Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Dân số: mối lo âu của thế giới?

Chủ đề trong 'Kiến Thức Khắp Nơi' do lltran khởi đầu 24 tháng Giêng 2019.

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    fertility-rate-united-states-1909-2016.jpeg

    Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, trong khoảng thời gian 2010 - 2015, tỷ lệ sinh sản của 83 quốc gia đã sút giảm dưới mức “thay thế” của dân số (số người qua đời so với số trẻ em ra đời; khi hai tỷ lệ này tương đương thì dân số tại địa phương ấy được xem là “không thay đổi”, dân số được “thay thế” đúng mức). Hoa Lục, Hoa Kỳ, Brazil, Nga Sô, Nhật Bản, Việt Nam, Đức, Iran, Thái Lan và Anh Quốc là những quốc gia trong danh sách 83 kể trên, các quốc gia “đóng góp” này khoảng 46% dân số thế giới. Nói giản dị là trên một nửa thế giới, dân số đang sút giảm đáng kể.

    Bản tường trình Green Book of Population and Labor công bố từ the China Academy of Social Sciences (CASS) vào đầu năm 2019 cho thấy một số dữ kiện đáng kể: Hoa Lục đang dẫn đầu thế giới về dân số, và số cư dân sẽ lên đến 1.44 tỷ người vào năm 2029 theo dự đoán, nhưng dân số ở quốc gia này sẽ tuột dốc không phanh vào năm 2030. Vào giữa thế kỷ XXI, dân số Hoa Lục sẽ chỉ còn 1.36 tỷ người và nhân lực cũng sút giảm khoảng 200 triệu người. Nếu phụ nữ tiếp tục không [chịu] sinh đẻ, dân số Hoa Lục có thể chỉ còn 1.17 tỷ vào năm 2065.
    Ngoài ra, họ lên tiếng báo động là “tỷ lệ phụ thuộc” (tạm dịch từ chữ “dependency rate”) hay số cư dân không đi làm (bao gồm trẻ em và người già cả) sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng trong mấy thập niên sắp tới, tạo nên các ảnh hưởng sâu đậm về kinh tế và xã hội. Các chuyên gia Hoa Lục cũng cho rằng Ấn Độ đang dẫn đầu và có thể sẽ là quốc gia đông dân nhất thế giới!

    Hiện nay, dân số tại Ấn Độ là 1.37 tỷ người, khoảng 18% dân số thế giới. Đây là quốc gia đông dân thứ nhì trên bảng xếp hạng của thế giới.

    Các chuyên gia từ Liên Hiệp Quốc ước tính rằng Ấn Độ sẽ qua mặt Hoa Lục về dân số vào năm 2014. Hằng năm, dân số thế giới sẽ gia tăng khoảng 83 triệu người, và sẽ lên đến 11.2 tỷ người vào năm 2100; cũng vào năm này, 80% dân số thế giới sẽ sinh sống tại Á Châu hoặc Âu Châu.

    Nigeria sẽ tiếp tục là nơi cư dân sinh sản nhanh chóng nhất (hiện nay đang giữ hạng thứ bảy) và sẽ qua mặt dân số Hoa kỳ vào năm 2050.

    Tại Hoa Kỳ, thống kê của CDC cho thấy mức sinh sản đã xuống mức thấp nhất so với ba thập niên trước: 3,855,500 đứa trẻ ra đời (theo sổ bộ khai sinh) vào năm 2017, giảm 2% so với năm 2016. Tỷ lệ sinh sản của phụ nữ Hoa Kỳ là 1.7; và 43% các ca sinh sản do chính phủ đài thọ qua chương trình Medicaid. Nôm na là gần một nửa số trẻ em ra đời trong cảnh nghèo khó, cha mẹ không thể cáng đáng các chi phí y tế và được trợ giúp từ chính phủ địa phương.

    Sự tiết giảm dân số Huê Kỳ là điều các nhà xã hội lo ngại nhưng mối lo âu ấy không cấp thiết như Nhật Bản.
    Theo chính phủ Nhật, phụ nữ Nhật sanh 921,000 trẻ em vào năm 2018; mức sinh sản thấp nhất từ năm 1899 khi họ bắt đầu làm thống kê; điều đáng lo âu hơn nữa là vào thủa ấy, dân số Nhật chỉ bằng 1/3 hiện nay! Nghĩa là dù ít dân nhưng trẻ em ra đời nhiều hơn.
    Ngược lại, năm 2018, số người qua đời tại Nhật lên đến mức cao nhất trong suốt một thế kỷ qua. Tạm hiểu là quốc gia này đang trải qua một cuộc khủng hoảng về dân số (nhân lực). Kinh tế khó long phát triển khi thiếu nhân lực trầm trọng, nhất là khi người gia về hưu hàng loạt mà không có người trẻ thay thế, chưa kể các chương trình tài trợ người già đều dựa trên thuế má đóng góp từ người đang đi làm.

    Nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sút giảm dân số: Ngoài một số yếu tố đặc thù liên quan đến văn hóa Nhật, các nguyên nhân khác cũng tương tự như các quốc gia giàu có. Cư dân Nhật mỗi ngày một cao tuổi trong khi số phụ nữ trong tuồi sinh sản cũng sút giảm; và ngay trong số phụ nữ có thể sinh sản, họ vẫn không muốn sinh nở vì các áp lực xã hội. Yếu tố thứ nhì là tỷ lệ kết hôn tại Nhật, cũng như nhiều nơi khác kể cả Hoa Kỳ, tiếp tục sút giảm. Tuy nhiên, khác với phụ nữ thế giới, người Nhật không sinh con khi độc thân. Tỷ lệ phụ nữ sinh con nhưng không kết hôn (mẹ độc thân) tại Nhật là 2% trong khi tại các quốc gia khác là 40%. Yếu tố đáng kể khác dẫn đến việc không lập gia đình là việc cư dân không có việc làm vững chắc; hiện nay, nhiều nam nhân Nhật Bản chỉ có công việc bán phần hoặc tạm thời nên họ không muốn mang thêm gánh nặng gia đình. Ngay cả khi có việc làm vững chắc, nhân viên Nhật làm việc nhiều giờ trong ngày và đời sống gia đình xếp thứ hạng sau công việc; vắng mặt cha, mẹ hoặc cả hai suốt ngày khiến việc chăm nom con cái cẩn thận trở nên bất khả thị.
    Trước bản tin xã hội u ám ấy, ông Thủ Tướng Nhật Bản, Shinzo Abe, đăng đàn công bố các biện pháp mới hầu duy trì dân số qua các chương trình giúp đỡ cư dân trẻ tuổi để họ chịu sinh con như gia tăng mức trợ giúp từ chính phủ để cha mẹ có thể bớt giờ làm việc, thêm phụ cấp nuôi con, giảm lệ phí các cơ sở giữ trẻ … Nhưng biện pháp cấp thiết nhất để trám lỗ hổng “thiếu người” là việc thay đổi luật lao động và luật di trú. Chính phủ Nhật đã mở cửa thu nhận dễ dàng hơn nhân công ngoại quốc, cho phép những nhân công “có giá” (có chuyên môn cần thiết) được mang theo gia đình đến sinh sống tại Nhật và một số các tiêu chuẩn “dễ dãi” khác hầu thu hút công nhân ngoại quốc đến làm việc.

    Mặc chính phủ hô hào, khuyến dụ sinh sản, văn hóa Nhật Bản vẫn không mấy suy suyển trong cung cách sinh sống của cư dân: Dù người cha được hưởng một năm [tạm] nghỉ việc có lương khi có con nhưng vỏn vẹn có 5% só người đi làm chịu ở nhà trông nom con cái. Và những người trong con số 5% hiếm hoi ấy cũng chỉ lấy khoảng 5 ngày phép, chẳng ai chịu ngưng làm việc cả một năm!
    Điều lạ lùng khác là đàn ông Nhật không mấy khi giúp đỡ bà vợ làm việc nhà dù bà vợ ở nhà hay cũng đi làm như họ! Nôm na là việc trong nhà hoàn toàn do phụ nữ đảm trách, bất kể có đi làm bên ngoài [xã hội] hay không hoặc có con hay không. Ngay cả những gia đình dư giả nhờ hai đầu lương, cả hai vợ chồng cùng đi làm, họ cũng khó lòng thuê mướn người phụ việc nhà vì chẳng ai muốn các công việc thấp lương ấy. Nghĩa là bà vợ nào thuộc loại siêu quần, super woman, đều đầu tắt mặt tối vừa đi làm bên ngoài vừa làm đầy đủ mọi việc trong nhà, kèm thêm trách nhiệm trông nom con cái. Điều dễ hiểu là phụ nữ Nhật không chịu sinh con nữa.
    Chính phủ Nhật cũng đang tìm biện pháp “nhập cảng” nhân công qua việc thay đổi các phương sách nhập cảnh, dễ dàng hơn cho người ngoại quốc đến Nhật làm việc. Tạm hiểu là người Nhật học được bài học duy trì dân số: muốn có trẻ em, xã hội phải tìm cách trợ giúp những người trẻ trong tuổi sinh sản để họ chịu sinh con, giản dị nhất là cung cấp môi trường làm việc thoải mái, dễ dãi cho các bà mẹ và “nhập cảng” nhân công để trợ giúp, làm các công việc mà cư dân không muốn làm!
    Và người Nhật đang gấp rút thi hành các biện pháp gia tăng dân số trước khi xã hội sụp đổ vì thiếu người!

    Huê Kỳ cũng đang nằm trong tình trạng sút giảm dân số, và năm 2017 là một năm tệ hại nhất trong lịch sử. Nếu tình trạng này tiếp tục, Huê Kỳ cũng sẽ đối mặt với những khó khan từa tựa như Nhật Bản: sự sụp đổ của kinh tế và văn hóa do… hết người [làm việc và duy trì nếp sống]!

    Tỷ lệ sinh sản của một quốc gia là một trong những yếu tố quan trọng nhất của xã hội. Tỷ lệ này phải nằm ở một mức độ thiết yếu, đủ để “thay thế” số người qua đời bằng số người ra đời và duy trì dân số. Khi tỷ lệ sinh sản xuống quá thấp, xã hội sẽ thiếu nhân lực và không đủ tiền bạc để duy trì xã hội ấy. Các quốc gia như Pháp và Nhật đang thực thi các biện pháp duy trì dân số kể trên. Ngược lại, khi tỷ lệ sinh sản quá cao, xã hội không đủ tài nguyên như nước uống, thức ăn, chỗ ở, y tế… để cung cấp cho mọi cư dân tạo ra các rối loạn, bất ổn. Đây là hình ảnh của Ấn Độ và các quốc gia châu Phi.

    Riêng tại Hoa Kỳ, vấn nạn sút giảm dân số sẽ đi đến đâu? Ta có nên hoảng hốt như Nhật Bản không hoặc giả việc sút giảm dân số kể trên sẽ chỉ là một dấu hiệu tạm thời, vài năm nữa tỷ lệ sinh sản sẽ gia tăng trở lại?
    Theo Tiến Sĩ Donna M. Strobino, một giáo sư về dân số, gia đình và sinh sản tại đại học Johns Hopkins Bloomberg School of Public Health, câu trả lời tùy thuộc vào những người trẻ trong thế hệ millennium. Đây là những người sẽ thay đổi xã hội Huê Kỳ, và bà Strobino cho rằng người trẻ chỉ “chậm” sinh con chứ không lựạ chọn việc “không sinh sản”. Khác với những thế hệ trước, sinh con sớm hơn, “millennial” sinh con trong tuổi trưởng thành, sau khi đã có công ăn việc làm chắc chắn, ở lứa tuổi 25-34; nhất là khi các kỹ thuật trợ giúp sinh nở trở nên tối tân, an toàn hơn đã giúp nhiều phụ nữ trong tuổi 40+ thụ thai và sinh nở an toàn. Người trẻ do đó không có lý do chi để vội vàng để chạy theo chiếc đồng hồ sinh hóa!
    Một nhà xã hội học khác, Tiến Sĩ William Frey, cũng cho rằng khi kinh tế vững vàng, xã hội an vui, ít áp lực thì cư dân sẽ thoải mái và sẽ sinh sản khi sẵn sàng.

    Nói chung, con số công bố bởi CDC là một lời nhắc nhở (thay vì tiếng chuông báo động?) về tỷ lệ sinh sản đang sút giảm tại Hoa Kỳ. Dưới cái nhìn của những người lạc quan, nền kinh tế của quốc gia này thể nào cũng khởi sắc (“sau cơn mưa trời lại sáng”?), bá tánh sẽ an tâm hơn nên tỷ lệ sinh sản sẽ gia tăng trong vài năm sắp tới? Do đó, ta chưa cần mở cửa biên giới để “nhập cảng” nhân công như Nhật Bản hoặc cần hối thúc [và dẫn dụ] phụ nữ mang thai như Pháp, Đức và các quốc gia vùng Bắc Âu?!
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn