Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Ban Mê Thuột NGÀY ĐẦU CHIẾN CUỘC. (Tháng 3 nhớ Ban Mê Thuột)

Chủ đề trong 'Bài Viết Về Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa' do tu du khởi đầu 13 tháng Ba 2018.

  1. tu du

    tu du Người nhà

    ***

    upload_2018-3-13_19-44-31.png


    Bản đồ này copy từ tư lieu của Kiến Trúc sư Phạm Ngọc Cảnh

    và KTS Hòang Mai (ban đồ Banmethuot 1960)


    Lời mở đầu



    Ban Mê Thuột thất thủ đã mở đầu cho những tai họa thảm khóc tại miền Nam Việt Nam. Quân Đoàn II di tản, rồi Quân Đoàn I và toàn thể miền Nam Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản Bắc Việt. Hàng triệu người bỏ nước ra đi bằng đường biển, hàng trăm ngàn người khác vượt biên qua các ngã đường biên giới Cam Bốt, và cũng hàng trăm ngàn người bị mất tích trên bước đường chạy trốn tìm tự do. Điều đó là minh chứng hùng hồn nhất cho lịch sử dân tộc và cũng cho cả thế giới hiểu thế nào là thảm họa Cộng Sản.

    Hơn 400,000 sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, viên chức chính phủ, nhân viên tình báo, Cảnh Sát Quốc Gia, văn nghệ sĩ, giáo sư, bác sĩ, thành phần trí thức . . . bị bắt đi tù lao động khổ sai . 1 triệu 500 ngàn người gồm các doanh nhân , công kỹ nghệ gia, tiểu thương gia . . . đều bị tịch thu tài sản và bắt đi vùng Kinh Tế Mới trong cái gọi là ‘’đánh tư sản mại bản‘’. Thảm trạng nhà tan, cửa nát , cốt nhục phân ly, nhân tâm ly tán , thật không bút nào tả xiết .

    Và vào thời đó, người ta cho rằng nguyên nhân của các thảm họa ấy là việc để mất Ban Mê Thuột, thị xã cuả tỉnh Đarlắc , một cái nôi kinh tế của vùng Cao Nguyên đất đỏ, và là trung tâm chính trị, quân sự của Cao Nguyên Trung phần và Nam Trung phần .

    Nhiều người đã nói về Ban Mê Thuột trong những ngày kinh hoàng đó. Nhiều tác gỉa đã viết về mặt trận Ban Mê Thuột . Và một vài cấp chỉ huy thẩm quyền cũng đã trình bày quan điểm cá nhân về sự kiện Ban Mê Thuột .

    Tất cả những bài viết đó đã được đưa ra vào thời điểm mà tâm trạng của rất nhiều nguời, đặc biệt là những quân nhân tham chiến tại các mặt trận Đức Lập (một quận thuộc Tỉnh Quảng Đức, thất thủ vào ngày 9 tháng 3 năm 1975), những người lính của Tiểu Khu Đarlắc, của Sư Đoàn 23 BB , và của Vùng II Chiến Thuật, còn lên cơn sốt, nên các bài viết đó có thể đả không đề cấp đến một vài chi tiết .

    Trong cuốn nhật ký này, tôi chỉ làm một người kể chuyện, ghi lại những sự việc đã xảy tại Ban Mê Thuột trong khoảng từ tháng 2/1975 cho đến ngày Quân Đoàn II di tản . Những sự việc nghe và thấy được ghi lại trung thực, mà không có ý trình bày quan điểm của cá nhân . Tôi quan niệm, phê bình là quyền của lịch sử , vì trong sự kiện mất Ban Mê Thuột, rồi lảnh thổ Quân Đoàn II, chỉ là bước khởi đầu , mà mỗi người dân miền Nam, quan hay lính, trí thức hay lao động, đều phải tự hỏi chính bản thân mình khi đặt vấn nạn .

    Và ngày nay, chúng ta càng rõ ràng hơn bao giờ hết là tại sao nền cộng hòa của miền Nam sụp đổ, phải chăng vì sự thay đổi các cấp, chức quân sự của đồng minh Hoa Kỳ từ William C. Westmoreland làm tư lệnh quân đội Mỹ tại miền Nam với chiến thuật search and destroy (truy lùng và tiêu diệt ) và Creighton W. Abrams với chiến thuật clear and hold (quét sạch và bình định ) hay là vì khẩu AK 47 đã đến trên chiến trường miền Nam từ năm 1964 , trong khi Quân lực VNCH vẫn dùng khẩu Grand và Carbine bắn từng phát một cho mãi đến năm 1968, sau Tết Mậu Thân mới được trang bị M-16 . Hoặc là người đứng đầu Bạch cung Richard M. Nixon đã bội ước không thực hiện lời cam kết khi ép buộc Việt Nam Cộng Hòa phải chấp nhận các điều khoản của Hiệp Định Paris 27 tháng 1 năm 1973 , rằng nếu Cộng Sản Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris thì Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng vũ lực, rằng Hoa Kỳ sẽ thực hiện trên căn bản một- đổi - một các chiến cụ mà Quân lực VNCH bị tổn thất .

    Nhưng tiếc thay, khỏan quân viện nhỏ nhoi cuối cùng, 300 triệu dành cho quốc phòng cũng bị Quốc Hội Mỹ bác bỏ - Cấp số nhiên liệu xăng dầu cho hành quân bị cắt giảm 50% . Đạn dược bị hạn chế, bom bị rút hết ngòi nổ . Quân lực VNCH kiêu hùng bấy giờ đã bị bức tử .

    Tuy nhiên, một điều mà mỗi người lính tham chiến tại mặt trận này, hay là trong suốt cuộc chiến 20 năm vì lý tưởng tự do trên khắp bốn vùng Chiến Thuật , đều rất lấy làm an ủi và tự hào, vì mỗi quân nhân, tự bản thân họ đã làm hết sức mình, có những người đã xử dụng cho đến viên đạn cuối cùng . Có những cấp chỉ huy vô cùng can trường, anh dũng , sống chết với đơn vị và thuộc cấp trong tình huynh đệ chi binh; Cũng có một thiểu số yếu kém, thiếu tự tin , đã không làm tròn chức vụ , đã bỏ đơn vị hay từ nhiệm khi lâm trận .

    Cho đến hôm nay đã hơn một phần tư thế kỷ, cuộc chiến thực sự đã chấm dứt . Ba mươi năm qua không còn nghe tiếng đạn bom, lòng thù hận của kẻ chiến thắng đã có tự chế, nhưng cảnh tai ương, ly tán và tang tóc như vẫn còn đó

    Tuổi trẻ Việt Nam có quyền đặt câu hỏi: Tại sao 30 năm qua, quê hương hòa bình, mà xã hội Việt Nam vẫn còn chập chững trên mọi lảnh vực : Kinh tế, văn hóa, khoa học kỷ thuật . . . Có phải đường lối của đảng Cộng Sản đã cản trở bước tiến của xã hội Việt Nam và sự phát triển khoa học kỷ thuật nâng cao mức sống của người dân hay không ? Một nền chính trị hà khắc, một xã hội thối nát vì độc đảng, một nền khoa học kỷ thuật mà con trâu vẫn đi trước cái cày ! Tai hại hơn là vẫn chưa thấu suốt tấm gương của khối Liên Xô và sự sụp đổ của khối cộng sản Đông Âu .

    Trở về với Ban Mê Thuột ngày đầu chiến cuộc, xin đọc gỉa, một lần nữa , hãy xem đây là một chuyện kể, như bao câu chuyện kể trên đời có khi cũng làm ngậm ngùi một đôi người nhạy cảm hay hoặc gỉa có làm phẩn nộ bi ai một người nào, thì cũng xin coi như một kỷ niệm đáng tiếc trót đã xảy ra.


    Xứ tuyết năm thứ 13, 2004 .

    Nguyễn Định.




    BAN MÊ THUỘT
    NGÀY ĐẦU CHIẾN CUỘC



    Phần 1


    Cho đến hôm nay tôi vẫn chưa sao quên được Ban Mê Thuột và bao kỷ niệm yêu dấu của tuổi ấu thơ trên thành phố nhỏ bé này, mà đặc biệt là Ban Mê Thuột với nỗi kinh hoàng của đêm ngày 9 tháng 3/1975, đêm đen hãi hùng của chiến tranh và lửa đạn.

    "Ai chiếm được Ban Mê Thuột, kẻ đó làm chủ chiến trường." Tôi không còn nhớ ai đã nói câu này, nhưng Ban Mê Thuột quả thật có một vị trí chiến lược vô cùng trọng yếu đối với miền cao nguyên, vì lãnh thổ của tỉnh Darlac, mà Ban Mê Thuột là thị xã, nằm trên Quốc Lộ 14, chạy dài từ phía Nam là tỉnh Quảng Đức, nối tiếp với Vùng 3 Chiến Thuật. Phía Bắc là tỉnh Phú Bổn chạy dài đến Pleiku. Phía Tây là một dãy rừng già tiếp giáp với biên giới của các nước láng giềng (ngã 3 biên giới). Từ khu vực phía tây, một nhánh sông Serepok bắt nguồn từ Cam Bốt chạy xuyên Ban Mê Thuột cắt Quốc Lộ 14 ở phía Nam thị xã 14 km (cầu 14).

    Tất cả những điểm đặc biệt của địa hình này đã tạo nên một ưu thế cho chiến tranh du kích. Hơn thế nữa, Đông Bắc thị xã Ban Mê Thuột là Quận Phước An, quận cuối cùng của tỉnh Darlac, mà cũng là gạch nối giữa vùng cao nguyên và miền duyên hải qua cửa ngỏ Khánh Dương, Nha Trang bằng Quốc Lộ 21. Cho nên, nếu nói Ban Mê Thuột là cái rún của vùng cao nguyên qủa thật không phải là quá đáng.

    Ban Mê Thuột cũng là cái nôi kinh tế của miền đất đỏ. Nếu nói tới cây thông Đà Lạt, hay trà ở B'lao, thì nhất định phải nói tới cà phê Ban Mê Thuột và những dãy đồn điền cao su hàng chục ngàn mẩu. Rừng là tài nguyên vô cùng quý của quốc gia. Ban Mê Thuột là nơi tàng trữ và sản xuất các loại cây, gổ quý như cẩm lai, cà te, gụ, lim, sên sên, cây dầu, cà chích, bằng lăng... nên đã trở thành trung tâm khai thác lâm sản bậc nhất trên toàn quốc, và đã nuôi sống không biết bao nhiêu ngành sản xuất của nền kinh tế quốc dân thời bấy giờ.


    Với bốn quận gồm:

    - Lạc Thiện (nằm ở hướng Đông),

    - Phước An (hướng Đông Bắc),

    - Buôn Hô ( ở hướng Bắc)

    - và Ban Mê Thuột là quận châu thành,


    Dân số toàn tỉnh có khoảng 150 ngàn, mà thị xã Ban Mê Thuột chiếm 60 ngàn, gồm cả Kinh lẫn Thượng. Người Thượng với nhiều sắc dân như Ê Đê, Bana, H'mong... và với 15 trường trung học và tiểu học như Bồ Đề, La San, Hưng Đức, Vinh Sơn, Bán Công (sau này đổi lại thành trường Tỉnh Hạt), Trung Học Tổng Hợp (công lập), Trung Học Nông Lâm Súc, Trung Học Sư Phạm Cao Nguyên...


    Tám mươi phần trăm dân số sống bằng nghề trồng ngũ cốc và cây kỹ nghệ cà phê, cao su, tiêu, ca cao. Người Thượng theo tập tục Cúng Dàng, người Kinh là tín đồ của các tôn giáo như Phật, Thiên Chúa, Tin lành, Cao Đài, Hòa Hảo và cũng như thờ cúng Ông Bà.

    Điểm đặc biệt của thị xã này là những thắng cảnh rất nổi tiếng và nên thơ như Vườn Ương, với dãy rừng Trắc Bá chạy dài theo con lộ từ phi trường dân sự Phụng Dực tới cây số 5, "Thung Lũng Tình Yêu," "Rừng Chim Chích," Suối Hẹn Hò," "Đồi Cỏ Vàng," "Vườn Mộng," "Thung Lũng Hồng," "Thác Drayling…" để những chiều nhàn rỗi, các đôi tình nhân đem nhau đến vườn mộng ngắm cỏ úa của mùa thu, hay mỗi Hè về, nhìn hoa Phuợng nở trên khuôn viên trường Tổng Hợp, hoặc là đi thăm khu kỹ nghệ cây số 7 để ngâm mình trong suối đá xanh mà ngắm hoa Bằng Lăng, trắng, đỏ, tím, hồng, nở rộ trên những đồi hoang.

    Nhưng tất cả những cảnh vật đó, sinh hoạt đó, đã bị vùi chôn và hủy diệt bằng các trận mưa pháo của đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly, chiến xa T-54, và 3 sư đoàn quân Cộng Sản Bắc Việt vào mùa xuân năm Ất Mão, ngày 10 tháng 3/1975. Ban Mê Thuột, hay "Bụi Mù Trời" đã tan tác hết, phần đất bé nhỏ của quê hương yêu dấu tôi yêu.

    NHỮNG NGÀY ĐẦU CHIẾN CUỘC

    Có lẽ không phải chỉ riêng tôi, mà hầu hết những người dân của thị xã đã không linh cảm nỗi quê hương thơ mộng này lại rơi vào biển lửa của chiến tranh. Mặc dầu vào mùa Thu năm 1974, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật về nhận chức tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Tiểu Khu Darlac, ông đã cho thực hiện một dãy chiến hào bao quanh thị xã để phòng xe tăng T-54 của Cộng quân. Tinh thần quyết chiến-đấu và bảo vệ Ban Mê Thuột của từng người lính và các cơ quan đơn vị, từ cấp Xã đến Quận đã rõ rệt và sẵn sàng từ đó.

    Những cuộc hành quân truy lùng tin tức địch đã được thực hiện liên tục. Cục hành quân Phượng Hoàng của hai đơn vị Nghĩa Quân (NQ) và Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) giữa liên xã Thọ Thành và Cư Jút vào sau khu vực phía Nam, cách nhiệm sở của hai đơn vị này khoảng 15 km về hướng Nam

    Tây-Nam, và 42 km Tây-Nam thị xã vào cuối tháng 2 năm 1975, đã phát giác dấu xích xe tăng T-54 của địch.

    Cuộc hành quân của đơn vị Nghĩa Quân và Cảnh Sát Quốc Gia thuộc xã Cư Ming, Bandon, phía Tây thị xã Ban Mê Thuột chừng 48 km cũng đã cung cấp cho Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia quận Ban Mê Thuột và F đặc biệt về sự di chuyển của quân Cộng Sản Bắc Việt trong khu vực

    Bandon.

    Các tin tình báo của những tình báo viên,TBND, trong Mạng Lưới Tình Báo do Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh trong những tháng 2 và 3/1975, khi đi khai thác lâm sản ở khu vực phía tây thị xã (Bandon) và Tây Nam thị xã 62 km cũng đả báo cáo cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Darlac tin tức về các đường dây điện thoại, ống dẫn dầu và dấu xích chiến xa T-54 của cộng quân.

    Ngày 14 tháng 2/1975, 7 chiếc xe be khai thác lâm sản, trong lúc làm cây ở khu vực Nam Tây-Nam thị xã Ban Mê Thuột 82 km đã bị Cộng quân cưỡng chiếm, các nạn nhân cũng đã khai trình Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh và Phòng 2 Tiểu Khu những tin tức về lực lượng cộng quân.

    Tháng 2/1975, một nữ cán binh thuộc Trung Đoàn 25 Địa Phương của Cộng quân ra hồi chánh với một đơn vị thuộc tiểu khu Darlac đã cung cấp tin tức về sư đoàn F10 của Cộng quân đang di chuyển về khu vực Nam thị xã Ban Mê Thuột, đồng thời cho biết Trung Đoàn 25 Địa Phương sẽ mở chiến dịch tại khu vực Khánh Dương, nằm trên Quốc Lộ 21, ranh giới gữa Khánh Dương - Nha Trang và Phước An - Ban Mê Thuột.

    Đặc biệt là cuộc hành quân ngày 7 tháng 3/1975 (ba ngày trước khi Cộng quân tấn công Ban Mê Thuột), một đơn vị thuộc tiểu khu Darlac, đã bắt được một tù binh Cộng Sản, quân hàm Thiếu Úy, trong lúc y đang giăng dây điện thoại ở khu vực Buôn Ea Sup, thuộc xã Cư Ming, Bandon, Quận Ban Mê Thuột.

    Nhưng tất cả những tin tức này đều chỉ được ghi nhận. Lực bất tùng tâm, Quân Đoàn 2 với hai sư đoàn gồm Sư Đoàn 22 Bộ Binh (BB) lo trấn giữ các tỉnh miền duyên hải, và Sư Đoàn 23 Bộ Binh trấn thủ các tỉnh cao nguyên với những dãy núi rừng trùng trùng điệp điệp, đã không đủ quân số để chống giữ Ban Mê Thuột với sự ồ ạt tấn công của hàng chục ngàn bộ đội Bắc Việt với đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly và chiến xa T-54 yểm trợ, đã vùi chôn Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân của thị xã này trong biển lửa.

    Nhưng trong thâm tâm mỗi người dân Ban Mê Thuột, hình ảnh những vị anh hùng của Tiểu khu Darlac, những chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia và Sư Đoàn 23 Bộ Binh mãi mãi là những thần linh bất tử, đặc biệt là Trung Đoàn 53 Bộ Binh trấn giữ phi trường Phụng Dực, đã anh dũng chiến đấu và bảo vệ những phần đất Ban Mê Thuột trong suốt 7 ngày đêm dưới chiến thuật biển người và mưa đạn của kẻ thù cho đến phút lâm chung.

    Xin cám ơn đấng tố cao đã cho chúng tôi những người con trung hiếu lưỡng toàn này.







    [​IMG] upload_2018-3-13_19-31-46.png

    Tửu gia Mỹ Hương




    NHỮNG TRẬN ĐÁNH MỞ ĐẦU

    Để chuẩn bị cho cuộc tấn công Ban Mê Thuột, Cộng quân đã mở 3 mặt trận lớn, cắt đứt mọi liên lạc và tiếp vận với Ban Mê Thuột. Mặt trận đầu tiên là đánh chiếm quận Thuận Mẩn, thuộc tỉnh Phú Bổn, nằm trên Quốc Lộ 14, giáp ranh với quận Buôn Hô, tỉnh Darlac, cách quận lỵ Buôn Hô 45 km về phía Bắc vào ngày 4 tháng 3/1975.

    Đêm ngày 6 tháng 3/1975, Cộng quân mở mặt trận tại khu vực quận Khánh Dương, Nha Trang, nằm trên Quốc Lộ 21, giáp ranh quận Phước An tỉnh Darlac, cách thị xã Ban Mê Thuột 75 km về phía Đông Bắc.

    Đêm ngày 8 tháng 3/1975, Cộng quân tấn công quận Đức Lập, tỉnh Quảng Đức, nằm trên Quốc Lộ 14,cách thị xã Ban Mê Thuột 60 km về phía Nam. Đến 9 giờ 30 ngày Chủ Nhật, 9 tháng 3/1975, tin Cộng quân tràn ngập Chi Khu Đức Lập chính thức nhận được qua Trung Tâm Hành Quân Tiểu khu Darlac.

    Như vậy, thị xã Ban Mê Thuột đã hòan toàn bị cô lập. Phía Nam Ban Mê Thuột là quận Đức Lập đã bị Cộng quân chiếm đóng. Phía Bắc liên lạc với Phú Bổn và Pleiku qua Quốc Lộ 14, đã bị Cộng quân cắt tại quận Thuận Mẩn. Đông Bắc là Quốc Lộ 21 nối với miền duyên hải qua cửa ngỏ Nha Trang đã bị Cộng quân trấn giữ bằng mặt trận Khánh Dương.










    upload_2018-3-13_19-32-12.png
    [​IMG]


    Đường Y-Ju’t ( nhìn ra hướng Sân vận động )



    TÌNH HÌNH BAN MÊ THUỘC, CHỦ NHẬT 9 THÁNG 3 NĂM 1975

    Với những tin nhận được, tình hình Ban Mê Thuột quả thật có biến động. Những gia đình giàu có, những người có thể, đều tìm cách ra khỏi Ban Mê Thuột để về Nha Trang hay Saigon. Một vé máy bay đi Saigon lên đến 50 ngàn đồng thời bấy giờ, nhưng cũng không còn chỗ. Đi Nha Trang 20 ngàn, nhưng cũng không cách nào đặt được vé.

    Trưa ngày 9 tháng 3/1975, một cuộc họp khẩn cấp được triệu tập tại Tòa Hành Chánh, do Đại Tá Tỉnh Trưởng Kiêm Tiểu Khu Trưởng chủ trì, gồm các ty sở trưởng, đơn vị trưởng và ban ngành chuyên môn trực thuộc tiểu khu.

    Lệnh báo động đỏ được ban hành cùng với lệnh cấm trại một trăm phần trăm các đơn vị.

    Một đặc lệnh truyền tin được chuyển đến các đơn vị, đặc biệt là trong ngành Cảnh Sát Quốc Gia, với những chỉ dẫn cần thiết kèm theo đặc lệnh này, mà những nhân viên thừa hành không thể được phép mở, ngọai trừ khi có lệnh của đơn vị trưởng trực tiếp. Lệnh giới nghiêm được ban hành trên toàn thị xã, từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng hôm sau. Một số gia đình có thân nhân ở ngoại ô thị xã như cây số 5, đã di tản gia đình ra khỏi thị xã tối ngày 9 tháng 3/1975.

    Nhưng định mệnh đã an bài, không phải vì triều đại của chúng ta thiếu nhân lực hay bất tài, cũng không phải vì chúng ta tất trách, chưa làm hết bổn phận của mình, mà ngược lại, chúng ta đã tận sức, đặc biệt là những người lính, những chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia.
    Thực sự xã hội miền Nam từ đầu thập niên 1960 đã có những biến chuyển lớn trong sinh hoạt chính trị gây ảnh hưởng sâu rộng cho nền trị an xã hội, đặc biệt là ở những thành phố lớn. Một số các tổ chức đã chỉ biết yêu cầu và đòi hỏi mà quên đi những nguyên tắc căn bản của một thực tế xã hội mà mọi sinh hoạt còn ở mức khởi đầu. Một người làm chính trị giỏi thì cả nước yên, cả nước làm chính trị thì xã hội loạn. Khuynh hướng đòi tự do dân chủ được lồng vào các cuộc bạo hành, xuống đường phản đối chính phủ ở vào những giai đoạn không hợp thời, không đúng lúc, của một số tổ chức, đã thực sự đe dọa nền an ninh quốc gia, và trở thành những hành động khủng bố tính mạng của tổ quốc.

    Người ta nhân danh tự do, để làm chính trị, nói chính trị, mà không thấu triệt đạo đức và nguyên lý chính trị căn bản. Người ta đòi tự do, hô hào tự do mà xã hội còn ở mức căn bản, nên vô tình hay hữu ý, những kẻ đó đã tiếp tay, hoặc tạo cho kẻ thù cơ hội lũng đoạn và khuynh đảo các cơ cấu, tổ chức chính quyền, thao túng trật tự xã hội dưới nhiều hình thức và chiêu bài. Trong khi đó, ở ngoài chiến trường, những người lính của chúng ta còn giành nhau từng tấc đất với kẻ thù, và sinh mạng những người dân ở vùng chiến tranh, hoặc từng phần lảnh thỗ của miền Nam chỉ là ngàn cân treo sợi tóc.


    Mặt khác, chúng ta lại không may gặp phải một đồng minh khác biệt với nền đạo đức cổ truyền, không đặt nặng lòng nhân, không xử chữ nghĩa, chúng ta như một con cờ trong ván cờ chính trị toàn cầu của đồng minh anh em, trong khi nền Cộng Hòa của chúng ta vừa qua giai đoạn phôi thai, đang ở chặng đường phát triển. Nền công nghiệp nặng còn khiếm khuyết, kỹ nghệ quốc phòng chưa mở mang, nền kinh tế quốc dân tuy có ổn định, nhưng cán cân cung cầu chưa đồng đều, mậu dịch chưa hoàn toàn cân đối.

    Dầu rằng nền Cộng Hòa của chúng ta đã có được một cơ cấu chính quyền có tổ chức và hoàn bị, dựa trên Hiến Pháp, nhưng được toàn thế giới công nhận, có ứng cử và bầu cử tự do từ cấp xã, quận, tỉnh đến trung ương.

    Một Học viện Quốc gia hành chánh để đào tạo các chuyên viên hành chánh điều hoà hệ thống này.

    Một Quốc Hội lưỡng viện, một Giám Sát Viện, một Tham Chính Viện để đàn hạch việc làm của Tổng Thống. Một Tối Cao Pháp Viện để kiểm sóat hệ thống tòa án là ngành Tư Pháp của chúng ta.

    Chúng ta lại có một hệ thống tài chánh, tiền tệ, ngân hàng hết sức ổn định và tiên tiến, không thua gì các quốc gia mở mang. Các doanh nhân đã xử dụng phương pháp bối thự trong các giao dịch thương mại.

    Hệ thống giáo dục của chúng ta thưc sự đã hoàn hảo, hàng năm, các viện đại học Sàigòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ, Vạn Hạnh, Minh Đức, đã đào tạo và cung cấp không biết bao nhiêu chuyên viên và nhân tài phục vụ xã hội.

    Ngành y tế của chúng ta phải nói là tân tiến, với một đội ngũ bác sĩ đầy nhiệt huyết và lương tâm.

    Quân đội của chúng ta cũng được đào tạo và huấn luyện với những kỹ thuật tiên tiến, tinh vi, và hữu hiệu. Chúng ta có hai trường sĩ quan: Trường Võ Bị Đà Lạt, Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, một trường Hạ Sĩ Quan là trường Đồng Đế ở Nha Trang, nhiều trung tâm huấn luyện và những trường chuyên môn như Công Binh, Pháo Binh, Trường Sĩ Quan Không Quân và Hải Quân, trường Quân Nhu, Quân Cụ, vân vân và vân vân...

    Và ngành Cảnh Sát Quốc Gia, chúng ta có một Học Viện Cảnh Sát ở Thủ Đức, huấn luyện và đào tạo các sĩ quan ưu tú, để hành xử luật pháp thật công minh, Trung Tâm Huấn Luyện Dốc Dừa, Trường Huấn Luyện Cảnh Sát Dã Chiến, và nhiều trung tâm huấn luyện khác đã đào tạo các chiến sĩ cảnh sát xuất sắc để hoàn thành nhiệm vụ TRỪ BẠO, AN DÂN, CÔNG MINH, LIÊM CHÍNH.

    Về mặt kinh tế quốc dân, các ngành sản xuất đang trên đà phát triển, các nhà máy giấy, xi măng, xưởng dệt, lắp ráp nông cơ, xe hơi, xe gắn máy, xe đạp, xà phòng... các ngành xuất, nhập, khẩu tăng trưởng cực mạnh, số lượng gạo, cà phê xuất cảng đứng hang nhất-nhì trong khu vực Đông Nam Á. Các mặt hàng tiêu dùng như vải, sợi... tràn ngập trên thị trường, không cần đến nhập cảng . Hai mươi sáu triệu dân miền Nam thực sự đủ ăn, đủ mặc, được học hành và chăm sóc chu đáo.

    Xã hội chúng ta thực sự đã tổ chức hoàn bị, dựa trên căn bản của luật pháp, bình đẳng và tự do. Người ta tha hồ phê bình tổng thống và các vị lãnh đạo ở mọi cấp bậc của quốc gia. Quyền tự do cư trú, tự do đi lại, tự do lập hội, tự do ngôn luận, báo chí, và các đảng phái tuyệt đối được tôn trọng. Và đó là tất cả những gì mà nền Cộng Hòa của chúng ta đã làm được và đang cố gắng phát triển và thăng tiến.

    Tuy nhiên, một điều mà chúng ta phải thừa nhận, đó là quốc gia của chúng ta còn là một nước phát triển, chúng ta chưa có kỹ nghệ sản xuất vũ khí. Quân đội của chúng ta, trong ngành tình báo kỹ thuật, trang bị còn rất hạn chế, vì phải nhờ vã ở đồng minh.

    Chúng ta không có xe tăng M-48 bắn bằng tia hồng ngọai tuyến, hay điều khiển bằng máy vi tính, vũ khí chống chiến xa T-54 là súng M-72, dài gần một mét, nặng gần chuc pound. Mổi khẩu M-72 chỉ xử dụng đúng một lần, bắn xong một phát là vất bỏ khẩu súng. Thử hỏi mỗi người lính khi đi hành quân phải mang đầy quân trang quân dụng thì còn mang theo được bao nhiêu khẩu M-72. Bom không đủ dùng, bom không có ngòi nổ. Cấp số đạn cho vũ khí cá nhân thực sự hạn chế, phương tiện truyền thông liên lạc còn rất thô sơ, nhiên liệu hoàn toàn bị lệ thuộc, mà đặc biệt là quân số của chúng ta chưa đủ để phân phối vì bị ràng buộc bởi luật động viên.

    Và cái phải đến đã đến, chúng ta đã không ngăn chận được biển người của kẻ địch tràn ngập thành phố này, Ban Mê Thuột đã mất, mất hết cả ước mơ, hoài bảo và tương lai.


    [​IMG]
    Nga 4 Hai Ba Trung va Quang Trung Banmethuot


    [​IMG] upload_2018-3-13_19-33-57.png

    Tiệm Bán và sũa HonDa Kim-Môn (nằm trên đường Ama Trang Long và Y-Ju’t)


    PHỐI TRÍ VÀ TƯƠNG QUAN LỰC LƯỢNG

    Lực lượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH)


    Tại thị xã Ban Mê Thuột lúc bấy giờ lực lương QLVNCH không quá một ngàn người, gồm hậu cứ của Bộ Tư Lệnh (BTL) Sư Đoàn 23 Bộ Binh,

    Hậu cứ Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 8 (quân số chủ lực của các đơn vị này đã được điều động về Pleiku và Kontum từ trước Tết mà chưa được trả về như chỉ thị của Tổng Thống lúc kinh lý Pleiku trong dịp Tết Ất Mảo 1975).

    Ban Mê Thuột thực sự chỉ là một thành phố hoang không lực lượng bảo vệ, nói theo một nghĩa nào đó. Do vậy, vấn đề phân nhiệm tuy có kế hoạch chu tường nhưng chỉ là một màng nhện .

    Hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và các phòng cùng các ban trực thuộc, chịu trách nhiệm phòng thủ phía Nam thị xã.

    Hậu cứ Bộ Chỉ Huy Thiết Đoàn 8 chịu trách nhiệm phía Tây, khu vực nặng nề nhất. Kho đạn (trại Mai hắc Đế) bảo vệ một mặt phía Tây-Nam cùng với Trung Tâm Yểm trợ tiếp vận (đại đội hành-chánh tài-chánh, tức là Ban Lương Bổng).

    Phía Đông do Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn 23 Bộ Binh đảm trách. Xa hơn là Chi Khu Ban Mê Thuột và Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia quận Ban Mê Thuột sẽ phối hợp với nhau để chịu trách nhiệm vấn đề phòng thủ.

    Mặt Bắc thị xã là Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Darlac cùng với một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến. Nội vi thị xã và các chốt điểm trọng yếu đều do lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đảm trách, và được bố trí như sau:

    Hai chốt cảnh sát đặt tại Trường Trung Học Tỉnh Hạt và cuối đường Phan Chu Trinh là các chốt ở cửa Bắc. Cuối


    đường Tự Do, Bến Xe Cây Số 3, được giao cho Cuộc Cảnh Sát Quốc Gia Cư Kplong và một tiểu đội Cảnh Sát Dã Chiến. Cửa ngỏ phía Nam có Cuộc Cảnh Sát Quốc Gia Cư Ê Bư và một đơn vị Cảnh Sát Dã Chiến chịu trách nhiệm. Cửa Tây thị xã giao cho Cuộc Cảnh Sát Quốc Gia thị xã Cuộc Lạc Giao, chịu trách nhiệm. Các cao ốc trong toàn thị xã và các khách sạn, như khách sạn Anh Đào, Hồng Kông, đều được Cảnh Sát Quốc Gia đóng chốt

    Các đơn vị trừ bị gồm có một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 Bộ Binh đóng tại phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 7 km, có trung đội pháo binh 105 ly. Nhưng tiếc thay, pháo binh của Cộng quân lại là loại 130 ly, và hỏa tiển 122 ly, tầm xa và sức công phá hoàn toàn cách biệt

    Lực lượng Cộng quân


    Cộng quân gồm một trung đoàn địa phương là Trung Đoàn 25,

    Ba sư đoàn quân chính quy Bắc việt gồm:

    Sư Đoàn 320 (tiền danh là Nông Trường 3 Sao Vàng),

    Sư Đoàn 316,

    Và Sư Đoàn F10. Thêm vào đó, Cộng quân có hàng trăm chiến xa T-54, các đại bác 130 ly, hỏa tiễn 122 ly, BKZ 82 (bích-kích pháo không-giật dùng để phá hủy các công sự phòng thủ)

    Với những đơn vị tham chiến có mặt này, quân số của Cộng quân đã lên đến hằng chục lần hơn so với quân số của Việt Nam Cộng Hòa. Và nếu cộng thêm đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, Nghĩa Quân và lực lượng Nhân Dân Tự Vệ xã Lạc Giao, quân số của ta cũng không vượt quá 2,000 người. Nhưng thực sự thì bảy ngày sau Cộng quân mới hoàn toàn làm chủ Ban Mê Thuột. Đó chính là nhờ lòng dũng cảm, tinh thần quyết chiến-đấu của từng người lính, và cấp chỉ huy của mỗi đơn vị trong suốt những giờ đầu chiến cuộc.

    MỞ ĐẦU TRẬN ĐÁNH

    Hai giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân bắt đầu thực hiện trận mưa pháo theo chiến thuật tiền pháo hậu xung bằng đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân sự như Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, kho đạn Mai Hắc Đế và phi trường L19.

    Tiếng rít của hỏa tiển và đạn đạo 130 ly khủng khiếp như xé cả không gian mà người ta thực sự chưa từng nghe thấy một lần trong đời. Những tiếng nổ đó cứ liên tục như những dây pháo đại không ngừng, làm vỡ tung hết các cửa kiếng và rung chuyển cả thành phố như cảnh tượng động đất được thấy trên các màn bạc. Các nhà cao tầng bị rung chuyển cực mạnh. Và màng nhĩ của con người chỉ còn ghi nhận tiếng "o o" mà không còn nghe được một âm thanh nào khác.

    Thành phố đã như con tàu chao nghiêng trong bão tố. Một số các nhà xây thô sơ quanh các khu vực quân sự đã bị sụp đổ, và trận mưa pháo liên tiếp không ngừng đổ xuống các cứ điểm quân sự của ta cho đến 6 giờ sáng.


    [​IMG]


    Thị Xã Banmêthuột - Những đường phố chính - Và các hướng tấn công của cộng quận


    Bốn giờ sáng cùng ngày, chiến xa T-54 và bộ đội Cộng Sản chia làm nhiều mũi tấn công vào phi trường L19, kho đạn Mai Hắc Đế với chiến thuật biển người.

    Sáu giờ 15 sáng, xe phóng thanh của Ty Thông Tin đậu tại Ngã 6 thị xã phát lời kêu gọi của đại tá tỉnh trưởng yêu cầu đồng bào bình tỉnh, ai ở nhà nấy, tình hình an ninh tại thị xã vẩn còn yên tỉnh.

    Sáu giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, một góc phía Bắc của phi trường L19 bị Cộng quân tràn ngập.

    Bảy giờ 15 các chốt cảnh sát xin lệnh rút khỏi vị trí phòng thủ vì áp lực địch quá mạnh. Cũng lúc này, dân chúng từ khu vực Buôn A-Lê B, Giáo xứ Thanh Mai, cửa Nam thị xã lũ lượt chạy vào trung tâm thànhphố.

    Tám giờ 30 cùng ngày, Kho đạn Mai Hắc Đế thất thủ. Viên đại úy chỉ huy trưởng, đại úy Thương bị trọng thương.

    Chín giờ 20, chiến xa T-54 và bộ đội Cộng quân chia làm nhiều mũi tấn công vào thị xã.


    Một mũi từ cuối đường Phan Chu Trinh (cửa Bắc ) tràn chiếm khu vực nhà thờ Chính Tòa, ngã Sáu thị xã, cách Bộ Chỉ HuyTiểu Khu 800 mét.


    Mũi phía Nam, từ khu vực Buôn A-Lê B, đồi Trung Học La San, theo đại lộ Thống Nhất tiến đánh khu vực tư dinh Tỉnh Trưởng, Ty Ngân Khố.


    Một mũi khác, từ hướng chùa Khải Đoan, đánh chiếm ngã tư Nguyễn Tri Phương Phan Bội Châu, và mặt Tây thị xã đã bị Cộng quân tấn chiếm.

    Khu phố Nguyễn Trãi Nguyễn Tri Phương, dân chúng bồng bế nhau chạy về chùa Khải Đoan và Trường Bồ Đề dưới

    mưa đạn AK và đại bác của kẻ thù. Tiếng khóc của trẻ con,

    tiếng kêu mẹ, gọi chồng hòa lẩn tiếng đạn rít nghe thê lương hải hùng không nỗi nào tả xiết. Dãy phố Quang Trung, Lý thường Kiệt, từ nhà hàng Hoàng Vinh đến tiệm may Hoàng Yến, đối diện Ngân hàng Đại Á bốc cháy dữ dội. Khu phố Hai Bà Trưng, Quang Trung, từ khách sạn Hồng Kông chạy dài đến Ama Trang Long đã thành một biển lửa.

    Quả thật cuộc sống của thành phố này đang bị hủy diệt. Những cụm lửa cuộn theo tàn hòa trong khói đục tiếp tục bay cao để đốt cháy nốt những khu phố lân cận.





    upload_2018-3-13_19-34-44.png
    [​IMG]


    Khu phố nằm trên đương Quang Trung (góc Lý Thương Kiệt)


    MẶT TRẬN TIỂU KHU DARLAC

    Từ 9 giờ 30 sáng ngày 10 tháng 3/1975, các mũi tiến quân của Cộng quân từ hướng bắc và hướng Tây bắc đã hoàn toàn tràn ngập trung tâm thành phố và tập trung nổ lực tấn công Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu nằm trên đại lộ Thống Nhất. Bộ đội và chiến xa T-54 của Cộng quân từ khuôn viên nhà thờ chính tòa tràn qua ngã Sáu, chiếm Câu Lạc Bộ Biên Thùy, khu cư xá sĩ quan, nằm trên Ngã Ba đại lộ Thống Nhất và đường Lê Lợi, nhưng không tràn qua được khu vườn hoang của Bác Sĩ Tôn Thất Niệm, nằm sát hệ thống công sự phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

    Lực lượng phòng vệ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu phản công quyết liệt. Một chiếc T-54 của Cộng quân bị bắn cháy. Thiếu Úy Mừng, Phòng I Tiểu Khu bị tử thương. Dù với chiến thuật biển người và với BKZ 82 ly cùng đại bác 100 ly trang bị cho T-54 bắn trực xạ không ngừng vào hệ thống

    công sự phòng thủ của tiểu khu, Cộng quân vẫn chưa tiến sát được vào hệ thống công sự phòng thủ này. Tinh thần chiến đấu và lòng dũng cảm của những chiến sĩ thuộc Tiểu Khu quả thật không thể tưởng tượng. Cứ mỗi đợt tiến công của Cộng quân là những tràng đại liên, M-79 (súng phóng lựu) và M-16 từ các công sự phòng thủ xối xả phản kích làm cho bước tiến quân của Cộng quân đã phải ngừng lại.

    Cộng quân lui về cố thủ khu vực cư xá sĩ quan và Câu Lạc Bộ Biên Thùy, đồng thời chia quân tràn qua đại lộ Thống

    Nhất đánh chiếm Tòa Án, bưu điện, tòa nhà Đại Biểu Chính Phủ, và tiếp tục thực hiện trận mưa pháo bằng đại bác 100 ly từ các chiến xa T-54 và đại bác130 ly cùng hỏa tiễn 122 ly từ hướng Tây thị xã (khu vực Bandon) đổ vào Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.
    Mười một giờ 20, một chiếc T-54 của Cộng quân tiến vào cổng trước Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu trên đường Thống Nhất đã bị bắn hạ. Tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ Tiểu Khu càng lên cao.
    Mười một giờ 45, hai chiếc Commando Car (thiết giáp với bốn bánh cao su, không xích sắt) của Thiết Đoàn 8 từ hướng chùa Khải Đoan theo đường Quang Trung qua Tôn Thất Thuyết để tiến về đánh bọc hậu lực lượng của Cộng quân đang công hãm Tiểu Khu. Nhưng khi đến ngã Ba Ama Trang Long Tôn Thất Thuyết, các chiến sĩ Thiết Đoàn 8 bị lực lượng của Cộng quân từ ngã Sáu tràn xuống chận đánh. Hai chiếc Commando Car bị Cộng quân bắn cháy trước Bar Quốc Tế. Nhưng các chiến sĩ của Thiết Đoàn 8 đã len theo khu phố Ama Trang Long để tiến về hướng Tiểu Khu.

    Cũng giờ này, khu chợ Ban Mê Thuột, từ đường Quang Trung chạy dọc theo đường Y Jút đến Ama Trang Long bị trúng đạn và bốc cháy dữ dội. Nhà hàng Thanh Thế mới khai trương, cũng tân kỳ không thua gì nhà hàng Thanh Thế ở đại lộ Lê Lợi Saigon, giờ đây đang là một biển lửa. Dãy phố bên kia đường Ama Trang Long, đối diện với nhà hàng Thanh Thế như tiệm Rồng Vàng, nằm mặt sau của Ty Cảnh Sát cũ đã là một bãi gạch vụn. Khu phố nằm trên đường Y Jút, đối diện với chợ Ban Mê Thuột như nhà của Bác Sĩ Tôn Thất Hối đã bị sập.

    Cho đến giờ này, 11 giờ 45 ngày 10 tháng 3/1975, các chiến sĩ của Tiểu Khu Darlac vẫn cố thủ Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, và lực lượng của Cộng quân từ 2 mặt, phía Bắc, tức là khu cư xá sĩ quan và mặt tiền Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, tức là từ Bưu Điện, tòa nhà Đại Biểu Chính Phủ đã bám sát hệ thống công sự phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Những trận đánh xáp lá cà đẫm máu đã xảy ra dọc theo hệ thống công sự phòng thủ.

    Một giờ 15 trưa ngày 10 tháng 3/1975, Trung Tâm Hành Quân của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu bị trúng pháo, mọi liên lạc

    truyền tin bị phá hủy.
    Mười bốn giờ 20 ngày thứ Hai, 10 tháng 3/1975, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Tỉnh Darlac thất thủ, sau hơn 7 tiếng đồng hồ giao tranh với lực lượng biển người của Cộng quân có chiến xa T-54, và các loại đại pháo yểm trợ, mà không có được một đơn vị bạn nào tiếp cứu.


    Sáu mươi ngàn dân thị xã Ban Mê Thuột mãi mãi ghi nhớ chiến công, lòng dũng cảm và tinh thần kỷ luật của các

    chiến sĩ Tiểu Khu Darlac trong những giờ phút lâm nguy đã cố gắng và hy sinh để làm tròn bổn phận cho đến hết sức

    mình. Xin gởi tấm chân tình sâu xa nhất của chúng tôi đến Trung Tá Vĩnh Hy, người trực tiếp chỉ huy mặt trận, với

    những trận tấn công và đánh xáp lá cà cùng lực lượng biển người của quân thù, và để đến giờ phút cuối đành di tản Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu để bảo toàn lực lượng.
    Xin anh linh của những chiến sĩ đã sống hùng thác thiêng, phù trợ cho thành phố này và những đồng đội của mình trên những chặng đường di tản. Các vị mãi mãi là những anh hùng và thần linh của thành phố này.


    [​IMG] upload_2018-3-13_19-46-20.png

    Nhà thờ Chính Tòa Ban mêthuột 1970– (ngã 6 thị xã Banmêthuột) Quen gọi là nhà thờ Cha già Ngoạn


    MẶT TRẬN PHÍA BẮC THỊ XÃ


    Những Trận Đánh Oanh Liệt của Các Chiến Sĩ Cảnh Sát Quốc Gia Thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac

    Trong kế hoạch phòng thủ thị xã Ban Mê Thuột, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac là một trong những đơn vị chịu trách nhiệm về một khu vực phòng thủ nặng nề nhất, từ nội vi thị xã đến cả một mặt Bắc, bao gồm phi trường trực thăng và phi trường L19. Phòng thủ phi trường L19 là đơn vị Thám Sát Tỉnh (PRU), trực thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh.

    Với những tin tức nhận được của mạng lưới tình báo cơ hữu và của các đơn vị bạn, vị chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, Trung Tá Trần Quang Vĩnh, nguyên là Sĩ quan thuộc Binh chủng Biệt Động Quân biệt phái ngành CSQG. đã sẵn sàng kế hoạch phòng thủ và phản công cho đơn vị hằng tháng trước. Ông đã bổ nhiệm Đại Đội Trưởng đại đội Cảnh sát Dã Chiến 206 làm phụ tá hành quân.

    Mười một giờ trưa ngày 9 tháng 3/1975, sau khi dự phiên họp tại Tiểu Khu, có sự tham dự của Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2, ông trở về Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Tỉnh cùng với bộ tham mưu triệu tập một phiên họp tham mưu với các cấp chỉ huy, nhắc lại lệnh cấm trại một trăm phần trâm và lệnh báo động đỏ cho toàn thể các đơn vị trực thuộc. Ông cũng cho lệnh di tản gia đình nhân viên ra khỏi thị xã để sẳn sàng chiến đấu. Đồng thời chuyển đến các Cụộc Cảnh Sát Quốc Gia Xã Đặc Lệnh Truyền Tin, Khóa KCD và ra lệnh được phép tiêu hủy hồ sơ đơn vị nếu cần thiết.

    Phân công trách nhiệm phòng thủ Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát mới cho Thiếu Tá Chỉ Huy Phó và sĩ quan phụ tá hành quân, với Đại Đội 206 Cảnh Sát Dã Chiến.

    Ty cảnh Sát cũ, nằm ở khu vực sân vận động trên đường Ama Trang Long Tôn Thất Thuyết, gồm 2 phòng Truyền Tin và Kỷ Thuật do chỉ huy trưởng đảm trách.

    Mười hai giờ 30 cùng ngày, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac nhận được tin một đơn vị của Cộng quân đã tiến vào khu vực Buôn Ea H'Neh, cách thị xã Ban Mê Thuột khoảng 6 km về phía Tây. Viên chỉ huy trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh đã tức thời trình Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu và Đại Tá Nguyễn Trọng Luật. Đồng thời ông cũng báo cáo về Bộ Chỉ Huy Cảnh sát Quốc Gia Khu 2 (Nha Trang ) và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2/Quân Khu 2. Nhưng tiếc thay, Bộ Chỉ Huy Khu và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đã không có biện pháp ngăn chận.

    Hai giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân bắt đầu tấn công phi trường L19, (khu vực phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, do Đại Đội Thám Sát chịu trách nhiệm), bằng đại bác 130 ly và hỏa tiễn 122 ly.

    Đến 4 giờ sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân bắt đầu dùng lực lượng bộ binh với chiến thuật biển người và xe tăng T-54 tấn công phi trường L19. Đơn vị Thám Sát Tỉnh chống trả quyết liệt và báo cáo về Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia. Đại Úy Nguyễn Ngọc Tuấn liền liên lạc với Tiểu Khu xin Đại Đội 1/224 tiếp viện. Nhưng Đại Đội 1/224 đã không thể chọc thủng vòng vây của Cộng quân ở mặt Bắc Phi trường L19.

    Sáu giờ 20, một đoạn vòng đai ở khu vực phía Bắc phi trường bị chọc thủng. Lực lượng Cộng quân tràn ngập khu vực này, và đơn vị Thám Sát Tỉnh đã phải lui về phòng tuyến phòng thủ phía sau. Tổn thất về nhân sự nặng nề nhất trong mặt trận Ban Mê Thuột, phải kể hàng đầu là đại đội Thám Sát của Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac.

    Sau khi tràn ngập các chốt điểm tiền tiêu, 9 giờ 20 sáng

    ngày 10 tháng 3/1975, lực lượng Cộng quân từ mặt Bắc thị xã, tức là khu vực phía Bắc phi truờng L19 và bến xe Cây Số 3 bắt đầu tấn công Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac,nằm trên đường Tự Do để xâm nhập trung tâm thành phố.

    Lợi dụng hệ thống công sự phòng thủ và các dãy hàng rào kẽm gai bảo vệ phi trường L19 nằm bên kia đườngTự Do, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã chận đứng các mũi tiến quân của Cộng quân. Các chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia dù chỉ được trang bị M-16, M-79 và lựu đạn nhưng đã anh dũng phản công quyết liệt trước những đợt tấn công của Cộng quân, không cho địch tiến sát vào hệ thống công sự phòng thủ.

    Một con đường an toàn duy nhất trong lúc này, chính là con đường Tự Do, chạy dài từ bến xe Cây Số 3, dọc theo sườn Đông của phi trường L19 đến tư dinh của vị tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh.

    Không phải chỉ những chiến sĩ thuộc các binh chủng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mới có kỷ thuật và kinh nghiệm chiến đấu, mà thực sự những người Cảnh Sát Quốc Gia thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac, trong mặt trận Ban Mê Thuột, đã thể hiện hoàn toàn lòng trách nhiệm và tinh thần Trừ Bạo An Dân.

    Chính nhờ lòng dũng cảm chiến đấu, kỷ thuật tác chiến, và hệ thống chỉ huy chặt chẽ này, mà một mặt phía Đông thị xã Ban Mê Thuột, từ khu đường Tự Do, chạy dài xuống Bà Triệu, Hùng Vương, Trường Trung Học Tổng Hợp Ban Mê Thuột, chưa có bóng dáng của Cộng quân. Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac đã trấn giữ một khu vực an toàn mà có lẽ họ không thể nào ngờ được, đó là con đường di tản duy nhất sau này cho các đơn vị phải rút lui vào phút cuối.

    Xin mượn những giòng nước mắt, và nỗi xúc động sâu xa trong tâm hồn để bày tỏ sự cảm phục trước lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và anh dũng chiến đấu của những chiến sĩ Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac đã cương quyết bảo vệ thành phố nhỏ bé này cho đến phút lâm chung. Xin anh linh của những vị đả khuất phù trợ cho thành phố này và những đồng đội của mình giữ được lòng trung kiên với tổ quốc và tinh thần vì dân trừ bạo bất diệt.

    Mười lăm giờ 40 ngày thứ hai, 10 tháng 3/1975, với áp lực của địch, và để bảo toàn đơn vị, Thiếu tá Hàn Văn Thành, chỉ huy phó Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Darlac đã ra lệnh mở đường máu đem đơn vị ra khỏi thị xã về Cây Số 5, phối hợp với các đơn vị trực thuộc và Chi Khu Ban Mê Thuột để tiếp tục phản công quân thù.

    Mười sáu giờ ngày thứ Hai, 10 tháng 3/1975, Cộng quân hoàn toàn làm chủ tình hình thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh còn được trấn giữ.
    Trong thành phố, tiếng súng nhỏ đã im, nhưng cảnh tan hoang của thị xã thật không cách nào tả xiết. Những khu

    phố bị cháy không ai dập tắt, đóm lửa, tro tàn, và bụi khói bao phủ khung trời thị xã như một màn sương đục. Mặt đường lổ loang những dấu đạn cày. Bên cạnh những đóng tro tàn, từng nhóm người co ro sợ hãi cúi mặt không dám khóc. Những trẻ em mất cha, lạc mẹ kêu van đã khàn tiếng.

    Rải rác trên các khu phố, những vũng máu và thây người, kẻ bị thương, bị chết không ai săn sóc. Thị xã không hẳn là một bãi tha ma, không gọn gàn sạch sẽ như nghĩa trang người chết, mà là hổn độn của một thế giới nửa sống, nửa chết. Vợ ôm xác chồng không dám khóc, mẹ nhìn thây con giá lạnh không dám đem về. Người ta vẫn sợ một Mậu Thân thứ hai, năm 1968, ở Huế. Bóng dáng của Cộng quân như tử thần dến chiêu hồn kẻ sống đe dọa mọi người.

    Sáu giờ chiều thứ Hai, ngày 10 tháng 3/1975, bộ đội Cộng Sản lại chia thành từng toán, đi lục soát khắp cùng thị xã, và thanh lọc dân chúng ở các tụ điểm của người chạy nạn như chùa Khải đoan, Trường Bồ đề, Trường Tàu ở đường Y Jút, và bắt đi những thanh niên nam, nữ.

    Người dân thị xã không còn điểm tựa, không còn chỗ kêu cứu. Người ta theo lệnh của những khẩu AK chỉa vào họ như một cái máy, không cảm xúc, nỗi kinh hoàng đã cướp đi mọi cảm giác của con người. Và cũng chính giờ phút này, người ta hiểu thế nào là đường ranh của cõi chết.

    Nhưng niềm tin và lòng hy vọng của muôn người lại trở về trong bản năng và tâm linh của họ. vì trên bầu trời thị xã, hai chiếc L-19 đang lượn vòng trên đầu Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, mà từ sáng, nỗi hãi hùng đã làm người ta quên mất. Những tia khói đục như một màng luới từ dưới đất tung lên, tạo thành những chiếc dù tí hon bao quanh hai chiếc L-19, Đó là đạn phòng không 37 ly và 12 ly 7 của Cộng quân, nhưng không một chiếc L-19 nào bị trúng đạn.

    Phật Xá Lợi vẫn còn tại thế, Chúa Giê Su về trời vẫn lập phép Thánh Thể để nuôi người thế gian, Bộ Tư Lệnh Sư Đòan 23 Bộ Binh vẫn còn đó, nghĩa là linh hồn và niềm tin của người dân thị xã vẫn chưa bị hủy diệt. Mọi người như thầm xin "Những Con Ó của Sư Đoàn 23 ơi, xin hãy vì 60 ngàn dân và thành phố thân yêu này mà chiến đấu."

    BAN MÊ THUỘT GIÂY PHÚT LÂM CHUNG

    Cuộc tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột lúc 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975 của 3 sư đoàn Bộ Binh Bắc Việt cùng với chiến xa T-54 và các loại trọng pháo cho đến lúc này đã hầu như lắng đọng trong nội vi thị xã (16 giờ 10 ngày 10 tháng 3/1975). Và các cứ điểm quân sự quan trọng đã bị Cộng quân tràn ngập.

    Sáu giờ 20 ngày 10 tháng 3/1975, phi trường trực thăng và L19, đài kiểm báo, đơn vị phòng thủ phi trường, nằm ở phía Bắc thị xã, cuối đường Phan chu Trinh và Tự Do, đã bị tê liệt.


    Tám giờ 20 cùng ngày, kho đạn Mai Hắc Đế, phía nam Tây-Nam thị xã bị thất thủ


    Mười một giờ 50, hậu cứ Thiết Đoàn 8 Thiết Giáp ở cửa Tây thị xã di tản.
    Mười hai giờ trưa, Cuộc Cảnh Sát Quốc Gia Xã Lạc Giao, nằm trên đường Quang Trung Tôn thất Thuyết, cạnh chợ Ban Mê Thuột tan hàng.
    Mười bốn giờ 20 chiều ngày 10 tháng 3/1975 Bộ Chỉ huy Tiểu khu Darlac thất thủ.
    Mười lăm giờ 40 cùng ngày, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia tỉnh Darlac rút khỏi thị xã.
    Trong gần suốt 14 giờ đồng hồ, các đơn vị quân đội, Cảnh Sát, Nghĩa Quân, Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn Tỉnh,và Nhân Dân Tự Vệ toàn thị xã đã tận hết sức mình để chống trả với lực lượng biển người, chiến xa và đại bác của Cộng quân mà không có được một đơn vị bạn nào tiếp cứu.

    Và giữa những giờ phút quyết liệt này, người ta nhận được tin vào lúc 10 giờ 15 sáng ngày 10 tháng 3/1975, một đơn vị Biệt Động Quân từ cửa Bắc thị xã (bến xe Cây Số 3) đã xâm nhập trung tâm thành phố. Tin tức này được loan truyền đến hầu hết các đơn vị đang chiến đấu trên khắp các cửa ngõ thị xã, và mỗi người lính, từ cấp chỉ huy cho đến binh sĩ đều vui mừng nắm chắc phần quyết định chiến trường.

    Nhưng cho đến một giờ chiều, tin tức về Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân vẫn im hơi lặng tiếng, mà chiến trường mỗi lúc càng quyết liệt hơn, cho đến khi người ta biết rằng đơn vị Biệt Động Quân tiến vào thị xã sáng nay là chỉ để giải cứu gia đình của vị Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh ra khỏi thị xã.

    Tin này quả thật là một tác động tâm lý, không những làm cho các đơn vị tham chiến mà cả toàn thị xã có cảm nghĩ Ban Mê Thuột đã bị bỏ rơi. Tuy nhiên với tinh thần và trách nhiệm của một người lính, các đơn vị có mặt tại thị xã vẫn anh dũng chiến đấu với niềm tin lực lượng tổng trừ bị, và đặc biệt là hai Trung Đoàn 44 và 45 Bộ Binh nhất định sẽ được gởi đến.

    Nhưng 1 giờ 15 ngày 10 tháng 3/1975, trung tâm hành quân của Tiểu Khu, đầu não của mọi hệ thống chỉ huy và liên lạc cho chiến trường Ban Mê Thuột bị đại bác của Cộng quân pháo sập, tiểu khu thất thủ, rồi Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh di tản và thị xã Ban Mê Thuột đã lọt vào tay Cộng quân. Một số các tổ trinh sát, các đơn vị an ninh vòng đai thị xã mất liên lạc với đơn vị. Những sĩ quan chỉ huy và binh sĩ của các đơn vị này đã lẫn vào các đoàn người chạy loạn, hoặc tự tái lập các tổ chiến đấu, lẫn tránh vào các khu rẫy cà phê mặt Bắc, phía sau Tòa Giám Mục.
    Trong nội vi thị xã, cho đến 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3/1975, trận chiến được coi như kết thúc. Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn, gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người.



    ĐÊM KINH HOÀNG

    Từ 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3/1975, bộ đội Cộng quân bắt đầu chia thành từng toán nhỏ lục soát khắp cùng các khu phố và những điểm tập trung của người chạy loạn như chùa Khải Đoan, trường Bồ Đề, trường Tàu ở đường Y Jút. Họ thanh lọc dân chúng, bắt đi những thanh niên nam nữ, và truy lùng các viên chức chánh phủ, sĩ quan và binh lính.

    Khắp cùng các ngõ phố, bọn đặc công và du côn, thi nhau lập công, đập phá các cửa tiệm, dinh thự, tư gia, những nơi mà họ cho là có kẻ thù ẩn trốn, là Việt gian, phản động, làm cho Mỹ Ngụy, hoặc có nợ máu
    với nhân dân. Chúng thi nhau lục soát các trường học, nhà thờ, bức tượng ở nhà thờ quân đội, cạnh trường Hưng Đức cũng bị chúng đập nát, đồng thời lùng bắt những người có thù hằn với chúng, và lôi đốt hết các loại sách báo, giắo khoa, tự điển, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, đặc biệt là những ấn phẩm viết bằng tiếng ngoại quốc như Anh văn, Pháp văn.

    Một lần nữa, ngọn lửa tượng trưng cho sự hủy diệt lại bùng lên khắp cùng thị xã. Cảnh hôi của, hôi người, trả thù cá nhân lan tràn khắp nơi. Thành phố bây giờ là một xã hội không tổ chức, không luật pháp, và tai họa thảm khốc đã diễn ra khắp cùng các ngõ phố. Những hình phạt dã man thời tiền sử đã được đem ra thực hiện. Hình ảnh của chết chóc và khủng bố đang bao trùm lên thị xã nhỏ bé này và đè nặng xuống tâm hồn mỗi dân đinh của toàn thành phố. Ở cuối đường Hoàng Diệu, Nguyễn Trãi, Khách sạn Darlac, ba nghiệp chủ khai thác lâm sản đã bị đánh đập đến tàn khuyết, một số viên chức chính phũ, binh sĩ và cảnh sát bị

    hành hung rất dã man, nhưng các nạn nhân đều không có thuốc men cứu chữa và không được phép cứu chữa.
    Sự ngu dốt của kẻ chiến thắng, hay sự dã man và thiếu trình độ của cấp lảnh đạo chính là tai họa và thảm trạng tàn khốc cho một xã hội. Xã hội miền Nam, và dân trí của nền Cộng Hòa miền Nam đã có một trình độ văn hóa và kỷ thuật cách xa gấp bội so với miền Bắc, nên bộ đội Cộng quân, sau khi đã kiểm soát toàn thị xã, lập tức đi dò tìm những ''đài địch,'' và đã dùng súng B-40, B-41, hoặc đại bác 100 ly trang bị trên chiến xa T-54 bắn vào các tư gia có trụ ăng ten trên nóc nhà, vì họ cho rằng đó là vị trí đặt các máy truyền tin của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mà các trụ ăng ten TV là những ''đài địch '' ấy đã có khắp trong toàn thị xã. Thảm thương thay cho thành phố Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân của thị xã này.


    Trong đêm này, không biết có bao nhiêu gia đình tan hoang, bao nhiều người bị chết oan, đánh đập, hoặc bị đấu tố mang thương tích hay tàn khuyết, mà vợ con, thân nhân, bạn bè chỉ đứng nhìn mà không dám kêu van. Máu và lệ đã đổ, nhưng không chảy ra từ khoé mắt, mà lại tuôn ngược vào lòng. Trời ở quá cao mà Phật cũng rất xa, nên con người đã là chủ của con người trong đêm nay, với đầy đủ quyền uy và hung dữ. Đêm kinh hoàng, đêm của địa ngục và Sa Tăng.

    Nhưng bộ đội Cộng Sản đã không cần biết tới, mà còn tiếp tay, kích động, cùng với đám côn đồ nằm vùng, truy lùng và tận diệt những kẻ mà chúng thù hằn, hoặc chúng cho là có nợ máu với cách mạng. Và cũng đêm nay, lần đầu tiên, người dân thành phố nhìn được bộ mặt thực của bộ đội Cộng Sản.

    Cái quan trọng đối với kẻ chiến thắng trong cuộc chiến 20 chọi 1 này là vơ vét tất cả những gì họ có thể vơ vét: Kho dự trữ lương thực trung ương, trực thuộc Phủ Thủ Tướng nằm trên đường Tự Do, cạnh F Đặc Biệt, Kho Quân Nhu, Quân Cụ, dụng cụ y khoa và dược phẩm, thuốc men của các bệnh viện như Quân Y Viện, Dân Y Viện, Trạm xá, nhà hộ sinh, các cửa tiệm thuốc Tây, các đại lý gạo, cửa hàng bách hóa của tư nhân trong toàn thành phố.

    Suốt đêm, người ta nhìn thấy những đoàn Molotova chở đầy hàng hóa vật dụng của thành phố đi về hướng Bandon, phía Tây thị xã.

    Trong khi đó, những sĩ quan, binh lính và viên chức chính phủ bị kẹt lại trong thành phố, đang tìm cách lẩn trốn ra khỏi thị xã, hoặc ẩn núp trên các nóc nhà, giữa mái tôn và trần nhà, để tránh bị bắt hoặc bị trả thù cá nhân. Cái lạnh về đêm của mùa Xuân cao nguyên, hoặc cái nóng kinh người của những ngày nắng tháng 3 ở thành phố Ban Mê Thuột đã mấy ai hiểu được, ngoại trừ những người lẫn trốn Cộng quân và bọn côn đồ nằm vùng. Tuy nhiên, nỗi đau đớn của thể xác trong lúc này đã không làm con người cảm nhận được bằng sự kinh hoàng và tuyệt vọng đang dìm tâm trí họ xuống đáy vực mênh mông.

    Đêm nay, ở một góc vòng đai thị xã, tôi nhìn rõ đêm đen phủ xuống bãi tro tàn và gạch vụn của khu phố, ngửi mùi khét của tử thi và gia súc trong trận lửa sáng nay mà nghe lòng mình như tan nát, rã rời. Tôi ngậm ngùi thương xót cho những gì vừa mất, những cuộc đời bình dị của từng con người và mỗi gia đình trên thành phố này, mà thời gian chỉ là tối Chủ Nhật hôm qua, mồng 9 tháng 3, và chỉ chưa tròn 24 tiếng đồng hồ mà tất cả đã không còn nữa. Tất cả đã trở thành kỷ niệm, như một giấc mơ, đầy hãi hùng và kinh đãm. Trong nỗi xúc động không cùng đó, tôi chợt nhớ về quảng đời đã qua, những tháng ngày ấu thơ trên thàng phố ''Buồn Muôn Thuở'' mà những học trò đệ-thất vẫn quen gọi tên Ban Mê Thuột một thời, giờ đây tôi càng nghe tên gọi đó êm ái lạ thường.
    Ban Mê Thuột, quê hương ấu thơ ngày đó, cũng như phố thị êm đềm bình dị của hôm qua đã là một bãi gạch vụn.

    Nhưng những kỷ niệm yêu dấu của Ban Mê Thuột mãi mãi không phai mờ trong tâm hồn của riêng tôi và của 60 ngàn dân đinh sinh trưởng ở nơi này.
    Tôi không hiểu được tại sao trong lúc này tôi lại nhớ về ngày cũ, chuỗi thời gian êm ái của thời niên thiếu trên khuôn viên trường Tổng Hợp. Những ngày tháng rong chơi trong các buôn, làng của khu vực Xã Cữ Êbư có đầy hoa Bằng Lăng màu tím nở rộ mỗi Hè về trên những đồi hoang. Con đường vào Buôn Dung xuyên qua khu suối Bà Hoàng có cỏ vàng và hoa Lan dại. Khu thác Drayling với bờ cỏ đá bám đầy trên những gốc cây dầu già như những cành liễu rũ xuống của mùa Thu Đà Lạt. Và đẹp hơn, là những cành Phong Lan như những chiếc nơ thắt trên bím tóc thiếu nử thuở nào.

    Không hiểu tôi đã thương con đường Hai Bà Trưng hay khu cư xá Lam Sơn êm ả buổi chiều về, hoặc là dãy phố Y Jút Quang Trung, nơi thị tứ có Ciné Lo Do và Nguyễn Huệ mà hằng đêm không hề thiếu ánh đèn màu. Khói thơm của tô bún bò rau chuối, hay mùi cay của khói thuốc Lào trong dãy phố chợ dọc Ama Trang Long. Hoặc là cái hun hút của con đường Phan Chu Trinh chạy dài từ Toà Giám Mục đến nhà thờ cha Ngoạn, nối liền với đại lộ Thống Nhất cho tới Buôn Alê A, cửa Nam của thành phố. Hoặc giả là nỗi nhọc nhằn của người bộ hành từ khu đồi dóc Châu Sơn theo ngỏ Hàm Nghi về khu Chợ Nhỏ ở đường Hoàng Diệu nối dài vào mỗi sáng Chủ Nhật. Tất cả đã hiện về trong trí óc tôi như một khúc phim thơ mộng của thời vàng son vừa mất hôm qua.

    Tôi vẫn nhớ rõ chiều hôm qua, mồng 9 tháng 3/1975, từng dãy xe nhà đậu nối đuôi nhau trên con đường Quang Trung, cạnh phòng mạch Nha Sĩ Ba, và một góc của đường Quang Trung Hai Bà Trưng, bên cạnh khách sạn Tường Hiệp đến khách sạn Hồng Kông, để chờ ăn một tô hủ tíu Nam Vang của Phú Lâm, và món canh cải chua nấu đầu cá của nhà hàng Hoàng Vinh, đối diện với Ngân Hàng Đại Á. Và cũng chiều hôm qua, tôi và Thạnh còn lang thang trên con đường này, vừa muốn ghé vào tiệm kem Chi Cao, mà cũng muốn ăn một chén Thạch Chè của Tân Ka, nhưng rồi cuối cùng đã vào Blanc de Neige ở Lý Thường Kiệt.

    Không phải tôi chỉ nhớ có bấy nhiêu, và nếu chỉ bấy nhiêu thôi, thật chưa đủ để nói về Ban Mê Thuột của tôi, vì danh lam thắng cảnh và cái thơ mộng của thành phố này còn chất đầy trong tâm trí mỗi con người. Từ cái sầm uất của một thành phố kỷ nghệ, Cây Số 7, khu khai thác và chế biến lâm sản, phía Nam thị xã 7 km. Ban Mê Thuột, ''Kinh đô Cẩm Lai và Cà Phê'' mà những doanh gia khai thác lâm sản đã đặt tên. Những dãy đồn điền cà phê và cao su rộng hàng chục ngàn mẫu, cho đến những khu giải trí ở ngoại ô, như Vườn Thực Nghiệm, Hồ Trung Tâm... Và trong thành phố, những nơi ăn uống thành danh như Tân Cao Nguyên ở đường Hoàng Diệu, nhà hàng Vĩnh Thuận ở cuối Quang Trung, Cà Phê Thiên Hương ở Lý Thường Kiệt, Vui Sống ở Phan Chu Trinh, Mây Hồng ở khu trường Tổng Hợp... Rồi những dẫy phố xá tấp nập người qua lại như Phúc An,Dân Thiên Đường, Minh Sơn, Trúc Lâm, Rồng Vàng, Thanh Thế... Vân vân và vân vân...
    Nhưng tất cả những thơ mộng đó, giờ đây đã bị hủy diệt. Mồ hôi và nước mắt của bao người đã không ngừng đổ ra trong suốt bao nhiêu triều đại để xây dựng nên Ban Mê Thuột với kỳ vọng của họ và con cháu họ mai sau, giờ đây chỉ còn một đóng tro tàn, mà hương khói gần như cũng nhạt nhòa tan đi trong một vài giây phút nữa. Ban MêThuột thực sự đã mất rồi, nhưng trong tâm trí những người còn lại, Ban Mê Thuột mãi mãi là máu thịt của châu thân mình.


    upload_2018-3-13_19-40-43.png
    [​IMG]

    Rạp hát Lo-Do và một góc chợ Banmêthuột nằm trên đường Quang Trung – Y-Ju’t
     

    Attached Files:

    Điều chỉnh lại bài đăng lúc: 14 tháng Ba 2018
    p324530 likes this.
  2. tu du

    tu du Người nhà

    ***

    BỘ TƯ LỆNH SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH VÀ TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG

    Bây giờ là 4 giờ 20 sáng ngày 11 tháng 3/1975, khu suối Đóc Học với những vườn rau tàn tạ đầy dấu dép râu và dấu xích chiến xa. Khu xóm nghèo của một ngoại ô tỉnh nhỏ càng tàn tạ tẻ lạnh hơn lúc nào. Nhìn về khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh và Dân Y Viện Ban Mê Thuột, chỉ còn thấy được ngọn đèn Signal chơ vơ trên trụ truyền tin. Những đóm màu đỏ của hỏa châu càng nhỏ hơn, như ánh mắt của loài thú hoang trong rừng đêm.

    Cái lặng lẽ của đêm trường và cái yên tĩnh của chiến trường càng làm cho người ta liên tưởng tới một cái gì khủng khiếp sắp xảy ra. Lâu lâu một tràng đại liên hoặc những loạt súng nhỏ không phân biệt được AK-47 hay M-16 bắn ra. Và như vậy là đã hơn 24 giờ đồng hồ, từ lúc 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, đợt tấn công đầu tiên của Cộng quân vào hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, nghĩa là lực lượng phòng thủ hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh đã chống trả không ngừng trong suốt 24 giờ, và không hiểu sẽ còn cầm cự được bao lâu nữa.

    Qua hệ thống truyền tin, người ta nhận được tín hiệu của Chi Khu Ban Mê Thuột, và Đại Tá Dậu, chỉ huy trưởng Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân còn ở ngoài vòng đai thị xã, ở mặt Bắc, mà chưa chọc thủng được phòng tuyến của Cộng quân để tiến vào thị xã. Hy vọng duy nhất trong lúc này, là hai chiếc L-19 đang bay trên đầu Bộ Tư Lệnh, dầu rằng màng lưới phòng không với đại liên 37 ly của Cộng quân vẫn không ngừng tấn công.

    Và chính trong hòan cảnh này, tôi mới hiểu rõ tinh thần Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm của những chiến sĩ Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Những con ó vùng Cao nguyên đã làm cỏ Sư Đoàn 320 Sao Vàng của Cộng quân vùng Dakto, Tân cảnh, Bến Het một thời nào, giờ đây, những con ó đó vẫn vẫy cánh tung hoành giữa rừng quân địch không một chút e sợ.

    Năm giờ 55 sáng ngày 11 tháng 3/1975, chiến trường vẫn còn yên tĩnh, buổi sáng tháng Ba ở vùng cao nguyên thường có sương mù che phủ, nhưng hôm nay, sương mù đã được thay bằng bụi khói, và không khí trong lành của những sáng mùa Xuân năm xưa đã bay mất để nhường chổ cho mùi khét của thuốc súng.

    Ở cửa Nam thị xã, lực lượng phòng thủ tư dinh tỉnh trưởng, nằm trên đại lộ Thống Nhất vẫn còn cầm cự. Tư dinh này là một biệt thự khá kiên cố, nửa phần tường phía dưới được xây bằng đá, và hệ thống công sự cũng là những lô cốt đá. Nhờ vậy trung đội phòng vệ tư dinh đã không di tản theo Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Mặt khác, tư dinh này tương đối gần hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh hơn Tiểu Khu. Vả lại, với một phạm vi nhỏ, trung đội phòng vệ dễ dàng bố trí hỏa lực hơn ở một vòng đai rộng lớn như Tiểu Khu. Đo đó, trung đội trưởng là Trung Úy Hoành đã cương quyết không di tản. Sự hiện diện của đơn vị này đã trở thành một chướng ngại và nghi điểm trong chiến thuật đối với lực lượng Cộng quân trong lúc này.

    6 giờ 30 sáng ngày 11 tháng 3/1975, từ khuôn viên trường tiểu học Nguyễn Du, sau lưng Sở Học Chánh Ban Mê Thuột, người ta nhìn rỏ những chiếc T-54 của Cộng quân, và lực lượng bộ binh đang thực hiện một cuộc chuyển quân bao vây hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Vòng vây này đang được thắt chặt, như một màng lưới dày đặc chung quanh vòng đai phòng thủ Bộ Tư Lệnh. Và 6 chiếc T-54, nhìn được từ hướng Tây-Nam, đang dàn hàng ngang tiến sát và hệ thống công sự phòng thủ Bộ Tư Lệnh. Với kinh nghiệm của những người lính, ai cũng hiểu Bộ Tư Lệnh khó lòng cầm cự được trong vòng vài ba giờ đồng hồ tới.

    Trong khi đó, những tiếng súng nhỏ, và đại bác 100 ly, cùng lúc gầm lên như những giây pháo nổ không ngừng, làm rung chuyển cả một vùng trời. Cộng quân bắt đầu nổ lực tấn công hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Và tại cửa Nam thị xã, bộ binh và chiến xa T-54 cũng ráo riết tấn công lực lượng phòng thủ tư dinh tỉnh trưởng. Nhưng chỉ là một trung đội Địa Phương Quân, đơn vị phòng thủ tư dinh làm sao có thể chống trả được với lực lượng biển người và chiến xa T-54 của Cộng quân.

    8 giờ 15 sáng ngày 11 tháng 3/1975, tư dinh tỉnh trưởng bị T-54 ủi sập các bức tường vòng đai, và pháo sập các tầng lầu. Trung úy trung đội trưởng bị trọng thương. Trong máy PRC-25, người ta nghe được tiếng kêu cứu rồi xin lệnh di tản của Trung Úy Hoành, vị sĩ quan Địa Phương Quân vừa ngoài 30 tuổi, nhưng lòng can đảm và kinh nghiệm chiến trường của ông đã vượt xa quá tuổi đời. Ông đúng là một sĩ quan ưu tú của quân đội.

    Tư dinh tỉnh trưởng đã thất thủ, chốt điểm cuối cùng ở cửa Nam thị xã đã bị Cộng quân tràn ngập, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh bây giờ như người hùng cô đơn vẫy vùng dưới trời mưa đạn của quân thù.

    NHỮNG PHÚT CUỐI CÙNG CỦA BỘ TƯ LỊNH SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH

    Lực lượng phòng thủ Bộ Tư Lệnh gồm hai đại đội và một số các phòng ban chuyên môn, trong đó có một đại đội là đơn vị tổng hành dinh, chuyên trách về hành chánh và ẩm thực. Lực lượng chủ chốt là các Trung Đoàn 44 và 45 đang hành quân vùng Pleiku. Trung Đoàn 53 chỉ có hai tiểu đoàn ở Ban Mê Thuột, và một trung đội Pháo Binh 105 ly, nhưng một tiểu đoàn lại đã điều động lên giải tỏa Quận Đức Lập, một quận vừa bị Cộng quân tràn ngập vào sáng Chủ Nhật ngày 9 tháng 3/1975. Tiểu đoàn còn lại phòng thủ phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột về phía Đông Đông-Bắc 7 km.

    Lịch sử của Sư Đoàn 23 Bộ Binh hiển hách không phải vì những chiến công hay lòng dũng cảm của các vị tư lệnh sư đoàn từ thời Đại Tá Võ Văn Cảnh, Trương Quang Ân để lại, mà chính là những chiến thắng vẻ vang, oanh liệt mà sư đoàn đã mang về cho quân lực, từ những chiến dịch Bình Tây 1 và 2... Những trận đánh kinh thiên lẫy lừng, làm vang dội các địa danh chưa có người biết tới, như Dakto, Bến Het, Tân Cảnh. Lịch sử vẻ vang của một đơn vị quân lực kiêu hùng không dễ tự nhiên mà có, nhưng hôm nay, Sư Đoàn 23 Bộ Binh, lần đầu tiên trong lịch sử đơn vị, và trong quân sử của một quân đội kiêu hùng đang đi vào ngỏ rẽ.

    Cho đến 8 giờ 20 sáng ngày 11 tháng 3/1975, đơn vị quân lực còn có mặt tại thị xã Ban Mê Thuột chỉ là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Cộng quân biết rõ điều này, và càng hiểu rằng Trung Đoàn 44 và 45 Bộ Binh nhất định sẽ trở về chiếm lại giang sơn của họ. Và đặc biệt là Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đang có mặt ngoài vòng đai thị xã ở cửa Bắc, một đơn vị mà các đơn vị chủ lực quân Bắc Việt không bao giờ dám đụng đầu trên chiến trường Cao Nguyên trong suốt nhiều năm qua, từ các mặt trận vùng Tây Bắc Kontum, PleiKu, Bến Het... cho đến chiến dịch càn quét Cục R, cơ quan đầu não tổng chỉ huy các lực lượng của Cộng quân tại miền Nam, đặt ngoài lảnh thỗ quốc gia.

    Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân được đổ xuống Buôn Hô, một quận cách thị xã Ban Mê Thuột 35 km về hướng Bắc lúc 4 giờ 30 chiều ngày 10 tháng 3/1975. Đến 9 giờ tối cùng ngày đã tiến sát vào vòng đai thị xã, nhưng chưa chọc thủng được vòng vây của Cộng quân. Tiểu Khu Darlac lúc bấy giờ đã rút ra khỏi thị xã. Hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 cố thủ trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh, nên không có được một đơn vị nào làm đầu cầu cho Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân tiến vào thị xã.

    Điểm đáng tiếc là 10 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, đơn vị tiền sát của liên đoàn đã đột nhập thị xã, di tản gia đình vị tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh ra khỏi thị xã, nhưng lại không được lệnh ở lại làm điểm tựa cho Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đến giải cứu thị xã sau này. Thực sự, nếu Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân có mặt tại thị xã, thì nhất định Ban Mê Thuột đã không thất thủ mà còn đánh tan được 3 sư đoàn quân chủ lực Bắc Việt, và bẻ gãy toàn bộ mọi mưu đồ của Cộng quân.

    Từ 6 giờ 45 sáng ngày 11 tháng 3/1975, Cộng quân đã bố trí xong lực lượng thắt chặt vòng văy hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và thực hiện trận mưa pháo bằng đại bác 100 ly trang bị trên chiến xa T-54, bắn trực xạ, đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly từ hướng Bandon dồn dập đổ xuống Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn. Đồng thời, chiến xa và bộ đội Cộng quân dàn hàng ngang tấn công bốn mặt vòng đai Bộ Tư Lệnh. Lực lượng phòng thủ Bộ Tư Lệnh đã chống trả quyết liệt, đẩy lui nhiều đợt tấn công, và đánh cận chiến với quân thù. Nhìn lên khung trời Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 bây giờ chỉ còn thấy được những cuộn khói dày đặc mịt mù. Điều đáng tiếc là mấy chiếc thiết vận xa M-113 còn lại của Sư Đoàn 23 trong lúc này lại lại không thấy hoạt động.

    Mười giờ 10 phút, một phi vụ A-37 của Không Quân thả bom nhầm vào Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23. Mọi liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị phá hủy.

    Mười giờ 30 sáng ngày 11 tháng 3/1975, một đoạn hệ thống công sự ở mặt Tây và phía Nam Bộ Tư Lệnh đã bị chọc thủng. Bộ đội và chiến xa của Cộng quân tràn vào hậu cứ Sư Đoàn 23 Bộ Binh như nước vỡ bờ. Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Darlac, mở đường máu đem đơn vị thoát khỏi hậu cứ, bỏ lại Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân đinh trong một tình huống vô cùng bi thảm. Ban Mê Thuột lâm chung. Sáu mươi ngàn dân như một đàn gà con mất mẹ. Đêm đen phủ xuống thành phố này cùng với nổi hải hùng và tuyệt vọng mênh mông.




    upload_2018-3-22_18-26-50.png
    [​IMG]




    MẶT TRẬN PHI TRƯỜNG PHỤNG DỤC VÀ TRUNG ĐOÀN 53 BỘ BINH

    Thị xã Ban Mê Thuột đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng quân từ chiều hôm qua, ngày 10 tháng 3/1975, và đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng là hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh rút khỏi thị xã này lúc 10 giờ 38 phút ngày 11 tháng 3/1975. Nhưng Trung Đoàn 53 Bộ Binh, phòng thủ phi trường Phụng Dực, cách thị xã Ban Mê Thuột 7 km về hướng Đông Bắc vẫn cố thủ phi trường và cương quyết chống lại lực lượng biển người và chiến xa T-54 của Cộng quân.

    Cùng lúc tấn công vào thị xã Ban Mê Thuột 1 giờ 20 sáng ngày 10 tháng 3/1975, Cộng quân đã không bỏ sót Trung Đoàn 53. Chiến xa và bộ đội của Cộng quân, với đại bác 130 ly, và hỏa tiển 122 ly yểm trợ đã không ngừng luân phiên tấn công Trung Đoàn 53. Và sau khi đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa cuối cùng rời bỏ Ban Mê Thuột, Cộng quân càng tập trung lực lượng tấn công Trung Đoàn 53 ác liệt hơn.

    Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh là Trung Tá Ân. Biết rõ ý đồ của Cộng quân, nhưng ông cũng hiểu rằng Phi Trường Phụng Dực là điểm tiếp liệu, tiếp vận duy nhất cho lực lượng tổng trừ bị là sư đoàn Nhảy Dù đến giải cứu Ban Mê Thuột sau này, đồng thời đơn vị của ông là lực lượng đầu cầu và liên lạc duy nhất cho các đơn vị bạn về sau. Do vậy, ông đã ra lệnh cố thủ và chỉ thị cho các binh sĩ tiết kiệm đạn dược và mọi phương tiện quân y, dược cụ, cố gắng chiếm dụng vũ khí của địch để chống lại kẻ địch, và phải nhất dịnh bắn trúng mục tiêu.

    Trong suốt thời gian 6 ngày đêm, Trung Đoàn 53 Bộ Binh không những đã đánh tan nhiều đợt tấn công của Cộng quân, mà còn tịch thu nhiều loại vũ khí cá nhân cũng như súng cộng đồng để tiêu diệt T-54 và hàng trăm xác quân thù bỏ lại chiến trường. Sự tổn thất nặng nề nhất của Cộng quân trong mặt trận Ban Mê Thuột, hơn 200 nhân mạng, không biết được con số bị thương, và hàng chục T-54 bị phá hủy bằng chính B-40, B-41 của Cộng quân do Trung Đoàn 53 tịch thu tại mặt trận Phi trường Phụng Dực.

    Từ sáng sớm ngày 10 tháng 3/1975 cho đến hết ngày 15 tháng 3/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh chỉ với một tiểu đoàn Bộ Binh, và trung đội Pháo Binh 105 ly đã anh dũng chiến đấu với một lượng Cộng quân nhiều gấp bội, có chiến xa và đại bác đủ loại, mà không cần biết đến Ban Mê Thuột đã thất thủ và đài BBC trong bản tin phát đi vào đêm 14 tháng 3/1975, đã loan tin Sư Đoàn 23 Bộ Binh bị xóa tên trong quân sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Ngày 15 tháng 3/1975, một phi vụ yểm trợ tiếp liệu cuối cùng cho Trung Đoàn 53 đã không rơi đúng điểm ấn định mà lại rơi xuống khu vực Vườn Ương ở Hồ Thực Nghiệm.

    Ngày 16 tháng 3/1975, Trung Đoàn 53 Bộ Binh hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2. Hết đạn dược và thuốc men, Trung Tá Trung Đoàn Trưởng đành phải ra lệnh rút khỏi phi trường Phụng Dực. Điểm liên lạc, tiếp vận duy nhất cho Ban Mê Thuột đã lọt vào tay Cộng quân. Nhưng Trung Tá Ân, đúng là người hùng của quân lực, và Trung Đoàn 53 Bộ Binh anh dũng là những người con yêu của Tổ Quốc, đã làm khiếp đảm quân thù, và đem vinh quang về cho một quân đội kiêu hùng của nền Cộng Hòa miền Nam.

    Với lịch sử của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và thực tế của mặt trận Ban Mê Thuột, nếu thị xã Ban Mê Thuột được Trung Đoàn 44 hoặc 45 Bộ Binh phòng thủ, thì cho dầu Cộng Sản Bắc Việt có quân số nhiều gấp ngàn lần đi nữa trong cuộc tấn công này, Ban Mê Thuột và 60 ngàn dân đã không rơi vào biển đêm của lịch sử dân tộc. Và Sư Đoàn 23 Bộ Binh vĩnh viễn là một đơn vị kiêu hùng của một quân lực kiêu hùng bất diệt.

    Suốt đêm nay, tôi vẫn mơ màng tự hỏi tại sao Ban Mê Thuột có thể thất thủ dễ dàng và nhanh chóng như vậy? Chỉ với một tiểu đoàn Bộ Binh của Trung Đoàn 53, đã cầm cự với lực lượng Cộng quân hơn suốt 6 ngày đêm.

    Qua tin tức các hoạt động của địch được ghi nhận ở những ngày đầu chiến cuộc, và đặc biệt là trong các buổi họp tham mưu, Đại Tá Luật đã nhiều lần nhắc nhở các đơn vị về những hoạt động của Cộng quân, những đơn vị chủ lực quân Bắc Việt đã ghi nhận có mặt quanh vòng đai lãnh thổ, hoặc nghi ngờ đang di chuyển về lảnh thổ Darlac. Và điểm đặc biệt là Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật của Tiểu Khu, một đơn vị mới thành lập đã được đặt trong tình trạng báo động.

    Tất cả những sự kiện đó, chứng minh rằng, các giới chức thẩm quyền ở địa phương đều biết trước, Ban Mê Thuột sẽ bị tấn công, nhưng tại sao Trung Đoàn 44 hoặc 45 Bộ Binh lại không được trả về Ban Mê Thuột? Tại sao Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân lại bị mất đi cơ hội xâm nhập thị xã để gải cứu Ban Mê Thuột? Những câu hỏi này, ai có trách nhiệm trả lời, và đến bao giờ mới trả lời được.

    MẶT TRẬN PHÍA TÂY BẮC THỊ XÃ VÀ TRẠI ĐỊNH CƯ CHÂU SƠN

    Sau khi hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh rút khỏi thị xã lúc 10giờ 38 phút sáng ngày 11 tháng 3/1975), Ban Mê Thuột đã hoàn toàn lọt vào tay Cộng quân. Một số binh sĩ thuộc Tiểu Khu, Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Thiết Đoàn 8 Thiết Giáp, đơn vị hành chánh tiếp vận... đã thất lạc đơn vị và chạy vào xã Châu sơn, cách thị xã 3 km về hướng Tây Tây-Bắc.

    Xã Châu Sơn là tên của một trại định cư có khoảng 5,000 người, từ miền Bắc di cư vào Nam sau hiệp định Geneve năm 1954, được cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm thành lập vào khoảng năm 1956, cùng với các trại định cư khác trong toàn lãnh thổ tỉnh Darlac.

    Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã nhận định Ban Mê Thuột có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng, không những có thể kiểm soát toàn miền cao nguyên mà còn là giao điểm nối liền cao nguyên với duyên hải, đồng thời từ Ban Mê Thuột còn có thể kiểm soát được vùng Tam Biên Việt Nam, Lào, và Cam Bốt. Vì vậy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã thiết lập một vòng đai an toàn bảo vệ cho thị xã Ban Mê Thuột bằng một hệ thống gồm các trại định cư sau đây:

    Trại định cư Châu Sơn ở mặt Tây tây Bắc thị xã Ban Mê Thuột 3 km. Phía Nam dọc theo Quốc Lộ 14, cách thị xã 5 km là trại Chi Lăng, với dân số khoảng 3,000 người, và xa hơn là Thọ Thành. Phía Đông-Nam cách thị xã 3 km có trại định cư Trần Hưng Đạo gần 2,000 người. Phía Đông khoảng 9 km có Hòa Bình, là quận lỵ của quận Ban Mê Thuột. Cũng về mặt Đông, cách Ban Mê Thuột 15 km, có trại định cư Trung Hòa với dân số 5,000 người. Xa hơn, doc theo Tỉnh Lộ số 5, đường đi Quận Lạc Thiện, có hai trại Kim Châu, Kim Phát, với dân số khoảng 6,000.

    Phía Bắc Ban Mê Thuột, dọc theo Quốc Lộ 14, cách thị xã 32 km, có 3 trại định cư, chiếm tỉ lệ dân số người Kinh cao nhất trong toàn tỉnh, hơn 10 ngàn người, đó là các trại định cư Hà Lan A và Hà Lan B, Vĩnh Phước, thuộc Quận Buôn Hô, đã nổi tiếng trong trận đánh đầu Xuân năm 1972 với hai trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt trong suốt 10 ngày đêm mà chỉ với 7 trung đội Nghĩa Quân và lực lượng Nhân Dân Tự Vệ Xã.
    Thị xã Ban Mê Thuột mất, xã Châu Sơn tự họ quyết định số phận của mình, cưong quyết chống lại Cộng Sản, theo tinh thần của cuc khởi nghĩa Quỳnh Lưu, Nghệ An giữa thập niên 1950 và 1960 khi người dân nổi lên chống lại xe tăng và bộ đội Cộng Sản Bắc Việt năm xưa.

    Tập hợp lại những binh sĩ tản lạc chạy vào xã, Ban Chỉ Huy Liên Trung Đội Nghĩa Quân đã hô hào đồng bào đào chiến hào dọc theo hàng rào ấp chiến lược, lập tổ tam tam, 3 người một, yểm trợ lẫn nhau, để chống lại quân Cộng sản. Phụ lão và thiếu niên lo phần tiếp tế cơm ăn, nước uống và cứu thương. Thanh niên nam nữ túc trực ở giao thông hào phòng thủ. Suốt 11 ngày đêm, lực lượng Nghĩa Quân, Nhân Dân Tự Vệ và toàn dân xã Châu Sơn đã đánh trả không ngừng với lực lượng Cộng quân.

    Cuối cùng Cộng quân phải dùng chiến xa T-54 dàn hàng ngang ủi sập hệ thống giao thông hào và hàng rào phòng thủ. Nhiều trung đội trưởng và liên trung đội trưởng Nghĩa Quân bị thương và bị bắt. Xã Châu Sơn đầu hàng. Riêng liên trung đội trưởng nghĩa quân Nguyễn Văn Tiến bị xử án chung thân. Sau hơn 20 năm những người dân xã Châu Sơn một lần nữa, lại bị nô thuộc dưới chế độ Cộng Sản. Nhưng tinh thần chống Cộng và gương anh dũng chiến đấu của họ nhất định mãi mãi lưu truyền cho thế hệ mai sau.




    upload_2018-3-22_18-31-29.png





    Cầu 14 ( nằm giữa 2 xã Thọ -Thành và Cữ-Ju’t, Cách thị xã Ban mê thuột 14 km về phía Nam


    QUẬN PHƯỚC AN: CỨ ĐIỂM CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CUỐI CÙNG

    Ban Mê Thuột thất thủ, quận hành chánh và các chi khu di tản về quận Phước An để thành lập một tuyến phòng thủ chiến lược nhằm tái chiếm Ban Mê Thuột. Chi khu và Quận Hành Chánh Phước An nằm trên một ngọn đồi trọc phía đông bắc thị xã Ban Mê Thuột 42 km, trên Quốc Lộ 21, giáp ranh với quận Khánh Dương, tỉnh Khánh Hoà, Nha Trang là giao điểm giữa Ban Mê Thuột và Nha Trang, hay là trục nối giữa vùng cao nguyên với miền duyên hải trung phần.

    Chín mươi phần trăm dân số Phước An là ngưòi thượng sống rãi rác trong các buôn làng. Trước năm 1960, hầu hết người Thượng ở quân này đều sống bằng nghề làm rẫy, trồng cây ngũ cốc, như bắp và lúa. Nhưng từ sau năm 1960, những di dân từ các miền đến lập nghiệp ở vùng này, đã khám phá ra vùng đất màu mỡ của Phước An rất thích hợp để trồng các loại cây kỹ nghệ như cà phê, cao su, tiêu, ca cao, và từ đó, những dãy đồn điền cà phê mọc lên như nấm nằm dọc hai bên Quốc Lộ 21, từ cây số 5 cách thị xã Ban Mê Thuột về hướng Đông-Bắc cho đến cây số 42 Quốc Lộ 21 và chạy sâu vào hàng chục cây số, đã làm cho Phước An trở nên một vùng trù phú bậc nhất của tỉnh Darlac.

    Ngoài cà phê, Phước An còn là khu vực lâm sản quan trọng. Cây Gõ (Cà te) là mối lợi lớn nhất mà các nhà lâm sản thời bấy giờ hằng mơ ước. Quận Phước An có một trường trung học công lập, và hầu như mỗi buôn làng đều có một trường tiểu học cộng đồng, nên dân trí và sinh hoạt của quận này rất cao.

    Từ khi Ban Mê Thuột thất thủ, Bộ Chỉ Huy Tiẻu Khu Darlac, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, các đơn vị đồn trú tại thị xã, các quận hành chánh và chi khu của các quận đều di tản về Phước An để lập một tuyến phòng thủ và chuẩn bị tái chiếm Ban Mê Thuột.

    Bốn giờ 40 chiều ngày 13 tháng 3/1975, hai Trung Đoàn Bộ Binh 44 và 45 thuộc Sư Đoàn 23 được đổ xuống quận Phước An, Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn 2 được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Darlac, lo phối trí lực lượng tái chiếm Ban Mê Thuột.

    Từ 13 tháng 3/1975 đến 16 tháng 3/1975, phòng tuyến Phước An được thành lập với lực lượng của ba chi khu và hai Trung Đoàn Bộ Binh 44 và 45 trong một khí thế hết sức thuận lợi. Kế hoạch tái chiếm Ban Mê Thuột được coi là hoàn tất ở giai đoạn đầu, chỉ còn đợi lệnh và chờ phối hợp với lực lượng tổng trừ bị của Bộ Tổng tham Mưu tăng viện.

    Nhưng cho đến ngày 17 tháng 3/1975, lực lượng tổng trừ bị vẫn chưa được gởi đến. Trong khi đó, bộ binh và chiến xa của Cộng quân đã từ thị xã Ban Mê Thuột đổ về tấn công ráo riết phòng tuyến Phước An không một phút nào ngừng. Chiều ngày 17 tháng 3/1975, phòng tuyến Phước An bị Cộng quân chọc thủng, cứ điểm chiến lược cuối cùng của Ban Mê Thuột bị tan rã.

    Ban Mê Thuột, tỉnh Darlac gồm bốn quận hành chánh và bốn chi khu cùng với 150 ngàn dân rơi vào tay Cộng Sản Bắc Việt. Tỉnh Darlac, một trong 42 tỉnh của Việt Nam Cộng Hoà bị xóa tên trên bản đồ hành chánh của nền Cộng Hòa từ ngày hôm nay.

    Tôi lịm chết giữa điệu buồn chất ngất
    Thả hồn xuôi theo kỷ niệm xa mờ
    Phút vị vong thắp lại nén hương thừa
    Mà tưởng nhớ một thời xưa đã sống

    (Thời Gian)




    Hết Phần I
     
    p324530 likes this.
  3. tu du

    tu du Người nhà

    ***

    PHẦN II



    BAN MÊ THUỘT

    NHỮNG NGÀY ÐẦU TRONG TAY CỘNG QUÂN
    Nguyễn Định



    Đã hơn một phần tư thế kỷ, thời gian trôi đi với biết bao vật đổi sao dời, nhưng trong tâm hồn mỗi người dân thành phố "Buồn Muôn Thủa", kỷ niệm xưa vẫn còn đó, thành phố quen thân của 26 năm về trước vẫn còn in sâu trong kí ức của mỗi con người. Như đại lộ Thống Nhất, chạy dài từ trung tâm thành phố ở Ngã 6 cho tới Buôn A Lê A, qua Hội đồng Tỉnh, Câu Lạc Bô Biên Thùy, Bưu Điện, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, Công viên, Ty Ngân Khố, Trường Trung học Hưng Đức, là cửa ngỏ phía Nam của thành phố. Đường Lê Lợi, nối từ đại lộ Thống Nhất, bọc theo Câu Lạc Bộ Biên Thùy, khu cư xá Sĩ quan, cho đến trường Trung Học Tổng Hợp. Đại lộ Hùng Vương, nối từ Quân Y viện, ngang qua doanh trại đại dội 206 Cảnh sát Dã Chiến cho đến khuôn viên nhà thờ Chính Tòa, ở ngã 6 - Con đường Phan Chu Trinh, từ Ngã 6, ngang qua Trừơng Nử Trung Học Vinh Sơn cho đến Tòa Giám Mục. Đại lộ Tự Do, nối ngả 6, trung tâm thị xã với bến xe Cây Số 3, cửa Bắc thị xã, ngang qua biết bao Ty, Sở, và B Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, mà bên kia là Phi Trừơng L.19. Con đừơng Hàm Nghi dài hun hút, nối Phan Chu Trinh chạy dài cho đến ngỏ vào Xả Châu Sơn. Đường Phan Bội Châu, cũng từ Phan Chu Trinh, cắt Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Y Jút, Nguyễn Thái Học, Tôn Thất Thuyết chạy dài cho đến Chùa Khải Đoan, trường Trung Học Bồ Đề và doanh trại Thiết Đoàn 8 Thiết Giáp, cửa ngỏ của phía Tây Thị Xã.


    Với bao tấp nập của phố phường, lộng lẩy như Khách sạn Anh Đào, Hồng Kông, Hoàng Gia, Khu Quang Trung - Hai Bà Trưng và ciné Nguyển Huệ, Khu chợ Y Jut với ciné Lo Do, Ngân Hàng Đại Á, Sàigòn Tín Dụng, và nhà hàng Thanh Thế lẩy lừng trên Ama Trang Long. Những tiệm buôn khang trang như Trúc Lâm, Minh Sơn, Thăng Long, Dân Thiên Đường ...và biết bao thực đơn nổi tiếng của Vĩnh Thuận, Hoàng Vinh, Tân Cao Nguyên, và Le Blanc de Neige....

    Những cảnh vật và sinh hoạt đó không dễ gì phôi pha được trong tâm trí những người dân Banmêthuột, và còn biết bao nhiêu nữa, những phồn hoa của phố thị thủa nào, mà mỗi người, một đời đả sinh ra và lớn lên ở nơi này, hay hoặc gĩa đã 1 thời được sinh hoạt của phố phường này cưu mang và nuôi dưỡng, nhất định không thể nào quên được Banmêthuột với kỷ niệm của đời mình. Banmêthuột, đã 26 năm qua, những tang thương dâu bể đã biến dời, phố phường tấp nập xưa chỉ còn lại trong ký ức mà thôi, và 60 ngàn dân bây gìơ đang phiêu bạt khắp 4 phương trời, ai còn, ai mất, nào ai đã biết, nhưng trong tim, trong óc của mỗi dân đinh, Banmêthuột mãi mãi và bất diệt.


    BAN MÊ THUỘT, THÀNH PHỐ BỎ NGỎ

    Thứ Hai, ngày 10 tháng 3 năm 1975
    Khi đem ra cuốn nhật ký viết về trận tấn công Banmêthuột cuả Cộng quân, và tình hình thị xã Banmêthuột từ giây phút đầu tiên 2g 20 sáng ngày 10 tháng 3, năm 1975, tôi hoàn toàn chỉ muốn làm 1 người kể chuyện, không thêm bớt và bày tỏ quan điểm của cá nhân để đánh giá hoặc nhận định, những điều này nếu có chỉ là vì sự kiện bắt buộc bởi tính khách quan, phần phê phán, nếu có, hoàn toàn là quan điểm của người đọc. Tôi cũng muốn bày tỏ 1 điều, là những chi tiết đọc thấy trên những trang giấy này, sau hơn 26 năm, chỉ là nhật ký, được ghi lại trong cái nhìn về tình hình thị xã 1 cách khách quan, trên toàn thể khung cảnh và sự kiện ở thành phố Banmêthuột vào những ngày khốc liệt và khủng khiếp đó.

    Tuy nhiên cái nhìn của tôi nhất định có phần khiếm khuyết, vì từ trận pháo kích mở màn, 2 giờ 20 phút sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi những chi tiết tin tức từ các chốt an ninh vòng đai thị xã gởi về cho các trung tâm Hành Quân, cho đến ngày tôi phải rời bỏ Banmêthuột, vẫn còn 1 vài khu phố tôi không có cơ hội đi qua vì tình hình an ninh vào những ngày đó. Nhưng những sự việc xảy ra trong khu vực tôi nhìn được, là toàn thể khu phố thị tứ, sầm uất nhất của thị xã này. Tôi cũng ao ước có ai đó kể cho tôi đoạn đường di tản mà Tiểu Khu và Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc gia phải đi qua, từ mặt sau Tiểu Khu hay từ Quân Y viện đến trung tâm Huấn Luyện Tân Binh của Sư Đòa 23 B Binh ở Trung đoàn 45 BB, dầu thực sự tôi cũng biết rõ cái nguy hiểm và nỗi gian truân trên đoạn đường đó. Và với bằng ấy sự tình, trong tôi chỉ có nỗi cảm xúc mãi mãi không nguôi và mãi mãi không vơi.

    * 2 giờ 20 sáng: Bắt đầu trận pháo kích, kéo dài liên tục cho đến 6 giờ sáng, bằng các loại đại bác: 130 ly, Hoả tiển 122 ly, đại bác 100 ly gắn trên xe tăng T.54

    * 4 giờ sáng: Bộ binh và chiến xa T54 của Cộng quân tấn công mặt Bắc Phi trường L19 với chiến thuật biển người, tiền pháo, hậu xung. Lực lượng phòng thủ phi trường là đại đội Thám Sát Tỉnh, (PRU), trực thuộc Bộ chỉ Huy Cảnh Sát Quốc gia Tỉnh, quân sồ 40 người.

    * 5 giờ sáng : Đơn vị phòng thủ Phi trường L19 xin Tiểu Khu tiếp viện, Tiểu Khu chỉ thị Đại dội 1/224 Ðịa phương Quân, Đại Úy Hải là đại đội trưởng, nhưng đại đội 224 ĐPQ đã không thể tiến vào Phi Trường L19 được để tiếp cứu đại đội Thám Sát Tỉnh, vì biển người của Cộng quân.

    * 6 giờ 20: Phi trường L19 thất thủ, Đại đội Thám sát Tỉnh tan hàng.

    * 6 giờ 55: Cộng quân làm chủ mặt Bắc thị xã.

    Cộng quân từ mặt Bắc tiến vào thị xã theo đường Phan Chu Trinh và ven vòng đai Phi trưòng L 19, khu xóm đạo, đến đường Phan Bội Châu, khu Trường Nữ Trung Học Vinh Sơn nằm giữa 2 con đường Phan Chu Trinh và đường Tự Do, mà bên kia đường Tự Do là dinh Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và bố quân tại đó.

    Mặt Tây thị xã
    * 7 giờ 5 phút: Cộng quân xâm nhập khu vực suối Bà Hoàng, và cuối đường Hàm Nghi, ngõ vào xã Châu-Sơn.

    * 7 giờ 15: Một mủi tiến quân khác của Cộng quân tràn chiếm khu vực cuối đường Hoàng Diệu, (đường đi Bandon, Khu trung tâm xã hội, do linh mục Trương Trọng Tài, mới thành lập để nuôi người gìa tàn tật và trẻ mồ côi.





    Mặt Nam thị xã

    - 7 giờ 30: Cộng quân chiếm khu giáo xứ Thanh Mai, Buôn AlêA, nằm trên đường Thống Nhất, nối liền Quốc L 14 tại Trạm kiểm soát cửa Nam, thuộc Cụôc Cảnh sát Quốc Gia xã Cư Êbư. Dân chúng từ mặt Nam thị xã, đổ xô nhau chạy vào khu Dân Y Viện Banmêthuột và Trường Tiểu Học Nguyễn Du tránh đạn.

    Cũng vào thời gian này, dân chúng từ cửa Bắc thị xã, khu xóm đạo, bồng bế nhau chạy vào trung tâm thành phố, ở khu Ly Thường Kiệt - Ama Trang Long, chen chúc nhau ở khu vực tiệm Bida Thanh Sơn, tiệm gạo, nhà sách Văn, trên đường Lý thường Kiệt, đối diện Khách sạn Hoà Bình và tiệm chụp hình Hưng Ký.

    Ở mặt Tây, dân chúng đổ xô nhau chạy về khu trường Tàu nằm trên đường Y - Jut, đối diện Hội Dục Anh.

    Tình hình tại Trung Tâm thị xã, Từ khu vực Ngả 6, nhà thờ chính tòa (nhà thờ cha Ngoạn), Khu Quang Trung, Ciné Nguyễn Huệ, Ama Trang Long, Hai Bà Trung, Lý Thường Kiệt, Y - Jut, Ciné Lo Do, Tôn Thất Thuyết, đến khách sạn Hoàng Gia, vẫn còn yên tĩnh, chưa có bóng dáng của Cộng quân.

    Cũng thời gian này, các chốt an ninh vòng đai thị xã hoàn toàn tan vở. Nhưng tin tức về các mủi tiến quân của Cộng quân, các trung tâm hành quân của Tiểu Khu, Trung tâm hành quân Cảnh Lực của Cảnh sát đã nhận rất đầy đủ.

    Từ 7 giờ 30 đến 8 giờ 30 thứ 2, ngày 10 tháng 3 năm 1975, lực lượng Cộng quân đã hoàn toàn làm chủ tình hình các mặt Bắc, Tây và Nam thị xã, vành đai an toàn cho thị xã đã bị phá vở, và các chốt điểm quan yếu như Phi trưòng L19, bến xe cây số 3 ở phía Bắc, Trạm kiểm soát phía Nam và kho đạn Mai Hắc Đế đã lọt vào tay Cộng quân.

    * 8 giờ 45: Lực lượng Cộng quân từ khu vực đường Phan Bội Châu và Trường Nữ Trung Học Vinh Sơn chiếm khuôn viên nhà thờ Chính Toà (trung tâm thành phố).

    Một cánh quân khác của Cộng quân từ cuối đường Phan Bội Châu, có T54 cũng đang theo đường Phan Bội Châu tiến về khu vực nhà thờ Chính Toà.

    * 9 giờ: Lực lượng Cộng quân dùng B40, B41 và cối 60 ly bắn phá khu trungtâm thành phố trên đường Hai Bà Trưng, đoạn từ Quang Trung đến Ama Trang Long (Khu bến xe Lam cũ, cạnh khách sạn Hồng Kông, thiêu huỷ hoàn toàn khu phố này và khu phố dọc theo Quang Trung, từ Hai Bà Trưng đến Lý thường Kiệt, đối diện Khách sạn Tường Hiệp, và Ngân Hàng Đại Á cũng thành 1 biển lửa.

    Khu phố trung tâm bị bắn cháy, những cư dân ở đây và dân chúng từ ngoại ô thành phố chạy về tá túc ở khu vực Lý thường Kiệt, trong các tiệm bida Thanh sơn, tiệm gạo, nhà sách Văn . . . đã xô nhau chạy băng qua đường Lý thường Kiệt, theo Ama Trang Long và Quang Trung chạy xuống khu chợ, nhà hàng Vĩnh Thuận, đối diện cụôc Cảnh sát Quốc Gia xã Lạc Giao đễ ẩn núp.

    * 9 giờ 20 sáng ngày thứ 2, 10 tháng 3 năm 1975, một đơn vị Biệt Động Quân, quân lực VNCH đầu tiên xâm nhập được thị xã, qua cửa ngỏ phía bắc, rải quân ở khu vực Trường Trung Học Tổng Hợp Banmêthuột, ngã 4 đường Bà Triệu và đường Hùng Vương.

    * 9 giờ 25: Lực lượng Cộng quân từ khuôn viên nhà thờ chính toà vượt ngả 6, tiến chiếm Câu Lạc Bộ Biên Thùy, khu cư xá sĩ quan, Hội đồng Tỉnh, nằm ở ngã 3 Lê Lợi và Thống nhất, đối diện khu vườn hoang của bác sĩ Tôn Thất Niệm.

    Tuy nhiên, mủi quân phía Nam của công quân, sau khi chiếm khu vực xứ Thanh Mai và Buôn Alê A, đã không vượt được tư dinh tỉnh Trưởng, án ngữ trên đường Thống Nhất, đã bố quân dọc theo đại lộ Thống Nhất, bắn phá khu vực Ty Ngân khố và khu Dân Y viện Banmêthuột.

    Tư dinh Tỉnh Trưởng là tiền đồn kiên cố nhất đối với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu lúc bấy giờ, vì tư dinh được bao quanh bằng 1 hệ thống tường xây, và phần dưới của biệt thự này là tường bằng đá tảng. Tư dinh được 1 trung đội Địa Phương Quân trấn thủ, do Trung Úy Hoành chỉ huy.

    * 9 giờ 30 phút sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, bộ binh và chiến xa T54 của Cộng quân từ khu cư xá Sĩ quan, Hội đồng Tỉnh và Câu lạc bộ Biên Thuỳ, tràn qua khu vườn hoang của bác sĩ Tôn thất Niệm tấn công Bộ chỉ Huy Tiểu Khu Darlắc ( Banmêthuột).

    * 10 giờ 15: Đơn vị Biệt động Quân đưa gia đình Tư Lệnh Sư đoàn 23 BB ra khỏi thị xã để đến doanh trại Trung đoàn 45 BB (ở cây số 5).

    * 10 giờ 20: T54 của Cộng quân chiếm Sân vận động và khuôn viên Toà Sơ Thẩm Banmêthuột.

    * 11 giờ 20: 1 chiếc T54 của công quân bị bắn cháy trước cổng chính Bộ chỉ Huy Tiểu Khu, đối diện Bưu Điện Banmêthuột.

    * 11 giờ 30: Cộng quân chiếm hoàn toàn khu trung tâm thành phố. Suốt từ Ngã 6,đường Phan chu Trinh, chạy dài theo Quang Trung và Ama Trang Long đến Tôn Thất Thuyết . . . bắn phá các dãy phố dọc theo AmaTrang Long, Y -Jut và bắn cháy khu chợ Banmêthuột.

    * 11 giờ 45: Cộng quân bắn cháy 2 chiếc Commando Car của Thiết Đoàn 8 Thiết Giáp tại ngả 3 Tôn Thất Thuyết - Ama Trang Long, trước Bar Quốc Tế và tiệm gạo Thanh Bình.

    Tình hình dân chúng ở khu Trung Tâm thành phố


    Trung tâm thành phố và khu chợ bị cháy, dân chúng đổ xô nhau chạy tán loạn, nhóm chạy băng qua đường Tôn thất Thuyết, xuống suối Đốc Học, để đến Trường Tiểu Học Nguyễn Du, đối diện Dân Y Viện Banmêthuột, mong thoát khỏi thị xã bằng ngã cửa Nam thành phố, (nếu họ có thể vượt được vòng vây của Cộng quân đang bắn phá khu tư dinh tỉnh trưởng và Ty Ngân Khố). Nhóm khác, băng qua đường Quang Trung, chạy bọc sau Ciné Lo Do và dãy phố đồ gổ trên đường Y Jut để đến đường Phan bội Châu, lần về hưóng Trường Trung học Tỉnh Hạt (trường Bán công củ). Tại đường Phan bội Châu, 4 chiếc T54 đang án ngữ khu vực từ ngả 4 Phan Bội Châu - Nguyễn tri Phương đến nhà sách Văn Hoa trên đường Phan bội Châu. Thực sự lúc đó người ta không biết được T54 hay M113 của Thiết doàn 8, nhưng trong những người chạy loạn, có những sĩ quan lạc ngủ, đã hướng dẫn dân chúng chạy theo lối họ nhìn.

    Đòan người theo Phan bội Châu chạy đến Tôn Thất Thuyết, rồi theo Tôn thất Thuyết chạy đến đường Hòang Diệu Nguyễn thái Học. Từ ngã 4 Hoàng Diệu - Tôn thất Thuyết chạy dài đến Hoàng Diệu Nguyễn tri Phương, dân chúng tụ tập 2 bên đường nhìn về hướng Bộ Tư Lệnh Sư doàn 23 B binh như trông chờ 1 điều gì.

    Trên bầu trời bộ tư lệnh, 2 chiếc máy bay trinh sát L19 vẫn quần quanh trên đầu Bộ Tư Lệnh, và đạn phòng không 37 ly hoặc 12 ly 7 của Cộng quân từ hướng Bandon (hướng tây thị xã) bắn lên đan chéo quanh 2 chiếc L19 như những bông dù làm thành 1 võng lưới, nhưng không 1 chiếc L19 nào trúng đạn.

    * 11 giờ 50 thứ 2 ngày 10 tháng 3 năm 1975, Hậu cứ Thiết đoàn 8 di tản.

    * 12 giờ Cuc Cảnh Sát Quốc Gia Xã Lạc Giao (Cuc Cảnh Sát thị xã) tan hàng.

    * 13 giờ 15: 1 tiếng nổ lớn, rồi 1 cột khói bốc cao che khuất cả khu vực Tiểu Khu, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu trúng hỏa tiển 122 ly của Cộng quân, Trung tâm hành quân bị sập

    * 2 giờ 20: 1 đám dân chúng chạy hớt hãi từ khu nhà Công chánh trên đường Hai Bà Trưng, cạnh Bảo Sanh Viện Bác Ái, đổ xô xuống ngã 4 Hoàng Diệu - Nguyễn thái Học, và 1 người nào đó la lớn:

    “ Tiểu Khu mất rồi!", nhưng vì tiếng nói bị ngắt quảng, mãi khi họ đến gần, người ta mới hiểu được Tiểu Khu đã thất thủ!

    - Còn Bộ Tư Lệnh Sư doàn mà,
    - Không thể nào, sáng nay lúc mười giờ mấy, tôi còn thấy Biệt động Quân đang đánh ở khu bến xe củ (bên kia đường Hùng Vương, đối diện Tư dinh Tư Lệnh Sư doàn 23).
    - Chỉ cứu gia đình ông Tường thôi, Đ. mẹ! (không rỏ trong đám đông, ai đã nói câu này.)
    - Mãy "chã" đang tới kìa! Cả đám người cùng nhau nhìn về hướng Nguyễn tri Phương - Hoàng Diệu, một đám đông dân chúng chạy trước, theo sau là bộ binh và T54 của Cộng quân.

    Đoàn ngừơi bỏ ngã 4 Hoàng Diệu Nguyễn thái Học chạy về hướng Hàm Nghi.

    Bây giò là 3 giờ chiều thứ hai, ngày 10 tháng 3 năm 1975, Cộng quân đã hoàn toàn kiểm soát thành phố.

    Tuy nhiên ở mặt Bắc thị xã vẫn còn Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh, nhưng không hiểu Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát còn cầm cự được bao lâu khi Tiểu Khu đã di tản. Người ta nghe được tiếng súng lớn nhỏ vọng liên hồi ở khu vực đó.

    * 4 giờ chiều: tin tức xôn xao cho biết Bộ Chỉ Huy Cảnh sát đã rút lúc 3 giờ 40 vì không chịu nổi mưa pháo và biển người của Cộng quân. Ở các khu tập trung đông dân chúng, người ta đang bàn tán xôn xao về tin tức tại trường Tàu ở đường Y Jut, nơi tập trung rất nhiều người chạy nạn, Cộng quân đang thanh lọc dân chúng, tìm bắt các viên chức chính phủ, quân nhân, cảnh sát.

    * 6 giờ 30 chiều: một toán bộ binh và 2 chiếc T54 của Cộng quân từ cuối đường Hàm Nghi đang tiến về hướng Phan Chu Trinh, chạy trước họ vẫn là đám đàn bà, trẻ con và người gìa.

    * 7 giờ 15 tối, Cộng quân chia thành nhiều toán, lục soát từng gia đình trên các khu phố: Phạm Phú Quốc, võ Tánh, Hàm Nghi, khu cư xá Lam Sơn của Sư doàn 23 B Binh. Thanh niên trai tráng đã lẫn trốn từ vườn sau nhà này sang nhà khác, hoạc trốn trên trần nhà, hầm cầu, hầm tránh pháo kích.

    * 8 giờ 30, chủ chiếc xe cần câu làm cây (xe Be) thoát khỏi thị xã, lúc 2 giờ chiều qua ngã Phan Chu Trinh, xuyên qua nghĩa trang công giáo, phía sau Tòa Giám Mục, bị bắt ở Cây Số 3, xe bị tịch thu, và bị đuổi ngược về thị xã với vợ và 2 đứa con, đã chạy vào khu Võ Tánh Nguyễn thái Học, anh cho biết đã nhìn thấy rất nhiều Biệt động quân đang tiến về hướng thị xã, Biệt Động Quân đã tiến vào khoảng giữa Xã Ðạt Lý và vườn cao-su ở Cây Số 3. (Xã Đạt Lý cách thị xã 6 Km về hướng Bắc, nằm trên Quốc L 14, đường đi Quận Buôn Hô).

    * 9 giờ 45, người ta nhận được tin Chi Khu Banmêthuột, (cách thị xã khoảng 7 Km) đã liên lạc được với Trung Tá Dậu, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 21 Biệt động Quân. Những tin này được truyền tai nhau khắp các khu phố, và mọi người, ai cũng tin rằng sẽ có đánh lớn, chắc Biệt động quân còn chờ Nhảy Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến đến!

    Suốt đêm ngày 10 tháng 3 năm 1975, người ta nhìn thấy từng đoàn xe Molotova chất đầy hàng hoá, và gạo mà Cộng quân lấy của thành phố chở vào hướng Bandon (phía Tây Thị Xã).


    Thứ Ba, ngày 11 thang 3 năm 1975

    * 6 giờ sáng: dân chúng đã đổ dồ về khu vực các ngã 4 đường Hoàng Diệu - Y Jut và Hoàng Diệu - Nguyễn thái Học, chạy dài cho đến đường Hàm Nghi, tất cả các loại xe, xe Lam 3 bánh, xe nhà, xe vận tải, xe cần câu... chở đầy những người, và đông đảo người đi bộ mang đầy bao, bị, nối đuôi theo xe để chạy ra khỏi thị xã, nhưng xe chỉ lăn bánh được vài chục mét là bị đuổi trở lại, và bộ đội Cộng quân mặc thường phục lẫn trong đám đông đã rút AK 47, K54 thi nhau bắn chỉ thiên từng loạt để uy hiếp và ngăn chặn. Lệnh ban ra "không ai được chạy loạn, ai về nhà nấy".

    Cũng thời gian này, những người chạy xuống khu suối Đốc Học từ chiều hôm qua, 10 tháng 3 năm 1975, vẫn còn chen chúc nhau ở trường Tiểu học Nguyễn Du. Cảnh màn trời, chiếu đất, ngủ đứng, ngủ ngồi lần đầu tiên dân thành phố phải chịu trong suốt mấy mươi năm qua. Tội nghiệp nhất là trẻ em và cụ già, họ vẫn chưa thoát khỏi thị xã bằng ngã phía Nam của thành phố. Vì bộ binh và T54 của Cộng quân đang bủa vây tư dinh Tỉnh trưởng, và 1 cánh quân khác đang hướng về Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 BB.

    * 6 giờ 30 sáng ngày 11 tháng 3 năm 1975 ,tiếng súng lớn nhỏ của Cộng quân nổ vang di nhắm vào tư dinh Tỉnh trưởng, sau 1 đêm tương đối yên tĩnh. Và cùng lúc, Cộng quân tấn công Hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh.

    * 8 giờ sáng ngày 11/3/1975, tư dinh Tỉnh trưởng thất thủ.

    - Có lẽ Đại Tá Tỉnh Trưởng đã tử thương, ai đó đang cất tiếng hỏi đám đông,
    - Từ sáng sớm ngày 10 tháng 3/1975, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh đến tìm Tiểu Khu Trưởng, thì ông ta đã chạy qua Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 rồi !

    * 10 giờ 10, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 BB bị trúng Bom của máy bay A37.

    * 10 giờ 38 phút, Hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 b binh tan vở.

    * 4 giờ chiều ngày 11 tháng 3 năm 1975, Cộng quân dùng xe phóng thanh và đến gỏ cửa từng nhà phát lời kêu gọi Quân nhân, viên chức chính phủ và cảnh sát Quốc gia ra đầu thú.


    Thứ Tư, ngày 12 tháng 3 năm 1975
    Sau khi Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23 BB di tản, dân chúng đã không còn tụ tập nhiều ở các ngã 4 và đường phố như mấy ngày qua. Banmêthuột thực sự đã lọt vào tay Cộng quân, dầu rằng 4 chi khu (4 Quận), Banmêthuột, Lạc Thiện,Phước An và Buôn Hô vẫn còn nguyên vẹn và người ta vẫn biết Liên đoàn 21 Biệt động Quân vẫn còn ngoài vòng đai thị xã, nhưng thực sự người ta đã tuyệt vọng, và người ta đang cầu nguyện và chỉ còn cầu nguyện mà thôi.

    Hôm nay những gia dình chạy khỏi trung tâm thành phố, được trở lại nhìn xem cảnh củ mấy hôm qua, Khu chợ Banmêthuột chỉ còn là 1 bãi tro tàn, những hàng quán chỉ còn chơ vơ mấy cây cột chưa cháy hết. Khu phố Quang Trung, từ ciné Nguyễn Huệ đến Lo Do, từ tiệm kem Chi Cao đến Dân Thiên Đường,Trúc Lâm, Minh Sơn tan hoang đổ nát. Và trên đường Y Jut, đối diện với khu chợ cháy, chạy qua Ama trang Long đến Tôn thất Thuyết, phố xá đều bị đâp phá, cạy cửa, cháy đổ, mặt đường còn nguyên dấu đạn cày và nám cháy, mùi khét vẫn còn xông lên nồng nặc.

    Ở đâu cũng có người thanh toán nhau, cũng có nằm vùng chỉ điểm, cũng sát phạt hận thù.

    * 11 giờ trưa, Cộng quân lại lục soát khu phố ở trường Bồ Đề.

    * 12 giờ, 1 toán khác lại lục soát khu phố Lê văn Duyệt, Hàm Nghi, khu Tịnh thất Cao Đài ở Nguyễn tri Phương, Khu Hàm Nghi, Phạm Phú Quốc, Khu cư xá Lam sơn. Các viên chức, quân nhân, thanh niên bị săn đuổi chạy trốn từ khu phố này đến khu phố khác từ chiều tối hôm 10 tháng 3 đến nay, không lúc nào mà không bị căng thẳng, lo âu.

    Trong những đêm vừa qua cũng có 1 số người chạy thoát khỏi thị xã, nhưng trong một vài nơi tụ tập dân chúng, người ta vẫn còn nhìn ra được mo^.t vài Ty Sở Trưởng và sĩ quan cùng viên chức cảnh sát.


    Thứ Năm, ngày 13 tháng 3 năm 1975
    Tình hình thị xã gần như đã dịu lại, nhưng cái căng thẳng và sự khủng bố vẫn còn quanh quẩn đâu đó. Dân chúng đã từ từ về nhà cũ của mình.

    Tại khu cư xá sĩ quan nằm trên đường Lê Lợi, sau lưng Câu lạc bộ Biên Thùy, chạy dài đến ngả 3 Bà Triệu - Lê Lợi, Cộng quân đã đặt nhiều trạm gác, ụ phòng không, và dọc theo 2 vệ đường, các hố cá nhân đã được đào và ngụy trang, rất nhiều T54 đã đậu rải rác trên suốt con đường này.

    Vũ Trường Biên Thùy hay Câu Lạc Bộ Biên Thùy, nằm trên ngã 3 Lê Lợi - Thống Nhất, đối diện Hội Đồng Tỉnh, nơi hàng đêm vang vọng tiếng hát oanh vàng 1 thời, với bóng dáng bao giai nhân ẩn hiện dưới đèn màu, giờ đây là 1 căn nhà hoang, 4 vách đổ nát, nối tiếp vũ trường là khu cư xá sĩ quan, cửa ngỏ tan tành, tủ, ghế, đồ gia dụng và giấy tờ bay bừa bải ngoài sân... nhìn cảnh tan hoang đó thật không khỏi ngậm ngùi mà thương tiếc thủa vàng son vừa qua, chỉ trong vòng 3 ngày trước. Những hoa khôi vũ trường bây giờ biết lưu lạc ra sao, rồi những khách hào hoa đa tình, những sĩ quan đọc thân, đêm đêm tìm lảng quên hay trút bỏ nỗi niềm qua men rượu hay màu mắt giai nhân để tạm quên hoài bảo 1 đời trong phút chốc, giờ đây đã là dĩ vãng, dĩ vãng qua rồi biết bao giờ trở lại!

    Tại Ngã 6, khu nhà thờ Chính tòa, đường Hùng Vương chạy dài đến Quân Y Viện, đường Tự Do từ Ngâ 6 chạy dài ra Cây số 3, các hố cá nhân và ụ phòng không đã được thiết lập. Khách sạn Anh Đào, khang trang và thanh lịch nhất thành phố, chỉ mới khánh thành chưa tròn tuổi cũng đổ nát một vài nơi. Con đường Phan Chu Trinh từ Ngẫ 6 đến Phan bội Châu, cũng rất nhiều hố cá nhân và súng phòng không. Cuối đường Phan bi Châu, Hám Nghi, Vỏ Tánh, Cộng quân cũng đã thành lập các trạm gác, có T54 yểm trợ. Đặc biệt là cuối đường Hoàng Diệu, ngỏ vào BanDon, những hố cá nhân và ụ phòng không, cùng 1 hệ thống giao thông hào đã đào xong. Cộng quân đã chăng lưới 4 mặt thành phố.

    Những sự việc này báo cho người dân thành phố biết: chiến tranh đang xảy đến, nhưng qủa thật trong lòng mọi người không một không ai lo sợ cuc chiến tranh này.


    Thứ Sáu, ngày 14 táng 3 năm1975
    Hôm nay Cộng quân bắt đầu thiết lập các tổ chức hành chánh tại thành phố này, lấy danh gọi là Ủy ban nhân dân cách mạng, Thị, Tỉnh, Phường, Khu phố và Tổ dân phố, và các chức vụ Chủ tịch Phường, Khu phố và Tổ trưởng tổ dân phố. Phường 2 đặt tại ngã 3 Phan Chu Trinh - Hàm Nghi, Chủ tịch là Trâm, chủ 1 xưởng cưa tại xã Thọ Thành cầu 14, Các chức vụ chủ tịch hay tổ trưởng là các cán bộ Cộng sản nằm vùng, hoạt động trong thành phố, do đó, những viên chức, sĩ quan, quân nhân, cảnh sát đều được những người này nhận diện, đặc biệt là các chức vụ an ninh, như Phó chủ tịch an ninh phường, Tổ phó an ninh tổ dân phố...

    Một Ủy ban Quân quản được thành lập gọi là Ủy Ban Quân quản Thị, do Việt Châu (bí danh) cầm đầu, đặt tai Khách sạn Darlắc của ông bà Lý trần Lý, ở số 9 Hai bà Trưng, là văn phòng Phối Trí Viên Cảnh sát Đặc Biệt củ, đồng thời lấy Trường Trung học Bồ Đề, Hội Đồng Tỉnh làm nơi ra đầu thú cho các viên chức, quân nhân, cảnh sát làm việc cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng nơi tiếp nhận các sĩ quan, viên chức cao cấp lại đặt riêng ở số 9 đường Hai bà Trưng.

    Những người đến trình diện đều được cấp giấy chứng nhận đã đến trình diện và cho phép trở về quê làm an sinh sống, nhưng nếu là viên chức cao cấp, sĩ quan quân đi hay sĩ quan cảnh sát thì lập tức bị bắt giữ và dẫn vào khu vực Bandon.

    Tất cả các trụ sở Ủy ban nhân dân Phường, Khu phố, nơi tiếp nhận người ra đầu thú đều treo cờ Mặt trận giải phóng miền nam.

    * 11 giờ 30 ngày 14 tháng 3 năm 1975: một phi vụ F105 đã oanh tạc vào các điểm treo cờ của Cộng quân, nhưng lại thả lạc vào khu suối Đốc học, rất may là không 1 người dân nào bị thương vong. Đây là lần đầu tiên trong 4 ngày qua, 1 phi vụ không nhắm vào khu vực quân sự, nhưng thực ra, khu quân sự đã không còn nữa, kể từ khi Hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Doàn 23 b binh di tản.

    Kể từ lúc có phi vụ oanh tạc này, tinh thần dân chúng thành phố đã lên rất cao. Người ta không nghĩ đến chết chóc, mà chỉ nghĩ đến chiến thắng. Những tin đồn về lực lượng Nhảy dù đã được đổ xuống khu nhà dòng Thiên An trên quốc lộ 21, Thuỷ Quân Lục Chiến đã mở đường khu Cư-Cúc, trên đường tới Quận Phước An, Liên đoàn 7 Biệt động Quân đã đổ bộ khu vực xã Đạt Lý, được truyền đi khắp thành phố, người ta gặp nhau ngoài đường đều đưa tay chào nhau theo kiểu nhà binh mà không hề úy kỵ.


    Thứ Bảy - Lễ vọng Phục Sinh, 15 tháng 3 năm 1975
    * 10 giờ 25 phút ngày 15 tháng 3 năm 1975, một phi vụ thứ 2 nhằm vào các điểm treo cờ của Cộng quân, phi vụ được coi là chính xác, trái bom thứ nhất đúng vào mục tiêu là văn phòng Xã Lạc Giao, phá huỷ trụ sở xã và cuc Cảnh sát Thị xã, trái thứ 2 rơi sau lưng trụ sở Phường 2, khu xóm đạo, làm tử thương 1 chủ xe be làm cây, ông Nguyễn Ơn, trái thứ 3 rơi đối diện trụ sở này, bên kia đường Phan Chu Trinh, lạc vào quán Café Vui Sống của Ông Bà Trung, làm tử thương 3 ngưi con gái, trong đó có bà Lài, là vợ Trung Úy Kỳ, và trọng thương 2 người khác.

    Sau phi vụ oanh tạc này, Cộng quân đã hạ hết cờ ở các trụ sở và ra lệnh cho toàn thị xã, mỗi nhà phải đào hầm tránh bom trước cửa nhà. Đồng thời, người ta truyền miệng nhau Không Quân đã thả truyền đơn yêu cầu đồng bào di tản khỏi thị xã, 1 số gia đình đã di chuyển ra cây số 5, tạm ẩn trong khu nhà thờ cha Diệu, Xứ Phú Long, và Chùa Dược Sư. Tuy nhiên, ai cũng nhìn được nỗi vui mừng hiện lên khuôn mặt từng người dân thị xã.


    Chủ Nhật Lễ Phục Sinh 16 tháng 3 năm 1975
    Sáng sớm hôm nay, dân thành phố nhìn thấy các đường phố chính đều đầy dẫy những hố tránh bom cá nhân mà Cộng quân đã đào trong đêm qua, đặc biệt là các con đường chạy ra ngoại ô thị xã như cuối đường Phan chu Trinh, cuối Hàm Nghi và Võ Tánh, suốt dọc Đaị lộ Thống nhất và Tự Do, đường Hùng Vương và cuối đường Hoàng Diệu, tại mỗi điểm cuối đường này, đều đặt súng phòng không và T 54 trấn giữ.

    Nỗi lo lắng của người dân thành phố trong lúc này chính là thực phẩm, gạo, mắm, muối. Tất cả những tiệm gạo tư nhân, kể cả kho gạo dự trữ cuả Phủ Thủ Tướng trên đường Tự Do, cạnh F đặc biệt (Sở Cảnh sát Đặc biệt cũ), cũng đã bị Cộng quân chở vào hướng Bandon trong suốt mấy đêm qua. Các nhà thuốc Tây tư nhân, thuốc của Bệnh viện, cũng đã bị công quân lấy hết, bi đát nhất là những gia đình công chức, quân nhân, cảnh sát, trước đây những gia đình này sống nhờ vào đồng lương, nay đã không còn nữa, nhiều gia đình phải ăn cháo, hoặc chạy vào rẫy kiếm một thứ gì đó ăn trừ bữa, thật là thảm hoạ đối với thành phố trong lúc này.


    Thứ Hai, ngày 17 tháng 3 năm 1975
    Hôm nay, mọi nỗi lo lắng của người dân thành phố hầu như đã bị vất bỏ hết, người ta lo lắng đến tuyệt vọng, nhiều người đã khóc ra tiếng vì 2 tin tức họ nhận được sau đây:

    - 2 Trung đoàn bộ binh thộuc Sư doàn 23 được đổ xuống Phước An đã bỏ Banmêthuột về Nha Trang
    - Bộ Tư Lệnh Quân đoàn 2 đã rút khỏi Plei Ku.

    Không ai bảo ai, mỏi ngườ lại tụ họp với nhau để bàn luận.

    - Không thể nào quân đoàn 2 lại di tản, Quân đoàn 2 mất là toàn thể lảnh thổ Quân Khu 2 sẽ thuộc vào tay Cộng quân, mà trước nhất là các tỉnh KonTum, Pleiku, Phú Bổn, Quảng Đức và kế đến là các tỉnh đồng bằng Phú Yên, Bình Định mất nốt. Cộng quân sẽ tiến chiếm Cao nguyên Nam Trung phần: Đà Lạt, Lâm Đồng, uy hiếp miền Đông Nam phần, mà bước đầu là chiếm Long Khánh, để đánh Saìgòn.

    Mặt khác, Nha Trang, Phan Rang khó lòng giữ được, Phan Thiết sẽ mất, như vậy làm sao có thể giữ được Sàigòn. Không có 1 chiến lược, chiến thuật nào lại sơ đẳng kiểu này.

    Đặc biệt là trong khi đó, các đơn vị chủ lực cuả ta chưa hề đụng đầu với Cộng quân, như Trung đòan 44, 45 B Binh, Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân, Lực lượng Tổng Trừ bị, Nhảy Dù và Thuỷ Quân Lục Chiến, Các sư đoàn không Quân, Thiết Giáp chưa hề thương tổn .

    Bỏ Cao Nguyên ??? Không thể nào, Plei ku tuy không phải là 1 thành phố kinh tế hay kỷ nghệ, nhưng so với Banmêthuột, Plei ku rất lớn, và là huyết mạch của Quân đoàn 2. Thành phố này phồn thịnh nhờ những đơn vị Quân Lực đồn trú tại đây: Bộ Tư Lệnh Quân Đòan 2, Tiểu đoàn 69 Pháo binh, Pháo Binh 175 ly, Liên đoàn 6 Truyền Tin, Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân, Liên đoàn 72 Quân Y, Tiểu Đoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị, Sở 2 An Ninh Quân Đội, Tiểu đoàn Quân Cảnh, Quân Nhu, Quân cụ, Quân vận, vân vân ân và vân vân... Thành phố Plei ku, từ khu Diệp Kính cho đến khu chợ Mới, thật là sầm uất. Hai con đường dài nhất có lẽ là đường Hoàng Diệu, chạy dài từ Trà Bá cho đến Tòa Án Mới, xuyên qua nhiều phố xá, khách sạn (Bồng Lai), Trường Trung Tiểu Học (Thánh Phao Lồ, Trung Học công lập Pleiku ..., Con đường thứ 2 là đường Phan Đình Phùng, chạy dài từ Cầu sồ 3 (đường vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2) cho đến nhà thờ Quân đi ở Khu Chợ Mới. Với những Câu Lạc bộ và khách sạn nổi tiếng như Thanh Lịch, Câu Lạc bộ Phượng Hoàng, Café Dinh Điền, Bún Nhà Xác, bên hẻm Dân Y Viện... mà ai nở để rơi vào tay Cộng quân.







    BANMÊTHUỘT THẤT THỦ:

    CÂU CHUYỆN BÊN LỀ

    Banmêthuột thất thủ là việc không ngờ được hay không thể nào, đối với những dân đinh của thị xã này. Về phía Quân, Cán Chính của tỉnh Darlắc, họ cũng không chấp nhận nỗi sự thất bại nhanh chóng của các lực lượng phòng thủ như Tiểu Khu, Hậu cứ Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 23 BB hay Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh. Và vì vậy, người ta vẫn còn hy vọng quân đội sẽ đến giải tỏa, chỉ là nhanh hay chậm mà thôi.

    Tin tức về Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân vẫn còn chiến đấu ở vòng đai mặt Bắc thị Xã, Xã Đạt Lý, và hai Trung Đoàn Bộ Binh 44, 45 của Sư Đoàn 23 đã đổ xuống Quận Phước An.

    Tin đồn 2 Tiểu đoàn Nhảy Dù đã đổ xuống Chi Khu Khanh Dương đang tiến về Chi Khu Phước An . . . Và cho đến lúc nhận được tin Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II di tản về Nha Trang, lúc đó tâm trạng của họ thực sự đã rơi vào cảnh bi thảm đầy tuyệt vọng !

    Riêng tại Thị Xã Banmethuột những sĩ quan Quân Báo, Kỷ thuật vẫn còn hoạt động, nhưng không một ai nhận ra, nếu anh H. không bị bắt tại khu vực Cư Xá Lam-Sơn, đường Hai Bà Trưng và Võ Tánh khi đang cắt đường dây điện thoại của cộng Quân .

    Anh bị tuyên án tử hình, và vợ anh bị xử chung thân trong phiên xử ngày 20 tháng 4, 1975 tại Hội Trường Thăng Long, (Rạp Hát Thăng-Long, khu bến xe củ).

    Những quân nhân của các đơn vị đồn trú tại thị xã Banmêthuột và Chi Khu Đức Lập bị tản lạc còn ẩn núp quanh quẩn trong các khu rẩy Cafe, quanh vòng đai thi-xã, lần lượt trốn ra khỏi Banmêthuôt. Trong số những người may mắn trốn thoát, có những người bất hạnh bị bắt và dẫn bộ bằng đường rừng đến Thanh An, Pleku, qua bao nhiêu đồi núi, đường mòn với đôi chân trần, mà dày, vớ, bị bắt buộc cởi ra đeo trên cổ, đi chân không qua một dãi đường rừng dài hơn 420 km, len lỏi qua các đồi tranh và mật khu của cộng quân, mà mỗi dấu chân đặt lên đường đi, đã in nguyên bàn chân máu. Và mỗi ngày được ăn một bận, là hai miếng lương khô của Trung Quốc, mỗi miếng bằng hai ngón tay.

    Hơn một tháng sau, kế từ 30 tháng 4, 1975, hầu hết những người lính của Vùng II Chiến Thuật đều bị bắt và tập trung đưa đến 3 trại tù lớn nhất của vùng II :

    - Mê-Van, cách thi xã Banmêthuột về hướng Tây Bắc 68 Km .

    - Thanh An, Tỉnh Pleiku,

    - Đồng Bò, Tỉnh Phú Yên .

    Và cũng từ các trại tù nầy, những người lính biết được tường tận về các mặt trận và khả năng hay lòng can đảm của các cấp chỉ huy từng đơn vị, qua lời kể của những nhân chứng sống là huynh đệ chi binh của mình.

    Tại Banmêthuột, Tiểu khu Darlắc, Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tiểu Khu Trưởng, đã không trực tiếp chỉ huy Tiểu Khu từ 6g30 sáng ngày 10/3/1975, Ông qua Hậu Cứ Bộ Tư Lệng Sư Đoàn 23 BB, vì Trung Tâm Hành Quân của Hậu Cứ BTL/SĐ 23 BB kiên cố, và hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB phòng thủ có kỷ thuật hơn (?)!

    Người trực tiếp chỉ huy Tiểu Khu là Trung Tá Vĩnh Hy, Trưởng Phòng 3 Tiểu Khu, vì vậy mà ngay sau khi Trung Tâm Hành Quân của Tiểu Khu bị cộng quân pháo sập, không liên lạc được với các đơn vị bạn và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, Bộ Tham Mưu Tiểu Khu đã bối rối, và tinh thần chiến đấu của đơn vị bị ảnh hưởng nghiêm trọng .

    Người ta cũng đồn rằng, Tướng Phú chỉ Huy Quân Đoàn từ NhaTrang là Bộ Tư Lệnh Quân Khu, mà không có mặt tại thành Pleime, nơi Bộ Tư lệnh Quân Đoàn II đồn trú với các Phòng Ban Tham Mưu, Trung Tâm Hành Quân Quân Đoàn, và bên cạnh là các đơn vị chủ lực như Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân, Tiểu Đoàn 69 Pháo Binh, Pháo Binh 175 . . .

    Có lẽ trong đời chúng ta chưa một ai nếm được nỗi đau đớn và nhục nhã hơn hoàn cảnh của những người lính này, những chiến sĩ chiến đấu cho tự do bị bức tử vì sự phản bội, mà không biết mai sau các thế hệ kế thừa và lịch sử dân tộc Việt sẽ nhận định thế nào.

    Nhưng điều ngạc nhiên làm một số Sĩ quan tham mưu và các sĩ quan tham chiến tại mặt trận Banmethuột suy nghĩ là " Tại sao cho đến ngày 7 tháng 3, 1975, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II và Tướng Phú vẫn tin là cộng quân sẽ đánh pleiku mà không phải là Banmêthuột (? !), và toàn bộ lực lượng cơ hữu của Sư Đoàn 23 BB, Thiết Giáp, (Thiết Đoàn 8), Biệt Động Quân . . . chỉ tập trung bảo vệ Pleiku. Trong khi đó, tin tức tình báo của các đơn vị chuyên môn, của các Biệt đội Kỷ Thuật, Quân Báo, Không Ảnh, tin khai thác tù binh bắt được tại các cuộc hành quân, tin của Hồi Chánh Viên . . . ( đã được trình bày trong phần trước) đều cho biết cộng quân sẽ đánh Banmêthuột.

    Đặc biệt là tin do tù binh, quân hàm Thiếu Úy, thuộc Sư Đoàn 320 chính quy Bắc Việt, bị bắt tại Buôn EA-Súp, (cách thị Xã Banmêthuột 11 Km về hướng Tây, thuộc Xã Cư Ming, BanDon, Quận Banmêthuột, trong khi y đang giăng Dây Điện Thoại, cũng xác nhận các tin đã ghi nhận: "cộng quân sẽ đánh Banmêthuột" !

    Thế nhưng các tin ấy vẫn chưa làm thức tỉnh các cấp chỉ huy thẩm quyền, và tệ hại hơn nữa là khi biết Sư Doàn 320 (Nông Trường 3 Sao Vàng) của cộng quân đã có mặt trên lảnh thổ tỉnh Darlắc, mà vị Tiểu Khu Trưởng, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 BB, vẫn không có biện pháp thích

    đáng, đáp ứng với tình hình khẩn cấp và nghiêm trọng lúc bấy giờ. Đặc biệt là không thuyết phục được cách nhìn của vị Tư Lệnh Quân Đoàn và Bộ Tham Mưu Quân Đoàn .

    - Việc đánh gía sai trận liêt và tình hình địch, đã đưa đến nhận định sai về ý đồ của địch là sai từ căn bản của nguyên tắc chỉ huy và hành quân, nhất định sẽ bị thất bại cho dù ở chiến trường nào hay bất cứ trận đánh nào, cả về chiến thuật lẫn chiến lược !


    Mặt khác, những trận đánh của cộng quân nổ ra trong cùng thời điểm trên khắp lảnh thổ tỉnh Darlắc, Banmêthuột đã chỉ dấu thật rõ ràng ý đồ của cộng quân :

    - Đêm ngày 4 tháng 3 năm 1975, cộng quân đánh chiếm quận Thuận Mẫn, tỉnh Phú Bổn, nằm trên Quốc Lộ 14, giáp ranh quận Buôn Hô, cắt đứt liên lạc của Banmêthuột với Pleiku, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II qua QL. 14 .

    - Đêm ngày 6 tháng 3 năm 1975, cộng quân mở mặt trận Khánh Dương, ở cây số 52, Quốc Lộ 21, giáp ranh Quận Phước An, Banmêthuôt. Cách thị xã Banmêthuột 65 Km, cắt đứt liên lạc giữa Banmêthuột với Nha Trang, tức là cắt đứt huyết mạch của vùng cao nguyên với duyên hải qua cửa ngỏ Khánh Dương, Nha Trang .

    - 4 giờ sáng Chủ Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1975, cộng quân tiến đánh Chi Khu Đức Lập, thuộc tỉnh Quảng Đức, nằm trên Quốc lộ 14, cách thị xã Banmêthuột60 Km về phía Nam .

    9 giờ 30 sáng cùng ngày, Chi Khu Đức Lập thât thủ, liên lạc giữa Banmêthuột với Quảng Đức về Sài Gòn bi cắt đứt. Banmêthuột như cá nằm trong chậu !

    Những người lính, hay đúng ra những tù binh như chúng tôi, hôm nay 21 tháng 4 năm 1975, không hiểu có quyền, hay có nên đặt một câu hỏi " Phải mô tả cách nào hay hình dung ra sao về khả năng của các cấp thẩm quyền có trách nhiệm với chiến trường Banmethuột từ trước và cho đến khi Banmêthuột rơi vào tay cộng quân ? "

    CƠ HỘI NGÀN VÀNG.

    Ngày 1 tháng 3 năm 1975, 9 ngày trước khi cộng quân tấn công Banmêthuột, Thiếu tướng Phạm Văn Phú, ra lệnh cho chuẩn tướng Lê Trung Tường, Tư lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh đưa 2 Trung Đoàn 44 và 45 về phòng thủ Banmêthuột . Cả hai Trung Đoàn được lệnh khẩn cấp di chuyển về Banmêthuột rất vội vàng, nhưng khi đoàn quân xa vừ đến ranh giới tỉnh Phú Bổn, Tướng Phú lại ra lệnh cho hai Trung này quay trở lại Pleiku "cộng quân chỉ làm kế nghi binh giả bộ đánh Banmêthuột"

    Lời tướng Phú,

    Đó là cơ hội lần thứ nhất .

    - Ngày 4 tháng 3 năm 1975, một lần nữa, tướng Phú lại ra lệnh đưa Trung Đoàn 45 BB về phòng thủ Banmêthuột, Trung Đoàn 45 BB lại một lần nữa lên xe về phòng thủ Banmêthuột, nhưng không may, khi đoàn quân xa vừa lăn bánh, lại là lúc cộng quân pháo kích Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn (Thành Pleime) và phi trường Cù Hanh (Pleiku), Tướng Phú được Phòng 3 Quân Đoàn báo cáo, liền từ Nha trang gọi về, ra lệnh cho Trung Đoàn 45 BB ở lại phòng thủ Pleiku .

    Đó là cơ hội lần thứ 2 .

    - 10 giờ 15 sáng ngày 10 tháng 3, 1975, một đơn vị Biệt Động Quân xâm nhập vào thị Xã Banmêthuột, đóng quân ở khuôn viên trường Trung Học Tổng Hợp Banmêthuột, khu vực đường Hùng Vương - va Bà Triệu, rồi tiến vào Trung Tâm Thị Xã ở Ngã 6, để chỉ giải cứu gia đình vợ, con của Tư lệnh Sư Đoàn 23 BB, mà không được lệnh ở lại làm đầu cầu cho Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đang trên đường đến giải vây cho thị xã, hoặc là tham chiến, đánh bọc hậu lực lượng cộng quân đang tấn công tiểu khu từ khu vực vực Ngã 6, Cư Xá Sĩ Quan và Câu Lạc Bộ Biên Thuỳ .

    Bỏ mất cơ hội này, Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đã không còn cơ hội tiến vào Thị Xã Banmêthuột một lần thứ 2 .

    Đại tá Nguyễn Duy Tất, Trung Tá Dậu, hay tướng Tư lệnh Sư Đoàn 23 BB đã ra lệnh cho đơn vị Biệt Động Quân này hộ tống vợ con của tướng Tường, Tư lệnh Sư Đoàn 23 BB ra khỏi thị xã mà không phải là ở lại tham chiến giải nguy cho Tiểu Khu Darlắc ?

    Với kinh nghiệm chiến trường, chúng tôi đoan chắc rằng, nếu đơn vị Biệt Đông Quân này được lệnh tham chiến, đánh giải toả áp lực địch cho Tiểu Khu vào giờ phút đó, thì tình hình đã được đảo ngược lại, và Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đã có thể tiến vào thị xã giải cứu Banmêthuột kịp thời .

    Nhưng không hiểu giới chức nào chịu trách nhiệm về vụ việc này, và bây giờ Banmêthuột mất rồi, qúi vị thẩm quyền nào ra lệnh lúc đó lại đã suy nghĩ gì ?

    Và đó là những cơ hội ngàn vàng mà các cấp chỉ huy lúc bấy giờ đã bỏ mất . Không hiểu vì quan điểm chỉ huy hay hoặc đã vì tình cảm cá nhân mà quên đi sinh mạng của các chiến sĩ đang tham chiến và vận mệnh của tổ quốc !

    - Mặt khác, chúng ta thử điểm lại việc phối trí lực lượng phòng thủ Banmêthuột lúc bấy giờ :

    - An ninh nội vi thị xã và các chốt cửa ngỏ, các trọng điểm và cao óc đều giao cho Lực Lượng Cảnh Sát Quốc gia đảm trách, một lực lượng được xem là đơn vị bán quân sự có hỏa lực rất hạn chế .

    - Phòng thủ Phi trường Trực thăng L.19 là chốt điểm quân sự cực kỳ quan trọng, vì Phi trường L 19 là một dãy vòng đai mặt Bắc thị xã, được giao cho đại đội Thám Sát Tỉnh . Đơn vị này nguyên là lực lương PRU sát nhập vào Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh.

    - Đại đội 224 Địa Phương quân là đơn vị trừ bị được phối trí tại Khu vườn hoang của Bác sĩ Tôn Thất Niệm, sát vòng đai Tiểu Khu, nhưng khi Đại đôi thám sát bị cộng quân tấn công và tràn ngập, Đại đội 224 đã không thể tiếp ứng và cứu viện kịp thời .

    Thêm vào đó, Đại tá Tiểu Khu Trưởng không có mặt tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu là điểm đặc biệt đáng quan tâm, nên khi Trung tâm Hành Quân Tiểu Khu bị cộng quân pháo sập, quyết định tối hậu lúc đó “tử thủ hay rút lui” là quyết định thành bại của chiến trường .

    Người ta cho rằng, Banmêthuôt thất thủ là vì Tư Lệnh Quân Đoàn và Bộ Tham Mưu đã nhận định sai về “điểm” và “diện” và nhầm kế nghi binh của cộng quân .

    Một điền cần ghi nhớ là trong dịp Tết, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến Pleiku ăn Tết, sau khi nghe thuyết trình về tình hình địch tại Vùng II, Tổng Thống đã chỉ thị cho Tướng Phú trả 2 Trung Đoàn 44 và 45 BB về hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB phòng thủ Banmêthuột, lúc đó Tướng Phú đã trả lời là “tuân lệnh”, nhưng rồi đã không chấp hành mệnh lệnh này.

    Tất cả những sự kiện trên đã góp phần tạo nên những điều kiện không thuận lợi cho chiến trường Banmêthuột.

    Và câu chuyện tiếu lâm mà người tù nghe được là Tướng Tường Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB xin không ra mặt trận nữa, Ông xin từ chức Tư Lệnh Sư Đoàn chỉ vì trên đường từ Chi Khu Khánh Dương về Nha Trang, trực thăng của ông bị cộng quân bắn tỉa, vào khoảng 2 giờ chiều ngày 16 tháng 3 năm 1975, ông bị thương nhẹ, nhưng đã vào Quân Y Viện Nha Trang điều trị, và lấy cớ này để xin từ chức với Tư Lệnh Quân Đoàn. Tướng Phú đã tá hỏa tam tinh tìm người thay thế, trong khi mặt trận Banmêthuột còn trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng.

    Trong khoảng thời gian này, tôi lại nhớ đến khoảng đầu thập niên 1970, Sư Đoàn 22 BB gặp khó khăn tại chiến trường Kontum, Đại tá Lý Tòng Bá được lệnh đem Sư Đoàn 23 BB lên giải tỏa Kontum. Ông đã giành chiến thắng trên từng con đường phố, và đẩy cộng quân ra khỏi Kontum, Tình hình Kontum lúc đó còn khó khăn hơn tình hình Banmêthuột hôm nay, nhưng chỉ là may mắn, vì Sư Đoàn 23 BB lúc đó do Đại tá Lý Tòng Bá làm Tư Lệnh .


    NHỮNG CHUYỆN KHÔI HÀI


    Sau khi Cộng quân làm chủ thành phố Banmêthuột, nhiều rất nhiều những chuyện thật khôi hài, nhưng lại rất thật đã xày ra trên thành phố này. Không hiểu sau này, khi con, cháu, em út tôi lớn lên, đọc lại những điều tôi viết ở đây, chúng có tin được hay không, vì bây giờ đã là năm 1975, chỉ còn 25 năm nữa là hết thế kỷ thứ 20, thế giới loài người đang ở vào giai đoạn mà khoa học kỷ thuật đang tiến bộ cực thịnh, con người đã lên tận mặt trăng, và những cán bộ Cộng sản vẫn huyênh hoang vổ ngực "Xã hội chủ nghĩa là ưu việt, là đỉnh cao trí tuệ của loài người, là lương tâm của thời đại". Tôi cũng mong mỏi trong thế hệ trẻ mai sau, những người mà xã hội miền Bắc ưu đãi, có cơ hội, hoặc đã từng được du học, hay sẽ được du học ở các nước Cộng sản khác, nhìn lại xã hội miền Bắc từ 1954 đến 1975, tình trạng sinh hoạt và dân trí của miền Bắc, so sánh với xã hội của các nước mà họ đã, đang được du học, cũng như so sánh với xã hội miền Nam, dầu là với thành phố Banmêthuột nhỏ bé này, đễ thực sự nhìn rõ trình độ, dân trí của xã hội miền Bắc và hiểu rõ cái khốn khổ của những người dân Bắc.


    MẤT TRỘM

    Sau khi Banmêthuột thất thủ, một số dân thành phố chạy thoát khỏi thị xã, bộ đội Cộng sản đã chiếm dụng những căn nhà này cấp cho sĩ quan hoặc cán bộ. Banmêthuột tuy là 1 thành phố nhỏ so với các thành phố khác như Nha Trang, Đà Lạt, hay Đà Nặng . . . nhưng nhà cửa phố xá được xây dựng trong khoảng thập niên 60, với những điều kiện căn bản của lối kiến trúc tân thời như nhà tắm, nhà bếp, phòng khách, phòng ngủ rất tiện nghi và khang trang, mà những người lính hay sĩ quan, cán bộ Bắc Việt chưa có dịp nhìn thấy ở ngoài Bắc.

    Một ngày, có 2 bộ đôi chiếm dụng 1 căn nhà trên đường Hai bà Trưng, ra chợ mua 4 con cá lóc (do bạn hàng từ Quận Lạc Thiện mang ra chợ Banmêthuột bán) đem về nhốt trong hầm cầu (toilet bowl), ngày hôm sau, cá biến mất, 2 bộ đội đã gọi những nhà lân cận ra đòi xử bắn vì tôi ăn trộm cá của lảnh đạo, hàng xóm hết cả hồn vía.

    - Ai đã vào nhà ăn trộm cá, phải thành thật khai để được khoan hồng, nếu ngoan cố, dấu diếm, tất cả đều bị xử bắn.

    Hàng xóm sợ quá đành đứng chịu trận để cho cán bộ thóa mạ, mãi 1 lúc khá lâu, có bác H. đã ngoài 60 tuổi, lấy hết can đảm để hỏi cán bộ:

    - Thưa cán bộ nhốt cá ở đâu mà bị mất trộm?
    - Đây, vào đây tao chỉ cho, cán bộ cách mạng không bao giờ nói láo

    Ông cụ theo cán bộ vào nhà mới hay rằng cán bộ đã nhốt cá trong bồn cầu (Toilet Bowl), Cán bộ lại còn khen, nước trong thùng này mát lắm. Cụ H dở khóc dở cười và đã cố gắng gỉai thích cho cán bộ cái công dụng của bồn cầu.

    Chao ôi, qủa thật là khôi hài.


    ĐÀI ĐỊCH


    Ai đã từng sinh sống tại Banmêthuột, hay có dịp ghé thăm, chắc cũng hiểu rằng phố xá, nhà cửa ở Banmêthuột được xây cất theo lối kiến trúc Âu - Á lẫn lộn, đặc biệt là những căn nhà 2, 3 tầng lầu.

    Là vùng cao nguyên, nên về mùa gío, các tần số gặp rất nhiều nhiễu âm, gây khó khăn cho các máy thu thanh, thu hình, do vậy để nghe đài Phát thanh Sàigon, đài BBC hay đài VOA, đặc biệt là đài Truyền Thanh Truyền hình Nha Trang, người ta phải dùng anten trời nhiều nhánh, dựng trên nóc nhà.

    Những toán Cộng quân khi đi lùng xét, nhìn thấy những căn nhà có anten trời nhiều nhánh, đã gọi về bộ chỉ huy: "báo cáo ở khu này có rất nhiều đài địch" ,và lập tức bắn B40, B41 vào tiêu hủy đài địch. Đau khổ thay cho những đài địch của thành phố chúng tôi.

    Sự việc xảy ra, làm cho người dân thành phố thật hốt hoảng, họ đi tìm hiểu nguyên nhân, mới hay rằng, tại miền Bắc, cho đến năm 1975, mỗi Xã chỉ có được 1 cái "đài" (Radio), đặt tại văn phòng Xã, rồi nối dây loa ra khu xóm gần nhất, và dân chúng chỉ nghe được đài phát thanh Hà nội, là công cụ tuyên truyền của nhà Nước, cho nên chiếm được Banmêthuột rồi, bộ đội mới biết cái gì là máy Radio, máy truyền hình, đồng hồ "2 cửa sổ, không người lái" (đồng hồ có lịch thứ và ngày tự động, không phải lên dây thiều). Có người dân thành phố cắc cớ hỏi, "thưa cán bộ, ở ngoài Bắc có Ti-Vi (TV) không ạ". Cán bộ đã mạnh dạn trả lời "có chứ, Ti vi thiếu gì, ngoài Hà Nội Ti-vi chạy đầy đường".

    Chao ôi, chuyện thật là khôi hài.


    THÂM TÌNH



    Trong thời gian 1 năm đầu, thân nhân của những người tù cải tạo không được phép đi thăm nuôi, và tù cải tạo hoàn toàn mất hết liên lạc với thế giới bên ngoài, họ không thể biết được những gì đã đang xảy ra trên đất nước, cho phố phường hay là cho chính gia đình họ.

    Một năm sau, tù cải tạo được gia đình đến thăm, và thân nhân đã kể cho họ nghe những gì đã đang xãy ra cho gia đình và thân nhân họ. Trong muôn ngàn chuyện nghe được, như là con gái miền nam 2 mông có gân, cái nồi ngồi trên cái cốc,..., tôi muốn viết ra đây câu chuyện thâm tình này.

    Năm 1954, sau Hiệp định Genève 20 tháng 7, gần một triệu người miền Bắc đã chạy trốn Cộng sản vào Nam, gia đình, anh em cũng phân ly từ đó. Những ngưoi vào Nam thì may mắn hơn, có điều kiện học hành để trở thành Luật sư, Bác sĩ, như Luật sư Đ. đã thành danh, thành nghiệp, căn biệt thự của ông tại TMG Sàigòn có vòng tường xây vây quanh, cửa sắt đóng kín tối ngày. Trái lại, chị của ông thì vẫn ở lại miền Bắc, sống trong hoàn cảnh của xã hội này. Miền Nam lọt vào tay Cộng quân, bà chị ông xin phép chính quyền Huyện đi thăm ông và các cháu, nhờ địa chỉ bà cất giữ ở những tấm thiệp liên lạc vào thời gian 1957 - 1958, khi mà chính quyền miền Bắc còn cho phép thân nhân 2 miền viết thiệp thăm hỏi nhau.

    Tìm đến địa chỉ rồi, bà bần thần lo sợ không dám kêu cửa, nhà to qúa như dinh Tổng đốc, bà nghĩ vậy thôi, nhưng thực ra bà cũng chẳng biết dinh Tổng đốc to đến thế nào. Chờ một hồi lâu, rồi bà manh dạn kêu cửa, chẳng ai trả lời, bà đập vào cánh cổng sắt, cũng im hơi lặng tiếng. Bà xuống xe lửa lúc 7 giờ 30 sáng, hỏi thăm đường đi tới đây chờ cho đến giờ này, mệt quá, bà ngồi ngủ thiếp đi trước cổng nhà.

    Vào năm Sài gòn mới mất, dân Sàigòn ai ở nhà nấy, họ không dám ra đường vì sợ công an để ý, theo dõi, vì thế, gia đình ông Đ ngoại trừ ông ra vào thường xuyên, vợ con ông cũng hiếm khi ra khỏi nhà, và bà chị ông gặp phải cái thời không may là vậy.

    Hơn 11 giờ trưa, ông Đ lái chiếc Peugot 505 về nhà, thấy 1 bà nhà quê còn ngủ trước cổng, Ông xuống xe, e ngại nhìn bà và khách sáo hỏi "cụ tìm ai?" - "Tôi tìm nhà em tôi là K.N.Đ, nhưng thưa . . . có lẽ tôi lầm". Luật sư Đ mới rỏ lẻ thì ra chị ruột ông. Ông mời bà chị vào nhà, trước bụng bà là 1 bao vải, sau lưng mang thêm 1 bao tải khác, Luật sư Đ muốn mang hộ chị, nhưng bà không cho. Nhìn thấy căn nhà qúa to, nền nhà lót gạch bông, bà không dám bước và cúi xuống cởi đôi dép bố cao su ra cầm tay, Luật sư Đ nhìn chị thương hại. Chị ông đã 63 tuổi rồi.

    - Chị ngồi chơi, em gọi nhà em và các cháu ra chào chị.
    - Anh để mặc chị.

    Ông vào nhà gọi vợ, con ra, chào bà, bà vẫn đứng khép nép không dám ngồi xuống bộ ghế Cẩm lai láng bóng.

    - Đây là chị ruột của tôi, chị cả, hai con hãy chào cô cả đi.
    - Vâng ạ
    - Chị ạ, đây là cháu Loan thứ 3, cháu 18 tuổi, cháu Trân 15, Em còn 2 cháu trai, 1 đã đi xa,(đi Mỹ), 1 đã từ trần. Ông lấy mấy tấm hình chỉ cho bà 2 người con trai vắng mặt của ông, trong đó, người con trưởng là Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến đã tử trận năm 1972.

    Suốt thời gian ở tại nhà em, bà không bao giờ rời xa cái bao tải bà mang, lúc nào bà cũng ngắm chừng dưới gầm giường. Bà vợ của Luật sư Đ thấy vậy, đã dọn 1 cái tủ trống, giao cho chị chồng chìa khóa tủ, bảo bà hãy cất đồ qúy gía trong bao vào tủ và khóa lại, nhưng bà vẫn không chịu.

    Một buổi sáng, vợ chồng ông Đ dẫn bà đi chợ, coi cảnh tàn tạ của Sàigòn, nhưng bà nói "đẹp như thiên đàng"! Hai người con gái của ông bà Đ ở nhà, nhưng trong lòng 2 chị em Loan, Trân vẫn ấm ức về cái bao tải của cô cả, hai chị em lôi bao tải ra, mở tung các thứ, thì ra trong bao tải chỉ là áo, quần, và chén:

    - 4 cái quần dài, vải nhuộm nâu còn hôi mùi vải.
    - 4 cái áo không còn mới, có cái đã sờn chỉ may.
    - 8 cái chén sành, sờ vào hơi nhám, gói trong áo quần.
    - 2 đôi dép bố cao su còn mới tinh.

    Về đến nhà, bà cả trước hết là coi lại túi vải, trong khi 2 cô con gái kéo bà Đ vô phòng tường thuật cho mẹ nghe gói đồ qúi gía của cô cả. Và đến lúc này, bà chị của Luật sư Đ mới kể rõ sự tình,

    - Tôi nghe người ta bảo, ở miền Nam, dân chúng khổ lắm, cơm ăn không no, áo quần không có, Mỹ, Ngụy bắt làm việc nhiều, mà tiền của làm ra thì bị bọn Mỹ lấy mang về Mỹ hết, cho nên miền Bắc phải thắt lưng buộc bụng, hạt gạo xẻ làm đôi, một nửa nuôi chiến trưòng là bộ đội để họ đi giải phóng cho miền Nam, một nửa thì gởi cho đồng bào miền Nam ruột thịt. Biết bao nhiêu đồng bào miền Nam vì không có ăn đã chết đói, thậm chí chén, bát, áo quần cũng không có đủ dùng. Vì vậy khi được phép vào Nam thăm em, tôi đã bán trộm Hợp Tác Xã 2 con heo, để mua áo quần, chén bát cho em và các cháu. Tôi đâu có ngờ sự thể ra là vậy.

    Nghe xong câu chuyện, cả nhà, chị em, cô cháu ôm nhau mà khóc .

    Em gái ruột của bà Đ lả vợ của Thiếu tá LVM, đi thăm chồng ở tù cải tạo đã kể câu chuyện về bà chị cả của ông Đ.

    Câu chuyện này qủa là trùng hợp với câu chuyện tù binh Cộng sản bị bắt trong mạt trận Hạ Lào, các tù binh kể lại, họ được chính ủy trung đoàn cũng như chính trị viên tiểu đoàn cho biết, xe tăng của Việt Nam Cộng Hòa làm bằng giấy carton, cứ xung phong dùng lưởi lê mà đâm. Thật là khôi hài thay cho thế hệ chúng ta.

    Đảng Cộng sản đã lường gạt dân miền Bắc thế nào, bây giờ vào miền Nam rồi dân miền Bắc đã rõ. Câu chuyện ở xã hi miền Bắc là vậy, nhưng xã hi miền Nam thì sao?

    Tôi cũng muốn nhân đây nói ra 1 chút khôi hài mà những người lính Việt Nam Cộng Hòa như tôi hôm nay (cuối tháng 3/1975) nghĩ về bối cảnh của miền Nam vào những ngày tháng mất Banmêthuột - mất Quân đoàn 2, lảnh thổ đã chôn vùi thân thể, thấm máu, mồ hôi và nước mắt của chúng tôi và đồng đội.


    PHONG TRÀO TỐ THAM NHŨNG

    Do Ông Trần Hữu Thanh chủ xướng


    Trong khoảng thời gian giữa năm 1973 và suốt năm 1974, nghĩa là sau Hiệp định Balê 27/3/1973, và đặc biệt là trước khi Banmêthuột và Quân đoàn 2 rơi vào tay Cộng quân, tại Sài gòn, đã có nhiều tổ chức và phong trào nổi lên phá rối đe dọa nền trật tự trị an xã hội 1 cách nghiêm trọng, trong đó phải kể đến 3 phong trào được thành lập có qui mô và có tổ chức, đó là phong trào tố tham nhũng do Ông Trần Hưũ Thanh, 1 linh mục thuộc nhà dòng Chúa Cưú Thế Sài gòn cầm đầu,

    Phong trào đòi tự do tôn giáo của Ni sư Huynh Liên,

    Phong trào đòi tự do báo chí của 1 số ký gỉa, tổ chức 10 ngày xuống đường đi ăn mày và tuyệt thực, và còn rất nhiều những tuyên bố vung vít làm tổn hại quốc gia, hoặc hoàn toàn bất lợi cho nền Cộng hòa, làm lợi cho Cộng sản của nhiều người tự xưng là yêu nước, như ông Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan, Nguyễn Phương . . .

    phong trào tố tham nhũng, chống tham nhũng, được 1 vài tờ báo tiếp tay, đã tố cáo những viên chức cao cấp của chính phủ, 1 vài sĩ quan cao cấp, và đủ mọi thành phần trong mọi ngạch trật của quốc gia đều bị ông điễm mặt.

    Mục đích của ông là trong sạch hoá xã hội (?), nhưng tiếc thay, xã hôi lại là những con người, không phải là thánh nhân, từ sinh ra thì đã mắc tội tổ tông, như giáo lý ông đã học nằm lòng. Con người vốn là tham, thâm, si, có thất tình lục dục như giáo lý đức Phật đã dạy, cần phải diệt.

    Chủ trương và hậu qủa của việc ông làm là ly tán nhân tâm, hủy diệt lòng tin của quân đội và đồng bào đối với càc vị lảnh đạo quốc gia, làm tan rã tinh thần chiến đãu của những người lính trên chiến trường, ngoài mặt trận, để Cộng sản chiến thắngtrên từng mặt trận, dọn đường cho Cộng sản đánh chiếm miền Nam.

    Đồng bộ với việc ông Trần Hưũ Thanh làm, là 1 số ký gỉa đòi quyền tự do báo chí, tổ chức tuần lễ tuyệt thực và xuống đường đi ăn mày.

    Song song với các hành động trên đây là Ni sư huỳnh Liên xuống đường biểu tình, đòi tự do cho tôn giáo.

    Đám chính trị gia xôi thịt, trí thức nửa mùa, yêu nước hiệu giả này không cần biết, hay không đủ trình độ nhận biết hiện tình đất nước sau Hiệp định Balê ra sao, Quốc gia miền Nam đã bị ép đến đường cùng:

    - Quân phí hết sạch, ngày 14 tháng 4 năm 1974, Tổng Thống từ Mỹ về đã cho biết ngân khoản quân phí 300 triệu được chính phủ Hoa Kỳ hứa viện trợ trước đây, nay đã bị Quốc Hội Mỹ cắt bỏ.


    - Nhiên liệu bị cắt giảm 50 %,


    - Vũ khí cá nhân: cấp số đạn đi hành quân bị hạn chế.


    - Bom đã bị rút hết ngòi nổ, nhiều phi vụ không quân yểm trợ bộ binh chỉ là xăng bột bõ vào thùng phi 200lít.


    - Mặt khác, họ cũng đâu cần biết M16, không thể so sánh với AK47 - Đại bác 155 ly hay 175 ly làm sao chọi với Hõa tiển 122 ly - Thiết vận xa M113 hay M48 càng không thể đối đầu với T54, và đặc biệt là B40, B41 càng ăn đứt M72 chống tăng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trong khi đó, vào cuối thập niên 60, đầu 70, 1 yếu nhân của VNCH đã từng tuyên bố cho ký gỉa trong và ngoài nước: "Khi tiếng súng AK của Cộng quân nổ tràn ngập trên chiến trường miền Nam thì người Mỹ mới bắt đầu viện trợ nhỏ giọt AR 16 cho chúng ta".


    - Mục đích của cái gọi là Hiệp định Balê chỉ là người Mỹ muốn rút chân ra khỏi Miền Nam, chấm dứt chiến tranh, miền Nam buông tay chịu chết.

    Nhưng xót xa thay, những nhà chính trị này, những trí thức này, những kẻ yêu nước này, lại chưa bao giờ có mặt trên chiến trường để hiểu chiến trường là gì. Họ bỏ mặc sinh mạng của miền Nam như ngàn cân treo sợi tóc. Họ mặc xác những người lính phơi thây ngoài trận địa. Họ không cần biết đến những nguy hiểm mà người lính phải đương đầu từng giây từng phút chiến đấu để bảo vệ cho họ ở Sàigòn tha hồ biểu tình. Họ ngang nhiên không cần đếm xỉa tới việc người lính đang dành từng tấc đất của lảnh thổ với Cộng quân ngoài mặt trận. Họ cũng bỏ mặc những dân lành vô ti, những phụ nữ mang thai, những trẻ em và cụ già trong những vùng tranh chấp, chiến tranh.

    Còn 1 số trí gỉa khác của miền Nam, lại bỏ mặc, tiêu dao tự tại, hoặc chủ quan . . . rồi chuyển ra chủ bại. Than ôi, chỉ tội cho người lính, bỏ đi 1 cánh tay, mất đi 1 bàn chân, tặng tổ quốc 1 con mắt, hiến dâng cho trí giã 1 đời người, họ có tội tình gì để phải trả cái nợ oan khiên này cho đám người vô dụng kia chứ ? Họ chỉ nhiệt thành, đem lòng ra đi trả nợ núi sông sao bắt họ trả luôn cái nợ oan nghiệt này. Rồi những dân lành chất phác của 12 tỉnh vùng 2, của Banmêthuột hay toàn vùng cao nguyên, họ đâu có làm ra tội tình nào. Giờ đây có lẽ 1 số các vị dân cử đang mặc áo vest (vestment) và thắt cà-vạt ( Neck tie), ngồi chểm chệ trong căn nhà dân cử, đang đưa tay phản đối sắc lệnh này, đạo luật nọ, hoặc đang đọc những bài diễn thuyết hùng hồn, từ ngữ thì phong phú mà ý nghĩa thì dân lính không tài nào hiểu được. Than ôi, thật là tiếu lâm thay !!!!!!

    Mất Banmêthuột trách nhiệm về ai, mất toàn vùng cao nguyên ai chịu trách nhiệm, mà biết đâu còn mất cả quốc gia. Đúng là đám người lũng đoạn hậu phương dưới bất cứ hình thức nào, phải là to^.i đồ thiên cổ. Nhưng oan trái thay, những kẻ phải gánh lấy cái nợ nghiệp chướng này chỉ có những người lính, lại là lính, vì họ là lính. Nhưng nước là của mọi người, mỗi người đều có bổn phận phải bảo vệ, của 26 triệu dân miền Nam, chứ có phải của 1 triệu 200 ngàn binh lính, và cảnh sát đâu.

    Than ôi thật là những chuyện khôi hài mà dân lính đành chịu !


    Banmêthuột - những gánh sầu

    Tôi nhớ hàng cây - mỗi bước đi,
    Những mùa Thu đến - mỗi chiều về,
    Bằng - Lăng tím đổ trên muôn nẻo
    Che lấp đường đi lẫn lối về.

    Tôi nhớ đàn em mỗi sớm mai
    Tung tăng với những chiếc áo dài
    Đem thơ ngây trải trên muôn phố
    Mang nét tin yêu phủ xuống đời.

    Ai giết của em tuổi ngây thơ
    Trường yêu không giữ nỗi học trò
    Bao nhiêu bè bạn, thầy cô đó
    Chôn kiến thức rồi mới hết lo !

    Tôi nhớ hằng đêm trên phố khuya
    Tiếng người bán phở gánh bên lề
    Khách quen thường đến con hẻm nhỏ
    Ngỏ đường Võ Tánh mỗi lúc khuya.

    Bây giờ gánh phở biết về đâu
    Thương đàn em nhỏ nỗi cơ cầu
    Bao nhiêu hoài bảo đành quên mất !
    Cố gánh cùng nhau những gánh sầu !

    tửdu NGUYỄN ĐỊNH

    (BANMÊTHUỘT NGÀY ĐẦU CHIẾN CUỘC)


    ***
     
  4. tu du

    tu du Người nhà

    ***
    TRẠI TÙ MÊ-VAN


    Mê-Van . . . . . .

    Quảng Nhiêu II, hay đồn điền cao su “Ni-fran”, là khu vực cận Tây cuả Thị Xã Banmêthuột, nằm cách thị Xã khoả ng 78 km, với một dãy rừng già và những cây cổ thụ , mà nếu để ý nhìn chúng ta còn thấy những vết nham nhở là dấu tích của miểng bom. Nơi đây là căn cứ địa của quân cộng sản Bắc Việt núp dưới tên xưng “Mặt trận giải phóng miền Nam”. Bình phong của căn cứ địa là dãy đồn điền cao su của người Pháp, rộng hàng ngàn mẫu, có cả nhừng dãy nhà công nhân, mái ngói, tường xây, cũng như xưởng chế biến, lọc mủ và sân phơi, và tiếp giáp là một dãi rừng càfé dài bát ngát .

    Đường vào Mê-Van là một lối mòn, đất đỏ, lầy lội về mùa mưa, ven theo đồn điền cao su, mà một bên là đồi tranh hay rừng già với nhừng cây cổ thụ, hoặc là xuyên qua khu rừng cao su .

    Mê-Van, nơi mà trước đây rất ít người biết đến, nhưng địa danh này từ đây sẽ là nơi nổi tiếng của Cao Nguyên, sẽ được nhắc tới đầu môi chót lưỡi của bao người, từ cụ già cho đến trẻ em . Vì nơi đây là trại tù, giam giữ tất cả những ai từng có thành tích chống cộng, tư tưởng chống cộng, từ người Nghĩa quân, Nhân dân tự vệ, cho đến những viên chức chính phủ của 4 tỉnh Pleiku, Phú Bổn, Quảng Đức, và Darlắc, Banmêthuôt.

    Trại tù Mê-Van nằm sâu trong căn cứ địa nàỵ

    Lần đầu tiên đặt chân đến khu rừng nầy, tôi đã ngửi thấy mùi xác lá xông lên như khí thiêng của rừng thẳm, ngầm chứa bao bệnh tật, mà tiêu biểu là bệnh sốt rét.

    Ngày tôi được chuyển đến trại này, thì trại đã có khoáng 30 phạm nhân, và trại trưởng của phạm nhân là anh Lê Hồng Hà, cán sự Kiến trúc (?), Trưởng Ty Kiến Thiết tỉnh Darlặc.

    Trại tù là nhừng căn nhà lá, được cất thành hai dãy, Phía ngoài là khu nhà ở và phòng làm việc của Ban Gíam Thị Trại giam. Toàn bộ khu vực này toạ lạc trên một triền đồi thoai thoải, bên cạnh dòng suối nhỏ chúa đầy lá thổi, cỏ úa và nhừng nhánh cây khô muc.

    Cũng gần một tuần lễ, các phạm nhân mới thu dọn xong con suối, làm đường xuống suối và sửa sang nơi ăn ngủ của mình.

    Cách ngăn khu nhà Giám thị và bao quanh trại tù là 2 lớp hàng rào kẽm gai cao nối đôi bằng những cọc sắt 1m50.

    Tuần lễ đầu tiên là tuần lễ tổ chức và khai báo . 420 phạm nhân được xếp loại và phân phối trong 9 căn nhà, trung bình mỗi nhà chứa khoảng 45 người, và mỗi nhà là một đội, có một đội trưởng và một đội phó, một thư ký để ghi biên bản các buổi học tập chính trị của đội, và tất cả đựơc xếp loại và chia ra: đội thợ mộc, đội nhà bếp, đội văn nghệ, ( đội 9 ), đội thợ rèn, tổ chăn nuôi, và còn lại là đội sản xuất lao động . Danh xưng của các phạm nhân được xác định là "PHẠM " trong bản nội quy của Ban giám thị Trại đưa ra .

    Sau khi ổn định nơi ăn ở, pham nhân được học tập nội quy mà trong đó 3 điểm đáng ghi nhớ là:

    1- Phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi mệnh lệnh của cán bộ trại,

    2- Phải thành thật khai báo mọi lỗi lầm của bản thân, của tổ chức mà bản thân tham gia, mọi nợ máu đối với cách mạng và nhân dân,

    3- Phải tích cực tham gia lao động vì lao động là vinh quang.

    Tiếp theo, Phạm nhân được phát mỗi người 4 tờ giấy khổ đôi, 16 trang để khai báo về lý lịch bản thân,

    Về các đơn vị đã phục vụ, đơn vị cuối cùng,

    Trình diện Cách mạnh xin đi học tập hay bị bắt,

    Nơi bị bắt, trường hợp bị bắt,

    Chức vụ, cấp bậc, ngành,

    Nợ máu của bản thân, của đồng đội và cấp chỉ huy,

    Nơi lẫn trốn của đồng đội hay cấp chỉ huy mà bản thân biết

    Cơ cấu tổ chức của đơn vị, hệ thống tổ chức của nguỵ quyền va quân đội nguỵ .

    Sau 2 ngày khai báo, Ban giám thị thu lại các bản tự khai và tố chức học tập kiểm điểm về bản tự khai của "PHẠM"

    Tất cả phạm được tập trung trước sân tù để nghe Việt Châu, cán bộ cao cấp của Ty công An tỉnh nói chuyên.

    Anh ta nói thật nhiều, mà phần mở đầu là nói về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, về thành qủa cách mạng của đảng và quân đội nhân dân anh hùng đã đánh thắng đế quốc thực dân Pháp, đế quốc Phát xít Nhật, đế quốc xâm lược Mỹ,

    Kế tiếp là kiểm điểm các bản tự khai của phạm, anh ta nói :

    " Thành khẩn thế nào được, khi mà tiền của ngân hàng, ngân khố các anh không giao nộp, mà lại chở đi từng xe jeep. Tiền của các ty sở các anh không hề khai báo, những hoạt động điệp vụ, nợ máu các anh không hề khai . . . Thái độ ấy làm sao chúng tôi có thể tin và khoan hồng cho các anh. Các anh phải đào sâu suy nghĩ, thành thật khai báo để học tập tốt, để sớm được đảng và nhân dân khoan hồng . . . "

    " Ngày mai các anh nghĩ lao động để tiếp tục khai báo thành khẩn tội lỗi của bản thân và đồng đội . . . "

    Nhừng bản tự khai bổ túc tiếp tục được gởi lên Ban giám thị. Lân Thiếu Úy Cảnh Sát, đội trưởng của đội tôi, phát thêm cho tôi 2 tờ giấy và bảo tôi khai bổ túc, nhưng tôi đã trả lời Lân là "tôi đã thành thật khai báo mọi điều, không cần bổ túc nữa".

    Đã mấy chiều qua, những lúc vắng vẻ, tôi thường ra ngồi bên góc "cây Keo", ( loại cây có trái như hạt đậu, chứa đầy mủ sền sệt giống như keo, chúng tôi dùng mũ của trái cây này để làm keo dán), nhìn về phía trước mặt, dãy núi cao xanh thẩm chạy dài tận cuối chân trời, ở hướng Ban-đon, về phía Tây thị xã Banmêthuột, nơi tôi đã từng ở, nơi có nhiêu du kích VC lẫn trốn, và là đồn Biên phòng Biệt động Quân . Thời gian đó tôi và Hồng, cứ mỗi đêm trực thường liên lạc với nhau qua PRC 25, và đã trở nên thân th'iết, Ngày tôi rời Ban-Don, anh đã đãi tôi ăn cháo bong bóng cá do em út của anh đánh bắt .

    Đánh cá ở khu vực Ban-Đon thật đơn giản, chỉ cần ném xuống sông một trái lựu đạn, là cá nổi lên mặt nước, cá chưa chết hẳn, và người ta chỉ chọn lấy những con cá vừa tầm, không qúa lớn, vì cá qúa lớn ăn vào sẽ có mùi tanh, và cũng không lấy cá nhỏ, vì cá nhỏ bong bóng không đủ lớn và ăn cũng không ngon. Có những con cá dài tới 1 mét. Sông Ban Đon là một nhánh của sông Serepok chạy tư Cam bốt đổ về nên rất lớn, lớn kiểu dòng sông Bắc Mỹ Thuận ở trong Nam.

    Bây giờ nhìn về nơi đó, tôi nghe một cảm giác xa lạ và rất mơ hồ, như dường tôi chưa hề biết, cũng tương tự như nơi đây, cũng cách ngăn với thế giới quanh tôi, xa xôi như một nơi nào đó ngoài biên giới của quốc gia .

    Một cảm giác khác mà tôi đón nhận trong thời gian nầy là cái dửng dưng và nỗi mơ hồ xa vắng trong tâm hồn tôi, tôi không còn cảm xúc với sự vật và những việc xảy ra quanh tôi hàng ngày . Tôi cũng không hình dung và tưởng tượng ra được những gì sẽ xảy đến. Duy chỉ một điều tôi cảm nhận là nỗi nhớ nhung sâu sắc về gia đình, nhưng tâm hồn lại rất bình thản với cuộc đời tù. Tôi ngỡ như tôi đang sống cho riêng tôi, thật trọn vẹn, ở một nơi nào đó xa lạ không quen thân, nhưng không hề cảm nhận nỗi cô đơn hay hiu qụanh bên mình, Tôi ngạc nhiên khi thấy đời tù không chi phối được tâm trí tôi và tôi bình thản với sinh hoạt thường ngày, dù nhừng sinh hoạt này tôi chưa hề thử trước đây trong đời mình.

    Một ngày chúng tôi được đánh thức thật sớm, sớm hơn thường lệ là 5 giờ 30 sáng, và được báo cho biết là chúng tôi sẽ được hoc tập bài học chính trị đầu tiên thật quan trọng.

    Cả đoàn người vội vàng rời nhà ngủ, tập họp thành đội trước sân tù, điểm danh và theo thứ tự hàng đôi đi vào nhà hội, và cán bộ phụ trách vẫn là Việt Châu và đề tài học tập là:

    NHỮNG ÂM MƯU XÂM LƯỢC VIỆT NAM CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

    Chúng tôi ngồi nghe suốt 4 tiếng đồng hồ mà không hiểu bao nhiêu người nghe và nghe được những gì.

    Chỉ biết phần kết luận là:

    - Tổng số máy bay các loại ta đã bắn hạ là trên 14 ngàn chiếc, kể cả "con ma", "thần sấm", "cánh cụt", "cánh xoè" và B52 Chiến lược .

    - Hơn 100 ngàn lính Mỹ bị tiêu diet.

    - Hàng trăm ngàn xe bọc sắt, xe tăng bị bắn hạ.

    - Kinh tê’ Mỹ bị suy thoái nặng nề.

    - Các từng lớp nhân dân tiến bộ Mỹ phản đối chiến tranh, yêu cầu trả con em họ về Mỹ.

    - Và nhân dân lao động tiến bộ trên toàn thê’ giới đồng tình ủng hộ ta.

    Buổi chiều tất cả "phạm" được nghĩ lao động để thảo luận 3 câu hỏi:

    1- Âm mưu xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ.

    2- Ý đồ thôn tính Việt Nam và việc "Thay màu da trên xác chết" tức là Việt Nam hóa chiến tranh để người Việt đánh người Việt.

    3- Nguyên nhân thất bại của đế quốc Mỹ trong âm mưu xâm lược Việt Nam.

    Bản thảo luận được viết bằng giấy nộp về Ban Giám thị trại giam, đó là đề tài chính trị thứ nhất chúng tôi phải học tập và thảo luân.

    Và rồi tuần lề thứ 2 bắt đầu. Buổi sáng đầu tuần, chúng tôi được tập họp và nhắc lại các yêu cầu của bản Nội Quy 9 điểm, và điểm đáng chú ý là mỗi phạm nhân phải lao động 8 giờ mỗi ngày, từ thứ 2 cho đến hết thứ 7, Chủ nhật được nghỉ.

    Những phạm nhân bị bệnh, phải báo với đội trưởng của mình, phải qua trạm Y tế do cán bộ phụ trách để chẩn định và cho ý iến có được nghì lao động hay không.

    Khẩu phần lương thực của phạm nhân bệnh cũng bị cắt giảm với lý do là dành ưu tiên cho người lao động.

    Thuốc trị bệnh cho phạm nhân là "Xuyên cam liên", loại thuốc đặc chế của xí nghiệp dược Hà nội, trị cho tất cả mọi loại bệnh: sốt rét, nhức mỏi, đau bụng chóng mặt , bao tử . . . và Xuyên Cam Liên đã được Phạm nhân đặt tên là "thánh dược" của Hoa Đà.

    Nhờ những buổi học tập chính trị mà chúng tôi gần gủi nhau hơn, biết được thành phần phạm nhân có mặt trong trại và một số đơn vị mà trước đây chúng tôi có dịp công tác. Và đa số là các Ty, Sở trưởng, các sĩ quan thuộc 4 tiểu khu Pleiku, Phú Bổn , Đarlắc và Quảng Đức, một số Gíao sư Trung học của các tỉnh đó, và đặc biệt là các chỉ huy trưởng và thành viên của Lực lượng Fulro người Thượng ( Viết tắt của " Lực Lượng Gỉai Phóng các Dân Tộc Tự Trị Cao Nguyên").

    Lực lượng này bộc khởi từ thời Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Năm 1965, Lực lương này tấn công Đài Phát Thanh Banmêthuột, và sau đó được chính phủ phủ dụ và đã qui thuận . Năm 1972, họ lại tái hoạt động ở một vài nơi và bây giờ cũng với tên gọi đó, lực lượng Fulro đã thực hiện nhiều hoạt động quấy rối gần như đều khắp ỏ các tỉnh Cao nguyên. Chính quyền cộng sản gọi họ là lực lương phản động.

    Ngoài ra còn một số nhân viên dân chính làm việc cho các cơ quan quân sự và dân sự Hoa Kỳ như USaid, MACV, Phối Trí Viên, RMK, và các nữ nhân viên Phượng Hoàng.

    Từ hôm nay chúng tôi nhìn thấy 4 vòng rào kẽm gai bao quanh trại cao hơn, và ăn, ở, nghỉ ngơi, lao động phải tuân theo Nội Qui trại:

    - 5 giờ 30 sáng thức dậy, tập thể dục, làm vệ sinh cá nhân,

    - 6 giờ 30 tập họp điểm danh đi làm.

    - 16 giờ 30 về trai.

    - 17 giờ ăn cơm chiều,

    - 18 giờ điểm danh vào trại và công an vũ trang khóa trái cửa bên ngoài . (Vệ sinh tiêu tiểu thực hiện ngay trong mỗi trại).

    - 19 giờ 30 mỗi đội tự sinh hoạt, báo cáo công việc hàng ngày cho đội trưởng, (để mỗi sáng đội trưởng lại báo cáo lên trại trưởng và nhận công tác cho đội trong ngày, từ Trại trưởng), kiểm thảo, phê bình cá nhân, hoặc thảo luận chính trị, đề tào do trại giam đưa xuống .

    - 21 giờ tắt đèn đi ngủ.

    - Một tuần lao động 6 ngày, trừ ngày chủ nhật.

    Tệ nạn báo cáo lập công, anten , lấy điểm phát sinh, làm nảy sinh nghi ngờ lẫn nhau giữa các phạm nhân, mà có khi là những người thân thiết nhất cũng không dám tâm tình! và đó chính là chân lý của nhà tù .

    Vì chế độ ăn uổng qúa kham khổ, mà công việc làm rẫy phải dầm mưa dãi nắng mỗi ngày, khu vực sinh hoạt đầy dẫy ô nhiễm, dòng suối đầy lá cây mục, xác chết côn trùng và động vật, nước uống không đủ thời gian nấu nóng. Trong khi đó, không khí nhà tù ngày một thêm đè nặng trong tâm trí phạm nhân, gây ảnh hưởng đến tâm lý mỗi người một cách nghiêm trọng; sự đe dọa của những buổi thẩm cung, không khí khủng bố, và nỗi nhớ nhà ngày một nặng nề nên số phạm nhân nhiễm bệnh ngày một tăng.

    Cơn bệnh thường mở đầu bằng cảm nắng, nhức đầu rồi lên cơn sốt, đau buốt các khớp xương vai và cổ chân, môi bắt đầu thâm, mặt tái xám, người gầy dần, và tay chân lủng bủng như chì, nhưng các trái chân và bắp tay lại mập ra và trương nước của hiện tượng phù thủng.

    Và thuốc trị bệnh vẫn là "xuyên cam liên", một loại đông dược mà dân miền Nam chưa hề nghe tên .

    - Khẩu phần của người lao động là 300gram cho mỗi ngày,

    - Khẩu phần của người bệnh chỉ có 200 gram mỗi ngày, Ban giám thị cho biết lương thực chỉ ưu tiên cho người lao động, mà thực ra, người lao động cũng chỉ 300 gram không hơn được tí nào .

    Số bệnh nhân ngày một tăng vì thời tiết, và nhất là mùa gió ở Cao nguyên, con số lao động giảm sút nghiêm trọng, nên Ban giám thị ra lệnh; " những người khai bệnh chỉ được ăn cháo" và khẩu phần của người lao động tăng lên 500 gram, gồm 200 gram gạo và 300 gram khoai mì .

    Với thời gian lao động 8 tiếng, khẩu phần lương thực đó không đủ, nên phạm nhân phải kiếm thêm thức ăn, bằng cách giữa 2 lần nghĩ giải lao sáng và chiều trong một ngày, tìm thêm lá mì, lá cây có thể ăn, bỏ muối vào nấu với nước làm canh, hoặc là hôm nào may mắn tìm thấy nấm mối, tàng ô, rắn, chuột, cắc kè thì hôm đó qủa là thịnh sọan.

    Trong một năm đầu, chưa được phép thăm nuôi, ăn uống của phạm nhân thật rất cơ cực, có những đêm năm ngủ, tôi chỉ mơ sao cho có được một miếng thịt mỡ, được ăn một miếng đường, và hôm sau khi thức dậy, nhớ lại giấc mơ đêm qua, vẫn còn chảy nước miếng không nuốt kịp .

    Một ngày, đội chúng tôi được ở lại trại để dọn kho lương thực của Ban Giám thị, và chúng tôi đã phải khiêng nhiều bao đường trắng 50 ký, đêm đó về trại không một ai ngủ được, vì hễ năm xuống là nước miếng trào ra, rồi người này hỏi người kia:

    " Anh không ngủ được "?

    " Thèm đường qúa"

    Ngày hôm sau vào dọn kho đường, hai người bạn đã cởi áo field jacket ra treo lên bao đường trên cùng, đâm lủng bao cho đường chảy vào 4 túi áo field jacket đến lúc ra về, khi ngang qua cổng trại, hai người bạn như vô tình vắt áo ngang qua vai đi vào cổng, công an vũ trang không ngờ được nên trót lọt, và tối hôm đó, sau khi công an khóa trái cửa trại của đội chúng tôi rồi, hai người bạn này nhân lúc phê bình kiểm thảo, đã mạnh dạn tự phể việc ăn cắp đường của cán bộ, và cả đội cũng thành khẩn kiểm thảo, phê bình, nhưng cả 46 chúng tôi lần đầu tiên được ăn chè lá mì nấu trong 2 thùng dầu hôi loại 20 lít, món chè ngon nhớ đời của 46 phạm nhân trong đội .


    ***

    Mùa mưa năm 1975, tôi được chuyển từ đội lao động qua tổ lấy khoai mì. Rẫy mì cách trại khoảng 8 cây số, nằm sâu trong rừng tranh, phải lội qua nhiều đồi dốc và 2 con suối với 2 chiếc cầu độc mộc bắc chơ vơ giữa hai đầu ghềnh núi, ẩn thân dưới nhừng cây cổ thụ xum xuê cành lá, nên lối mòn lên và xuống dóc trơn và luôn luôn ẩm ướt dù thời tiết nào . Ớ đầu dốc nhìn xuống, tương tự như một mái nhà sàn của người Thượng, ngưỏi ta quen gọi là dốc dựng đứng, không thể nhìn thấy cuối dốc.

    Lúc xuống dốc, thường thì chúng tồi ngôi lên bao tải đựng mì để tuột xuống, không phải phí sức, nhưng lúc đi lên, mới vất vả, nhất là trên vai còn cỏng một bao mì 50 ký ướt sủng vì lội qua suối.

    Rẫy mì ước độ vài chục mẫu, được trồng lên do du kích địa phương, và rồi, cứ mỗi lần đoàn xâm nhập nào ngang qua, nhổ lên lấy củ xong lại có bổn phận phải trồng cây xuống để rẫy mì không bị bỏ hoang gián đoạn, đủ cung cấp mì cho lực lượng địa phương và các đơn vị hoạt động trong vùng, do vậy, có những củ mì to đến 7 ký, và cũng vì vậy mà mì bị sượng, ăn không ngon như những rẫy mì được trồng theo mùa. Nhưng đối với phạm, chỉ cần no bụng là đủ rồi, không cần đòi hỏi mỹ vị trong hoàn cảnh này.

    Đối với nhiều phạm nhân, lấy mì là một điều hứng thú, vì có thời gian đi kiếm thêm rau cỏ, cán bộ vũ trang bảo vệ thường mệt nhoài vì 4 lần leo lên và tuột xuống 2 con dốc, đã trở nên dễ dãi hơn. Nhưng với tôi quả thật qúa sức mình, khi trên vai cỏng một bao mì 50 ký, ướt sủng nước lại phải leo lên và tuột xuống mấy đồi dóc, nhất là không thể đi trên cây cầu độc mộc bắc chơ vơ như vậy. Hơn nữa, con đường từ Trại tù đến rẫy mì là lối mòn đây cỏ tranh và cây dại, nếu gọi là đường thì đó là do chúng tôi qua lại lâu ngày mà tạo nên.

    Với đôi dày lủng gót từ khi bi bắt cho đến bây giờ, chân tôi đã mang nhiều vết chai đầy theo, làm đau thốn những khi dẫm lên mầm tranh, gốc khô, hay vật cứng.

    Cũng như bao nhiêu đội lao động khác, chúng tôi luôn luôn có công an vũ trang AK, lựu đan, và dao găm "hộ tống" do vậy, dù là đi tiêu, đi tiểu, chúng tôi vẫn phải đưa tay lên xin phép cán bộ, và dù có mệt mỏi tới đâu, chúng tôi vẫn phải cố vì những nòng súng AK luôn luôn chỉa mũi vào đám phạm nhân như rất vô tình .

    Viết đến đây, tôi lại liên tưởng đến ngày đầu tiên vác gạo. Nét mặt của người nữ công an tên Mai cho đến bây giờ vẫn còn hiện rõ trong tâm trí tôi, cô dẫn chúng tôi đi vác gạo . Kho gạo nằm trong khu chế biến mủ cao su của đồn điền "Ni-Fran", xuyên qua khu đồn điền cao su, cách trại tù khoảng 6km:

    " Mỗi người một bâu" ,

    Tiếng Quảng Ngãi, chữ bao thành chữ "bâu", thoạt nghe, chúng tôi đều nghĩ là cô nói dỡn, vì cô còn rất trẻ, khoảng 16, 17 tuổi là cùng, và cả đám chúng tôi nhìn nhau cười mĩm, tức thời, cô chĩa mũi súng lên trời bắn chỉ thiên một băng AK,

    " Tao không tiếc vài viên đạn đâu nhé ", người Quảng tập nói giọng" Bắc kỳ 75" nghe thật sắc và chát chúa không khác gì âm thanh của tiếng súng AK, mặt cô tái đi và đanh lại, trông rất khát máu và ghê sợ, cô lặp lại " mỗi người một bâu, không được gánh, mở bao ra sẽ làm gạo hao hụt " và tất cả chúng tôi đều linh cảm sự việc sẽ rất tồi tệ nếu như chúng tôi không làm theo lệnh của nữ công an này .

    Nhìn những bao gạo sọc xanh 100 ký, nằm theo từng hàng dài trong căn nhà gạch, tôi tự hỏi, nếu có thể vác được, nhưng làm sao bỏ lên vai.

    Tinh thần tù, hay là "tình huynh đệ chi binh" đã khiến những người khoẻ, giúp những người yếu xốc đỡ bao gạo lên vai, người yếu đi trước , ai khoẻ và to con sẽ kèm sát bên, rất vô tình, nhưng lại hữu ý, đoàn tù đã làm việc này một cách tự nhiên mà không ai bảo ai , " hãy đi sát vào các góc cây cao su", không hiểu tiếng nói của phạm nhân nào lại can đảm phát ra trong không khí cô đặc và im lặng thế này, nhưng tức thì đoàn tù đều bước rất chậm và sát vào các hàng cây cao su, để khi đuối sức thì dựa mình vào thân cây cao su .

    "Cứu người, cứu người"

    Tiếng la của nhiều người phát ra ở phía trước làm những người tù đều dừng lại, không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra, thì bổng nghe: "có phạm nhân té xỉu, có phạm nhân té xỉu"

    Nhiều người đổ xô lên phía trước " đứng yên tại chổ không tao bắn " và tức thì tiếng súng AK nổ lên chát chúa.

    Tôi và 5 người nữa ở phía sau, vẫn chưa xốc được bao gạo lên vai, nên nhất thời không rõ chuyện gì, cho đến khi mọi người được lệnh ngồi xuống chờ, mới hay nhiều phạm nhân đã bị té xỉu, và một người là Thiếu Úy Quảng bị gãy xương sống.

    Sau đó, chúng tôi được lệnh về trại mà không còn phải vác gạo nữa, nhưng hình ảnh đó tôi biết vẫn còn in sâu trong tâm trí những phạm nhân nơi đây.

    Mùa mưa Cao nguyên thật nặng nề, mưa kéo dài suốt ngày, và rất nặng hột, như những cơn mưa giông ở bình nguyên, chỉ khác ở chổ là có gió mạnh và mưa suốt ngày, suốt tuần, hay suốt tháng, Và tù vẫn phải lao động, củ mì vẫn phải nhổ.

    Cứ mỗi chiều sau giờ lao đông, đoàn tù xếp hàng chờ ở cổng, dưới trời mưa, để công an vũ trang khám xét trước khi cho vào trại, tôi nhìn họ mà quên mất mình. Một đoàn người lam lủ, quần áo tơi tả, tay áo hoặc ngắn hoặc dài, quần ống cao, ống thấp, vá víu từng sợi dây làm bằng vỏ cây, đầu trần chân đất, nón tơi hoặc có cũng bê bết nát tan, lầm lủi đi dưới cơn mưa, vai vác cuốc, tay ôm vài cây củi, hoặc một nắm lá rừng để làm rau ăn thêm. Nước mưa chảy đầy trên mặt, mà những người nào có nón, nón không lành lặn đủ để che hết những giọt mưa, nên những dòng nước mưa theo lổ rách đã cố tình chảy xuống khuôn mặt bám đầy bụi đất, làm loang lổ thành những vết dơ đầy trên mặt, cho tôi hình dung ra những bức vẽ phác họa, như thoạt đầu người ta pha sơn để thử màu đã phết lên trên tranh, và cũng thật rất giống tấm hình "chịu nạn " hay là hình ảnh của bộ phim Ben Hur một thời đã được chiếu tại Sài Gòn vào nhưng năm 60 .

    Đôi khi tôi tự hỏi bản thân " tại sao chúng tôi còn sống được, còn làm việc được “(?)

    Có phải mọi người cũng như tôi, đêm đêm quen gởi hồn vào mộng, ngày làm thì đưa tâm trí vào những kỷ niệm đã qua, rồi vẽ nên từng mộng ước, mà có khi lệnh ngưng lao đông cũng không nghe thấy, để được khen là "lao động tốt"

    Có những khi tôi lại nhớ đến giờ Việt sử học ở thủa nào: "Quân Pháp tấn công đồn Măng -cá, Quân nam triều dùng đá và cung tên, tại sao chúng ta không có súng, và ước chi vào thời đó Nam triều có được một khẩu đại liên thì làm gì Măng- cá thất thủ, và làm gì tổng đốc Hoàng Diệu lại phải tuẫn tiết ở Bắc Kỳ.

    Ngày lại ngày, tôi quên cuộc sống tù bằng mộng, tôi là cái máy, hay mọi người đều là cái máy, quên hẳn bản thân và quên được cả đời thực hàng ngày, để đến nỗi mỗi bữa ăn chỉ có 150 gram, mà cơm được đếm từng hột dính trên những khúc khoai mì sượng nấu hoài không chín, nhưng vẫn cảm thấy là đủ, dù vốn thực không hề no.

    Mùa gặt bắt đầu vào tháng 10, những rẫy lúa thật tốt, bông vàng trĩu xuống vì thân cây không kham nỗi những hạt nặng trên bông, Ngô, khoai, đậu cũng đều trúng muà.

    Ban gia’m thị sau khi thâu hoạch, lại tổ chức sinh hoạt kiểm điểm sa’u tha’ng đầu năm, và ăn mừng. Khẩu phần ăn của người lao động được tăng thêm 200 gram chất độn, hoặc bắp, hoặc khoai mì.

    Và cũng từ đây, bắt đầu cho phép thăm nuôi vào ngày chủ nhật mỗi tháng.

    Hai căn nhà tranh được cất lên ngoài khu trại giam dùng làm nơi tiếp thân nhân, những thân nhân ở xa tới, có thể nghĩ lại qua đêm, vã chăng đường từ thành phố tới trại giam không có xe đò, chỉ là xe Honda 2 bánh của tư nhân, hoặc là xe ôm chỉ chạy theo nhu cầu thăm nuôi, đến trại xong lại phải quay về thành phố mới kịp trong ngày, và vì vậy thân nhân thường phải ở qua đêm.

    Phạm nhân được phép tiếp xúc với thân nhân 15 phút,

    - Được phép nhận tối đa 5 ký gạo,

    - 3 ký thức ăn mặn, gồm: đường, nước mắm, thuốc lào, thuốc bệnh, thịt, cá nấu chín) . . . tất cả đều phải trình cán bộ tại nơi thăm nuôi kiểm tra và cho phép mới được nhận.

    Và cũng từ đây, phạm nhân chờ thăm nuôi để nghe biết nhiều tin tức từ thế giới bên ngoài .

    Những tin tức nổi dậy của Lực lượng Fulrô ở các tỉnh Phú bổn, hay Quảng đức, Lực lượng Fulrô có mặt khắp các Buôn làng, hoặc là hễ đi làm rẫy là gặp Fulrô . . .

    Và dần dần, chúng tôi nghe được những tổ chức chống cộng đã nổi dậy khắp nơi, và một số nơi đã bị bắt. Banmêthuột có Đảng Tự Do, do thành phần Học sinh, Sinh viên cầm đầu, và tin nầy được phối kiểm vào ngay ngày thứ hai tuần kế tiếp, với sự hiện diện của 14 thanh niên, tuổi từ 18 đến 25 được đưa vào trại B, cách trại A của chúng tôi ở bên kia con suối, trong đó có những người bị kết án 20 năm tù.

    Những tin đồn về tướng Ngô Quang Trưởng lập Bộ Tư Lệnh ở Cao Nguyên Boloven (?), Nhiều đơn vị QLVNCH đã lập những mật khu để tái tấn công, những chuyến xe đò đi ngang qua rừng lá đã gặp được các đơn vị nhảy dù, và hành khách vừa khóc vừa cho tiền, Vùng 3 và vùng 4 Chiến Thuật đã rút vào các căn cứ địa mà không hề ra trình diên cộng quân . . . đặc biệt là Hải Quân còn nguyên vẹn, các sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến không hề bị thương tổn . . .

    Những câu chuyện tương tự được rỉ tai từ người này đến người khác, và rồi phạm nhân trông chờ ngày chủ nhật không những để gặp thân nhân mà còn để gom góp tin tức nuôi chờ hy vọng, dù hy vọng quá mỏng manh.

    Sau giờ cơm buổi chiều, chúng tôi thường có 15 đến 30 phút dạo chơi trong sân tù, để chờ vào trại, thời khắc đó qúi giá nhất, vì người ta có thể tâm tình với những ngườì bạn đồng tâm, trao đổi cho nhau những suy nghĩ và đặc biệt với tôi, là đánh giá những tin tức nghe được. Mấy người bạn thân thiết của tôi lúc đó là các ông Lê Xuân Hông, Đỗ Minh Giảng, và Trưởng Phòng An Ninh Tiểu Khu, Nguyễn Đình Long, chúng tôi đều có chung một ý nghĩ :

    " Miền Nam chỉ là con tốt của một bàn cờ, và Hà nội chỉ là công cụ của chủ nghĩa cộng sản . Dân tộc Việt Nam thật khó quyết định được vận mệnh của mình". Và vì vậy mà những tin tức chúng tôi nghe được không làm chúng tôi vui mừng và không hy vọng.

    ĐÊM CHO TÔI CẢM XÚC.

    Một buổi chiều sau giờ cơm, tôi một mình vòng qua tổ anh nuôi, thấy vài ngườì tù cũng đang vịn hàng rào kẽm gai nhìn về phía sau của khu nhà Giám thị, tôi cũng lân la đến nhìn những con heo nuôi thả rong của công an võ trang đang dành nhau những mảnh cơm cháy đổ ra gần hàng rào trại, chúng húc nhau, cắn nhau dành ăn, và ủi một miếng cơm cháy văng vào trong hàng rào trại tù, một người tù ở cùng đội với tôi, nhưng anh nằm ở cuối dãy đối diện, gần phòng tiêu tiểu, anh không để ý đến sự có mặt của tôi và mấy người nữa đang đứng cách xa anh vài ba thước, đã vội vàng cúi xuống nhặt lấy miếng cơm cháy dấu vội vào túi áo, thấy vậy, tôi và mấy người khác lảng đi . Đêm lại, khi mọi người đã ngủ, tôi trở mình và trong cái vắng vẻ vô cùng của đêm, tôi nghe rõ tiếng nhai cơm cháy của ngườì bạn nằm gần khu tiểu tiện , miệng tôi chảy nước miếng, và lòng tôi se lại, bổng dưng nước mắt tôi chảy ra, tôi thao thức suốt đêm không cách nào ngủ lại.

    Quả thật cuộc sống của chúng tôi không bằng những con heo trong lúc này, chúng tôi chỉ ăn cơm độn khoai, mà cơm thực ra chỉ vỏn vẹn mươi lăm hột dính vào củ mì. Có những bận tôi từng ước sau khi được tha về, việc đầu tiên là tôi sẽ bảo nhà tôi cho tôi ăn một bữa cũ mì thật no, củ mì không bị sượng!

    Có phải cơn đói sẽ rửa sạch cái tôi của con người hay không tôi không biết, nhưng trong lúc đói, tôi biết con người thật rất dễ bị cám dỗ bởi cái ăn.

    Câu chuyện này cứ ám ảnh tôi mãi, và mỗi đêm khi mọi ngườì ngủ hết, tôi một mình thức giấc lại thương người bạn tù cùng đội của mình. Thật là khốn khổ thay cho chúng.

    CĂN NHÀ BIỆT LẬP.

    Một buổi sáng chủ nhật, chúng tôi thức dậy, nhìn ra phía sau trại giam, nơi làm việc của Tổ Rèn, bổng nhìn thấy một căn nhà tôn, mái tôn, vách tôn che kín cất lên trong đêm. Căn nhà được bao quanh bằng hàng rào kẽm gai cao qúa mái và còn được che thêm một lớp tôn cao ngang tầm hàng rào, nên những người ngoài không thể biết những gì ở bên trong.

    Hai ngày sau, chúng tôi được biết căn nhà đó hiện giam giữ những vị Tuyên Úy của Quân đội, gồm các Đại đức, Thương toạ, Linh mục, và Mục sư.

    Họ không tham gia các sinh hoạt như chúng tôi, Không lao động và học tập chính trị, không ăn chung và cũng không tắm giặt trên cùng một con suối với chúng tôi, họ bị biệt giam thực sự, một nhà tù trong nhà tù,

    Thức ăn và nước uống của họ do cán bộ quản giáo phụ trách mang tới, họ bị cách ly hoàn toàn.

    Nhiều buổi chiều sau giờ cơm, chúng tôi có 30 phút nhàn du trong sân tù, và thường hay dạo quanh căn nhà tôn biệt lập, để mong được biết những ngườì bị giam trong đó là ai, nhưng ngoài tấm bảng "Cấm đến gần nếu không có lệnh", chúng vẫn không biết được gì !

    Cuộc sống của những vị tuyên úy với chúng tôi thật gần trong gang tấc nhưng lại xa vời vợi.

    Một đôi khi qúa mỏi mệt vì lao động, tôi lại ước được như họ, được nghĩ ngơi và yên tĩnh tâm hồn, để không phải nghe những bài bọc chính trị kèm theo những câu "phải chấp hành tốt nội qui trại, phải thành khẩn khai báo tội lỗi bản thân và đồng đội, phải học tập tốt, lao động tốt để được khoan hồng "

    Tôi muốn rằng, những phút yên tĩnh thực sư của cuộc sống tù tội nầy, cho tôi cái êm ái thực sự hơn là những mệt mỏi của bao ngày gánh mì, của từng bước chân, bước đi để té xuống trên hai con dốc và chiếc cầu độc mộc bắc chơ vơ trên ghềnh dốc của con suối tôi đi.

    Sự bí mật của căn nhà biệt lập ấy kéo dài cho đến 4 tháng sau, vì nhu cầu, tôn được dở ra để lợp kho, chúng tôi mới nhìn rõ những khuôn mặt quen thuộc trong căn nhà ấy.

    Buổi chiều hôm đó, cũng sau giờ cơm, tôi và ông Lê xuân Hồng bảo nhau đi tìm người quen, hai chúng tôi bước thật chậm quanh hàng rào, và một đôi lúc cố nói hoặc ho thật lớn để mong những người trong căn nhà ấy bước ra, nhưng không có kết qủa .

    Đến hôm sau, tôi và ông Đỗ Minh Giảng, cũng dạo quanh dãy rào kẽm gai như thường lệ, và hai chúng tôi vừa ngỡ ngàng lẫn mừng rỡ vì nhìn được những vị Tuyên Úy bên trong :

    - Hai vị đại đức, trong đó có một vị ở chùa Khải đoan, tôi quen mặt nhưng không biết tên,

    - Linh mục Đỗ văn Tháp, cha xứ Thọ Thành, Linh mục Võ quốc Ngữ, gíao xứ Vinh Quang, Hà Lan B, Cha Nam Huân, Cha Trương Trọng Tài, Giám đốc Trung Tâm Xã hội, một trung tâm vừa mới được thành lập vài ba năm nay để chăm lo cho các trẻ mồ côi và khuyết tật ở cuối đường Hoàng Diệu; Cha Nguyễn chánh Trực, giám đốc Tiểu chủng Viện Lê bảo Tịnh, địa phận Banmêthuôt.

    - Một mục sư chúng tôi không biết tê .

    Họ ra dấu chào chúng tôi và đưa tay làm hiệu để hỏi " đã mấy tháng rồi" . Đó là khoảng giữa tháng 12, năm 1975 .

    Và từ đó, cứ mỗi buổi chiều, chúng tôi vẫn thăm nhau qua từng ấy cử chỉ . Một lần, Linh mục Trương Trọng Tài vất ra cho tôi nửa bánh thuốc lào, kèm theo một câu hỏi " có khoẻ không ", cho đến một hôm, tôi lâm bệnh, cơn bệnh bắt đầu là sốt cao, và đau nhức các khớp xương bã vai, khớp xương ống chân, cơn sốt kéo dài liên tục suốt đêm, tội nghiệp bác Điền, Ty Chiêu Hồi Quảng Đức là đội Trưởng, đã săn sóc tôi suốt đêm. Sau giờ cơm chiều, hai người bạn già tìm đến tôi, thấy tôi vẫn trùm mềm, ông Hồng mới chạy về đội đem đến cho 6 viên Asperin, Asperin bây giờ còn quý hơn vàng, tôi liền uống 2 viên và rồi từ từ đau nhức thuyên giảm .

    Tôi khai bệnh nằm nhà hơn một tuần, sức khoẻ giảm sút rõ rệt, bước chân đi không còn vững, nhưng cứ chiều đến, sau giờ cơm, những người bạn già của tôi lại đến dìu tôi đi bách bộ dọc theo hàng rào kẽm gai của căn nhà biệt lập như để thông báo với những người trong căn nhà đó . Cha Đỗ văn Tháp nhìn thấy và báo cho những người khác, ngài ném ra cho tôi 5 viên đường thẻ, cha Võ quốc Ngữ nhìn tôi và chấp 2 bàn tay lại, cha Nguyễn chánh Trực đưa tay làm dấu, như ngụ ý là "ta cầu nguyện cho con "

    Cuộc sinh hoạt của trại tù và đời sống phạm nhân vẫn cứ thế, người ta chỉ thấy trại tiếp nhận thêm mà hoạ hiểm lắm mới thấy có người được phóng thích vào những dịp như 2 tháng 9, 1 tháng 5, và những người được tha, là những nhân viên hành chánh của các ty sở, hoặc một vài Hạ Sĩ quan.

    Về phần tôi, tôi nghĩ rằng định mệnh đã an bài, để một đôi khi nghĩ đến, tôi vẫn thường hát khẻ câu hát của một bài hát nào đó mà bổng dưng tôi quên mất : " . . . ngày về xa lắc xa lơ . . . "

    Tuần lễ thứ 2, kể từ khi trại cho phép thăm nuôi, thì Thầy mẹ tôi đến thăm tôi, khi người phạm nhân trực trại đến tìm tôi và báo cho tôi có ông bà cụ đến thăm, tôi bất ngờ đến sửng sốt . Thầy tôi năm nay đã ngoài 65, mẹ tôi cũng đã ngoài sáu chục, dù sức khoẻ còn tráng kiện, nhưng cơn mưa chiều kéo dài suốt đêm qua đã làm lầy lội thêm con đường đất đỏ từ Quảng Nhiêu đến trại giam, đường chỉ là những hố bùn làm sao thầy mẹ tôi có thể đi được . Tôi nghĩ thế và lòng tôi se lại. Tôi lau vội mặt, cố che dấu nét xanh xao trên khuôn mặt bệnh hoạn, đi đến khu tiếp tân để gặp thầy mẹ, lòng mang một cam giác xôn xao như thủa nào thầy mẹ tôi cũng từng đến Quân Trường Thủ Đức thăm tôi .

    Đã 8 năm hơn, vào một chiều thứ 6, khi Đại đôi tôi vừa học xong lớp chiến thuật, tôi được người thượng sĩ già của đại đôi báo cho biết có thân nhân đến thăm, tôi xin phép chạy ra phòng tiếp tân, gặp thầy mẹ và tuần đó, tôi được phép cuối tuần từ chiều thứ 6, mà lẽ ra là phải đợi đến sáng thứ 7.

    Cũng như ngày đó, hôm nay thấy tôi, mẹ tôi vẫn ôm lấy tôi mà khóc. Người công an trực trại mặt vẫn lạnh như tiền đến bên thầy tôi và ra lệnh " không được khóc, con bà có tội với nhân dân nên phải đến đây học tập, như thế là đảng và nhân dân đã khoan hồng lắm rồi", mẹ tôi buông tôi ra va nói "con xanh lắm, con có bị bệnh gì không"?

    Tôi trả lời mẹ rằng tôi vẫn khỏe, chỉ vì mới cảm từ hồi hôm mà thôi.

    Chúng tôi nói với nhau những tin tức gia đình, anh cả tôi vẫn mất tích, anh hai tôi đang ở trại số 6, rồi thầy tôi nói nhỏ bên tai tôi, "con có quà của các chú và các bác, tất cả là 50 đồng" tôi trả lời đủ để thầy nghe " con không được phép giữ tiền, thầy đừng đưa ra", tôi hiểu 50 đồng rất lớn đối với thời bấy giờ, nên không nỡ lấy, vã chăng tôi cũng chẳng cần đến số bạc ấy làm gì .

    Mẹ tôi mở giỏ xách trình cán bộ những món mẹ mang cho tôi, gồm 4 lon guigot thịt kho, cá kho, ruốc và thịt trộn sả, đường, thuốc lào, 5 ký gạo, thuốc asperin, thuốc đau bụng, một lít rượu ngâm thuốc bắc . Công an vũ trang nhìn tất cả các món rồi cầm chai rượu thuốc lên và hỏi:

    " Bà mang rượu vào đây "(?)

    " Thưa cán bộ đó là thuốc phong cho con tôi"

    Nhìn thầy mẹ tôi trong lúc này quả thật tôi không cầm nỗi cảm xúc, giọng nói của tôi cũng lạc đi và ngẹn ngào khi trả lời thầy mẹ tôi trong một vài lần.

    Thầy mẹ tôi ở lại với tôi chừng 20 phút rồi phải theo chuyến xe ra về. Nhìn theo bóng thầy mẹ tôi khuất dần trong xa, tôi quay bước trở lại trại giam, mà lòng đầy xúc động.

    Tôi liên tưởng tới thủa nào, thủa nào chỉ vừa mới qua đi đâu đây hay lúc nãy, khi tôi vừa tiễn bước thầy mẹ lên xe, thủa mà gia đình tôi còn xum vầy.

    Là con thứ ba, tôi có 2 em còn nhỏ, đang theo học Trung học , hai người anh lớn đều phục vụ ở những đơn vị xa, nên tôi phải xin về gần thầy mẹ, và rồi cứ mỗi chủ nhật, tôi về thăm thầy mẹ tôi một lần, những lần về với thầy mẹ tôi, câu đầu tiên tôi nghe mẹ nói vẫn là "mẹ chờ con từ sáng tới giờ" và rồi cứ mỗi lúc ra đi, thầy mẹ tôi lại tới vịn vào cửa xe mà tiễn biệt .

    Ngày tôi trình diện nhập ngũ theo lệnh tổng động viên, thầy tôi tiễn tôi đi, đứng bên cầu thang dây của chiếc C123 Quân sự, thầy ôm tôi mà nói "bây giờ con không còn là con của thầy mẹ nữa, mà là của quân đội, con hãy nhớ giữ gìn lời ăn tiếng nói , nhất là với bạn bè, vì thầy mẹ không còn săn sóc được con nữa", câu nói ấy của thầy tôi vang vọng trong tôi từ suốt cuộc đời quân ngũ, những lúc mệt mỏi ở quân trường, hay là giây phút hiểm nguy ngoài chiến trận.

    Tiếc thay, cho đến hôm nay, tôi vẫn chưa làm sao làm tròn bổn phận của một người con, tôi vẫn là nỗi lo lắng của thầy mẹ, có có chăng chỉ là cái hảo huyền thầy mẹ tôi hãnh diện về việc học hành của tôi, với 2 văn bằng Cử nhân của hai trường Đại học Khoa học và Luật Khoa, khiến cho mẹ tôi lúc nào nói về các con, mẹ vẫn tự hào với các chú, các bác. Có những lần về thăm thầy mẹ, cô em gái tôi thường tâm sự là thầy tôi rất vui vẻ khi nói về tôi, hai anh lớn của tôi, tuy giữ những chức vị cao, nhưng chỉ tốt nghiệp một trường đại học, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh . Thầy thường nhắc nhở hai em tôi phải học cho giỏi như tôi, rằng thầy mẹ nghèo chỉ vì lo cho các con ăn học mới nghèo, nên chẳng sợ ai khi dễ cái nghèo của thầy mẹ.

    Trong bối cảnh hôm nay, khi nghĩ về thầy mẹ tôi, tôi lại cố nhớ đến lời tâm sự của cô em gái để tự an ủi chính bản thân mình, như rằng tôi cũng đã làm được một chút gì cho thầy mẹ.

    Hình ảnh nhừng ngày thăm nuôi của thầy mẹ tôi ám ảnh tôi mãi, có lẽ còn đến hết kiếp người, trong bao giấc ngủ, những phút lao cực hàng ngày, khi nghĩ về gia đình, hình ảnh thầy mẹ tôi lại hiện ra trong trí tôi, đôi bóng dáng còm cỏi, lưng còng, tóc bạc với vai mang tay xách, bước đi tất tưởi như mang bao tủi cực của phận làm người mà lại đã sinh ra những đứa con xấu số, để đến tuổi già, vẫn chưa trả hết nợ nuôi con .

    Thấm thoát thế mà thời gian trôi qua cũng đã hai năm, hai năm rồi chúng tôi làm những người tù khổ sai không có án, mà hạn khổ sai là " KHI NÀO HỌC TẬP TỐT SẼ ĐƯỢC KHOAN HỒNG ". Tất cả quanh tôi không có gì đổi mới, và thời gian cũng vô tình như không cần biết đến bao tủi cực trong lòng người, bao đổi thay của những kiếp người, nhẫn nhục chịu đựng hay kiêu hảnh.

    Hôm nay, ngày 30 tháng 4, 1977, chúng tôi được nghĩ lao động để ăn mừng ngày chiến bại của bản thân mình.

    Viết thế này tôi lại nhớ đến Thanh An, đi lao động chung với công nhân làm đồn điền, một bà cụ ngoài 50, đem đến cho tôi 2 củ khoai lang và nói, "con ăn đi, tại các con đánh giặc dở qúa để bây giờ bác và các con đều khổ" Tôi nghe bác nói, một cảm giác gai óc chạy dài theo xương sống, lòng tôi se lại, một nỗi xót xa vô hình nhức buốt như xát muối. Tôi muốn nói với bác "không phải chúng con dở đâu, chỉ tại nước ta nghèo, quân đội mình không đủ vũ khí và phương tiện chiến đấu, còn kẻ thù của chúng con được cả một khối cộng sản thế giới yểm trợ và viện trợ". Nhưng dầu sao, tôi vẫn cảm nhận nguồn an ủi của tấm chân tình mà dân miền Nam vẫn còn rất thương mến chúng tôi.

    Ngày 30 tháng 4 là ngày đại lễ của kẻ chiến thắng, nhưng là vết nhục đau hơn những nhát chém của Quân lực VNCH, vết nhục ngàn đời chưa chắc gột rửa hết.

    Trong những ngày này, Trại tù được lệnh tổ chức văn nghệ, thi đua giữa hai trại A và Trại B.

    Trại B cách chúng tôi một con suối, nơi giam giữ thành phần tệ nạn xã hội, như trộm cắp, du đảng, mãi dâm . . . à Đảng Tự Do bị bắt.

    Những ngày lễ, khẩu phần của phạm nhân cũng được thay đổi, mỗi phạm nhân được ăn thêm 100 gram thịt bò hoặc heo và cơm trắng không độn khoai mì.

    Thường thì chúng tôi dành nửa ngày nghĩ để lo giặt dũ áo quần, chăn gối, và thời gian còn lại sẽ tham dự các sinh hoạt văn nghệ theo lệnh của trại giam.

    Thực ra, có lẽ không mấy ai vui thích với chương trình này, nhìn trên khuôn mặt những người tham dự, người ta đều đóan biết tâm trạng của họ. Vâng vui thế nào được khi mà tận cùng trong tâm hồn họ đều còn mang năng mối tâm tư:

    "Bó tay về với triều đình,"

    "Hàng thần lơ láo phận mình sao đây"

    ***

    Cái tâm trạng ấy cụ Nguyễn Du một thời đã viết, nhưng hoàn cảnh của cụ thật không cay đắng như những người tù đang ngồi đây. Và trên từng khuôn mặt của mỗi phạm nhân vẫn còn hiện rõ nét bẽ bàng không che dấu nỗi, cho nên, cũng như cụ Nguyễn Du :

    "Vui là vui gượng kẻo mà . . ."

    "Ai tri âm đó mặn mà với ai "

    Nào ai có thể đọc thấu tâm tư của chúng tôi, hay hoặc giả có ai đó biết được, thì cũng chỉ là cái võ đoán mơ hồ khi nhìn những khuôn mặt giã ngây của những người tù sống gượng, mà như bao nỗi kinh hoàng vẫn còn in đậm trên từng khuôn mặt mỗi người . Quả thật nét bàng hoàng đó, dầu đã hơn 2 năm trôi qua, nhưng vẫn chưa thể nào xóa hết .

    Và rồi sau bao nhiêu giấc ngủ, những khi chợt thức, nhìn vào căn nhà tôn vách nứa, tôi vẫn tưởng như rằng tôi đang mơ. Có những ngày, nhất là trong năm đầu, dù là làm việc thật mệt mỏi, chân bước thật nặng nề, và trên vai, bao mì còn đè nặng, nhưng tôi cứ tưởng như rằng không phải tôi đang làm việc đó. Tôi không nhận ra tôi hôm nay, tôi đang mơ hay vẫn tỉnh.

    Thường khi thức dậy mỗi buổi sáng, ngồi xếp hàng điểm danh để sửa soạn ra rẫy đào đất, mà tôi cứ tưởng như là không phải tôi đang ngồi đó, giữa những hàng người áo, quần tơi tả, da bủng, mặt chì. Và như thế đó, có ai đọc được từng ý tưởng đang sôi động trong tâm hồn chúng tôi, đang chu lưu như bao mạch máu trên châu thân.

    Dù đã quen rồi, dù cái nhân mình đang dự sự, nhưng như rằng, tôi không thể kềm hãm được cảm xúc mỗi khi tưởng tượng tới hay chứng kiến cái hoạt cảnh, một đoàn người áo quần vá víu bằng từng sợi dây rừng, đầu trần chân đất, lầm lũi đi dưới cơn mưa, được "hộ tống" bằng 5, 7 người công an vũ trang.

    Có ai đã từng đọc cuốn "Người tù khổ sai", chắc sẽ hình dung ra được cảnh tượng này, dù có rất nhiều khác biệt, và sự khác biệt đó chính là "Người tù khổ sai" vẫn còn chưa khốn khổ và thảm khóc như những người tù Mê Van hôm nay của chúng tôi .

    Trong những lần sinh hoạt, cán bộ trại giam luôn luôn nhắc tới câu " Xã hội chủ nghĩa không có nhà tù, mà chỉ có những trại cải tạo" . Đúng là "Xạo Hết Chổ Nói", không phải nhà tù, chỉ có Trại Lao Động khổ sai, những người tù không bao giờ bị tuyên án !

    BÀI HỌC CHÍNH TRỊ KHÔI HÀI

    Trong hơn hai năm qua, chúng tôi đã được học rất nhiều bài học chính trị, đã nghe rất nhiều chuyện chung quanh nhóm danh từ, “Quân đội nhân dân anh hùng, đảng cộng sản Việt nam quang vinh . . .”, nhưng những đề tài đó, mức độ khả tín dù có trừ đi 99% thì vẫn còn chưa đến nỗi trơ trẻ một cách thô bỉ như đề tài hôm nay:

    TÌM HIỂU "TÌM" LỰC KINH TẾ MỸ.

    Sau khi nghe cán bộ Tỉnh trình bày đề tài, chúng tôi được lệnh về trại, để mỗi đội thảo luận câu hỏi do cán bộ đưa ra, và sáng ngày mai đến hội trường nộp biên bản và nghe đánh giá tinh thần học tập câu hỏi nghiêm túc, đúng đắn của mỗi đội .

    Tất cả 9 đội gần 500 phạm nhân, đều cùng hiểu "một cách sai lầm nghiêm trọng, là đã thảo luận đề tài: "Tìm hiểu tiềm lực kinh tế Mỹ", mà không phải là:” TÌM HIỂU "TÌM " LỰC KINH TẾ MỸ” .

    - Do đó, trọng tâm thảo luận sai,

    - Không nắm bắt được vấn đề,

    - Thiếu trình độ học vấn

    Đó là 3 nhận xét của một cán bộ giám thị lảnh đạo trại, người Bắc, tốt nghiệp Kỷ sư đường, về 500 phạm nhân tham dự bài học chính trị này .

    Cán bộ cắt nghĩa :

    Đã bảo là tìm hiểu, "tìm lực" là tìm hiểu lực lượng sức mạnh kinh tế của đế quốc Mỹ, chứ tiềm lực là cái gì !

    Một phạm nhân, nguyên là Giáo sư mạnh dạn phát biểu :

    - Thưa cán bộ, chúng tôi hiểu là tìm hiểu tiềm lực kinh tế Mỹ, vì nghĩ rằng trong một câu viết không thể có hai động từ, cho nên hiểu chữ TÌM là chữ TIỄM đánh máy sót chữ "ê"

    - Sai, tôi bảo là sai, tất cả các anh về trại, đào sâu suy nghĩ, nắm bắt vấn đề, tìm hiểu trọng tâm cho đúng đắn, tiếp tục thảo luận và nộp biên bản cho tôi !

    Than ôi trình độ của một cán bộ giám thị, lảnh đạo trại tù, tốt nghiệp kỷ sư . Tôi cứ suy nghĩ mãi về sự việc và tự hỏi thầm " không lẽ những người này cai trị đất nước thật ư" mỉa mai thay !

    CHUYỂN TRẠI

    Một buổi trưa, khi mà tin đồn một số phạm nhân sẽ được đưa ra miền Bắc đang gây xôn xao và căng thẳng tinh thần chúng tôi, thì tôi và 9 phạm nhân khác được gọi lên phòng trực trại .

    Người công an phụ trách Đội 9, bước vào đội khi chúng tôi đang ăn trưa, đặt cuốn sổ điểm danh lên sạp nằm, rồi móc túi lấy ra một bản danh sách đánh máy, gồm 2 trang, anh đọc tên 10 người, trong đó có tôi, và ra lệnh:

    "Những người có tên tôi vừa đọc, ngay khi ăn cơm xong, phải thu dọn tất cả đồ dùng cá nhân mang lên phòng trực trại, nhận lệnh mới. Những người nầy còn nợ ai, hay ai còn mắc nợ họ, đều phải thanh tóan trong vòng 15 phút, bây giờ là 12 giờ 30 "

    Tôi bàng hoàng bỏ chén đủa xuống, miệng tôi như ngẹn lại, không còn ăn tiếp được.

    Thực sự cảm giác cho tôi lúc này, không phải là nỗi lo sợ, mà là cái sửng sờ vô tri giác. Việc đầu tiên là tôi vội vàng mở ba lô, lấy giấy viết vội vàng vài dòng nhắn tin cho thầy mẹ tôi và nhà tôi nhét vào túi của Tài, (Phó tỉnh Nội An, Thừa Thiên, Huế) để anh tìm cơ hội gởi ra ngoài cho tôi. Cách thức nhắn tin của những người tù như chúng tôi là lén lút nhờ công an Vũ trang chuyển cho, trả thù lao và quà cáp lúc có thăm nuôi.

    Khi tôi vừa gấp vội tờ giấy và dặn Tài xong, thì những bạn bè thân thiết đã đến chào chia biệt, tôi xúc động như nỗi biệt ly mà trong đời chưa từng trải qua, nghẹn ngào không nói được nên lời, nhất là khi anh Long, Phòng An ninh Tiểu Khu Darlắc kề tai tôi nói nhỏ " Chia cách này không biết bao giờ mới gặp lại, xin Thượng đế phù hộ anh", rồi thì những người khác cho tôi cá khô, cơm gói, đường, thuốc lào, là những gì qúy giá nhất của người tù trong hoàn cảnh này, Lê X. Hồng, Đỗ M Giảng cầm tay tôi mà cắn môi không nói một lời, Trị CSĐB Châu Sơn nói nhỏ: "Hãy khoan một chút, tao đang nấu xôi, để tao gói cho ăn đường, mau lắm thôi, chờ tao . . .” tôi không rõ ai đã ôm tôi, hôn tôi, đâ’m vai tôi, vì tâ’t cả họ đều ôm lấy tôi, làm tôi vô cùng xu’c động, tôi chỉ nói được một lời: " cám ơn, cám ơn"

    Ở những đội khác, trong sân trại, những phạm nhân cùng có tên ra đi, cũng được bạn bè tiễn biệt như tôi và tất cả mọi người đều có chung một ý nghĩ, "chúng tôi bị chuyển ra Bắc"

    Sự việc naỳ đã xảy ra trong các trại tù khác trên toàn miền Nam, mà những lần thăm nuôi, thân nhân đã kể cho chúng tôi.

    Sau khi thu xếp xong các vật dụng, chào từ biệt đội và bạn bè, tôi cùng với 9 người khác ra khỏi cổng trại, đứng chờ bên ngoài bờ rào kẽm gai, trước khu nhà Ban Giám Thị .

    Quay nhìn về phía trại, tôi thấy từng nhóm phạm nhân tụ lại trong sân tù, và tất cả đều hướng về phía chúng tôi và cùng đưa tay vẫy chào, chúng tôi vẩy lại từ biệt họ, cảnh tượng này cho tôi một cảm giác kỳ lạ, pha lẫn những bâng khuâng và bịn rịn, ngậm ngùi mà như không phải bùi ngùi, tiếc xót nhưng lại rất hoảng loạn. Tôi nhìn rõ 9 người trong nhóm, Vũ Dư, Trưởng Ty Thuế Vụ; Hoàng Kim Ký, Trưởng G đặc Biệt Quận; Bình, Trưởng Phòng của Trung Tâm Chiêu hồi, mà anh là Hồi Chánh Viên, có lẽ cũng vì thế mà anh tỏ ra lo lắng nhất, trên mặt anh hiện rõ nỗi lo lắng lẫn kinh mang, anh thường cúi đầu xuống, lặng lẻ và thở dài; Sơn, Biệt đội Quân Báo Quân Đoàn; Lâm, chánh Lục Sự Toà Án, Xuân Thiếu Úy thuộc Toán Huấn luyện Tiểu Khu; Chi Trưởng Cuộc Cảnh Sát và 2 người khác tôi chỉ quen mặt mà không biết tên.

    Nhìn toán người chuyển trại, tôi nhẫm tính trong đầu "có thể đi Bắc thật, vì ai cũng nặng ký cả, và tôi bắt đâu lo sợ". Để trấn áp cảm giác này tôi nói xã giao với mấy người lạ, và bắt tay những người từng biết tên, Vũ Dư nói: " Rất mừng cùng đi với anh", Ký nhìn tôi: "đi đâu đây anh", tôi im lặng không trả lời .

    Khoảng 1 giờ, chúng tôi được lệnh đến xếp hàng trước phòng trực trại, 4 công an võ trang khám xét đồ dùng cá nhân của chúng tôi và bảo chúng tôi ngồi chờ .

    Lúc này bổng nhiên tôi không còn cảm giác hoang mang nữa, và có lẽ những ngày tháng ở đây đã dạy tôi phải bình thản trước mọi việc .

    Ký đưa điếu thuốc lào cho tôi;

    - "Hút một điếu lấy bình tỉnh "

    - " Anh có sợ bị ghẻ không "? Tôi quay sang hỏi Ký và Dư, cả 2 cùng nhìn tôi cười, và tôi đã trả lời thay họ, cũng như tự nói với chính mình: "Đã bị cùi rồi còn sợ chi ghẻ, đi đâu cũng vậy thôi"

    Khoảng 1 giờ 20, Cán bộ Giám Thị trưởng đến gặp chúng tôi và cho biết:

    " Các anh là những người học tập lao động tiến bộ, nên được chọn đưa đến công tác một nơi khác, trong công tác mới, tôi mong các anh cũng nhiệt tình trong công tác, đảm bao kỷ luật tốt, chúc các anh sức khỏe"

    Giám thị trường nói xong, 4 công an võ trang ra lệnh chúng tôi xuất phát, và chúng tôi được dẫn tới chiếc xe Cam-nhông mui vải, không che phía sau với 4 công an vũ trang áp giải. Bao nhiêu con mắt, bàn tay của phạm nhân trong trại đều hướng về chúng tôi và vẫy tay chào từ biệt Tất cả chúng tôi khi bước lên xe, đều quay cả về phía họ vẫy tay từ giã .

    Một trong 4 công an áp giải lên tiếng: " Bây giờ các anh an tâm nhé, chúng ta về tỉnh nghĩ lại đêm nay và sáng mai sẽ tiếp tục lên đường"

    Hai năm hơn không có dịp nhìn lại thành phố, được đi trên con đường quen thuộc một thời nào, tôi nghe lòng mình rộn lên, một cảm xúc nào đó, trong một thoáng, không cách nào diễn tả được, bây giờ đang tràn ngập tâm hồn tôi .

    Con đường Tự Do chạy dài từ Cây Số 3 vào Ngã 6 Thị Xã, một bên là Cuộc CSQG Chư KPlong - Một bên là Bến Xe Cây Số 3, bây giờ đã không còn nhộn nhịp như xưa, vắng vẻ và tẻ lạnh - Hai cây Xăng đóng cửa - Phi Trường L19 vẫn im lìm vây kín bởi mấy lớp tôn xi-măng và dây kẽm gai - Những Ty Sở như Lao Đông, Kiến Thiết, Thanh Niên mang màu hoang phế không người qua - Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh vẫn còn đó, nhưng tấm biển trên 2 trụ cổng chính đã không còn - Hàng chữ đỏ trên bức tường sân thượng : KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO đã không làm mất được nét tôn nghiêm một thời của nó, và cũng không bôi bỏ được câu " TỔ QUỐC DANH DỰ TRÁCH NHIỆM CÔNG MINH LIÊM CHÍNH " như vẫn còn ẩn hiện đâu đó trên khỏang không nầy .

    Ty Xã hội, Ty Nông Nghiệp, hình như nay đã trở thành một cơ quan nào đó.

    Đường vào Thị Xã, Trước Công Viên Ngã 6, được dựng lên một cổng chào với tấm khẩu hiệu nền vàng son đỏ, tôi không kịp đọc - Tư dinh của Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ Binh, vị tư lệnh xin từ nhiệm với Tư lệnh Quân đoàn khi Banmêthuột vưa mất được mấy ngày và Sư đòan vẫn còn đang chiến đấu với quân thù! nay là Trụ Sở Hội Phụ Nữ .

    Khách sạn Anh Đào đã được sửa lại, nhưng 2 chữ Hotel vẫn còn nguyên .

    Từ trên xe nhìn thoáng qua Thị Xã, tôi mang cái cảm giác vắng lặng và tẻ nhạt của một phố thị không ngườì, với đầy đủ nét điêu tàn và hoang phế. Tôi nghe rõ nỗi ngậm ngùi và cảm giác xót xa đầy ấp trong lòng. Hai năm rồi, nay nhìn lại phố thị, cảnh cũ còn đây, nhưng người cũ đã về đâu. Vẻ sầm uất đô hội ngày nào đã không còn nữa, và không hiểu bây giờ những người thành phố nầy đã ra sao. Chúng tôi nhìn nhau như cùng tiếc nuối không nhìn được khu chợ, để xem sinh hoạt của dân chúng và thị xã.

    Xe chạy qua Hội Đồng Tỉnh, Toà Án, bây giờ không hiểu là cơ quan nào, rẻ vào Lê Lợi, đưa chúng tôi đến Trung Tâm Cải Huấn Tỉnh.

    Những bức tường đổ nát của các công thự mặt sau của Tiểu khu, Khu cư xá Sĩ quan, và bức tường Trung Tâm Cải Huấn lổ loang nhừng vết tu sửa vì dấu đạn càng làm tăng thêm nét hoang tàn của khu ngoại vi , dầu đã hơn hai năm .

    Xe chạy vào sân Trung tâm Cải Huấn rồi đổ lại, hai cánh công sắt từ từ khép kín, không khí ngục thất như tràn ngập cả một khoảng không gian .

    Chúng tôi được dẫn vào một căn phòng dùng làm nhà hội, và được tổ anh nuôi (nhà bếp) cho biết họ sẽ cấp cho chúng tôi bữa ăn tối và bữa cơm trưa ngày mai, đồng thời yêu cầu chúng tôi không được tiếp xúc với bất cứ ai trong nhà tù nầy, không được đi lại linh tinh .


    ***

    Nhìn những dãy phòng khoá trái cửa, mà trong đó đều nhốt đầy ắp tù nhân, chỉ mở ra đúng 6 giờ sáng và 6 giờ chiều, chúng tôi cảm thông sâu xa với những người trong đó.

    Sáng hôm sau, vào khoảng 6 giờ 15, chúng tôi vừa làm vệ sinh cá nhân xong, đang đứng thơ thẩn trước mấy của sổ của phòng hội, nơi chúng tôi đang tạm trú, nhìn sang những căn phòng đối diện, từng công an phụ trách, lần lượt mở các cửa phòng và dẫn các tù nhân ra bể nước, cạnh phòng hội, để họ làm vệ sinh cá nhân. Nhìn vào những căn phòng mở cửa tối thui, khoảng 2m x 3m, nhưng nghe nói nhốt đúng 8 người, tôi tưởng như mình vừa bị ngôp.

    Tôi mạnh dạn hỏi khẻ một người đứng gần tôi nhất, đang chờ xếp hàng đến bể nước:

    - Bị bắt về tội gì ?

    - Phản động

    - Được thăm nuôi không ?

    - Biệt giam 8 tháng rồi.

    Biệt giam là các trại kỷ luật, không được thăm nuôi, hai chân mang cùm suốt ngày đêm, mà lúc mới đầu, người bị cùm không có cảm giác khó chịu, nhưng sau 3,4 tiếng đồng hồ, tù nhân mới nhận được nổi thống khổ, vì chỉ nằm yên một thế, không thể trở mình, nhất là những trường hợp bị cùm cả 2 tay, mà phải nằm suốt ngày đêm như vậy. Có những tù nhân sau thời gian biệt giam đã đi đứng không tự nhiên, bị tê liệt, da thịt của 2 mông bị nhầy nát, hoặc bị chết vùng da thịt nơi đó và bị thâm tím.

    Nhìn anh, tôi lại liên tưởng tới thời gian chúng tôi chưa được thăm nuôi, bổng nhiên lòng tôi dậy lên mối thương tâm sâu sắc, tôi biết các bạn tù nầy, cũng như chúng tôi thủa đó, thèm đường, thèm muối, thèm thịt mỡ, mà mỗi lần nghĩ tới là nước miếng lại trào ra không cầm được .

    Do vậy, trong thời gian ở Mê Van, đội chúng tôi có tất cả là 51 người, nhưng chỉ 15 người là có thăm nuôi định kỳ, tháng một lần đều đặn, còn lại thì đôi khi, một năm vài lần, có người trong suốt thời gian tôi ở đó, không thấy có thăm nuôi, cho nên chúng tôi khi có thăm nuôi, thì tất cả thức ăn đều góp lại, đổ chung vào thùng dầu hôi, tuỳ nhiều hay ít mà đổ thêm nước lạnh vào, nấu sôi một lần nữa rồi chia đều cho 51 người . Và cách thức này đã trở thành lệ của đội chúng tôi, vì vậy trong đội không có anten, không ai bị mời lên ban giám thị làm việc vì phát biểu linh tinh hay chày lười lao động. Để bù đắp cho việc chia đều thức ăn, những người không có thăm nuôi luôn luôn dành việc dọn dẹp vệ sinh trong đội, và đôi khi còn cải vã vì không được làm, bởi số người không có thăm nuôi nhiều quá.

    Hôm nay nhìn cảnh ngộ những người tù này, lòng tôi không dấu nổi mối thương tâm, dù chính bản thân tôi chưa biết được ngày mai sẽ thế nào, và rồi sự thông cảm ấy chỉ được truyền đạt cho nhau qua cái nhìn, nụ cười hay cúi đầu chào hỏi.

    11 giờ sáng, chúng tôi được lệnh ăn cơm và chuẩn bị lên xe, và lúc này, công an áp giải chúng tôi mới cho biết chúng tôi được chuyển đến một xưởng gạch để sản xuất gạch cho Ty Công An, thuộc Quận Phước An, nơi này các anh sẽ được thoải mái ". Đó là lời anh công an vũ trang "hộ tống".

    Khoảng 17 giờ cùng ngày, chúng tôi đến xưởng gạch, nơi đây cách quận lỵ Phước An chừng 12 cây số, nằm sâu trong rừng hoang, và lối đi vào là một con lộ nhỏ, gồ ghề những mô đất, mà hai bên là đồi núi hoang dã không có dân cư .

    Xưởng gạch này nguyên là của tư nhân, nhưng tư nhân khai thác ở đây, không ít thì nhiều, ngày xưa nhất định cũng từng qua lại với Việt cộng, mà có khi còn là cơ quan kinh tài của Việt cộng nữa.

    Đặt chân đến xưởng gạch, công tác đầu tiên của chúng tôi là bốc 4 ngàn viên gạch lên xe, công việc thật nặng nhọc, mệt muốn đứt hơi, vì vừa nặng, vừa phải cúi khom người mới bốc được.

    Sau đó, chúng tôi được dẫn vào trại tù của Huyện Phước An, cách Lò Gạch chừng một cây số, nơi đây đã có 100 phạm nhân, mà đa số là lực lượng Fulro, một số ít sĩ quan, và những người bị giam vì tệ nạn xã hội .

    PHIÊN CHỢ HUYỆN VÀ CUỘC TÌNH ĐẦY NƯỚC MẮT

    Sau hơn một tháng trời làm gạch, vào một sáng Chủ nhật, tôi và T K Ch, (Trưởng Cuộc Cảnh Sát), được Trại trưởng gọi lên phòng trực trại và cho phép hai chúng tôi đi chợ Huyện cùng với một nữ công nhân của Lò Gạch tên là Ng.

    Thật là bất ngờ với tôi, một cảm giác vui thích, xen lẫn chút bỡ ngỡ, vì đã hơn 2 năm, tôi nằm yên trong những hàng rào kẽm gai, không có dịp tiếp xúc với thế giới bên ngoài, và không biết được những gì tôi muốn biết .

    Đường từ Lò Gạch ra chợ Huyện Phước An chừng 12 cây số, là con đường rừng đất đỏ, hoang vu ít ai qua lại, trừ đám công nhân Lò Gạch tháng đi chợ vài lần .

    Chúng tôi khởi hành từ 9 giờ sáng, đi bộ đến chợ chưa tới 11giờ30, vừa đi, vừa chạy, như những trẻ con lần đầu được ba mẹ cho đi chợ Huyện !

    Suốt dọc đường, tôi chỉ mơ màng nghĩ đến một tô bún bò rau chuối, khói còn bốc lên và mùi thơm rau quế với ngò gai tôi từng thích thú một thời. Nhất định phải ăn ngon, " ăn thêm một tô phở tái, có giá, thử xem sao ", tôi cứ mơ màng nghĩ thế, quên mất người bạn đồng hành vẫn líu lo với cô nữ công nhân, quên mất thời gian, để đến lúc tới chợ mới sực tỉnh.

    - Hãy ghé vào đây đã, tôi nói với Ch,

    - Ừ hai anh ghé ăn trước đi đã, cô Ng trả lời .

    Ba chúng tôi bước vào và ngồi xuống Quán Bún Bò đầu chợ. Nhìn quanh quất ngôi quán sơ sài của chợ Huyện, chỉ có 3 cái bàn và mấy cái ghế, tôi chợt nghĩ tới những quán tranh trong các buôn làng người Thượng mà ngày xưa tôi có dịp ghé qua, nhưng những quán ngày đó, người ta còn thấy các loại Bia 33, bia trái Dứa, và các loại rượu Rhum, sy-rop, nước ngọt . . . , nhưng ở đây, dù là chợ huyện, vẫn chỉ có rượu đế mà bà chủ giới thiệu là đế nếp thang nguyên chất, rượu gạo, rượu nếp, . . . đựng trong mấy chai đặt trên một chiếc bàn xiêu vẹo bên cạnh mấy chiếc can nhưa nhỏ.

    Chúng tôi kêu mỗi người một tô bún bò, một xị rượu đế,

    Nhìn khói và ngưỡi mùi thơm của bún, tôi nuốt nước miếng mà thầm nghĩ "chắc là ngon lắm". Và qủa là ngon, lâu lắm rồi, tôi không hề ăn được thịt heo, giò heo và thịt bò, có ớt khô và rau thơm, làm màu nước bún trở vàng và óng ánh như màu hổ phách ! " Bún của bà ngon quá"

    . - Vâng cám ơn các ông, nhà em nấu chả ngon lắm đâu, chỉ vì các ông ở trong đó chắc lâu lắm không được ăn nên lạ miệng đó thôi,

    - Sao bà biết chúng tôi ở chổ nào,

    - Nhìn là biết ngay ấy mà, đám giải phóng dân chúng em liếc qua cũng biết liền.

    Tôi nghĩ thầm "hèn gì mà có nhiều thịt trong tô bún như thế"

    Ăn xong, chúng tôi kêu bà chủ tính tiền, bà bảo cho bà 2 đồng, cô Ng hỏi lại,

    - Sao rẻ thế bà, lần sau chúng em sẽ tới nữa.

    - Vâng, mời các ông, các bà ghé, chúng tôi chẳng giúp được gì cho các ông, các bà, chỉ xin ơn trên cho các ông, các bà được mạnh khoẻ và sớm về với gia đình.

    Chúng tôi cám ơn bà chủ, mà lòng xúc động như rơi nước mắt. Rời quán bún bò, chúng tôi đi vòng khu chợ; Không hiểu vì đã trưa hay chợ Huyện là vắng vẻ như thế. Nhìn quang cảnh này, tôi chợt hiểu rằng, việc buôn bán chỉ còn gượng gạo, người bán thì nhiều mà kẻ mua chừng như rất hiếm hoi, có chăng là những cán bộ, những dân Bắc bộ đội, Bắc 75, như chúng tôi quen gọi, còn dân địa phương thì đã khánh tận rồi .

    Chúng tôi ngang qua sạp bán quần áo củ, sạp vải, sạp rau, cá, chạp phô . . . đâu đâu cũng chỉ vài người ghé lại. Thấy không có gì lạ, tôi bảo Ch và cô Ng,

    - Thôi mình đi một vòng cho cùng huyện lỵ xem có gì vui không, rồi mua một ít thức ăn và ra về .

    - Tuỳ hứng mà, Ch nói,

    - Mấy giờ các anh phải vô trại, cô Ng hỏi chúng tôi,

    - Trước 4 giờ, nhưng mấy giờ thì hết chợ, để còn mua đồ ăn chứ, tôi hỏi lại.

    Cô Ng ghé hỏi một bà chủ bán bánh mì, bà cho biết khoảng 3 giờ 30 là chợ hết người. Nghe vậy chúng tôi ghé vào sạp thịt heo để mua:

    - Bao nhiêu miếng thịt heo này thưa bà ?

    - Ông cho 5 đồng, nói xong bà nhìn lên 3 chúng tôi rồi nói tiếp, thôi xin ông đồng rưỡi, các ông ở được mấy năm rồi ?

    - Gần 3 năm.

    Mua xong thịt heo, chúng tôi qua sạp cá, sạp rau, và ở đâu người ta cũng bảo bán vốn cho chúng tôi, ở sạp nào cũng không quá 3 đồng bạc, đặc biệt là gánh rau cải, chị bán rau cho chúng tôi hai bó mà không lấy tiền .

    Trên đường về trại, tôi nói đùa với Ch :

    - Ông là bạn dân nên dân vẫn còn thương ông lắm,

    - Không có đâu, tôi mang nợ máu với nhân dân đó, ông không nghe thằng Ly nó nói sao, nó bảo chưa cho chúng mình về vì sợ nhân dân còn chưa quên nợ máu sẽ giết mình, nên đảng đành tạm giữ lại mà chưa tha được !

    Ngôn ngữ dân gian có câu " nói dối như vẹt", quả thật đám cán bộ cộng sản là sư phụ của vẹt, nói dối một cách trơ trẻn và không ngượng miệng, nhưng trong hoàn cảnh này, chúng tôi chỉ nghe và ngậm miệng, "lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng" như La Fontain đã từng nói trong bài thơ ngụ ngôn nào đó.

    Tuy nhiên buổi đi chợ huyền gợi cho tôi thật nhiều kỷ niệm, Tôi miên man nhận chìm hồn mình trên suốt quảng đường về, mà quên mất người bạn tù của tôi và cô công nhân lò Gạch đang bắt đầu bước những bước mới của cuộc đời họ. Tôi cứ nghĩ rằng, nếu tôi nghêu ngao vài ba câu hát, hay hoặc giả nói về cái sinh hoạt của chợ huyện vừa qua, để cho họ không có thời gian riêng tư bày tỏ nỗi niềm cảm xúc, dù chỉ là qua những cử chỉ trên con đường về, thì chắc là bạn tôi đã không chuốc lấy cảnh trạng khốn khổ của người tù biệt giam trong những ngày sau đó.

    Có thể là trong lúc cô đơn và tuyệt vọng, tâm hồn ta sẽ dễ dàng đón nhận và cũng sẵn sàng để cho đi, hay vì nỗi cô tịch mà lòng ta trở nên yếu đuối trước cái mềm mãi của cảm tình để hậu qủa là đau khổ ?

    Trong những dòng chữ này, tôi muốn viết cho những người bạn tôi quen, những người cùng tôi bó gối trong mấy năm dài giữa những hàng rào kẽm gai ở Mê-Van.

    Cuộc tình của Ch Và Ng, thật ra rất kín đáo, không ai ngờ, những người tù chúng tôi đâu có ngờ rằng cô công nhân Lò Gạch lại có thể yêu một người tù không biết có ngày về, hết tương lai và không còn một mảy may hy vọng, thật là lảng mạn như những pho tiểu thuyết chỉ có trong văn chương truyền thuyết, mà không thể nào xảy ra được trong cuộc đời thực, vì cuộc tình ấy, yêu chỉ để mà yêu, yêu và mong được yêu mà không hề nghĩ tới xum họp .

    Những hẹn hò của họ, mãi đến sau khi Ch bị biệt giam, chúng tôi mới hiểu rõ.

    Một ngày sau khi chúng tôi lao động trở về trại giam, Cán bộ phụ trách xưởng gạch là L, tập họp chúng tôi ở sân tù, gọi Ch ra đứng trước chúng tôi và dỏng dạc nói:

    " Mày là một thằng phạm, mày vào đây để học tập lao động mà vẫn ngoan cố, mang tư tưởng và hành động đồi truỵ, không chịu cải tạo, mày quan hệ tình cảm nam nữ với cô Ng như thế nào, đã bao lâu rồi, hai đứa may đã làm những việc gì, cô Ng tao sẽ báo lên trên, còn mày tao kỷ luât. Đây là những lá thư hai đứa mày đã viết cho nhạu Có đúng chữ của mày không . . .

    Đồng chí công an, trói nó lại cho tôi . . . và sợi dây điện được quấn đều lên hai cánh tay Ch, hai tay cắp ra sau lưng, và chừng 10 phút sau, Ch ngã xuống như một cây chuối bị đốn từ gốc, bất đông . . . "

    Tôi đón nhận một cảm giác rờn rợn nổi gai và hết sức thương tâm, thật không rõ nước mắt tôi đã chảy ra từ lúc nào cho đến khi cảm nhận vị mặn trên mối. Tôi cảm như chính thân mình bị trói, nỗi uất hận và ngẹn ngào dâng ngập lòng tôi, mà có lẽ không chỉ riêng tôi, mà là tất cả tù nhân có mặt, Không phải chúng tôi đang chứng kiến cái dã man của một con người đối với người, mà là của chủ đối với những nô lệ của thời phong kiến xa xưa, bên những đất nước châu Âu, của mấy thế kỷ trước, không hề có ở đất nước tôi, mà thật cũng giống như anh thợ săn và con mồi bắt được. Nhưng tất cả chúng tôi đều đứng im như mặc niệm, trên khuôn mặt mỗi người bổng trầm xuống, u ám và nặng nề.

    Một chiều, sau giờ lao động, cô Ng lén đến gặp tôi và hỏi về tình trạng của Ch, tôi không dám kể sự thật, chỉ cho cô biết hiện Ch đang bị biệt giam, và cô kể cho tôi nghe chuyện tình của họ:

    " . . . Chúng em thương nhau rất thật lòng, em cũng biết và anh ấy cũng nói với em là cuộc tình của chúng em không chắc gì có kết quả, nhưng biết làm sao, em thương anh ấy lắm, suốt cả tuần em chỉ mong ngày Chủ nhật, khi các anh được đi bắt cá hay kiếm rau, chúng em mới lợi dụng thời gian này hẹn nhau được. Em không bao giờ ân hận khi yêu anh ấy, nếu anh ấy có bề gì, em sẽ một lòng với anh ấy, em không sợ bất cứ gì, miễn là em được nhìn anh ấy đi làm gạch mỗi ngày là đã đủ rồi . . ."

    ***

    Cũng như bao nhiêu người cùng trang lứa, chúng tôi lớn lên trong khung cảnh những thành thị thanh bình, nên tâm tình chúng tôi mang mọi tình cảm tự nhiên, tốt đẹp, biết cảm xúc, biết yêu thương, từ tình yêu của tuổi học trò, cho đến những mối tình mặn mà thời chiến . Tuổi trẻ, yêu đời và văn nghệ. Tôi hiểu nghệ sĩ tính trong tâm hồn của Ch, anh thích hát, đàn hay, biết rất nhiều về nhạc, và tâm hồn thơ mộng ấy, có lẽ là nguyên nhân nảy sinh mối tình giữa anh và cô công nhân lò gạch đầy nước mắt và thương tâm hôm nay.

    Bài hát nào mở đầu cho cuộc tình của họ, lời hát nào đã trói buộc hai tâm hồn thanh xuân ấy trong hoàn cảnh éo le này, tôi thực sự không hiểu, nhưng như một văn hào nào đó đã nói " Con tim có lý lẽ riêng của nó "

    Ngày thứ 2 biệt giam, Bình, tổ trưởng phạm nhân và Dư đến gặp cán bộ trại để xin phép thăm Ch, tôi cũng xin được cùng đi. Trước mặt chúng tôi, Ch nằm bất động, 2 chân xỏ trong cùm, hai tay vẫn ở thế trói cánh khỉ, chúng tôi lên tiếng hỏi và anh mở mắt nhìn chúng tôi mà không nói được, cảnh tượng này làm chúng tôi không cầm lòng được, tôi hỏi Dư :

    - Mình có dám mạnh dạn xin cởi cùm cho Ch không,

    - Ông dám đi gặp anh L. không, Bình hỏi tôi, tôi nhìn Dư, "chúng ta cùng đi ".

    Cả 3 chúng tôi đến gặp cán bộ L, và anh ta đồng ý, nhưng chỉ cởi trói, không cùm, mà vẫn bị biệt giam, không cho ra ngoài lao đông.

    Buổi sáng thứ 6, là ngày thứ 3 Ch bị biệt giam, thì bà cụ của Ch từ Saigòn tới thăm con . Từ xa tôi nhìn dáng một bà cụ tóc bạc, quấn khăn theo kiểu những người đàn bà có tuổi của người Bắc di cư, cụ đến nhà tiếp khách, và một người nào đó đang xếp gạch hỏi lớn :

    - Bác tìm ai ?

    - Tôi thăm con tôi cải tạo ở đây là T. K . Ch

    Nghe vậy, tôi vội vàng bỏ hầm gạch chạy đến chào cụ và nói:

    Bác vào nhà ngồi nghỉ, tôi đi tìm cán bộ, thật là không may cho bác, anh Ch đang theo xe chở gạch tới trại khác, có lẽ vài ba ngày mới về.

    Tôi chạy đến công an vũ trang, báo cho vũ trang biết và xin không cho bà cụ biết là Ch đang bị biệt giam, anh công an bằng lòng. Còn về phần phạm nhân thì tôi tin chắc ai cũng hiếu điều nầy. Vì có ai mà không biết được nổi đau đớn của mẹ khi nhìn thấy con mình bị hành hạ, mà mình không có sức bảo vệ.

    Cái cảm giác bẽ bàng, xen lẫn với uất hận chúng tôi đã trải qua khi nhìn Ch bị trói trong sân tù và ngã xuống qủa thật là thấm thía.

    Cái ngỡ ngàng nhất của tôi là vào buổi chiều, khi chúng tôi thu xếp dụng cụ chuẩn bị ra về thì được lệnh tập hop. Cán bộ L. dẫn Ch ra trước chúng tôi, có cả bà cụ, để nói rõ những tội lỗi của Ch, và đọc bản tự kiểm của Ch cho bà cụ nghe . Bà đã nấc lên, nhưng như rằng nước mắt bà đã khô mất từ mấy năm qua, nên đã không chảy ra được nữa, Bà cất giọng nghẹn ngào, đứt quảng: " Thưa ông, con dại cái mang, xin ông tha cho em, Tôi xin được chịu thế cho nó "

    Tôi không hiểu Ch, hay mọi người có cảm giác gì, nhưng với tôi, lòng tôi quặn lại, và đau buốt như xát muối. Ba cụ của Ch , bà cụ của tôi hay của bất cứ ai trong hoàn cảnh đó, chắc cũng đau đớn như chính bản thân mình bị hành hạ, " Ánh sáng không chiếu qua khe hở của vách tù " tôi thầm nghĩ” .

    Có phải là khi nỗi đau khổ đã đến tột cùng, cuộc sống đã không còn hy vọng, khi cô đơn vây kín đời mình, chính là lúc con người yếu đuối nhất, thèm khát nhất, một tình cảm an ủi, dù là vụn vặt, dù không hy vọng, vẫn cảm thấy hạnh phúc, dù chỉ là một cái nhìn, một nụ cười, một câu nói khôi hài nào đó, mà nếu ở một nơi nào khác ngoài cổng tù, có thể ta sẽ cho là vô duyên hay thậm chí là trơ trẻn, nhưng ở nơi đây, trong bốn hàng rào kẻm gai này, đã trở thành hạnh phúc to lớn nhất và vĩ đại nhất . Và có lẽ cũng chính vì thế mà cuộc tình Ch - Ng đã nẩy sinh và gây hệ lụy cho họ bây giờ .

    HỦ HÓA CÁN BỘ.

    Hình như người Bắc hay bảo nhau là "có duộc", những cửa hiệu, những sạp bán ở chợ, thường kiêng kỵ người mở hàng buổi sáng, cũng như ngày Tết, người ta tin "người xông đất", người bước vào nhà mình đầu tiên của ngày đầu năm mới .

    Lò gạch Phước An cũng có duộc, Ch va Ng "mở hàng" câu chuyện tình đầu tiên ở nơi đây, để rồi tiếp theo là S và C, nhưng éo le hơn, cuộc tình thứ 2 ở đây gay cấn hơn nhiều, vì cô nữ công an vũ trang coi tù lại trót yêu chàng sĩ quan Quân báo .

    Suy nghĩ đầu tiên của mọi người ở Lò gạch, từ công nhân cho đến phạm nhân đều chỉ xầm xì có một điều: " Con nhỏ công an này không biết nó có thù gì với anh S mà ngày nào cũng bắt anh ấy làm riêng một mình, bọn em không hề thấy anh S được nghĩ giải lao cả tuần nay rồi, con nhỏ đó nó kềm chặt anh S không rời một mắt". Đó là câu nói của mấy nữ công nhân làm gạch nói với phạm nhân chúng tôi

    Vì cái khôn khéo ấy mà những cuộc hẹn hò của cô công an và chàng sĩ quan tù binh kéo dài được khá lâu, bởi nếu cần gặp phạm, cô công an chỉ cần gọi phạm vào phòng trực, với đầy đủ mọi lý do, hoặc là khai báo thêm, hoặc là làm thêm việc khác, và rồi những ngày chủ nhật S đều được đi chợ huyên, mà thực ra là đến một khu đồi nào đó chung quanh lò gạch để hẹn hò với nhau kín đáo hơn là khu chợ Huyện, nơi đông đúc có thể bị người khác bắt gặp .

    Cuộc tình ấy bị khám phá đầu tiên bởi L, một phạm nhân trong trại, L đi tìm hái bắp chuối để làm rau ăn thêm, hôm đó, L về trại gọi Dư, Tôi và Bình, đội trưởng đến kể rõ là anh thấy hai "người họ" đang đùa dỡn thân mật trong rẫy chuối, nét mặt Lộ còn hơ hãi như khiếp sợ, vì hình ảnh của Ch và Ng . Lộ nói:

    - Làm sao đây 3 anh, em sợ thằng S còn tệ hơn Ch, vì con nhỏ này là công an mà.

    - Hãy bình tỉnh, trước tiên là anh không được nói cho ai biết cả, anh coi như chưa hề trông thấy gì hết. Chúng tôi cũng không nghe anh nói gì hết, anh có hiểu không, Bình nói .

    - Em biết rồi, nhưng sợ quá nên nói riêng với 3 anh, Em không biết gì hết, hôm nay em đi chợ Huyện với anh, L chỉ sang tôi, vì hôm đó tôi và Dư, Ký cùng đi chợ huyện .

    Sáng hôm sau, Bình và Dư cố tiếp xúc với S, bằng cách xin phép S phụ cho tổ của hai anh, cô công an vô tình đồng ý, và rồi Dư và Bình đã khuyên S phải dứt bỏ hoặc phải cẩn thận, nhưng S cho biết anh sợ dút khoát còn tai hại hơn là bị tiết lộ, nhất là khi người đẹp trả thù .

    Quả thật, giấy không gói được lửa, câu chuyện tình đẹp đẽ ấy, cũng bị cán bộ trại phát giác. Cô công an bị chuyển về tỉnh, nghe nói bị kỷ luật nhưng chỉ là cảnh cáo thôi, vì cô trẻ người non dạ, không có kinh nghiệm công tác nên bị phạm nhân hủ hoá, mà không phải cô hủ hoá phạm nhân !

    Đó là lời kể của cô tổ trưởng công nhân kể cho phạm, và nghe đâu cô công an đó có cha tập kết, là sĩ quan cao cấp đang làm việc ở Trung ương.

    Còn phạm nhân S, mang tội hủ hóa cán bộ, không một ai có thể gặp, bị nhốt trại kỷ luật, không được phép thăm nuôi theo lệnh của Ty công an, mà không phải là của Trại giam.

    Viết đến đây, tôi chợt nhớ câu khẩu hiệu "Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà Đa Năng, Đa Hiệu, Đa Dụng" ! Quả thật cá Cuống đến chết vẫn còn cay.

    Bây giờ không hiểu các người đó ra sao ?

    Hai hàng Soan già trên con đường từ xưởng gạch về trại giam đã rụng hết lá, để lại những nhánh chơ vơ như những cọng xương gầy buồn thảm còn hơn mùa đông ở nơi đây. Những ngày lập Xuân, gió bổng trở nên se lạnh hơn ngày thường, mà không tìm thấy một nụ hoa vàng nào báo hiệu Xuân sắp về, chỉ có lao động, chỉ có hầm đất và những tụ gạch với tù nhân quần quật nhau từ sáng tối tới chiều hôm .

    Bổng dưng tôi nhớ đến ngày nào, những mùa Xuân đã rất xa trong đời, nhưng lại như vẫn còn rất gần gủi, như mới đâu đây, ở khoảng khắc tôi vừa cầm bút viết những dòng chữ này.

    Vâng ngày đó đã rất xa, thủa tôi còn là một cậu học trò Đệ Nhị, Đệ Nhất, ở 370 đường Lê Văn Duyệt, Quận 3 Saigòn, cư xá của Hội tương tế Di Cư NTB, cũng những ngày đầu Xuân, cũng chờ Tết đến để về quê ăn Tết với thầy mẹ tôi, mà tâm lòng cứ lo âu hồi hộp, không hiểu phải mua quà gì cho thầy mẹ, mua quà gì cho các em, cậu em trai thì dễ, chỉ cần mua cho em cái súng bắn pháo là nó mừng rồi, nhưng cô em gái thì sao, áo len hay son phấn, cái nào rẻ mà đẹp, vừa túi tiền của một cậu học trò làm cậu giáo dạy kèm

    Thời đó Xe đò Ngọc Trân 40 chổ ngồi, từ Sàgon đến quê tôi chỉ có 50 đồng, Xe đò Hiệp Phát, loại xe Peugot 9 chổ ngồi, 90 đồng một vé . Từ 3 giờ sáng, tôi đã thức dậy, hì hục kéo lê chiếc va-li đã sắp xếp từ tối qua, ra trước Rạp hát Thanh Vân, đường Lê văn Duyệt để đón Xích Lô Máy đến bến xe Petrus Ký cho kịp chuyến xe 5 giờ khởi hành . Xe tới Bu-Đăng trên Quốc Lộ 13, là đúng ngọ, hành khách ăn cơm trưa, và về đến tỉnh tôi là khoảng 3 giờ chiều . Là học trò nghèo, làm gì có thể ăn cơm trưa như những hành khách khác, tôi vẫn ngồi bó gối trên xe, ăn bánh mì nguội mua ở bến xe từ sáng sớm, bánh dai nhưng nhai lâu lâu sẽ thấy vị ngọt ! Cái vị ngọt ấy bổng nhiên bây giờ nhớ lại, tôi lại thấy đậm đà,và chắc là mãi mãi sẽ là cao lương mỹ vị trong cảnh ngộ hôm nay .

    Nhắc tới Câu Lạc Bộ 370 Lê văn Duyệt, tôi lại nhớ đến bạn bè và những khuôn mặt đàn anh thời bấy giờ, Phạm Vĩnh Điện, Giáo Sư Lý Hoá Nguyễn Bá Tòng, Minh, em của Điện, hai anh em song sinh Toàn và Song, Nguyễn văn Linh, hay Lành, Trí (lùn)! Quốc gia hành chánh; Hồ Sĩ Thái; Lan; Hảo (Bình Giã), sau này lên Đại Úy(?)

    Vị Giám đốc đầu tiên của thời tôi mới vào là Giáo Sư Nguyên, Cử nhân Sư Phạm, Hiệu Trưởng trường Trung Học nào đó tôi quên mất, vị kế tiếp là Giáo Sư Nguyễn Quốc Biền, cử nhân văn chương, sau này là dân biểu quốc hội, tiếp theo là Trung Úy bố già, Nguyễn Văn Trường, một biệt danh mà chúng tôi quen gọi và đặt cho ông, Ông thật rất dễ thương và gần gủi với sinh viên học sinh hơn, so với các vị giám đốc khác, ông thổi Trumpet rất hay, chơi violon cũng giỏi, nhất là sau mỗi buổi chiều đi làm về, ông thường ngồi ở hàng hiên bên hong nhà chơi đàn, và những lần như thế, chúng tôi gặp ông đều gọi "bố già" .

    Tôi nhớ đến 370 Lê văn Duyệt, không phải chỉ nhớ Cine Thanh Vân, Phở Đức Chính, mà là Quán Thach chè rất nổi tiếng, còn hơn cả quán Thạch Chè ở Dakao, và xe " Đậu Đỏ Bánh Lọc " bên hong phải, trước cửa Câu Lạc Bộ này, xe Đậu đỏ bánh lọc này nếu ai ăn rồi thật không dễ gì quên .

    Thời đó, người bạn thân nhất của tôi là anh Trường, quê ở Bình Giã, anh lớn hơn tôi nhiều, và đã có gia đình, nhưng anh thật rất giàu lòng "thương hương tiếc ngọc" . Những buổi cuối tuần, anh thường rủ tôi ra quán bia ở đầu đường Hoà Hưng - Lê văn Duyệt, lối váo Khám Chí Hoà, ở đó, những cô tiếp viên rất dễ thương và dịu dàng, Tôi nhớ một lần, anh Dương, ở Phú Cát Bình Dương đã trách anh Trường là đừng dạy hư em út, và cũng từ đó, anh không còn dẫn tôi theo .

    Vào khỏang 1970, tôi gặp lại anh Dương, bấy giờ là Đại Úy , và anh cũng đã cưới cô Hồng làm vợ, người anh yêu từ thời còn là cậu học trò nghèo, cô thợ may chăm chút giúp anh .

    Cũng thời gian tôi còn ở nơi đây, cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm lần đầu đã xảy ra, tôi nhớ năm đó tôi thi, nên thức rất khuya để học, thông thường, những học sinh của những năm thi cử, ai cũng thức học bài đến 2, 3 giờ sáng, vì những kỳ thi thời đó, Tú Tài I hay là Tú Tài II đều có cả Oral và thi viết .

    Nhật lệnh của Tổng Thống đọc trên đài phát thanh tôi vẫn còn nhớ hầu như nguyên văn :

    " Đêm nay lúc 3 giờ sáng, một số sĩ quan trung cấp đã nổi lên làm loạn ở thủ đô, mọi phương tiện liên lạc tạm thời bị gián đoạn, Đại tá Khiêm ở Mỹ Tho hãy về ngay Phú Lâm chờ lệnh".

    Không gian và thời gian của đời tù hình như trầm lại đến nặng nề, và đứng yên đến độ tôi không biết đến thời gian, ngày tháng . Trong tâm trí tôi, chỉ còn lại kỷ niệm thời học trò yêu dấu không hề quên, những năm đệ Thất cho đến thời gian đại học, và kỷ niệm khó quên nhất của tôi là năm làm cậu giáo dạy kèm cho cô Thuỷ, ở số 7 Đỗ Quang Đẩu, khu Cống Quỳnh, gần với tiệm cơm Anh Vũ . Anh Vũ thủa đó là một quán nổi tiếng, và như tôi nhớ không lầm, thì cô Hương Lan, thần đồng mà nhiều người ái mộ vẫn thường xuất hiện ở quán này.

    Năm đó tôi mua được chiếc xe gắn máy hiệu Satch (?), Gobel giá 14 ngàn, Satch hay Sacts, tôi đã quên mất cách viết, đứng sau là Mobylette, sang hơn là Puch, và chót hết là Velosolex . Chiếc xe tôi mua chưa được 3 tháng thì bị mất ở sân Trường đại học, khi tôi đến lấy bài, và tôi cứ thầm trách mãi chính mình, chỉ vì tiếc 2 đồng bạc gởi xe . Mất xe rồi, tôi trốn nghề kèm trẻ, Bà chủ nhà đánh tiếng với một gia đình tôi quen là Ông Sung, ở đường Thiệu Trị, Phú Nhuận, rằng tôi gian dối, đã nhận 2 tháng tiền lương mà nghĩ dạy cũng không báo cho bà một tiếng, may nhờ bà Thiếu tá Sung giải thích giùm, tôi mới được sạch mặt mũi, cho nên 2 tháng sau, khi tôi gom đủ tiền đem đến trả thì bà chỉ cười và không nhận. Thật ra, là một nhà thầu khoán, vài ba ngàn bạc đối với gia đình bà, cũng chẳng đáng bao nhiêu, nhưng với tôi, đó là một khoản tiền lớn, vì tiền cơm tháng thời đó chỉ có 350 đến 370 đồng là sang lắm rồi, còn những quán cơm Xã hội, chỉ 5 đồng một bữa ăn.

    Không hiểu bây giờ, những người thân quen, những bạn bè hoặc ân nhân ngày cũ đã phiêu bạt nơi đâu, sinh hoạt của họ thế nào . Nhất là gia đình Ông Bà Thach, ở 152 Trương Minh Ký, bên cạnh nhà Bác Sĩ Tuyến, nơi tôi ở trọ năm Đệ Nhị, Châu Hoạt, Châu Phòng, Châu Lang, chủng sinh dòng Don Bosco, Châu Mỹ, và bé Tú bị tê liệt một chân và Mệ, bây giờ ra sao, họ có bỏ nước ra đi không, hay Ông Trung tá đầy nhân hậu ấy đang bị giam ở một trại cải tạo nào đó cũng như tôi nơi đây.

    Không biết tôi còn cơ may được gặp lại họ hay không ,“Đất nước mất là mất tất cả”, câu nói bình dị này của Tổng Thống đã trở thành chân lý hôm nay.

    Ngày tháng vẫn âm thầm trôi đi mặc cho ai đó có buồn vui hay thù hận, thời gian vẫn lạnh lùng nghiệt ngã, không thay đổi chút nào . Hôm qua, tôi lại nghe tin ở Me-Van có người trốn trại và bị bắt trở về, và dĩ nhiên là bị nhốt nhà cùm . Ngày tôi còn ở trong đó, đã chứng kiến nhiều lần vượt ngục của anh em Fulrô, một lần tôi biết có 2 người bị bắn chết, 2 người bị trói đem về, và một người bị trọng thương, vết đạn xuyên hông còn chảy máu, anh được công an vũ trang võng về ngang qua chổ chúng tôi lao động .

    Về phần người Kinh, trốn thoát thì có anh Mậu, cảnh sát đặc biệt . Ở Lò Gạch thì có Đống, Trung tâm Huấn Luyện Tiểu Khu; và lần thứ 2 là Ngô, Sĩ quan Liên lạc Bộ Tư lệnh Quân Đoàn .

    Tôi cũng nghe tin, Ông Hồng và Ông Giảng đã đi "thăm lăng Bác", Tôi bùi ngùi nghĩ đến những người bạn của mình, và đặc biệt là ông Giảng . Dáng người khả ái, hơi thấp, trán cao và rộng, biểu lộ tính cương nghị và thẳng thắn, giỏi ngoại ngữ cả Anh và Pháp . Từ một Giám Thị Trường Trung học, Ông được bổ nhiệm làm Trưởng Ty Văn Hóa Giáo Dục rồi Chánh Sở học chánh .

    Trước ngày Banbmêthuột thất thủ, tôi chỉ gặp ông một vài lần, nhưng khi vào Mê Van gặp lại nhau, chúng tôi đã trở nên thân thiết, và bây giờ, tôi vẫn hình dung ra ông, mỗi buổi chiều khoác vai tôi dạo quanh sân tù, ông đã kể cho tôi nghe rất nhiều về ông, từ một Giám thị, ngạch Giáo Sư Đệ Nhất cấp, cho đến những đoạn đường thăng chức, rồi những vui buồn của đời công chức, của gia đình; Một dĩ vảng mà tôi biết đã là thủa vang son trong cuộc đời ông, mà có lẽ cho đến khi xuống chốn tuyền đài, ông vẫn không sao quên được .

    Ông cũng kể rất nhiều về cô con gái rượu tên Hằng của ông, tốt nghiệp Sư phạm năm 1973, nhưng nay đã thành "mất dạy" vì là con của Ngụỵ quyền !

    Hôm nay nghĩ tới hai người bạn này, biết tin về họ, tôi nghe như mình mất mát một điều gì, điều gì đó thật gần gủi, quen thân mà rất qúi giá . Tôi không hình dung ra được nơi hai ông đến, như không thể hình dung ra phút cuối của đời mình sẽ còn gặp lại được những ai, tôi mơ hồ nghĩ tới một nơi xa xôi nào đó: Trại Đưng, Vĩnh Phú, hay Lào Cay . . . ., Trong số ra Bắc, không hiểu họ có cùng được ở chung một trại với nhau hay phân tán người một ngã . Anh Pan Cao Tăng, Trương Ty Xã hội, Triều, Chỉ Huy Phó CSQG Quận Banmêthuột, Lê Trọng Nghĩa, Đại Úy Cảnh Sát, Trưởng Trung Tâm Phượng Hoàng, những người tôi quen đó về đâu ? Tôi cầu xin cho họ, dù ở một nơi nào, vẫn biết quên mình để chịu đựng, quên cái quanh mình bằng cách nhớ về những yêu dấu đã qua, để mà sống .

    Những buổi sáng thật buồn, buồn vời vợi như lòng tôi hôm nay, nhìn hầm đất chưa trộn, tôi đã cảm nhận như hai chân mình quá mỏi, khó mà dẫm nhuyễn được hầm đất này, tôi lại nhớ đến những ngày mưa gió ở Mê-Van, những lối mòn lầy lội, những đám Rẫy đầy cây mục và lá khô ướt sủng, những toán người lầm lũi bước âm thầm những bước nặng nề ảm đạm, mà trong lòng mang một mối thê lương khó diễn tả, trong khi tâm trí lại hoặc đang vẽ vời những mộng ước hay là chìm sâu trong dĩ vãng vàng son của những đoạn đời yêu dấu hôm qua .

    Mưa gió vẫn âm u như cảnh u tịch của núi rừng, và cõi thiên nhiên hùng vĩ ấy , càng trở nên hùng vĩ biết bao so với những tù nhân còm cỏi mà cô đơn đang vây bủa lấy không tha . Nỗi khốn quẩn của những ngày tháng này biết đến khi nào mới hết .

    Hôm nay, tôi không còn nhìn thấy dãy núi cao mù mịt hướng Ban-Don, không còn phải dẫm chân lên con đường dốc đứng như mái nhà dài hàng cây số, mà ngày hai bận, tôi leo lên rồi tuột xuống với một bao mì trên lưng . Thật không một khổ cực nào hơn khổ cực tôi đã chịu, không một nỗi đau buốt nào hơn khi đôi bàn chân không dày, đôi bôt- đờ-sô " phải vắt lên vai, đi xuyên rừng hàng trăm cây số, mà mỗi dấu chân

    đặt xuống là nguyên dấu máu một bàn chân uớt đẫm vương vải trên ngọn cỏ và lối mòn bước qua !

    Giữa bao khổ nhục đó, tâm linh lại đưa tôi về lại thủa nào mà lòng còn ôm mãi mộng vàng son, giấc mơ tiếc rằng đã không thành đạt, Tôi bổng nghe thương xót thủa sách đèn, thương tiếc những con dấu màu son, màu đỏ, son như tuổi thơ trong trắng một thủa nào, những dấu quốc huy in nét trên bao khổ giấy mạ vành của từng Nghị Định, Văn Bằng, mà nay bổng trở thành những tấm giấy vụn không chổ dung thân, thậm chí còn bị thiêu đốt như thầy mẹ tôi đã làm .

    Những sách vở ngày củ, bao còm cỏi một thời đã trở thành vô dụng, đã chỉ là một tên tù làm gạch quần quật từ sáng tới tối cho đủ chỉ tiêu!

    Tôi cố níu kéo hôm nay, nhưng cái gì đã mất, như bám víu vào rong rêu một dĩ vảng xa mờ mà biết rằng tất cả đã là kỷ niệm, đã không còn nữa, mãi mãi đi về chốn xa xăm, ở tận cõi vĩnh hằng, không thể nào Phục sinh như chúa Giêsu !

    Đời tù, những tù nhân trên non nước tôi hôm nay; Trại tù Mê-Van hay Trại Tù Thanh Hóa, trại Lao Cay hay Trại Gia Định Sàigon, . . . tất cả đều là tù nhân, với nhà tù lớn và nhà tù nhỏ; Có khác nhau chăng, là hình thức áp giải, không phải là những công an vũ trang , mà bằng những thủ tục hành chánh trá hình, Hộ khẩu thường trú, Đăng ký tạm trú, Giấy phép đi đường, . . . Và khẩu phần lương thực 9 ký một tháng cho mỗi đầu người, 3 ký gạo, 6 ký Khoai mì, hay bo bo; Không có hộ khẩu thường trú là không có lương thực; Rồi tổ dân phố, tổ phó an ninh, công an khu vực . . . thân nhân đến thăm nuôi đã kể cho chúng tôi nghe, và bằng ấy hình thức dân miền Nam có khác gì đang ở tù .

    Ngày mai hãy để cho ngày mai đến, hay ngày mai sẽ không đến bao giờ !

    Tôi tạm ngưng những dòng chữ này, vì bây giờ là mùa khô, chỉ tiêu làm gạch đã tăng lên, tôi cần phải nhắm mắt, để sáng mai đủ sức làm gạch; Vã chăng, tôi cũng phải tiết kiệm Pin, Pin bây giờ mắt lắm, đi chợ huyện mấy lần tôi cũng đã tính mua, nhưng vẫn còn ngại, thứ nhất là sợ thiếu tiền tiêu, thứ 2 là sợ xét chổ nằm mà nếu bị bắt thì nhất định không tránh khỏi biệt giam, và những trang nhật ký này sẽ mất sạch. Có ai ở tù viết nhật ký trong tù, mỗi đêm trùm mền lên, dùng đèn Pin để viết, sẽ hiểu tâm trạng của người tù, và cũng sẽ nhận được cảm giác vui thích của thời ăn vụng thức ăn mẹ dấu .

    Lò gạch đêm mùa hạ 1978

    ( hay là khu rừng Soan tôi đặt tên cho)

    ***
     
  5. tu du

    tu du Người nhà

    ***
    TẤM GIẤY RA TRẠI

    và cơ chế Hành chánh của chế độ


    I


    Khoảng thời gian mà tôi cầm Tấm Giấy Ra Trại, mọi phương tiện giao thông trên toàn Việt Nam gần như kiệt quệ, Phương tiện di chuyển từ Bắc vào Nam thịnh hành vẫn là xe đò, hoặc xe lửa, nhưng xe gì cũng phải mua chợ đen, giá tăng gấp đôi, những ngườI không tiền, phải ra bến xe xếp hàng từ 1, 2 ngày trước .


    Phương tiện di chuyển liên tỉnh chỉ có xe đò, ngày chỉ có một chuyến xe, 40 chổ, nhưng mấy bác tài xế có thể nhét thêm 10 người nữa, cộng thêm hàng hoá, xách tay, qủa là rất vất vả cho hành khách, cho nên ít ai đi lại đó đây. Hơn nữa, người dân muốn đi từ Nam ra Bắc phải xin giấy Thông Hành của Thành phố hay Tỉnh cấp, phải làm đơn xin phép trước 1 hay 2 tuần, đi lại trong phạm vi những tỉnh trong miền Nam, thì xin giấy Đi đường của cấp Quận hay Huyện. Không có Giấy đi đường, không thể mua được vé xe, không thể xin tạm trú ở nơi đến.


    Đặc biệt đối những người xin phép đi thăm tù cải tạo, những người đã từng làm việc cho chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, việc xin Giấy Thông Hành không khác gì trước năm 1975 xin đi xuất ngoại du học.


    Một đêm trước ngày tôi được tha, bạn bè đẵ dặn trước là coi chừng bị ăn cắp, nhất định phải ngủ lại ở bến xe ít nhất vài ngày, từ trại tù cải tạo tôi ra đến bến xe đã 5 giờ 30 chiều, nhìn 4 hàng người ngồi la liệt trước phòng vé đã có hơn vài trăm, tôi thầm nghĩ đến phiên tôi chắc là phải vài ba hôm sau nữa mới mong mua được vé.


    Bỏ ba-lô xuống hàng thứ 4 sau cùng, tôi ngồi xuống, có gì dơ đâu mà sợ, chiếc ba lô nhà binh, bộ quần áo tù, ai nhìn tôi cũng hiểu thân phận rồi, nhưng lạ thay, hầu như ai cũng nhìn tôi rất thân thiện, không giống như những điều tôi hàng ngày vẫn nghe cán bộ nói "không phải Đảng và nhà Nước không muốn tha các anh, mà chỉ tại các anh là những người có nợ máu, kẻ thù của nhân dân, tha các anh về, chỉ sợ chưa đến nhà, các anh đã bị nhân dân đánh chết ngoài đường".


    Một số các hành khách lớn tuổi, còn hỏi thăm tôi về đâu, có khỏe không, gia đình có biết được tha chưa . . . trong lúc tôi đang lo trả lòi các câu thăm hỏi, thì hai cô, chú Bảo vệ đến cạnh tôi hỏi:


    - Chú đi học tập được tha phải không?


    - Chú mua vé về đâu ?


    Tôi chưa kịp trả lời thì cô Bảo Vệ hỏi tôi giấy ra trại. Qủa thạt tôi có một chút lo, vì từ trong traị cải tạo, chúng tôi đã nghe danh đám công an, cán bộ 30, chuyên môn hà hiếp người, nhất là đối với những sĩ quan đi học tập cải tạo trở về. Tôi đưa tấm giấy ra trại cho cô Bảo Vệ, chừng 10 phút sau cô trở lại trả cho tôi tấm giấy ra trại và vé xe 6 giờ 30 sáng mai về Sàigòn, ghế số 2 với giá qui định. Chú Bảo vệ dặn tôi: "chú đừng lo, các cháu đã nói với tài xế xếp chổ cho chú, chú không phải trả tiền cước Ba-lô đâu, chú vào quán trọ số 5 ngủ tạm đêm nay, 6 giờ sáng, chú ra đây là được rồi, chúc mừng chú đoàn tụ với gia đình".


    Tôi cám ơn hai người bảo vệ mà lòng đầy xúc động. Những hành khách đang xếp hàng cũng chúc mừng tôi, tôi đã gặp lại tình người, tình của những người dân đối với lính.


    6 giờ 30 sáng hôm sau, xe bắt đầu lăn bánh và chạy cho đến 12 giờ trưa thì ghé vào ăn trưa ở một quán bên đường, hành khách xuống xe để ăn uống. Người tài xế ngồi lại chờ cho hành khách xuống hết, rồi xuống xe sau cùng với tôi,


    - Chừng 6 giờ hơn mình sẽ đến Sàigòn, người tài xế nói với tôi.


    - Hơn 12 tiếng đồng hồ, tôi hỏi ?


    - Vâng, đưòng xá bây giờ tệ lắm, mấy ổng đâu có sửa sang gì, chỉ là lấy của dân thôi, mai mốt về Sàigòn rồi ông sẽ thấy.


    - Xe này là của ông hay của nhà nước ?


    - Xe của tôi, nhưng nhà nước quản lý, hư hỏng thì tôi sửa, tiền là tiền lương, vì vậy

    buộc lòng chúng tôi phải lấy tiền cước hàng hoá của hành khách để tu sửa xe. Ông biết mà, để được cầm lái chiếc xe này, nói thật là tôi phải làm đơn lạy họ, mới được gia nhập Nghiệp đoàn xe khách, nếu không thì họ đã lấy mất xe rồi. Còn nhiêu chuyện lắm, bây giờ thì ai cũng biết cả, nhưng rồi làm sao. Hôm nay, chúng tôi mời ông ăn cơm trưa với chúng tôi, tôi hay là các xe khác đều cũng vậy, hễ có sĩ quan tù cải tạo về là chúng tôi mời ăn cơm ở dọc đường, ông cũng hiểu rồi, bây giờ thì chúng tôi chỉ có thể làm được như vậy đối với người mình.


    Hành khách đã xuống hết, ông và tôi vào quán, ngồi xuống một bàn đã dọn sẳn, người lơ xe đứng dậy kéo ghế cho tôi,


    - Bác ở trong đó lâu không ?


    - Cho đến hôm qua.


    - Ba cháu và anh cháu cũng chưa về.


    - Ba cậu ở đâu ?


    -Trại Ðưng, Thanh hóa.


    Lâu lắm rồi, tôi không trông thấy canh cá lóc, không nhìn thấy thịt sườn, nên bữa cơm hôm nay là bữa cơm ngon nhất trong đời tôi. Trong khi chúng tôi đang ăn thì bà chủ quán đến nói với tài xế:


    - Anh Tám này, đây là chút tình, bà vừa nói, vừa nhìn tôi.


    - Cám ơn chị Sáu, rồi ông đưa cho tôi một bao thuồc lá trong đó có 73 đồng, ông nói: "như thường lệ, là quán nào cũng vậy, xe nào cũng vậy, đều có quà cho những tù cải tạo trở về, nếu họ đi trên đường này, và bất cứ là cấp bậc gì, xin ông đừng ngại".


    Tôi đứng lên cám ơn bà chủ quán và người tài xế, nhưng không nói ra lời, một bác hành khách ngồi bàn bên cạnh quay lai vổ vai tôi như thông cảm tâm tình tôi lúc đó.


    - Đây là tâm ý của chủ xe, chủ quán và hành khách trong xe, ông đừng ngại.

    Trong khi đó một em bé bán kính đến mời chào mọi người trong quán:

    - Cháu có đủ kinh râm, kính mát, kính lão, kính cận thị, mời ông bà mua giùm.


    - Giải phóng mấy năm rồi, mắt bác đã sáng, đâu cần mang kính nữa, cả quán cùng cười. Tôi quay lại nhìn về hướng đó, một người đàn ông ngoài 50 đang nhìn em bé bán kính và cười.


    Thật là một câu khôi hài và ý vị.




    II


    Khi xe về đến Long Khánh thì dừng lại đổ nước, những người bán trái cái cây, bánh kẹo, chạy đến mời hành khách mua, những người khách chờ xe về Sàigòn cũng chen nhau bước lên xe, tôi hỏi ông tài xế:


    - Chở nhiều như vậy không sợ bị phạt sao?

    - Có gì đâu, cho nó 20 đồng là hết, tôi chở thêm 10 người, bớt đi 20 đồng của một người thì cũng còn lời chán, bây giờ xe nào cũng vậy.


    Nghe người tài xế nói, tôi chợt nhớ đến một án lệ ở nước ngoài đại ý là "Nếu những chiếc xe chỡ hành khách, chở qúa số người ấn dịnh, đã đi qua trạm kiểm soát, mà cảnh sát không ngăn chận, thì nếu bất cứ một người hành khách nào trên xe bị tổn hại, do việc chở khách vượt qúa ấn định, (số lượng khách ấn định là số ghế trang bị cố định trên xe) thì toà án sẽ truy cứu trách nhiệm cho cảnh sát, mà không phải tài xế, người tài xế chỉ bị truy cứu về trách nhiệm dân sự mà thôi". Các toà án của Việt Nam Cộng Hòa cũng trích dẫn án lệ này.


    Tôi về đến Sàigòn thì đã tối, việc đầu tiên phải làm là trình diện công an Phường, nhưng đã hết giờ, đành đi tìm công an khu vực, không gặp được công an khu vực thì tìm tổ Trưởng Dân Phố, hàng xóm của tôi đã chỉ tôi điều này.


    Sáng hôm sau tôi ra Công an phường trình diện.


    - Về hồi nào? một công an mang cấp bậc Trung úy,(sau này tôi mới biết là Trưởng Công an Phường), hỏi tôi.


    - Thưa chiều hôm qua,


    - Mày ngồi xuống, mày phải biết là nếu 2 bàn tay mày không đầy máu thì Mỹ, Ngụy không gắn cho mày cái cấp bậc đó trên vai. Đem đơn này lên Quận xin với Quận, nếu Công An quận, Quản Huấn Quận đồng ý thì mang về đây.


    Tôi lên công an Quận, công an chỉ qua Ban Quản Huấn, đến Ban quản Huấn tôi nộp giấy ra trại và đơn xin tạm trú cho người phụ trách, rồi ngồi chờ 2 tiếng đồng hồ, hết buổi sáng, tôi nghĩ.


    Một lúc sau, người nữ công an mang giấy ra trại và đơn xin tạm trú trả lại cho tôi và nói:


    - Anh phải lên Thành phố xin.


    - Xin cán bộ cho biết địa chỉ

    - Lên công an thành phố mà hỏi!


    Tôi về nhà, tìm hỏi những người bạn về trước, họ cũng chẳng rõ ràng "Tụi nó thay đổi như chong chóng, chẳng biết đâu mà mò, hãy lên thử đường Phan Thanh Giản ( Điện Biên Phủ), thôi để tôi dẫn anh đi."


    Gần hết giờ làm việc tôi mới xin được tạm trú từ


    Ban Quản Huấn Thành Phố, với lời ghi "Đồng ý cho tạm trú tại thành phố Hồ chí Minh một tháng, chờ làm thủ tục hồi hương đi Kinh Tế Mới.

    Tôi mang sự chấp thuận tạm trú một tháng của Ban Quản Huấn Thành phố về trình công an Phường:


    - Được, anh mang về nhà bảo vợ anh viết thêm vào cuối đơn thế nầy:

    "Tôi tên là . . . .

    Thường trú tai số . . .

    Đường . . . Phường . . .

    Là vợ chính của . . .

    Bằng lòng cho chồng tôi được tạm trú tại nhà của tôi một tháng và đảm bảo chấp hành nghiêm chỉnh mọi quy định của địa phương"


    Những tờ đơn xin tạm trú này tôi vẫn giữ mãi bên mình, như kỷ niệm khôi hài mà tôi đã gặp trong đời mình.




    Chỉ thị 08/1979 CỦA THÀNH - ỦY THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


    Thời gian tôi ra tù thì chỉ thị 08/1979 đã ra đời và vẫn còn hiệu lực, chỉ thị này do ông Võ văn Kiệt là bí thư Thành Ủy thời đó ký. Chỉ Thị dài 7 trang rưởi đánh máy. Nội dung của chỉ thị qui định về việc xử dụng trí thức tại chổ, ở Khoản b - mục 3.

    Trí thức tại chổ là những người tốt nghiệp từ Đại học trở lên, không phải do hệ thống Xã hội Chủ Nghĩa đào tạo, mà tốt nghiệp từ các nước Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, hoặc các đại học tại miền Nam . . . và các nước khác trong khối tư bản chủ nghĩa.


    Khác biệt với trí thức xã hội chủ nghĩa là những thành phần tốt nghiệp ở các đại học miền Bắc hay tại các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa.


    Căn cứ vào Chỉ thị 08, những sĩ quan đi tù cải tạo trở về, nếu tốt nghiệp đại học, phải đến số 43 Nguyễn Thông, Quận 3, (Hội Trí Thức Yêu Nước) để khai báo. (Hội Trí thức yêu nước nằm trong Mặt trận tổ quốc, là một bộ phận của Đảng), để được bố trí việc làm mà không thuộc diện đi Kinh Tế Mới.


    Cái khôi hài là muốn xin việc làm ở đâu, cơ quan nào trong thành phố cũng phải có Lý Lịch được công an phường nơi cư trú chứng nhận.

    Nhưng muốn được công an chứng nhận Lý Lịch, lại phải có Hộ Khẩu thường trú. Vì vậy, khi tôi mang lý lịch ra công an phường xin chứng nhận, công an hỏi tôi:


    - Hộ Khẩu thường trú đâu.

    - Tôi học tập về.

    - Chúng tôi không chứng nhận lý lịch cho những người không có Hộ Khẩu thường trú tại Thành phố.


    Tôi mang lý lịch về nhà, Tổ trưởng Dân Phố bảo tôi mang ra Ủy Ban Phường cho ông Thọ là Phó Chủ Tịch An Ninh Phường. Ông Thọ không cần đọc lý lịch của tôi, ông chỉ ghi:


    "Đương sự có xin tạm trú tại địa phương".


    Tôi mang lý lịch đến Hội trí thức yêu nước nạp cho người phụ trách. Một tuần sau, công an phường gọi tôi lên, Trưởng công an hỏi tôi:


    - Anh biết ở đây ai quản lý người không, tôi hay anh Thọ ?


    Tôi im lặng vì chưa hiểu được sự việc, Trưởng công an lôi trong học bàn ra tờ lý lịch của tôi rồi chỉ con dấu của Ủy Ban Nhân dân phường và chữ ký của ông Nguyễn Thọ.

    - "Tôi muốn nhắc nhở anh, tôi mới là người quản lý các anh, Ủy Ban Phường không có quyền gì", và trả cho tôi tờ lý lịch có chứng nhận của công an phường:


    "Đương sự là sĩ quan ngụy học tập cải tạo được tha về tại địa phương thuộc diện phải đi Kinh Tế Mới, đang chờ địa phương sắp xếp".


    Thật đúng như câu khôi hài mà cô Thư Ký


    Phường nói với tôi:


    - "Công an là quan, Ủy Ban là lính !"

    Thật là khôi hài !

    Nhìn sự việc, qủa thực, công an có quyền hành rất lớn, vì công an là công cụ bảo vệ và phục vụ chế độ. Tuy nhiên, cơ cấu chính quyền của Cộng

    sản là một mô thức đặc biệt chuyên chế, mà trong đó, không hề có sự phân ranh giữa các cơ quan Lập pháp (Quốc hội), Hành pháp (Hội đồng chính phủ tức là Thủ tướng và nội các của Thủ tướng, các bộ trưởng) và Tư pháp (Tòa án).


    Từ Phường (Xã), Quận (Huyện), Thành phố, Tỉnh, lên đến Trung ương, tuân hành 2 hệ thống: chính quyền và đảng. Nhưng lại chấp hành một chỉ thị, đó là chỉ thị của Đảng.


    Tại Phường (Xã), có đảng bộ Phường, cầm đầu là Bí thư, chỉ thị cho Ủy Ban phường thi hành mọi đường lối chính sách.


    Tại Quận (Huyện), có dảng ủy Quận, huyện, có bí thư, phó bí thư, ban thường vụ, ra lệnh cho ủy ban Quận (Huyện) và công an.


    Cũng mô thức đó, tại Tỉnh hay Thành phố, cũng rập khuôn như vậy.


    Tại Trung ương, có Tổng bí thư, Ban bí thư Trung ương dảng, chỉ thị cho chủ tịch

    nước, hội dồng chính phủ.


    Cái tệ hại là, một người vừa có thể là chánh án, lại vừa là chủ tịch hay phó chủ tịch ủy ban, hoặc là viện trưởng hay phó viện trưởng viện kiểm sát nhân dân,cũng là đại diện dân cử như quốc hôi, hội đồng nhân dân các cấp, đương nhiệm. cho nên họ có thể tùy nghi dùng quyền hành ở bất cứ chức vụ nào mà họ đang mang trên người.


    Vì vậy trong hệ thống xã hội mà Việt Nam đang áp dụng, không hề có sự độc lập giữa Lập Pháp, Hành pháp, hay Tư pháp. Và đảng là tập thể đứng trên luật pháp, ngoài luật pháp và chỉ thị cho luật pháp thi hành theo ý của đảng! Đảng không những nắm vận của mệnh quốc gia, mà còn nắm luôn sinh mạng của từng người dân trong nước.


    Điều này hoàn toàn khác biệt với cơ chế của Việt Nam Cộng Hòa. Luật Pháp VNCH minh thị sự đoc lập tuyệt đối giữa Lập pháp, Hành pháp và tư Pháp. Một Tỉnh Trường, một chánh án, nếu đắc cử vào chức vụ dân cử, đương nhiên phải từ nhiệm chức vụ củ, nếu là quân nhân, đương nhiên phải giải ngũ. Và đặc biệt là không ai có quyền xen vào công việc xét xử của Tòa án.


    Ngày thứ 21 trong thời hạn 30 ngày tạm trú, tôi nhận được giấy "Yêu cầu trình diện nhận việc" của Bộ Đại Học và Trung học chuyên nghiệp, đặt tại số 35 đường Lê Thánh Tôn, Quận I Sài gòn (TP Hồ chí Minh).


    Làm việc và sinh hoạt trong chế độ, tôi càng thấy rõ chế độ hơn: Hối lộ và tham nhũng, quan liêu và bè phái. Muốn làm chiến sĩ thi đua, đạt tiêu chuẩn tiên tiến trong bình bầu A, B, C mỗi nửa năm ư, đâu cần chăm chỉ, đâu cần tài ba, chỉ cần qùa cáp cho thủ trưởng là đủ rồi.


    Mỗi đơn vị, tất cả mọi đơn vị trong cơ chế xã hội chủ nghĩa đều giống nhau, trên đội, dưới đạp. Trí thức tại chổ chỉ có làm việc, không có tiêu chuẩn chế độ, không được đòi hỏi, đề nghị hoặc yêu cầu. Nhưng có một điều không phân ranh trí thức tại chổ hay trí thức xã hội chủ nghĩa, đó là "vàng".


    Bạn muốn có hộ khẩu tại thành phố ư ? 4 đến 5 lượng vàng là xong (1 lượng vàng tương đương 1 ounce) - Muốn vượt biên, đi chui, 3 lượng/1 người, đi bán chính thức 7 lượng /người - Bị công an bắt, chẳng có gì phải lo, có vàng là xong mọi việc.


    Xã hội của xã hội chủ nghĩa như thế đó, nhưng báo chí không bao giờ dám nói đến nửa lời, vì báo Thanh Niên ư? Chủ nhiệm chủ bút là Bí thư thành đoàn, Báo Saìgòn Giải phóng là của Ban Tuyên huấn, Báo công an là của công an, báo Tuổi Trẻ cũng là Đoàn Thanh Niên Cộng sản thành phố Hồ chí Minh . . .


    Bổng nhiên tôi lại nhớ Ông Trần Hữu Thanh và nhóm ký gỉa đòi tự do báo chí của những năm 1973, 1974. Không hiểu bây giờ ông Trần hưũ

    Thanh ở đâu? Nhóm ký gỉa của năm 1974, 1975 đâu, sao không xuống đường tuyệt thực và đi ăn mày để phản đối nữa? Thật là qủa báo, ngày hôm nay mấy ông ký gỉa đó chăc đang tuyệt thực và đi ăn mày thực sự rồi!


    Tiếc thay, phải chi chế độ Cộng Hòa ở miền Nam có được một chút độc tài, một tý hạn chế tự do dân chủ, thì có lẽ Miền Nam chưa đến nỗi chết yểu ở cái độ tuổi chưa thành niên. Và 26 triệu dân miền Nam không lâm cái cảnh này, hàng trăm ngàn người không phải bỏ thây trên biển, hàng chục ngàn thanh thiếu nử và phụ nữ

    không lâm cảnh bị hãm hiếp rồi vất xuống biển sâu.


    Mỗi chiều sau giờ làm việc, tôi vẫn tìm theo con đường Nguyễn Du, vòng qua Huyền Trân Công Chúa, rồi theo đường Hồng Thập Tự để ngược trở về. Nhìn khu vườn Dinh Độc Lập, tôi thật không sao nén được cảm xúc trong lòng:


    . . . . …………………………………………….


    Vườn xưa tràn ngập vàng rơi

    Bao nhiêu lá chết đổi dời thời gian

    Tôi hôn âu yếm cánh vàng

    Nghe như dao cắt bàng hoàng xót đau!


    ……………………………………………….. “



    Mùa Thu của Sài gòn thật ra không có mấy thay đổi so với miền Cao Nguyên đất đỏ như Pleiku hay Banmêthuột, rừng lá thay vàng, cỏ úa báo mùa sang. Và cho đến bây giờ tôi thật vẫn không sao quên được những nơi này, nơi đã cho tôi biết bao vui buồn đời lính, bao máu xương của đồng đội hay là bản thân tôi đã đổ ra. Và tất cả đó, mỗi khi nhớ lại, vẫn còn mãi mãi là một nỗi sầu lãn quất trong lòng tôi .


    ***
     
  6. tu du

    tu du Người nhà

    ***

    KHÁCH TRỌ

    *

    Nếu phải đời là một quán trọ, mà chúng ta chỉ là những lữ khách dừng chân trong thoáng chốc rồi lại tiếp tục cuộc hành trình, thì quả thật rất đúng đối với tôi trong khoảng thời gian này. Tôi đang làm khách trọ trong căn nhà cuả mình với vợ và hai con, và rồi có thể phải ra đi không biết được lúc nào, tương tự như trước đây hàng trăm ngàn viên chức chính phủ và Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã ra đi sau 30 tháng 4, 1975.

    Ngày tôi cầm tờ Giấy Ra Trại về trình diện Công an Phường nơi tôi cư ngụ, tôi đã cảm nhận được điều này: tôi không phải là một công dân cuả nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ( XHCN= Xạo Hết Chổ Nói ) , nên Phường không tiếp nhận tôi. Họ bảo tôi lên Ban Quản huấn Quận, và Quận lại yêu cầu tôi lên xin phép Ban quản huấn Thành phố. Tôi lên Ban quản huấn thành phố và xin được phép tạm trú tại nhà mình với lời ghi trên đơn xin : ‘’ Cho phép tạm trú tại thành phố một tháng NẾU ĐỊA PHƯƠNG ĐỒNG Ý " văn thức này đầy máy móc và ngây ngô đến khó tưởng tượng được trình độ của hệ thống hành chánh trong chế độ ‘’xạo hết chổ nói ‘’, tôi thực sự biết mình đã mất nước, dù tôi vẫn là người Việt nam !

    Cuộc sống của tôi quả thật rất nặng nề và cơ cực. Lương tháng của vợ tôi chỉ có 55 đồng một tháng, chỉ đủ mua 10 ký gạo giá thị trường. Nhà nước bán cho dân mỗi tháng một người được mua 3 ký gạo và 6 ký màu ( bột mì, hoặc mì sợi, hay bo bo). Giá tiêu chuẩn là 4 đến 5 hào tuỳ từng tháng .

    Khẩu phần cuả gia đình tôi không đủ, vì chỉ có 3 nhân khẩu: vợ và 2 con, tôi là người tạm trú, không có tiêu chuẩn lương thực ! Với hoàn cảnh đó, tôi phải chạy xin việc làm, nhưng xin ở đâu (?) tất cả mọi thứ trên đời này đều do nhà nước quản lý. Tuy vậy, tôi vẫn cam tâm và kiên nhẫn đi xin rất nhiều cơ quan, công ty, và bất cứ ở đâu, câu họ noí với tôi vẫn là : ông thường trú ở đâu (?), Ông có mang lý lịch theo không (?) .

    Muốn xin được việc làm là phải có lý lịch được công an Phường chứng nhận có thường trú tại địa phương.

    Muốn được công an Phường chứng nhận lý lịch có thường trú tại địa phương là phải có hộ khẩu thường trú tại thành phố!

    Muốn có hộ khẩu thường trú, phải có việc làm

    Muốn có việc làm, phải có hộ khẩu thường trú!

    ‘’ Thật là GIẢN ĐƠN, TÔI ĐÃ PHÁT HIỆN !‘’

    Và rồi việc làm của tôi là ở nhà, tìm tòi, phát minh và sáng tạo phương án nấu bột mì hoặc mì sợi trộn rau muống, sao cho đảm bảo ngon, tốt , ít hao nước, tiết kiệm củi , đạt chỉ tiêu vợ và con tôi đề ra ! rồi rửa chén, và quét dọn nhà cửa .

    Nhưng cay nghiệt làm sao, khó khăn ngày càng chồng chất thêm, giá sinh hoạt mỗi ngày một tăng ( theo định hướng xã hội chủ nghĩa !) ,

    - Gạo từ 6đ/1 ký, đã vọt lên đến 12đ/ ký -

    - Củ mì, bắp = 5đ/ ký

    ( chỉ có lương là đảm bảo không tăng ! ).

    Tôi chứng kiến một chị đi chợ, đứng trước rổ khoai mì đã hỏi người bán: ‘’ khoai mì này có nở không bà (?) ‘’

    Ai cũng thế, đi chợ mua thực phẩm chỉ hỏi có một việc là có nở hay không, nở để về đủ chia cho các con đứa thêm vài miếng ăn. Thực là cảm động rơi nước mắt, dân miền Nam thật là cám ơn cách mạng đã giải phóng !

    Ở nhà rửa chén mãi rồi một hôm, nhà tôi tình cờ gặp được bà bạn học ngày cũ, có bố chồng là liệt sĩ cách mạng, nên ông chồng của bà vẫn còn làm việc trong xí nghiệp Dược Phẩm 26 ở đường Võ Tánh, chồng bà nguyên là Dược tá viên ngày trước , và ông ta đã làm đơn bảo lảnh xin cho tôi vào làm việc trong Xí nghiệp Dược phẩm 26 , lương công nhật 2đ/ngày, không có tiêu chuẩn lương thực và nhu yếu phẩm (đường, nước mắm, 500gr thịt mỗi tháng ) .

    Tại đây tôi được gặp lại những con người miền Nam thực sự, với mọi thành phần, trí thức và lao động, sang và hèn. Chúng tôi cư xử với nhau chân thật, không nghi kỵ và rất thân ái . Những khuôn mặt, nụ cười mà tôi biết mình khó quên được như Cô Biền, thủ kho của Xí Nghiệp . Anh Tư, trưởng toán điều chế và xét nghiệm. Tống nữ minh Phú, Kim Anh , ( Kế Toán ) . Thuý Hồng, Nga, Hoa, Yến . . . của tổ điều chế .

    Công việc hằng ngày của tôi là rửa chai, lọ . Những gỉo can-xế đựng chai rất nặng, và ngày nào cũng thế, mấy nam công nhân trẻ bốc giở giùm tôi. Tôi thật cảm động trước những tấm tình đó, những người mà trong đời chắc gì tôi còn diễm phúc gặp lại lần thứ hai .

    Nhưng tình trạng công nhật thật bấp bênh, hễ hết công việc là công nhật nghĩ làm, một tháng có khi tôi phải nghĩ đến vài tuần . Và đặc biệt là , cứ hàng tháng tôi lại phải vác đơn lên công an xin tạm trú, và bao giờ câu cho phép vẫn là ‘’ dồng ý cho tạm trú thêm một tháng chờ sắp xếp đi vùng Kinh Tế Mới ‘’ trong khi đó, công an khu vực cứ thường xuyên ghé nhà hối thúc tôi đi Kinh Tế Mới .

    Tôi làm việc cho Xí Nghiệp Dược Phẩm được khoảng hai tuần thì phải thôi việc, vì xí nghiệp không còn nhu cầu. Tôi lại ở nhà tiếp tục sự nghiệp rửa chén quét nhà, sáng tạo nấu cháo bột mì với rau muống hay mì sợi 5 món cho vợ con tôi ! hai con tôi hình như không muốn tôi đi làm, vì có tôi ở nhà, chúng có thức ăn ngon, không lo gặp bài vở khó. Nhưng qủa thật cuộc sống đầy không khí khủng bố và đe dọa. Cứ mổi sáng sớm anh công an khu vực dạo qua trước cửa nhà tôi nhìn trước nhìn sau rồi gỏ cửa: " Anh đã xin việc làm chưa, anh có chọn điểm Kinh tế mới nào chưa , anh có gì cần địa phương giúp đỡ không . . . "

    Tôi nghe đâu đó tin đồn là ở Quận 10, ban đêm công an đã vào nhà bắt đi một số Sĩ quan học tập cải tạo vừa được tha về đem đi học tập trở lại vì họ không chiụ đi Kinh tế mới . Nhà tôi đã rất lo lắng về tin này và gởi tôi đi “tá túc chính trị ‘’ về đêm. Cảnh ngủ đường ngủ chợ trở nên quen thuộc với tôi , có những đêm tui chui vào dưới 4 bánh xe vận tải để ngủ, hoặc chen chúc ở những bến xe, nơi không bị kiểm tra hộ khẩu, và nghề ‘’ xếp hàng bán chổ cho khách ‘’ trở nên nghề tay trái cuả tôi ở một số bến xe .

    Tư tưởng nhà tù lớn và nhà tù nhỏ đã đến trong cuộc sống thực tế với con người hôm nay trên xã hội miền nam, mà cụ thể là những con người có dính dáng đến chế độ Việt Nam Cộng Hoà. Những người ấy, những gia đình ấy là nạn nhân của mọi bất công, trù dập, của khủng bố và đe dọa. Bên tai tôi luôn luôn văng vẳng câu nói của người trưởng công an Phường :‘’nếu hai bàn tay mày không đầy máu thì Mỹ Ngụy không gắn cho mày cái cấp bậc ấy trên vai ‘’.

    Cuộc sống của những con người như chúng tôi thật không có một chút gì bảo đảm, không có được một mảy may phản ứng dù chỉ là tự vệ, và có thể chỉ vài ba phút nữa, người ta sẽ tới bắt đi mà không được quyền biết vì lý do gì .

    AK là luật pháp, và công an là công lý!

    Những người đi học tập cải tạo về và cả bản thân tôi, luôn luôn sống trong nỗi bàng hoàng và kinh mang như những ngày đầu Banmêthuột rơi vào tay cộng quân.

    Thời gian này, tin tức về những chuyến vượt biển được truyền bá rất nhanh, tôi nghe vô số những câu chuyện về vượt biên , những trại tiếp cư ở Mã Lai, Hồng Kong, Thaí Lan, Phi Luật Tân, Úc Đại Lợi . . . , và xôn xao đâu đó những căn nhà vắng chủ được công an tới niêm phong. Càng nghe càng xót xa và tâm hồn như nổi gai. Có lẽ không phải chỉ có tôi, mà là tất cả mọi người, không một ai thích vượt biên, đem sinh mạng cuả mình ra đuà cợt với biển cả, hay là đành tâm bỏ lại vợ con, cha mẹ, tài sản, nhà cửa mà đã bao đời từ ông, cha gầy dựng nên, bao nhiêu kỷ niệm, từ ấu thơ cho đến trưởng thành . . . để ra đi mà phần chết cầm chắc hơn là sự sống. Hằng đêm tôi vẫn lén nghe đài VOA và BBC loan đi những bản tin về người tỵ nạn, cảnh hãm hiếp, hải tặc, chết đói, chết khát . . . mất tích, rất thương tâm . Sàigòn bây giờ vẫn còn truyền khẩu câu nói của ông Ngô công Đức về xếp loại trí thức : "3 G và 3 N ". ức 3 G là: Giàu - Gan - Giỏi .

    - Và trí thức 3 N là: Nghèo - Ngu - và Nhát .

    Tháng 10 năm 1982, tôi có dịp xuống Rạch Gía thăm một người dì bên vợ, tại đây tôi gẳp được một người bạn lính phe ta. Một buổi sáng Chủ nhật , hai chúng tôi ra ngồi ở bến tàu, trước Toà Hành Chánh ngày cũ . Nhìn những con tàu bằng gỗ dài khoảng 8 mét hay 12 mét bị nhồi theo nhịp sóng vỗ, như nút chai, tôi liên tưởng tới những câu chuyện vượt biển bằng thuyền mà nhiều người đã đi , lòng tôi bổng nhiên se lại, và nỗi hãi hùng không biết từ đâu đã kéo đến tràn ngập hồn tôi .

    Chỉ có 60% những người ra đi đến được bến bờ bình yên. Tôi mường tượng ra cảnh con tàu bị sóng nhận chìm trên biển, những bàn tay đưa lên, hay là những tiếng thét của trẻ con, phụ nữ, cụ già . . . không kịp kêu cứu trước khi chìm sâu vào lòng đại dương. Và rồi chồng, con, cha, mẹ, mở to con ngươi nhìn cảnh vợ, con, mẹ . . . mình bị hải tặc cưỡng hiếp . . .

    Tôi băn khoăn tự hỏi: Tại sao người ta lại có thể mạo hiểm với sinh mạng của chính mình (?), sự đe dọa nào khủng khiếp hơn cái chết (?), hơn cả thảm trạng bị hãm hiếp cho đến chết hay hãm hiếp rồi lvất xuống biển như một số các bản tin của những đài phát thanh mà tôi nghe được (?).

    Có phải những người bỏ ra đi đã hiểu rằng thảm họa mà họ sẽ phải chịu trên non nước này còn thê thảm và khủng khiếp hơn là cảnh bị hãm hiếp và cái chết chìm lỉm ngộp thở trên biển cả mênh mong . . .

    ‘’ Cột đèn của Sàigòn nếu biết đi cũng đã đi ‘’ câu nói của nhà nghệ sĩ tài danh này được đài VOA loan đi trong chương trình 8 giờ 30 tối hôm nào như còn vang vọng trong tôi . Và có lẽ đó là sự diễn đạt mạnh mẽ nhất, chân thật nhất để trả lời câu hỏi tại sao trong lòng tôi .

    Cuộc sống của xã hội miền Nam mà tôi đang sống đã xuống đến tận cùng, bột mì nấu cháo trộn với rau muống vẫn không có đủ để ăn no, bo bo nấu cháo vẫn chỉ để cầm hơi, các chợ không có đủ để bán, và dân miền Nam không có tiền để mua.

    Hãy tưởng tượng , một gia đình 5 người, chỉ có một lao động là công nhân, lương 45 đến 55 đồng một tháng, làm sao đủ tiền mua thực phẩm, và dân Saìgon từ từ đem bán các đồ gia dụng . . . " aó , quần đã sắm từ trước , đồng hồ, hộp quẹt zipo, mùng mền, soong chảo . . ."nghĩa là từ những cái nhỏ nhất cho đến những món to nhất có trong nhà đều đem ra bán . Một cái áo ngày xưa may vài ba trăm bạc, nay có thể bán 5, 10 ngàn và khách mua là những bộ đội, đảng viên, những người dân Bắc có quyền thế. ( Rác cuả miền nam là vàng của miền Bắc qủa thật không sai ! ).

    Trong một lần khác xuống miền Tây, tôi chứng kiến những người buôn chuyền, dấu 5 ký gạo, 20 hột vịt, vài lít mỡ i rác trên mui xe, dưới lườn xe để đem về Sàigon bán lại, bị nhân viên thuế vụ xét bắt dọc đường. Có người chỉ mất vài chục hột vịt nhưng đã khóc sướt mướt vì vốn liếng của họ chỉ có thế! Người ta có thể mang gạo, mỡ , bột mì . . . đi liên tỉnh , nhưng phải xin phép ty lương thực của Tỉnh, hay Quận, Huyện , và không được phép qúa 5 ký lô .

    Buôn bán đã chết, tất cả đều do nhà nước quản lý.

    Những hãng xe đò của tư nhân trước đây nay đã sang tên thành: Công Ty xe Khách miền Tây, Thành Phố . . . hoặc là Công Tư Hợp Doanh, mà dân miền Nam dịch là: "Của Tôi Họ Dành” , ngoại trừ chợ trời quần áo cũ, và những người buôn thúng bán mủng, bán chui ở các chợ. Tuy nhiên, dù là ở tỉnh hay tại Sài gòn, chợ trời quần áo cũ vẫn là nghề tương đối còn sống được. và nhộn nhịp nhất là khu chợ củ Huỳnh Thúc Kháng, Khu chợ Hàm Nghi, Khu nhà lòng chợ Sài Gòn.

    Giữa những thảm trạng đó của xã hội, dân miền Nam còn gánh thêm gánh nặng ‘gia đình cách mạng’’ vô cùng nặng nề. Gia đình có công với cách mạng, gia dình liệt sĩ, thương binh, gia đình chính sách . . .

    Tuyển dụng công nhân, thi tuyển đại học hay Trường chuyên nghiệp, xin cho con theo học Mẫu Giáo, Mầm Non, cấp 1, 2 , 3 . . . đều ưu tiên cho gia đình cách mạng trước.

    Dân lao động miền Nam (không dính dáng gì tới chế độ cũ ) là ưu tiên 5, còn gia đình con em của viên chức chế độ cũ , con sĩ quan học tập cải tạo đều không thuộc diện chính sách, nghĩa là chính quyền cách mạng không cần quan tâm! Chế độ không cần nhân tài, chỉ cần trung thành, chế độ không quan tâm trật tự xã hội và công lý, chế độ chỉ thi hành chính sách đền ơn cho những người có công với cách mạng trước đây

    Sinh hoạt của người Sàigon và đám tù cải tạo là vậy, nhưng còn bộ mặt Saigon - Chợ Lớn Gia Định thì sao ?

    Nếu có ai trong chúng ta có dịp vào thăm Khu Dân Sinh, đối diện với Cảnh Sát Quân Nhì, ở khu Yersin vào những năm 1956-1959, hay là đầu thập niên 1960, chắc hẳn còn nhớ nhừng sạp áo quần, đồ lạp soong, tủ bàn . . . bày bán trong khu chợ này. Một cách nói khác, nếu có ai đi ngang Khu chợ cá nổi tiếng Trần Quốc Toản, mà trong lòng mang những cảm giác và ý nghĩ gì, thì Sàigon, Chợ Lớn, Gia Định, ngày hôm nay còn bê bối hơn 10 lần, còn bệ rạc hơn cả bãi rác chợ Trần Quốc Toản rất nhiều .

    Viết như vậy, khách ngoại quốc hay những người bỏ Sài gòn ra đi vào năm 1975 sẽ không thể nào tin được, và sẽ kết án là tôi đang bôi nhọ "Hòn Ngọc Viễn Đông" một thời của ho. Thôi thì xin mời qúi vị hãy về Khu cư xá Thanh Đa, nơi được coi là có tổ chức nhất, vì nơi đó, hầu hết là dân Sài gon, nhưng những ngôi nhà nào do cán búa miền Bắc , thì sẽ được trang hoàng bằng nhừng dây phơi quần lót, áo thun bộ đội, áo lót đàn bà, đầy đủ màu sắc rực rỡ, phất phới trên các lan can hành lang, mà bộ hành hay khách nhàn du nhìn lên, vẫn cứ ngỡ là những rẫy bắp hay rẫy lúa đang độ thu hoạch của nhừng người Thượng vùng Pleiku, Banmêthuột, Phú Bổn, vì những khu rẫy đó, cũng được chăng đầy dây với những mảnh giấy, vải, đủ màu sắc, dán đầy lên các sợi dây để khi gió lên , gấy bay phất phơ nghe xào xạc đuổi đi chim muông hay khỉ, vượn tới tàn phá bắp lúa và hoa màu, có khắc chăng là ở hành lang của những căn nhà này, còn chứa thêm những đóng củi khô và những bao thức ăn của heo, bóc mùi thum thủm bay bàng bạc khắp một vùng, mà dân SaiGòn gọi là "hương cán búa"

    Có ai ghé thăm khu Cư Xá Ngân Hàng Kỷ Nghệ, (Hay thương mại Kỷ nghệ ?) ở đường Phan Chu Trinh, sau lưng toà Sơ Thẩm Gia Định, nay là Uỷ Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh, thì sẽ thấy thảm hoạ của Khu cư xá sang trọng này, Khu Cư xá mà hàng hiên các từng lầu hay trệt đều lót đá hoa màu xám bóng, có bồn trồng hoa và cây kiểng ở mỗi hàng hiên, của mỗi căn nhà trong khu cư xá 4 từng lầu này, và mỗi nhà đều có chổ đậu xe hơi riêng biệt trong một khu nhà xe chung, có cổng sắt cửa lớn cho xe hơi và cổng phụ cho người . Các trang bị nhà tắm, bồn cầu đều tự động , bằng men sứ, phòng tắm và tường phòng tắm đều lót gách men, bông, rất sang trọng mà nguyên liệu đều nhập cảng từ Nhật, Tất cả cửa sổ, cửa chính đều 2 lớp, kính và song sắc, lầu đúc bê-tong . Thế nhưng khi cán bộ chiếm dụng rồi, gạch lót hàng hiên bị gở, nhà xe bị tháo mái lấy tôn, các bồn bông và cây kiểng bị lấp đầy đất . Khu dất trồng cây che mát ở hong nhà khỏang 300 mét vuông được phá hủy để xây chuồng heo, cho các gia đình cán bộ nuôi heo cải thiện .

    Nhà tắm của các từng lầu đều dùng để nuôi heo, và tất cả các từng lầu ở phòng tắm đều bị thấm nước phân heo, các đường ống bị tắc nghẽn vì phân heo ứ động không thoát nước .
    Khu cư xá sang trọng biến thành một chuồng heo cao cấp, ai ngang qua cũng ngửi mùi phân heo, lại cứ tưởng là mùi từ xóm Lò Heo bay ra !

    Hãy đến khu cư xá Nguyễn Kim, Khu cư xá Lữ Gia . . . tất các các chung cư đều chung số phận .

    Ai đi ngang qua dãy nhà cao tầng ở đường Phan Thanh Giản, khu Đa Kao, mà ngày đó quen gọi là "nhà 11 tầng"ngửa mặt nhìn lên các tầng lầu, cũng đều thấy quần lót áo lót phơi đầy trên các lan can của các từng lầu, đầy đủ màu sắc phất phơ như bướm .

    Ngay trung tâm Sài gòn, khu Lê Lợi, Tự Do, Hàm Nghi, Cửa Bắc, cửa Tây khu nhà lồng Sài gòn, . . . đâu đâu trên các lan can tầng lầu cũng phơi đầy quần áo lót !
    Hòn Ngọc Viễn Đông đã tàn rồi, cũng ví như :

    " . . . Tiếc thay cây quế giữa rừng . . . "

    Hay là “ tiếc cho một đoá hồng nhung, lại trồng trên một đóng phân trâu” mà các cụ ngày xưa quen ví von .

    Câu nói đâu môi của những cán bộ quản giáo và Giám thị trại giam quen nói là "Mỹ Nguỵ cút rồi còn để lại những tàn dư của tệ nạn xã hội tại miền Nam"

    Ngày trước, những lần về phép, hay những kỳ nghĩ phép dài hạn của các kỳ thi đại học, tôi có rất nhiều thời gian cùng đi hoang với bạn bè thâu đêm, nhưng không thấy cái náo loạn của Sàigon về đêm, ngoại trừ ở những vũ trường mà chúng tôi đến, nhưng không khí của vũ trường là nhộn nhịp, mà cũng không phải là náo loạn như đường đêm Sàigon bây giờ, đầy dẫy và đâu đâu cũng bắt gặp những người đẹp ăn sương, từ trung tâm Saigòn như Nguyễn Huệ, Tự Do, Hàm Nghi, cho đến Khu Nguyễn văn Học Gia Định, Thanh Đa, Chợ Lớn . . . khắp mọi nơi . . .

    Có phải chăng Mỹ Nguỵ dù đã đi 9, 10 năm rồi, mà vẫn còn gởi cái tàn dư này về cho các cán bộ cộng sản hưởng dụng hay không, hay là chính các cán bộ đã vận dụng và sáng tạo ra môi trường và hoàn cảnh cho thích nghi với dục vọng của chính họ !

    Lối ăn chơi của đám cán bộ thật tàn bạo, và người dân Saigòn thì đành chịu câm và chịu đựng .

    Khu chợ trời ở đường Nguyễn Thông, ở ga Hoà Hưng, cũng nhộn nhịp không thua gì chợ trời Huỳnh Thúc Kháng - Hàm Nghi, chợ Nguyễn Thông còn là đặc sản của Thuốc tây, ai cần nước biển, kháng sinh, trụ sinh nhập cảng đều phải đến Nguyễn Thông . Ai muốn uống rượu ngoại, bia lon ngoại quốc, cũng phải đến Nguyễn Thông .

    Lương một người giảng dạy tại đại học là 94 đồng đến 112 đồng một tháng, lương một thầy giáo cấp 3 là 60 đồng đến 84 đồng, lương một cô giáo dạy cấp 1 là 55 đông , lương của một công nhân là 65 đồng đến 75 đông, thì ở chợ Nguyễn Thông, cán bộ, bộ đội tới đặt mua ( đặt mua vì hàng không có đủ để cung cấp) một chai Hennessy là 180 ngàn đến 250 ngàn, một thùng bia lon của Nhật là 200 ngàn .

    Than ôi, dân Sàigon đã không còn nước mắt, các cụ già khi buồn vẫn tâm tình với đám tù cải tạo, vì chỉ có đám này các cụ mới tin . " Ông ơi, trời cho con đĩ đi dày, ông quan đi đất, ăn mày đi ô"

    Và thực ra thái độ sống của đám cai trị đối với dân Sàigon bị trị đã trở thành bức tường ngăn cách ngày càng xa và càng cao. Nhìn một chú bộ đội đến chọn mua quần cũ ở một sạp hàng ở chợ Huỳnh Thúc Kháng, cô bán hàng đon đả mời:


    - " Này chúi bộ đội, chú lấy cái này đi, cái này tốt lắm, chồng em chỉ mới mặc vài lần thôi " .

    Chú bộ đội đi rồi, cô quay sang người khách miền Nam " đúng là cán búa, dân Sài gòn bỏ đi tụi nó mới mua được đem về làm của"

    Ngoài chợ trời, Saigon bây giờ từ hang cùng ngõ hẻm, lại mọc lên những quán nhậu ở vỉa hè và lề đường, từ Cầy tơ, nai đồng quê, quán nhậu với Đế Gò công, Đế Gò Đen, Đế Quốc Doanh . . . Rồi chè ba màu, chè bảy màu . . . đâu đâu cũng có .

    Có phải vì dân Sàigon đã thiếu dinh dưỡng trầm trọng nên cơ thể bù đắp bằng chất ngọt hay không tôi không hiểu, nhưng những quán chè lề đường, hay chè gánh đã trở thành một ngành buôn bán kiếm ăn .

    Cuối năm 1983, tôi có dịp đến thăm một gia đình người quen trong cư xá Ngân Hàng ở đường Phan Chu Trinh . Ông cụ bị bệnh nặng, người con lớn mất tích trong chiến trận, con thứ hai đi tù cải tạo chưa về, con thứ ba trốn ra ngoại quốc năm 1978, nhà chỉ còn một cô con gái và một cậu con trai đang học cấp 3, tôi đến thăm thì ông cụ đã đi rồi, nhìn di ảnh của cụ, tôi lại nhớ thủa nào, khi các con cụ thành đạt, lúc gia đình còn đầm ấm sung túc, một gia đình trung lưu với một đời sống công chức ngạch A, lương không dư nhưng không thể nào thiếu, mà bây giờ chỉ còn là cái vỏ bên ngoài, mà nét tôn nghiêm ngày nào đã không còn nữa !

    Bệnh họan trong giai đoạn này là một đại bất hạnh (!) , thuốc không đủ hay không có, bác sĩ các bệnh viện thì đám học tập cải tạo không được tin dùng, đám tốt nghiệp “chính quy” của Hà nội thì chữ Asperin còn không biết viết lấy đâu kinh nghiệm đế điều trị, gia đình không tin tưởng nên cứ để ông cụ nằm nhà, và nhờ một vị bác sĩ tu nghiệp từ Tiệp Khắc trở về ở cùng cư xá coi mạch hộ, ông ta bảo cần thuốc gì thì gia đình ra chợ trời tìm kiếm, nhưng ông cụ bị bệnh phổi qúa nặng, đành phải ra đi, dầu là gia đình còn những thứ gì có thể bán đều đã bán hết để lo cho cụ .

    Bà cụ kế lại cho tôi rằng, một ngày trước khi ông cụ ra đi, bà hỏi ông muốn ăn gì, thèm thứ gì, ông cụ thều thào trả lời muốn ăn một tô miến gà và một miếng chả lụa, nhưng trong nhà chỉ còn 20 đồng bạc, mua chả lụa thì không mua được miến gà, mà cũng chẳng biết vay mượn vào đâu ở thời buổi này, thật là khổ qúa, cháu nội thì còn nhỏ, dâu thì lo gánh một gánh nặng ba đứa con thơ, nên cuối cùng tôi đành bảo con Hoa mua cho ba môt tô miến gà , chỉ lấy miến không lấy thịt, và nói thật với chủ tiệm xin họ giúp cho, lại ghé xe bánh mì mua một lát chả lụa mà thôi, cũng nói thật với họ như thế . Thế nhưng khi mua về, ông cụ chỉ nếm được một chút mà thôi. Cơ cảnh này, ông ơi, thật không tài nào ngờ được lại xảy ra trong đời tôi . Bà cụ vừa kể vừ rơi nước mắt, mà tôi cũng không cầm lòng được, đành ôm lấy bà mà khóc . Quả thật ở hoàn cảnh này có thương nhau chăng cũng đành chịu, mà có khi còn không dám tới lui thăm viếng vì sợ bị liên lụy, "liên hệ mật thiết với gia đình ngụy, có con phản động, chạy theo Mỹ Ngụy ra nước ngoài" .

    Cuộc sống hôm nay đem tôi trở về với đời sống của người dân miền Bắc đầu thập niên 1952 đến 1954 . Vào thời đó, bộ đội bắc Việt áp dụng chính sách "cùng ăn, cùng ở cùng làm với dân", nên trong các thôn làng của quê tôi, có từng tiểu đoàn bộ đội về cùng ở với dân, và dân trong xã phải nhận làm hàng xáo cho bộ đội, nhận lúa về xay, và được phép lấy cám để ăn . Có những gia đình vì qúa đói đã ăn gian bằng cách sau khi xay lúa ra gạo, đã giã gạo lâu hơn, để có nhiều gạo nát, gạo nát là tấm, sau khi sàng sẽ rơi xuống và đem trộn vào trong cám và như thế là gia đình tuy ăn cám nhưng vẫn có tấm gạo ở trong đó !

    Cứ tháng một lần, bộ đội tổ chức ăn chung với dân, những lần ăn cơm chung như thế, dân mới có được những bát canh rau muống, rau lang . . . nấu với thịt hộp của Liên-Xô viện trợ, và những bửa ăn đó đã trở thành niềm mơ ước và trông chờ của người dân làng tôi thủa đó! Dân bắt đầu khen bộ đội cụ Hồ .

    Sàigon bây giờ là vậy, người Sàigon bây giờ là vậy, và niềm mơ ước bình dị của tôi là kiếm được một việc làm để phụ giúp gia đình đã trở thành mộng mị trong hoàn cảnh xã hội hôm nay . Trong khi đó, những đe dọa ngày càng gia tăng , vài người tôi quen biết đã bị bắt trở lại , Minh, Hùng ở Quận Bình Thạnh, dù hai người này đã xin được làm công nhân viên trong ngành giáo dục .

    Nỗi lo lắng và sự bất ổn trong cuộc sống hôm nay làm tôi nhớ lại những chuổi ngày ở Trại Cải Tạo Mê Van, vào những năm đầu.

    Những con đường lầy lội, những đám rừng đầy xác lá ướt sủng và một đoàn người lầm lủi bước đi như những xác chết không hồn; Dù hôm nay tôi không còn nhìn thấy ngọn núi cao mù mịt đầy sương của Ban Don, cũng không còn phải dẫm chân lên bao xác lá ẩm ướt mà dù mưa hay nắng vẫn không mất mùi mốc xông lên. Con đường dốc đứng dài hơn hai cây số ở Rẩy mì mà mỗi ngày hai bận tôi phải leo lên và tuột xuống với một bao củ mì .

    Nhưng bây giờ là sau mỗi đêm qua đi, khi mọi người vội vã đến sở làm, tôi còn lại một mình trong căn nhà đóng bít các cửa như lẩn trốn ánh sáng. Tôi như là đang mang tâm trạng của một tội đồ không dám nhìn người qua lại, thèm khát bao cái hồn nhiên, vui vẻ và vô tư của những kẻ láng giềng. Tôi ao ước và thầm nghĩ, biết đến bao giờ tôi ra đi trên con đường đầu ngõ, cuối xóm, không còn phải lầm lũi như chạy trốn, trên môi tôi nở được một nụ cười tự nhiên, tâm hồn tôi thanh thản vì tôi đang sống trong cuộc sống ung dung, điềm nhiên và tự tại .

    Nhưng than ôi, tất cả điều quý báu đó đã mất rồi, bao hạnh phúc nhỏ nhoi và những vụn vặt đó bổng nhiên đã trở thành to lớn và vô cùng quý giá, nay đã không còn nữa !

    Ngày lại ngày tôi sống trong mòn mỏi và phập phòng của một người khách trọ , vì rất có thể và bất cứ lúc nào, người ta cũng có quyền đuổi tôi ra khỏi nhà mình , để đem đến một trại giam nào đó, một nông trường hay một trại tập trung cưỡng bức lao động . Và chỉ cần một tấm giấy, một chữ ký của cơ quan công an , tôi có thể bị buộc vào bất cứ một tội danh nào , mà người ta nghĩ rằng tôi làm được, hoặc người ta muốn ghi lên. Công lý chỉ có trong tay người cầm súng.

    Có những chiều thứ 7, sau giờ cơm tối, tôi thường đạp xe lang thang đến những khu phố củ mà ngày xưa tôi quen đi, hoặc là những nơi tôi từng ở như khu Bùi Phát ở đường Trương Minh Giảng để tìm lại chút gì của thời xưa đã mất, hay là cố tìm xem trong ký ức tôi, những năm tháng bình dị của thủa thiếu thời trọ học, mà nay đã thành những nỗi nhớ không nguôi và niềm nuối tiếc vô hạn .

    Ga Hoà Hưng, con đường Nguyễn Thông nối dài xuyên đến Lê Văn Duyệt, Cống Bà Xếp, con hẻm mà một thời nổi tiếng là trùm du đảng, mà cũng là nơi vua "Hoàng Đế Đại Thánh" xuất hiện ở đầu thập niên 1960 ! Con đường này vốn rất quen thuộc của tôi và Long (Nguyễn Mạnh San) một thời . Gia đình bác V và chị Hiển, Điệp . . . ngôi nhà tôi chúng tôi thuê . Cúc và Hông, bán quần áo trẻ em ở Tạ Thu Thâu , không biết bây giờ những người quen củ ra sao, dù tôi rất muốn ghé vào thăm họ, nhưng lại sợ "người ta liên lụy" đành cúi đầu vừa đạp xe vừa tưởng nhớ căn gác nhỏ, hai đứa mướn ở học một năm . Ngọn đèn dầu leo lét không đủ sáng cho cái bàn xiêu vẹo mà tôi và Long ngồi chung trên căn gác đó, và đặc biệt là khuôn mặt chị Hiển, con gái của bác V chủ nhà, khuôn mặt thân ái đến với tôi trong mỗi lần nhớ về Ga Hoà Hưng kể từ khi bỏ lại căn gác nghèo nàn này !

    Những con đường vắng lặng của khu Tú Xương, Hồ Xuân Hương đầy bóng mát của Quận 3, mà những chiều thu về, lá me rơi nhẹ nhàng trên tóc khách bộ hành qua lại buổi hoàng hôn . Con đương Duy Tân nổi tiếng với ngôi Trường Luật mang nét đài các của những thiếu nữ cung trang, hay Gia Long dài vun vút với những tà áo xanh của giờ tan học .

    Tôi lang thang đạp xe qua Bùi Thị Xuân để đến Cống Quỳnh mà nhớ về Quán Cơm Anh Vũ một thời đã nuôi tôi với mỗi bữa ăn 5 đồng thủa đó . Cầu Kho, Trần Bình Trọng hay Nguyễn Biểu Chợ Quán . Không hiểu bây giờ căn nhà 81 Trần Bình Trọng còn là của tu viện Xi-Tô hay không, tôi không dám hỏi, dù là đang ngang qua khu phố này .

    Trường Đại học Khoa Học, công viên Cộng Hoà, Trường Bác Ái, rồi Lý Thái Tổ, mà hôm nay mọc lên những "Cầy Tơ", "Nai Đồng Quê" hay "À Đây Rồi" cho khách nhẩm xà vui hưởng .

    Rồi từ đây, tôi lại theo Phan Thanh Giản đạp về Ngã tư Xa lộ, ngang qua khu nhà 11 tầng, đến Ngã tư Hàng Xanh, lại theo Hùng Vương qua Thị Nghè để về Sở Thú . Con đường Hồng Thập Tự ở nơi đây la liệt những quán nhậu ở hai bên, giàu nghèo, sang hèn đều ghé lại đây để nếm mùi thịt nương với lá mơ chấm sả của món "nai đồng quê" truyền thống.

    Tôi thích nhất vẫn là những khu xóm nghèo lao động như Khu xóm Chiếu với Thánh Đường Giu Se nho nhỏ ở bên kia Khánh Hội, từ cầu Trịnh Minh Thế đi vào . Hay Khu chợ Hoà Hưng với con hẻm nhỏ đi ngang qua Tô Hiến Thành để về Bộ Tư Lệnh Biệt Động Quân, hoặc ngược lên để về hướng trại Hoàng Hoa Thám, đối diện Nghĩa Trang và bên hông Phước Hải để vào Khu Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa . Đã rất nhiều lần ngang qua khu cư xá này , tôi muốn vào Dãy O, để tìm lại Trung tá ĐVK, hay gia đình Đại tá HTT , nhưng rồi lại e sợ không bước vào, nên chẳng hiểu bây giờ những người đó đang ở nơi đâu !

    Gần như những nơi tôi quen đi ngày củ, những phố chợ ngày nào tôi yêu thích với ít nhiều kỷ niệm vương vải đầy dẫy trong qúa khứ, là những nơi tôi quen đi tìm lại những qúy báu đã mất, và biết rằng, những gia sản ấy mãi mãi tôi không thể nào có lại, và có lẽ vì thế mà tôi đạp xe lang thang hết hang cùng ngỏ hẻm của Sài đô, dầu là những chổ xa xôi như cầu Chữ Y, cầu Nhị Thiên Đường, Khu đường Nguyễn Huỳnh Đức ở Quận 6, hay là Khu Gia Định với Lăng Ông nghi ngút khói hương những ngày Tế, Tế cổ truyền .

    Lăng Ông bây giờ cũng như bãi tha ma ngoại ô, bao hình hài tượng đá đã không còn, mà còn lại hình tượng vị tả quân khai phá đất Gia định ngày nào, thì những người mới cũng đã đập phá , cho nứt đổ, lổ loang vết dập để khu di tích này thành hoang phế lạnh tanh !

    Toà Hành Chánh Gia Định đã thành Trường đảng Nguyễn Văn Cừ, Trường Nam tiểu học đã là Trường Phổ thông cơ sở Hà Huy Tập, Trường nữ Trung học Lê văn Duyệt ngày nào thướt tha những tà áo trắng ngây thơ thủa đó, bây giờ đã đổi tên là Võ Thị Sáu, Trường Hồ Ngọc Cẩn cổ kính ngày nào, nay đã là Trường phổ thông cơ sở Cấp I . Trương Trung tiểu học Thánh Mẩu, đã đổi thành trường cấp II Lam Sơn.

    Dân Sàgon thật chẳng biết Võ thị Sáu hay Nguyễn thị Minh Khai là ai . Tất cả đã trở thành xa lạ, lạ như những thành phố ngoại bang xa xăm ở một chốn nào mà dân Sài gòn chưa hề nghe đến một lần.

    Chợ Bà Chiểu lại có thêm những con đường bán thuốc Tây và quần áo củ, phô bày cái xác xơ của một tỉnh lỵ cơ hàn, còn tệ hơn cả những ngôi chợ ở tỉnh nhỏ cao nguyên, như là Phú Bổn hay Quảng Đức.

    Chợ Thị Nghè, cũng tương tự, những gánh cháo, xôi, củ mì của những người buôn gánh bán bưng tạm bợ. Và những phồn thịnh thủa nào bổng nhiên cũng biến mất, không ai còn tìm lại được cái tưng bừng ồn ào của một ngôi chợ sinh ra trong lòng một nền kinh tế ổn định và thịnh vượng.

    Cũng tương tự như năm 1952, 1954, Sài gòn đầy dẫy xe đạp và xe ba gác, xích lô đạp, còn Honda, Taxi, Vespa super, Sprint . . . xe hơi Toyota, Madaz 1200, Datsun, Peugot 405, 503, Ladalat . . . đã bổng nhiên bốc hơi khỏi Sài gòn Chợ Lớn Gia định từ hồi nào, không ai để ý . Sài gòn chỉ còn xe đạp, và xe đạp cũng đã trở thành phương tiện di chuyển hiếm hoi, chỉ những gia đình khấm khá mới giữ lại được, còn thì cũng đã bán cho dân bộ đội hết rồi !

    Một đêm nào trên Đài VOA, tôi bổng dưng nghe được:

    " Sàin gòn ơi tôi đã mất người trong cuộc đời,"

    " Sài gòn ơi thôi hết những ngày vui tuyệt vời . . ."

    Tôi nghe dù là tiếng được tiếng mất, mà lòng vẫn đầy xúc động! Quả thật đã mất rồi, những hơi hương ngày củ cũng chỉ còn lại một dư âm, và cảnh tưng bừng náo nhiệt của Cộng Hoà chỉ còn là tiếng đồng vọng trong lòng tôi. Dù tôi vẫn sống trên đất Sài gòn, vẫn sinh hoạt trong lòng Sàigon, nhưng linh hồn Sài gòn đã vĩnh viển ra đi, và tinh thần của Saigòn cũng đã tạ từ những máu thịt châu thân của nó .

    Sài gòn bây giờ như một cái xác không hồn, than ôi !

    Tâm trạng này nhận chìm tôi trong tuyệt vọng mà dĩ vãng lại đã giải thoát tôi, dù dĩ vãng đã chìm sâu thăm thẳm trong ký ức tôi tự thủa nào . . .

    Thủa đó đã xa xôi và chôn lịm trong lòng tôi kín rồi. Bây giờ mỗi lúc nghĩ lại, tôi chỉ còn nghe hơi hám như bụi nhang của một ngăn tủ nào hằng năm chưa có dịp mở ra.

    Ngày ấy, tôi chơi thân vô cùng với Trị, Giáo sư Vinh Sơn, và dù đã mười mấy năm trôi qua, những kỷ niệm của thời vàng son thơ mộng đó mãi mãi vẫn êm ái trong lòng tôi . Cuộc sống với những sinh hoạt quanh tôi không cưu mang những bận tâm và lo lắng nào . Ngày hai buổi đi dạy chờ hết giờ để về nhà đàn ca và viết báo. Tâm hôn chúng tôi thủa đó chỉ biết yêu bao cái người yêu, chỉ mê si bao cái phải si mê, luôn luôn thanh thản để mặc theo nét hào phóng và sảng khoái của đời . Cuộc sống vốn nhẹ nhàng, mà tâm hôn chúng tôi cũng vô tư chưa vỡn đục.

    Tôi nhớ Trị với bài thơ có tên "Tình là một hàng dọc " mà đến nay tôi đã quên mất , nhưng hàng dọc khi ghép lại là tên của cô học trò anh yêu ‘’Hồng yêu dấu, em có yêu anh ? ‘’ .

    Những buổi chiều sau giờ cơm, chúng tôi thường đem ghế ra hàng hiên ngồi tán dóc, hút thuốc và đọc thơ. Căn gác ở đường Phạm Phú Quốc, hay ngôi nhà ở Lý Thường Kiệt , con hẻm số 5 đường Võ Tánh hay nhà chị Cúc, nơi chúng tôi ở trọ và ăn cơm tháng mãi mãi là kỷ niệm êm ái nhất trong đời mình , mà mỗi khi nhớ lại, lòng vẫn không ngăn được bâng khuâng .

    Nỗi vui mừng là lần đầu tiên tờ "Tiếng Cao Nguyên " do Nhóm Đồng Hoang thực hiện đưọc ra mắt đọc giả . Mỗi tháng một số, nhóm chúng tôi có Trị, giáo sư Vinh Sơn . Văn, Hưng Đức. Minh, Lasan. Hưởng, Bán công. Triều, San , Phối Trí Viên . Điềm, Sơn , trung học Banmethuot. Y Danh Buôn -yã, Y Niết Knul và một số người đẹp như Thủy Lưu, Ngọc Quế, Minh Phương, Ngọc Ẩn . . . góp tay thực hiện . Cặm cụi viết, cặm cụi đánh máy và quay stencil, hàng tháng chúng tôi cũng ra được vài trăm cuốn dày hơn vài trăm trang .

    Nỗi vui và cuộc sống của trang lứa chúng tôi trong mười năm trước là ở đó. Và tâm hồn chúng tôi quấn quýt trong cảm xúc sinh hoạt của xã hội quanh mình, mà sau này, khi rời xa chốn cũ, một đôi khi tôi còn nghe mơ hồ như đâu đó đồng vọng những âm xưa gọi tôi về kỷ niệm . Tôi yêu bài ‘’Ngày Xa Lạ‘’ với 4 câu :

    ‘’ . . . Hồng nào đã ôi rồi . . .

    cánh soan nào đã ngã . . .

    vàng bay trong lưng trời . . .

    sao ta còn xa lạ . . . "

    Cái xa lạ ấy mãi mãi còn xa lạ với tôi trong suốt quảng đường đời, từ xa lạ này qua đi, tôi lại bắt gặp bao nhiêu cái xa lạ khác, mà mỗi vẻ một nét để cảm xúc trong tôi như vô cùng vô tận, và cứ thế để hằng đêm tôi ngồi viết thư tình, viết rất nhiều nhưng tình vẫn còn không !

    Nhớ về dĩ vảng, sống bằng kỷ niệm, tôi quên mất những phủ phàng quanh tôi, quên cả tôi bên đời tuyệt vọng, mà hồi tưởng thủa đến trường của năm tháng xa xưa . “Cây Tiểu Du Dương ‘’ mà thầy Kiều Công Gia đã dịch từ bài gỉang văn ở thế kỷ 17 của một nữ văn hào người Pháp tôi yêu thích . Âm Tiểu Du Dương và giọng nói của thầy tôi còn mang theo đến hôm nay.

    Có phải kỷ niệm nào cũng đẹp, cũng êm ái nên thơ không, tôi không biết, tôi chỉ biết rằng, đời thực tôi đang sống đã đẩy tôi vào kỷ niệm, và kỷ niệm đã cho tôi lẫn trốn nỗi hãi hùng và sự cô đơn quanh tôi. Và hạnh phúc của tôi bây giờ là đó, hạnh phúc chỉ còn lại bấy nhiêu thôi. Tôi mơ hồ lịm chết bên dòng sông dĩ vãng rêu phong mà quên đời thực tại .
    Trị hay Hưởng, Văn và Minh . . . những người bạn bình dị với cuộc sống giản dị của mười bốn năm về trước bây giờ có phút nào để hồn trôi về dĩ vãng như tôi không (?) Hồng hay Duyên , Tuyết hay Như Nguyện , Minh Phương hay Đan Quế , những bóng dáng đã làm tôi xúc động một thủa nào, bây giờ biết đã về đâu (?) .

    Thường khi đi tìm dấu yêu ngày cũ, như truy tìm chứng tích ấu thơ , tôi vẫn thấy lòng mình rung động lạ thường tôi cứ ngỡ tôi như con tàu chạy qua những bến ga đời nghiệt ngã , nhưng mà ở mỗi bến ga, tôi lại cảm nghe lòng đầy tiếc nuối mà chẳng hiểu được vì sao . Và lòng tôi bổng như se lại, tôi ngại ngùng với những sân ga kế tiếp trên đường.

    Thương thay những đời người làm khách trọ như tôi hôm nay.

    Bạn hỡi tôi thường thương bến ga,

    Có khi níu kéo chuyện chia xa,

    Mà không - bé nhỏ ga đành chịu,

    Đưa tiễn tàu đi khóc xó xa “.



    Saìgòn thang 3, 984,
    Tử Du Nguyễn Định

    ***
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Tư 2018
    p324530 likes this.
  7. tu du

    tu du Người nhà

    ***

    GIẤC MƠ VIỆT NAM .


    Hôm nay tôi ngồi đây viết lại kỷ niệm này với biết bao cảm xúc trong lòng không ngăn được. Tâm trạng một người tù viết nhật ký thật là lo sợ. Trong tâm trí tôi, cái cảm giác cuả một thuả xa xôi nào đó lại trở về, như khi ngồi viết những dòng Lưu Bút cuả thuả học trò thời lớp đệ Tứ, đệ Tam mà trên trang sách đầy dẫy những bút tích của thầy cô và bè bạn. Vâng, thì tất cả cũng đã trở thành kỷ niệm : Banmêthuột đêm kinh hoàng, con đường rừng từ Ea-Sup (Banmêthuột ) qua Đức Cơ, Thanh Bình, Thanh An (PleiKu) với những lối mòn đầy cỏ tranh mà hai bàn chân khi đặt lên còn để nguyên dấu máu, bây giờ cũng đã là kỷ niệm, có khác gì với kỷ niệm thời ấu thơ hay thủa cắp sách đến trường, khi mới biết yêu và biết hò hẹn . Tôi cứ nghĩ rằng muôn vàn kỷ niệm là muôn vàn dấu yêu và kỷ niệm thì kỷ niệm nào cũng êm ái nên thơ.

    Và rồi trong muôn vàn cái đã qua đó, khi nhớ lại GiẤC MƠ VIỆT NAM, tôi vẫn không cầm được cảm xúc , bao hệ lụy cuả giấc mơ có lẽ mãi mãi vẫn là gánh nặng và nỗi băn khoăn trong lòng tôi, tựa như ngày đầu tiên tại Buôn Ea Súp người bộ đội trao cho tôi một nắm cơm vắt trộn muối bằng qủa trứng, mà vì hai tay còn bị trói cánh khỉ đã không cầm được nắm cơm gọn gàng, nắm cơm rơi xuống đất và tôi nhịn đói, cảm giác và suy nghỉ của tôi lúc đó thật nặng nề, vì tôi không thể hình dung ra được đoạn đường sau này tôi phải đi.

    Rồi hôm nay, nhìn những căn nhà tù vách lá, được bao quanh bởi hai dãy hàng rào kẽm gai, và trong một nhà tù , tôi chợt gặp một bóng dáng thân quen của một người, mường tượng như tôi đã được gặp ở nơi nào . . . , trong một giấc mơ (?) tôi chợt nghĩ, phải rồi, trong một giấc mơ, giấc mơ đã chìm sâu trong ký ức và quên lãng mất rồi, nếu không có những căn nhà tù và bóng dáng người đó nơi đây. Và sau này tôi gọi đó là Giấc Mơ Việt Nam. GIẤC MƠ VIET NAM đến với tôi trong một tình huống không thể nào xảy ra được, tuyệt đối là không, đối với tôi trong điều kiện và hoàn cảnh thời bấy giờ, cho nên tôi cơ hồ đã quên mất . . . đó là khoảng tháng 12 năm 1974.

    Tôi tốt nghiệp Khoá Sĩ Quan Trừ Bị tại Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức vào thời điểm mà chiến tranh thật nóng bỏng. Cộng Sản Bắc Việt đang xâm nhập miền Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh cấp sư đoàn với chiến xa T54 và hoả tiển 122 ly. Các mặt trận nổ ra tại vùng Cao Nguyên và Vùng I Chiến thuật đang ở vào thời kỳ quyết liệt. Rất nhiều bạn bè tôi đã tình nguyện vào các đơn vị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến.

    Người bạn nằm cạnh tôi, Lâm Ngọc An, cháu gọi Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ, Lâm Quang Thi bằng chú ruột xin qua Nhảy Dù, Nguyễn Văn Thi, Nhảy Dù, Trần Văn Hoàng, Nguyễn Văn Y , Thủy Quân Lục Chiến . . . hầu như ai cũng thích mủ đỏ hoặc mủ xanh , và câu: ‘’Một xanh cỏ, hai đỏ ngực’’ thật quyến rủ trong thời gian này.

    Tuy nhiên, không phải ai xin cũng được, tôi còn nhớ Thiếu Tá Võ Văn Thuận, Khối Quân Huấn, trong một lần giảng huấn đã noí với chúng tôi ‘’nếu các sĩ quan đều xin qua Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến . . . thì Bộ Binh để cho ai, Địa Phương Quân ai chỉ huy, các ngành chuyên môn khác cho giải ngủ hết sao ! ‘’ mà thật sự là như vậy, cho nên Nguyễn Đình Thi về Sư Đoàn 23 BB, Diệp Bảo Lợi về Quân Vận Pleiku, mặc dầu Thi và Lợi đều xin về toán người Nhái. và tôi xin về Biệt Động Quân thì lại nhận lệnh về 930.O.

    Tôi còn nhớ ngày chọn đơn vị, tối hôm đó không ai ngủ được , Lâm Ngọc An hỏi tôi,

    - Biệt Động Quân há, có phải vì Đai Tá Kiệt không chứ (?)

    - Đâu có, vì hai ông họ Lâm thôi.

    Tôi hầu như còn nhớ rất rõ những khuôn mặt trong đại đội tôi, và chỉ một người không được phép chọn đơn vị, đó là Nguyễn Bích Mạc, Tham Vụ Ngoại Giao, vì anh phải trở về Bộ Ngoại Giao sau thời gian thụ huấn quân sự .

    Quân trường cho đến bây giờ vẫn là kỷ niệm êm ái như bao nhiêu êm ái khác trong lòng tôi. Những buổi chà láng bằng cà mèn hay những sáng chạy bộ tập thể dục với các bài hát, mà bài tôi thích nhât là bài Việt Nam Việt Nam cuả Phạm Duy. Dư âm cuả những đếm bước ‘’ một hai ba bốn . . . một hai ba bốn . . . anh em ơi . . . đem chí trai lưu tiếng ngàn thu . . . ‘ ‘ bài hát mà tôi đã quên mất và cũng không còn nhớ được tựa đề , mãi đến bây giờ vẫn còn đồng vọng trong tôi . Và cái đặc biệt phải nhớ cuả khoảng đời làm Sinh Viên Sĩ Quan là hình phạt dã chiến và cúp phép cuối tuần sau thời gian mang Alpha.

    Phạt dã chiến đúng là dã man cuả sự huấn nhục . Trong vòng 5 phút, anh phải thay xong quân phục, mang dày, ba lô, dây TAB , . . . chạy 50 vòng sân cờ mà thực ra chỉ 10 vòng thôi là đã xỉu rồi !

    Trong thời gian làm sinh viên sĩ quan, thực ra tôi chưa lần nào bị cúp phép cuối tuần, và hình phạt này được coi là nặng nề lắm. Tất cả sinh viên chỉ chờ trưa thú 7 ra phố, hoặc về với gia đình, thăm ‘’người yêu của lính ‘’ hay bát phố làm quen , thơ mộng không khác gì lòng yêu thầm học trò Trưng Vương hay Gia Long như những bài tình ca về lính thời đó . ‘’ Nếu em không là người yêu của lính . . . ai sẽ đón em Chủ Nhật trời xinh . . . ai sẽ đón em lúc tan trường về . . . ‘

    Tôi mãn khóa học 930.0 thì được chuyển về Quân Đoàn II, Pleiku, nơi mà người Biệt Động Quân Biên phòng quen hát ‘’ Pleiku đi dễ khó về, trai đi có vợ, gái về có con ‘’. Nhưng thật ra Pleiku là một thành phố hiền hoà rất dễ thương , từ tháng 9 đổ về cho đến tháng 12 hàng năm, thành phố dày đặc sương mù vào mỗi sáng, đặc biệt là thung lủng cầu số 3, từ Thị Xã Plei ku về Thành Pleime, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, sương mù dày đến nỗi xe sau khó có thể nhìn thấy xe trước, dù đã bật đèn pha .

    Khu phố cũ Diệp Kính với những con đường tuy ngắn nhưng rất sạch, những quán ăn, phòng trà, khách sạn rất khang trang. Khu chợ Mới rất thoáng nhưng sầm uất hơn .

    Là một tỉnh của Cao Nguyên được coi như biên phòng, nên Pleiku được xem là thành phố cuả lính; và quán café lính, là café Dinh Điền, nỗi tiếng đến độ khi nhắc đến café, là người ta nói đến café Dinh Điền Pleiku.

    Tuy nhiên, điều làm tôi mãi mãi còn cảm được điều mê luyến trong lòng mình , là căn phòng của khu cư xá Sĩ Quan độc thân tôi ở, trong khung thành Pleime. Phòng cạnh tôi là trung tá Phan Viết Ba và một bên là phòng đại tá Tham Mưu Trưởng. Có lẽ nhờ làm hàng xóm cuả hai vị sĩ quan tham mưu trưởng và Chánh thanh tra, nên tôi được khuyến khích đi học lại, dù công việc hàng ngày ở đơn vị thật bận rộn. Tình cảm đằm thắm đó càng ngày càng sâu , nhất là sau khi tôi đậu xong cử nhân Luật năm thứ 3. Tôi cảm động mỗi lần sắp đến ngày thi, là đại tá TMT gọi điện thoại nhắc đơn vị trưởng cuả tôi gởi giấp phép cuả tôi lên cho ông ký. Sự quan hệ thân mật ấy còn giữ mãi cho đến sau này, khi tôi rời quân đoàn, và ngày tôi nhận đơn vị mới, chính TMT và chánh thanh tra gọi điện thoại hỏi thăm tôi qua đơn vị mới, dầu hai vị láng giềng cuả tôi ngày đó hôm nay đều đã thay đổi phương vị. Tôi hiểu đó là lời giới thiệu tế nhị của cấp chỉ huy.

    Hôm nay, một ngẩu nhiên hay tình cờ bắt gặp lại bóng người trong mộng ở khu trại tù này, đã nhắc tôi nhớ lại giấc mơ xưa, giấc mơ xảy ra vào thời điểm mà bạn bè tôi gọi tôi là ‘’đường hoạn lộ thênh thang tiến bước‘’ , cho nên tôi không thể nào tin được giấc mơ tôi đã mơ :

    " . . . một người thiếu nữ bị xử bắn trước sân tù, bổng dưng không rõ vì đâu, tôi đã nhào ra ôm lấy cô ấy và lăn nhiều vòng trên sân tù để đỡ cho người con gái ấy 36 viên đạn súng colt 45. Và rồi chúng tôi cùng quằn quại trước sân tù. Người ta bắt tôi và dẫn tôi vào một căn nhà rất lớn, được ngăn chia nhiều phòng, tại đây, tôi gặp được ba tôi, ông bảo tôi ngồi xuống ở phòng khách, rồi ông đi vào phòng của một người Mỹ . . .

    Một mình ngồi ở phòng khách, mơ hồ và buồn bã, tôi lơ đểnh nhìn quanh căn phòng trống rỗng, rồi nhìn xuống bộ salon, thấy trên bàn có cuốn sách bìa màu xanh lá cây, in hai chữ VIỆT NAM màu xanh rất đậm, nổi bật lên nền bìa cùng với hai hàng chữ tiếng Anh rất nhỏ, tôi không đọc được, tôi ngạc nhiên tự hỏi mình ‘’tại sao lại có cuốn Việt Nam ở đây, và vội vàng đem cuốn sách dấu xuống tầng dưới cuả chiếc bàn Salon, lấy mấy tờ báo tiếng Anh che lên trên. Một lúc sau, người Mỹ và ba tôi bước ra, người Mỹ cầm mấy cuốn sách trên bàn lên và hỏi trống không : ‘’Cuốn Việt Nam tôi vừa mới để đây đâu rồi " ? , thoạt đầu tôi không muốn trả lời và có ý định dấu lại cuốn Việt Nam , nhưng khi người Mỹ hỏi tới lần thứ 3: ‘’cuốn Việt Nam tôi vừa để đây đâu rồi ", tôi vội vàng trả lời: ở đây, tôi cất nó ở đây , và lấy cuốn Việt Nam ra trao cho người Mỹ . . . “

    Tôi đem giấc mơ xảy đến với tôi vào khoảng tháng 12, 1974 kể lại cho hai người tù cùng trại là ông Lê Xuân Hồng, cựu nghị viên hội đồng tỉnh, dân biểu thời Đệ Nhất Cộng Hòa, và ông Đỗ Minh Giảng, trưởng ty Ty Học Chánh Banmethuột thời bấy giờ, hai người đều im lặng, một lúc sau ông Hồng nói :

    - Việt Nam lại rơi vào tay Mỹ ?

    - Cũng có thể, để tôi tìm người giải đoán thêm, ông Giảng nói,

    - Coi chừng bị cùm biệt giam nhé, hãy cẩn thận, ông Hồng bảo ông Giảng.

    Suốt một tuần lễ, cứ sau giờ cơm chiều, lợi dụng khoảng thời gian chưa bị đẩy vào trại để khóa trái cửa, tôi, ông Hồng và ông Giảng thả bộ với nhau quanh sân tù bàn tán về giấc mơ, và vẫn gọi đùa là Giấc Mơ Việt Nam.

    Tôi cũng tìm cách hỏi tin về người con gái ấy, được biết cô tên Ngô, bị kết án 20 năm tù về tội cắt đường dây điện ở khu cư xá Lam Sơn thuộc Sư Đoàn 23 BB trong những ngày đầu Banmethuột rơi vào tay Cộng quân.

    Giấc Mơ Việt Nam chẳng biết thế nào có linh nghiệm như lời giải đoán của ông Hồng và ông Giảng hay không, nhưng tôi tin nhất định một cái gì đó sẽ ứng nghiệm cũng như bao giấc chiêm bao đã đến với tôi từ thời đi học.

    Tuổi học trò ở trang lứa chúng tôi rất vất vả, học sinh phải học hết các môn học để trả lời các câu hỏi của đề thi cho những kỳ thi tốt nghiệp, ma` chưa áp dụng chương trình thi trắc nghiệm chọn a,b,c,d khoanh như các kỳ thi tốt nghiệp sau này. Tất cả các môn học đều phải thi và có hệ số, thí dụ bạn theo Ban B (banToán), thì toán hệ 4, nghiã là lấy số điểm bạn có được nhân cho 4, Lý, Hoá hệ số 3, Triết hệ số 2 ( cho đệ nhất, Tú Tài ÌI ) hay Việt Văn hệ số 3 cho Ban C (văn chương ) và sinh ngữ là môn chính, có hệ số cao nhất, toán hệ số 1 . . .

    Thi tốt nghiệp Trung Học Đệ Nhất Cấp (lớp 9) cũng tương tự như vậy.

    Chương tình giáo dục cuả bậc trung học mang tinh thần phổ thông, nghĩa là không có sự phân ban tuyệt đối như ở đại học nên rất nặng nề.

    Lên đại học rồi, học sinh có quyền thở dài một cách khoan khoái, vì ở đại học có sự phân ban rõ ràng , ví dụ trường Đại Học Khoa Học có phân khoa Toán , Lý Hóa Sinh . . . Đại Hoc Văn Khoa có ngôn ngữ, Pháp văn, Triết Đông, Triết Tây, Sử địa . . Luật Khoa có Kinh tế, Tư Pháp, Công Pháp.

    Tôi không hiểu và không có cách nào giải thích về những giấc mộng thần bí của tôi, nhưng như rằng, mọi kết quả của các kỳ thi, tôi luôn được báo trước, ví dụ tôi nằm mơ thấy mình bước ra phòng thi tươi cười hỏi bạn bè về đáp số cuả bài toán và thấy là mình làm đúng. Như vậy có nghĩa là kỳ thi đó tôi đậu. Hay hoặc là năm tôi thi Trung Học Đệ Nhất Cấp ở trường Tiểu Học Bàn Cờ, bổng dưng tôi mơ thấy tên tôi không có trên bảng niêm yết trước cửa vào Phòng Thi, tôi lo sợ đến đổ mồ hôi, rồi giật mình thức dậy. Quả thật năm đó tôi thi rơi.

    Trong năm đầu ở trại tù, tôi có 2 giấc mộng liên tiếp báo cho tôi những điềm lành. Giấc mộng thứ nhất, tôi thấy má tôi dẫn tôi đến viếng một ngôi chùa cổ ở Bangkok, và giấc mộng thứ 2 là tôi thấy nhà tù tôi đang ở bổng nhiên bốc khói mù mịt, sau đó mới thấy lửa bốc cao.

    Giấc mộng thứ 2 tôi suy đoán mình sẽ chuyển trại, nhưng là trại tốt hơn, hoặc sẽ được tha. Nhưng giấc mộng thứ nhất, không làm sao giải đoán được. Tôi chỉ đành chờ ứng nghiệm. Và tôi coi đó như những cảm ứng tâm linh ở một cõi vô hình mà không dễ mấy người được cảm thụ, chỉ là không biết đến bao giờ giấc mộng ấy ứng nghiệm ở trong đời.

    Méwal tháng 4 năm 1977

    Banmêthuột NGÀY ĐẦU CHIẾN CUỘC - Câu Chuyện Cuối Cùng

    Tửdu NGUYỄN ĐỊNH
     
    p324530 likes this.

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn