnh hưởng của người láng giềng hay dân tộc thiểu số. Âm nhạc vẫn là phương tiện để người dân thể hiện mọi cảm xúc của mình về hiện tình đất nước, về thế giới xung quanh, như tình yêu đôi lứa, lòng căm thù hay sự buồn giận, chán nản. Âm nhạc Việt Nam còn sớm thể hiện những tư tưởng tôn giáo, đời sống tâm linh và phong tục tập quán của dân tộc.

    Muốn hiểu rõ nền âm nhạc Việt Nam trong cả hai lãnh vực là Cổ Nhạc và Tân Nhạc, trước hết xin trình bày rất ngắn gọn về sự thành hình của nước Việt Nam:
    Theo một số sách cổ sử, các tộc người Việt cổ (Bách Việt) lập quốc đầu tiên từ năm 2879 Trước Công Nguyên tại vùng Hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) ở miền Lĩnh Nam, bao gồm một vùng rộng lớn phía nam sông Trường Giang của Trung Quốc hiện nay đến vùng đồng bằng sông Hồng, sông Mã ở miền bắc Việt Nam. Người Lạc Việt là một trong những nhóm tộc Việt ở phía nam (ngày nay là miền bắc Việt Nam) đã thành lập nước Văn Lang do các vua Hùng cai trị, đóng đô ở Phong Châu (thuộc Phú Thọ ngày nay) Đến thế kỷ thứ 3 TCN (viết tắt của chữ: Trước Công Nguyên), vua Hùng Vương thứ 18 đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tần. Sau khi thắng quân Tần, Vua Hùng đã nhường ngôi cho Thục Phán, sát nhập lãnh thổ của người Âu Việt và Lạc Việt và lập nên nước Âu Lạc, đóng đô tại Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay. Ông tự xưng là An Dương Vương.
    Nước Âu Lạc của An Dương Vương bị Triệu Đà thôn tính năm 208 trước Công Nguyên . Năm 111 TCN, quân của Hán Vũ Đế xâm lược nước Nam Việt và sáp nhập Nam Việt vào đế chế Hán. Kế tiếp nhà Tùy, nhà Đường đô hộ Việt Nam gần 300 năm. Cuối thế kỷ 9 nhà Đường bị suy yếu trầm trọng sau cuộc nổi loạn của Hoàng Sào. Đến năm 905, một hào trưởng địa phương người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm giữ thủ phủ Đại La, bắt đầu thời kỳ tự chủ của người Việt sau hơn một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ. Khúc Thừa Dụ đã xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt. Năm 939 Ngô Quyền xưng vương sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng trước đoàn quân Nam Hán, đến năm 968 Đinh Bộ Lĩnh xưng đế và đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đại Cồ Việt trải qua các triều đại nhà Đinh, nhà Tiền Lê và thời kỳ đầu của nhà Lý. Năm 1054 vua Lý Thánh Tông đổi tên thành Đại Việt, và nước Đại Việt trải qua nhiều chế độ phong kiến: Nhà Lý (1009-1225), Nhà Trần (1226-1400), Nhà Hồ (1400-1407), nhà Lê sơ (1428-1527), Nhà Mạc (1527-1592), Nhà Lê Trung Hưng (1533-1789), Nhà Tây Sơn (1778-1802).

    Trong thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, lãnh thổ Đại Việt đã được mở rộng thêm từ dãy Hoành Sơn (bắc Quảng Bình) tới đèo Cù Mông. Vua Gia Long là vị vua đầu tiên cai trị một đất nước thống nhất với hai đồng bằng phì nhiêu nối với nhau bằng một dải duyên hải, Năm 1804 ông cho đổi tên nước từ Đại Việt thành Việt Nam.

    Vua Gia Long (1802-1820) đóng đô ở Huế, ông cho xây dựng kinh đô Huế tương tự như Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh (Trung Quốc). Gia Long và con trai Minh Mạng (cai trị 1820-1841) Tháng 8 năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn. Vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Nhưng người Pháp không dừng tại đây, đã chiếm luôn ba tỉnh miền Tây để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa.Từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm những phần còn lại của Việt Nam. Ngày 11 Tháng 3 năm 1945 khi quân đội Nhật Bản làm cuộc đảo chánh lật đổ chính phủ Bảo hộ của Pháp, được sự hậu thuẫn và kiểm soát của Nhật, hoàng đế Bảo Đại
    có ra một chiếu chỉ với nguyên văn:

    "Theo tình hình thế giới nói chung và hiện tình Á Châu, chính phủ Việt Nam long trọng công bố rằng: Kể từ ngày hôm nay, Hòa ước Bảo hộ ký kết với nước Pháp được hủy bỏ và vô hiệu hóa. Việt Nam thu hồi hoàn toàn chủ quyền của một quốc gia độc lập."

    Nước Việt Nam lại thoát khỏi tình trạng Pháp thuộc hơn 80 năm. Nhưng không bao lâu
    Hiệp Định Ba Lê ra đời rồi đến cuộc chia đôi đất nước năm 1954 với trên một triệu người phải khó khăn lắm mới được di cư vào Nam , được sống một khoảng thời gian ngắn Thanh Bình dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng Thống Ngô Đình Diệm,sau đó Ngài bị thảm sát để vận nước đắm chìm trong cuộc Nội Chiến Huynh Đệ Tương Tàn….Rồi 30 Tháng Tư 1975 lại có nhiều triệu người Việt vì Tự Do đã liều chết để bỏ nước ra đi trên những chiếc thuyền mỏng manh , phải bỏ mình trên biển vì sóng cả Đại Dương và cũng vì nạn hải tặc Thái Lan man rợ hãm hại. Cuối cùng chỉ đến được bến bờ tự do trên một triệu người. Thật quá thảm thương .

    Tên gọi của Việt Nam qua các thời như sau:

    Thời Hồng Bàng

    • Xích Quỷ: Thời Kinh Dương Vương vào năm 2879 TCN
    • Văn Lang: Thời Hùng Vương
    • Âu Lạc: Thời An Dương Vương

    Thời Bắc thuộc

    * NAM VIỆT: thời nhà Triệu, vương quốc Nam Việt gồm lãnh thổ Âu Lạc, Quảng Đông, Quảng Tây
    * GIAO CHỈ BỘ: Bắc thuộc thời Hán, bộ Giao Chỉ gồm miền bắc Việt Nam, Quảng Đông, Quảng Tây
    • GIAO CHÂU: Bắc thuộc từ thời Đông Ngô đến thời Đường, Giao Châu bao gồm cả Quảng Đông
    • LĨNH NAM: Giai đoạn độc lập ngắn dưới thời Hai Bà Trưng (40-43)
    • VẠN XUÂN: Giai đoạn độc lập ngắn dưới thời nhà Tiền Lý năm (542-602)
    • AN NAM: Bắc thuộc thời Đường (618-866)
    • TỈNH HẢI QUẬN: tiếp tục trong thời thuộc Đường qua thời Tự chủ tới hết thời nhà Ngô (866-967)

    Thời phong kiến độc lập

    • ĐẠI CỒ VIỆT: thời Nhà Đinh-nhà Tiền Lê và đầu thời Nhà Lý, từ 968-1054
    • ĐẠI VIỆT: thời Nhà Lý-Nhà Trần, từ 1054-1400
    • ĐAI NAM: thời Nhà Hồ, từ 1400-1407
    • ĐẠI VIỆT: thời Nhà Hậu Lê-Nhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn, từ 1428-1804
    • VIỆT NAM: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1804-1839
    • ĐẠI NAM: thời Nhà Nguyễn, từ năm 1839-1887

    Thời Pháp thuộc

    • LIÊN BANG ĐÔNG DƯƠNG: Từ năm 1887, Pháp chia Việt Nam ra làm 3 xứ tương đương với 3 vương quốc là Tonkin (Bắc kỳ), Annam (Trung kỳ), Cochinchine (Nam kỳ), cả 3 đều nằm trong Liên bang Đông Dương
    Giai đoạn từ năm 1945 đến hiện nay
    • ĐẾ QUỐC VIỆT NAM: tháng 4 năm 1945 - tháng 8 năm 1945 dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim
    • QUỐC GIA VIỆT NAM: 1949 - 1955 với quốc trưởng Bảo Đại do Pháp dựng lên
    • VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HÒA – Từ 1955 tới nay
    • VIỆT NAM CỘNG HÒA: từ 1955 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại miền Nam Việt Nam

    Việt Nam có ba miền tuy cùng một ngôn ngữ như lại phát âm khá khác biệt cộng thêm có nhiều sắc dân thiểu số nhưng vẫn giao tiếp với nhau, và dĩ nhiên cũng ảnh hưởng lẫn nhau, đó là chưa kể đến nền âm nhạc của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng khá nhiều với những quốc gia lân bang như Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Cao Miên.
    Với một phạm vi tương đối giới hạn, tôi không thể đi sâu vào nhiều chi tiết, nếu không sẽ trở thành một bài biên khảo thật dài dòng, nên chỉ xin được tóm gọn vào những yếu tố chính và cần thiết: Âm Nhạc Việt Nam được chía làm hai loại chính là Cổ Nhạc và Tân Nhạc.

    1.- Cổ Nhạc Việt Nam:

    Nền cổ nhạc Việt Nam quả thật rất đa dạng và phong phú vì những đặc tính và bản sắc dân tộc của từng vùng, trải dài từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau, qua rất nhiều thể loại sau đây :

    a.- Chèo

    Là sắc thái cổ nhạc của Miền Bắc Việt Nam, là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian, bắt nguồn từ những điệu múa, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10. Chèo mang tính quần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự, trữ tình. Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có đại diện tiêu biểu là Kinh kịch của Bắc Kinh và sân khấu Nhật Bản là kịch nô thì đại diện tiêu biểu nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam là chèo. Chèo luôn gắn với chất "trữ tình", thể hiện những xúc cảm và tình cảm cá nhân của con người, phản ảnh mối quan tâm chung của nhân loại: tình yêu, tình bạn, tình thương. Diễn viên đóng chèo nói chung là những người không chuyên nghiệp, hợp nhau trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi là phường chèo hay phường trò..."Hề" là một vai diễn thường có trong các vở diễn chèo. Anh hề được phép chế nhạo thoải mái. Các cảnh diễn có vai hề là nơi để cho người dân đả kích những thói hư tật xấu của xã hội phong kiến hay kể cả vua quan, những người có quyền, có của trong làng xã. Có hai loại hề chính bao gồm: hề áo dài và hề áo ngắn. Chèo sử dụng tối thiểu là hai loại nhạc cụ là đàn nguyệt và đàn nhị đồng thời thêm cả sáo nữa. Ngoài ra, các nhạc công còn sử dụng thêm trống và chũm chọe. Bộ gõ nếu đầy đủ thì có trống cái, trống con, trống cơm, thanh la, mõ. Trống con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa và đệm cho câu hát.
    Vào thế kỷ 15 Vua Lê Thánh Tông không cho phép biểu diễn chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng. Chèo trở về với nông dân, kịch bản lấy từ truyện viết bằng chữ Nôm. Tới thế kỷ 18, hình thức chèo đã được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này. Đến thế kỷ 19, chèo ảnh hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai.
    Chèo được phân biệt làm bốn loại chính :
    - Chèo sân đình: thường biểu diễn ở các sân đình, sân chùa và sân nhà quyền quý.
    - Chèo cải lương: được canh tân và soạn thành màn có bài bản thứ lớp.
    - Chèo chái hê: có nguồn gốc từ việc kết nghĩa giữa hai làng Vân Tương và Tam Sơn, là loại hình dân ca hát vào rằm tháng bảy hoặc trong đám tang, đám giỗ của người có tuổi thọ.
    - Chèo hiện đại:
    Thái Bình là một trong những cái nôi của những làn điệu hát chèo
    Hưng Yên: làng chèo Thiết Trụ Bắc Giang: làng chèo Tân Mỹ Hà Nội: làng chèo Xa Mạc
    Ninh Bình: làng chèo Phúc Trì

    b.- Xẩm

    Là một loại dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc Việt. Những người hát xẩm - thường là người khiếm thị đi hát rong kiếm sống nơi bến đò, chợ búa hay lang thang trên những nẻo đường …và do đó hát xẩm còn có thể coi là một nghề.Ca từ của Xẩm là thơ lục bát, lục bát biến thể để có thêm tiếng láy, tiếng đệm cho phù hợp với làn đệu. Những bài thơ thường được diễn ca trong hát Xẩm là những bài thơ của Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính v.v…
    Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh. Nhóm hát xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn.
    Xẩm có hai làn điệu chính là xẩm chợ và xẩm cô đào. Hát xẩm chợ, điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều, hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách; còn hát xẩm cô đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng. Hát xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị. Ngoài ra xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Phía Bắc như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,... hoặc ngâm thơ các điệu bồng mạc, sa mạc v. .v..

    d.- Dân ca quan họ

    Là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bắc Việt; tập trung ở vùng văn hóa Kinh Bắc - tức Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng..
    Quan Họ phổ thông là lối hát giao duyên đối dáp giữa nam giới và nữ giới. Kịch bản có thể diễn ra theo nội dung các câu hát đã được chuẩn bị từ trước hoặc tùy theo khả năng ứng biến của hai bên hát.
    Quan họ được lưu truyền trong dân gian từ đời này sang đời khác qua phương thức truyền khẩu. Phương thức này là một yếu tố giúp cho Quan họ trở thành một loại hình dân ca có số lượng lớn bài hát với giai điệu khác nhau. Tuy nhiên, cũng chính phương thức này đã làm cho các bài Quan họ lưu truyền trong dân gian bị biến đổi nhiều, thậm chí khác hẳn so với ban đầu. Nhiều giai điệu cổ đã mất hẳn.

    e.- Hát văn

    Còn gọi là chầu văn hay hát bóng, là một loại hình nghệ thuật ca hát cổ truyền của Việt Nam. Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng Tứ phủ (Đạo Mẫu) và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ( Đức Thánh Vương Trần Hưng Đạo) , một tín ngưỡng dân gian Việt Nam bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời văn chau truốt nghiêm trang. Chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ý nghĩa chầu thánh . Hát văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Phần.
    Hát văn có nhiều hình thức biểu diễn bao gồm là hát thờ, hát thi, hát hầu (hát phục vụ hầu đồng, lên đồng ), và hát văn nơi cửa đền. Chầu văn sử dụng nhiều thể thơ khác nhau như thơ thất ngôn , song thất lục bát, lục bát, nhất bát song thất ( có thể gọi là song thất nhất bát gồm có một câu tám và hai câu bảy chữ ) ,
    Hát văn là lễ nhạc hát chầu Thánh nên có vai trò quan trọng trong lễ hầu đồng. Lời ca, tiếng nhạc của cung văn nhằm mời gọi các vị Thánh về. Hát văn làm cho buổi lễ sống động. Những người hát văn vừa chơi nhạc cụ vừa thay nhau hát trong một vấn hầu thường kéo dài từ 4-8 tiếng
    Các nhạc cụ chính gồm đàn nguyệt , trống ban ( trống con), phách, cảnh, thanh la, ngoài ra còn sử dụng nhiều nhạc cụ khác như: trống cái, sáo, đàn thập lục, đàn nhị, kèn bầu, chuông, mõ...

    f- Hát ca trù hay hát ả đào

    Ca Trù có lẽ khởi đầu là một loại ca trong cung đình được giới quý tộc và trí thức yêu thích. thịnh hành từ thế kỷ 15 thời nhà Lê nhưng mãi tới đầu thế kỷ thứ 19 mới có những tác phẩm nổi tiếng được lưu truyền tới ngày nay như những tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Bao Bá Quát v.v... Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc.
    Ca trù trải dài khắp 15 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
    Một chầu hát cần có ba thành phần chính:
    1. Một nữ ca sĩ (gọi là "đào" hay "ca nương") sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,
    2. Một nhạc công nam giới (gọi là "kép") chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát
    3. Người thưởng ngoạn (gọi là "quan viên", thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.
    Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là "tức tịch," nghĩa là "ngay ở chiếu."

    g.- Ca Huế

    Là một thể loại âm nhạc cổ truyền rất đặc biệt của xứ Huế, bao gồm ca và đàn, nhưng lại khá gần gũi với lối hát ả đào.
    Nếu kinh đô Thăng Long xưa từ trong cung phủ đã có một lối hát cửa quyền được lan truyền xuống dân gian thành lối hát chuyên nghiệp Ả Đào vẫn thịnh đạt dưới thời vua Lê chúa Trịnh, thì kinh đô Phú Xuân sau này, hoặc là đã từ trong dinh phủ của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phát tán thành một lối gọi là ca Huế (gồm cả ca và đàn). Vậy cũng có thể gọi Ca Huế là một lối hát Ả đào của người Huế. Ca Huế mang sắc thái địa phương rất rõ nét bởi vì nó gắn chặt với đặc điểm ngữ âm và ngữ điệu của giọng nói xứ Huế, hoặc nói một cách khác có mối quan hệ gắn bó với nền âm nhạc dân gian - dân ca xứ Huế. Đây là một đặc điểm trong tiến trình phát triển của Ca Huế và cũng là một đặc điểm của nền âm nhạc cổ truyền xứ Huế.
    Ca Huế là một hệ thống bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu chính là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống "hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán. Các bài bản thuộc điệu Bắc thường mang tính chất vui tươi, trong sáng, trang trọng, linh hoạt gồm có: Cổ bản, Lộng điệp, Long ngâm, Lưu thủy, Phú lục, và 10 bản Tàu (thường gọi là thập thủ liên hoàn hay 10 bản Ngự): Phẩm tiết, Nguyên tiêu, Hồ quảng, Liên hoàn, Bình bản, Tây mai, Kim tiền, Xuân phong Long hổ, Tẩu mã. Các bài bản thuộc điệu Nam mang tính chất buồn thương, bi ai, vương vấn như các bản: Nam bình, Nam ai, Quả phụ, Nam xuân, Tương tư khúc, Hành vân, Tứ đại cảnh.
    Bài bản Ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố "chuyên nghiệp" bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ gồm các loại đàn Tranh, Tỳ Bà, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với đàn Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế.

    h.- HÁT BỘ

    Tuồng, tức hát bộ, còn gọi là hát bội hay luông tuồng là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền ở Việt Nam.
    Hầu hết các học giả nghiên cứu kinh kịch Trung Quốc đều xác nhận kinh kịch là loại kịch của Thanh triều tại kinh thành Bắc Kinh, tức "Bắc Kinh kịch nghệ". Còn hát bộ của Việt Nam là hát diễn tương tự kinh kịch nhưng theo "Kinh điển kịch lệ". "Bộ" đây có nghĩa là diễn xuất của nghệ sĩ đều phải phân đúng từng bộ diễn. Vì vậy mới gọi là "hát bộ", "diễn bộ", "ra bộ". Gọi là “hát bội” bởi trong nghệ thuật hóa trang, đào kép phải đeo, phải giắt (bội) những cờ phướng, lông công, lông trĩ …lên người. Theo nhà nghiên cứu Vũ Khắc Khoan, cả hai tên gọi ấy đều đúng .
    Ba trường phái lớn trong hát bộ là:
    1. Tuồng cung đình Huế
    2. Tuồng Quảng Nam
    3. Tuồng Bình Định

    Lối diễn xuất thường được khuếch đại hơn sự thật ngoài đời để khán giả dễ cảm nhận. Các động tác càng nhỏ càng nhanh, khi lên sân khấu càng cần tăng cường điệu thì khán giả mới kịp nhận thấy. Kiểu cách đi đứng còn dùng để biểu lộ cái "tâm" của nhân vật thiện, ác. Nhất nhất đều phân thành từng bộ riêng, không thể diễn bộ "Trung" cho vai đứa "Hèn" hay đứa "Nịnh". Thậm chí lên ngựa xuống ngựa còn phân biệt Bộ của trung tướng khác bộ dạng nịnh thần. Mọi động tác đã thành thông lệ hay ước lệ. Nhất là vào thời trước khi kỹ thuật âm thanh và ánh sáng chưa đáp ứng được cho nghệ thuật trình diễn, hình ảnh diễn xuất chưa thể kéo lại nhìn gần, không thể "trung cảnh", "cận cảnh", làm tăng cường độ các động tác giúp khán giả xem được toàn cảnh, dù ngồi xa hay gần sân khấu đều nhìn thấy.
    Hát bộ là nghệ thuật mang nặng tính ước lệ. Các diễn viên hát bộ phân biệt từ mặt mũi, râu tóc, áo quần để rõ kẻ trung nịnh, người sang hèn, ai thô lậu, thanh tú, ai minh chánh, gian tà. Sắc đỏ được dùng dặm mặt để biểu hiện vai trung thần; màu xám là nịnh thần; màu đen là kẻ chân thật; màu lục là hồn ma.
    Dàn nhạc dùng trong hát bội gồm có những nhạc cụ như: trống chiến, đồng la, kèn, đờn cò và có khi ống sáo. Dàn nhạc được đặt bên tay phải sân khấu (từ trong nhìn ra). Tay phải ứng với cửa "sinh" trong khi bên trái là cửa "tử".

    e.- Cải lương

    Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ.
    Giải thích chữ “cải lương” theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: “cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản.
    Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy “có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918″, nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới bành trướng, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ để chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách…nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ…”
    Tại miền Nam Việt Nam, thập niên 60 là thập niên hưng thịnh nhất của cải lương miền Nam, lấn át cả tân nhạc. Các sân khấu cải lương được đông khán giả đến xem hàng ngày, nên ngày nào cũng có diễn xuất, nhờ đó, các soạn giả và nghệ sĩ có cuộc sống khá sung túc, và một số ca sĩ tân nhạc phải tìm cách chuyển nghề sang hát cải lương. Riêng tại vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định đã có trên 39 rạp hát cải lương và 20 nơi luyện cổ nhạc (gọi là "lò"), trong đó có những "lò" nổi tiếng như của Út Trong (từng là trưởng giàn cổ nhạc của gánh Thanh Minh suốt 13 năm, và là người đã huấn luyện Thanh Nga từ lúc còn thơ ấu), Văn Vĩ, Duy Trì, Huỳnh Hà, Tư Tân, Yên Sơn, Ba Giáo v.v.. Trong những giải thưởng của ngành Cải lương thời đó, nổi tiếng và uy tín có giải Thanh Tâm, do ông ký giả Thanh Tâm (tên thật là Trần Tấn Quốc) thành lập, hoạt động từ năm 1958 đến năm 1968, mà người nhận giải đầu tiên là nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Những soạn giả tuồng nồi tiếng trong thời này có Năm Châu, Hà Triều, Hoa Phượng, Bảy Cao, Thiếu Linh, Thu An, Viễn Châu ( sáng tạo hình thức tân cổ giao duyên, tức là hát cải lương chung với tân nhạc). Những gánh hát cải lương nổi tiếng thời này có đoàn Thanh Minh, Thống Nhứt, Tiếng Chuông Vàng,... với những nghệ sĩ như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Hùng Cường, Tấn Tài, Dũng Thanh Lâm, Minh Cảnh, Minh Vương, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Thanh Kim Huệ, Thanh Thanh Hoa, v.v.
    Trong các vở tuồng cải lương những bài ca vọng vổ đã giữ vai trò rất trọng yếu , nên có thể nói, một vở tuồng cài lương nếu không có các câu vọng cổ là mất đi quá nửa cái thi vị của vở tuồng. Cứ mỗi lần sau câu nói lối rồi xuống một câu thật “mùi” là tiếp theo sau một tràng pháo tay tưởng thưởng rất nồng nhiệt . Câu nói lối càng dài chừng nào thì nghệ sĩ phải cần có làn lơi thật phong phú mới không bị dứt đoạn, và chứng tỏ được công phu điêu luyện đáng được tưởng thưởng bằng những tràng pháo tay thật dài cho nghệ sị đó.

    VỌNG CỔ

    Vọng cổ, hay vọng cổ Bạc Liêu, là một điệu nhạc rất thịnh hành ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, Việt Nam. Nó được bắt nguồn từ bài "Dạ Cổ Hoài Lang" (nghe tiếng trống đêm, nhớ chồng) của nghệ sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu). Bản vọng cổ là một trong những điệu nhạc căn bản của sân khấu cải lương, gồm có :
    • Vọng cổ nhịp đôi
    • Vọng cổ nhịp tư
    • Vọng cổ nhịp tám
    • Vọng cổ nhịp mười sáu
    • Vọng cổ 32 nhịp

    Ngoài loại hình kịch hát có nguồn gốc từ vùng Đồng bằng Sông Cửu Long còn có một bộ môn cải lương khác gọi là Cải Lương Hồ Quảng.
    Dù không biết ai là người đầu tiên gọi đó là nghệ thuật hát cải lương hồ quảng, nhưng mọi người khán giả và nghệ sĩ sân khấu đều mặc nhận là hát cải lương có ca nhạc các bài bản của phim Đài Loan, đó là hát Hồ Quảng.

    ( Còn tiếp )
     
  4. laongoandong

    laongoandong Người nhà

    DÂN CA VIỆT NAM

    Dân ca Việt Nam rất là phong phú, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên. Tất cả những bài ca do dân quê sáng tác không biết ai là tác giả và không thuộc nhạc triều đình, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo thì được xếp vào loại dân ca.

    Nước Việt Nam chúng ta với trên 80 triệu người Việt và 53 sắc tộc khác nhau thừa hưởng một truyền thống dân ca đa diện. Dân ca lại mang một màu sắc địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói từng vùng mà khác đi đôi chút. Nhưng nhìn chung, vẫn là bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất mộc mạc, giản dị, phát xuất từ môi trường nông ngư nghiệp ở thôn làng, rất có thể bắt đầu từ một cá nhân có năng khiếu dệt nhạc vào một bài ca dao (thơ dân gian), rồi được truyền miệng và nhào luyện, uốn nắn, gọt dũa qua nhiều người trong tập thể, từ làng này đến làng khác, từ thời này qua thời khác nên sinh ra nhiều bản khác nhau, khó xác định được nguồn gốc phát xuất.
    Dân ca đã góp phần không nhỏ trong các sinh hoạt của cuộc sống, như:

    - Hỗ trợ các thao tác lao động trên cạn (như ru con, em, cháu, xay lúa, giã gạo, tát nước, phát cỏ, nện vôi, dệt vải, hái củi, kéo ghỗ, ...), trên nước (như chèo thuyền,ghe, đẩy thuyền, thả lưới...)
    - Giải trí: nhằm giúp thư giãn thể xác, giải tỏa tinh thần lúc nghỉ ngơi.
    - Giao tiếp: tạo cơ hội cho nam nữ trao đổi tâm tình.
    - Thông tin, giáo hóa, hoặc bày tỏ nỗi niềm.
    - Tế tự: giúp con người tương quan với thế giới "siêu nhiên" (chẳng hạn với ông bà tổ tiên, thánh hiền đã quá cố, nhất là với "Ông Trời," hoặc với Đấng Siêu Việt...). Ngoài ra, có sự tương tác qua lại giữa nhạc thính phòng, nhạc tuồng và Dân ca, trong đó Dân ca có vẻ như là một thành viên uy tín, luôn giữ được địa vị của mình mà không bị biến đổi bởi các thể loại khác. Sau đây là những bản dân ca rất phổ thông, không những thường dùng trong các bộ môn cổ nhạc đã nói ở phần trước ( như Chèo, Quan Họ v.v…) mà còn được phổ theo những âm điệu Tân Nhạc được nhiều người biết tới:
    *Bèo dạt mây trôi* là một bài hát dân ca Việt Nam, với nội dung thể hiện nỗi nhớ của người con gái đối với người yêu ở phương xa. Khó có thể xác định được nguồn gốc của bài nhưng phần lớn đều cho rằng bài xuất xứ từ quan họ Bắc Ninh, trong khi đó các phương tiện thông tin đại chúng lại nhận định bài là dân ca đồng bằng Bắc Phần, là dân ca Nghệ Tĩnh .
    Bài hát diễn tả cảnh người con gái ngồi một mình trong đêm khuya chờ chàng trai đang đi xa, thao thức đợi chờ, mong ngóng ngày đêm. Mỗi tiếng trống canh thúc dồn dập như báo thời gian đã trôi qua, tạo cho người nghe những âm hưởng và xúc động qua những câu:

    ...Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi, anh ơi, em vẫn đợi...
    ...Ngậm một tin trông, hai tin đợi, ba bốn... tin chờ, sao chẳng thấy anh...?
    ...Người đi xa có nhớ, là nhớ ai... ngồi trông cánh ... chim trời. Sao chẳng thấy anh?

    "Người ở đừng về" là tên một bài hát dân ca Quan họ Bắc Ninh nghe da diết, khẩn khoản như muốn níu kéo người nghe ở lại. Tình cảm của người hát với người nghe không chỉ thể hiện ở một câu hát, câu gọi mà thể hiện cả trong những câu dặn dò. Đến khi biết được rằng không thể níu kéo được, thì câu hát chuyển sang dặn người đi phải cẩn thận "sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua" và còn dặn với một câu khiêm nhường rằng, nếu gặp ai hơn thì kết còn ai bằng thì hãy đợi người hát. Trong mỗi đoạn hát đều có phần mở và kết chốt lại với câu "Người ơi! Người ở đừng về".

    Người ơi người ở đừng về
    Người về em vẫn khóc thầm
    Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa
    Người ơi người ở đừng về
    Người về em vẫn trông theo,
    Trông nước nước nước chảy, trông bèo bèo trôi
    Người ơi người ở đừng về
    Người về em nhắn tái hồi
    Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai

    *Ngồi tựa song đào* là tên một dân ca Quan họ Bắc Ninh. Bài hát này cùng với bài Ngồi tựa mạn thuyền được sử dụng trong phần đầu buổi hát giao duyên của nhóm nam và nhóm nữ . "Ngồi tựa song đào" thường được hát bởi nhóm các anh :
    Ngồi rằng là ngồi tựa í ơ có... mấy song ơi ơ.... đào
    Là ngồi tựa có a song đào ấy mấy đêm là đêm í hôm qua
    Ngồi rằng là ngồi tựa í ơ có... mấy song ơi ờ... đào
    Là ngồi tựa có a song đào.
    Hỏi người là người tri kỷ í ơ
    Cũng có a ra vào là ra vào có thấy vấn vương.
    Hử rằng là hội hừ
    Gió rằng là gió lạnh í ơ có... đêm ơi ờ … trường,
    Là gió lạnh suốt đêm đông trường, ấy mấy đêm là đêm í hôm qua
    Gió rằng là gió lạnh í ơ có...mấy đêm ơi ờ trường
    Là gió lạnh suốt đêm đông trường.
    Nửa chăn là chăn, nửa chiếu í ơ
    cũng có a nửa giường, là nửa giường để đó đợi ai.
    Hử rằng là hội hừ
    Ngắt rằng là ngắt nhuỵ í ơ có... mấy bông ơi ơ … huê nhài,
    là ngắt nhị cái bông huê nhài, ấy mấy đôi là đôi tay em
    Ngắt rằng là ngắt nhuỵ í ơ có... mấy bông ơi ơ … huê nhài,
    là ngắt nhị cái bông huê nhài
    Tay giơ ơ.. là giơ đón gió í ơ
    Cũng có a tay chòi là tay chòi đón gió ghẹo trăng
    Rủi i.. à may bởi tại ơ .… Hằng ới a là chị Hằng …

    CÒ LẢ

    Điệu Cò lả là một trong những làn điệu dân ca đồng bằng Bắc Phần Việt Nam. Điệu cò lả là một giai điệu có nhiều vần, nhưng sự du dương của giai điệu giống như một điệp khúc.
    Trước đây, điệu cò lả được hát bởi những người nông dân sống ở nông thôn nhưng ngày này đã được nhiều nghệ sĩ biểu diễn chuyên nghiệp trên sân khấu với sự biến đổi khác nhau về ngôn từ. Có thể nói bất cứ câu lục bát nào cũng có thể ghép vào để hát theo điệu cò lả.
    Con cò là cò bay lả í a lả lả bay la
    Bay từ là từ cửa phủ bay ra là ra cánh đồng
    Tình tính tang là tang tính tình
    Cô mình rằng ấy anh chàng ơi
    Rằng có biết biết hay không, rằng có nhớ là nhớ hay không?



    Hò là một loại ca hát rất phổ biến trong dân gian, là nét văn hóa của miền Trung và miền Nam. Có nguồn gốc lao động sông nước, diễn tả tâm tư tình cảm của người lao động. Hò và Lý tuy có phần giống nhau nhưng hò thường gắn liền với với một động tác khi làm việc còn Lý thì không.
    Một người có thể hò đại diện cho một tập thể đông người cùng một việc hay chỉ một mình để tâm sự với đất trời, sông nước, hay với một ai đó mà không dám trực tiếp thốt nên lời .v.v… Trong sinh hoạt nhất là vào những đêm trăng thường có những điệu hò giao duyên giữa hai bên đối đáp lại với nhau rất là hào hứng khi có được một nhóm toàn trai và một nhóm toàn gái. Trên sông nước khi đi ghe hay đò, người hò (có thể con trai hay con gái) thường hò điệu giao duyên giữa hai chiếc ghe, thuyền, đò gần nhau.
    Các loại hò phổ biến:

    - Hò Đồng Tháp
    - Hò kéo lưới
    - Hò giựt chì
    - Hò Qua sông hái củi
    - Hò khoan
    - Hò mái nhì
    - Hò mái đẩy
    - Hò mái ba Gò Công
    - Hò sông Mã
    - Hò khoan Lệ Thủy
    - Hò Giã gạo
    - Hò Xay lúa
    - Hò Kéo gỗ
    - Hò Đạp lúa

    HÁT RU

    Hát ru là những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ. Phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ các loại thơ hoặc hò dân gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ trước sang thế hệ sau. Do đó, những bài hát này rất đa dạng, mang tính chất địa phương, gần như mỗi gia đình có một cách hát riêng biệt.
    Trong hát ru thường chỉ chú ý đến lời (ca từ) còn giai điệu (nhạc lý) thì mỗi bà mẹ có một giọng trữ tình riêng nhưng vẫn gây ấn tượng sâu sắc trong suốt cả cuộc đời người con.
    Một số nghiên cứu gần đây cho thấy ru bằng những nguyên âm không thành câu ("humming") dễ làm trẻ ngủ hơn là hát thành bài có câu cú rõ rệt.
    Tôi xin liệt kê một số điệu ru tiêu biểu cho từng miền :

    Bắc Phần:

    - Con cò mà đi ăn đêm:
    À ơi ...
    Con cò mày đi ăn đêm
    Đậu phải cành mềm Lộn cổ xuống ao
    À ơi ...
    Ông ơi, ông vớt tôi nao
    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
    À ơi ...
    Có xáo thì xáo nước trong
    Đừng xáo nước đục Đau lòng cò con ...
    - Cái ngủ :
    Cái ngủ mày ngủ cho ngoan
    Để mẹ đi cấy đồng xa trưa về
    Bắt được con trắm con trê
    Thòng cổ mang về cho cái ngủ ăn
    Cái ngủ ăn không hết để dành đến tết mùng ba
    Mèo già ăn vụng, mèo ốm phải đòn
    Mèo con phải vạ, con quạ chết trôi
    Con ruồi đứt cánh, đòn gánh có mấu
    Củ ấu có sừng, châu chấu có chân
    Bồ quân có rễ, cây nghệ có hoa
    Cây cà có trái
    Con gái có chồng, đàn ông có vợ
    kẻ chợ buôn bè
    cây tre có lá, con cá có vây
    Ông thầy có sách, thợ gạch có dao
    Thợ cào có búa, xay lúa có giàn
    Việc làng có mỡ, ăn cỗ có phần
    cái ngủ mày ngủ cho lâu à…ơi…à…ơi

    Trung Phần:

    * Cái quán giữa đàng
    Bạn hàng trước ngõ
    Cây hương bên tàu
    nhỏ nhụy thơm xa
    (Chớ) anh có đi mô lâu
    cũng nhớ ghé vô thăm chén ngọc ve ngà
    dù gần cũng nghĩa
    dù xa cũng tình...

    * Bạn chào ta có ân có ái
    Ta chào lại bạn có nghĩa có nhơn
    May mô may quyển lại gặp đờn
    Quyển kêu thánh thót còn tiếng đờn thì ngâm nga
    Nhắn em về nói với mẹ cha
    Dọn đàng quét ngõ tháng ba dâu về
    Dâu về không lẽ về không?
    Ngựa Ô đi trước ngựa Hồng theo sau
    Ngựa Ô đi tới vạt cau
    Ngựa Hồng thủng thỉnh đi sau vạt chè...

    Nam Phần:

    Ầu ơ ... ví dầu
    Cầu ván đóng đinh
    Cầu treo lắc lẻo
    Gập ghềnh khó qua
    ...
    Ầu ơ ...
    Khó qua mẹ dắt con qua...
    Con đi trường học
    Mẹ đi trường đời ...



    Trong âm nhạc dân gian Việt Nam, Lý là một trong rất nhiều làn điệu dân ca của người Việt. Lý cùng với các làn điệu khác như hò, cò lả, nam ai, nam bình, hát xoan, hát xẩm, hát ru,.. tạo những nét độc đáo của dân ca Việt Nam. Điệu Lý đặc biệt phát triển ở Trung Phần và Nam Phần. Miền Trung là trung tâm của các điệu Lý.
    Hát lý được phân biệt với hò vì không gắn liền với một động tác lao động hay giao duyên. Lý cũng có nhạc tính cố định hơn hò, câu hát đều đặn, trong khi hò có thể thêm câu dài câu ngắn, tùy người hát.
    Tôi xin liệt kê một vài điệu Lý của từng miền trong nước:

    Lý Bắc Phần:

    - Lý con sáo

    Lý Trung Phần:

    - Lý con sáo (Thanh Hóa)
    - Lý giao duyên
    - Lý hoài Nam (Lý chiều chiều)
    - Lý con sáo Trung bộ (Lý tình tang)
    - Lý mười thương

    Lý Nam Phần:

    - Lý ngựa ô
    - Lý cái mơn
    - Lý cây bông
    - Lý con sáo Gò Công (Lý con sáo sang sông)
    - Lý con sáo Bạc Liêu
    - Lý quạ kêu
    - Lý chiều chiều
    - Lý qua cầu

    CÁCH ĐẶT TÊN CÁC ĐIỆU LÝ :

    a.- Đặt tên từ nội dung của lời hát (ca dao): lý con cúm núm, lý con sam, lý con sáo, lý ngựa ô, lý cây bần, lý cây gòn, lý trái bắp, lý trái mướp, lý dầu dừa, lý mù u, lý bình vôi, lý cái phảng, lý chúc rượu, lý qua cầu, lý cấy, lý đương đệm, lý cảnh chùa, lý vọng phu...
    b.- Đặt tên từ một số từ đầu của câu hát: lý con cua, lý con chuột, lý con mèo, lý chim chi, lý chim sắc, lý chim chuyền, lý cây xanh, lý cây bông, lý cây ớt, lý mạ non, lý dừa tơ, lý trồng hường, lý chẻ tre, lý chiếu bông, lý chiều chiều, lý bánh canh, lý dĩa bánh bò, lý ông hương, lý nàng dâu, lý ba xa kéo chỉ, lý xăm xăm, lý liễn vũ...
    c.- Đặt tên theo tiếng đệm lót hoặc tiếng láy đưa hơi: lý í a, lý băng rù, lý bằng lưu thủy, lý bằng rằng, lý cống xê xang, lý giọng ứ, lý hố khoan, lý hố mơi, lý kỳ hợi, lý lu là, lý tú lý tiên, lý rị đa (hoặc lý đu đê), lý rường ơ, lý tang tình, lý ợ, lý yến ảnh...
    d.- Đặt tên các điệu lý giọng bông theo xuất xứ của loại hình ca bóng rỗi, hoặc đặt tên theo đặc tính của nhóm tiếng đệm mô phỏng các bậc âm của “chữ đờn” dân tộc, hoặc tiếng tụng niệm kinh kệ: lý bản đờn, lý cống chùa...
    e.- Đặt tên theo địa danh: lý Ba Tri, lý Cái Mơn...
    Một số trường hợp cùng một làn điệu nhưng mang tên lý khác nhau, và ngược lại.

    LÝ CON SÁO :

    Do sự giao lưu, tiếp xúc mà các điệu lý phổ biến khắp ba miền của Việt Nam, với các làn điệu phong phú. Riêng điệu lý con sáo, chỉ với câu ca dao Ai đem con sáo sang sông, Cho nên con sáo sổ lồng bay xa, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian đã ghi nhận sơ bộ có tới 30 bài, trong đó có 4 bài lý con sáo trung du Bắc Phần trong hát ghẹo, 3 bài lý con sáo Bắc trong hát quan họ Bắc Ninh và hát trống quân, 1 bài lý con sáo Thanh Hóa, 4 bài lý con sáo Huế (Thừa Thiên - Huế), 2 bài lý con sáo Quảng (Nam Trung Phần), và hơn 10 bài lý con sáo Nam Phần.
    (Còn tiếp)
     
  5. laongoandong

    laongoandong Người nhà

    NHẠC CỤ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

    Khi đã nói tới Cổ Nhạc Việt Nam mà không đề cập tới các nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam là một thiếu xót rất lớn, mặc dầu tất cả các nền ca nhạc cho dù cổ hay kim thì nhạc cụ cũng giữ một vai trò quan trọng và rất cần thiết. Hơn thế nữa, hiện nay có một số các nhạc cụ cổ truyền đã được dùng rất phổ biến trong nền Tân Nhạc Việt Nam như: Đàn Tranh, Đàn Bầu, Đàn Nhị, Sáo, Đàn Tỳ Bà, Đàn Nguyệt v.v… làm phong phú thêm cho nền Tân Nhạc Việt Nam, nhất là những bảnTân Nhạc soạn theo Ngũ Cung. Đây cũng là cơ hội để có thể giải đáp cho những vị đã từng thắc mắc xem, có bao nhiêu loại đàn cổ đang tồn tại trong nền âm nhạc Việt Nam hay là đã nằm im trong Viện BảoTàng? Tôi xin được liệt kê một số các nhạc cụ cổ truyền còn đang rất phổ thông cũng như một số các nhạc cụ rất độc đáo được dùng cho cả Cổ Nhạc và Tân Nhạc Việt Nam:

    ĐÀN BẦU:

    Đàn Bầu cũng được gọi là Độc Huyền Cầm, là một nhạc cụ rất độc đáo của Việt Nam, từ lâu đã là "Ông hoàng" trong "bộ tộc" nhạc cụ cổ truyền dân tộc, mà ngày nay được hoàn thiện hơn để trở thành một đại diện tiêu biểu của đặc sắc văn hóa Việt Nam. Trong kho tàng văn hoá âm nhạc dân tộcViệt Nam, đàn Bầu được coi là nhạc cụ độc đáo và hấp dẫn nhất. Tiếng đàn du dương, trầm lắng khiến ai đã nghe một lần thì thật khó quên. Chẳng thế mà các cụ ngày xưa đã kín đáo nhắc nhủ: "Làm thân con gái chớ nghe đàn Bầu".
    Đàn Bầu, ngay cái tên đàn đã là thuầnViệt, lấy cái bầu đàn làm bằng vỏ quả bầu khô lúc nào cũng có sẵn sau vườn của hầu hết dân quê Việt Nam, để đặt tên cho cây đàn dân dã lâu đời, đơn sơ mà độc đáo. Còn tên gọi "độc huyền cầm" - như có vẻ văn hoa nhưng không gần gủi với bản sắc dân tộc Việt mặc dầu nó chính là cây đàn chỉ có một dây độc nhất. Theo các nhà nghiên cứu “đàn một dây” thì ở nhiều dân tộc cũng có từ xưa lắm như Hy Lạp cổ đại có đàn một dây nhưng chỉ để định chuẩn thang âm, ở Phi Châu có đàn một dây dùng bằng que cây rừng được ngắt trụi lá rồi thoa một chất ma sát mà cạ vào dây thành tiếng. Ở Ấn Độ có đàn Gopi Yantra 1 dây căng giữa, 1 đầu tre và 1 miếng da có 2 thanh tre cặp 2 bên, một tay gẩy, một tay bóp 2 thanh tre để tạo thành cung bậc, chủ yếu phụ họa theo những bài hát của những người hành khất thuộc dân tộc Peul. Nhật Bản có đàn Ichigenkin, 1 dây tơ, một tay dùng các móng đeo vào ngón để gẩy, tay kia chặn dây và vuốt trên dây bằng 1 miếng ngà. Bên Trung Hoa cũng có đàn một dây.
    Cái độc đáo ở đây là cây đàn cấu trúc rất đơn giản. Chỉ với một dây nhưng nó diễn tả được mọi cung bậc của âm thanh và tình cảm. Âm thanh cũng mang sức quyến rũ lạ kỳ, gần với âm điệu tiếng nói của người Việt, bởi vậy mà đàn Bầu trở thành nhạc cụ được mọi người ưa thích.

    Để có được cây đàn như ý, người làm đàn phải rất công phu trong việc chọn lựa chất liệu. Cây đàn phải hội đủ hai yếu tố "Mặt ngô thành trắc", có nghĩa là mặt đàn phải làm bằng gỗ cây ngô đồng sao cho vừa xốp vừa nhẹ, thớ gỗ óng ả, thẳng thì mới có độ vang. Khung và thành đàn làm bằng gỗ trắc hoặc gụ, vừa đẹp lại vừa bền. Cần rung, còn gọi là vòi đàn được làm từ sừng trâu. Bầu đàn được lấy từ quả bầu khô hoặc tiện bằng gỗ.

    Trong hầu hết những nhạc cụ bằng dây đều có phím đàn để phân biệt âm độ cao thấp. Nếu không có phím đàn thì những ngón tay trái sẽ là điểm tựa định đoạt cung bậc của âm thanh ( như đàn nhị, đàn vĩ cầm, đại hồ cầm v.v…) và dĩ nhiên cũng tùy vào kỹ thuật rung của các ngón tay trái và cách kéo của tay phải, nếu không đạt được kỹ thuật đúng cách thì cây vĩ cầm (violon) sẽ trở thành cây đàn cò phát ra những âm điệu buồn bã như đám ma. Và ngược lại, nếu cây đàn cò mà biết sử dụng khéo thì âm thanh sẽ không kém âm thanh của đàn vĩ cầm. Đặc biệt với đàn Bầu thì khác hẳn: Khi sử dụng đàn Bầu, tay phải cầm que gẩy, tay trái cầm vòi đàn. Nếu dây đàn Bầu ở thế dây buông thì gẩy ở bất cứ vị trí nào trên dây cũng đều phát ra một cao độ, đó là âm thực. Nhưng khi chơi đàn nhạc công phải dùng cạnh bàn tay tì nhẹ vào những điểm nhất định trên dây và khi gảy xong thì nhấc tay lên ngay (nếu đánh dấu vào những điểm gẩy thì tay phải chặn ở khoảng cách phù hợp với điểm gẩy), dây đàn sẽ phát ra những âm thanh có cao độ khác nhau tùy theo vị trí của bàn tay chặn đúng với những điểm nhất định (nếu sai vị trí sẽ không phát được âm thanh). Những âm này là âm bồi. Kết hợp với tay phải gẩy, tay trái cầm và điều khiển vòi đàn khiến dây đàn khi cǎng, khi chùng để tạo ra những âm thanh cao hơn hay thấp hơn theo ý muốn và tùy theo cách rung của bàn tay trái. Đó là nét độc đáo vốn có của đàn bầu. Tiếng đàn bầu vì thế không còn là tiếng ngân rung của âm thực như âm sắc dễ nhận ra của dây tơ, dây thép, inox hoặc nilon. Đây là một âm bồi rất biến ảo, để gần với giọng người. Nó là giọng hát của người đã được mượt mà hóa, một thứ âm thanh kỳ lạ và mê hoặc mà không nhạc cụ nào trên đời hơn được. Dường như âm thanh mộc mạc, chân quê nhưng sâu lắng đến vô cùng của cây đàn Bầu, hoà quyện với tấm lòng của tác giả đã tạo nên những vần điệu chan chứa tình cảm trong lời ca tiếng hát. Cũng chính vì điểm đặc biệt này mà đàn bầu đã được dùng trong Tân NhạcViệt Nam, với những bản tình ca ướt lệ, và không thể thiếu trong mục ngâm thơ.
    Cách xác định điểm trên đàn: Nếu gọi dây buông là nốt C thì ta chia dây từ cần đàn đến ngựa đàn:
    1/2 dây có nốt C1 cao hơn dây buông 1 quãng 8
    1/3 dây sẽ là nốt G1
    1/4 ta sẽ có nốt C2
    1/5 dây sẽ có E2
    1/6 dây sẽ có nốt G2
    1/7 dây sẽ là nốt Bb. Nhưng nốt này ít được sử dụng.
    1/8 sẽ có nốt C3
    Tóm lại, sáu điểm trên đàn là C1 – G1 – C2 – E2 – G2 – C3 là 6 điểm thông dụng nhất. Ngoài ra ta có âm thực tức là khảy dây buông, thường khảy gần ngựa đàn chứ không khảy vào các điểm đã ghi. Trên 7 âm bội này, nếu biết sử dụng kỹ thuật của tay trái như căng dây hoặc chùng dây, cách rung thì ta sẽ tạo được rất nhiều âm thanh khác nữa.
    Dưới đây là hình cây Đàn Bầu:

    [​IMG]

    ĐÀN TRANH:

    Được hình thành trong ban nhạc từ thế kỷ XI đến thế kỷ thứ XIV. (Thời Lý - Trần) nhưng lúc bấy giờ Đàn tranh chỉ có 15 dây, nên gọi là "Thập ngũ huyền cầm" và được dùng trong ban "Đồng văn, nhã nhạc" (Đời Lê Thánh Tôn thế kỷ thứ XV). Sau này được dùng trong cả ban nhạc giáo phường. Thời Nguyễn (thế kỷ thứ XIX) được dùng trong ban "nhạc Huyền" hay "Huyền nhạc". Sau khi đã thêm một dây (thành 16 dây) nên được gọi là "Thập lục huyền cầm". Với 16 dây tiêu biểu cho cả ba bát độ thấp, trung và cao của hệ thống Ngũ cung, thì tự nó khi gãy bằng ấy dây cũng đã tạo một âm thanh du dương trầm bổng rồi; đến nỗi có người còn nói: Với chiếc đàn tranh, một con chuột chạy ngang qua các dây đàn cũng tạo ra một khúc nhạc tuyệt diệu rồi.

    Hình dáng đàn dài, có 16 dây bằng kim loại. Mặt đàn nhô lên hình vòng cung. Từ trục đàn đến chỗ gắn dây đàn, khoảng giữa của mỗi dây đều có một con nhạn gọi là "Nhạn đàn" để tăng âm, lên dây đàn từ nửa cung đến một cung. Đàn tranh rất thông dụng được đứng hàng thứ ba trong bộ tam tuyệt của dàn nhạc tài tử và cũng được sử dụng rất nhiều trong Tân Nhạc.

    Vì đàn tranh được thiết kế theo hình thức nhiều dây, nên khi tấu nhạc, đàn tranh phát ra âm thanh đanh tiếng, sắt tiếng hơn khi tấu chữ nhất là khi sử dụng các móng để gãy đàn bằng kim loại . Thông thường người ta dùng móng đàn bằng đồi mồi hoặc nhựa, nhưng các cụ ngày xưa hay vót những thân tre già để âm thanh được êm dịu hơn. Tuy nhiên, nghệ thuật tạo âm vẫn tùy thuộc vào mức độ điêu luyện của cả hai bàn tay: Muốn có một âm thanh thật êm thì móng của tay trỏ phải vuốt nhẹ ở khoảng giữa của con nhạn và phần gốc của dây đàn, càng về cuối phần gốc dây đàn thì âm thanh càng trong; và nếu phải móc thì âm thanh rất sắc bén. Bàn tay trái cũng không kém phần quan trọng: Mỗi khi khảy một nốt nào đó, thường thường ngón giữa phải để đúng vị trí của dây đàn đó, vừa nhấn vừa rung, ấn sâu hay ấn cạn tùy theo độ luyến láy của giọng hát hay cung đàn. Tôi đã từng được thưởng thức nhiều lần một giáo sư Quốc Gia Âm Nhạc Việt Nam trình tấu hoặc hợp tấu đàn tranh, bàn tay trái của ông uyển chuyển rất nhẹ nhàng trông giống như một con bướm đang chuyền đậu từng nụ hoa này tới những nụ hoa khác, nên âm thanh phát ra rất huyền diệu, khác thường.
    Các ngựa đàn điều chỉnh lên dây theo thang âm ngũ cung,nhưng có một vài khác biệt giữa điệu Nam và điệu Bắc mặc dầu vẫn nằm trong năm âm chính là: Hồ, Xự, Xang, Xê, Công, tương đương với: Điệu Bắc: Đô - Rê - Fa - Sol - La - Đô, hay Điệu Nam: Đô - Mib - Fa - Sol - Sib - Đô.
    Ngày xưa cây đàn Tranh chỉ có 16 dây. Từ năm 1950, Nhạc Sư Nguyễn Vĩnh Bảo cải tiến cây đàn Tranh thành 17, 19, 21 dây. Đôi khi ta có thể thấy đàn Tranh 22 dây . Các dây thêm vào là các dây trầm. Ở trình độ hiện tại, chúng ta chưa xử dụng dây trầm mà chỉ xử dụng 16 dây căn bản, bắt đầu từ dây số 2 và kết thúc bằng dây số 17 .
    Có nhiều hệ thống dây đànTranh. Chúng ta sẽ lên dây theo hệ thống dây như sau:
    - 5 dây mang số 2,3,4,5,6 tạo thành bát độ (octave) thấp nhất,
    - 5 dây mang số 7,8,9,10,11 tạo thành bát độ trung bình,
    - 5 dây mang số 12,13,14,15,16 tạo thành bát độ cao
    - dây số 17 là cung đầu tiên của bát độ kế tiếp .
    Tên gọi của 5 dây:
    - Bát độ thấp nhất: Hò, Xự, Xang, Xê, Cống, (có nhạc sĩ viết các cung này với dấu huyền),
    - Bát độ trung bình : Liêu, Xự, Xang, Xê, Cống,(có nhạc sĩ viết các cung này không dấu),
    - Bát độ cao : Liu, Ú, Xang, Xê, Cống, (có nhạc sĩ viết các cung này với dấu sắc),
    - Dây 17 : Liu
    Cung Hò, Liêu, Liu chỉ là một cung nhưng ở các bát độ khác nhau. Cung Xư hay U cũng vậy.
    Ngày nay, các cung trên cũng được các nhạc sĩ đặt tên theo hệ thống solfège như trong Tân nhạc.
    Các nhạc sĩ Miền Nam Việt Nam gọi tên các cung trên là Sol, La, Do, Re, Mi
    Các nhạc sĩ Miền Bắc Việt Nam gọi các cung trên là Do, Re, Fa, Sol, La.
    Gọi tên như thế nào cũng được, miễn là khoảng cách giữa các cung phải được tôn trọng:
    - Cung Hò và cung Xư cách nhau 1 cung,
    - Cung Xư và cung Xang cách nhau 1 cung rưỡi,
    - Cung Xang và cung Xê cách nhau 1 cung,
    - Cung Xê và cung Công cách nhau 1 cung .
    Lấy thí dụ ta gọi cung Hò là cung Rê, thì 5 cung sẽ được gọi là Rê, Mi, Sol, La, Si
    Tuy các cung trên được đăt tên bằng các cung theo Solfège trong Tân nhạc, nhưng điều đó không có nghĩa là phải lên dây theo đúng cao độ của các cung Tân nhạc . Nói một các chính xác, các cung nhạc trong nhạc truyền thống Việt Nam không có cao độ nhất định, người đàn muốn để cao độ nào cũng được, miễn là các cung theo sau phải có khoảng cách như đã viết ở trên . Tuy nhiên, khi hoà đàn với nhau, các nhạc sĩ Miền Nam Việt Nam dùng cao độ của cung Rê trong Tân nhạc cho cung Hò.
    Để thống nhất, chúng ta sẽ áp dụng cách gọi tên như sau :
    - Bát độ thấp nhất : Hò, Xự, Xang, Xê, Cống hay là Sol, La, Do, Re, Mi
    - Bát độ trung bình : Liêu, Xự, Xang, Xê, Cống hay là Sol, La, Do, Re, Mi
    - Bát độ cao : Liu, Ú, Xang, Xê, Cống hay là Sol, La, Do, Re, Mi
    - Dây 17 : Liu hay Sol
    Chúng ta sẽ lên các dây Hò, Liêu, Liu theo cao độ của cung Rê trong Tân nhạc.
    Khi viết bản nhạc, nếu viết theo Tân nhạc, chúng ta sẽ xử dụng các cung Sol, La, Do, Re, Mi .
    Sau đây là hình cây Đàn Tranh:

    [​IMG]

    ĐÀN TỲ BÀ:

    Tỳ Bà tên gọi một nhạc cụ đàn dẩy của người Việt. Nhiều tài liệu đã cho biết, Tỳ Bà xuất hiện rất sớm ở Trung Quốc với tên gọi PiPa, rồi ở Nhật Bản với tên gọi BiWa.

    Người ta chế tác Tỳ Bà bằng gỗ Ngô Đồng. Cần đàn và thùng đàn liền nhau có dáng như hình quả lê bổ đôi. Mặt đàn bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc. Phía mặt cuối thân đàn có một bộ phận để mắc dây gọi là ngựa đàn. Đầu đàn (hoặc thủ đàn) cong có chạm khắc rất cầu kỳ, khi là hình chữ thọ, khi là hình con dơi. Nơi đầu đàn gắn bốn trục gỗ để lên dây.

    Toàn bộ chiều dài của thân đàn có số đo từ 94 - 100 cm. Phần cần đàn có gắn 4 miếng ngà voi cong vòm lên gọi là Tứ Thiên Vương. Tám phím chính làm bằng tre hoặc gỗ gắn ở phần mặt đàn cho các cao độ khác nhau. Thuở xưa dây đàn se bằng tơ tằm rồi đem vuốt sáp ong cho mịn, ngày nay người ta thay dây tơ bằng dây nilon. Đàn có 4 dây lên theo 2 quãng 4, mỗi quãng 4 cách nhau một quãng 2: Đồ - Fa - Sol - Đô1 hoặc Sol -Đô1 - Rê1 - Sol1. Khi chơi đàn nghệ nhân gẩy đàn bằng miếng đồi mồi hoặc miếng nhựa.

    Ở Việt Nam đàn Tỳ Bà có mặt trong các dàn nhạc: Nhã nhạc, Thi nhạc của cung đình, Thiền nhạc của phật giáo, ban Nhạc tài tử, Phường bát âm, Dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
    Mặc dù đàn Tỳ Bà có xuất xứ từ các nước khác, nhưng qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa và trở thành cây đàn của Việt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những bản nhạc mang phong cách của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc.

    [​IMG]

    SÁO TRÚC:

    Sáo trúc là tên gọi một nhạc cụ dùng hơi, đặc biệt rất được phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam.
    Sáo được làm bằng một đoạn ống trúc, hoặc nứa có chiều dài 40 - 55 cm, đường kính 1,5 - 2 cm. Ở phía đầu ống có một lỗ hình bầu dục đó là lỗ thổi. Trong lòng ngay gần lỗ thổi được chặn bằng một mẩu nút bấc hoặc gỗ mềm để điều chỉnh độ cao thấp khi cần thiết. Thẳng hàng với lỗ thổi có khoét 6 lỗ bấm, lỗ bấm thứ nhất cách lỗ thổi 12 cm, các lỗ bấm còn lại cách đều nhau (1 cm). Mở dần các ngón ở 6 lỗ bấm ta sẽ có các âm Do1, Rê1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1, Do2. Phía sau cuối ống sáo có một lỗ không bấm là lỗ định âm.

    Khi thổi sáo, thân sáo đặt ngang sang bên phải, miệng đặt lên lỗ thổi. Người thổi sáo có thể điều chỉnh luồng hơi (rót hơi yếu đường hơi đi từ từ và yếu, rót hơi mạnh đường hơi đi nhanh và mạnh). Sáo thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểu nhạc, ngâm thơ.

    Sáo là nhạc cụ thổi hơi có từ thời kỳ cổ đại, rất nhiều nước trên thế giới sử dụng sáo với nhiều hình dáng và cấu tạo có thể khác nhau. Ở Việt Nam sáo ngang rất thông dụng và có nhiều loại. Sáo ngang ngày xưa có 6 lỗ bấm cách đều nhau nhưng không còn được sử dụng. Loại sáo ngang ngày nay có các lỗ bấm theo hệ thống thất cung với tên gọi khác nhau căn cứ vào âm trầm nhất, thí dụ như sáo đô, sáo rê, sáo mi giáng và sáo sol …
    Mỗi loại sáo có giọng riêng nên người diễn thường chọn loại sáo làm sao để phù hợp với bài bản. Gần đây một số nghệ nhân đã khoét thêm một số lỗ bấm phụ trên thân sáo, giúp việc diễn tấu dễ dàng.
    Nhìn chung sáo ngang thường làm bằng ống trúc, ống nứa hoặc ống rùng, thỉnh thoảng người ta tạo ra loại sáo bằng kim loại hoặc bằng gỗ. Về cơ bản, sáo ngang có 1 lỗ thổi nằm cùng hàng với 6 lỗ bấm. Ngoài ra còn 1 lỗ dán màng (sáo Trung Quốc), lỗ âm cơ bản và những lỗ để buộc dây treo hay tua trang trí.
    Lỗ âm cơ bản là lỗ khoét cuối ống, quyết định âm trầm nhất khi ta bịt kín tất cả những lỗ bấm. Âm trầm này dùng để xác định tên gọi của loại sáo. Tuy nhiên, có những cây sáo không có lỗ âm cơ bản nếu chúng bị cắt cụt ngay chỗ đó. Để xác định tên gọi người ta căn cứ vào đầu lỗ của ống sáo và cho đó là lỗ âm cơ bản.
    Lỗ dán màng nằm giữa lỗ thổi và những lỗ bấm. Lỗ này dán 1 màng mỏng bằng ruột cây tre hoặc bằng giấy bóng mỏng, tuy nhiên một số cây sáo không có lỗ này.
    Thông thường sáo ngang có âm vực rộng 2 quãng tám. Dù sáo âm thấp hay cao đều có âm sắc trong sáng, tươi tắn, gợi nhớ khung cảnh đồng quê. Tuy nhiên người ta có thể sử dụng chúng để diễn tả những giai điệu buồn man mác.
    Về cách thổi nghệ sĩ thường sử dụng kỹ thuật rung, đánh lưỡi (đơn, kép và tam) hoặc phi (một cách rung lưỡi cổ truyền). Ngoài ra còn cách nhấn hơi, luyến hơi, vuốt hơi, âm bội và ngón vỗ …

    [​IMG]

    ĐÀN CÒ hay ĐÀN NHỊ:

    Đàn Cò hay còn gọi là Đàn nhị, là nhạc cụ có 2 xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10. Ngoài người Kinh, người dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này như người Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Giấy, H’Mông v.v.
    Tuy tên gọi "đàn nhị" phổ biến nhưng nhiều dân tộc tại Việt Nam còn gọi đàn bằng tên khác nhau. Người Kinh gọi là "líu" (hay "nhị líu" để phân biệt với "nhị chính"), người Mường gọi là "Cò ke", người Nam Phần gọi là "Đờn cò". Hình dáng, kích cỡ và nguyên liệu làm đàn nhị cũng khác nhau đôi chút tùy theo tộc người sử dụng nó.
    Cây đàn Cò đã có mặt trong nền âm nhạc truyền thống Việt Nam từ lâu đời, đã trở nên thân quen và gần gũi với mọi người dân Việt Nam, nó được trân trọng quí báu như cổ vật gia bảo. Đàn cò đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng và đắc lực không thể thiếu trong các dàn nhạc dân tộc Việt Nam ta từ xưa đến nay.
    Sở dĩ người dân Nam Phần gọi là "đàn cò" vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò- Cần đàn như cổ cò - thân đàn như con cò - tiếng đàn nghe lảnh lót như tiếng cò. Trong các dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, nhạc tài tử, cải lương dàn nhạc dân tộc tổng hợp, dân ca... đều có đàn Cò.
    Đàn Cò có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại gần với giọng hát cao (giọng kim). Muốn thay đổi âm sắc hoặc giảm độ vang người ta dùng đầu gối trái bịt một phần miệng loa xòe của bát nhị (khi ngồi trên ghế kéo đàn) hay dùng ngón chân cái chạm vào da của bát nhị (khi ngồi trên phản kéo đàn, trên chiếu). Nhờ những cách này âm thanh sẽ xa vẳng, mơ hồ, tối tăm và lạnh lẽo diễn tả tâm trạng thầm kín, buồn phiền...
    Đàn nhị là thành viên trong nhạc phường bát âm, dàn nhã nhạc, ban nhạc chầu văn, tài tử và dàn nhạc tổng hợp. Ngày nay thỉnh thoảng nó xuất hiện cả trong dàn nhạc pop, rock hiện đại để tăng màu sắc trong cách phối âm.
    Người chơi đàn dùng tay trái giữ dọc nhị và bấm dây đàn bằng lòng ngón tay hoặc đầu ngón tay, tay phải cầm cung vĩ để kéo đẩy tạo ra âm thanh.
    Kỹ thuật đàn khá phong phú, bao gồm từ ngón vuốt, ngón nhấn, ngón láy, ngón chuyền đến cung võ liền, cung vĩ ngắt, cung vĩ rời và cung vĩ rung, v.v.

    [​IMG]

    ĐÀN NGUYỆT (Đàn Kìm )

    Đàn nguyệt tức nguyệt cầm, trong Nam còn gọi là đàn kìm. Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như Mặt Trăng nên mới có tên là "đàn nguyệt". Theo sách xưa thì đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây. Sách của Phạm Đình Hổ thì ghi rằng đàn nguyệt xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 18.
    Đàn nguyệt có những bộ phận chính như sau:
    - Bầu vang : Bộ phận hình tròn ống dẹt, đường kính mặt bầu 30cm, thành bầu 6cm. Nền mặt bầu vang có bộ phận nằm phía dưới gọi là ngựa đàn (cái thú) dùng để mắc dây. Bầu vang không có lỗ thoát âm.
    - Cần đàn (hay dọc đàn) : làm bằng gỗ cứng, dài thon mảnh, bên trên gắn 10 phím đàn, trước đây gắn 8 phím (nay những người chơi nhạc tài tử Nam Phần vẫn thường dùng đàn 8 phím). Những phím này khá cao, nằm xa nhau với khoảng cách không đều nhau.
    - Đầu đàn : hình lá đề, gắn phía trên cần đàn, nó có 4 hóc luồn dây và 4 trục dây, mỗi bên hai trục.
    - Dây đàn : có 2 dây, trước đây làm bằng dây tơ, ngày nay thường làm bằng dây nilon. Tuy có 4 trục đàn nhưng người ta chỉ mắc 2 dây (một dây to một dây nhỏ). Cách chỉnh dây thay đổi tùy theo người sử dụng. Có khi 2 dây cách nhau quãng 4 đúng, có khi cách quãng năm đúng hoặc quãng bảy hay quãng tám đúng. Song cách thông dụng nhất vẫn là lên dây theo quãng năm đúng. Đàn nguyệt là nhạc cụ khảy dây, được dùng thường xuyên trong ban nhạc chầu văn, tài tử, phường bát âm và trong nhiều dàn nhạc dân tộc khác

    Đàn Nguyệt được sử dụng rộng rãi trong dòng nhạc dân gian cũng như cung đình bác học cổ truyền của người Việt. Xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI, cho tới nay nó vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc của người Việt và là nhạc cụ chủ yếu dành cho nữ giới.

    Nhờ có cần tương đối dài và những phím cao, nhạc công có thể tạo được những âm nhấn nhá uyển chuyển, mềm mại.

    Tiếng đàn trong, vang, khả năng biểu hiện phong phú- khi thì sôi nổi ròn rã, lúc lại nỉ non sâu lắng, do đó đàn Nguyệt có mặt cả trong những cuộc hoà tấu nhạc lễ trang nghiêm, những cuộc hát văn lôi cuốn, những lễ tang bùi ngùi xúc động cũng như những cuộc hoà tấu thính phòng thanh nhã với những hình thức diễn tấu khác nhau: đệm cho hát, hoà tấu và độc tấu.

    [​IMG]

    Việt Nam là nước có một kho tàng nhạc cụ cổ truyền hết sức phong phú và đa dạng. Kho tàng ấy được hình thành trong suốt hành trình cuộc sống và chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Có những nhạc cụ được sáng tạo tại chỗ có tính đặc trưng bản địa, có những nhạc cụ được du nhập từ nhiều đường khác nhau nhưng đã được dân tộc hóa, bản địa hóa cho phù hợp với nhạc ngữ, với thẩm mỹ âm nhạc Việt Nam. Tổng cộng có đến cả trǎm loại nhạc cụ khác nhau như: Đàn gáo, Đàn Đoản, Đàn Sến, Đàn Tam, Đàn Tứ, Đàn Tam Thập Lục, Đàn đáy, Đàn Hồ, Đàn T’rưng, Đàn Tính, Klông Pút, Đàn Đá, Trống đồng, Trống cái, Trống cơm,Trống Đế, Kồng, Chiêng, Phách, Mõ, Kèn Loa v.v… Trong phạm vi giới hạn, tôi chỉ liệt kê những nhạc cụ tiêu biểu và phổ thông nhất.
    Phần kế tiếp, sẽ đề cập tới LỊCH SỬ TÂN NHẠC VIỆT NAM.
     
    Điều chỉnh lại bài đăng lúc: 14 tháng Giêng 2015
    ThangHuong likes this.

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn