Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Ấp Chiến Lược

Chủ đề trong 'Các Đề Tài Khác' do LeXuanNhuan khởi đầu 10 tháng Tám 2010.

  1. LeXuanNhuan

    LeXuanNhuan Tác Giả

    ẤP CHIẾN LƯỢC


    Có một số người cho rằng Chương Trình Ấp Chiến Lược đã giúp chính quyền Ngô Đình Diệm bình định xứ sở, triệt tiêu Cộng Sản, đem lại đời sống an bình cho dân nhân miền Nam dưới chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa; và “cha đẻ” của chương trình được gọi là Quốc Sách ấy chính là Cố Vấn Ngô Đình Nhu (sic).

    Theo họ thì sau cuộc Cách Mạng 1 11 1963, vì Trung Tướng Dương Văn Minh đã hủy bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược nên Cộng Sản mới có thể dễ dàng lấn chiếm và đánh thắng miền Nam (sic). Sự Thật là “Ấp Chiến Lược” bị hủy bỏ bởi Sắc Luật số 103/SL/CT, do Thủ Tướng Nguyễn Khánh ký ngày 9 tháng 3 1964 (xem Tham Chiếu 1).

    Để các thế hệ sau này hiểu biết chính xác về thực chất của Chương Trình Ấp Chiến Lược, ta hãy tìm đọc các tài liệu lịch sử ‒ mà các cá nhân nói trên đã không biết đến, hoặc đã cố ý không đề cập đến mà còn tự ý thêm thắt bịa đặt ra ‒ hầu bắt mọi người phải nghe những lời ca tụng vu vơ dựa trên những điều không hề xảy ra.


    *
    Nhưng, trước tiên, tôi xin nói về những gì mà chính bản thân tôi biết được về Ấp Chiến Lược.

    *

    Từ năm 1954, nhất là sau khi Đức Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhiệm và Ông Ngô Đình Diệm đã nhậm chức Thủ Tướng Quốc Gia Việt Nam, việc làm của tôi quá nhiều và quá “quan trọng”.

    Vừa là biên tập viên (góp bài cho “Tuần Báo Tiếng Kèn”; viết “Mục Thời Luận”, trả lời “Thư Thính Giả”, soạn bài “Quân Nhân Tìm Hiểu”, giới thiệu tân+cổ Nhạc Việt Nam và “Nhạc Ngoại Quốc” hằng ngày cho Đài Quân Đội; tóm lược tình hình cho nhật báo “Bản Tin”; viết bài phóng thanh cho “Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền”; viết các bài bình luận đặc biệt để Trưởng Phòng Năm Quân Khu sử dụng tại các nơi khác; kể cả thảo diễn văn cho các Tư Lệnh Quân Khu), tuyên truyền viên lưu động, phóng viên chiến tranh (war correspondent), thuyết trình viên tại các buổi “Học Tập Chính Trị và Công Dân Giáo Dục”, v.v..., tôi còn là giám đốc Chương Trình Phát Thanh hằng ngày “Tiếng Nói Quân Đội” ‒ cho khắp Đệ Nhị Quân Khu (từ Tỉnh Quảng Trị vào Tỉnh Bình Thuận, tức là cả Quân Khu I lẫn Quân Khu II sau này).

    Công việc quá nhiều đến nỗi tôi được chỉ định mà không thể đến giảng môn “Tác Động Tinh Thần” (tiền thân của Tâm Lý Chiến tức Chiến Tranh Tâm Lý, và về sau là Chiến Tranh Chính Trị) tại “Trường Sĩ Quan Đập Đá” (nơi xuất thân của thiếu úy ‒ về sau là trung tướng ‒ Trần Văn Trung), cũng như tại lớp đào tạo “Tình Báo Ấp Chiến Lược” ở gần vùng Phủ Cam.

    Việc làm quá “quan trọng” ‒ góp phần tích cực và hữu hiệu củng cố địa vị của (Thủ Tướng rồi Tổng Thống) Ngô Đình Diệm ‒ đến nỗi Bộ Tư Lệnh Đệ Nhị Quân Khu đã đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu ban thưởng cho tôi “Quân Công Bội Tinh” ‒ là một huân chương chỉ dành cho các sĩ quan tràn đầy chiến công và dạn dày thâm niên, trong lúc tôi chỉ là một quân nhân trừ bị ‒ “văn nghệ sĩ và ký giả” mà “được” “động viên chuyên môn” (như các nhạc sĩ Lâm Tuyền, Văn Giảng, Lê Trọng Nguyễn, v.v... trong Ban Tân Nhạc thuộc Đài của tôi). Tuy không được cấp mề đay, nhưng việc đề nghị như thế chứng tỏ Miền Trung đã đánh giá tôi “cao” đến ngần nào.

    Nhắc lại chuyện cũ dài dòng là để nhấn mạnh một điểm: trong khoảng 1954 1956 (2 năm nhiệm kỳ quân dịch pháp định cộng với 6 tháng lưu dụng vì nhu cầu quân vụ) của tôi, đã có ít nhất là một Lớp Đào Tạo cán bộ “Tình Báo Ấp Chiến Lược” được mở ra tại Huế.

    Tóm lại, “Ấp Chiến Lược” đã có nằm trong chương trình hoạt động của chính quyền Ngô Đình Diệm, do Cố Vấn Hoa Kỳ, đặc biệt là Đại Tá CIA Edward G. Lansdale (xem Tham Chiếu 2) đề ra, chậm nhất là từ năm 1956 rồi.

    *

    Thế nhưng...

    Mãi đến ngày 3 tháng 2 năm 1962 (8 năm sau ngày chấp chánh), sau khi chế độ đã suy thoái rồi, Tổng Thống Ngô Đình Diệm (và Cố Vấn Ngô Đình Nhu) mới áp dụng Chương Trình “Ấp Chiến Lược” (xem Tham chiếu 3)

    *

    Năm 1962, tôi được đưa đi thụ huấn một khóa tình báo đặc biệt (là khóa cao cấp đầu tiên mà CIA huấn luyện cho một số viên chức Cảnh Sát Công An, Phó Đốc Sự Hành Chánh, và sĩ quan Quân Lực VNCH được chọn lọc kỹ). Sau đó, tôi được sung vào một tổ chức, về phía dân sự, gọi là “Đoàn Công Tác Đặc Biệt” (SOC= Special Operations Corps) ‒ không phải là “Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung” của Cố Vấn Ngô Đình Cẩn do Ông Dương Văn Hiếu cầm đầu. Đoàn SOC này, trực thuộc Phủ Đặc Ủy Tình Báo Trung Ương về mặt chuyên môn, và được sự yểm trợ của Nha Tổng Giám Đốc Cảnh Sát & Công An về mặt hành chánh, hoạt động bí mật, dưới thời Đại Tá Nguyễn Văn Y, là người kiêm nhiệm cả hai chức vụ đứng đầu Phủ ĐUTBTƯ và Tổng Nha CSCA. Đoàn gồm có nhiều Đội. Riêng Đội của tôi (tôi là Phụ Tá Điều Hành kiêm Phiên Dịch Viên) thì hoạt động tại Cao Nguyên Trung Phần, có trụ sở riêng, đóng tại Ban Mê Thuột, bên trong là “Đội Khảo Cứu Địa Lý”, bên ngoài là “Phòng Cảnh Sát Tư Pháp” (sở dĩ dùng ngụy danh này là vì trước đó tôi là Trưởng Phòng Cảnh Sát Tư Pháp tại Nha Cảnh Sát Công An Cao Nguyên Trung Phần ‒ hồi đó tuy mặc dân phục nhưng đã đến tận phạm trường chấp lý các vụ phạm pháp, nên đã có người biết mặt, biết tên).

    Vì là “khảo cứu địa lý” nên tôi phải nắm vững tình hình nông và sơn thôn, trong đó có các Địa Điểm Dinh Điền, các Khu Trù Mật, và nhất là các Ấp Chiến Lược vừa mới bắt đầu thành hình trong năm 1962. Đồng thời, vì là công tác tình báo, lần đầu tôi có cố vấn CIA. Do đó, với óc tìm tòi, tôi đã có dịp đọc được bản tài liệu gốc tiếng Anh về “Ấp Chiến Lược”, đặc biệt là nguồn gốc của nó, cùng với những kinh nghiệm, ưu+khuyết điểm của Ấp Chiến Lược rút được từ thực tế thi hành trước đó tại các nước Mã Lai và Phi Luật Tân.

    I. Tóm tắt về Ấp Chiến Lược

    Người được công nhận như một “tổng giám đốc điều hành” của Chương Trình Di Dân Lập Ấp (nguyên lai của Ấp Chiến Lược) trên bình diện quốc tế là Sir Robert Thompson, một sĩ quan không quân và là một chuyên gia chống khuynh đảo của nước Anh. Ông được cử làm bộ trưởng Quốc Phòng Thường Trực cho nước Mã Lai, thực hiện hữu hiệu sáng kiến làng xóm tái định cư (Village Resettlement) của Tướng Gerald Templer của Anh trong việc đánh dẹp Bộ Đội Giải Phóng Dân Tộc Mã Lai (MNLA= Malayan National Liberation Army) của đảng Cộng Sản Mau Mau tại nước này, từ cuối thập niên 1940 đến thập niên 1950.

    Nguồn: h**p://en.wikipedia.org/wiki/Robert_Grainger_Ker_Thompson và h**p://en.wikipedia.org/wiki/Malayan_Emergency

    Về Việt Nam, có nhiều tài liệu liên quan, nhưng tôi tạm lấy một tài liệu được xem là công trình sưu tập và biên khảo đứng đắn từ Văn Khố Việt Nam tại Viện Đại Học Texas Tech (Vietnam Archive, Texas Tech University), để tóm lược dưới đây.

    Nguồn:

    h**p://www.vietnam.ttu.edu/events/2002_Symposium/2002Papers_files/peoples.htm

    The Use of the British Village Resettlement Model in Malaya and Vietnam, 2002 (Việc sử dụng kiểu mẫu của Anh về Tái Định Cư Xã Ấp tại nước Mã Lai và nước Việt Nam):

    Tại Việt Nam, từ 1952 đến 1954, tướng Pháp Francois Linares cho tái định cư khoảng 3 triệu người Việt ở Miền Bắc, đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng Hà, vào các “làng được bảo vệ” mà họ gọi là “nông thị” (agroville) tức là thị trấn ở nông thôn, tức là “Khu Trù Mật”. Đó là chính sách “bình định bằng sự phồn thịnh”. Pháp cung cấp dồi dào các tiện nghi xã hội và kinh tế, bảo vệ và khuyến khích lập các lực lượng bán quân sự để tự vệ, dựa vào nguồn tài trợ sớm nhất của Hoa Kỳ cho Pháp sau khi xảy ra chiến tranh Triều Tiên. Phóng viên chiến tranh tên tuổi Bernard Fall, sau khi đến thăm 2 khu kiểu mẫu tại Khôi Lộc thuộc Tỉnh Quảng Yên và Đông Quan tại Tỉnh Hà Đông (Miền Bắc) đã tuyên bố rằng “các Ấp Chiến Lược của Pháp này rập đúng khuôn mẫu của Anh bên Mã Lai.”

    II. Các chương trình di dân lập nghiệp

    Để cho dễ hiểu, tôi xin tóm tắt về 3 chương trình (đúng ra là 3 cấp bậc cấu trúc, danh xưng) khác nhau, từ dưới lên trên (mà mục đích chung là dựng hàng rào chiến lược chận đường tiến chiếm của đối phương):

    1/ “Ấp Chiến Lược” (giai đoạn 1): Gom dân tại chỗ, rào ấp tại chỗ.

    Tại các vùng nông thôn hay sơn cước, dân chúng cư ngụ rải rác và đi làm việc tùy tiện, nên Cộng Sản có thể liên lạc, di chuyển từ nhà này qua nhà khác, một cách dễ dàng, để tuyên truyền, dò hỏi tin tức, thu+mua vật liệu, xây dựng cơ sở, lợi dụng nhân lực (ép buộc đi phá cầu, phá đường, chôn mìn, kể cả tham gia tấn công đồn bót), rủ rê hoặc bắt cóc đi theo chúng (nếu chống đối thì chúng giết chết...). Chương trình “Ấp Chiến Lược” quy tụ dân chúng vào một khu nhà tập thể, có rào và hào bao quanh, có cổng vào/ra chung, ở đó trai tráng được cấp vũ khí thay phiên canh gác, sáng mới mở cổng ra ngoài làm việc, chiều tối về nhà đóng chặt cổng lại. Cộng Sản không thể vào ấp tiếp xúc hay huy động dân. Nếu bị tấn công thì dân trong Ấp tự mình chống lại, báo động cho Quận để lực lượng Quận sẽ đến tiếp cứu. Mục đích là để giữ dân cũng như tài nguyên khỏi lọt vào tay đối phương, có tính chiến thuật (về mặt quân sự: Cầm cự tạm thời để chờ viện binh).

    Vì “Ấp Chiến Lược” có một diện tích nhỏ hơn một ấp thông thường, và phải được lập tại một vị trí thuận lợi về mặt giao thông, nên tuy gom dân “tại chỗ” (tức là trong làng, trong quận sở tại mà thôi) nhưng đa số dân cũng phải rời bỏ nhà cửa vườn tược của mình.

    2/ “Địa Điểm Dinh Điền” (giai đoạn 2): Di dân, khai hoang, lập ấp.

    Tài liệu chính thức nói rõ là “điều hòa dân cư: Di chuyển (đến những tỉnh khác, miền khác) những nông dân thiếu đất canh tác ở miền Trung Châu Trung Phần, những công nhân không chuyên nghiệp khiếm dụng ở các đô thị, một số ít người di cư tị nạn vì lý do gì chưa được an cư lạc nghiệp như đại đa số người di cư khác, cựu chánh trị phạm, cựu binh sĩ đang cần trở lại đời sống bình thường nhưng không có phương tiện, đồng bào vượt tuyến, Hoa kiều tị nạn và Việt kiều hồi hương chưa có cơ sở làm ăn, một số đồng bào Thượng, để giúp cho họ sống đời định cư, định canh, hưởng những điều kiện cải tiến dân sinh.”

    “Địa Điểm Dinh Điền” cũng là một khu tập trung, nhưng so với “Ấp Chiến Lược “ thì “Địa Điểm Dinh Điền” rộng lớn hơn, dân số đông hơn, nhà cửa thoáng hơn, sinh hoạt có tổ chức hơn, vừa làm nghề cũ đã có từ quê hương cũ, vừa học và làm nghề mới do chính quyền huấn luyện và trợ cấp tại quê hương mới. Nhân lực nhiều hơn, phương tiện dồi dào và tân tiến hơn (có cả nông cơ), lực lượng tự vệ mạnh hơn, có thể cầm cự với địch lâu hơn.

    Nói chung là di chuyển dân đi xa hơn, tái định cư, khai phá đất mới, sản xuất quy mô hơn, có tính chiến lược (tự phòng), chú trọng cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, tiến tới tự túc để sẽ sáp nhập vào nền hành chánh địa phương.

    Người dân, thuộc nhiều gốc gác khác nhau, bỏ hẳn nhà cửa, họ hàng, mồ mả tổ tiên, đến lập một cuộc sống mới tại vùng đất mới khai hoang.

    3/ “Khu Trù Mật” (giai đoạn 3): Định cư, lập nghiệp (Dinh Điền lý tưởng).

    Khi nào có Địa Điểm Dinh Điền nào “có những khu gia cư khang trang (nhà cửa có sân, vườn cây ăn trái, chuồng nuôi gia súc), có khu công sở (trụ sở Hội Đồng Quản Trị, nhà hộ sinh, nhà phát thuốc, giếng nước, trường học, phòng thông tin, chùa, nhà thờ, chợ, bến xe đò, v.v...), có đường sá, cầu cống, kinh lạch để tiện việc giao thông” tức là không những tự túc mà còn tiến lên phồn thịnh, thì sẽ được nâng lên cấp “Khu Trù Mật”.

    Dân cư tại “Khu Trù Mật” nổi bật là chung gốc gác (địa phương, chính kiến, tín ngưỡng).

    III.Đệ Nhất Cộng Hòa Thực Hiện Thế Nào

    Trong những năm đầu của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, liền sau Hiệp Định Geneva 1954, đa số cán bộ/bộ đội Cộng Sản từ Miền Nam phải tập kết ra Miền Bắc, số ít cơ+cán CS gài lại thì phải nín thở đợi lệnh ‒ đồng thời Cộng Sản Miền Bắc từ rừng núi về tiếp thu thành thị thì phải lo tái thiết, cải tạo, ổn định tình hình sau cuộc chiến, rèn cán chỉnh quân, nên chưa đủ sức dòm ngó Miền Nam ‒ trong lúc đó, dân Việt ghét Pháp và cũng không yêu Bảo Đại, chính quyền của Thủ Tướng rồi Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhờ có Hoa Kỳ ép Pháp rút quân, và giúp dẹp yên các phe đối lập, nhận được viện trợ của Mỹ dồi dào và có hoàn cảnh ngưng bắn thuận lợi nên đã tóm gọn được các phần tử Cộng Sản lộ diện, củng cố chế độ và thực hiện các chương trình phục vụ đồng bào. Người dân Miền Nam nhờ đó đã hưởng được nhiều năm khá bình yên, đầy hy vọng vào tương lai.

    Đệ Nhất Cộng Hòa lợi dụng thời cơ, xếp bỏ kế hoạch “Ấp Chiến Lược” (giai đoạn 1), tiến lên xây dựng các “ Địa Điểm Dinh Điền” (giai đoạn 2) kể từ năm 1957.

    Mục đích nêu ra (xem phần II đoạn 2 trên kia) thật là tốt đẹp, chính đáng, cụ thể, cấp thời.

    *

    Hồ sơ tài liệu tóm tắt mà tương đối đầy đủ nhất về thành tích hoạt động của Đệ Nhất Cộng Hòa là cuốn “Thành Tích SÁU NĂM HOẠT ĐỘNG CỦA CHÁNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA” Kỷ Niệm Đệ Lục Chu Niên Chấp Chánh của Tổng Thống Ngô đình Diệm – Ngày Quốc Khánh 26 10 1960 (cuốn này đã được Ông Hồ Đắc Huân, cựu SVSQ khóa 2 Hiện dịch Nha Trang, hiện ở Little Saigon, Hoa Kỳ, in lại trong năm 2007).

    Ngẫu nhiên, năm 1960 cũng là năm “bản lề” giữa thời kỳ “thành công” 6 năm đầu và thời kỳ “thất bại” 3 năm sau của triều đại Ngô Đình, như tôi đã ghi trong bài “Năm 1960 đối với Đệ Nhất Cộng Hòa”.

    *

    Nói chung, từ 1954 đến 1960:

    *Cấp 1 (“Ấp Chiến Lược”): Chưa thực hiện (cho đến 1962);
    *Cấp 2 (“Địa Điểm Dinh Điền”): Đã thực hiện từ 1957;
    *Cấp 3 (“Khu Trù Mật”): Mới bắt đầu thực hiện từ 1960.

    Nói riêng về chương trình “Dinh Điền”:

    Một “Phủ Tổng Ủy Dinh Điền” được thành lập vào ngày 23 1 1957, được tổ chức như một Bộ, nhưng lại được đặc biệt đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của tổng thống.

    Nội các của Tổng Thống Ngô Đình Diệm gồm có 14 Bộ, nhưng lại có đến 16 tổ chức (Phủ Tổng Ủy, Phủ Đặc Ủy, Nha Tổng Giám Đốc, Phái Đoàn, Cuộc, Học Viện, Nha) trực thuộc tổng thống; trong số các cơ sở trực thuộc này thì “Phủ Tổng Ủy Dinh Điền” được xếp đứng đầu, tức là ưu tiên trên hết mọi lãnh vực hoạt động khác của chính quyền.

    Tại Vùng liên hệ (như Cao Nguyên Trung Phần) có một Quản Đốc Dinh Điền kiểm tra đôn đốc việc thi hành các chỉ thị của Trung Ương và đặc biệt phụ trách các vấn đề an ninh trong Vùng; tại Tỉnh có một Trưởng Khu Dinh Điền; và tại mỗi Địa Điểm Dinh Điền có một Địa Điểm Trưởng (dân chúng gọi là “Ông Địa”). Về việc thi hành ngân sách do quỹ quốc gia đài thọ, các thủ tục chi tiêu và thanh toán theo đúng nguyên tắc của Ngân Sách Quốc Gia.

    “Trong năm 1957 58 (năm đầu), phong trào di dân dinh điền ồ ạt quá, rồn rập quá và gần như không có chuẩn bị đầy đủ, kết quả có bề rộng mà chưa có bề sâu, thì năm 1959 60 phải nói là công cuộc Dinh Điền đã được thực hiện theo một kế hoạch đã được nghiên cứu rất kỹ càng. Những địa điểm thành lập trong các năm sau đều đã tiến triển như mong muốn nhờ có thời giờ chuẩn bị, có hoàn cảnh chọn lựa kỹ địa điểm cũng như di dân và các cơ cấu của Phủ Tổng Ủy, sẵn có trớn lại thêm có kinh nghiệm sống trong công tác, đã hoạt động một cách hữu hiệu...” và “Đã đưa họ đến những vùng đồng ruộng bao la không có người khai thác hết ở miền Nam, và những vùng đất cao thuộc miền Đông Nam Phần và Vùng Cao Nguyên Trung Phần đất rộng người thưa” và, ngoài việc canh nông thông thường và các nghề tiểu công nghiệp, còn “sản xuất gai và ki náp, phát động phong trào trồng cây cao su, thí nghiệm trồng nhiều cây kỹ nghệ khác như bông vải, thuốc lá, ...”.

    Tính đến ngày 26 10 1960, về số Địa Điểm Dinh Điền đã được thành lập: năm 1957 là 16, năm 1958 là 32, năm 1959 là 36, năm 1960 là 42, tổng cộng là 126 Địa Điểm. Tại Cao Nguyên Trung Phần, nhiều nhất là ở Tỉnh Pleiku, rồi đến Tỉnh Darlac, xuống đến Tỉnh Quảng Đức. Tại Đất Cao Miền Đông Nam Phần và Nam Trung Phần, nhiều nhất là ở Tỉnh Bình Tuy, rồi đến Tỉnh Phước Long, xuống đến các Tỉnh Bình Long, Phước Thành, Long Khánh, Tây Ninh, Ninh Thuận, Bình Dương, Phước Tuy và Phú Yên... .

    Nói về số lượng Dinh Điền thì ở Tỉnh Pleiku là nhiều nhất, có đến 25 Địa Điểm, kế đến là ở Tỉnh Darlac với 22 Địa Điểm; riêng ở Tỉnh Quảng Đức có 7 Địa Điểm.

    IV. Nguyên Nhân Thất Bại

    Tôi bị chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa cất chức, quản thúc, rồi đày đi khỏi Huế lên Cao Nguyên Trung Phần (vùng “nước độc và nguy hiểm”), đến Ban Mê Thuột vào tháng 8 năm 1960. Hồi đó các Nha cấp Phần có quyền “tự trị” địa phương (chưa bị khép vào khuôn khổ như khi hợp nhất Cảnh Sát với Công An thành Cảnh Sát Quốc Gia theo Sắc Lệnh số 146/NV ngày 27 6 1962, hai năm về sau). Giám Đốc Nha Công An & Cảnh Sát Phần này là Thiếu Tá Nguyễn Văn Luận (về sau thăng cấp đại tá, làm Tiểu Khu Trưởng kiêm Tỉnh Trưởng Tỉnh Bình Định), có thành lập một bộ phận đặc biệt (hoạt động bên ngoài) riêng của Nha này, do Ông Nguyễn Hữu Liêm (về sau là Trưởng Ty CSQG Tỉnh Darlac) chỉ huy, gồm có Phòng An Ninh Chính Trị, Phòng Cảnh Sát Tư Pháp, và Đội Biệt Kích. Biệt Kích thì đi lùng diệt Cộng Sản khắp cao nguyên. An Ninh Chính Trị do Ông Nguyễn Giang phụ trách, Cảnh Sát Tư Pháp do tôi, Lê Xuân Nhuận đảm đương (nhưng hai chúng tôi làm việc chung với nhau, cả chính sự lẫn hình sự).

    Thoạt tiên, tôi được phái về điều tra các vụ bê bối tại Địa Điểm Dinh Điền Kiến Phúc (?) phía nam quận lỵ Kiến Đức của Tỉnh Quảng Đức (hồi đó Quận Trưởng là Đại Úy Nguyễn Văn Thanh).

    Từ một vụ nhỏ là dân chúng bị buộc phải nạp phí tổn chụp hình, mặc dù việc thầu nhiếp ảnh (cũng như mọi khoản chi tiêu khác của Phủ Tổng Ủy Dinh Điền) đã được Hoa Kỳ đài thọ cho “Ngân Sách Quốc Gia”. Rồi nhân dịp có “cấp cao” (từ Phần xuống thấu Tỉnh, Quận) đến làm sáng tỏ nỗi oan của người dân nghèo, nhiều đơn khiếu nại về những vụ khác lớn hơn đã được đồng bào nạp thêm... .

    Cho đến một hôm tôi đi từ Ban Mê Thuột vào Dinh Điền ấy thì bị Việt Cộng phục kích (tôi bị lật xe, gãy một xương vai và hai xương sườn), các vụ tiếp theo được giao cho các bạn khác điều tra... .

    *

    Nói chung là Đệ Nhất Cộng Hòa (thật ra là chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu) tại Miền Nam đã thực thi Chương Trình Di Dân Lập Ấp này theo cách mà các nhân vật tên tuổi một thời đã ghi như sau (xem Tham Chiếu 4)

    Họ Ngô quan niệm người dân chỉ đóng một ít tiền thuế mà được thụ hưởng biết bao lợi ích, nên khi cần dựng các khu tập trung, Địa Điểm Dinh Điền, thì phải góp phần cùng với chính quyền, phải dùng công sức của mình mà tham gia phát triển cộng đồng. Người dân thì bị lao động không lương theo lối dân công, phải cung ứng thêm vật liệu, phải đóng góp tiền, và chịu đựng các tệ nạn; đi ra làm việc trễ hơn và phải trở về sớm hơn, cộng với đường đi xa hơn, nên việc sản xuất cũng như tinh thần giảm sút rõ ràng.

    *

    Sau ngày Cách Mạng 1 11 1963, tôi làm Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Quảng Đức.

    Vì Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, do Trung Tướng Dương Văn Minh cầm đầu, chưa ổn định xong tình hình nội bộ các tướng và nội các mới, đâu thể nghĩ gì đến các... Địa Điểm Dinh Điền xa xôi, nên đa số dân tại nhiều Dinh Điền tự động kéo nhau bỏ về quê xưa.

    Chính tôi đích thân đứng ra tại các ngã ba, nhất là Daksong ở Quận Đức Lập (nơi từ các hướng Kiến Đức trên Quốc Lộ 14 và Khiêm Đức trên Liên Tỉnh Lộ 9 thuộc Tỉnh Quảng Đức nhập vào để lên Ban Mê Thuột, hầu dùng Quốc Lộ 21 mà về Quốc Lộ 1 hòng ra Miền Trung) để chận họ lại. Về phương diện Cảnh Sát Hành Chánh, di chuyển đi xa mà không xin phép, tức là phạm tội gì đó nên phải trốn tránh sau khi có biến cố lớn xảy ra, nên tôi cho bắt một số cầm đầu để hỏi lý do.

    Qua cuộc điều tra & phối kiểm, tôi biết đại khái như sau:

    Họ là dân gốc các Tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (phía Bắc Trung Phần). Trong công cuộc cải tiến dân sinh, phát triển cộng đồng (mục đích tốt đẹp) chính quyền Ngô Đình Diệm đã thực hiện nhiều chương trình không phải song song với nhau mà lại chòng chéo lên nhau. Thí dụ:

    Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ coi về Phát Triển Cộng Đồng, Tổ Chức Làng Mạc, bằng cách tổ chức Hội Đồng Xã, các đoàn thể nhân dân (các Hội; các Ban; các Câu Lạc Bộ; các Nghiệp Đoàn, các Hợp Tác Xã, các Hiệp Hội Nông Dân; các Đoàn Nông Dân Cách Mạng Quốc Gia, Đoàn Thanh Niên CMQG, Đoàn Phụ Nữ CMQG, Đoàn Thiếu Nhi CMQG, Thanh Niên Cộng Hòa, Thanh Nữ Cộng Hòa, v.v...), huấn chính (huấn luyện chính trị) nhân dân, phối hợp với các lực lượng quân sự và an ninh để trấn an nhân tâm (riêng tại các tỉnh Miền Trung và Cao Nguyên thì tham gia hành quân tuần sát, chiến dịch “Tố Cộng”, Dân vận, Thượng vận, v.v...), vận động nhân dân đóng góp, tính đến 1960, là 23,840,320 nhân công và 144,210,686.00 tiền mặt; huấn luyện Trưởng Ấp, Liên Gia Trưởng, công dân giáo dục, chủ nghĩa Nhân Vị; tổ chức meeting, biểu tình, liên hoan văn nghệ; bắn chết, bắt sống, và vận động cán bộ VC về đầu thú; kêu gọi thanh niên trốn quân dịch theo VC quay trở về; phát giác VC nằm vùng và các phần tử tiếp tay; vận động nhân dân khám phá cơ sở kinh tài, tịch thu vũ khí của VC; hướng dẫn nhân dân lập khu trù mật, làng kiểu mẫu; tham gia quy thôn, quy ấp; sửa chữa nhà cửa, sửa đập, đắp đê, đào mương, làm vườn ương cây, phát thuốc, sửa phòng đọc sách, dựng chòi phát thanh, kiểm tra dân số, tổ chức Liên Gia Tương Trợ; hướng dẫn nhân dân trồng tỉa, chăn nuôi, làm tiểu công nghệ; huấn luyện cán bộ Thú Y, làm chuồng và hướng dẫn chăn nuôi; tổ chức các lớp văn hóa bổ túc; v.v... nghĩa là dẫm đạp lên các Bộ Nội Vụ, Quốc Phòng, Thông Tin, Quốc Gia Giáo Dục, Y Tế, Lao Động, Canh Nông, Công Chánh và Giao Thông, Điền Thổ và Cải Cách Điền Địa, v.v... .

    Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ cũng dẫm đạp lên cả Phủ Tổng Ủy Dinh Điền, Phủ Tổng Ủy Hợp Tác Xã và Nông Tín, Nha Tổng Giám Đốc Xã Hội, Nha Tổng Giám Đốc Thanh Niên, v.v... là những cơ quan cũng cùng trực thuộc Tổng Thống... .
    Đó hẳn là một trong các lý do chính yếu tại sao cả loạt Tổng Trưởng & Bộ Trưởng do chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm bổ nhiệm đã xin từ chức.

    Cũng cần ghi thêm là chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đích thân ngồi trên phi cơ trực thăng đi quan sát địa thế và dùng ba tông chỉ vào các nơi mà ông muốn thành lập Dinh Điền tức Khu Trù Mật về sau. Nhưng người thi hành, thay vì làm dấu tọa độ chính xác trên các bản đồ, đã chấm một số khu rừng có nhiều gỗ quý (cẩm lai, trắc, gụ, v.v...) để cho nhà thầu khai thác lấy tiền bỏ vào túi riêng.

    Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục cũng khai thác rừng theo kiểu đó. Trong bài “Chín Năm Bên Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm Mạn đàm với cựu Đổng Lý Quách Tòng Đức”, Ông Lâm Lễ Trinh đã viết: “Về tin đồn Đức cha Thục làm kinh tài (khai thác lâm sản, mua thương xá Tax, làm chủ nhà sách Albert Portail, v.v...), ông Đức cho rằng TT Diệm tin TGM Thục không làm điều gì sai quấy, ngài phải kiếm tiền nuôi sống trường Đại học Đà Lạt do Ngài thành lập.”

    *

    Trở lại với vụ đồng bào Dinh Điền bỏ về làng cũ sau ngày Cách Mạng 1 11 1963:

    Chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa nói chung đã dùng chiêu bài “Đả Thực, Bài Phong, Diệt Cộng” để đẩy đa số dân quê vào bước đường cùng: các chức sắc làng thì là tàn tích Bảo Đại phong kiến, mấy cậu học sinh có bằng “xép xi, đép xi” thì là tay chân của Pháp thực dân, bà con họ hàng gần/xa của các cán binh Việt Minh thì là cơ sở Cộng Sản nằm vùng; những kẻ lừng khừng không chịu sốt sắng tham gia “Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia” thì là phản động; và cả thành phần lè phè thì bị liệt vào bốn giới “tứ đổ tường” (cờ bạc, rượu chè, hút xách, dâm ô); đều bị “đấu tố” liên miên, qua các buổi meeting, các cuộc biểu tình, các lớp “học tập chủ nghĩa Nhân Vị, đạo đức cách mạng của Ngô Tổng Thống”, các đợt “Tố Cộng”; để rồi cuối cùng, nếu không bị giết, thì “được” đưa đi Dinh Điền (tức là trục xuất ra khỏi địa phương, một cách lưu đày).

    Ngẫu nhiên hầu hết họ là tín đồ Phật Giáo. Và nhân cơ hội gọi là “Phật Giáo lật đổ Nhà Ngô”, dân các Dinh Điền Darlac đã ùa theo nhau trở về quê cũ, nên các đương nhân từ các Địa Điểm ở Quảng Đức này cũng kéo nhau đi.
    Tôi có báo cáo lên trên; nhưng Nha CSQG Cao Nguyên Trung Phần, nhất là Tổng Nha CSQG, chắc không nhận được lệnh gì rõ ràng trong lúc tình hình toàn quốc, đặc biệt Thủ Đô Sài Gòn, còn đang căng thẳng sau cuộc chính biến, nên không trả lời. Cấp trên của tôi tại chỗ là tỉnh trưởng thì cũng chẳng thể làm gỉ khác hơn.

    Thế là Chương Trình Dinh Điền tự động kết thúc, không cần lệnh lạc của ai.

    V. Các “Khu Trù Mật”

    Có một số người lẫn lộn thứ tự ra đời giữa “Dinh Điền” và “Khu Trù Mật”. Tôi viết rằng “Khu Trù Mật” có sau “Dinh Điền” vì các lý do sau đây: Trong cuốn Thành Tích Sáu Năm (1954 1960) là tài liệu chính thức của Đệ Nhất Cộng Hòa, nghĩa là tính đến ngày 7 7 1960, không có báo cáo là đã thành lập một “Khu Trù Mật” nào cả, mà chỉ nói là đang “tổ chức các địa điểm (Dinh Điền thành lập từ năm 1957) thành một đơn vị có thể trở nên về sau một “Khu Trù Mật” có những khu gia cư khang trang...” và mãi đến 3 tháng sau, vào ngày 3 10 1960 thì Tổng Thống Ngô Đình Diệm mới đọc thông điệp tại Quốc Hội rằng “Trong số 19 khu trù mật dự trù cho năm 1960, 17 khu đã khánh thành...”

    Như trong báo cáo của Phủ Tổng Ủy Dinh Điền đã có nói rõ (trong cuốn “Thành Tích Sáu Năm Hoạt Động của Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa”, 1960): “Có thể nói trong năm 1957 58, phong trào di dân dinh điền ồ ạt quá, rồn rập quá và gần như không có chuẩn bị đầy đủ, kết quả có bề rộng mà chưa có bề sâu, thì năm 1959 60 phải nói là công cuộc Dinh điền đã được thực hiện theo một kế hoạch đã được nghiên cứu rất kỹ càng. Những địa điểm thành lập hơi vội vàng trong năm đầu đã được lần lần củng cố và cải tiến. Những địa điểm thành lập trong các năm sau đều đã tiến triển như mong muốn nhờ có thời giờ chuẩn bị, có hoàn cảnh chọn lựa kỹ địa điểm cũng như di dân và các cơ cấu của Phủ Tổng Ủy, sẵn có trớn lại có thêm kinh nghiệm sống trong công tác, đã hoạt động một cách hữu hiệu.” (trang 22)

    Đó là nói về Dinh Điền, nhưng theo những gì tôi đã tìm hiểu tại chỗ thì đoạn báo cáo trích trên có thể được “hiểu” và “viết” như sau:

    “Trong năm 1957 58, phong trào di dân dinh điền ồ ạt quá, rồn rập quá và gần như không có chuẩn bị đầy đủ, vì: về địa điểm thì Trung Ương chưa chọn đủ nhiều; về quê quán thì lẫn lộn cả dân Miền Nam lẫn dân Miền Bắc di cư; về nghề nghiệp thì lẫn lộn nhiều ngành khác nhau; về chính trị thì lẫn lộn giới được chính quyền khen với giới bị chính quyền chê; về văn hóa thì lẫn lộn các tín ngưỡng khác nhau; v.v... Sau đó, đã được lần lần củng cố và cải tiến: đồng bào tín đồ Ky Tô Giáo được các linh mục hướng dẫn tách riêng; những ai được chính quyền xem là đã “tốt” rồi cũng được chiếu cố nhiều hơn; và các tay nghề ngành nào thì được đưa vào cảnh trí thích hợp với ngành ấy hơn... nhờ có thời giờ chuẩn bị, có hoàn cảnh chọn lựa kỹ địa điểm cũng như di dân và các cơ cấu của Phủ Tổng Ủy, sẵn có trớn lại có thêm kinh nghiệm sống trong công tác, đã hoạt động một cách hữu hiệu.”

    Cho nên chính quyền “tổ chức các địa điểm (Dinh Điền) thành một đơn vị có thể trở nên về sau một Khu Trù Mật có những khu gia cư khang trang...” (trang 15).

    Như thế chứng tỏ là “Khu Trù Mật” “cao cấp” hơn “Địa Điểm Dinh Điền” nhờ được chọn lựa kỹ địa điểm cũng như di dân. “Khu Trù Mật” là “Dinh Điền lý tưởng” vậy.

    Ngay việc đặt tên cũng đã nói lên điều đó: toàn Tỉnh chỉ có một Khu Dinh Điền bao gồm nhiều Địa Điểm Dinh Điền, trong lúc mỗi một địa điểm như thế trong Tỉnh mà được nâng lên loại hạng trù mật thì được gọi là Khu Trù Mật (mỗi Tỉnh có nhiều Khu).

    Kết quả: Kể từ 1960, Chương Trình “Khu Trù Mật” ra đời. Theo Thông Điệp của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm đọc tại Quốc Hội ngày 3 tháng 10 năm 1960 thì “Trong số 19 khu trù mật dự trù cho năm 1960, 17 khu đã khánh thành...”

    Riêng các “Khu Trù Mật” của đồng bào Ky Tô Giáo La Mã, do các linh mục cai quản thì tiến triển nhanh và phát đạt nhất, và còn tồn tại lâu dài... .

    VI. Ấp Chiến Lược

    Phủ Tổng Ủy Dinh Điền đã được thành lập từ ngày 23 1 1957, trong lúc “Ấp Chiến Lược” thì phải đợi đến năm 1962 (8 năm sau ngày TT Ngô Đình Diệm chấp chánh) mới được chính thức ra đời (như đã nêu trên).

    Phủ Tổng Ủy Dinh Điền thì trực thuộc Tổng Thống, mà lại được nêu trước tiên, trên mọi cơ quan chính quyền (và các Khu Dinh Điền ở Tỉnh thì được tự trị). Còn “Ấp Chiến Lược” thì chỉ là một bộ phận phụ thuộc của Bộ Nội Vụ (và chỉ có một Phòng tại Tòa Hành Chánh Tỉnh) mà thôi.

    Cho nên “Ấp Chiến Lược” không có mặt, nên không đóng góp một chút “công trạng” gì vào các thành tựu được kể, và chỉ có, vào những năm đầu (1954 1960) của nền Đệ Nhất Cộng Hòa.

    *

    Vì cả 3 chương trình đều có di dân, và mỗi “Ấp (Chiến Lược)” hay “Địa Điểm (Dinh Điền)” hay “Khu (Trù Mật)” đều có hàng rào kẽm gai và hào hố bao quanh (mặc dù mức độ, tầm vóc, và chủ đích khác nhau), cho nên từ năm 1962 trở đi dân chúng gọi chung là “Ấp Chiến Lược”.

    Và sau 1975 thì “Ấp Chiến Lược” được một số người kể công (ma) trong việc “ngăn chận Cộng Sản xâm lăng”.

    *

    Thật ra, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhất là Cố Vấn Ngô Đình Nhu dù là chính thức công bố vào năm 1962 nhưng đã âm thầm bắt đầu khởi công “Ấp Chiến Lược” từ cuối năm 1961, và xem nó là “quốc sách” ‒ công cụ (biểu tượng) chủ chốt của ý thức hệ (chủ nghĩa Nhân Vị) và uy tín của chế độ Nhà Ngô, mũi nhọn tác động cách mạng chính trị và văn hóa, mang lại một sự thay đổi chính yếu cho bản chất xã hội Miền Nam Việt Nam. Cố Vấn Ngô Đình Nhu tuyên bố từ nay chỉ chuyên đích thân và trực tiếp lo cho “Ấp Chiến Lược” mà thôi, đặt hết sự nghiệp chính trị vào chương trình này.
    Và khi trả lới Phóng Viên Báo Toronto Globe and Mail, hồi đầu năm 1963 và được in lại trong Nguyệt San Gió Nam, Ông Nhu đã xác định rõ ràng: “Tôi phải nói ngay rằng Chủ Thuyết Nhân Vị của tôi... . Hiện nay cái học thuyết Nhân Vị mà tôi cổ võ là một nền dân chủ đấu tranh trong đó tự do không phải là món quà của Ông Già Noel, nhưng mà là kết quả của một cuộc chinh phục bền bỉ và sáng suốt trong đời sống thực tế, không phải trong một khung cảnh lý tưởng mà trong những điều kiện địa lý chính trị đã được định sẵn. Chính cái quan niệm về tự do nầy đã khai mào cho toàn bộ chương trình ACL. Hệ thống Ấp Chiến Lược nầy sẽ làm thay đổi cơ cấu chính trị thượng tầng của chính phủ hiện tại... .” (5 5 1963, tr.68)

    Trong bức điện văn gửi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vào ngày 19 9 1963, Đại Sứ Mỹ Cabot Lodge đã kể: “Nhu nói thật nhiều, lập đi lập lại rằng ông ta đã sáng tạo ra các ấp chiến lược, rằng ai cũng bảo, kể cả người Mỹ, rằng ông ta sẽ không làm nổi được đâu, song ông ta vẫn đã làm được” (Nguồn: FRUS, vol. IV, 129).

    Mặc dù các tài liệu của Phương Tây cho thấy là "Ấp Chiến Lược" bắt nguồn từ Anh ở Mã Lai và Mỹ ở Phi Luật Tân, và cả Pháp ở Miền Bắc Việt Nam, đồng thời tài liệu của Phương Đông cũng cho thấy là từ Triều Nguyễn của chính Việt Nam (Đại Nam Thực Lục đã ghi: Tiểu Phủ Sứ Nguyễn Tấn [1820 1871] đã áp dụng kế sách gom dân lập ấp phòng thủ như thế từ năm 1863 trong việc đánh dẹp thành công người Mọi Đá Vách ở Tỉnh Quảng Ngãi), nhưng Ông Ngô Đình Nhu vẫn tự cho là, và tự hào rằng mình đã sáng tạo ra nó.

    Tuy nhiên, nỗ lực một cách tuyệt vọng của họ Ngô đã diễn ra trong một hoàn cảnh ngày càng bất lợi kể từ sau năm 1960. Trước hết, đại tá (nay là thiếu tướng) Edward G. Lansdale, người khách tại gia mà là bảo trợ viên vừa là tri kỷ vừa là ân nhân của TT Ngô Đình Diệm đã rời khỏi ông từ cuối năm 1956 rồi. Trước đó, phía Mỹ có 2 khuynh hướng: bình định bằng sức mạnh quân sự, và bình định bằng thế mạnh kinh tế. Lansdale thiên về kinh tế (điều kiện trước tiên để được lòng dân); Diệm cũng nhắm vào kinh tế (nên từ 1957 đã đốt giai đoạn, thực thi chương trình “Dinh Điền”). Nhưng giữa Lansdale và Diệm vẫn có một chút bất đồng (ngoài cái tỷ lệ phiếu bầu mà Lansdale gợi ý là nên thấp hơn cho khả tín hơn), một chút mà là một trời một vực: cũng cùng một việc cải tiến dân sinh mà theo Lansdale thì việc đó làm cho dân quê thấy rằng Diệm yêu quý dân quê, mà theo Diệm thì việc đó làm cho mọi người thấy rằng dân quê mang ơn Diệm nên tuân phục Diệm. Lúc đó Mỹ đã hướng nhiều về phản du kích chiến, nhưng viện trợ Hoa Kỳ thì vẫn kèm theo đòi hỏi chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa phải thực thi dân chủ, điều mà Diệm & Nhu vẫn mãi chối từ. Sau cùng, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu quay qua nhờ sự cố vấn của Sir Robert Thompson, Trưởng Phái Bộ Anh BRIAM (British Advisory Mission) là nguời chủ trương sử dụng tim óc thay cho bom đạn, song quan niệm về tim+óc thì vẫn có sự bất đồng giữa hai bên. Ngoài ra, một mặt thì Cộng Sản đã mạnh hơn, một mặt thì đồng bào đã bất mãn hơn, trong khi Đồng Minh Hoa Kỳ thì lạnh nhạt với Nhà Ngô hơn.

    Tôi đã đến thăm ban ngày, cũng như ngang qua ban đêm, một số “Ấp Chiến Lược”, dọc theo quốc lộ 14 tại Cao Nguyên Trung Phần, từ Tỉnh Darlac xuống Tỉnh Quảng Đức.

    Lý thuyết, và cả nhìn thấy, thì thật khả quan. Nhưng Ấp chận đường xét xe hơn là đề phòng du kích sau rào; và khi lúa chín, đáng lẽ sáng mai thì dân ra gặt, đêm nay dân phải ở lại trong Ấp, Cộng Sản ở ngoài tự do gặt hớt tay trên. Lính Quận chỉ có một đường đến Ấp; Cộng Sản đánh Ấp thì hẳn gài mìn, đào hố, đắp mô, tạo chướng ngại vật; lính sợ phục kích nên không hoặc chậm đến nơi; đến nơi thì sự đã rồi.

    Cộng Sản quả thật có bị thiệt hại, nhưng do các hoạt động khác, nhất là chiến dịch “Tố Cộng”, chứ không phải do “Quốc Sách Ấp Chiến Lược”, bởi lẽ giản dị là rừng núi bao la, ruộng rẫy mênh mông, Cộng Sản lội suối băng đồng, chứ đâu chỉ có đi trên các đường dẫn đến Ấp hay Địa Điểm hay Khu nào đâu mà bảo là “quốc sách” (chiến lược) ấy đã chận đường tiến quân của họ từ bưng vào thành, từ Bắc vào Nam. Hơn nữa, người dân vẫn phải ra ngoài (ruộng đồng, rẫy rừng) làm việc, dù là ban ngày, thì cũng vẫn bị Cộng Sản tiếp xúc, dò tin, móc nối, thu mua. Một khi Cộng Sản đã quyết “nhổ” một “chốt” nào thì họ lập hẳn sa bàn, tập dượt kỹ lưỡng, rồi dùng lực lượng áp đảo (người và vũ khí), hễ đánh là thắng chớp nhoáng, lính Quận không tiếp ứng kịp, lương thực vẫn bị cướp đi, súng ống lấy được của ta ngày càng làm giàu cho kho vũ khí của đối phương.

    Tóm lại, “Ấp Chiến Lược”, dù cho số lượng ít hơn Ấp thật ngoài đời (hằng vạn), nhưng nếu thành hình sớm hơn thì chúng cũng vẫn sẽ là một dãy tiền trạm, nếu không tự vệ thì cũng là một vành đai báo động, bao quanh các Quận, góp phần không ít cho việc quốc phòng. Còn “Địa Điểm Dinh Điền” hay “Khu Trù Mật” thì lại quá ít (chỉ hơn một trăm), mỗi một đơn vị đứng riêng một góc, như một ốc đảo, không đáp ứng được nhu cầu đề ra. Trong lúc đó, các Ấp còn lại ngoài đời (hằng vạn) suốt 8 năm qua vẫn là hành lang giao liên, thông tin, tiếp tế, tuyển mộ, ẩn náu, xuất quân, để địch ngày càng mạnh hơn (họ đã có thể công khai ra mắt Mặt Trận Giải Phóng từ năm 1960).

    Đến khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nhất là Cố Vấn Ngô Đình Nhu, từ giai đoạn 2 và giai đoạn 3 vào năm 1962 (chỉ hơn một trăm Dinh Điền và Khu Trù Mật) sực tỉnh mà quay trở xuống lại giai đoạn 1, muốn dựng cấp tốc một lần 8,000 “Ấp Chiến Lược” cho năm 1962 và 12,000 Ấp cho năm 1963 (đáng lẽ có thể đã thực hiện xong, nếu chịu thi hành giai đoạn 1 chậm nhất là từ năm 1957. Nhưng đến cuối năm 1963 mà chỉ mới có hơn 7,000 Ấp hiện diện ở trên hình thức, trong đó chỉ có khoảng 1,500 Ấp là đáng kể thôi), lúc đó thì đã muộn rồi, đã quá muộn rồi.

    Trong cuộc họp ngày 12 4 1963 cũng của Ủy Ban Liên Bộ, Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã nhận xét: “Tôi nhận thấy việc tiếp viện cho các ACL bị VC tấn công không được thực hiện đúng mức và kịp thời. Các tỉnh phải liên lạc thường xuyên bằng vô tuyến với các quận để thông báo tin tức cho nhau đề cao cảnh giác, đồng thời cấp quận cũng phải liên lạc luôn luôn với các ACL để hỏi biết tình hình, tin tức, và đốc xuất họ đề cao cảnh giác, nhất là về ban đêm và các ngày nghỉ lễ, chiều thứ bảy, ngày chủ nhật. Thường, tôi thấy các địa phương còn thiếu ý thức cảnh giác, nhất là trong những ngày nghỉ, vì vậy tôi yêu cầu các ông tỉnh trưởng, quận trưởng phải cố gắng làm việc nhiều hơn trong những ngày đó. Nếu cần nghỉ, thì nghỉ vào những ngày khác trong tuần, để tránh quy luật cố định mà địch có thể lợi dụng”.

    Năm tháng trôi qua, vào ngày 6 9 1963 Cố Vấn Ngô ĐìnhNhu lại triệu tập một cuộc họp của Ủy ban liên bộ đặc trách ấp chiến lược, với nhiều bộ trưởng, tướng lĩnh, do Nhu chủ tọa. Trong cuộc họp này, Nhu đã phiền trách các tướng tá: “Sau mỗi lần VC tấn công một ấp chiến lược (ACL), tôi yêu cầu các Khu chiến thuật và cấp tỉnh, quận tổ chức hành quân trả đũa tức thời. Vấn đề này tôi đã đề cập nhiều lần nhưng chưa thấy các nơi tích cực thi hành. Nếu ta không hành quân trả đũa, thì đương nhiên ta khuyến khích địch tấn công mạnh các ACL. Tôi cũng nhận thấy bên quân đội không chú trọng nhiều tới việc yểm trợ công tác xây dựng ACL”.

    Nguồn: “Intra Ministry Committee for Strategic Hamlets”, Douglas Pike Collection: Other Manuscripts, Texas Tech University.

    h**p://vietbao.vn/Phong su/My va cuoc dao chinh Diem Nhu Nhu va ap chien luoc/40003654/262/

    Quân Đội mà không chú trọng đến “Ấp Chiến Lược” thì “quốc sách” ấy hẳn đi về đâu?

    (xem Tham Chiếu 5)

    LÊ XUÂN NHUÂN

    *

    Tham Chiếu 1:

    “... Chương Trình Ấp Chiến Lược bị gián đoạn và sau đó bị hủy bỏ qua sắc luật SL.103/SL/CT, giải tán ủy ban đặc trách Ấp Chiến Lược ở trung ương và vùng, do thủ tướng Nguyễn Khánh ký ngày 9 tháng 3 1964. ...”
    Nguồn: Từ Điển Chiến Tranh Việt Nam. Nguyễn Kỳ Phong. Garden Grove, CA: Nhà Sách Tự Lực, 2009 (trang 16).

    “... 9.3.1964 Giải tán Ủy Ban đặc trách Ấp Chiến Lược, ở Trung ương và Khu (SL.103/SL/CT) ”

    Nguồn: Hai Mươi Năm Qua. Đoàn Thêm. Los Alamitos, CA: Xuân Thu (trang 383)

    Tham Chiếu 2:

    LANSDALE, EDWARD

    “Chuyên viên chống nội loạn và du kích chiến. Giúp Philippines đánh tan quân Cộng Sản Huk, dựng ghế nguyên thủ cho Tổng Thống Magsaysay, và từ năm 1954 qua giúp Ngô Đình Diệm. ...”

    Nguồn: Việt Nam Niên Biểu, Nhân Vật Chí. Chính Đạo. Houston, Texas: Văn Hóa, 1997 (trang 195)

    Lansdale, Edward Geary: Được Tổng Thống Elpidio Quirino của Phi Luật Tân đích thân yêu cầu sung vào Phái Bộ Quân Trợ Hoa Kỳ tại Phi Luật Tân để giúp cơ quan quân báo của nước này đánh dẹp Cộng Sản Hukbalahap (Huks), vào lúc Ramon Magsaysay vừa được cử làm Bộ Trưởng Quốc Phòng, và Lansdale được chọn làm sĩ quan liên lạc với ông ta. Hai người trở thành bạn thân, cùng đi quan sát chiến trường. Lansdale giúp quân lực Phi triển khai hoạt động tâm lý chiến, dân vận, và phục hoạt tù binh Huks. Ông đã tạo dựng cho Magsaysay sau đó trở thành “vị tổng thống tài ba nhất” của Phi. Vào năm 1953, Lansdale được chọn là một trong các tay tình báo giỏi nhất của Hoa Kỳ để sung vào Phái Bộ của thiết tướng (gan lì như sắt thép) Mỹ John W. O'Daniel tại Đông Dương, (trung tướng mà tự xuống lon thiếu tướng cho đúng thủ tục ngoại giao để làm) cố vấn phản du kích chiến cho binh lực Pháp chống Việt Minh. Năm 1954, Lansdale được Tổng Thống Mỹ Dwight D. Eisenhower đặc phái trợ giúp riêng cho Ông Ngô Đình Diệm, với tư cách Chỉ Huy Trưởng “Phái Bộ Quân Sự Sài Gòn” (SMM= Saigon Military Mission), mang danh quân sự mà nằm ngoài Phái Bộ Cố Vấn Viện Trợ Quân Sự Mỹ (MAAG) tại Việt Nam, hoạt động tình báo mà nằm ngoài cơ cấu Tình Báo CIA tại Việt Nam, nhận lệnh và báo cáo trực tiếp lên Giám Đốc Tình Báo Trung Ương (CIA) Allen Dulles tại Hoa Kỳ, cấp tốc đáp nhờ chuyến thủy phi cơ đầu tiên nhân bay tuần thám trên Biển Nam Hải từ căn cứ Không Quân Clark, đến sẵn Sài Gòn từ cuối tháng 5, trước khi Ông Ngô Đình Diệm từ Pháp về nước (vào ngày 25 tháng 6), bắt tay vào việc bằng cách cuốc bộ hoặc đi xích lô (trong lúc lính quèn của Pháp thì dùng xe Jeep do Mỹ viện trợ). Tại Miền Bắc Lansdale áp dụng chiến thuật tuyên truyền đen; ngụy tạo tài liệu về tội ác của Việt Cộng và Hoa Cộng; phao tin có mấy sư đoàn lính Tàu đã vượt biên giới qua cướp bóc và hiếp dâm dân ta; in các sách bói đứng tên các nhà chiêm tinh và lý số nổi tiếng ở Hà thành tiên đoán Cộng Sản sẽ thảm sát lương dân và Miền Nam sẽ sớm phồn vinh; đồn miệng là Việt Minh sắp sửa đổi tiền khiến đồng bạc “cụ Hồ” mất giá 50%; rỉ tai rằng “Đức Mẹ” đã đi vào Nam khiến số tín đồ Ky Tô Giáo di cư tăng 300%; dùng chí nguyện quân Phi phá hoại máy móc và hệ thống giao thông trước khi rút lui; tổ chức các lực lượng bán quân sự nằm vùng sau khi Việt Minh đến tiếp thu... . Tại Miền Nam Lansdale giúp loại Tướng Nguyễn Văn Hinh; huấn luyện quân đội; móc nối các lãnh tụ giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo về với chính quyền; cải tuyển cựu lực lượng Cao Đài do Tướng Trình Minh Thế chỉ huy để đánh dẹp Bình Xuyên; đặt kế hoạch cho cuộc Trưng Cầu Dân Ý truất phế Bảo Đại với mánh lới “xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì”; được TT Ngô Đình Diệm xem là người bạn Mỹ tín cẩn nhất, mời vào ở chung, tâm sự cả chuyện tình yêu nam nữ của mình. Neil Sheehan viết rằng Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa của Diệm là do Lansdale dựng nên... . Năm 1963, trong bộ tham mưu của Tổng Thống Mỹ Kennedy, Lansdale chống lại mưu toan lật đổ TT Diệm nên bị mất chức.

    Nguồn: Edward Geary Lansdale. 1991. In the Midst of Wars. New York: Fordham University Press.
    h**p://www.ask.com/wiki/Edward_Lansdale
    h**p://www.statecraft.org/chapter8.html
    h**p://www.historynet.com/ed lansdales black warfare in 1950s vietnam.htm

    Tham chiếu 3:

    Theo Ông ĐOÀN THÊM
    (Cựu Phụ Tá Đổng Lý Văn Phòng Phủ Tổng Thống Đệ Nhất Cộng Hoà):

    “3 2 1962. Thiết lập Ủy ban Trung ương đặc trách Ấp Chiến lược. Ủy ban họp mỗi tuần một lần, do Cố Vấn Ngô đình Nhu chủ tọa, gồm đa số các Bộ trưởng và cao cấp quân dân chính (SL 11/TTP)”
    Nguồn: Hai Mươi Năm Qua Việc từng ngày (1945 1964). Đoàn Thêm. Houston, Texas: Xuân Thu, 1965 (trang 314)

    Theo nhà văn CHÍNH ĐẠO
    (Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu):

    “3/2/1962:

    *Saigon: Diệm ký nghị định số 11/TTP, tuyên bố quốc sách Ấp Chiến Lược, và thành lập Ủy Ban Liên Bộ đặc trách Ấp Chiến Lược...”

    Nguồn: Việt Nam Niên Biểu 1939 1975 Tập I C: 1955 1963. Chính Đạo. Houston, Texas: Văn Hóa, 2000 (trang 241)

    Theo Tiến Sĩ NGUYỄN ĐÌNH TUYẾN

    (Cựu giáo sự Đại Học Vạn Hạnh và Đà Lạt):

    “Ngày 22 tháng 3 năm 1962

    Hơn 4,000 Ấp Chiến Lược được chính phủ Ngô Đình Diệm công bố thành lập ở miền Nam Việt Nam. Các ấp chiến lược này được tổ chức theo kiểu mẫu của các làng chống Cộng bên Mã Lai đã giúp Mã Lai thanh toán hiểm họa đỏ...”
    Nguồn: Những Biến Cố Lớn trong 30 Năm Chiến Tranh tại Việt Nam 1945 1975. Nguyễn Đình Tuyến. Houston, Texas: Đại Học Đông Nam, 1995 (trang 63)

    Ý Kiến: Tổng Thống Ngô Đình Diệm (và Cố Vấn Ngô Đình Nhu) cầm quyền từ 7 7 1954 đến 1 11 1963 (là hơn 9 năm), mà mãi đến năm 1962 (tức là 8 năm sau − cũng là 2 năm sau khi đã bước vào thời kỳ suy thoái rõ rệt của chế độ từ năm 1960 rồi), mới chịu đem cái "bửu bối" Ấp Chiến Lược ra mà thi hành, thì làm sao mà bảo là Ấp Chiến Lược đã vô hiệu hóa được hoạt động của Cộng Sản tại Miền Nam Việt Nam?

    Tham chiếu 4:

    Theo Ông NGUYỄN HỮU HANH
    (Cựu Cố Vấn Kinh Tế, Tài Chánh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm; cựu tổng giám đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam [1955 1962]):

    ... Ông (Ngô Đình Diệm) làm việc rất nhiều, cả ngày lẫn đêm, bởi ông chẳng có trò giải trí nào, không chơi môn thể thao nào, không có món tiêu khiển bất cứ kiểu nào. Môn giải trí duy nhất của ông là đi thanh tra các dự án xây dựng mới, các vùng kinh tế mới, các khu định cư mới, những gì mà ông tin rằng ông đã làm vì quyền lợi dân chúng. Bởi vì ông rất nôn nóng nhìn thấy những việc này tiến triển nhanh chóng, nên những viên chức có trách nhiệm thường gian lận và nói dối ông. Một ngày nọ, khi tôi đi thăm vùng đồng bằng sông Cửu Long, dân chúng trong vùng đã chỉ tôi xem những cái cây mới mà viên tỉnh trưởng bắt họ trồng trong một dự án tái định cư để ông Diệm đi thanh sát. Theo lời đề nghị của các bô lão địa phương, người tài xế của tôi đã nhổ thử một cây lên cho tôi xem: đó là một cành cây mới cắt được cắm xuống đất ướt! Ở nông thôn người ta biết tôi rất gần gũi với tổng thống và tôi dám nói sự thật với ông, vì vậy họ không ngần ngại tiết lộ các trò gian lận và những cuộc trình diễn dỏm của đám tỉnh trưởng và quận trưởng.

    Một lần khác tôi tới thăm một vùng kinh tế mới gần Mỹ Tho; tôi nhìn thấy một dãy hàng cây ăn quả dọc lộ có vẻ như sắp chết héo. Tôi dừng xe lại, bước tới coi. Một người nông dân tiến tới phía tôi và hỏi nhỏ tôi có muốn coi mấy cây hay không. Anh ta nhổ lên một cây và đưa cho tôi: đó là một cái cành được cắt khỏi cây và cắm xuống đất. Anh ta lập tức biến mất, rõ ràng sợ bị nhìn thấy nói chuyện với người lạ. Sau này tôi được biết là những việc như vậy xảy ra rất thường xuyên, bởi vì các viên tỉnh trưởng và quận trưởng đều muốn tỏ cho Diệm thấy là họ đã mở mang các dự án mới một cách mau chóng, họ muốn được ông Diệm đánh giá cao, muốn “ghi điểm”, và thăng chức. Tôi nghe nói một lần ông đến thăm một dinh điền mới với một ông trung tá, trách nhiệm về dinh điền này, ông cầm lên xem một cành cây có trái; bỗng nhiên cành cây rơi xuống đất, ông biết là cành cây mới được cắm. Ông quay lại nhìn ông trung tá, mặt ông đỏ bừng; ông hét lên, ông cầm cây ba ton của ông, đánh vào người ông trung tá. Ông này quỳ xuống lạy xin tha tội, mặt tái mét và nước mắt rưng rưng; vài ngày sau ông trung tá bị cách chức và đày đi nước độc.
    (Trích từ cuốn hồi ký “Brushing the World Famous” (“Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới”)

    Theo cựu Đại Tướng CAO VĂN VIÊN
    (qua bài viết của Ông Lâm Lễ Trinh):

    LLT: Trong hồi ký “Vietnam. Histoire secrète d'une victoire perdue” (nxb Perrin, Paris, 1986), giám đốc CIA William Colby xác nhận kế hoạch Ấp Chiến Lược, Strategic Hamlets... . Đúng như vậy không?

    CVV: Kế hoạch Ấp Chiến Lược là một việc phải làm để tách CS ra khỏi nhân dân, tách cá khỏi nước, như đã từng thí nghiệm tốt ở Mã Lai với tướng Robert Thompson. Tại VN, có những sơ sót trong việc thi hành bởi một số tỉnh trưởng dàn cảnh, để lấy điểm với thượng cấp.

    (Trích từ “MẠN ĐÀM VỚI ĐẠI TƯỚNG CAO VĂN VIÊN” của Lâm Lễ Trinh, ngày 27.1.2006)

    Theo Ông DƯƠNG HIẾU NGHĨA

    (Cựu đại tá trong lần diện kiến Tổng Thống Ngô Đình Diệm vào đầu tháng 11 1960 trước khi được bổ đi làm quận trưởng Quận Bình Minh thuộc Tỉnh Vĩnh Long):

    “... Tôi quyết định phải lợi dụng cơ hội duy nhất và hiếm có nầy để thẳng thắn và vắn tắt trình bày những nhận xét của cá nhân tôi về mặt chánh trị, kinh tế, và những điểm bất lợi cho cả chánh phủ lẫn nông dân ở địa phương, đang tạo hậu quả tai hại là sự thất nhơn tâm, vì người dân gặp quá nhiều phiền phức, mất niềm tin vào chánh quyền. Tôi nói:

    “Thưa tổng thống, các Khu Trù Mật thật sự không có trù mật chút nào. Về phương diện vật chất, người nông dân bị mất đất mất ruộng, đôi khi còn mất cả mùa màng vì phải phá đi sạch sẽ kể cả mồ mả của tổ tiên, cho công tác xây cất Khu Trù Mật, mà không bao giờ được bồi thường thiệt hại. Người dân địa phương còn phải đóng góp công sức và thì giờ vào công tác, mà không bao giờ được trả thù lao (coi như làm xâu). Có trù mật thiệt, nhưng chỉ có trù mật một buổi, vào ngày Tổng Thống xuống khánh thành mà thôi. Trước cả ngàn người dân quê từ các nơi trong tỉnh được huy động về để biến khu đất hoang thành Khu Trù Mật, bằng cách bứng đủ mọi loại cây ăn trái đem về trồng, trang trí, để Tổng Thống và phái đoàn thưởng thức. Có nhiều cây dừa, cau, mới trồng chỉ có một ngày mà đã lên cao hơn 10 thước, đầy trái... Có nhiều cây bưởi “năm roi” của miền Tây mới trồng có một ngày mà có đầy những trái bưởi ngọt “Biên Hòa” vàng ánh, không phải ghép cành mà là ghép trái! Cũng vậy, cam quít trái mùa nhờ kỹ thuật cao “gắn trái ngoài chợ vào”, nên vẫn có trái đỏ cây, đầy vườn, đầy khu... Khu phố chợ vừa mới xây cất xong mấy hôm trưóc, hôm qua còn tạm dùng làm chỗ ngủ cho dân công mà hôm nay có đầy đủ các hiệu chạp phô, tiệm thuốc tây, tiệm thuốc bắc, quán cơm, tiệm cà phê, phòng mạch bác sĩ v.v... từ quận tỉnh mới dọn vào. Ngoài nhà lồng chợ, thì cảnh buôn bán tấp nập. Nhà bảo sanh mới hôm qua còn là phòng họp của ban điều hành buổi lễ khánh thành, mà hôm nay đã có vài người mẹ nằm sanh (không biết từ đâu được đưa đến), giường nệm trắng tinh, tươm tất...

    Mới nhìn qua thì thật là trù mật, nhưng khi tổng thống và phái đoàn ra về rồi, thì dân và hàng hóa đâu lại về đó. Vài ngày sau, hoang tàn trở lại với hoang tàn. Cây không trái, lá lìa cành,... cả một màu vàng héo, không còn thấy có một sinh khí nào ở cái khu mà vừa mấy ngày trước đây tổng thống và phái đoàn chánh phủ, ngoại giao đoàn... thấy là quá trù mật... Nếu tổng thống thật sự muốn thấy cảnh hoang vu vắng vẻ nầy, thì xin tổng thống bất thần đi viếng thử bất cứ Khu Trù Mật nào mà tổng thống vừa đến khánh thành một hai ngày trước đó.

    “Tôi cũng trình bày luôn với tổng thống vấn đề an ninh của Khu Trù Mật. Từ ngày khởi công thành lập cho tới ngày khánh thành (và sau đó về lâu về dài an ninh cho một khu đất bỏ hoang) là cả một gánh nặng phí phạm cho lực lượng địa phương. Chính phủ không tranh thủ được nhân tâm của người dân, mà còn phải bị thất nhân tâm hoàn toàn. Người dân quê càng ngày càng xa chánh quyền, như thế thật là không có lợi cho nỗ lực chống Cộng....

    “... Qua mẩu chuyện nhỏ nầy, cá nhân tôi thấy Tổng Thống Ngô Đình Diệm có chịu khó nghe và tìm hiểu tình hình, nhưng lúc nào tổng thống cũng có vẻ như bị bưng bít, (nghe thì không nghe được sự thật, thấy thì chỉ thấy toàn là những cảnh được thuộc cấp dàn dựng) lại còn được những người ở chung quanh Tổng Thống cố tình sơn phết cho ông một lớp sơn phong kiến và quan liêu (mà ở bản thân tổng thống tôi không thấy có), rất là tai hại cho người lãnh đạo lúc bấy giờ. Dĩ nhiên, cũng rất có hại cho đất nước nữa. Và tôi nghĩ đó cũng là một trong nhiều nguyên nhân gây ra cái chết cho tổng thống vào ngày 2 tháng 11 năm 1963....”

    (Trích từ bài viết “VỀ CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM” của Ông Dương Hiếu Nghĩa Saturday, July 19, 2008 12:33 AM)

    AP CHIEN LUOC

    “In 1961 the rapid increase of insurgency in the South Vietnamese countryside led President John F. Kennedy's administration to decide to increase United States support for the Diem regime. Some $US65 million in military equipment and $US136 million in economic aid were delivered that year, and by December 3,200 United States military personnel were in Vietnam. The United States Military Assistance Command, Vietnam (MACV) was formed under the command of General Paul D. Harkins in February 1962. The cornerstone of the counterinsurgency effort was the strategic hamlet program, which called for the consolidation of 14,000 villages of South Vietnam into 11,000 secure hamlets, each with its own houses, schools, wells, and watchtowers. The hamlets were intended to isolate guerrillas from the villages, their source of supplies and information, or, in Maoist terminology, to separate the fish from the sea in which they swim. The program had its problems, however, aside from the frequent attacks on the hamlets by guerrilla units. The self defense units for the hamlets were often poorly trained, and support from the Army of the Republic of Vietnam ( ARVN) was inadequate. Corruption, favoritism, and the resentment of a growing number of peasants who were forcibly being forced to resettle plagued the program. It was estimated that of the 8,000 hamlets established, only 1,500 were viable.”

    Đại Ý:

    “Trong năm 1961, cường độ dấy loạn ở vùng nông thôn Miền Nam Việt Nam gia tăng nhanh chóng đã khiến chính quyền của Tổng Thống John K. Kennedy quyết định gia tăng yểm trợ của Hoa Kỳ cho chế độ Diệm. Khoảng 65 triệu Mỹ kim quân dụng và 136 triệu Mỹ kim kinh viện đã được chuyển giao trong năm ấy, và vào tháng chạp thì đã có 3.200 nhân viên quân sự tại Việt Nam. Bộ Tư Lệnh Quân Trợ Hoa Kỳ được thành lập (MAC V) dưới quyền của Tướng Paul D. Harkins vào tháng 2 năm 1962. Then chốt của nỗ lực chống khuynh đảo là Chuơng Trình Ấp Chiến Lược, ra đời để củng cố 14,000 làng xã Nam Việt Nam thành 11,000 ấp kiên cố, trong mỗi ấp đều có nhà cửa, trường học, giếng nước, và tháp canh. Mục đích của các ấp này là tách rời du kích ra khỏi các làng, tức nguồn cung cấp tiếp tế và tin tức, hoặc, nói theo ngôn ngữ của Mao Trạch Đông, là tách cá ra khỏi nước. Tuy nhiên, chương trình này đã vấp nhiều khuyết điểm, chưa kể các đơn vị du kích vẫn tấn công vào ấp thường xuyên. Các bộ phận tự vệ trong ấp thường thì không được huấn luyện chu đáo, và sự tiếp viện từ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì không thỏa đáng. Tệ nạn tham nhũng, bè phái, và lòng oán hận của dân quê ngày càng gia tăng, vì họ bị buộc phải rời bỏ xóm làng cũ, đã gây tổn hại cho chương trình. Người ta ước tính là trong số 8,000 ấp đã được dựng lên, chỉ có 1,500 ấp là có thể đứng vững được.”

    Nguồn: “The Fall of Ngo Dinh Diem” h**p://countrystudies.us/vietnam/27.htm


    Nguồn:
    h**p://en.wikipedia.org/wiki/Strategic_Hamlet_Program
    h**p://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon2/pent4.htm
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn