Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Central Asia

Chủ đề trong 'Kiến Thức Khắp Nơi' do lltran khởi đầu 23 tháng Tư 2019.

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    map_central_asia.jpg

    Trung Á hay Central Asia là vùng đất bao bọc bởi Caspian Sea về phía tay, Trung Hoa về phía đông, Nga Sô về phía bắc và các quốc gia Iran, Afghanistan về phía nam. Cả năm (5) quốc gia vùng Trung Á, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, và Turkmenistan đều chịu sự cai trị của khối Cộng Sản Nga cho đến ngày được độc lập khi Liên Bang Sô Viết tan rã; "stan" có nghĩa là "đất của [người]", như Kazakhstan = đất của người Kazakh.
    Đường Tơ Lụa năm xưa đi ngang qua các vùng đất Trung Á và để lại khá nhiều dấu vết đặc thù.

    Lịch sử cho thấy dấu vết của con người từ 25,000 – 35,000 năm trước, nhưng rõ ràng hơn là thời đại Cimmerian và Scythian trong thế kỷ I trước Công Nguyên. Đến thế kỷ VI thì vùng đất này trở thành cung điện của giống người Thổ, Turkic peoples. Giống người này sử dụng ngôn ngữ “Turkic”, một chi nhánh từ nguồn gốc Alta. Turkic rất gần gũi với ngôn ngữ Tujue, tên gọi trong sách vở Trung Hoa dùng để mô tả bộ tộc du mục cai trị vùng đất mênh mông trải dài từ Mông Cổ, phía bắc Trung Hoa đến Black Sea.
    Trừ vài ngoại lệ, dòng tộc Turkic hầu hết sinh sống tại Á Châu; một vài bộ tộc nhỏ hiện diện tại Âu Châu và vùng Volga. Ngoài ngôn ngữ, Hồi Giáo là sợi dây nối kết các bộ tộc này với nhau. Ngày nay, ngoài các bộ tộc kể trên, các nhóm khác cũng được liệt kê trong nhóm “Turkic” bao gồm cư dân tại Altai, Azerbaijanis, Balkar, Bashkir, Dolgan, Karachay, Karakalpaks, Kazakhs, Khakass, Kipchak, Kumyk, Kyrgyz, Nogay, Shor, Tatars, Tofalar, Turkmen, Turks, Tyvans (Tuvans), Uighurs, và Uzbeks.

    Người Thổ cai trị vùng Trung Á suốt 200 năm, tạo nên nhiều ảnh hưởng sâu đậm về văn hóa, phong tục và cách sinh sống. Đến thế kỷ VIII thì nhóm Uighuir, cũng cùng dòng tộc Turkic, nổi dậy và chiếm được lãnh thổ, tạo nên các triều đại Khitan và Karakhanid về sau. Đạo Hồi được lan truyền mạnh mẽ trong vùng Trung Á từ thế kỷ XI-XII và trở thành tôn giáo duy nhất ở đó trong thế kỷ XV.
    Người Mông Cổ chiếm trọn vùng Trung Á trong thế kỷ XIII, đặt các “sứ quân” cai trị từng vùng đất riêng biệt (khanate) để thu thuế cho đến sứ quân Timur (Tamelane), dòng dõi Thành Cát Tư Hãn, nổi dậy thu tóm mọi lãnh thổ riêng rẽ về một đất nước vào năm 1400; nhưng rồi khi Timur qua đời, con cháu tranh giành đất đai, và vùng Trung Á lại chia năm xẻ bảy, mỗi sứ quân hùng cứ một phương. Đến cuối thế kỷ XV, thì người Uzbeks thắng thế, chiếm trọn vùng Trung Á.

    Quân đội Nga Hoàng đánh chiếm vùng Trung Á vào đầu thế kỷ XVII và tiếp tục cho đến khi vùng đất tự trị cuối cùng Uzbek thất thủ vào năm 1870. Từ đó, toàn cõi Trung Á trở thành thuộc địa của Nga Sô. Sau cuộc cách mạng 1917, triều đại Sa Hoàng chấm dứt và vùng Trung Á thuộc về Liên Bang Sô Viết. Trong thập niên 20 -30 của thế kỷ trước, Sô Viết chia Trung Á thành năm quốc gia chư hầu: the Kazakh S.S.R., the Uzbek S.S.R., the Kirgiz S.S.R., the Tajik S.S.R., và the Turkmen S.S.R. Chịu ảnh hưởng của khối Cộng Sản, các quốc gia chư hầu theo chính sách “kinh tế kiểu mẫu” định sẵn, mỗi vùng đất sản xuất một loại sản phẩm theo lệnh chính phủ trung ương, vùng Trung Á trở thành nơi trồng và sản xuất bông gòn.

    Khi Liên Bang Sô Viết tan rã năm 1991, không phải trải qua các cuộc tranh đấu đẫm máu như Lithuania, Latvia…, cả năm quốc gia Trung Á đều được độc lập và trở thành Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Tajikistan, và Turkmenistan.

    Về mặt địa lý, Trung Á nói chung được chia thành từng vùng khí hậu; núi rừng xanh tươi Kazakhstan phía bắc và biển Aral phía nam nơi các nguồn nước đổ về.
    Khoảng 60% đất đai là sa mạc, hai sa mạc lớn nhất là Karakum (thuộc về Turkmenistan) và Kyzylkum, nằm ở phía tây Uzbekistan. Ngoại trừ các vùng tây bắc quanh hai con sông Amu Darya và Syr Darya uốn quanh Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan và Turkmenistan, hầu hết sa mạc là đất bỏ trống vì không thể trồng cấy. Hai con sông kể trên cung cấp nước cho các quốc gia vùng Trung Á. Lạ một điều là ta chưa thấy chiến tranh giành nước xảy ra giữa các quốc gia Trung Á kể trên, người còn thưa nên chưa thiếu thốn đến độ phải tranh giành?

    Khí hậu Trung Á rất khô, mùa hè thì nóng và đông thì lạnh. Mưa ít nên cư dân hoàn toàn trông cậy vào nguồn nước từ hai con sông kể trên. Điều dễ hiểu là bá tánh sống quây quần quanh vùng sông ngòi Syr Darya và Amu Darya và các noi khác bị bỏ hoang.

    Sinh sống tại Trung Á là năm bộ tộc, sắp hạng từ lớn đến nhỏ: The Uzbek, Kazakh, Tajik, Turkmen, và Kyrgyz. Hầu hết đều dùng ngôn ngữ Thổ, trừ nhóm Tajik nói tiếng Ba Tư (Persian). Cư dân theo đạo Hồi, chi nhánh Sunni. Sau hai thế kỷ chịu đô hộ, cư dân Trung Á đã pha trộn ít nhiều với dòng tộc Nga và Ukraine, sinh sống theo các phong tục, sinh hoạt chứa màu sắc Á và Âu. Trong thế kỷ XX, Trung Á chịu một số vấn nạn về môi sinh qua nhiều lý do: Dân số gia tăng khá nhanh nhờ các phương tiện y tế Âu Châu, sử dụng cạn kiệt các nguồn nước để trồng tỉa và gánh chịu hậu quả của các chương trình thí nghiệm vũ khí nguyên tử của Xô Viết.

    Kinh tế vùng Trung Á trước đây chủ về nông nghiệp và khai quật hầm mỏ. Dưới thời Sô Viết, vùng Trung Á cung cấp cô tông, than và khoáng chất dùng trong kỹ nghệ. Ngày nay, mức sản xuất cô tông đã sút giảm nhưng vẫn là nguồn xuất cảng quan trọng của Uzbekistan trong việc khai thác và bán khí thiên nhiên, natural gas và dầu khí là nguồn xuất cảng làm giàu cho Turkmenistan trong khi Kazakhstan trồng lúa mì.

    Mấy khái niệm sơ lược kể trên cho Dế Mèn chút hiểu biết về lịch sử, địa lý và văn hóa của vùng Trung Á; giúp phe ta có cái nhìn rộng rãi hơn về cư dân ở đó, bắt đầu từ Uzbekistan.
     
    YeuTrongNguoi likes this.
  2. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Uzbekistan: Taskent, Samarkand, Bukhara và Khiva

    Uzbekistan tên chính thức là Republic of Uzbekistan, Uzbek Ŭzbekiston hay Ŭzbekistan Respublikasi, một quốc gia nằm giữa vùng Trung Á, tâm điểm của những con đường Tơ Lụa năm xưa.

    muzbek.gif
    Về mặt địa lý, Uzbekistan nằm giữa hai con sông lớn, Syr Darya (tên cổ Jaxartes River) và Amu Darya (Oxus River), cũng là biên giới thiên nhiên ngăn quốc gia này với những vùng đất láng giềng. Uzbekistan nằm giữa các quốc gia Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan và Turkmenistan. Đặc biệt, trong lãnh thổ của Uzbekistan về phía tây lại có một vùng đất tự trị (autonomous) là Republic of Qoraqalpoghiston (Karakalpakstan).
    Từ năm 1924, Uzbekistan nằm trong liên bang Sô Viết, the Uzbek Soviet Socialist Republic, như một nước chư hầu cho đến khi khối cộng sản này sập tiệm năm 1991. Uzbekistan tuyên bố độc lập và và đặt thủ đô tại Tashkent (Toshkent).
    Hầu hết đất đai (4/5) trong lãnh thổ Uzbekistan là đồi núi, hang động và sa mạc hoang vu, lớn nhất là Kyzylkum (Qilziqum) Desert, và chỉ 1/5 còn lại là đất có thể trồng trọt, canh tác quanh các vùng đồng bằng Turan, gần biển Aral, đồng bằng sông Syr Darya và Amu Darya.
    Tuy nhiên việc lạm dụng nước để canh tác và kỹ nghệ đã khiến hai con sông này dần dần cạn kiệt, và biển Aral, ngày trước là biển hồ lớn thứ tư trên thế giới, đã khô cạn dần vì mất 9/10 lượng nước. Nước bị hút ra để sử dụng thẳng tay nên biển hồ Aral mỗi ngày một “mặn”, chưa kể việc ô nhiễm hóa chất, từ thuốc trừ sâu, diệt cỏ đến phân hóa học. Thế là kỹ nghệ đánh cá ở đó biến mất, tàu bè cũng chẳng còn ra vào vùng biển ấy vì nước cạn. Tất nhiên là các quốc gia quanh biển hồ Aral chịu ảnh hưởng nặng nề. Nói giản dị là vùng Aral Sea ô nhiễm và cạn kiệt vì bị con người tàn phá; thế hệ ngày nay và con cháu họ không còn có thể sinh sống ở đó nữa.
    Hiện tượng “khát nước” trở nên rõ ràng hơn khi Dế Mèn qua sa mạc, thấy các cánh đồng khô cằn, nứt nẻ; cây cối trơ xương giữa mùa xuân nên lòng cứ thầm thắc mắc không biết đất nước này sẽ xoay trở ra sao khi nguồn nước kia chẳng còn giọt nào? Họ có kế sách gì để đối phó với tình trạng cạn khô trước mắt? Chiến tranh giành [đất] nước sẽ xảy ra giữa các vùng đất lân cận? Nơi nào gần biển nhất sẽ thắng? Sẽ đánh thuế thẳng tay các ống dẫn nước đi qua lãnh thổ họ? Hay là phe ta chỉ lo bò trắng răng, rồi đâu cũng vào đấy?

    Tấm bản đồ dưới đây so sánh diện tích biển hồ Aral trong các giai đoạn 1960 – 2009:

    Bờ biển.jpg

    Aral Sea Shrinkage of the Aral Sea, 1960–2009. Adapted from Philip Micklin, Western Michigan University

    Khí hậu Uzbekistan là khí hậu sa mạc, nắng nhiều mưa ít nên khô ráo; vào mùa hè, nhiệt độ lên đến 104 độ F (khoảng 40 độ C). Miền núi tương đối đỡ nóng so với sa mạc. Không lạ là là các kiểu nhà xây cất tránh việc mở cửa sổ về phía mặt trời, sau cổng vào là sân trống trồng cây để lấy bóng mát, nhà nào cũng có chiếc divan khá lớn trước cửa làm chỗ tiếp khách ngoài hiên.

    Cư dân, gốc Uzbeks, chiếm 80% dân số, theo sau là các bộ tộc khác như Tajiks, Kazakhs, Tatars, Nga, và Karakalpaks. Người Uzbeks tự hào rằng dòng tộc họ ít bị “Nga hóa” nhất so với các bộ tộc Turkic khác bị Nga cai trị suốt mấy trăm năm; ngôn ngữ Uzbek được duy trì (ít lai tạo) đến ngày nay và là ngôn ngữ chính thức của quốc gia này. Khoảng 15% cư dân Uzbekistan nói tiếng Nga, hệ quả của những năm chịu đô hộ.
    Tôn giáo chính thức tại Uzbekistan là Hồi giáo, chi nhánh Sunni, một phần rất nhỏ theo đạo Thiên Chúa, giáo hội Eastern Orthodox.

    Phần lớn cư dân Uzbekistan sinh sống trong vùng đồng ruộng, trồng cây gòn, trái cây như mơ, mận, chà là…, và lúa. Tại thành phố, phần lớn cư dân là những người gốc Slavic (như Nga, Ukraine và Belarus), nắm giữ các chức vụ hành chánh.
    Cư dân Uzbekistan tương đối “trẻ tuổi” so với cư dân tại các quốc gia chịu sự đô hộ cuả khối Xô Viết: Khoảng 50% trong lứa tuổi 25-54 (tuổi còn đi làm và đóng thuế) và do đó, mức sinh sản cũng khá cao. Sau khi được độc lập, quốc gia này có số bà mẹ sanh trên 10 người con dưới tuổi 20 cao nhất so với các vùng đất chung quanh. Họ được trao huy chương dựa trên mức sinh sản, huy chương vàng khi sanh được 10 đứa trẻ! Ngày nay, mức sinh sản đã bắt đầu sút giảm.

    Thay thế cho các kỹ nghệ hầm mỏ và sản xuất máy móc hạng nặng dưới thời Xô Viết, hiện nay, Uzbekistan là một trong các quốc gia dẫn đầu thế giới về mức sản xuất cô tông, chưa kể một lượng đáng kể về khoáng chất, kim loại (như vàng, thép, copper…) và khí thiên nhiên dự trữ trong lòng đất. Họ xuất cảng một lượng khá lớn khí thiên nhiên; trên các xa lộ, hai bên đường là các hệ thống dẫn khí thiên nhiên đi khắp lãnh thổ. Uzbekistan cũng nổi tiếng về len sợi từ lông cừu và tơ lụa. Tuy nhiên việc xuất cảng tơ lụa và trái cây tùy thuộc vào việc vận chuyển và hệ thống xa lộ tại Uzbekistan còn năm trong vòng “sơ khai”, những con đường liên tỉnh khúc khuỷu lồi lõm ổ gà ổ voi, xe cộ chỉ có thể ì ạch khoảng 5-10 dặm / giờ. Một khúc đường từ Bukhara - Khiva khoảng 160 dặm do Đức xây cất, German road, là bằng phẳng dễ chịu, phần còn lại, di sản của những năm chịu cai trị bởi khối cộng sản, là tệ hại, bất khiển dụng. Khi phải di chuyển trên các con đường ấy Dế Mèn mới hiểu tại sao nông phẩm của Uzbekistan khó lòng xuất cảng đến các vùng lân cận khi phương tiện hàng không còn giới hạn. Và phe ta tẩn mẩn tự hỏi, không dám hỏi thẳng người dẫn đường, cũng là quốc gia chư hầu của Liên Sô mà sao khối Baltic (Lithuania, Latvia, Estonia) sau khi độc lập đã trỗi dậy, phát triển nhanh chóng, theo kịp các quốc gia tiên tiến Âu Châu mà nơi giàu có [tài nguyên thiên nhiên] như Uzbekistan lại ì ạch thế này?

    Nhìn quanh Dế Mèn cũng thấy đường rầy xe lửa, ngày trước xe lửa được dùng để vận chuyển hàng hóa giữa Uzbekistan và Nga nhưng hình như hệ thống này đã cũ kỹ, không được bảo trì nên không còn phổ thông nữa?

    (còn tiếp)
     
    p324530 likes this.
  3. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Uzbekistan

    Sau khi độc lập, Uzbekistan theo chính thể cộng hòa, lập pháp (quốc hội lưỡng viện), hành pháp và tư pháp nhưng nhánh hành pháp xem ra nặng ký [nên mạnh tay] nhất. Tổng thống, trên nguyên tắc, do dân cử với nhiệm kỳ 7 năm và chỉ được tại vị tối đa là hai nhiệm kỳ liên tục. Chữ “liên tục” ở đây có thể hiểu rằng sau hai nhiệm kỳ, tổng thống có thể trở thành “thủ tướng”, ngồi chờ thời để 7 năm sau, “ứng cử” rồi trở lại vị thế tổng thống theo kiểu mẫu của tông tông Nga Vladimir Putin.

    Thành lập dưới thời Xô Viết, the Communist Party of Uzbekistan (CPUz) là giai cấp lãnh đạo của đất nước Uzbekistan. Khi khối cộng sản tan rã, bí thư đảng cộng sản CPUz là Islam Karimov tiếp tục cầm quyền sau cuộc đầu phiếu và trở thành vị tổng thống đầu tiên của quốc gia tân lập Uzbekistan.

    Dù bắt có hiến pháp [mới], hệ thống tiền tệ [mới], quốc ca quốc kỳ [mới], nhưng với gốc gác cộng sản, ông tổng thống mới vẫn giữ nguyên cách điều hành [cộng sản] độc tài cũ, vẫn cầm tù những người đối kháng và cấm đoán các ứng cử viên có khuynh hướng đòi dân chủ. Để tránh ảnh hưởng của Nga, Uzbekistan ủng hộ Hoa Kỳ trong chiến tranh Afghanistan, cho quân đội Mỹ sử dụng phi trường tại Uzbekistan để đổ quân trong những năm 2000.
    Để củng cố quyền hành, ông Karimov đã thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình đòi dân chủ, giết một số người khá lớn (khoảng 1,000 -1,500) và giữ được ngôi vị cho đến khi qua đời vào năm 2016. Tượng ông này được đặt ngay cổng vào thắng tích Registan tại Samarkand và các nơi khác, vẫn không qua nổi cái cầu hãnh tiến, bắt dân chúng suy tôn lãnh tụ!
    Nemirov.jpg

    Kế vị là ông thủ tướng Shavkat Mirziyoyev cũng là bàn tay sắt nhưng bọc thêm chút xíu nhung nên có vẻ mềm mỏng hơn. Ông tổng thống mới đã nới lỏng cách buôn bán nên kinh tế có phần khởi sắc và cộng đồng quốc tế đã chịu đầu tư vào Uzbekistan. Tuy nhiên các nhà phân tích quốc tế vẫn dè dặt chờ xem sau vài năm nữa ông Mirziyoyev sẽ lèo lái con thuyền đất nước Uzbekistan ra sao.

    Từ năm 1992, chính sách giáo dục đã dần dần thay đổi, từ kiểu mẫu Xô Viết chuyển sang hệ thống “truyền thống” pha lẫn “hiện đại”, nghĩa là trường học cũng bao gồm mức tiểu học, trung học và đại học nhưng vẫn có các trung tâm giáo dục nặng về tôn giáo madrasah theo kiểu mẫu chủng viện Hồi giáo thời Trung Cổ. Học trò (gọi chính xác là “tu sinh”) được tuyển chọn để theo học ngành truyền giáo từ cấp trung học, khi tốt nghiệp sẽ trở thành tu sĩ hay Imam, về trụ trì (giảng đạo) tại các đền thờ Hồi giáo. Trường đạo [Hồi] ở mức tiểu học là maktab, cũng do các giáo hội Hồi Giáo tài trợ với sự đóng góp từ công quỹ. Trong thế kỷ XVIII – XIX, các chủng viện [Hồi giáo] này khá phổ thông tại Trung Á, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là các madrasah tại Bukhara, Khiva, Samarkand, và vùng Fergana Valley nơi tu sinh khắp vùng Trung Á đến du học. Nghĩa là các Imam và tu sĩ Hồi giáo tại Uzbekistan nổi tiếng một thời về kiến thức uyên thâm và được tin cậy, sùng bái.
    Dưới thời Nga Hoàng và Xô Viết, chủng viện bị bỏ phế dù việc hành lễ không bị cấm ngặt. Ngày nay, madrasah đang được phục hồi phần nào. Uzbekistan có khoảng 11 chủng viện chính thức, 9 chủng viện dành riêng cho nam tu sinh, hai dành cho phụ nữ. Phụ nữ khi tốt nghiệp từ các tu viện kể trên không được phong Imam mà chỉ là những người truyền đạo riêng cho phụ nữ, giữ vai trò cúng tế khi cộng đồng có phụ nữ qua đời!

    Ngôn ngữ Uzbek đang được sử dụng tại các trường học công lập, chỉ còn lớp tuổi 40+ mới có những người nói và viết tiếng Nga thuần thục như ngôn ngữ chính. Trong khi đó, các trường chuyên về ngoại ngữ mở cửa rầm rộ, dạy tiếng Anh (phổ thông nhất), tiếng Pháp và tiếng Đức. Qua lại trên các đường phố chính ở mấy thành phố lớn, Dế Mèn chưa thấy bảng quảng cáo dạy tiếng Nhật, tiếng Triều Tiên hoặc tiếng Hoa dù Nam Hàn đang đầu tư khá nhiều vào đất nước này. Nhìn quanh khá nhiều tiệm ăn Triều Tiên, chợ búa buôn bán rầm rộ những món dưa muối kimchi và mì chế biến từ gạo. Tài phiệt Nam Hàn mua cả hệ thống khách sạn Lotte, không lạ là ở đó, bữa điểm tâm có món cháo trắng ăn với kimchi, mì cay… Có thể là chừng chục năm nữa, dấu vết Nga Sô sẽ bị thay thế bởi Triều Tiên và cư dân sẽ dùng Anh ngữ như ngoại ngữ thứ nhất chăng?

    Về mặt văn hóa, sau những năm bị cấm đoán (văn chương, thơ phú, hội họa… mọi ngành nghệ thuật đều phải chịu sản xuất theo khuynh hướng Xô Viết, nghệ sĩ, học giả có khuynh hướng tự do đều bị cầm tù, tru diệt), người Uzbek trỗi dậy qua các hoạt động của Islāmic Renaissance Party. Dưới thời Stalin, nền văn hóa Uzbek mất mát khá nhiều các thân hào nhân sĩ và nghệ sĩ nên suốt mấy thế hệ con người, không có tác phẩm thuần túy nghệ thuật đặc thù của dân tộc Uzbek.
    Ngoài các hoạt động tôn giáo, nhiều tu sĩ đã làm công việc phục hồi văn hóa, tôn vinh, trình bày và phát hành những tác phẩm văn chương, âm nhạc, thư họa xưa cũ của nghệ sĩ nổi tiếng từ thế kỷ XI. Hóa ra việc đốt tác phẩm, tru diệt nghệ sĩ quy mô thế nào đi nữa bá tánh cũng vẫn liều mình thu góp và chôn dấu những di sản tinh thần mà họ tôn quý! Câu nói “chính thể nào rồi cũng qua đi nhưng dân tộc thì vẫn còn mãi” thiệt đúng quá xá!

    Uzbekistan giữ được khá nhiều thắng tích, đền đài xây cất theo truyền thống xưa như lăng mộ vua Ismāʿīl I của triều đại Sāmānid (thế kỷ IX-X) tại Bukhara, đền thờ Hồi giáo và lăng mộ tại Samarkand (thế kỷ XIV – XV) và rất nhiều các lăng tẩm, đền thờ, chủng viện, thành quách khác tại Khiva… đang được trùng tu sau khi bị chính quyền Xô Viết dùng làm kho chứa hàng, trại nuôi gia súc, chỗ sửa xe tải…

    Đi lang thang nhìn ngắm các đền đài bị bỏ hoang mới thấy bùi ngùi, cái ác của con người quả là sâu đậm, ảnh hưởng đến nhiều thế hệ về sau. Cái cảm giác bùi ngùi ấy theo Dế Mèn suốt chuyến rong chơi. Bị tàn phá, tiêu diệt như thế mà Uzbekistan vẫn giữ được những đền đài tuổi cả ngàn năm, sao đất nước mình với cả 4,000 năm lịch sử mà bói không ra một thành quách nào xưa cũ đáng kể, cung điện nặng ký lắm cũng chỉ vài trăm năm lẻ?
    Dưới đây là một ít hình ảnh “đời thường” từ Uzbekistan.
    Trại lạc đà giữa sa mạc, những con lạc đà một bướu, chịu được gió cát sa mạc và thể đi đến 50 cây số mỗi ngày:

    CamelFarm.JPG

    Nam giới thường mặc âu phục, đội mũ vuông:

    MenHats.jpg
    Phụ nữ mặc quần áo kín mít, áo dài tới bắp chân, bên trong mặc quần, đầu đội khăn trùm kín tóc tai, răng bịt vàng sáng lấp lánh:
    StreetSight.JPG
    Thiếu nữ, nhìn chung, có khuôn mặt nửa Á nửa Âu: khuôn trăng đầy đặn, mắt phượng một mí, tròng mắt đen hoặc nâu thẫm. Hai cô bé này đang học lớp 9, và khi gặp mặt, du khách ngoại quốc thường nghe ba câu hỏi 1) từ đâu đến, 2) tên là gì và 3) bao nhiêu tuổi:
    Students.jpg
    Chợ với các quầy hàng bán kimchi và mì sợi:
    KimchiStand.jpg NoodleStand.jpg
    Cư dân dùng lò đắp bằng đất sét, tandoor oven, đặt bên hiên nhà để nướng bánh:
    TandoorOven.JPG
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 26 tháng Tư 2019
  4. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Tashkent

    Tashkent (theo Uzbek: Toshkent) là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất vùng Trung Á, nằm về phía đông bắc trên lãnh thổ Uzbekistan. Tashkent hiện diện từ thế kỷ I trước Công Nguyên và có nhiều tên gọi Dzhadzh, Chachkent, Shashkent, Binkent; tên gọi ‘Tashkent’ có nghĩa là “thành phố đá”, “Stone Village”, xuất hiện trong sách vở từ thế kỷ XI.
    Đây là một địa điểm buôn bán trọng yếu trên con đường Tơ Lụa từ Âu Châu qua Đông Á của những đoàn thương buôn. Vào thế kỷ VIII, người Ả Rập chiếm được Tashkent và cai trị vùng đất này mang theo tôn giáo mới, Hồi giáo, cho đến khi quân Mông Cổ thắng trận và đặt ra triều đại mới vào thế kỷ XIII. Kế tiếp là các triều đại Timurid (gốc Mông Cổ - Turkic) và Shaybānid cho đến khi trở thành một lãnh địa của Kokand năm 1809. Hoàng triều Nga, rồi khối cộng sản Xô Viết chiếm lãnh Tashkent từ năm 1865 và cai trị toàn cõi Trung Á cho đến năm 1991, Uzbekistan mới được độc lập. Từ năm 1930, Tashkent thay thế Samarkand để trở thành thủ đô của Uzbekistan.

    Dế Mèn đến đây vào lúc nửa đêm về sáng trên chuyến bay khoảng 4 tiếng từ Istanbul nên lờ đờ mệt mỏi. Thủ tục nhập cảnh khá nhanh, ông cảnh sát trẻ tuổi mắt dài da trắng chỉ nói mỗi một câu ‘welcome to Uzbekistan’ rồi cười toe, đóng dấu tờ chiếu khán, du khách Huê Kỳ cần chiếu khán trong khi du khách Liên Âu và một số quốc gia được miễn!
    Một thủ tục hành chánh khá lạ lùng là tại mỗi nơi cư trú, du khách đều phải ghi danh và giữ tờ giấy thị thực của khách sạn, nghĩa là ta phải có giấy chứng thực là đã cư ngụ nơi nào trong thời gian thăm viếng đất nước này. Khi rời Uzbekistan, sở Di Trú khám xét đầy đủ rồi mới cho đi!

    Tashkent nằm giữa vùng kỹ nghệ canh tác của Uzbekistan, nông phẩm quan trọng nhất là cô tông, lúa mì, gạo, rau cỏ và dưa hấu chưa kể ngành trồng dâu nuôi tằm để lấy tơ. Phần lớn các hãng xưởng ở đây đều liên quan đến cô tông, từ lấy sợi đến dệt vải. Cũng tại đây, các trung tâm giáo dục (trường đại học lớn) và văn hóa (hí viện & viện bảo tàng) được mở cửa từ những năm 20 của thế kỷ trước. Tashkent do đó trở thành trung tâm văn hóa và kinh tế của vùng Trung Á. Hôm phe ta ghé thăm, hí viện đang trình diễn chương trình ca vũ nhạc ballet “The Nutcrackers”, thường thấy ở New York trong mùa Giáng Sinh. Đoàn vũ Tashkent gồm các vũ công địa phương, nhiều người được huấn luyện tại Nga Sô.
    Tuy nhiên, năm 1966, thành phố chịu một trận động đất khá lớn, nhiều tòa nhà bị phá huỷ hoàn toàn trừ một vài di tích như Barakkhan Madrasah và lăng tẩm từ thế kỷ XV – XVI. Nhiều tòa nhà tại Tashkent được công nhân Nga xây cất lại và trùng tu một số di tích cũ. Không lạ là Tashkent giữ được nhiều nét đặc thù của thời Xô Viết nhưng các bức tượng Lenin đều bị kéo sập và bỏ xó.
    SovietStatue.jpg

    Hiện nay dân số Tashkent khoảng 2.8 triệu người, mật độ dân cư đông nhất tại Uzbekistan và là nơi sinh sống của nhiều sắc dân từ Uzbek, Kazakh, con cháu người Mông Cổ mặt tròn mắt dài một mí, Armenian,Tajik, đến con cháu đại đế Alexander the Great mắt xanh lục, tóc đỏ hoe. Người Nga đến đây từ thời Xô Viết, và phong trào di dân của Stalin mang theo người Triều Tiên, Volga German, và Crimean Tatar. Tạm hiểu, Tashkent là cái nồi “xà bần” pha trộn nhiều bộ tộc khá đặc biệt, từ mặt mũi hình dáng đến cổ tục và thói quen sinh hoạt. Cái nồi xà bần này vô cùng khởi sắc, vượt xa cái nồi xà bần Huê Kỳ mệnh danh “melting pot” về phẩm lẫn lượng.

    Trên phố xá, tên đường viết theo chữ Uzbek với mẫu tự La Mã, đôi khi kèm cả mẫu tự Cyrillic (dấu vết thời Nga), và người thành phố cũng gọi tên đường phố theo kiểu Nga, thí dụ như khu Osiyo ko’chasi được biết đến qua tên cũ là Moskovskaya. Ta tha hồ lộn tùng phèo! Dế Mèn đành dùng các công viên lớn như Amir Timur square để… đánh dấu chứ mò theo bản đồ thì chịu thua. “Amir” tạm dịch là “đại đế” hay “đại hãn”, Timur được tôn vinh là vị vua lập quốc của người Uzbek, sẽ nói thêm về đại hãn con cháu Thành Cát Tư Hãn này khi kể chuyện Samarkand, cố đô và lăng tẩm dòng họ vua Mông Cổ đều đặt ở đó.
    Đầu tháng Tư ở đây vào mùa xuân, thời tiết rất mát mẻ dễ chịu dù nắng khá chói chang. Dế Mèn nghe nói mùa hè trời nóng vô cùng, nhiệt độ lên đến 110 độ F và mùa đông lạnh cỡ 10 độ âm F! Nghĩa là chẳng cách chi mà đi lang thang ngoài đường phố trong thứ thời tiết khắc nghiệt như thế. Cư dân dùng hệ thống xe điện ngầm xây cất từ thời Xô Viết nên trạm ngừng trông từa tựa như các trạm xe điện ngầm ở Moscow, cũng trang hoàng tỉ mỉ với các bức tường lát gạch màu tươi sáng và sạch sẽ. Như trạm xe điện ngầm Kosmonavtlar trang hoàng theo kiểu mẫu không gian với các phi hành gia Nga Sô, ông Gagarin dẫn đầu.
    Metro.jpg


    Uzbekistan dùng đồng soum, theo hối suất hôm ấy 1 mỹ kim đổi được cỡ 8,300 soum, nghĩa là ta phải khuân bên mình một cọc tiền giấy, đổi từ ngân hang sau khi xuất trình sổ thông hành, vì chẳng mấy hàng quán nhận thẻ tín dụng và máy ATM không mấy thông dụng. Lệ phí xe điện ngầm là 1,200 soum / mỗi chuyến, rẻ rề nên Dế Mèn cũng thử cho biết. “Vé” là một miếng nhựa tròn mỏng, token, kích thước vừa vặn với khe cửa tự động. Metro sạch sẽ lại vắng vẻ và tiện dụng gấp mấy chục lần subway New York! Tashkent cũng có taxi nhưng không biết nói tiếng Uzbek, chẳng thể nào ta sử dụng phương tiện ấy trừ khi trao người tài xế địa chỉ ta muốn đến và hy vọng sẽ đến nơi như ý. Dế Mèn nghe nói ở thành phố ấy, tội ác rất hiếm hoi; phần đông cư dân là những người vui vẻ, hiền lành!

    Món ăn phổ thông quen thuộc của Uzbekistan là “plov”, nấu bằng một loại gạo hạt dài, ít tinh bột. Dế Mèn theo người dẫn đường đến quán địa phương, the Central Asian Plov Center, chuyên trị món “plov”. Họ nấu từng tảng thịt cừu, lượng mỡ và thịt bằng nhau, qua nhiều giờ, rồi đổ gạo đã ngâm qua đêm, lên trên và dùng hơi nóng hấp cho chín. Khi cơm chín tới, hạt gạo còn nguyên không bị nát, cơm, thịt, đậu, mơ / mận khô thái mỏng… và mỡ được trộn đều trong chảo. Voila, khách ăn đứng chờ đĩa cơm được múc ra từ cái chảo khổng lồ, có người bỏ thêm trái trứng gà hoặc miếng dồi thịt ngựa lên dĩa cơm còn nóng và trả tiền tại chỗ trước khi bưng đĩa cơm đến chỗ ăn. Dĩa cơm giá trung bình khoảng 1 mỹ kim, khá lạ miệng nhưng nặng mùi mỡ cừu dù rất ít thịt, ngay cả món plov nấu với thịt bò cũng nặng mùi mỡ cừu!
    Plov.jpg

    Một món khác khá quen thuộc địa phương là “somsa”, một loại “bánh”, vỏ bột bao quanh nhân khoai, thịt hoặc bí đỏ và chiên bằng mỡ cừu! Ngoài mấy món ăn phổ thông của vùng Trung Á, một số thức ăn xuất xứ từ Nga cũng được dân địa phương tận tình chiếu cố như món canh / soup bắp cải hầm với cà rốt và đuôi bò, borscht, và món bánh hấp pelmeni dumpling với thìa là.
    Thức ăn lạ miệng nên phe ta chịu làm quen nhưng quen thế nào thì quen, chỉ được dăm ngày là đầu hàng, mấy hôm sau chỉ nhấm nháp bánh mì với bơ, rồi dưa leo và cà chua. Hai món “rau” này thì Dế Mèn công nhận là rất ngon, đầy đủ hương vị của rau tươi. Đi ta bà ba tuần lễ, về tới nhà thấy mình rơi mất 5-6 cân Anh dù không bị Tào Tháo rượt chạy đổ mồ hôi như mấy người cùng nhóm du khách!

    Chorsu Bazaar là ngôi chợ cổ nhất thành phố, bán đầy đủ mọi thứ rau cỏ, bánh mì, thịt… và cả những vật gia dụng. Mới đến Tashkent nên phe ta chỉ ngó mà chẳng mua thứ chi vì sợ phải khuân vác món hàng suốt hành trình chưa kể nỗi ngại ngần mua bán phải trả giá rồi thể nào cũng… hớ!
    Chorsu.jpg

    Một vài thắng tích khác như Barak Khan Madrassah nơi lưu trữ cuốn kinh Qu’ran cổ nhất của thế giới, phe ta chỉ được chụp hình từ bên ngoài:
    BarakKhan.jpg

    Một vài địa điểm mới được xây cất từ thời độc lập như đài tưởng niệm tử sĩ, các nạn nhân của Stalin, Shahidlar Xotirasi Complex, với ngọn lửa vĩnh cửu:
    Shahiddlar.JPG
    Một vài địa điểm khác từ trung tâm thành phố, đài kỷ niệm nạn nhân chiến tranh và cả Independent Square (trước đây là Lenin Square) nơi đặt các tòa nhà hành chánh của Uzbekistan:
    IndependentSquare.JPG MemorialPark.jpg
    MainSt.jpg
     
  5. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Samarkand, cố đô

    Samarkand (Samarqand) là cố đô, một thành phố nằm trong thung lũng sông Zerafshan, phía đông bắc của Uzbekistan, chiếm địa thế quan trọng về tài nguyên thiên nhiên như nguồn nước và đất đai nhiều hoa màu. Do đó, nơi này đã có dấu vết của cư dân từ những năm 1,500 trước Công Nguyên.
    Đất lành, dễ sinh sống nên con người quây quần ở đây và vì thế, Samarkand nằm trong tầm ngắm của nhiều đoàn quân xâm lăng. Quân đội của Đại Đế Alexander đã chiếm lãnh vùng đất này từ năm 320 trước Công Nguyên, Sau đó là những người Sogdia (xuất phát từ Iran) đã đến đây buôn bán (xăm làng bằng kinh tế?), tiếp tục xa hơn tận Pakistan, rồi đến người Hán từ Hoa Lục (năm 206 trước Công Nguyên – năm 220) cũng đến đây làm ăn. Buôn bán rầm rộ như thế nên thành phố trở thành một trong những địa điểm dừng chân chính của các đoàn thương buôn trên đường Tơ Lụa.
    Triều đại Sogdia thua trận, Samarkand bị quân đội Hồi giáo chiếm lãnh trong thế kỷ IX thành lập triều đại Samanid (cũng gốc gác Iran), từ đó Hồi giáo trở thành quốc giáo tại vùng đất này.

    Đến thế kỷ XII, Samarkand bị tàn phá dưới chân quân Mông Cổ do Genghis Khan lãnh đạo, các đền đài cũ hầu như bị huỷ hoại hoàn toàn. Con cháu đại hãn Mông Cổ, sau khi tranh giành và chiếm được đất đai từ các hoàng thân khác, Timur (Tamelane) lập nên triều đại Timurid, đặt thủ đô tại Samarkand. Ngày nay, người Uzbek tôn xưng đại hãn Timur (Amir Timur) như ông tổ lập quốc và gìn giữ các lăng tẩm của dòng họ này.
    Tượng Amir Timur ngồi giữa công viên, chân phải ngắn hơn chân trái (dấu vết thương tật thời còn trẻ), cứ bị con nít rắn mắt leo lên đầu lên cổ để chụp hình:
    Timur.jpg

    Đại hãn Timur (sinh ngày 9 tháng Tư, 1336, mất ngày 17 hoặc 18 tháng Hai, 1405) hay TimurIn, Temūr, Temür, Amir Timur, Timur-i lang, hoặc Tamerlane trong sách vở, dòng giống Mông Cổ lai Turk, thống lãnh vùng đất rộng lớn trải dài từ Persia đến vùng Trung Á ngày nay. “Timur” có nghĩa là “sắt thép” theo Thổ ngữ; “Timur-i lang” có nghĩa “Temur, người què” theo Persian.

    Suốt cuộc đời chinh chiến, Timur được biết đến như một nhà quân sự tài giỏi, chiếm được nhiều đất đai, chỉ thua có Đại Đế Alexander. Quân đội của đại hãn reo rắc kinh hoàng, khiếp đảm khắp Âu Á và cả Phi châu, phía đông, từ Delhi đến Moscow: phía tây, từ núi Tien Shan vùng Trung Á đến núi Taurus của Anatolia. Sử gia ngày nay đưa ra một con số từ vong khủng khiếp: trên đường chinh phục thành quách, đại hãn đã giết khoảng 17 triệu người, cỡ 5% dân số thủa ấy!
    Sách vở mô tả đại hãn là một người cao lớn, đầu to trán rộng, da trắng; bị thương tật tại chân phải, tay phải cũng bị co cứng từ tuổi 20, trúng tên bắn khi đi ăn cắp gia súc! Bị tàn tật nhưng Timur vẫn là một người giỏi võ nghệ và có tài điều khiển quân đội. Dù không biết đọc hoặc viết nhưng Timur vẫn nói thông thạo tiếng Thổ và Persian, sách vở được đọc cho đại hãn nghe khi ông này ăn uống. Đại hãn vô cùng thông minh, chơi cờ tướng rất giỏi và đã chế ra loại cờ tướng có 110 quân cờ, ngày này có tên “Tamerlane Chess”. Là một người khôn ngoan, đại hãn sử dụng Hồi giáo để duy trì quyền lực và tự xưng là “Thank kiếm [của] đạo Hồi” cũng như kể lể rằng ông ta là con cháu của “Ali”, trợ giúp việc tạo dựng đền thờ Hồi giáo và khuyến dụ người ngoại quốc theo đạo Hồi!

    Giữa thành phố là các công trình kiến trúc tuổi 600-700 năm như Registan, Gur-e-Amir, Bibi-Khanym Mosque và Shah-i-Zinda, xây cất theo kiểu mẫu Islam. Dế Mèn đến đó vào ngày cuối tuần, con nít người lớn đi thăm viếng lăng tẩm rầm rộ nên di tích nào cũng đông người qua lại. Sau đây là một số hình ảnh từ Samakand.
    Registan là một công trường rộng gồm ba tòa nhà vĩ đại, mặt tiền là những bức tường lát gạch men xanh, xanh dương và cả xanh lục theo hình kỷ hà, phe ta phải dùng các hoa văn cẩn trên cổng để phân biệt các tòa nhà với nhau. Chính giữa là sân trống, đủ chỗ cho vài ngàn người tế lễ. Đằng sau là các khoảng vườn nhỏ, tháng Tư nên hoa đào nở trắng cây. Những người dọn dẹp phải quét dọn liên tục, bỏ lại cái chổi dựng trước cửa đền.
    Registan:
    Registan2.jpg Registan3.jpg PeachBlossom.jpg

    Lăng mộ nằm trên đồi, Shah-i-Zinda, cũng kiến trúc kiểu Islam. Leo mỏi cẳng trên dưới trăm bậc thang đá thì đến nơi. Ngoài hoàng tộc Timurid, vợ, chị em, con cháu của đại hãn Timur, đây cũng là nơi chôn cất những Imam nổi tiếng như anh em họ của giáo chủ Muhammed, Kusam ibn Abbas…
    Mausoleum.JPG
    Amir.JPG Inside.jpg

    Gur-e-Amir, lăng mộ Amir Timur, là một tòa nhà lớn, nhưng nơi chôn cất thực sự lại nằm phía sau, lẫn trong vùng mộ chí, cửa khóa chặt. Chuyện kể rằng dưới thời Xô Viết, các nhà khảo cổ Nga đã đào xới mộ để tìm hiểu và khẳng định rằng xương cốt trong phần mộ là của một người bị què chân và lọi tay phải, in hệt như sách vở mô tả hình dạng đại hãn. Tuy nhiên khi còn sống, đại hãn đã có lời nguyền đại khái rằng nếu xương cốt ta [bị] trỗi dậy, thì thế giới sẽ không yên… và người Uzbek tin rằng tổ phụ họ bị mạo phạm nên chiến tranh tiếp diễn rầm rầm!
    Đền thờ Bibi-Khanym Mosque:
    Bibikhanum.JPG

    Dù Hồi giáo là quốc giáo nhưng tại Samarkand cũng có vài ngôi nhà thờ Thiên Chúa Giáo, St John the Baptist là ngôi nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã duy nhất, nhỏ xíu chỉ chứa khoảng 50-60 người là hết chỗ.
    Church.jpg
     
    p324530 likes this.
  6. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Bukhara

    Bukhara, còn có tên Bukhoro hoặc Buxoro theo tiếng địa phương, là một thành phố cổ theo hướng nam của U, khoảng 140 dặm từ phía tây Samarkand, dân số ngày nay khoảng 275 ngàn người. Bukhara nằm trong đồng bằng sông Zevrashan bên kênh Shakhrud, có nghĩa địa phương này là đất sống, có nước để trồng trọt, canh tác.
    Từ thế kỷ I, Bukhara đã là một trong những trạm buôn bán chính trên đường Tơ Lụa, giàu có nên Bukhara cũng nằm trong tầm ngắm của các đoàn quân xâm lăng, chiếm đất đai, cướp của cải, từ quân đội Ả Rập năm 709 (triều đại Sāmānid) đến triều đại Qarakhanid và Karakitais trước khi bị người Mông Cổ (Genghis Khan) chiếm lãnh và con cháu là Timur (Tamerlane) cai trị suốt mấy trăm năm. Năm 1506, dân Uzbek lập ra triều đại Shaybānid, đặt thủ đô tại đây và trở thành “hoàng triều Bukhara”.
    Triều đại Shaybānid được thay thế bằng Mangit do đại hãn Moḥammed Raḥīm thống lãnh. Năm 1868, Bukhara bị người Nga chiếm làm thuộc địa, đất bảo hộ, và trở thành “the Bukharan People’s Soviet Republic” vào năm 1920. Chỉ vỏn vẹn 4 năm sau đó, Bukhara bị gom vào lãnh thổ Uzbek và là một thành phố của Uzbek S.S.R.

    Thành phố được UNESCO nhìn nhận là “Di Sản Thế Giới” vào năm 1993 nhờ giữ được khá nhiều di tích, từ đền thờ, tu viện Hồi giáo (madrasa) đến các ngôi nhà xây bằng đất nung (qua sức nóng của mặt trời) cũng như các ngôi chợ, baazar.
    Nhìn chung, phố cổ của Bukhara không lớn lắm, ta đi quanh nhìn ngắm khoảng một ngày là có thể “gặp” hầu hết các địa điểm chính. Dù Bukhara là đất dệt thảm, có những tấm thảm nổi tiếng thế giới mang nhãn hiệu “Bukhara” nên phe ta tưởng rằng thảm xuất phát từ đây. Hóa ra bé cái lầm! Bukhara là một kiểu hoa văn, mẫu dệt được nhiều địa phương nhận là của họ, từ Thổ Nhĩ Kỳ, Uzbekistan đến Turkmenistan. Đi đến viện bảo tàng thảm địa phương nào Dế Mèn cũng thấy kiểu mẫu dệt ấy, dù màu sắc pha trộn không giống nhau vẫn mẫu hình kỷ hà có tám góc hay sáu góc, từa tựa như nhau hoặc giả có sự khác biệt tinh tế nào đó mà phe ta mắt trần tục, “nghệ sĩ” loại tay mơ nên ngó hoài mà không nhìn ra sự khác biệt?!

    Nhìn chung, Bukhara tuy nhỏ nhưng xem ra đã được "thay đổi" khá khá để thu hút du khách. Hàng quán, khách sạn đều "làm ăn" theo kiểu các thành phố du lịch trên thế giới nên mất khá nhiều vẻ "hương đồng cỏ nội". So với Samarkand còn giữ được ít nhiều không khí "địa phương" và Taskent thì hoàn toàn theo kiểu Tây phương.
    Dưới đây là một ít hình ảnh từ Bukhara.

    The Ark, tường thành cổ, là di tích nhiều tuổi nhất của thành phố:
    TheArk.jpg

    Char-Minar Mosque:
    Char-MinarMosque.jpg
    Ismāʿīl Sāmānī Mausoleum (thế kỷ IX – X):
    IsmailSamanid.jpg

    Một di tích khác:
    Ruin.JPG

    Tháp Kalyan (1127) và đền thờ (thế kỷ XIV):
    KalyonMinaret.jpg Kalon.jpg

    Trung tâm thành phố là bức tượng đồng của người lái buôn mặt mũi hoan hỉ cưỡi lừa, bá tánh chen chân chụp hình ở đây suốt ngày nên lúc nào cũng rầm rập người qua lại:
    TownCenter.JPG Town Street.JPG

    Trên đường đi Khiva, nhóm du khách dừng chân tại Karvon Saray nơi đoàn thương buôn năm xưa dừng chân nghỉ ngơi, cho lừa ngựa lạc đà uống nước và trao đổi hàng hóa:
    Karvon Saray.JPG
    Trạm dừng chân có hầm nước Sardoba tuổi ngàn năm. Lừa ngựa uống nước thì chủ nhân phải trả tiền nhưng chủ lại được ăn ở miễn phí!
    Sardoba.JPG
     
    p324530 likes this.
  7. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Khiva

    Khiva
    (hay Xiva, Xīveh, Kheeva, Khorasam, Khoresm, Khwarezm, Khwarizm, Khwarazm, Chorezm) là một thành phố cổ trong tỉnh Xorazm của Uzbekistan, dân số khoảng 90 ngàn người. Thành phố nhỏ xíu này từng là thủ đô của Khwarezmia và lãnh địa (Khanate) Khiva.
    Nhiều tên gọi như thế nên tạm hiểu rằng thành phố ấy có gốc gác khá ly kỳ dù ngày nay, ta cũng chưa biết rõ giải thuyết nào chính xác. Truyền thuyết xưa nhất xuất phát từ… thánh kinh kể chuyện những người con trai của Prophet Noah, sau cơn đại hồng thủy, ông Shem (AS) lang thang trong sa mạc. Đi theo giấc mơ có 300 cây đuốc cháy, ông Shem tìm thấy địa điểm ấy và đào giếng, giếng nước Kheyvak có vị ngọt đặc biệt nên thành phố được gọi tên theo giếng nước ấy.
    Câu chuyện khác cũng liên quan đến giếng nước, nhiều khách du hành đi ngang nơi này và được uống nước ngọt nên khen ngợi rối rít "Khey vakh!" (có nghĩangon ngọt quá" hiểu theo tiếng Việt ta) nên từ đó thành phố có tên “Kheyvakh” hay Khiva.
    Một tên gọi khác xuất phát từ Thổ ngữ “Khwarezm” hay “Khivarezem” và trở thành “Khiva” (“Khwarezm” dường như trùng hợp với tên một địa phương khác trong lãnh thổ Karakalpakstan ngày nay?).

    Trong thế kỷ XVII, Khiva cũng trải qua giai đoạn “lãnh địa” (khanate), the Khanate of Khiva, dưới sự cai trị của người Mông Cổ, triều đại Genghisid cho đến khi bị người Nga chiếm đất và trở thành đất “bảo hộ”, rồi “Khorezm People's Soviet Republic” và sau cùng bị gom vào lãnh thổ Uzbekistan năm 1924.

    Khiva gồm hai phần, bên ngoài là Dichan Kala, bao bọc bởi một lớp tường thành dày cả thước gồm 11 cổng vào. Nội thành là Itchan Kala, cũng được bao bọc bởi một lớp tường gạch mỏng với nền móng được đặt từ thế kỷ X. Tường thành Dichan Kala ngày nay là những bức tường cao trên 10 thước, tuổi tác từ thế kỷ XVII.
    Phố Cổ có trên 50 đền đài và 250 ngôi nhà cổ xây cất từ thế kỷ XVIII – XIX. Người dẫn đường biểu rằng nhà cửa trong thành không còn được tự do mua bán, chủ nhà chỉ có thể để lại cho truyền nhân, con cái mà thôi.
    Qua cổng thành là những con đường đất đỏ, bụi mù. Chỉ vài ba cổng lớn mới có đường nhựa, và ta mua vé vào thành ở cổng chính. Nhìn quanh, nơi nào cũng là di tích, cứ vài bước lại thấy viện bảo tàng nhỏ nhỏ trưng bày từ nhạc cụ, thảm, khoa học, nhiếp ảnh thời sơ khai…, chưa kể lăng mộ và đền thờ. Các tòa nhà cổ kính cho ta cảm tưởng đang bước vào một thành phố thời Trung Cổ, nhưng khác với Âu Châu là nhà cửa xây cất theo kiểu kiến trúc Islam.

    Trên vỉa hè khắp nơi, người địa phương bày bán đủ mọi thứ, từ các sản phẩm bằng gỗ đến chén dĩa bằng đất nung tráng men màu sắc rực rỡ, nón mũ bằng lông thú, tranh vẽ, tranh thêu, bao gối thêu… Muốn mua món chi cũng phải trả giá, mà dù có trả giá kịch liệt thế nào du khách vẫn mua hớ như thường nên phe ta chỉ mua vài món nhỏ nhỏ như cái giá để sách (kiểu giá sách đựng cuốn kinh Quran mở sẵn khi hành lễ) bằng gỗ xếp gọn trong túi đeo lưng. Chỉ hai mảnh gỗ ghép với nhau nhưng sắp xếp rất lạ mắt, có thể thay đổi 6, 7 vị thế khác nhau, phe ta đem về để đựng cuốn sách nấu ăn trên bàn bếp khi cần sử dụng. Ngó cũng lạ lạ.

    Khiva, theo ý riêng, có lẽ là thành phố đẹp nhất, đáng xem nhất, ăn đứt Bukhara, Samarkand, Nukus… Chỉ tiếc rằng thành phố này quá xa xôi, đường sá lại ổ voi ổ gà, phải ngồi cong lưng cả ngày 8-9 tiếng trên xe bus (từ Bukhara) vượt sa mạc gió cát mới đến nơi. Nhưng đến nơi rồi thì Dế Mèn không tiếc công lặn lội vì thành phố đẹp quá xá dù có người cho rằng Khiva được trùng tu kỹ quá, từng phân vuông đất đều được con người tẩn mẩn sửa chữa nên không còn cổ xưa nữa!?
    Dưới đây là một ít hình ảnh từ Khiva

    Tường thành từ bên ngoài, phía trước là các ngôi mộ cổ. Tại sao thế nhỉ? Theo tục lệ Hồi giáo, phá mộ chí là phạm tội nên các ngôi mộ ấy dùng để “bảo vệ” tường thành. Dọc bờ tường là ống dẫn khí thiên nhiên, một phần của hệ thống ống dẫn dài mấy chục ngàn dặm từ vùng Trung Á qua Nga Sô và Hoa Lục! Trông xấu ình nhưng không có thì không xong, cư dân Uzbekistan cần tiền để sinh sống và phát triển kinh tế. Hoa Lục cần khí đốt để dùng và Nga Sô cũng muốn gom khí đốt hầu bán qua Âu châu kiếm tiền [trung gian] bỏ túi và làm reo khi cần!
    Gate.jpg Wall.jpg
    Bản đồ thành phố bằng gạch men trên tường:
    KhivaMap.jpg
    Juma (Djuma) Mosque là tòa nhà cổ, thế kỷ X, mái nhà được chống đỡ bằng 213 cột gỗ cây du (elm hoặc karagacha theo tiếng địa phương), có cây cột tuổi tác trên ngàn năm; mỗi cột chạm trổ theo thời đại riêng. Hơn nửa các cột chống này tương đối “mới”, tuổi tác từ thế kỷ XVII, được gom về từ các tòa nhà đổ nát sau mấy trận động đất, sử dụng lại trong việc tu bổ đền thờ. Bệ cột là những khối gỗ camel, người xưa dùng để chống đỡ thiên tai vì loại gỗ này khá dẻo dai. Lối vào là cây cột gỗ chạm trổ rất đẹp, đền thờ thì đền thờ nhưng lối vào trên sân vẫn bị sử dụng làm nơi bày hàng hóa.

    JumaEntrance.JPG JumaMosque.jpg
    Lăng tẩm Pahlavan Mahmud cũng là đền thờ nơi bá tánh đến cầu nguyện. Bước vào đền thờ nên phe ta phải tháo giày và đội khăn cẩn thận:

    Enteringmosque.JPG
    Tháp xanh dương Kalta Minor nằm giữa thành phố cổ, lẽ ra là một minaret (dựng bên cạnh đền thờ) nhưng vị đại hãn khởi công qua đời khi việc xây cất còn dở dang, con cháu kế vị lại chẳng muốn xây cất tiếp nên ta có cái cột cẩn gạch men nằm lẻ loi:
    Minaret.jpg
    Giếng nước cổ (tương truyền do ông Shem tạo dựng) nằm giữa công trường thành phố:

    TheWell.JPG
    Ngày nay tại công trường chính vẫn còn các lò tandoor của cộng đồng nội thành 3,000 dân, ai cũng có thể sử dụng để nướng bánh:
    tandooroven.JPG
    Nhạc công trình diễn nhạc cụ cổ truyển trước viện bảo tàng nhạc cụ:

    musicians.jpg
     
    p324530 likes this.

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn