Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Gửi Bạn Tráng Sinh của Nguyễn Văn Thuất

Chủ đề trong 'Châu Úc' do cao nguyên khởi đầu 26 tháng Sáu 2009.

  1. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    Gửi Bạn Tráng Sinh của Nguyễn Văn Thuất

    Chi Nhánh Úc Đại Lợi ấn hành lần thứ nhất 1993
    Tủ Sách Ngành Tráng Việt Nam tái bản 2004
    Ban Thường Vụ - Hội Đồng Trung Ương tái bản 2006


    Lời Ngỏ Nhân Dịp Tái Bản Lần Thứ Hai


    Mười ba năm sau khi tập “Gửi Bạn Tráng Sinh” được ấn hành lần đầu vào năm 1993, biết bao thay đổi đã xảy ra trong cuộc sống cũng như trong sinh hoạt Hướng Đạo trong khoảng thời gian đó. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có những qui định chính thức về ngành Tráng cho Hướng Đạo Việt Nam (HĐVN), vì lý do đơn giản là Hội Hướng Đạo Việt Nam vẫn chưa được chính thức tái thành lập và hoạt động, trong khi các đơn vị HĐVN tại hải ngoại đều phải chấp hành những qui định của Hội Hướng Đạo quốc gia mà các đơn vị nầy đã ghi danh sinh hoạt.
    Để lâm thời cung cấp tài liệu cho sinh hoạt Tráng, tập “Gửi Bạn Tráng Sinh” được cập nhật hoá và bổ túc để tái bản lần thứ nhì như là một đóng góp nhằm đáp ứng nhu cầu trên và cũng để chào mừng cuộc họp bạn Thẳng Tiến 8 tại California, Hoa Kỳ từ 8 đến 14 tháng 7 năm 2006. Tập tài liệu này chỉ có ước vọng khiêm nhường là ghi nhận và trình bày một số nét về ngành Tráng có thể áp dụng được để góp ý với các Tráng Đoàn HĐVN tại hải ngoại.
    Tác giả chân thành cảm ơn Trưởng LM Tiến Lộc, Ủy Viên ngành Tráng Hội HĐVN (trước tháng 5.1975) đã bổ khuyết một số chi tiết khi “Gửi Bạn Tráng Sinh” được Tủ Sách Ngành Tráng tái bản vào năm 2004 tại Việt Nam.
    Lần tái bản thứ nhì nầy thực hiện được nhờ sự trợ giúp của:
    • Các Trưởng Lê Ngọc Bưu (Việt Nam), Patricia Styles (Anh quốc), Mai Quốc Tuấn, Lý Trí Thanh Lương và Yacine Diallo-Tabour (Pháp), Maria Leticia Severi (Uraguay), Gingpayom Bussabong (Thái Lan), Shantha Madurawe (Sri Lanka), Zainudin Ghozali (Indonesia), Chen Chin-Chu (Taiwan), Eric Kibbedi Magoola (Uganda), Anne Weis (Luxembourg), Daniel Ang (Singapore), Hj Md Amin H.A (Brunei), Yoshiro Noda (Nhật), Ekbert Yong (Malaysia), Maiya Twayanabasu (Nepal), Joao Armando Goncalves (Bồ Đào Nha) đã cung cấp thêm tài liệu về ngành Tráng của Hướng Đạo sở tại giúp cho chương “Khái quát về ngành Tráng hiện nay tại các quốc gia” được thêm phong phú.
    • Anh Võ Kim Tuấn và Trưởng Colin Platt OAM, về phần Anh ngữ, nhằm giúp các bạn trẻ dễ đọc tiếng Anh tiện theo dõi nội dung.
    • Các Trưởng Phạm Trọng Hạnh, Phạm Ngọc Lâm, Trần Hoàng Thân và Lý Nhật Hui đã giúp phần trình bày, sửa bản đánh máy và liên lạc với nhà in.
    Tác giả chân thành cảm tạ tất cả những trợ giúp quý báu trên, vì nếu không có những sự góp sức đó cùng sự quan tâm và yểm trợ của Hội Đồng Trung Ương HĐVN thì “Gửi Bạn Tráng Sinh” đã không thể được tái bản lần nầy.
    Chắc chắn “Gửi Bạn Tráng Sinh” vẫn còn thiếu sót. Tác giả rất mong được đón nhận những góp ý của tất cả, đặc biệt là của các bạn Tráng sinh để giúp cho lần tái bản tới được hoàn hảo hơn.
    Sydney, những ngày mùa Đông 2006

    Nguyễn Văn Thuất



    Lời Đầu


    Tập tài liệu nhỏ nầy dành cho các Anh Chị Em mới bước vào ngành Tráng Hướng Đạo Việt Nam (HĐVN), dù Anh Chị Em chưa biết Hướng Đạo là gì hoặc đã sinh hoạt trong các ngành khác.
    Tuy tiên khởi nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu kiện toàn và phát triển Phong Trào tại Úc Đại Lợi, người viết vẫn nghĩ rằng những ý kiến nêu ra cũng hữu ích cho các Tráng Đoàn tại các quốc gia khác, vì thực ra, sinh hoạt Tráng của HĐVN vẫn có nhiều điểm tương đồng, dù ở tại đâu. Để tiện xưng hô với cả hai phái nam và nữ, chúng tôi xin được dùng chữ “Bạn” vì thấy gọn hơn và cũng thân mật, để thay cho “Anh Chị Em”.
    Trong tập tài liệu nầy, có nhiều điều khác với những qui định đã có trong ngành Tráng HĐVN trước1975; nhưng thiết tưởng hoàn cảnh đã đổi thay nhiều và muốn tồn tại, chúng ta cũng phải thay đổi để thích nghi với tình thế mới và cũng để tiến lên. Vả lại, ví dù chế độ chính trị đã không thay đổi vào tháng 5 năm 1975 thì đến nay, ắt hẳn các qui định trên cũng phải đổi thay ít nhiều để theo kịp đà tiến chung của thế giới.
    Người viết rất mong được đón nhận ý kiến của các Trưởng nhiều kinh nghiệm và nhất là của những Anh Chị Em đang sinh hoạt trong các Tráng Đoàn để tập tài liệu được hoàn hảo hơn trong lần tái bản sau hầu góp phần đáp ứng nhu cầu xây dựng một ngành Tráng vững vàng và hữu hiệu cho Phong Trào HĐVN. Chúng tôi thành thực biết ơn Trưởng Voi Già Nghiêm Văn Thạch đã góp ý sửa chữa bản thảo, cảm ơn Gấu Thành Tín Hồ Văn Chánh, Gấu Siêng Vi Phát và Thanh Sinh Nguyễn Vũ Nguyên đã đóng góp về mặt kỹ thuật để hoàn thành tập tài liệu nầy.
    Sydney, mùa Đông năm Quí Dậu 1993

    Nguyễn Văn Thuất
     
  2. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    Chào mừng Bạn đã đến với Tráng Đoàn!

    Dù Bạn từ Thanh Đoàn chuyển lên hay vừa đến với Tráng Đoàn trong những ngày vừa qua, hẳn Bạn có nhiều mong đợi nơi sinh hoạt của Đoàn. Những mong đợi ấy có thể là có thêm bạn tốt, niềm vui, học hỏi về mọi lãnh vực và có nhiều cơ hội để phát triển tiềm năng của mình.

    Ai cũng có nhu cầu được sống vui vẻ, có bạn bè tốt để thông cảm và tương trợ lẫn nhau, học hỏi thêm nhiều điều hữu ích và cảm thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa qua sự giúp đỡ người khác trong phạm vi điều kiện của mình. Chắc chắn Bạn sẽ đạt được những ước mơ trên vì Tráng Đoàn là nơi gặp gỡ, tâm tình, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau và góp phần giúp ích của những người thuộc lứa tuổi trưởng thành trong Phong Trào Hướng Đạo. Huân Tước Baden-Powell, người sáng lập Phong Trào Hướng Đạo, đã viết như sau trong tác phẩm căn bản cho ngành Tráng “Đường Thành Công” (Rovering to Success) ấn hành lần đầu vào năm 1922: “Các Tráng Sinh là một cộng đồng anh chị em sống gần thiên nhiên và giúp ích”.

    Nếu hội Hướng Đạo tại quốc gia mà Bạn ghi danh sinh hoạt có ngành Tráng thì những quy định của hội Hướng Đạo đó phải được chấp hành, tuy nhiên tập tài liệu nầy cũng sẽ giúp Bạn hiểu rõ hơn về sinh hoạt ngành Tráng hiện nay tại một số quốc gia khác cũng như tại Việt Nam trước tháng 5 năm 1975 hầu Bạn có thể rút ra một số điều hữu ích cho sinh hoạt Tráng của mình. Ngược lại, nếu hội Hướng Đạo mà Bạn ghi danh sinh hoạt hoàn toàn không có quy định nào về sinh hoạt Tráng thì chắc chắn những điều trình bày trong các trang sau đây sẽ mang lại cho Bạn rất nhiều ích lợi.
    Đối với một số bạn chưa từng tham gia sinh hoạt Hướng Đạo ở lứa tuổi nhỏ hơn (Nhi, Ấu, Thiếu, Thanh), chắc chắn Bạn sẽ nêu câu hỏi: thế Hướng Đạo là gì?

    Vậy trước khi đi sâu vào sinh hoạt ngành Tráng, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu sơ lược về Phong Trào Hướng Đạo.

    1. Hướng Đạo là gì?

    Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về Phong Trào Hướng Đạo. Đối với các em nhỏ tuổi từ 6 đến 11 (Nhi và Ấu sinh) thì Hướng Đạo là những trò chơi vui, tha hồ tưởng tượng, những câu chuyện rừng xanh đầy hấp dẫn, và những anh chị Trưởng dễ mến. Đối với những em thiếu niên từ 12 đến 14 tuổi (Thiếu sinh) thì Hướng Đạo cũng vẫn là những trò chơi vui, nhưng có lẫn thi đua, những học hỏi thích thú để thích ứng với mọi hoàn cảnh, những tình bạn sâu đậm. Đối với các em bắt đầu thành niên, tuổi từ 15 đến 17 (Thanh sinh) thì Hướng Đạo lại là những hoạt động mới lạ có pha lẫn mạo hiểm, những thử thách đòi hỏi mỗi người phải nỗ lực vượt qua, những việc làm giúp ích người khác và cộng đồng, để thấy cuộc sống thêm nhiều ý nghĩa. Còn đối với nhiều người khác thì Hướng Đạo là vui chơi, ca hát, cắm trại, ăn cơm nhà vác ngà voi…

    Tất cả những cảm nghĩ trên về Hướng Đạo đều đúng ít nhiều, tuy không đầy đủ, vì thông thường mỗi người nhìn thấy sự vật tùy theo chỗ đứng của mình. Để có một cái nhìn tổng quát về Hướng Đạo, tưởng không gì bằng đọc qua những trả lời cho câu hỏi “Hướng Đạo là gì?” do Văn Phòng của Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới tại Geneva (Thụy Sĩ) đưa ra trên trang nhà www.scout.org như sau:

     Hướng Đạo là… sự giáo dục cho cuộc sống,
    phong trào cho giới trẻ,
    quốc tế,
    mở rộng cho tất cả mọi người,
    cuộc vui chơi có mục đích,
    sự thử thách cho những người trưởng thành,
    tự nguyện,
    không chính trị,
    không thuộc về của chính quyền
     Hướng Đạo là… một phương pháp,
     Hướng Đạo là … một phương thức sống,

    Những ghi nhận trên lần lượt được diễn giải với nhiều chi tiết, thí dụ như “sự giáo dục cho cuộc sống” đã được diễn giải thêm như sau: “Hướng Đạo bổ túc cho học đường và gia đình, đáp ứng những nhu cầu mà hai nguồn giáo dục nầy không mang đến. Hướng Đạo phát triển sự tự mở rộng kiến thức, nhu cầu tìm tòi, khám phá, muốn biết. Hướng Đạo khai mở thế giới bên ngoài lớp học, lãnh hội những kỹ năng mới từ những người nầy rồi chuyển những học hỏi đó sang cho những người khác”.

    Và ghi nhận “phong trào cho giới trẻ” được diễn giải như sau: “Hướng Đạo là một phong trào luôn tiến tới, tạo nên sự tiến triển và sự thích nghi tại mọi nơi, tùy theo tình trạng tại chỗ, giúp ích tùy theo nhu cầu tại chỗ”.

    Nếu chúng ta duyệt qua hết mọi diễn giải của tất cả ghi nhận trên thì quả là chúng ta có thể có một cái nhìn tổng quát về sự hữu ích thật phong phú và lớn lao của Hướng Đạo.

    Từ ngày thành lập từ năm 1907 đến nay, người ta ước tính đã có hơn 300 triệu người thuộc nhiều thế hệ đã tham gia vào Phong trào Hướng Đạo và rất đông người đã thành công rực rỡ. Là một phong trào thanh niên lớn nhất trên thế giới hiện quy tụ khoảng 28 triệu đoàn sinh trên 216 quốc gia và lãnh thổ, số lượng đoàn sinh của Phong Trào Hướng Đạo tiếp tục gia tăng với sự tái thành lập của các hội Hướng Đạo tại các quốc gia trước kia thuộc khối Liên Bang Sô Viết cũng như sự chào đời của những hội Hướng Đạo quốc gia tân lập.

    Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam

    Được khởi đầu từ năm 1930 tại Hà Nội, Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam lan dần đến miền Trung và Nam Việt Nam vào các năm sau đó.

    Với những nỗ lực vượt bực của các thế hệ đầu tiên, Phong Trào đã dần dà trưởng thành. Sau khi đất nước chia đôi vào năm 1954, đông đảo trưởng và đoàn sinh miền Bắc di cư vào Nam. Phong Trào được củng cố lại và ngày càng phát triển với Hội Hướng Đạo Việt Nam được Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới (WOSM) công nhận vào năm 1957 và Hội Nữ Hướng Đạo Việt Nam cũng trở thành hội viên chính thức của Hội Nữ Hướng Đạo Thế Giới (WAGGS) vào năm 1966.
    Trước tháng năm 1975, tại miền Nam Việt Nam có khoảng 15 ngàn Hướng Đạo Sinh. Qua những hoạt động giáo dục thanh thiếu nhi và góp phần giúp ích xã hội, Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam được sự quý mến của mọi giới đồng bào và là một trong những tổ chức hiếm hoi được công nhận là có ích lợi chung vào thời gian đó.

    Từ sau ngày ly hương, Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam tiếp tục hiện diện tại những quốc gia có đông đảo người Việt cư ngụ và tại các trại tạm cư vùng Đông Nam Á.

    Được lãnh đạo bởi Hội Đồng Trung Ương mà thành phần gồm đại diện Hướng Đạo Việt Nam (HĐVN) tại mỗi quốc gia có đơn vị Hướng Đạo Việt Nam sinh hoạt và các thành viên của Ban Thường Vụ, Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam tiếp tục theo đuổi tôn chỉ của Phong Trào Hướng Đạo Thế Giới do Trưởng Baden-Powell khởi xướng, ngoài ra còn nỗ lực góp phần vào việc bảo tồn bản sắc dân tộc. Hội Đồng Trung Ương được Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới nhìn nhận là cơ quan đại diện về tinh thần của mọi đơn vị HĐVN tại hải ngoại. Về phương diện hành chánh, các đơn vị HĐVN trực thuộc các Hội Hướng Đạo quốc gia sở tại và được các Hội này yểm trợ về nhiều phương diện. Chỉ riêng tại nước Pháp, Hội Hướng Đạo Việt Nam tại Pháp (L’Association des Scouts Vietnamien de France ) quy tụ các đơn vị HĐVN tại Pháp và là một thành viên liên kết trong Liên Hội Hướng Đạo Pháp.

    Hướng Đạo Việt Nam hiện nay là một Phong Trào hợp nhất nam nữ. Cứ mỗi bốn năm, Phong Trào lại tổ chức họp bạn Hướng Đạo Việt Nam với danh xưng “Thẳng Tiến”. Lần họp bạn vào tháng bảy năm 2006 là họp bạn “Thẳng Tiến 8” sau bảy lần trước đã được thực hiện vào các năm 1985, 1988, 1990, 1993, 1995, 1998 và 2002 tại Pháp, Canada, Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi.

    (Còn tiếp)


    Nguyễn Văn Thuất
     
  3. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    2. Hướng Đạo Việt Nam để làm gì? Cho ai?

    Một câu hỏi thường được nêu lên là tại sao lại sinh hoạt HĐVN trong khi đã có sẵn các đơn vị của Hội Hướng Đạo của quốc gia mà chúng ta đang cư ngụ? Chúng ta hiện sống trong bầu khí văn hoá xã hội của quốc gia định cư, chúng ta cần thích nghi với môi trường nầy để có thể tồn tại và tiến lên, đáng lý chúng ta nên tìm mọi cách để sớm được đồng hóa vào xã hội mới, để giống hệt như người bản xứ và để được coi là người bản xứ? Nói cách khác tại sao chúng ta không trộn lẫn từng người, từng nhóm nhỏ vào với các đơn vị Hướng Đạo sở tại như hạt muối tan loãng trong giòng nước mà lại nỗ lực xây dựng những đơn vị HĐVN nằm trong các hội Hướng Đạo quốc gia ấy?
    Để có thể tìm một giải đáp, chúng ta hãy tự nghiền ngẫm từ các kinh nghiệm sống của bản thân. Chúng ta sẽ khám phá thấy rằng một mặt chúng ta phải nỗ lực thích nghi với cuộc sống mới, chúng ta cần học hỏi, tìm hiểu về văn hóa của xã hội mới để có thể tìm được việc làm, để kinh doanh… nói chung là để sinh tồn; mặt khác, chúng ta thực sự vẫn hãy còn liên hệ rất nhiều đến nguồn cội Việt Nam. Chúng ta sẽ dễ nhận thấy rằng chúng ta có nhu cầu được nói tiếng Việt, được thưởng thức những món ăn quê hương quen thuộc ngon lành, được nghe những câu hát điệu hò dân tộc và dầu sao thì cũng dễ thấy thông cảm với những bạn bè người Việt hơn.
    Những nhu cầu nầy chỉ có thể được đáp ứng trong môi trường dân tộc. Tiến trình hội nhập vào xã hội mới đòi hỏi một thời gian lâu dài. Các công trình nghiên cứu của những nhà xã hội học cho biết phải cần nhiều thế hệ để những người di dân có thể hòa nhập hoàn toàn vào xã hội mới. Trong khi sự hội nhập chưa hoàn thành, mọi người có nhu cầu duy trì bản sắc dân tộc mình. Không thể trong vài ba năm mà một người có thể trở thành người bản xứ hoàn toàn và cũng không thể trong thời gian ngắn ngủi đó mà chúng ta dứt bỏ những yếu tính về nguồn cội của mình được.
    Nhiều năm về trước, lúc tôi còn sống ở Tây Đức, một người bạn đồng nghiệp bản xứ, đáp câu hỏi của tôi, đã trả lời thẳng rằng dù một người ngoại quốc có nói tiếng Đức hay đến mức nào đi nữa và dù người ấy đã nhập quốc tịch Đức rồi đi chăng nữa, người Đức vẫn nhìn người đó như là một người ngoại quốc biết tiếng Đức và có quốc tịch Đức mà thôi, chứ họ không nghĩ đó là một người Đức có đầy đủ những đặc tính của người Đức như họ. Một đồng nghiệp khác, người Úc sanh trưởng tại Sydney, tuy có phần nhẹ nhàng hơn, nhưng cũng để lộ nụ cười khó hiểu khi thấy một người phụ nữ da vàng đã ở Úc lâu năm và đã đạt được một chỗ đứng khá cao trong công ty muốn tỏ ra ta đây hệt như người Úc. Thì ra dầu gì đi nữa, những điều kiện về thể chất (vóc dáng, màu da, màu tóc…) cùng tâm lý và sự khác biệt về văn hóa cũng là những giới hạn đòi hỏi cần có đủ thời gian mới có thể hòa đồng được.
    Gia đình người Việt chúng ta có nhu cầu trò chuyện, thông cảm giữa cha mẹ, ông bà và con cháu. Chính sự thông cảm nầy sẽ giúp trẻ em phát triển được điều hòa nhờ sự lãnh hội những kinh nghiệm từ các thế hệ đi trước. Ngược lại, chúng ta đã được nghe biết bao chuyện đau lòng vốn là hậu quả tai hại của sự thiếu sót hoặc đổ vỡ trong mối thông cảm thiết yếu nầy. Tiếng mẹ đẻ là phương tiện đơn giản nhất giúp các thế hệ khác nhau có thể thông cảm lẫn nhau. Rất ít ông bà cha mẹ am tường tiếng bản xứ đủ để có thể diễn tả mọi ý nghĩ một cách dễ dàng và trọn vẹn. Vả lại, sự thông thạo tiếng Việt giúp trẻ em giao tiếp được dễ dàng với họ hàng thân quyến cùng khối người Việt ở trong nước hoặc đang định cư tại các quốc gia khác và như vậy là con đường tương lai cho các em sẽ được mở rộng hơn. Tại các quốc gia định cư, những nét văn hóa đặc sắc do người Việt Nam mang đến được nồng nhiệt đón nhận và đang dần dà trở thành những giá trị văn hóa mới tại các quốc gia nầy. Những người có khả năng sử dụng lưu loát nhiều ngoại ngữ ngoài ngôn ngữ tại chỗ thường kiếm được việc làm tốt và lợi tức cũng cao hơn. Vậy thì việc bảo tồn và phát huy văn hóa nguồn cội quả là một nỗ lực cần thiết và thực tế.
    Để có thể đóng góp vào việc trau giồi tiếng mẹ đẻ, duy trì những truyền thống tốt đẹp, hay nói cách khác là bảo tồn văn hóa dân tộc, chỉ có những đơn vị HĐVN được hướng dẫn bởi những trưởng người Việt mới có thể thực hiện được. Đó chính là lý do vì sao, cho đến nay, sau 30 năm định cư tại hải ngoại, Phong Trào HĐVN vẫn hiện diện để góp phần đáp ứng những nhu cầu thiết thực nầy. Ý thức được tầm mức quan trọng của vấn đề, Hội Đồng Trung Ương HĐVN trong Hiến Chương công bố ngày 3 tháng 7 năm 1983 tại Costa Mesa (Hoa Kỳ) đã long trọng xác định hai đường hướng chính của HĐVN trong giai đoạn hiện tại là “liên tục noi theo tôn chỉ Hướng Đạo do Baden-Powell khởi xướng và đứng trong Phong Trào Hướng Đạo Thế Giới” cùng “đáp ứng với nhu cầu hiện tại là duy trì tinh thần và văn hóa dân tộc”.
    Như vậy, hẳn Bạn sẽ thấy rằng HĐVN, cũng như những tổ chức cộng đồng Việt Nam khác, trước tiên là một cái nôi êm ái giúp cho những người Việt xa quê hương có nơi mà chúng ta có thể cảm thấy thoải mái như ở nhà. Nhưng HĐVN không dừng lại ở đó, mà vươn xa hơn. Với tình anh chị em Hướng Đạo thế giới vốn là một trong những yếu tính của Phong Trào Hướng Đạo, Bạn có được những cơ hội tốt để học hỏi và hòa nhập vào xã hội mới. HĐVN tạo nên một con đường hai chiều, trên đó Bạn có thể thong dong tiến gần lại với xã hội định cư hơn hoặc tạm lui về di dưỡng trong cái nôi dân tộc êm ái của mình. Có thể ví HĐVN như một nhịp cầu nối liền cuộc sống mới với nguồn cội xưa.
    Tóm lại, HĐVN là con đường nhằm đáp ứng nhu cầu bảo tồn văn hoá Việt nơi giới trẻ Việt Nam trong khi vẫn nỗ lực hội nhập vào cuộc sống mới qua con đường Hướng Đạo.
    Về câu hỏi “HĐVN để cho ai” thì thiết tưởng, trước hết HĐVN là để cho trẻ em Việt Nam. Chính các em là đối tượng mọi nỗ lực vì các em là tương lai, là niềm hy vọng. Trong sinh hoạt HĐVN, với sự hướng dẫn của các Trưởng nhiệt tình và có khả năng cùng sự hỗ trợ của phụ huynh, các em sẽ có được những năm tháng đầy tươi đẹp để vui chơi với bạn tốt, sẽ được cơ hội để phát triển mọi tiềm năng cùng học hỏi thêm nhiều kỹ năng mới. Điều thú vị hơn cả là các em chẳng những sinh hoạt theo chương trình của hội Hướng Đạo bản xứ và với giới trẻ bản xứ, mà còn được trau giồi thêm về văn hoá Việt Nam.
    Nhưng HĐVN không phải chỉ để cho trẻ em mà còn mang đến niềm vui và lợi ích cho các Trưởng, những người đã bỏ thì giờ và tâm huyết để hướng dẫn các em. Qua sự làm việc chung với nhau, các Trưởng cũng có thêm nhiều bạn tốt, học hỏi thêm về nhiều lãnh vực, nhất là kỹ năng quản trị và sẽ thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn vì đã đóng góp được chút ít cho cộng đồng, cho xã hội. Nếu mục đích của cuộc sống là hạnh phúc, và nếu hạnh phúc là sự an vui của tâm hồn thì hẳn các Trưởng Hướng Đạo sẽ có được rất nhiều giờ phút nầy khi ngắm nhìn đoàn sinh vui đùa, phát triển trong bầu không khí tràn đầy thương yêu và trở thành những công dân tốt cho xã hội mà mình đã tự nguyện góp phần xây dựng.
    Dĩ nhiên, cộng đồng người Việt cũng được tiếng thơm nhờ có được những thành viên nhanh nhẹn, tháo vát và có tinh thần hợp quần lẫn tinh thần dân tộc. Bất cứ một cộng đồng di dân hay tỵ nạn nào cũng lấy làm hãnh diện khi có được những đoàn thể tốt, những thành viên được giáo dục cẩn thận, thành công trong cuộc sống và làm vẻ vang cho cộng đồng. Ngược lại, những hành động xấu xa, vi phạm luật pháp của một vài cá nhân nào đó sẽ là “con sâu làm rầu nồi canh” và làm cho toàn thể chúng ta cảm thấy xấu hổ mỗi khi nghe thấy các tin trên qua các cơ quan truyền thông.
    Quốc gia định cư ắt sẽ vui mừng vì có được những công dân tốt sống an bình với cuộc đời mới và góp phần vào sự cường thịnh chung, thay vì phải hứng chịu những tệ hại và phải đối phó với những tội phạm gây ra bởi thành phần thiểu số xấu xa mà họ đã cưu mang vì lòng nhân đạo hoặc với hy vọng là sẽ góp phần vào sự giàu mạnh chung.
    Tổ quốc Việt Nam chắc chắn sẽ được thụ hưởng lợi ích về nhiều phương diện. Không kể những trợ giúp về vật chất thường xuyên vẫn có do những liên hệ về tình cảm, huyết thống…, những người Việt xa quê hương và các thế hệ kế tục còn duy trì bản sắc dân tộc sẽ vẫn hướng về cố hương và vẫn sẵn sàng đóng góp vào nỗ lực xây dựng tổ quốc khi tình hình trở nên thích hợp.
    (Còn tiếp)


    Nguyễn Văn Thuất
     
  4. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    3.Tổ Chức Tráng Đoàn

    Tuy Phong Trào Hướng Đạo được khởi đầu từ năm 1907 tại Anh quốc, nhưng mãi đến năm 1917, ngành Tráng mới được hình thành, thoạt tiên nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp tục sinh hoạt của các thiếu sinh đã lớn tuổi. Vào năm sau đó, năm 1918, danh xưng Tráng sinh (Rover Scouts) mới được chính thức ra đời. Tại Việt Nam, vào khoảng năm 1936 các Tráng đoàn đầu tiên bắt đầu xuất hiện: Lam Sơn (Hà Nội), Hồng Lĩnh (Vinh), Võ Tánh (Thanh Hoá).
    Tráng Đoàn là nơi gặp gỡ, tâm tình, học hỏi và làm việc chung của các Tráng sinh. Ai cũng có nhu cầu có bạn bè, được thông cảm, được giúp đỡ những khi cần đến, giải trí và thấy mình hữu ích cho nhân quần xã hội… Tráng Đoàn nhằm đáp ứng các nhu cầu đó. Danh từ “Tráng sinh” gợi chúng ta nghĩ đến hình ảnh những “tráng sĩ Việt Nam” ngày xưa, những người sống một đời hướng thượng, oai hùng, thường làm việc nghĩa… Đó là hình ảnh của vị anh hùng Phạm Ngũ Lão, ngồi đan sọt mà mãi lo cho vận nước đến nỗi giáo đâm vào chân mà không hay; của Trần Bình Trọng, thà làm quỷ nước Nam hơn làm vương đất Bắc; của bà Triệu Thị Trinh, muốn đạp đường sóng dữ để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối… Những hình ảnh đẹp đẽ đó dù không còn là mẫu người lý tưởng của thanh niên Việt Nam ngày nay, nhưng vô hình chung cũng đã góp phần điểm tô cho nhân dáng của người Tráng sinh Hướng Đạo. Đã có rất nhiều nỗ lực để đi tìm mẫu người tiêu biểu cho Tráng Sinh Việt Nam. Cuộc hội thảo toàn quốc của ngành Tráng HĐVN tại Đà Lạt vào năm 1969 đã bàn về đề tài nầy; nhưng chắc chắn, ngày nay hình ảnh ấy cũng phải đổi thay sau ngót 40 năm với nhiều biến đổi.
    Nếu mục tiêu của Hướng Đạo là góp phần đào tạo những công dân tốt cho xã hội thì trong hiện tình đặc biệt của người Việt chúng ta, ắt hẳn HĐVN, như tinh thần của bản Hiến Chương đã thể hiện, sẽ nhằm góp phần đào tạo những người công dân tốt trong cuộc sống tại quốc gia định cư nhưng vẫn duy trì bản sắc dân tộc. Trong tiến trình giáo dục của Hướng Đạo, tuổi Tráng là tuổi thành nhân, là lứa tuổi kết trái sau những giai đoạn đơm hoa, nở nhụy của các lứa tuổi Nhi, Ấu, Thiếu và Thanh; ắt hẳn hình ảnh tiêu biểu của người Tráng sinh sẽ không gì khác hơn là mẫu người công dân tốt trong xã hội định cư và có tinh thần dân tộc.
    Châm ngôn của ngành Tráng HĐVN là "Giúp Ích", cũng giống như châm ngôn của ngành Tráng nhiều hội Hướng Đạo quốc gia khác. Châm ngôn nầy nhắc Tráng sinh luôn nhớ đến nghĩa vụ giúp ích gia đình, cộng đồng, Phong Trào Hướng Đạo và thế giới, ngoài việc lo cho chính bản thân mình, để nhờ thế mà cuộc sống sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.

    Tuổi của Tráng sinh và Vị Trí của Tráng Đoàn

    Tất cả các bạn thanh niên nam nữ từ 18 tuổi trở lên đều có thể tham gia Tráng đoàn. Tại một số quốc gia, tuổi tối thiểu của ngành Tráng bắt đầu từ 14 hay 15 tuổi. Chi tiết về tuổi của Tráng sinh tại các nước sẽ được trình bày trong chương “Ngành Tráng hiện nay tại các quốc gia”. Nếu Bạn ghi danh sinh hoạt Tráng với một Hội Hướng Đạo quốc gia có ngành Tráng thì quy định của Hội về ngành nầy cũng sẽ áp dụng cho Bạn, kể cả điều kiện về tuổi.
    Đối với sinh hoạt Tráng của những đơn vị HĐVN tại những quốc gia không có quy chế ngành Tráng chính thức thì kinh nghiệm cho thấy sự giới hạn tuổi tối đa không cần thiết, miễn là Bạn cũng thấy có thể hoà hợp với bầu không khí chung gồm nhiều lứa tuổi. Sự linh động nầy sẽ giúp cho sinh hoạt HĐVN tại địa phương có thêm nhân lực; tuy nhiên, nếu một đơn vị Trưởng niên tỏ ra thích hợp hơn vì bản chất sinh hoạt, giới hạn thời giờ… của nguồn nhân sự tại chỗ thì cũng rất quý, vì đằng nào cũng góp phần phát triển Phong Trào cùng phục vụ cộng đồng và xã hội. Tráng đoàn thường quy tụ nhân sự từ một (hay nhiều) Liên đoàn hoặc Miền hay Chi Nhánh để luôn luôn được bổ sung nhân sự từ các đơn vị nầy, và ngược lại, Tráng đoàn cũng cung cấp Trưởng hoặc đảm trách những công tác phục vụ khác cho các đơn vị nầy theo châm ngôn “Giúp Ích” của ngành, do vậy, Tráng đoàn có thể trực thuộc vào Liên đoàn, Miền hay Chi nhánh, tùy theo sự thuận tiện tại địa phương. Tại những nơi muốn tổ chức HĐVN mà chưa thể thành lập Liên đoàn, có thể bắt đầu với Toán, Liên toán (hai Toán trở lên) hoặc Tráng đoàn. Bởi vậy nhân số của Tráng đoàn có thể khoảng mười người, có khi lên đến bốn mươi người, nếu là Tráng đoàn lớn. Tráng Đoàn có thể ghi danh sinh hoạt với hội Hướng Đạo sở tại như là Hội Đồng Trưởng Liên Đoàn (Group Council) hoặc Hội Đồng Bảo Trợ (Group Committee) hoặc Thân Hữu Hướng Đạo (Scout Fellowship) tại những nơi không có ngành Tráng hoặc xét thấy chưa thuận tiện để ghi danh.

    Toán

    Là Tráng Sinh, Bạn sẽ ở vào một Toán. Toán là đơn vị căn bản của Tráng đoàn. Thông thường, Toán gồm năm bảy anh chị em hay liên lạc với nhau, có khi vì ở gần nhau, cùng làm một sở, cùng còn đi học hoặc cùng lứa tuổi. Điều quan trọng là anh chị em trong Toán quý mến nhau, cảm thấy thoải mái khi ngồi bàn bạc chung, thích thú khi làm việc chung. Nhân số trong Toán không nên đông quá, vì như thế, sự thân thiết sẽ khó có điều kiện phát triển.
    Toán sẽ bầu ra một Toán trưởng trong nhiệm kỳ 6 tháng hay một năm và có thể được tái cử. Toán trưởng sẽ mời một Toán phó để phụ giúp và thay mặt mình, những khi cần thiết. Ngoài ra, trong Toán còn có những nhiệm vụ khác (thư ký, thủ quỹ, thủ cụ, thủ thư, quản ca…), tùy nhu cầu và sáng kiến của toán. Các Tráng sinh trong Toán nên luân phiên nhau đảm trách các nhiệm vụ trong Toán. Đó là một thể hiện của tinh thần dân chủ và cũng là cơ hội để trau giồi khả năng lãnh đạo, kỹ năng quản trị… Toán như một gia đình, cùng sinh hoạt, cùng vui, cùng làm.
    Toán có thể nhóm họp hằng tuần hoặc mỗi hai tuần, tùy theo thời giờ của các Tráng sinh trong Toán. Đối với những Toán chỉ gồm các Tráng sinh còn đi học thì đến gần mùa thi có thể họp thưa dần, đợi đến sau mùa thi sẽ hoạt động thường xuyên và mạnh mẽ hơn. Toán có thể họp trong nhà, hay cùng kéo nhau đi du ngoạn, đi xem hát… Không nhất thiết phải mặc đồng phục Hướng Đạo trong những sinh hoạt nầy. Để có thể duy trì được Toán, cần tạo bầu không khí thân tình, quý mến nhau, giúp đỡ nhau, học hỏi lẫn nhau và cùng làm việc với nhau.
    Toán cần đề ra chương trình sinh hoạt của Toán trong năm hoặc từng ba hay sáu tháng, phối hợp với chương trình chung của Tráng đoàn, Liên đoàn. Thí dụ: nhân dịp Tết Nguyên Đán, Liên đoàn có thực hiện một hoặc nhiều gian hàng tại hội chợ Tết, Toán có thể đảm trách một phần hoặc một gian hàng để gây quỹ chung hoặc gây quỹ cho Toán. Nhân dịp Tết Trung Thu, Toán có thể nhận hướng dẫn làm lồng đèn, phụ trách rước đèn… Vào những lúc không có sinh hoạt chung của Tráng đoàn hoặc Liên đoàn, Toán sẽ có những sinh hoạt của Toán nhằm giải trí, học hỏi, tương trợ, giúp ích…

    Xưởng

    Xưởng là nơi các Tráng sinh học hỏi và làm việc chung ở một mức độ chuyên môn cao hơn mà thường khi Toán không thể đáp ứng được vì nhân số của Toán có giới hạn. Mỗi Tráng sinh có những sở trường và sở thích khác nhau. Hơn nữa, mức độ tham dự của mọi người cũng khác nhau: có người mỗi tuần đều có thể dành thời giờ sinh hoạt HĐ, có người phải vài tuần mới có được một buổi, người khác lại rảnh rang theo mùa…. Xưởng quy tụ Tráng sinh từ các Toán khác nhau và có thể có các bạn chưa là Hướng Đạo Sinh, nhưng tất cả đều có cùng sở thích hoặc sở trường là hoạt động trong lãnh vực chuyên môn đó.
    Trước khi thành lập Xưởng, các Trưởng trong Tráng đoàn nên cùng các Toán trưởng và đại diện các Xưởng đang hoạt động (Toán lãnh đạo Tráng đoàn) xem xét nhu cầu và ấn định mục tiêu căn cứ trên chương trình hoạt động trong năm. Tráng đoàn sẽ họp lại để thảo luận, đi đến quyết định chung và ghi tên tham gia vào Xưởng. Các thành viên trong Xưởng tự bầu Trưởng xưởng. Các phụ tá sẽ do Trưởng xưởng mời để phụ giúp mình. Có thể có thêm thư ký, thủ quỹ… nếu cần thiết, nhưng không nên quá rườm rà.
    Dự Án
    Khác với Xưởng là cơ cấu hoạt động lâu dài, Dự Án được thành hình với những mục tiêu rõ ràng và trong một thời gian giới hạn. Dự án không phải là một cơ cấu thường xuyên mà là một phương pháp làm việc, theo đó, một số công tác sẽ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, theo một kế hoạch soạn trước nhằm đạt được một số kết quả định sẵn. Bởi vậy, có những Dự án của Toán, của Xưởng hoặc của toàn Tráng đoàn hoặc của cá nhân Tráng sinh. Để hiểu rõ hơn về Dự án, Bạn có thể đọc “Phương Pháp Dự Án” trong phần phụ lục ở cuối tập tài liệu nầy. Xưởng và Dự án đều nên mở rộng để mời thêm những người có kinh nghiệm hoặc quan tâm đến lãnh vực hoạt động liên hệ. Chắc chắn sự tham gia nầy sẽ giúp kết quả thêm mỹ mãn và góp phần phát triển Phong Trào.

    Toán Lãnh Đạo

    Toán lãnh đạo là bộ phận đầu não của Tráng đoàn và gồm có Tráng trưởng và Phó hay Phụ tá (nếu có), các Trưởng toán, Trưởng xưởng, Trưởng dự án, Thư ký, Thủ quỹ và Thủ cụ của Tráng đoàn. Đây là cơ quan nghiên cứu và phác họa những chương trình hoạt động chung, chấp hành những quyết định và công tác đã được Hội Đồng Tráng Đoàn biểu quyết hoặc do Liên Đoàn / Chi Nhánh / Miền hay Phong Trào đề xướng. Toán lãnh đạo làm việc trong tinh thần dân chủ, tuy nhiên khi thảo luận về công tác nào thì ý kiến của người chịu trách nhiệm thực hiện công tác đó cần được toàn thể đặc biệt lưu ý. Biện pháp nầy nhằm tránh tình trạng đôi khi đa số không hiểu rõ vấn đề lại có những quyết định mà người trách nhiệm không thể thực hiện được.
    Tráng trưởng đứng đầu Toán lãnh đạo Tráng đoàn. Tráng trưởng có vai trò rất quan trọng và thường là linh hồn của Tráng đoàn, là người chịu trách nhiệm chung cuộc về hoạt động của Tráng đoàn. Muốn đạt được sự tín nhiệm của Liên Đoàn / Chi Nhánh / Miền và đồng thời của toàn thể Tráng sinh, tiêu chuẩn đầu tiên là sự quân bình, chín chắn và khả năng thân cận với tất cả. Tráng trưởng phải là người hiểu rõ nguyên lý và phương pháp HĐ nhờ đã hoàn tất các khóa huấn luyện cần thiết về phong trào Hướng Đạo cũng như về ngành Tráng, có cuộc sống ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần. Nếu không, Tráng trưởng khó thể chu toàn trách vụ hướng dẫn Tráng sinh và Tráng đoàn, nhất là khi đơn vị hỗn hợp cả hai phái nam và nữ, có số lượng đông, hoặc gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau.
    Tráng trưởng không phải là người chỉ huy với quyền lực tuyệt đối. Ngành Tráng chính là môi trường tự do dân chủ trung thực. Mọi việc ở Tráng đoàn đều được thảo luận và quyết định ở Toán lãnh đạo và Hội Đồng Tráng Đoàn.
    Hội ĐồngTráng Đoàn bao gồm toàn thể Tráng sinh, Hội Đồng Tráng Đoàn là cơ cấu tối cao của Tráng đoàn để thảo luận rồi biểu quyết các chương trình, kế hoạch và dự án chung. Mọi vấn đề liên quan đến tinh thần HĐ, kỷ luật nội bộ, lịch trình sinh hoạt, tài chánh… tức là sự sống của Tráng đoàn đều được Toán lãnh đạo đưa ra trước Hội Đồng Tráng Đoàn để tùy trường hợp, thông báo, thảo luận, lấy quyết định. Tuy nguyên tắc dân chủ là thiểu số phục tùng đa số, nhưng Hội Đồng Tráng Đoàn luôn luôn lấy sự đồng thuận làm mục tiêu và đề cao sự tìm kiếm những mẫu số chung để đạt được thỏa hiệp của tất cả trong những vấn đề phức tạp hoặc tế nhị. Để tôn trọng tinh thần dân chủ, tuy có thể phủ quyết tối hậu, Tráng Trưởng chỉ sử dụng thẩm quyền ấy trong các trường hợp có sự lệch lạc về tinh thần hay nguyên lý HĐ. Tráng trưởng chủ tọa Hội Đồng Tráng Đoàn. Hội đồng bầu nhân sự đảm nhiệm các trách vụ Thủ quỹ, Thủ cụ và Thư ký.

    Lãnh Đạo Tinh Thần

    Vai trò của Quý Vị Lãnh Đạo tinh thần rất thiết yếu, vì Phong Trào Hướng Đạo mong muốn HĐS làm bổn phận đối với tín ngưỡng tâm linh, nhất là trong tình hình cuộc sống quá thiên về vật chất như trong hiện tại. Bởi vậy, Tráng Đoàn cần có Tuyên úy và Cố Vấn Giáo Hạnh.
    Những vị nầy tham dự các buổi họp của Toán lãnh đạo cũng như của Hội Đồng Tráng Đoàn với tư cách Cố vấn.
    Để có một cái nhìn tổng quát về tổ chức của một Tráng đoàn, Bạn hãy theo dõi sơ đồ ở trang bên.

    Sổ Sách Trong Đoàn

    Các giấy tờ sổ sách mà các Tráng đoàn thường có kể sau đây sẽ rất hữu ích cho việc tổ chức và giúp cho các Tráng sinh trong Đoàn hiểu được sinh hoạt của Đoàn trong hiện tại và quá khứ để dễ dàng hơn trong việc điều hành Đoàn. Tráng đoàn có thể tùy nghi gia giảm, sao cho thích hợp với tình hình của Đoàn.
    • Phiếu tham gia (hoặc đơn gia nhập): là mẫu in sẵn gồm một số chi tiết cần như tên họ, ngày sanh, địa chỉ liên lạc, điện thoại, điện thư, sở thích, sở trường… Các chi tiết nầy giúp các Trưởng hiểu thêm về Tráng sinh hầu hướng dẫn Đoàn được hữu hiệu hơn, kể cả việc mừng sinh nhật mỗi người.
    • Danh sách và địa chỉ Tráng sinh: bảng liệt kê tên họ, địa chỉ và điện thoại của tất cả các Tráng sinh trong Đoàn để giúp các anh chị em nầy dễ liên lạc với nhau.
    • Đoàn phả: Sổ nầy ghi lại lịch sử thành lập Đoàn, sự tiến triển qua thời gian, những thành quả, khó khăn, thăng trầm… Mỗi Tráng sinh cũng có một trang để lưu lại hình ảnh, vài nét về tiểu sử, cảm nghĩ… Đoàn phả sẽ góp phần tăng thêm sự liên hệ mật thiết giữa Tráng sinh với Đoàn.
    • Sổ chi thu: trình bày các khoản thu và chi của Đoàn. Sau mỗi tháng hoặc hai tháng cần có Tráng trưởng và Thủ quỹ ký xác nhận. Tình hình tài chánh cần được Thủ quỹ báo cáo trong phiên họp của Đoàn.
    • Sổ tài sản: Thủ cụ trách nhiệm về việc trông nom các tài sản mà Tráng Đoàn có được do mua sắm, tự chế tạo, được hiến tặng… Tài sản được ghi vào sổ và được tồn trữ tại Đoàn quán hay nơi thuận tiện.
    • Sổ biên bản: ghi nhận nội dung và quyết định trong các phiên họp của Đoàn và Toán lãnh đạo. Sổ giúp tất cả nhớ và biết những gì đã được quyết định và cách thức giải quyết vấn đề trong thời gian trước.
    • Văn thư đi và đến: tập trung các văn thư mà Đoàn đã nhận được hay gửi đi trong thời gian qua.

    Đoàn Quán

    Như mái ấm của một gia đình, Đoàn quán là tổ ấm của Đoàn, nơi đó Tráng sinh cảm thấy thân mật, ấm cúng như ở nhà. Đoàn quán thường được trang hoàng bằng hình ảnh, kỷ vật, các món thủ công của Đoàn… Tráng sinh có thể gặp nhau nơi đó để chuyện trò, làm việc, chơi đùa… Đoàn quán có thể là một phòng, một góc trong Liên đoàn quán hoặc một túp lều, một ngôi nhà… tùy điều kiện thuận tiện. Có những Đoàn có sáng kiến biến đoàn quán thành câu lạc bộ, lớp dạy nghề, quán nhạc… để tiện dịp gặp nhau, tạo thêm sinh hoạt sống động và gây quỹ.

    Trang Nhà

    Nếu Tráng đoàn có nhân sự có khả năng và phương tiện về kỹ thuật vi tính thì một trang nhà nhằm giới thiệu các sinh hoạt của Hướng Đạo và của Đoàn sẽ là một hoạt động vừa hữu ích, vừa thú vị, vừa tạo thêm cơ hội cho Tráng sinh phát huy tài năng và góp phần phát triển Đoàn. Hiện nay, một số Tráng đoàn tại các quốc gia rất lưu tâm cải tiến trang nhà của Đoàn, đạt được nhiều cảm tình của người thăm viếng và từ đó, tạo thêm sự hấp dẫn và vững mạnh cho Đoàn.

    (Còn tiếp)


    Nguyễn Văn Thuất
     
  5. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    4. Phương Pháp Ngành Tráng

    Nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục đã đề ra cho lứa tuổi trưởng thành, ngành Tráng áp dụng một số phương pháp chung của Phong Trào Hướng Đạo, và ngoài ra còn có thêm một vài phương pháp riêng của ngành. Những phương pháp chính yếu của Phong Trào có thể trình bày sơ lược như sau:
    • Luật và Lời Hứa HĐ: Mười điều luật và ba lời hứa HĐ bao gồm những đức tính cần thiết của một người công dân tốt và hữu ích cho xã hội. Tất cả Hướng Đạo Sinh được nhắc nhở phải cố gắng áp dụng trong cuộc sống hằng ngày và xem đó như là tiêu biểu cho lối sống của người HĐ.
    • Học hỏi qua sự làm việc (learning by doing): Sinh hoạt Hướng Đạo phát triển con người về tinh thần, trí não, thể chất và xã hội không phải chỉ bằng lý thuyết suông mà nhằm tạo cơ hội để chính Hướng Đạo Sinh bắt tay vào việc rồi từ đó rút ra những bài học cho chính mình. Bằng cách nầy những điều thu lượm được sẽ rõ ràng và có thể giữ được dài lâu.
    • Sinh hoạt từng nhóm nhỏ: Mỗi Hướng Đạo Sinh tham gia vào một nhóm nhỏ (đàn, đội, tuần, toán) gồm năm bảy bạn cùng lứa tuổi. Nhóm có những sinh hoạt riêng trong khuôn khổ chương trình chung của đoàn. Trong nhóm, mỗi người luân phiên giữ các trách vụ khác nhau để giúp cho công việc chung của nhóm được tiến triển đều hòa. Phương pháp nầy nhằm phát triển tinh thần trách nhiệm, lòng tự tin, khả năng lãnh đạo… và còn được gọi là "phương pháp hàng đội".
    • Chương trình sinh hoạt sống động và gần thiên nhiên: Đặc điểm của sinh hoạt HĐ là vui tươi, hấp dẫn; nhờ thế HĐS luôn cảm thấy thú vị, nhất là những khi sống gần thiên nhiên (cắm trại, thám du, leo núi, bơi thuyền…). Nhờ vẻ đẹp và sự bao la hùng vĩ của thiên nhiên, Hướng Đạo Sinh cảm thấy tâm hồn trở nên thanh thản, phóng khoáng… đồng thời phát triển được khả năng tháo vát, bớt lệ thuộc vào các tiện nghi.
    Ngoài ra, ngành Tráng còn áp dụng hai phương pháp sau đây chỉ đặc biệt thích hợp với lứa tuổi trưởng thành: qui ước tu thân và phương pháp dự án.

    Qui ước tu thân

    Qui ước tu thân là những điều mà Tráng sinh tự đặt ra cho mình để cố gắng thực hiện nhằm giúp cá nhân mình đến gần Chân, Thiện, Mỹ hơn. Thí dụ như một Tráng sinh tự thấy mình hút thuốc lá hơi nhiều và trong thời gian qua sống không được điều độ. Nhằm sửa đổi những khuyết điểm trên, Tráng sinh tự hứa sẽ giảm thuốc lá (thí dụ: mỗi tuần chỉ được hút nửa bao thôi và sẽ cố gắng dứt hẳn trong tương lai gần, chẳng hạn) và ăn ngủ đúng giờ giấc trong ba tháng sắp tới. Những điều tự hứa nầy được ghi vào qui ước tu thân.
    Trong qui ước tu thân, nên chọn những điều cụ thể, rõ ràng để dễ nhận xét kết quả. Tránh không nên ghi những điều quá trừu tượng, tổng quát hoặc xa vời. Thí dụ có thể chọn: không nói tiếng tục "XX" nữa, mỗi ngày tập thể dục 15 phút, không uống rượu trong một tháng, không mua sắm phung phí trong ba tháng sắp đến và để dành 200 đô la gửi giúp gia đình hoặc trẻ em tại trại tỵ nạn, cố gắng học cho xong hai môn còn lại trong bốn tháng tới…
    Trước khi bắt đầu qui ước tu thân, Tráng sinh nên tìm một người anh (hoặc chị) tinh thần, một người mà mình tin cậy, thân thiết, kính trọng và bàn với người nầy về ý định của mình. Trong Phong Trào, người anh hay chị tinh thần nầy được gọi là Bảo huynh hay Bảo tỷ. Đó là những Trưởng hoặc Tráng sinh đứng tuổi, có cuộc sống ổn định, có kinh nghiệm và có thể chỉ dẫn cho Tráng sinh. Tráng Trưởng sẽ được Tráng sinh thông báo về dự tính của mình để Trưởng nầy cùng với Bảo Huynh hay Bảo Tỷ tìm cách giúp đỡ. Ai cũng cần được khích lệ khi mình làm điều hay và góp ý kiến một cách chân thành, hòa dịu khi mình muốn tự tu sửa. Khi sự thực hiện qui ước tu thân đã hoàn tất, Tráng sinh hãy báo cho Tráng trưởng biết kết quả cùng với những góp ý của Bảo huynh hoặc Bảo tỷ.
    Qui ước tu thân có thể được đề ra bất cứ lúc nào thích hợp cho Tráng sinh và có thể thực hiện nhiều lần cách nhau một thời gian, sau khi đã nhận xét kết quả việc thực hiện qui ước tu thân lần trước. Tất cả Trưởng và Tráng sinh đều có thể áp dụng qui ước tu thân cho mình. Hoàn tất qui ước tu thân là một trong những điều kiện để Lên Đường và trở thành Tráng Sinh Lên Đường của Phong Trào HĐVN.
    Trong lãnh vực quản trị nhân sự của doanh nghiệp, rất nhiều công ty lớn áp dụng “Kế Hoạch Phát Triển Cá Nhân” (Personal Development Plan), theo đó hàng năm, mỗi nhân viên soạn thảo, thực hiện và lượng giá kế hoạch phát triển cho riêng mình. Hình thức nầy có phần giống như qui ước tu thân trong ngành Tráng của HĐVN. Hội Hướng Đạo Úc Đại Lợi cũng áp dụng “Kế Hoạch Phát Triển Cá Nhân” cho các Trưởng từ cấp Châu trở lên. Hội Hướng Đạo Công Giáo Bồ Đào Nha cũng áp dụng “Kế Hoạch Phát Triển Cá Nhân” như là một phương pháp giáo dục trọng yếu trong ngành Tráng.

    Phương pháp dự án

    Trong lãnh vực quản trị hiện nay, phương pháp dự án được xem là căn bản để tiến hành công tác, là chìa khóa của sự thành công. Rất nhiều Hội Hướng Đạo (Hội Hướng Đạo Thụy Sĩ, Hội Hướng Đạo Công Giáo Đức, Hội Hướng Đạo Áo quốc, Hội Hướng Đạo Na Uy, Hội Hướng Đạo Công Giáo Bồ Đào Nha…) đang sử dụng phương pháp nầy như là một trong những phương pháp chính yếu của ngành Tráng. Để hiểu rõ thêm chi tiết, thân mời Bạn đọc bài riêng về phương pháp nầy trong phần phụ lục.

    (Còn tiếp)

    Nguyễn Văn Thuất
     
  6. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    5.Sinh Hoạt Tráng

    Yếu tính của sinh hoạt Tráng
    Đến với Tráng đoàn, hẳn Bạn ước mong là sẽ được dự vào những hoạt động mới mẻ, vui tươi, hấp dẫn và hữu ích. Dĩ nhiên, ngành Tráng được lập ra là để tạo môi trường thuận tiện giúp Bạn và những anh chị em trưởng thành khác có thể cùng nhau đạt được những mong đợi đó; bởi vậy Tráng Đoàn cần có những sinh hoạt chung cho từng nhóm nhỏ (Toán, Xưởng) cũng như ở tầm mức quy mô hơn của toàn Tráng đoàn hay phối hợp với nhiều đoàn khác. Nhưng khác với sinh hoạt HĐ của các lứa tuổi nhỏ hơn (Nhi, Ấu, Thiếu và Thanh), sinh hoạt ngành Tráng dựa trên hai yếu tính mà nếu Bạn nhận ra được thì thời gian hoạt động trong Tráng đoàn của Bạn sẽ vô cùng thú vị và hữu ích. Hai yếu tính đó là: Tráng sinh vừa nhận vừa cho và Tráng sinh tự giáo dục mình.
    - Nhận và cho: Đây là hai mặt không thể tách rời nhau của sinh hoạt ngành Tráng. Tráng sinh mong nhận được niềm vui, có thêm những bạn tốt, học hỏi thêm kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng mới từ Tráng đoàn. Nghĩa là Tráng sinh mong được đón nhận nhiều lợi ích do Tráng đoàn mang đến. Những lợi ích nầy sở dĩ có được, xét cho cùng, phần lớn là do từng người một trong Tráng đoàn đã đóng góp hoặc do Phong Trào Hướng Đạo mang lại. Ngược lại, các Tráng sinh khác cũng được thụ hưởng lợi ích từ của chung, trong đó có cả phần của Bạn. Không ai cứ tiếp tục nhận mãi mà không bao giờ đóng góp, dù là chỉ đóng góp trong phạm vi mà mình có thể có được, nhất là người đó đã ở tuổi trưởng thành. Chắc chắn Bạn cũng rất muốn san sẻ những gì Bạn có cho những Tráng sinh khác. Người càng có khả năng cho nhiều thì càng thấy đời sống mở rộng, phóng khoáng và càng được hưởng nhiều niềm vui. Mọi Tráng sinh đều nhận và đều cho trong sinh hoạt Tráng. Nếu một Tráng sinh hoàn toàn không nhận được gì từ sinh hoạt của Đoàn, dù đó chỉ là những niềm vui nhỏ hay một tình bạn thân thiết, thì chắc chắn sớm muộn gì Tráng đoàn cũng sẽ mất Tráng sinh đó.
    Trên bình diện của Đoàn thì Tráng đoàn không thể cứ phục vụ, giúp ích mãi mà không dành thời giờ học hỏi, thu nhận vì Tráng đoàn không phải là hội từ thiện, hơn nữa nếu chỉ thuần phục vụ không thôi thì đến một lúc nào đó, Tráng đoàn chắc chắn sẽ khô cạn, mệt mỏi và rã rời. Sinh hoạt Tráng là sự dung hoà giữa học hỏi và phục vụ: trong công tác phục vụ, có dành thời giờ để học hỏi hầu những lần phục vụ về sau sẽ có hiệu năng cao hơn; áp dụng sự học hỏi vào công tác phục vụ hầu những điều học hỏi có giá trị thực tiễn.
    - Tráng Sinh tự giáo dục mình: Là nơi gặp gỡ của các Tráng sinh thuộc nhiều lứa tuổi, từ nhiều thành phần khác nhau, Tráng đoàn là môi trường học hỏi vô cùng thuận lợi nếu bạn biết cách thu nhận. Bạn sẽ không nghe những câu mở đầu như: “…hôm nay, tôi sẽ dạy về…” hoặc “…các bạn phải học như thế nầy…” vì Tráng đoàn là một cộng đồng anh chị em của những người đã trưởng thành, mọi người xem nhau như anh chị em trong một đại gia đình, đại gia đình Hướng Đạo; do đó, bầu không khí thân hữu, nhẹ nhàng là điều cần có, lại nữa các Trưởng, tuy có kinh nghiệm và khả năng trong nhiều lãnh vực, nhưng không phải là thầy hay cô giáo đến Tráng đoàn để dạy học mà là những người cố vấn khi Bạn cần và các Tráng sinh khác chỉ là những người anh chị em, những bạn đường. Bởi vậy, Bạn hãy quan sát thật kỹ những điều hay và cả những điều dở của tất cả, Bạn sẽ học hỏi được nhiều điều thú vị.
    Ngành Tráng giới thiệu với Bạn các phương pháp của ngành. Mục tiêu của các phương pháp nầy là nhằm giúp Bạn thành công trong nỗ lực phát triển cá nhân mình (qui ước tu thân) cũng như đạt được hiệu năng cao trong công việc (phương pháp dự án); nhưng Tráng đoàn không buộc Bạn phải tu thân mà Bạn hãy tự nguyện làm điều đó, cho chính Bạn, vì Bạn là người đã trưởng thành. Có thể Bạn sẽ thỉnh thoảng nghe thấy một vài lời phàn nàn là “chẳng học hỏi từ Tráng đoàn được gì cả!” Thực ra, nếu nghĩ kỹ lại, Bạn sẽ thấy rằng Tráng đoàn tạo ra môi trường thuận tiện, đưa ra những dữ kiện, những vấn đề, y như người đầu bếp nấu sẵn các món ăn, còn có ăn được hay không thì tự mỗi người phải tự chọn lựa, chọn món mình thích rồi tự ăn. Không ai lại ăn giùm người khác. Mà nếu như vậy thì chẳng còn thú vị gì trong sự ăn cả!

    Chương trình sinh hoạt
    Tại sao lại cần có chương trình? Tại sao lại không để tùy hứng, đến đâu hay đó, có phải như vậy sẽ bất ngờ và thú vị hơn không?
    Bạn sẽ thấy ngay là sự tùy hứng chỉ có thể tình cờ mang đến thú vị cho một người hay một vài người trong một vài lúc nào đó, chứ không thể thích hợp cho một Tráng đoàn với một số đông người được. Một chương trình sinh hoạt hữu hiệu rất cần thiết cho Tráng đoàn, vì nhờ đó, thời giờ, năng lực và mọi tài nguyên khác sẽ được sử dụng một cách hữu ích.
    - Phân loại chương trình: Có thể phân thành 3 loại: dài hạn (1 năm hay hơn), trung hạn (3 đến 6 tháng) và ngắn hạn (từng tháng). Chương trình sinh hoạt cho năm sau cần được soạn thảo từ trước cuối năm nầy (chậm nhất là tháng 12) để kịp thời chuẩn bị trước và cũng có đủ thời gian cho toàn thể thu xếp các việc khác mà tham gia chương trình sinh hoạt của đoàn. Chương trình trong năm lại được chia thành nhiều chương trình trung hạn, căn cứ vào những yếu tố có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt chung (thời tiết, mùa thi, dịp nghỉ hè…). Sau cùng, những gì cần làm trong tháng (chương trình ngắn hạn) sẽ được thấy rõ ràng khi chương trình trung hạn được hoàn tất.
    - Kỹ thuật lập chương trình: Toán lãnh đạo Tráng đoàn dự thảo chương trình sinh hoạt của Tráng đoàn sau khi thu nhận đề nghị của các Toán, Xưởng và Tráng Trưởng đã tham khảo chương trình của Liên đoàn hay Chi nhánh / Miền. Cần định rõ các mục tiêu nào mà Tráng đoàn muốn đạt được trong năm. Các mục tiêu đề ra cần đáp ứng nhu cầu của Tráng sinh và thực tế. Dự thảo được trình bày trong phiên họp của toàn thể Tráng đoàn để thảo luận và chung quyết. Kinh nghiệm cho thấy một vài sinh hoạt chung thường lệ của cộng đồng người Việt (hội Tết, Trung Thu…) có thời gian nhất định, ngoài ra cũng cần tham gia một vài sinh hoạt chung với Hướng Đạo sở tại hoặc do chánh quyền địa phương tổ chức, thời giờ còn lại là tùy nhu cầu và sáng kiến của Tráng đoàn.
    Khi Tráng đoàn đã có chương trình, các Toán sẽ quyết định chương trình riêng của Toán. Chương trình của Toán và của Đoàn chẳng những không được mâu thuẫn với nhau mà phải nhằm bổ túc cho nhau để các Tráng sinh có đầy đủ môi trường học hỏi và phục vụ.
    - Thực hiện chương trình: Chương trình đã quyết định, dù là của Đoàn hay của Toán, cần được chuẩn bị kỹ để sự thực hiện đạt được kết quả mong muốn. Những sinh hoạt của Đoàn nhưng do Xưởng hoặc Dự án đảm trách thì khi tiến hành, Trưởng Xưởng hoặc Trưởng Dự Án sẽ điều động Tráng đoàn (thí dụ: Xưởng thể thao có mục tắm biển cho toàn Tráng đoàn vào một ngày nắng ấm thì khi khi tắm biển, Trưởng xưởng thể thao sẽ chủ động; Dự án tổ chức chiến dịch vệ sinh cần đông đảo người vào ngày thực hiện thì khi bắt tay vào việc, Trưởng dự án sẽ điều khiển…).
    Tất cả các hoạt động cùng thời gian và địa điểm cần được đúc kết thành “Lịch Sinh Hoạt” để Tráng sinh dễ theo dõi mà tham dự.
    - Lượng giá chương trình: Để tạo cơ hội học hỏi cho Tráng sinh đồng thời giúp cho chương trình sắp tới được hữu hiệu hơn, cần lượng giá chương trình đã thực hiện. Sự lượng giá có thể tổ chức tại Toán, Xưởng, Dự án, Toán lãnh đạo hay toàn Tráng đoàn, tùy tầm quan trọng và tính cách thích nghi. Những tiêu chuẩn để lượng giá có thể là sự vui thích, những điều đã học hỏi, kết quả phục vụ đạt được cùng thành quả của những mục tiêu đã đề ra cho loại hoạt động đó… Cũng có thể sử dụng một số tiêu chuẩn nêu ra trong kỹ thuật lượng giá dự án (xem bài “Phương Pháp Dự Án”).

    Những đề tài gợi ý
    Danh sách những loại hoạt động của ngành Tráng thì nhiều vô kể, chỉ tùy thuộc vào thời giờ, sức khỏe và phương tiện của Tráng sinh mà thôi. Những đề tài ghi sau đây chỉ nhằm gợi ý và có thể được tùy nghi thêm bớt, sửa đổi:
     giải trí
    - cùng đi thăm danh lam thắng cảnh
    - đi xem văn nghệ, chớp bóng
    - dự hội hoa mùa xuân, mùa thu…
     hội luận
    - thảo luận về hiện tình đất nước
    - mẫu người bạn đời lý tưởng
    - làm sao để học có kết quả tốt
    - kinh nghiệm tìm việc làm
    - những nghề nào dễ tìm việc, lương cao
    - tình yêu nam nữ qua ca dao Việt Nam
    - giáo dục con cái trong hoàn cảnh hiện tại…
     thể thao, thể dục
    - thành lập đội bóng tròn, bóng chuyền…
    - tổ chức tranh giải thể thao, điền kinh
    - luyện tập võ thuật
    - các phương pháp giữ gìn sức khỏe…
     nghề trưởng
    - nghệ thuật cầm đoàn (Nhi, Ấu, Thiếu, Thanh, Tráng)
    - soạn thảo chương trình sinh hoạt hấp dẫn
    - tâm lý và nhu cầu các lứa tuổi (Nhi, Ấu, Thiếu, Thanh, Tráng)
    - phương pháp hàng đội
    - tổ chức đội kiểu mẫu…
     giúp ích
    - dự án gây quỹ giúp đồng bào (hoặc nạn nhân) bị thiên tai
    - chiến dịch một đồng cho trẻ em sống trên đường phố
    - dạy Việt ngữ cho trẻ em tại thành phố cư ngụ
    - hát giúp vui cho bệnh viện
    - sinh hoạt với các thiếu nhi bụi đời…
     văn hoá
    - tìm hiểu về một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam
    - thăm viếng và tìm hiểu một di tích lịch sử tại địa phương
    - mời một học giả nói chuyện về văn minh Việt Nam
    - giới thiệu với Hướng Đạo sở tại về tranh sơn mài
    - tổ chức (hoặc tham gia) mừng Xuân
    - tổ chức Tết Trung Thu…
     văn nghệ
    - dự án đêm văn nghệ dân tộc nhân dịp Tết Nguyên Đán
    - thành lập Xưởng ca hát
    - nhờ một kịch sĩ dạy cách đóng kịch câm
    - sáng tác trại ca cho trại hè chi nhánh
    - ấn hành tập hát cho trẻ em…
     kinh doanh
    - thực hiện một dự án gây quỹ cho Liên Đoàn hoặc Đoàn
    - mời một doanh nhân đến nói chuyện về kinh nghiệm kinh doanh
    - tìm hiểu thị trường tiêu thụ sản phẩm thủ công nghệ tại nơi cư ngụ
    - thực hiện gian hàng thức ăn gây quỹ tại hội chợ Tết
    - mở quán cà phê tại đoàn quán vào mỗi cuối tuần…
     nhiếp ảnh, điện ảnh
    - mời một nhiếp ảnh gia hướng dẫn cách chụp ảnh
    - tổ chức một cuộc săn hình
    - triển lãm các hình ảnh đã chụp được
    - thực hiện một phim video về sinh hoạt HĐ
    - nhận chụp ảnh, thu video đám cưới, đám tang…
     kỹ thuật sử dụng máy vi tính
    - tạo ra và lưu trữ một hồ sơ
    - tìm các dữ kiện muốn biết trong các trang mạng hiện có khắp thế giới
    - viết và gửi một điện thư
    - cách giữ gìn máy vi tính để có thể sử dụng lâu dài

    Họp Bạn Tráng Sinh (Rovermoot)
    Họp bạn Tráng sinh là sinh hoạt đặc biệt riêng của ngành Tráng, có thể được tổ chức trong vùng, cho toàn quốc, hoặc có tính cách quốc tế. Ngành Tráng phát xuất từ Anh quốc vào năm 1918 và cuộc họp bạn quốc gia Tráng sinh đầu tiên được tổ chức tại Yorks Wood Park, Birmingham, Anh quốc vào tháng 10 năm 1923. Từ sau khi được tổ chức lần đầu tiên tại Kandersteg (Thụy Sĩ) vào năm 1931 với sự tham dự của khoảng 3 ngàn tráng sinh từ 22 quốc gia cùng với sự hiện diện của B-P., đến nay đã có những cuộc họp bạn Tráng sinh quốc tế (World Rover Moots) kể sau:
    Thời gian Địa điểm
    1931 Kandersteg (Switzerland)
    1935 Ingaro (Sweden)
    1939 Monzie (Scotland)
    1949 Skjak (Norway)
    1953 Kandersteg (Switzerland)
    1957 Sutton Coldfield (England)
    1961 Melbourne (Australia)
    1990-1991 Melbourne (Australia)
    1992 Kandersteg (Switzerland)
    1996 Ransberg (Sweden)
    2000 Mexico City (Mexico)
    2004 Hualien (Taiwan)
    2008 Mozambique
    Nhờ nội dung sinh hoạt được cải tiến liên tục để luôn được hấp dẫn và đáp ứng được nhu cầu của lớp tuổi trưởng thành nên các Rover Moots thường thu hút được đông đảo Tráng sinh tham dự và lưu lại nhiều kỷ niệm đáng nhớ.
    (Còn tiếp)

    Nguyễn Văn Thuất
     
  7. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    6.Nghi thức và Tập Tục

    Nhập Đoàn
    Khi vừa đến tham dự phiên họp Tráng Đoàn lần đầu tiên, Bạn sẽ được các Trưởng giới thiệu với toàn thể. Bạn có thể nói vài điều để tự giới thiệu mình: Tên tuổi, chỗ ở, sở thích, sở trường… Ngược lại, từng người một trong Tráng Đoàn cũng sẽ tự giới thiệu để giúp Bạn dễ quen biết. Toàn Tráng Đoàn sẽ chào mừng Bạn bằng một tiết mục đặc biệt: một bài hát có ý nghĩa, một tiếng reo… Rồi Bạn sẽ được mời tham gia vào một Toán, trong đó có người đã giới thiệu Bạn hoặc có anh chị em khác ở gần nhà, học cùng trường, cùng lứa tuổi… Qua những phút đầu bỡ ngỡ, Bạn sẽ thấy quen dần với bầu không khí thân tình và vui tươi của buổi họp Đoàn.

    Trao Khăn Quàng
    Sau nhiều tuần sinh hoạt với Tráng Đoàn và Toán để làm quen và cảm thấy thú vị, Bạn sẽ được các Trưởng trong Tráng Đoàn trao khăn quàng đơn vị trong một buổi Lễ Trao Khăn Quàng được cử hành nhân một phiên họp hoặc một lần thám du hoặc trong một kỳ trại.

    Nghi thức trao khăn quàng tuy đơn giản nhưng mang nhiều ý nghĩa, vì cùng với đồng phục Hướng Đạo trên người, từ nay Bạn tự nhận mình bắt đầu có những liên hệ mật thiết hơn với Đoàn, với Phong Trào, trong đó Bạn là một Tân Tráng. Tập “Nghi Thức” của Hội Hướng Đạo Việt Nam ấn bản 1964 dành danh xưng “Tân Tráng” cho tất cả các bạn, kể cả những bạn từ Thanh Đoàn chuyển lên, trước khi tuyên hứa để trở thành Tráng sinh chính thức (tập “Nghi Thức Hướng Đạo” do Hội Đồng Trung Ương ấn hành năm 1983 tại Hoa Kỳ sử dụng danh xưng Tân Tráng Sinh cho tất cả Tráng Sinh chưa Lên Đường). Nếu từ Thanh Đoàn chuyển lên, hẳn Bạn đã có sẵn đồng phục; tuy vậy, đây cũng là lúc nên có đồng phục của ngành Tráng, nếu đồng phục ngành Thanh của Hội Hướng Đạo sở tại khác với đồng phục ngành Tráng, và nhất là vóc dáng của Bạn cũng có thể đã thay đổi so với vài năm trước, lúc Bạn mới đến Thanh Đoàn.
    Nếu Bạn đã từng sinh hoạt Hướng Đạo nhiều năm về trước thì thật hay vô cùng, vì Bạn đã quen với các sinh hoạt tập thể và có thể vượt qua dễ dàng những thử thách đòi hỏi nơi một Tân Tráng, so với các bạn khác không có được quá trình đó.

    Lửa Tĩnh Tâm

    Lửa Tĩnh Tâm được tổ chức vào các dịp: Tuyên Hứa và Lên Đường, có thể nhân khi có trại hoặc được đặc biệt tổ chức. Không khí buổi tĩnh tâm nghiêm trang, nhưng có thể vui vẻ, và luôn luôn phải thân hữu, đón tiếp, cởi mở và xây dựng. Đây là dịp để Tân Tráng cùng các Trưởng, các vị Tuyên Uý và các Tráng Sinh đã tuyên hứa tâm tình về những điều mà các Trưởng, các bạn đã đi trước muốn nhắn nhủ, hoặc Tân Tráng có những điều chưa được rõ về Phong Trào, trước khi tuyên hứa với tư cách một người trưởng thành. Nhân bầu không khí thân tình này, các Trưởng, các vị Tuyên Uý cũng có thể đưa vài nhận xét một cách chân thành về những ưu và khuyết điểm của Tân Tráng để giúp Tân Tráng hiểu rõ mình hơn và nhờ thế sẽ dễ dàng phát huy ưu điểm và cải tiến nhược điểm (nếu có).

    Lễ Tuyên Hứa


    Tất cả Tân Tráng đều cần hoàn tất những yêu cầu của giai đoạn Tân Tráng trước khi Tuyên Hứa để trở thành Tráng Sinh. Sự Tuyên Hứa với tư cách một người trưởng thành của tuổi Tráng mang một ý nghĩa đặc biệt, khác với sự Tuyên Hứa khi còn ở tuổi Thiếu hay Thanh, vì sự Tuyên Hứa ở tuổi Tráng thể hiện trọn vẹn tinh thần tự nguyện sống theo lý tưởng Hướng Đạo một cách hoàn toàn có ý thức.

    Lễ Tuyên Hứa thường được tổ chức trong một kỳ trại. Cũng có khi được tổ chức ngoài dịp trại, nếu có nhu cầu đặc biệt. Vào đêm trước khi tuyên hứa, Tân Tráng dự Lửa Tĩnh Tâm (như trình bày trên). Lễ Tuyên Hứa được tổ chức vào buổi sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, tại một nơi yên tĩnh, có thể là một góc rừng, một bãi cỏ xanh, cách biệt với những người không liên hệ. Tại hải ngoại, tuy nghi thức có phần khác nhau chút ít tùy theo hoàn cảnh tại chỗ, nhưng cách chung đều có sự hiện hữu của cờ quốc gia định cư và cờ Việt Nam (thể hiện cho quốc gia và tổ quốc). Hai lá cờ nầy đều chiếm vị trí cao quý trước cờ đơn vị. Tất cả tập trung thành hình chữ U theo sự điều động của Trưởng Phụ Trách Nghi Thức. Khi lễ bắt đầu, Toán Trưởng hoặc Bảo Huynh (hay Bảo Tỷ) đưa Tân Tráng đến trước Trưởng Chủ Lễ theo sự hướng dẫn của Trưởng Phụ Trách Nghi Thức.

     Trưởng Chủ Lễ: Anh (chị hay em) muốn tuyên hứa để trở thành Tráng Sinh của Phong trào HĐVN, vậy anh (chị hay em) có biết danh dự của Tráng Sinh HĐ là gì không?
     Tân Tráng: Thưa tôi biết. Đó là sống làm sao cho mọi người tin nơi mình.
     Trưởng Chủ Lễ: Anh (chị hay em) có biết rằng bổn phận của mình là luôn luôn tự rèn luyện để lập thân, giúp ích gia đình và cộng đồng không?
     Tân Tráng: Thưa tôi có biết.
     Trưởng Chủ Lễ: Anh (chị hay em) có chấp nhận lối sống theo Lời Hứa và Luật Hướng Đạo hay không?
     Tân Tráng: Thưa có.
     Trưởng Chủ Lễ: Vậy mời anh (chị hay em) tuyên hứa để chính thức trở thành Tráng Sinh chính thức của Tráng Đoàn và của Phong Trào Hướng Đạo.
    Tân Tráng đặt tay trái ngang với cờ đơn vị (lúc ấy được Tráng Sinh cầm cờ hạ ngang xuống 90 độ), tay phải chào theo lối Hướng Đạo và tuyên lời hứa.
     Trưởng Chủ Lễ: Thay mặt Tráng Đoàn và Phong Trào, tôi nhận lời hứa của anh (chị hay em). Kể từ nay, anh (chị hay em) là Tráng Sinh của Tráng Đoàn và là một Hướng Đạo Sinh chánh thức của Phong Trào Hướng Đạo Việt Nam và Thế Giới.

    Nếu vị Tuyên Úy có hiện diện thì Tân Tráng sẽ đến truớc mặt vị nầy để được chúc lành. Trưởng Chủ Lễ sẽ gắn huy hiệu Hướng Đạo Thế Giới và Hướng Đạo Việt Nam cho Tráng Sinh. Nếu Tráng Sinh chưa dự Lễ Trao Khăn Quàng thì sẽ nhận khăn quàng luôn trong dịp nầy. Nếu có huy hiệu Đạo, Châu hoặc Vùng, băng tên Liên Đoàn … thì có thể nhờ các Trưởng hiện diện trao cho Tráng Sinh để tỏ tình liên đới. Tráng Sinh vừa tuyên hứa chào Trưởng Chủ Lễ rồi lui về vị trí cũ. Trưởng Phụ Trách Nghi Thức mời Tân Tráng khác (nếu có nhiều Tân Tráng cùng tuyên hứa).

    Trước khi buổi lễ chấm dứt, tất cả cùng hát bài “Tuyên Hứa”, rồi (các) Tráng Sinh vừa tuyên hứa xong đi đến chào và bắt tay mọi người để nhận những lời khuyến khích và chúc mừng.

    Lửa Dặm Đường

    Như những lữ khách sau một ngày dài giong ruổi, tạm dừng chân ngơi nghỉ khi đêm về, đốt lên ánh lửa để tìm thêm hơi ấm, ngăn ngừa thú dữ và xua bớt bóng tối, các Tráng Sinh (những người bạn cùng đi trên đường) ngồi quây quần bên lửa dặm đường để hàn huyên tâm sự, trao đổi những kinh nghiệm sống, những mẫu chuyện đời hoặc cùng nhau nhìn lại đoạn đường đã qua hầu rút tỉa kinh nghiệm sau một ngày cùng làm việc, cùng sống với nhau.

    Khác với lửa trại, lửa vui, lửa Tĩnh Tâm ... cũng được tổ chức cho các ngành khác, lửa dặm đường chỉ dành riêng cho ngành Tráng. Đây là một trong những thời gian thuận tiện nhất để Tráng Sinh thông cảm và thân thiết nhau hơn cùng học hỏi lẫn nhau một cách hữu hiệu.

    Lấy Tên Rừng

    Đa số Trưởng Hướng Đạo Việt Nam đều có tên rừng. Đây là một tập tục có ít nhiều tác dụng giáo dục và chỉ dành cho Trưởng và Tráng Sinh. Tên rừng của một người do Hội Đồng Rừng quyết định. Chỉ những người đã nhập rừng mới biết rõ tập tục nầy và không được tiết lộ, vì những ai đã qua cuộc chơi “Lấy Tên Rừng” đều phải cam kết giữ kín bí mật của Rừng. Muốn có tên rừng, Tráng Sinh có thể trình bày ý muốn của mình với một Trưởng của Tráng Đoàn để chờ Hội Đồng Rừng cứu xét và quyết định khi nào thuận tiện. Một số Trưởng của các Hội Hướng Đạo quốc gia khác cũng có “tên rừng”, tuy thủ tục đặt tên không hoàn toàn giống như của Hướng Đạo Việt Nam.

    Lễ Lên Đường

    Đã có nhiều mô tả với một số chi tiết khác nhau về Lễ Lên Đường. Ắt hẳn những người viết đều đã cố gắng trình bày trung thực những kinh nghiệm và nhận xét của mình, nhưng có thể do hoàn cảnh riêng cùng sáng kiến của mỗi Tráng Đoàn tại mỗi địa phương đã tạo nên những khác biệt ấy. Sau đây là một đoạn về nghi thức Lên Đường được trích trong tập “Nghi Thức Hướng Đạo” do Hội HĐVN ấn hành năm 1964 và được Ban Tu Thư và Huấn Luyện Ngành Tráng tái bản năm 2003:

    Tráng Đoàn tập họp hình bán nguyệt. Tráng Sinh một mình tiến lên trước mặt Tráng Trưởng, trình diện.

     Tráng Sinh: Thưa Trưởng, tôi xin từ biệt Tráng Đoàn để Lên Đường.
     Tráng Trưởng: Vâng, anh Lên Đường, nhưng anh có hiểu rằng Lên Đường tức là thoát khỏi óc vị kỷ, cầu an, để dấn thân và quên mình trong công cuộc phụng sự xứ sở và nhân loại hay không?
     Tráng Sinh: Thưa, tôi hiểu.
     Tráng Trưởng: Lên Đường, tức là bước tới. Vậy anh có quyết chí làm cho đời anh phải là một sự tiến triển không ngừng về mọi mặt và phải làm sao trong mọi việc, ngày nay hơn ngày qua, và ngày mai sẽ hơn ngày nay không?
     Tráng Sinh: Tôi quyết chí.
     Tráng Trưởng: Mai đây, có thể anh sẽ trút bỏ bộ đồng phục Hướng Đạo, nhưng anh có quyết tâm tiếp tục lấy Lời Hứa và Luật Hướng Đạo làm phương châm cho cuộc sống hàng ngày không?
     Tráng Sinh: Tôi quyết chí.
     Tráng Trưởng: Vậy xin cùng mời anh cùng với chúng tôi nhắc lại Lời Hứa Hướng Đạo.
    (Tráng Sinh và Tráng Đoàn đứng “sắp sẵn”, làm dấu Hướng Đạo, đồng thanh nhắc lại Lời Hứa.)
     Tráng Trưởng: Nhiệm vụ của Đường và của Phong Trào chấm dứt nơi đây. Chúng tôi hãnh diện đã cống hiến cho cộng đồng một phần tử hữu dụng. Xin anh nhận lãnh huy hiệu Tráng Huynh này, cùng tặng vật kỷ niệm của Tráng Đoàn (tùy tập tục của mỗi Đoàn), chúc anh thẳng tiến.

    Tráng Trưởng trao huy hiệu và tặng vật. Tráng Huynh chào từ biệt các Trưởng rồi quay lại bắt tay trái từ giã anh em trong Đoàn. Tùy theo tập tục của Đoàn, khi Tráng Huynh cất bước ra đi, Tráng Đoàn sẽ ca bài “Tiếng Gọi Lên Đường” hoặc một bản hành khúc, hoặc bài ca của Tráng Đoàn. Cũng có thể Tráng Đoàn mời Tráng Huynh đứng vào vòng, nắm tay ca bài “Tạm Biệt”.

    Tập Tục Riêng Của Tráng Đoàn

    Nhiều Tráng Đoàn tự đặt những tập tục riêng với sự tán đồng của những Tráng Sinh đương thời. Thí dụ có Đoàn quyết định là mỗi người sẽ có một cái tách với hình thù đặc biệt nào đó để cùng nhau uống một loại trà đặc chế vào ngày kỷ niệm thành lập Đoàn. Những kiểu tách khác nhau này được cất giữ cẩn thận như một biểu hiện về thâm niên và thời điểm sinh hoạt của Tráng Sinh với Đoàn. Có Đoàn lại đòi hỏi Tân Tráng Sinh phải qua một số thử thách nào đó, tỉ như đi qua một đoạn đường trong rừng ban đêm, trước khi được nhận cho Tuyên Hứa… Tập tục đặc biệt trong những Tráng Đoàn vững mạnh và hoạt động lâu dài là những kỷ niệm đáng nhớ đối với Tráng Sinh.

    (Còn tiếp)


    Nguyễn Văn Thuất
     
  8. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    7.Tiến Trình của một Tráng Sinh
    Để giúp Bạn phát triển các tiềm năng của mình, thu nhận thêm các kỹ năng mới và góp phần phục vụ, tiến trình đề nghị cho Bạn như sau:

    Giai đoạn Tân Tráng
    • làm quen với các sinh hoạt tập thể trong nhà cũng như ngoài trời
    • tham dự trại Tráng Đoàn hoặc trại Liên Đoàn hoặc phụ giúp các Trưởng của các Đoàn (Nhi, Ấu, Thiếu, Thanh) trong kỳ trại
    • làm quen với các Tráng sinh khác cũng như các Trưởng trong Toán, Xưởng, Dự án, Tráng đoàn, Liên đoàn, Miền hay Chi Nhánh
    • hiểu khái quát về mục tiêu và đường hướng của Phong Trào Hướng Đạo Thế Giới và Việt Nam
    • hiểu khái quát về tổ chức và sinh hoạt của Tráng đoàn
    • hiểu và thuộc Lời Hứa và Luật Hướng Đạo
    • tuyên lời hứa để trở thành Tráng Sinh chính thức
    Giai đoạn Tráng Sinh
    • tiếp tục tìm hiểu về mục tiêu, đường hướng và lịch sử của Phong Trào Hướng Đạo Thế Giới và Việt Nam
    • học hỏi về phương pháp ngành Tráng (quy ước tu thân, phương pháp dự án…)
    • tiếp tục sinh hoạt với Toán, Xưởng và Dự án trong Tráng Đoàn
    • tham dự sinh hoạt chung, và nếu có thể, làm việc chung với Tráng sinh thuộc các cộng đồng văn hóa khác hoặc quốc gia khác trong một dự án
    • đảm nhận vai trò Trưởng hoặc Phụ Tá Trưởng trong một Đoàn (Nhi, Ấu, Thiếu, Thanh) ít nhất 6 tháng và học hỏi về những lãnh vực cần thiết qui định trong chương trình đẳng hiệu của ngành (mà Đoàn trực thuộc) để hoàn thành trách nhiệm Truởng (hoặc Phụ Tá Trưởng của Đoàn)
    • soạn thảo và thực hiện quy ước tu thân với sự trợ giúp của bảo huynh hoặc bảo tỷ.

    Giai đoạn Lên Đường
    Lên Đường là giai đoạn thể hiện Tráng sinh đã trưởng thành về nhiều phương diện (tuổi tác, học vấn, nghề nghiệp, gia đình…) và có ý nguyện sống theo tinh thần HĐ qua nỗ lực liên tục thực hành Lời Hứa và Luật Hướng Đạo trong cuộc sống hằng ngày. Đó là hình ảnh người Hướng Đạo Việt Nam tiêu biểu: Người công dân tốt tại quốc gia định cư và có tinh thần dân tộc. Tráng Sinh Lên Đường có thể:
    • tiếp tục sinh hoạt trong Tráng đoàn và góp phần hướng dẫn các Tráng Sinh khác trong vai trò Bảo Huynh/Bảo Tỷ hay trông nom Tráng Đoàn
    • thành lập đơn vị mới hoặc góp phần trông nom một Đoàn (Nhi, Ấu, Thiếu, Thanh) sau khi đã hoàn tất các khóa huấn luyện mà nhiệm vụ mới đòi hỏi
    • giúp ích gia đình, phong trào Hướng Đạo, cộng đồng, quốc gia, tổ quốc, thế giới qua những dự án hoặc chương trình của cá nhân hay hợp tác với những người khác.

    (còn tiếp)

    Nguyễn Văn Thuất
     
  9. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    8. Khái Quát về Ngành Tráng Hiện Nay tại Các Quốc Gia

    Cho đến nay, vẫn chưa có qui chế chính thức cho ngành Tráng HĐVN vì lý do rất đơn giản là các đơn vị HĐVN hoạt động tại các quốc gia định cư đều phải chấp hành những qui định của Hội Hướng Đạo quốc gia mà mình ghi danh, và tại Việt Nam thì Hội Hướng Đạo Việt Nam vẫn chưa được chính thức tái thành lập. Trước tình trạng đó, thiết tưởng một cái nhìn khái quát về tổ chức và sinh hoạt ngành Tráng tại một số quốc gia, đặc biệt là tại những quốc gia có các đơn vị HĐVN đang hoạt động, sẽ giúp chúng ta hiểu thêm hơn về hiện trạng của ngành Tráng để từ đó phác họa hướng đi cần thiết cho hiện tại cũng như cho tương lai.

    Tại Anh Quốc

    Từ khi sinh hoạt Hướng Đạo được B P. khởi xướng tại Anh quốc vào năm 1907 và dần dà lan rộng khắp nước Anh cùng một số quốc gia khác, trong thập niên sau đó, có rất nhiều Thiếu sinh đã lớn tuổi muốn tiếp tục sinh hoạt nhưng ở một tầm mức thích hợp với nhu cầu và khả năng của mình. Vào năm 1916, nhiều thử nghiệm được tiến hành nhằm đáp ứng nhu cầu nầy. Vào năm 1918 danh xưng Tráng Sinh (Rover Scout) được chính thức chấp nhận tại Anh quốc. Sau đó, quyển “Rovering to Success” (Đường Thành Công) của B P. được ấn hành lần đầu vào năm 1922 để làm căn bản cho sinh hoạt ngành Tráng. Ngành Tráng đã phát triển và lan rộng khắp nước Anh cũng như tại nhiều quốc gia khác. Trong nhiều thập niên kế tiếp, những qui định về sinh hoạt Tráng tại Anh quốc đã là khuôn vàng thước ngọc cho ngành Tráng khắp thế giới và trại trường Gilwell là trung tâm đào tạo các trưởng huấn luyện cao cấp cho các Hội Hướng Đạo quốc gia. Thế nhưng 25 năm sau khi B P. qua đời, vào năm 1966, bản Phúc Trình Tổng Quát “The General Report” do nhóm đặc nhiệm “The Chief Scouts Advanced Party” công bố sau hai năm làm việc đã đưa đến nhiều thay đổi quan trọng trong Hội Hướng Đạo Anh Quốc kể từ năm 1967. Một trong những thay đổi đó là ngành Tráng bị chấm dứt hoạt động để được thay thế bằng ngành Thanh (Venture Scouts) cho các HĐS tuổi từ 16 đến 20. Đối với những người từ 20 tuổi trở lên mà không trở thành trưởng Hướng Đạo thì có các B P. Guild (sau đó là Scout Fellowship – Thân Hữu Hướng Đạo) sẵn sàng đón nhận. Tuy ngành Tráng của Hội Hướng Đạo Anh quốc chính thức đình chỉ hoạt động nhưng tại các nước khác thì ngành nầy vẫn tiếp tục và các sinh hoạt Tráng tại địa phương, liên quốc gia hoặc quốc tế vẫn tiến hành.
    Vào năm 2002, Scout Network được Hội Hướng Đạo Anh quốc thành lập với nhiều qui định rộng rãi dành cho giới trẻ từ 18 đến 25 tuổi. Thành viên của Scout Network có thể là trưởng HĐ (hay phụ tá) đương nhiệm hoặc Thân Hữu HĐ hoặc hội viên của những nhóm khác. Scout Network có thể thuộc vào Vùng/Châu, Đạo hay Liên Đoàn. Khi quá 25 tuổi, đoàn sinh được khuyến khích đảm nhận một vai trò khác trong Hội hoặc tham gia vào Thân Hữu Hướng Đạo (Scout Fellowship). Scout Network được loan báo là ngành thứ năm trong Hội, vì ngành Nhi (Beaver) được chính thức thành lập vào năm 1986, ngoài các ngành Ấu, Thiếu và Thanh đã có sẵn. Chương trình hoạt động của Scout Network rất phong phú nhằm đáp ứng những mong đợi của đoàn sinh. Mỗi đơn vị Scout Network sẽ tự bầu một Điều Hợp Viên. Các Điều Hợp Viên trong Châu/Vùng sẽ cùng Ủy Viên phụ trách Scout Network và vài trưởng khác tại địa phương tạo thành Uỷ Ban Scout Network cho Châu/Vùng đó. Trên bình diện quốc gia, Uỷ Viên Scout Network của Hội và một số phụ tá sẽ yểm trợ tổng quát. Những sinh hoạt truyền thống cho ngành Tráng vốn được Hội qui định từ trước năm 1967 như: Tuyên Hứa Tân Tráng, Tĩnh Thức, Tuyên Hứa Tráng Sinh… và vẫn còn đang áp dụng tại nhiều quốc gia khác trên thế giới hiện không được đề cập đến trong các tài liệu căn bản của Scout Network.

    Tại Hoa Kỳ

    Từ sau khi việc thiện của một Hướng Đạo Sinh người Anh giúp cho Ông William D. Boyce vào một ngày đầy sương mù tại Luân Đôn vào năm 1909 khiến cho ông này vô cùng cảm kích mà tìm gặp cho được B P., rồi khi trở về Hoa Kỳ đã cùng bạn hữu nỗ lực thành lập Hướng Đạo tại quốc gia nầy, sinh hoạt Hướng Đạo ngày càng lan rộng. Theo các chi tiết của The United States Rovers, một hội không vụ lợi có trụ sở tại Virginia Hoa Kỳ, thì ngành Tráng bắt đầu thành hình tại các thành phố Seattle, Detroit, Toledo… vào năm 1928. Đến tháng 5 năm 1933, Hội Nam Hướng Đạo Hoa Kỳ (Boy Scouts of America) chính thức bắt đầu chương trình sinh hoạt cho ngành Tráng với tuổi của Tráng sinh từ 18 trở lên. Khóa Huy Hiệu Rừng ngành Tráng được Hội tổ chức vào năm 1935. Nhưng không rõ vì lý do gì, cũng có thể vì ngành không thu hút được nhiều đoàn sinh so với các ngành khác (Sir J.S. Wilson, Chủ Tịch Danh Dự Ủy Ban Nam Hướng Đạo Thế Giới, trong lời giới thiệu “The Rover Deputy Camp Chief’s Handbook Fifth Edition” đề ngày 15.11.1953 do Trại Trường Gilwell Park Anh Quốc ấn hành vào năm 1954 đã viết rằng “Số Tráng Sinh trên khắp thế giới ít ỏi”), nên sau khi ngưng cho ghi danh các Tráng Đoàn mới vào năm 1952, Hội quyết định hoàn toàn chấm dứt hoạt động của ngành Tráng vào năm 1965 để phát triển ngành Thanh (Explorer) với lứa tuổi từ 14 đến 21. Vào tháng 2 năm 1998, Hội Nam Hướng Đạo Hoa Kỳ công bố sự biến cải ngành Exploring thành Venturing cho giới trẻ từ 14 đến 20 tuổi.
    Hiện không rõ có bao nhiêu Tráng Đoàn đang hoạt động tại Hoa Kỳ, nhưng điều chắc chắn là có một số Tráng Đoàn ghi danh sinh hoạt như là Thanh Đoàn (Explorer Posts), do đó, những đoàn nầy có hai tên khác nhau: một tên chính thức là Explorer Post thuộc Hội Nam Hướng Đạo Hoa Kỳ, đồng thời lại có một tên khác là Tráng Đoàn XYZ. Một thí dụ điển hình là Tráng Đoàn Dan Beard Rover Crew tại Kishwaukee District thuộc Three Fires Council. Tráng Đoàn nầy giữ một số nét đặc biệt của ngành Tráng như tập tục tuyên hứa cho Tân Tráng, Tấn Phong Hiệp Sĩ, mang huy hiệu có chữ Rover Scout, Bảo huynh hoặc Bảo tỷ… Lại có những Tráng Đoàn ghi danh với Hội Hướng Đạo Canada nên các hoạt động của các Tráng Đoàn nầy xuất hiện trên báo Hướng Đạo Canada, kể cả những lần họp bạn Tráng sinh (Rover Moots) do các Tráng Đoàn nầy tổ chức. Một hội khác là Rover Scouts Association, trụ sở tại Hòa Lan, cho biết hội có tầm hoạt động khắp thế giới. Tráng Đoàn tiêu biểu của Hội là 1st Arizona Rover Scout tại Hoa Kỳ.

    Tại Úc Đại Lợi

    Vào năm 1908 khi quyển “Scouting for Boys” được phổ biến trên một nhật báo tại Sydney thì Phong Trào Hướng Đạo đã bắt đầu đến đất nước nầy. B P. đến thăm Úc vào năm 1912 và hai lần sau đó vào năm 1931 và năm 1934 đã thúc đẩy thêm sự phát triển Phong Trào tại Úc. Hội Hướng Đạo Úc trở thành hội viên chính thức của Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới từ năm 1953 và là hội viên sáng lập của Vùng Á Châu và Thái Bình Dương.
    Thập niên 60 trong thế kỷ qua là khoảng thời gian có nhiều đổi mới trong nhiều hội Hướng Đạo khắp thế giới. Nhiều hội Hướng Đạo nhận thấy các hội viên thuộc lứa tuổi trưởng thành bị phân tán mỏng, và ngành Tráng tại nhiều quốc gia bị ngưng hoạt động với quan niệm là những thanh niên nầy có thể trở thành trưởng vào tuổi 17 hay 18. Tại nước Úc, Ủy Ban “Design for Tomorrow” khuyến cáo bỏ ngành Tráng để lập ngành mới gọi là Pathfinders. Các Tráng Sinh phản đối kế hoạch nầy và cải tiến chương trình của ngành theo chiều hướng tạo nhiều sự tự trị cho việc quản trị ngành. Vào năm 1974, Ban Chấp Hành Hội tìm hiểu về những hình thức khác nhau của các Tráng Đoàn đang hoạt động tại Úc và đề nghị các mức độ sinh hoạt truyền thống hiện có đều được chấp nhận. Vì vậy, hiện nay các Tráng Đoàn tại Úc sinh hoạt có phần khác nhau và nội lệ của các đoàn cũng có phần khác nhau, tùy nhu cầu của đoàn. Sự sinh hoạt chung giữa nam và nữ trong ngành Tráng được cho phép kể từ năm 1973.
    Tráng Đoàn tại nước Úc thường có từ khoảng 7 đến 20 Tráng sinh do một Toán Lãnh Đạo điều hành, đứng đầu là Đoàn Trưởng (Crew Leader), có thể có một hay nhiều Cố Vấn Tráng Đoàn (Rover Advisors) yểm trợ. Tráng sinh từ Thanh Đoàn với huy hiệu chuyển sang ngành Tráng (Rover Link Badge) sẽ được nhận vào Tráng Đoàn với tư cách “Tân Tráng” (Rover Squire) trong buổi lễ “Lên Tráng Đoàn”. Thanh niên từ ngoài vào cần qua giai đoạn làm quen và tuyên hứa của Thiếu sinh trước khi được nhận là Tân Tráng.
    Giai đoạn kế tiếp sẽ là huấn luyện về tinh thần và về thực hành của Tân Tráng, trước khi được Tuyên Hứa Tráng Sinh (còn gọi là Tấn Phong Hiệp Sĩ).
    Lễ Tuyên Hứa Tráng Sinh (hay Tấn Phong Hiệp Sĩ) được tổ chức sau khi Tân Tráng đã hoàn tất sự huấn luyện và được toàn Tráng Đoàn đồng ý. Tĩnh Thức (Vigil) hay Tự Kiểm (Self-Examination) là điều cần thực hiện trước khi được Tuyên Hứa Tráng Sinh. Nội dung Tĩnh Thức được dựa vào những câu hỏi đã có của Hội Hướng Đạo Anh từ khi B P. còn sống và nhằm mục đích giúp Tân Tráng tự mình suy nghĩ trong sự tĩnh lặng về cuộc sống của chính mình và về dự tính tuyên lời hứa Hướng Đạo với tư cách một người trưởng thành. Lễ tuyên hứa hay tấn phong được diễn ra trang trọng nhưng nghi thức sẽ tùy vào mức độ truyền thống của Tráng Đoàn cùng những tập tục của Tráng Đoàn đó.
    Khi Tráng Sinh được 26 tuổi, Lễ Rời Đoàn (các Tráng Sinh tại Úc thường gọi đùa đây là lúc “tống khứ” Tráng Sinh đã quá tuổi tráng) sẽ được tổ chức như sau, theo tập “Ceremonies” (Nghi thức) ấn bản năm 2005 của hội Hướng Đạo Úc:
    “Lễ Rời Đoàn là dịp để suy nghĩ lại về sinh hoạt Tráng và cảm ơn Tráng sinh đã đóng góp vào ngành. Tráng Đoàn sẽ tùy nghi tổ chức Lễ Rời Đoàn: có thể mời các cựu Tráng sinh đã rời Đoàn từ sau ngày Tráng Sinh tham gia sinh hoạt và những người mà Tráng Sinh thường cùng làm việc. Cách chung, buổi lễ là dịp liên hoan về những kinh nghiệm từ Hướng Đạo. Theo tập tục tại Úc, Tráng Sinh rời Đoàn sẽ được tặng quà, thường là đôi giày cưỡi ngựa với một bảng gỗ (hay đồng) ghi nhận thời gian hoạt động của Tráng Sinh trong Đoàn. Cần quan tâm đến những tập tục khác về Lễ Rời Đoàn của Tráng Đoàn (nếu có) trong khi hoạch định cách tổ chức lễ nầy.”

    Tại Gia Nã Đại

    Phong trào Hướng Đạo đến Canada từ năm 1908, và vào tháng tám năm 1910 B P. được mời sang thăm quốc gia tự trị Canada. Nhân dịp đăng quang của Vua George Đệ Ngũ tại Anh quốc, một phái đoàn Hướng Đạo Sinh Canada được trình diện Quốc Vương. Vào năm 1911, B P. mời được vị tân Tổng Toàn Quyền tại Canada nhận vai trò Thủ Lãnh Hướng Đạo Canada; nhờ vậy các vị kế nhiệm đều đảm nhận vai trò nầy cho đến ngày nay. Vào tháng 6 năm 1914, Hội Hướng Đạo Canada được thành lập do một đạo luật của Quốc Hội. Sự kiện nầy là một bước tiến vượt bực vì cho đến lúc đó Hướng Đạo Canada vẫn tuỳ thuộc vào Hội Hướng Đạo Anh quốc về đường hướng và yểm trợ. Từ khi bắt đầu cho đến năm 1914, Hướng Đạo tại Canada được điều hành bởi các tỉnh bang với một cơ quan điều hợp đặt trụ sở tại Ottawa.
    Vào năm 1968, chương trình sinh hoạt cho ngành Thiếu được sửa đổi và ngành Thanh được thành lập cho thiếu niên từ 14 đến 17 tuổi. Tiểu Ban về ngành Tráng được thành lập vào năm 1968 và vào năm 1969, ngành Tráng được loan báo là nhu cầu của giới trẻ từ 17 đến 23 tuổi. Sau đó Tiểu Ban ngành Tráng của Hội đề nghị thời gian ba năm thử nghiệm cho sự sinh hoạt hỗn hợp nam nữ trong ngành kể từ năm 1970. Kinh nghiệm về sự sinh hoạt nầy được bàn thảo trong Hội Nghị ngành Tráng năm 1971. Sự sinh hoạt hỗn hợp nam nữ trong ngành Tráng được chính thức công nhận vào tháng 11 năm 1973. Thủ bản ngành Tráng được ấn hành lần đầu vào năm 1975 và được tái bản có điều chỉnh vào năm 1986 và 1997. Sau cuộc thăm dò về ngành Tráng trong toàn quốc vào năm 1984, tuổi của Tráng Sinh nam lẫn nữ được ấn định từ 18 đến 26.
    Tráng Sinh tại Canada cũng sinh hoạt trong những Tráng Đoàn với Toán Lãnh Đạo và Cố Vấn Tráng Đoàn tương tự như tại Úc. Tuy nhiên, tại Canada, Cố Vấn Tráng Đoàn giữ vai trò quan trọng hơn tại Úc và Tráng Sinh đứng đầu Toán Lãnh Đạo được gọi là Chủ Tịch (President/Chair) chứ không phải là Đoàn Trưởng (Crew Leader) như tại Úc. Sinh hoạt Tráng tại Canada đề cao vai trò của Hội Nghị Bàn Tròn ngành Tráng (Rover Round Tables) ở cấp Đạo, Châu, hay Tỉnh Bang và trọng tâm của sinh hoạt Tráng Đoàn (hiệp sĩ, hải đoàn, không đoàn, âm nhạc, sân khấu, tin học…). Nghi thức Lễ Lên Tráng Đoàn dành cho Thanh Sinh, Tĩnh Thức hay Tự Kiểm và Lễ Tuyên Hứa Tráng Sinh cũng ghi nhận tiến trình nên áp dụng như đã được Hội Hướng Đạo Anh qui định từ khi B P. còn sống, tương tự như tại Úc; chỉ có điểm khác biệt là người điều hành Lễ Tuyên Hứa Tráng Sinh tại Canada là Cố vấn Tráng Đoàn chứ không phải là Đoàn Trưởng như tại Úc.
    Lễ-Rời-Đoàn (Leave-Taking Ceremony): Sau đây là các chi tiết được ấn định trong thủ bản của Hội ấn bản năm 1997: “Vào một lúc nào đó từ sau khi Tuyên Hứa Tráng Sinh và sinh nhật 27 tuổi, Tráng Sinh sẽ rời Đoàn. Dù vì bất cứ lý do gì, cũng cần có một buổi Lễ-Rời-Đoàn được tổ chức một cách nghiêm chỉnh cho Tráng Sinh.
    Cố Vấn Tráng Đoàn bắt đầu buổi lễ với vài lời thích hợp. Tráng Đoàn được nhắc lại về mục đích của ngành Tráng là góp phần giúp giới trẻ trở thành những công dân khoẻ mạnh, hạnh phúc và hữu dụng. Nay có một Tráng Sinh đã đạt được các mục tiêu trên và sẽ rời Đoàn để tự bước vào đời.
    Cố Vấn Tráng Đoàn: (mời Tráng Sinh sắp rời Đoàn) Em có biết rằng khi rời Đoàn, em có nghĩa vụ sống theo luật và lời hứa Hướng Đạo và quảng bá các nguyên tắc nầy với cộng đồng không?
    Tráng Sinh: Thưa Trưởng, em biết. Cố Vấn Tráng Đoàn: Đây là điều em mong muốn, mời em nhắc lại lời hứa Hướng Đạo.
    Tráng Sinh nhắc lại lời hứa. Sau đó, Cố Vấn Tráng Đoàn sẽ nói về một vài thử thách thường thấy và thay mặt Tráng Đoàn chúc Tráng Sinh rời Đoàn được mọi điều tốt đẹp.”

    Tại Pháp

    Các hội Hướng Đạo thuộc Liên Hội Hướng Đạo Pháp là thành viên của Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới (WOSM) qui định những lứa tuổi hơi khác nhau và sử dụng các danh xưng cũng khác nhau cho ngành Tráng. Danh từ “Routier” để chỉ Tráng Sinh được nêu ra trong bản dịch “Đường Thành Công” của Trưởng Nguyễn Tấn Đức và Trưởng Nguyễn Thúc Toản (nơi trang 253) không còn được các hội trên sử dụng nữa.
    Hội Nam Nữ Hướng Đạo Công Giáo tại Pháp (Scouts et Guides de France - SGdF) do hai hội Nam và Nữ Hướng Đạo Công Giáo tại Pháp kết hợp lại từ năm 2004. Hội hiện có khoảng 65 ngàn hội viên. Hội có hai đề nghị cho thanh niên nam nữ tuổi từ 17 đến 21 (ngành Tráng), đó là “compagnons” và “Jeunes en Marche” (JEM). Hội quan niệm tiến trình giáo dục cho lứa tuổi nầy qua các giai đoạn: thành lập toán để cùng sinh hoạt, lựa chọn dự án cho toán và hoàn tất dự án. Riêng đối với JEM, Hội đề nghị một dự án hai năm hành động và phát triển qua sự cùng làm việc với người khác. Phương pháp dự án được Hội đặc biệt chú trọng để giúp ngành Tráng đạt được các mục tiêu đã đề ra.
    Hội Hướng Đạo Tin Lành tại Pháp (Eclaireuses et Eclaireurs Unionistes de France – EEUdF) được thành lập từ năm 1911, hiện có khoảng 5 ngàn đoàn sinh. Ngành ‘anh /chị cả” (aînés) từ 16 đến 19 tuổi (được hiểu là ngành Tráng), sinh hoạt thành từng toán từ 6 đến 8 người.
    Hội Hướng Đạo Do Thái tại Pháp (Eclaireuses et Eclaireurs Israélistes de France - EEIF) thành lập năm 1923, cho biết Hội hiện có khoảng 4 ngàn hội viên, mới lập ngành ‘anh chị cả’ (aînés) từ 18 đến 35 tuổi (được hiểu là ngành Tráng) vào năm 2002. Phương châm của ngành là “Gặp gỡ để hành động” (Se retrouver pour agir).
    Hội Hướng Đạo Thế Tục tại Pháp (Eclaireuses et Eclaireurs de France - EEdF) được thành lập vào năm 1911. Năm 1926 Hội mở ngành Tráng và gọi Tráng Sinh là Routiers, nay gọi là các ‘anh chị cả’ (aînés ) từ 15 đến 19 tuổi họp thành đoàn (clan) gồm từ 10 đến 15 người. Năm 1948, Hội có khoảng 50 ngàn hội viên, hiện nay có khoảng 34,500 đoàn sinh và trưởng.
    Hội Hướng Đạo Hồi Giáo tại Pháp (Scouts Musulmans de France) có ngành Tráng gọi là compagnons từ 17 đến 21 tuổi. Không thấy Hội phổ biến thêm các chi tiết khác về ngành nầy.
    Các hội SGdF, EEIF, EEdF và EEUdF đều đặc biệt quan tâm đến sự thực hiện dự án chung của toàn nhóm (toán hay đoàn) trong sinh hoạt Tráng.

    Tại Một Số Quốc Gia Khác

    Tài liệu ghi nhận được từ một số Hội Hướng Đạo hiện có ngành Tráng và là thành viên của Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới (WOSM) cho biết tuổi Tráng sinh trong các Hội đó được qui định như sau, xin lưu ý là trong một quốc gia có thể có một hay nhiều hội Hướng Đạo và không nhất thiết là mỗi hội nầy đều có ngành Tráng:


    Tuổi Tráng sinh Quốc Gia Hội Hướng Đạo
    18 đến 25 Anh quốc The Scout Association
    16 đến 20 Áo quốc Pfadfinder und Pfadfinderinnen Osterreichs
    17 đến 25 Bangladesh Bangladesh Scouts
    18 đến 22 Bồ Đào Nha The Catholic Scout Association of Portugal (Corpo Nacional de Escutas)
    17 đến 21 Bồ Đào Nha The Scout Association of Portugal
    18 đến 26 Brunei Brunei Darussalam National Scout Association
    18 đến 26 Canada Scouts Canada
    16 đến 25 India The Bharat Scouts and Guides
    18 đến 21 Jamaica Scout Association of Jamaica
    15 đến 19 Ý Đại Lợi National Corps of Italian Boy Scouts and Girl Guides (Corpo Nazionale Giovani Esploratori ed Esploratrici Italiani)
    16 đến 22 Ý Đại Lợi Association of Guides and Scouts of Italy (Associazione Guide e Scouts Cattolici Italiani)
    18 đến 25 Hong Kong The Scout Association of Hong Kong
    18 đến 21 Hòa Lan Netherlands Scouting
    18 đến 26 Lục Xâm Bảo National Federation of Boy and Girl Scouts of Luxembourg
    17 đến 23 Lục Xâm Bảo Guides and Scouts of Luxembourg
    17.5 đến 40 Mã Lai The Scout Association of Malaysia
    17 đến 25 Mongolia The Scout Association of Mongolia
    16 đến 25 Nam Dương Boy Scouts and Girl Guides Movement
    18 đến 25 Nam Hàn Boy Scouts of Korea
    18 đến 30 Nam Phi South African Scout Association
    16 đến 25 Nepal Nepal Scouts
    18 đến 26 Đài Loan Scouts of China
    16 trở lên Na Uy Norwegian Guide and Scout Association (Norges Speiderforbund)
    18 đến 24 Nhật Scout Association of Japan
    16 đến 20 Đức quốc German Saint George Scout Association (Deutsche Pfadfindershaft Sankt Georg)
    16 đến 25 Đức quốc Guide and Scout Union (Bund der Pfadfinder und Pfadfinderinnen)
    17 đến 25 Pakistan Pakistan Boy Scouts Association
    17 đến 21 Pháp Scouts et Guides de France
    15 đến 19 Pháp Eclaireuses et Eclaireurs de France
    16 đến 19 Pháp Eclaireuses et Eclaireurs Unionistes de France
    18 đến 35 Pháp Eclaireuses et Eclaireurs Israélistes de France
    17 đến 21 Pháp Scouts Musulmans de France
    14 trở lên Phần Lan The Guides and Scouts of Finland
    17 đến 23 Phi Luật Tân Boy Scouts of The Philippines
    18 trở lên Senegal The Scouts of Senegal
    17 đến 21 Singapore The Singapore Scout Association
    18 đến 25 Thái Lan The National Scout Organization of Thailand
    18 đến 34 Tân Tây Lan Scouting New Zealand
    18 trở lên Thụy Điển The Swedish Guide and Scout Association
    18 đến 26 Thụy Sĩ Pfadibewegung Schweiz (The Swiss Guide and Scout Movement)
    18 đến 24 Tích Lan Sri Lanka Scout Association
    18 đến 26 Uganda The Uganda Scouts Association
    17 đến 20 Uruguay Scout Association of Uruguay
    17 đến 26 Úc Đại Lợi Scouts Australia

    Nhìn chung, tuổi Tráng sinh tại những quốc gia nầy thường bắt đầu khoảng 17 và thường chấm dứt khi được 25 hay 26 tuổi, tuy vậy cũng có rất nhiều Hội qui định khác:
    •tại Senegal ghi là từ 18 trở lên
    •tại Phần Lan ghi là từ 14 trở lên
    •tại Thụy Sĩ, tuổi căn bản của Tráng Sinh được ghi là từ 18 đến 26, nhưng có vượt quá 26 cũng được chấp nhận
    •tại Tân Tây Lan, tuổi căn bản của Tráng Sinh được ghi là từ 18 đến 26. Tráng sinh từ 27 đến 34 chỉ còn được tư cách “Tráng Sinh Liên Kết” (Associate Rover), phải dành sự chủ động trong Tráng Đoàn cho các tráng sinh dưới 26 tuổi
    •Hội Hướng Đạo Do Thái tại Pháp qui định tuổi Tráng từ 18 đến 35
    Tất cả Tráng Đoàn tại các nước đều có Tráng Sinh đứng đầu gọi là Đoàn Trưởng hay Chủ Tịch hay Điều Hợp Viên, do Tráng Đoàn bầu cử theo nhiệm kỳ. Hầu hết Tráng Đoàn tại các nước hoặc có Tráng Trưởng (Rover Leader) hoặc Cố Vấn Tráng Đoàn (Rover Advisor). Đoàn Trưởng (hay Chủ Tịch / Điều Hợp Viên) khác với Tráng Trưởng hay Cố Vấn Tráng Đoàn vì Đoàn Trưởng là một Tráng Sinh được Tráng Đoàn bầu lên theo nhiệm kỳ, trong khi Tráng Trưởng là một Trưởng được Hội bổ nhiệm sau khi đã qua các khóa huấn luyện cần thiết và hội đủ điều kiện tuổi qui định, luôn luôn là lớn hơn tuổi dành cho Tráng Sinh.
    Đa số ngành Tráng tại các quốc gia đều có châm ngôn “Giúp Ích” (Service), tuy vậy, có một số hội không đặt nặng đến châm ngôn hoặc sử dụng những châm ngôn khác như “Hành xử một cách ý thức” (Bewusst Handeln) tại Thụy sĩ, “Gặp gỡ để hành động” (Se retrouver pour agir) của Hội Hướng Đạo Do Thái tại Pháp.

    ( còn tiếp)

    Nguyễn Văn Thuất
     
  10. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    Nghi thức

    Là nơi phát sinh của Phong Trào Hướng Đạo và của ngành Tráng nên những qui định của Hội Hướng Đạo Anh quốc đã là khuôn mẫu cho sinh hoạt Tráng tại tất cả các quốc gia khác trong một thời gian khá dài, ngay cả sau khi ngành Tráng không còn chánh thức tồn tại trong Hội Hướng Đạo Anh quốc kể từ sau năm 1967, những qui định nầy vẫn còn là nền tảng cho hoạt động Tráng tại rất nhiều quốc gia.
    Dựa vào sự tích Thánh St. George (thế kỷ thứ 4) và câu chuyện Các Hiệp Sĩ Quanh Bàn Tròn (vào thời Trung Cổ) tại Âu châu, B P. đã đưa ra hình ảnh người hiệp sĩ của thế kỷ 20 làm con người lý tưởng cho các Tráng Sinh. Nghi thức ngành Tráng được B P. phác họa như sau trong quyển “Rovering to Success” nơi trang 218 và 219:

    “Nhận Tráng Sinh vào Đoàn

    Các Tráng Sinh được tổ chức thành Tráng Đoàn do Tráng Trưởng điều khiển. Để có thể được thu nhận vào Tráng Đoàn, bạn phải đã được 17 tuổi, nhưng 18 tuổi thì tốt hơn. Nếu chưa từng sinh hoạt Hướng Đạo, bạn phải thích cuộc sống ngoài trời của cắm trại hay thám du và tuân theo Luật Hướng Đạo.
    Bạn tham dự thử để xem sinh hoạt ngành Tráng có thích hợp với bạn không và ngược lại bạn có thích hợp với sinh hoạt Tráng không. Bạn cần học Lời Hứa và Luật, và Hướng Đạo như đã được trình bày trong sách Scouting for Boys và trong tập Rovering to Success nầy.
    Sau khi xong như thế rồi, nếu được Tráng Trưởng và Tráng Đoàn đồng ý, bạn sẽ được tuyên hứa để trở thành Tráng Sinh.
    Lễ tuyên hứa là lễ chấp nhận, được thực hiện tùy theo tập tục của Tráng Đoàn và ước muốn của người sắp tuyên hứa. Điều nầy thể hiện rằng bạn muốn sinh hoạt Tráng một cách nghiêm chỉnh, và cố gắng hết sức để hiểu mục đích và phương pháp của ngành mà tuân theo. Vì vậy, trước hết bạn cần suy nghĩ cặn kẽ.
    Ý tưởng tổng quát về nghi thức được trình bày trong tập tài liệu “Rover Scouts – What They Are”, có sẵn tại các trụ sở của Hội Hướng Đạo Anh quốc…”


    Các nghi thức nầy được chi tiết hóa trong tập tài liệu căn bản về ngành Tráng vào thời đó và được Hội Hướng Đạo Anh quốc tái bản nhiều lần. Ấn bản 1965 có tên là “Rover Scouts - What They Are and What They Do” xác định tuổi Tráng từ 17 đến 24 và nghi thức theo từng giai đoạn như sau:
    • Tiếp nhận Tân Tráng (The reception of a Rover Squire)
    • Tĩnh Thức hay Tự Kiểm (The Vigil or Self-Examination)
    • Tuyên Hứa Tráng Sinh (Rover Investiture)
    Chi tiết của mỗi nghi thức được ghi lại trong Thủ Bản Ngành Tráng của nhiều quốc gia và vẫn còn được nhiều Hội Hướng Đạo áp dụng, tuy là có thể linh động. Sau khi tuyên hứa, Tráng Sinh được mang một số huy hiệu trong đó có huy hiệu “Rover Scout”, tua vai ba màu (vàng, lục, đỏ) và huy hiệu kim khí “RS” (chữ tắt của Rover Scout) trên nón hiện vẫn được nhiều quốc gia sử dụng.
    Cuộc nghiên cứu khái quát về các hội Hướng Đạo có ngành Tráng (danh sách theo bảng ghi trên) cho thấy hiện nay, đại đa số đều duy trì nghi thức Tĩnh Thức (Vigil) hay Tự Kiểm (Self-Examination) và Tuyên Hứa hay Tấn Phong Tráng Sinh (Rover Investiture/Presentation) vốn được B P. ấn định, tuy có phần đơn giản và linh động hơn, tùy qui định của Hội sở tại và tập tục của Tráng Đoàn. Một chi tiết đáng ghi nhận là hội Hướng Đạo Công Giáo Bồ Đào Nha (Corpo Nacional de Escutas) còn tổ chức Lễ Lên Đường. Ngoài ra, tổ chức Riaumont tại Pháp vốn có một số đơn vị Hướng Đạo (nhưng không có liên hệ gì với Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới - WOSM) cũng cử hành Lễ Lên Đường cho ngành Tráng. Lễ Lên Đường của hai hội nầy có nhiều điểm tương đồng với Lễ Lên Đường được thực hiện tại Việt Nam trước tháng 5.1975 về quan niệm và diễn tiến, tuy rằng không phải giống hệt nhau hoàn toàn.
    Lễ Lên Đường cho Tráng Sinh của Tổ Chức Riaumont tại Pháp thường được tổ chức trong khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt, với sự hiện diện của toàn Tráng Đoàn, kể cả bảo huynh hay bảo tỷ và Linh Mục Tuyên Úy. Trưởng chủ lễ, sau khi đặt một số câu hỏi cần thiết theo qui định và được Tráng Sinh sắp lên đường trả lời thỏa đáng, sẽ trao cho Tráng Sinh bánh mì, lều, một cái rìu, tua vai ba màu (vàng, lục, đỏ tượng trưng cho ba ngành Ấu, Thiếu và Tráng), huy hiệu Rover Scout và gậy nạng. Sau đó, Linh Mục Tuyên Úy sẽ trao Thánh Kinh, cùng cầu nguyện và ban phước lành trước khi Tráng Đoàn mở đường cho Tráng Sinh lên đường cắm trại một mình trong ít nhất là một đêm.
    (Tổ chức Riaumont cho biết là Lễ Lên Đường của Tráng Sinh Riaumont giống như lễ nầy trong Scout de France, nhưng từ sau Thế Chiến thứ II, không rõ vì sao Scout de France không đề cập gì đến lễ nầy nữa).
    Lễ Lên Đường cho Tráng Sinh của Hội Hướng Đạo Công Giáo Bồ Đào Nha (Corpo Nacional de Escutas) được tổ chức trang trọng tại nhà thờ với sự tham dự của toàn Tráng Đoàn, các Trưởng trong Liên Đoàn, Bảo huynh hay Bảo tỷ và Linh Mục Tuyên Úy. Sau khi đặt một số câu hỏi và được Tráng Sinh sắp lên đường trả lời thỏa đáng, Tráng Trưởng sẽ trao lều, bánh mì, đèn và gậy nạng cùng những lời dặn dò. Tráng Sinh sắp lên đường cũng được Linh Mục Tuyên Úy cầu nguyện và ban phép lành.
    Như vậy thì Lễ Lên Đường vốn là một nét đặc biệt trong sinh hoạt ngành Tráng của Hội Hướng Đạo Việt Nam, được áp dụng tại Việt Nam trước tháng 5.1975 và được hiểu là phát xuất từ các hội Hướng Đạo Pháp từ cuối thời kỳ 1930, nay lại không thấy được đề cập đến trong các tài liệu hiện hành của các hội tại Pháp là thành viên của Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới. (Nội Lệ Ngành Tráng ấn hành năm 1967 của Hội Nữ Hướng Đạo Việt Nam qui định “Lễ Nhập Thế” và “Lễ Thành Niên” cho Nữ Tráng).

    Phương Pháp Ngành Tráng

    Trong Rovering to Success (trang 208 và kế tiếp) B P. đã đề cập đến phương pháp của ngành, theo đó sự rèn luyện bản thân hầu phát triển những kỹ năng để thích ứng với thiên nhiên và giúp ích là những phương cách giúp thanh niên thành công trong cuộc sống. Trong các trang sau đó, B P. tiếp tục trình bày về sự thiết yếu của Lời Hứa và Luật Hướng Đạo để giúp Tráng Sinh sống có ý thức và xứng đáng. Các tài liệu căn bản về ngành Tráng của Hội Hướng Đạo Anh quốc như “Rover Scouts” của Gilcraft được trại trường Gilwell ấn hành lần đầu vào năm 1933 (tái bản năm 1938) và “Rovers Scouts - What They Are and What They Do” của Hội Hướng Đạo Anh quốc (ấn bản 1965) đã khai triển các phương pháp nầy và luôn chú trọng đến kỹ năng tháo vát để thích ứng với thiên nhiên cũng như phát triển trí tuệ và huấn luyện tinh thần. Gilcraft đề cập thêm đến những kỹ thuật như hội luận, diễn thuyết, ngoài cắm trại, thám du, thể dục, sinh hoạt trong phòng. Đặc biệt, thủ bản “Rovers Scouts - What They Are and What They Do” dẫn trên (nơi trang 14-16 và 41) đã đề cập đến “dự án” và “làm việc đồng đội” như là phương pháp của ngành được khai triển thêm, có lẽ là để đáp ứng với tình hình xã hội của thời kỳ 1960 đã có phần khác biệt so với thời kỳ 1930.
    Tài liệu căn bản về ngành Tráng hiện tại của một số Hội Hướng Đạo trình bày thêm những phương pháp mới mà họ quan niệm là thiết yếu để đạt được những mục tiêu của ngành trong quốc gia của họ. Thí dụ như Hội Hướng Đạo Thụy Sĩ (Pfadibewegung Schweiz) trong Stufenprofile (Yếu lược về các ngành) ấn bản tháng 2 năm 2000, trang 26 và 27 giới thiệu các phương pháp sau của ngành Tráng: sự tiến bộ của bản thân, lời hứa và luật Hướng Đạo, sinh hoạt nhóm (xưởng), truyền thống và tập tục, cùng quyết định và trách nhiệm dự án, sống gần thiên nhiên và cùng chơi. Hội Hướng Đạo Công Giáo Đức (Deutsche Pfadfindershaft Sankt Georg) nhận định về tầm quan trọng của lời hứa và luật Hướng Đạo cùng tính cách đang trên đường (Unterwegssein) trưởng thành của Tráng Sinh, bởi vậy sự dấn thân vào các dự án xã hội, gặp gỡ các bạn trẻ khác trên bình diện thế giới, suy nghĩ về tương lai của chính mình và sống theo tinh thần luật Hướng Đạo giữ vai trò tối yếu trong sinh hoạt Tráng. Hội Hướng Đạo Áo quốc (Pfadfinder und Pfadfinderinnen Osterreichs) chú trọng đến sự áp dụng Phương Pháp Dự Án, như được trình bày nơi trang 7 và 8 của Nội Lệ (Verbandsordung) ấn bản 16.10.2005. Hội Hướng Đạo Công Giáo Bồ Đào Nha và các hội SGdF, EEdF, EEUdF, EEIF tại Pháp đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự sử dụng dự án đối với Tráng Sinh. Riêng Hội Hướng Đạo Công Giáo Bồ Đào Nha còn đặc biệt quan tâm đến sự thực hiện “Kế Hoạch Tự Phát Triển” (Self Development Plan) trong tiến trình giáo dục của Tráng Sinh, tương tự như “Qui Ước Tu Thân” của ngành Tráng HĐVN trước 1975. Hai hội Hướng Đạo Úc và Tân Tây Lan không minh thị dùng từ “phương pháp ngành Tráng” trong các thủ bản ngành Tráng hiện hành, nhưng trình bày rằng những nguyên tắc cơ bản của Phong Trào Hướng Đạo cũng áp dụng cho ngành Tráng.

    ( còn tiếp)

    Nguyễn Văn Thuất
     
  11. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    Sinh hoạt ngành Tráng

    Hầu hết Tráng Sinh của các Hội Hướng Đạo quốc gia đều ở vào tuổi trưởng thành, ngoại trừ một số ít thu nhận Tráng Sinh vào khoảng 14 hay 15 tuổi; bởi vậy, sinh hoạt của ngành Tráng nhìn chung rất đa diện và phóng khoáng. Tất cả những vấn đề đặt ra cho người trưởng thành (hoặc sắp trưởng thành) đều có thể là mối quan tâm của ngành Tráng, tùy sự lựa chọn của Tráng Sinh và của Tráng Đoàn. Có thể nói hoạt động của ngành Tráng chỉ có giới hạn duy nhất là những hoạt động đó phải trong vòng phạm vi tôn chỉ và mục đích của Phong trào Hướng Đạo. Hội Hướng Đạo Tân Tây Lan đã tóm tắt các lãnh vực đó như sau: phát triển bản thân, tham dự các sinh hoạt xã hội và giúp ích.
    Nhìn chung, ngành Tráng đã sinh hoạt được ngót 90 năm từ khi bắt đầu vào năm 1918, dù rằng tại Anh quốc và Hoa Kỳ ngành Tráng đã bị các Hội Hướng Đạo sở tại chấm dứt hoạt động từ hơn 40 năm trước. Trong số hơn 30 Hội Hướng Đạo quốc gia thành viên của Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới (WOSM) hiện có ngành Tráng, nhiều hội có ngành Tráng sinh hoạt rất vững mạnh, tài liệu căn bản rất dồi dào và nhân số khá đông; tuy nhiên cũng có những hội khác đang gặp nhiều khó khăn vì nhiều lý do khác nhau (thiếu nhân sự lãnh đạo giỏi, không thu hút được giới trẻ, thiếu phương tiện…), nhưng điều chắc chắn là Tráng Đoàn là một nhu cầu thiết yếu cho tuổi trẻ đang trưởng thành và sinh hoạt Tráng luôn được cải tiến nhằm đáp ứng với những mong đợi của Tráng Sinh. Mỗi Hội Hướng Đạo có ngành Tráng đều nỗ lực thu lượm những khám phá mới về ngành Tráng từ khắp nơi để ứng dụng vào hoàn cảnh riêng của quốc gia họ, nhờ vào những tiến bộ vượt bực của kỹ thuật truyền thông hiện đại, hoặc qua những sinh hoạt chung liên quốc gia và các diễn đàn tuổi trẻ do Tổ Chức Hướng Đạo Thế Giới chủ xướng, đồng thời vẫn quan tâm giữ gìn một số truyền thống của ngành Tráng cùng nguyên lý của Phong Trào Hướng Đạo.


    9. Tráng Sinh và Vai Trò Trưởng

    Một nỗi băn khoăn

    Nếu Bạn vào Tráng Đoàn với dự tính học hỏi thêm về nghề Trưởng trước khi góp phần hướng dẫn một đoàn thuộc lứa tuổi nhỏ hơn thì Bạn hãy an tâm là Bạn đã chọn đúng con đường cần phải đi tới; còn giả như Bạn chưa có dự tính gì rõ rệt thì một lúc nào đó, đừng quá trễ, Bạn cũng nên tham gia vào thành phần Trưởng của một đoàn.
    Có thể Bạn ngần ngại vì nghĩ rằng mình không có tài nói năng hoặc chẳng biết làm thế nào "bắt" một bài hát, điều khiển một trò chơi, lại còn những món lạ lùng như nút dây, phương hướng, dấu đường… nữa! Thực sự thì mọi người có thể làm nhiều việc rất hay mà lắm lúc người ấy cũng không ngờ đến, không biết rằng mình có sẵn khả năng ấy tiềm ẩn trong người. Ngay cả việc góp phần duy trì nòi giống là một công việc vô cùng hệ trọng mà hầu hết đều thực hiện một cách tuyệt diệu, người ta cũng không ngờ được nữa! Hướng dẫn một đoàn Hướng Đạo không phải là một việc khó khăn như cái nghề chuyên môn của Bạn đang làm, thế mà Bạn vẫn làm được nghề đó từ năm nầy qua năm khác, có khi suốt đời cũng chỉ có một nghề ấy, thì có ngại gì cái việc chơi với đám trẻ, vì Hướng Đạo vốn vẫn được ví như là một cuộc chơi.

    Phần thưởng của trách vụ

    Từ gần một trăm năm nay, đã có ít ra là vài mươi triệu người trong Phong Trào Hướng Đạo đã đảm đương cái trách vụ cao quý đó, có người làm trong một thời gian ngắn, có người làm thật lâu dài. Tôi đã gặp nhiều người từng trông nom Thiếu đoàn hằng mười năm, rồi lại hướng dẫn Tráng đoàn cũng trong thời gian không kém. Chính nhờ vào các thế hệ Trưởng hăng hái kế tục nhau mà Phong Trào Hướng Đạo vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển từ khi thành lập cho đến nay. Chắn hẳn các Trưởng ấy đã tìm thấy điều gì thú vị trong trách vụ Trưởng nên chi họ mới có thể hoạt động bền bỉ như vậy?
    Nếu Bạn nói chuyện với các Trưởng nầy, Bạn sẽ nhận thấy là họ thích thú với công việc và chính qua trách vụ hướng dẫn đoàn, họ đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu, họ đã có được những cơ hội để phát triển thuật lãnh đạo, khả năng quản trị, lòng tự tin, óc sáng kiến… Nhưng điều quan trọng khiến họ cảm thấy hài lòng hơn cả là nhìn thấy kết quả của những nỗ lực của mình góp phần vào công cuộc giáo dục các thế hệ trẻ hơn và cảm thấy mình làm một việc nghĩa, một việc vị tha và hữu ích cho nhân quần xã hội. Thêm vào đó, tình bạn chân thành giữa những người làm việc cùng lý tưởng, vì đâu phải họ làm việc đơn độc mà là làm chung với nhiều người khác, những người cũng cùng chung hoài bảo, chí hướng. Họ có thêm được nhiều bạn tốt, những người bạn có thể chung vui, sẻ buồn, tương trợ lẫn nhau. Nếu một người bạn tốt được xem như một vốn liếng quý báu thì các Trưởng Hướng Đạo là những người có nguồn tài sản khá lớn.
    Hướng Đạo là một phong trào có tổ chức, có trật tự, có nề nếp nhưng không cứng nhắc, không bảo thủ mà cởi mở, phóng khoáng, trong đó mọi người xem nhau như anh chị em trong một đại gia đình. Chính những đặc điểm nầy đã giúp cho người Hướng Đạo có được một môi trường phục vụ dễ đạt được hiệu năng cao mà vẫn thoải mái, điều khó có được trong những tổ chức quá cứng rắn hoặc quá lỏng lẻo.
    Vậy thì xem ra chẳng có gì đáng phải lo ngại vì phải gánh vác một mình những công việc mà mình không mấy am tường. Bạn hãy an tâm là đã có những Trưởng khác cùng chia sẻ công việc với Bạn. Những điều Bạn chưa từng làm hoặc nghĩ là mình chưa thạo thì rồi sẽ vượt qua được dễ dàng, vì thực sự thì những điều đó chẳng có gì khó khăn lắm, chỉ cần một chút cố gắng. Lại nữa, đã có các khoá huấn luyện, nơi đó Bạn sẽ được các Trưởng nhiều kinh nghiệm chỉ dẫn mọi cách thức. Ngoài ra, còn có biết bao là tài liệu, sách vở.
    Tôi được biết nhiều người có con em sinh hoạt Hướng Đạo, vì thấy đơn vị cần thêm Trưởng, đã tự nguyện tham gia để giúp một tay. Sau thời gian vừa học hỏi thêm, qua các khóa huấn luyện cũng như sự tự tìm hiểu, vừa góp phần hướng dẫn đoàn, các anh chị em khám phá ra là sinh hoạt Hướng Đạo đã mang đến cho cuộc sống của họ nhiều niềm vui, nhiều bạn tốt và vì vậy, họ tiếp tục ở lại trong Phong Trào và trở nên những Trưởng nòng cốt. Nếu Bạn nói chuyện với một số anh chị em khác trong Đoàn, Bạn cũng sẽ có thể gặp nhiều người như vậy.

    Mạnh dạn bước tới

    Vấn đề căn bản là Bạn có lòng yêu mến các thế hệ trẻ hơn và sẵn sàng dành chút thì giờ để cùng các anh chị em khác tạo nên những sinh hoạt vui tươi và bổ ích cho tất cả, trong đó có Bạn, và góp phần làm cho cuộc sống nầy ngày càng tươi đẹp hơn.
    Nói như thế không có nghĩa là vai trò Trưởng là một con đường đầy hoa thơm cỏ lạ và không hề có bất cứ khó khăn hay thử thách nào. Nhưng như Bạn đã rõ là trong cuộc sống của mỗi người, chúng ta luôn phải đối diện với nhiều thử thách, và chúng ta phải nỗ lực vượt qua để đạt được cùng đích của cuộc đời. Tất cả những thử thách của một Trưởng Hướng Đạo thì cho đến nay ít ra là vài mươi triệu người đã khắc phục. Như Nguyễn Bá Học đã viết: "… Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông…". Vấn đề là Bạn tự nguyện bước tới.
    Thân mến chúc Bạn được nhiều niềm vui và thành công trên đường đang đi tới.

    Nguyễn Văn Thuất
     
  12. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    Phụ Lục

    Lời Hứa của Hướng Đạo Việt Nam

    Tôi xin lấy danh dự hứa cố gắng hết sức:
    1. Làm bổn phận đối với tín ngưỡng tâm linh,
    với tổ quốc và quốc gia tôi.
    2. Giúp ích mọi người bất cứ lúc nào.
    3. Tuân theo Luật Hướng Đạo.


    Mười Điều Luật của Hướng Đạo Việt Nam

    1. HĐS trọng danh dự.
    2. HĐS trung tín.
    3. HĐS giúp ích.
    4. HĐS là bạn của mọi người.
    5. HĐS lễ độ và hào hiệp.
    6. HĐS tôn trọng thiên nhiên.
    7. HĐS trọng kỷ luật.
    8. HĐS luôn vui tươi.
    9. HĐS cần kiệm và liêm khiết
    10. HĐS trong sạch từ tư tưởng, lời nói
    đến việc làm.


    Hiến Chương Hướng Ðạo Việt Nam


    Nhận định

    Từ ngày bắt buộc phải ly hương, các Trưởng và đoàn sinh thuộc hai hội Nam và Nữ Hướng Ðạo Việt Nam đã tự động kết hợp tại các xứ định cư để tiếp tục hoạt động.
    Nguyện vọng và nhu cầu chung là Hướng Ðạo Việt Nam được đại diện và kế tục bởi một hệ thống liên lạc và phối hợp, thích ứng với qui lệ Hướng Ðạo Thế Giới cùng những điều kiện sinh hoạt ở mỗi nước.
    Những thỏa hiệp và cam kết giữa các đơn vị hiện hữu được ghi trong bản Hiến Chương này, cũng sẽ là căn bản để tổ chức và hợp thức hóa những đơn vị hoạt động dưới danh hiệu Hướng Ðạo Việt Nam trong tương lai.

    Ðường hướng chung

    Hướng Ðạo Việt Nam là một đại gia đình hợp nhất cả hai phái nam và nữ, liên tục noi theo tôn chỉ Hướng Ðạo do Baden-Powell khởi xướng và đứng trong Phong trào Hướng Ðạo Thế Giới.
    Hướng Ðạo Việt Nam mang bản sắc dân tộc, đáp ứng với nhu cầu hiện tại là duy trì truyền thống tinh thần và văn hóa dân tộc. Trong lãnh vực này, Hướng Ðạo Việt Nam sẵn sàng hợp tác với những tổ chức người Việt hải ngoại có những hoạt động cùng chung mục đích.
    Hướng Ðạo Việt Nam hướng dẫn các sinh hoạt trong sự tôn trọng qui lệ của hai tổ chức Nam và Nữ Hướng Ðạo Thế Giới, cùng chủ quyền của Hội Ðồng Hướng Ðạo từng quốc gia.

    Hệ thống Hướng Ðạo Việt Nam

    Ở mỗi nước, đơn vị hoặc hệ thống đơn vị Hướng Ðạo Việt Nam thành lập và hoạt động trong khuôn khổ thỏa hiệp với tổ chức Hướng Ðạo quốc gia sở tại. Trên bình diện chung, Hội Ðồng Trung Ương Hướng Ðạo Việt Nam phụ trách liên lạc, phối hợp và hướng dẫn.
    Hướng Ðạo Việt Nam coi sự hình thành hệ thống trên căn bản Hiến Chương này như sự góp phần vào các nỗ lực của cộng đồng Việt Nam hải ngoại hướng về quê hương và dân tộc.

    Costa Mesa, California ngày 3 tháng 7 năm 1983
     
  13. cao nguyên

    cao nguyên Công Dân

    PHỤ LỤC

    Phương Pháp Dự Án

    Khi theo dõi chương trình truyền hình một buổi lễ huy hoàng, tỉ như lễ khai mạc Thế Vận Hội chẳng hạn, hoặc khi nghĩ đến sự vĩ đại và chính xác của chương trình phóng và ráp nối phi thuyền trong không gian, chúng ta cảm thấy thích thú và thầm thán phục khả năng tính toán và sắp xếp, hay nói khác đi là khả năng quản trị của người tổ chức.
    Muốn thực hiện một chương trình như vậy, dĩ nhiên người tổ chức phải vận dụng nhiều yếu tố khác nhau. Một trong những yếu tố then chốt giúp đạt được thành quả mong muốn với năng suất cao là phương pháp làm việc khoa học đã được rất nhiều quản trị gia khai triển trong các thập niên qua gọi là “Phương Pháp Dự Án”.
    Trong sinh hoạt Hướng Đạo, để thể hiện phương châm “Sắp Sẵn” và “Giúp Ích”, các Trưởng và Tráng Sinh thường đảm trách nhiều công tác khác nhau (tổ chức trại, lớp Việt ngữ, đêm văn nghệ…). Bởi vậy, sự áp dụng “Phương Pháp Dự Án” được trình bày sơ lược sau đây chắc chắn sẽ rất hữu ích vì có thể giúp chúng ta hoàn tất một cách tốt đẹp nhất các công tác cần thực hiện.

    1.0 Định nghĩa

    Từ trước Tây lịch, các triết gia Tây phương đã định nghĩa phương pháp là con đường ngắn nhất đưa đến thành công. Danh từ “dự án” được các nhà quản trị cho những định nghĩa hơi khác nhau chút ít, nhưng trong phạm vi bài nầy, có thể dùng định nghĩa của Dictionary of Business and Management (Bloomsbury Publishing Plc, London 2004) và Oxford Dictionary of Business (3rd edition, Oxford University Press 2002) theo đó “Dự án là một tập hợp các các hoạt động nhằm đạt được kết quả định sẵn trong một khoảng thời gian nào đó”. Vậy “Phương Pháp Dự Án” trong phạm vi bài nầy được hiểu là cách thức hoặc con đường hoàn hảo nhất để thực hiện một số công việc nhằm đạt được mục tiêu mong muốn trong một khoảng thời gian định sẵn.
    Khác với Toán là đơn vị hành chánh căn bản và thường xuyên, cũng như Xưởng là là đơn vị hoạt động trong một lãnh vực nhất định và dài hạn, Dự án thường được hạn chế trong một khoảng thời gian rõ rệt, nhằm đạt được những kết quả định trước. Thí dụ: dự án thực hiện lớp Việt ngữ sơ cấp trong ba tháng kể từ ngày … tháng … năm … tại thành phố XYZ. Dự án nầy sẽ do Toán ABC hoặc một nhóm anh chị em hợp tác thực hiện. Trong khi đó, Xưởng Việt ngữ do Tráng Đoàn (một cơ cấu thường xuyên trách nhiệm về vấn đề dạy Việt ngữ) sẽ hỗ trợ về kỹ thuật, nếu Toán ABC hoặc nhóm thực hiện dự án cần đến.
    Tiến trình của Phương Pháp Dự án bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Tựu trung, có thể chia làm bốn giai đoạn chính:
    • Giai đoạn nghiên cứu sơ khởi và quyết định dự án
    • Giai đoạn chuẩn bị
    • Giai đoạn thực hiện
    • Giai đoạn kết thúc

    2.0 Tiến trình

    2.1 Giai đoạn nghiên cứu sơ khởi và quyết định

    2.1.1 Lựa chọn lãnh vực và mục tiêu
    Dự án nào cũng nhằm đạt được một (hoặc nhiều) mục tiêu định sẵn trong một lãnh vực rõ rệt. Việc lựa chọn lãnh vực và mục tiêu cho dự án thường được căn cứ trên các tiêu chuẩn kể sau:
    • Nhu cầu của toàn thể, của một số đông hay của một thành phần khiến vấn đề trở nên cần thiết và dự án được nêu lên.
    • Sự quan tâm và sở thích của nhóm thực hiện dự án cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc lựa chọn dự án nầy hay dự án khác.
    • Khả năng hiện tại và khả năng có thể vận dụng để thực hiện dự án là một trong những yếu tố căn bản. Có những dự án đòi hỏi nhiều điều kiện vượt hẳn khả năng có thể đáp ứng thì chúng ta không thể nào lựa chọn được.
    • Những yếu tố khách quan khác (thời tiết, thời gian, không gian, điều kiện vận chuyển…)
    2.1.2 Thu thập dữ kiện
    Việc thu thập các dữ kiện cần thiết sẽ giúp chúng ta thấy rõ vấn đề từ mọi góc cạnh, ở mọi tầm mức để tránh những thành kiến, ngộ nhận và ảo tưởng. Có rất nhiều cách thức để thu thập dữ kiện. Sau đây là một số kỹ thuật thông thường:
    • Phỏng vấn: Nói chuyện trực tiếp hoặc bằng điện thoại với người có thể cung cấp dữ kiện và đặt ra những câu hỏi liên quan đến vấn đề, rồi từ đó ghi nhận những điều cần biết từ những câu trả lời của người được phỏng vấn.
    • Bảng câu hỏi: Nếu vì lý do gì không thể trực tiếp thu thập dữ kiện từ người cung cấp, có thể gửi bảng câu hỏi để người ấy trả lời. Dĩ nhiên các câu hỏi cần phải dễ hiểu và rõ ràng, hầu người trả lời có thể đáp ứng được điều chúng ta muốn tìm biết.
    • Quan sát: Người thu thập dữ kiện tự mình theo dõi đối tượng cần tìm hiểu bằng giác quan và ghi nhận các dữ kiện tìm thấy.
    • Tham khảo: Liên lạc với các chuyên gia hoặc những người am hiểu vấn đề sẽ giúp chúng ta có thêm ý kiến, biết rõ thêm nhiều khía cạnh của vấn đề.
    • Sưu tầm dữ kiện qua báo chí, sách vở, trang mạng, tài liệu…: Một số dữ kiện có thể thu thập được qua báo chí, sách vở, internet… Để giảm thiểu sự tốn công tìm kiếm dữ kiện mỗi khi cần đến, chúng ta có thể ghi chép, chụp phóng ảnh rồi sắp xếp việc lưu trữ dữ kiện theo từng lãnh vực, thứ tự thời gian, tính cách quan trọng… Với sự tiến bộ của kỹ thuật vi tính hiện nay, việc sưu tầm và lưu trữ đã có thêm được rất nhiều thuận lợi.
    2.1.3 Xác Định Mục Tiêu
    Các dữ kiện thu thập cần được thẩm định để có thể phân biệt các dữ kiện còn sử dụng được với các dữ kiện không còn giá trị vì mất thời gian tính, không gian tính, hoặc có tính chất phiến diện… Sau khi có được cái nhìn tổng quát về vấn đề, hoặc công tác đã được đề ra, cần phải xác định rõ ràng mục tiêu của dự án. Phải phân biệt các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, hoặc các mục tiêu cần đạt được trong những lãnh vực khác nhau. Cần tránh đề ra những mục tiêu quá xa vời, quá trừu trượng không thể nào đạt được.
    2.1.4 Xác định thời gian
    Dự án nào cũng được giới hạn trong một khoảng thời gian, theo đó lúc nào dự án bắt đầu và khi nào kết thúc. Tùy theo nhu cầu, tính chất và mức độ quan trọng mà thời gian của một dự án được ấn định một cách vừa phải, không nên quá vội vàng khiến không đủ thời gian để thực hiện, mà cũng không nên quá kéo dài khiến thời gian bị lãng phí.
    2.1.5 Dự trù nhu cầu và phí tổn
    Muốn đạt được kết quả mong muốn, dự án cần có chi phí và những nhu cầu cần thiết khác để dự án có thể thực hiện được. Có thể phân loại các nhu cầu như sau:
    • Tiền bạc: Cần để mua vật dụng hoặc có được những dịch vụ cần thiết. Thí dụ: tổ chức trại cần dự trù tiền thuê đất trại, mua thực phẩm, tiền di chuyển…; tổ chức một đêm trình diễn văn nghệ phải tính đến tiền thuê và dọn dẹp hội trường, quảng cáo, trang trí, hệ thống âm thanh, bảo hiểm, an ninh…
    • Vật dụng: Có một số dự án cần đến vật dụng. Những vật dụng nầy thường thì phải mua, đôi khi có thể có được mà không tốn kém, nhưng phải dự trù trước để xin, mượn, hoặc mang theo. Thí dụ: tổ chức trại cần có dây, cưa, búa, cây tròn… để làm cổng trại hoặc nồi chảo… để nấu ăn. Tất cả các vật dụng cần thiết phải được liệt kê ra và sau đó được dự trù cách đáp ứng.
    • Nhân sự: Dự án nào cũng cần đến người thực hiện và thường thì có những nhân sự thụ hưởng. Do đó phải dự trù trước những ai sẽ tham gia vào dự án. Cần xác định số lượng người cần thiết, thời giờ và khả năng của mỗi thành phần trách nhiệm. Thí dụ: tổ chức lớp Việt ngữ cần dự trù các giáo viên, các anh chị nầy phải có chút ít khả năng sư phạm, ngoài thời giờ và thiện chí. Nhân sự thụ hưởng trong trường hợp nầy là các em học sinh.
    • Các dịch vụ khác: Có những dự án mà một phần nhu cầu có thể là một vài dịch vụ không tốn kém, nhưng phải biết trước để sắp xếp hay xin yểm trợ. Thí dụ có thể nhờ xe của một cơ quan xã hội hay thanh niên để chuyên chở trại sinh, hoặc nhờ nhân viên y tế đến trực tại địa điểm khi có trại lớn quy tựu đông đảo người tham dự. Dĩ nhiên, muốn có được những dịch vụ nầy cần phải dự trù và liên lạc với cơ quan có thể trợ giúp.
    • Dự phòng những trường hợp bất thường: Dù các nhu cầu đã được liệt kê trước, nhưng trong thực tế, lắm khi nhu cầu vượt quá giới hạn dự liệu hoặc có những trường hợp bất thường xảy ra vì thời tiết, thiên tai, vật giá gia tăng hoặc vì những lý do khác ngoài dự liệu. Do đó cần dự trù thêm một khoản chi để dự phòng những trường hợp bất thường nầy. Thí dụ: cần dự trù thêm chi phí nếu việc nhờ xe chuyên chở trại sinh miễn phí không thực hiện được, cần dự trù thêm chỗ ở và sinh hoạt trong nhà cho trại sinh nếu thời tiết hoàn toàn xấu (mưa to, gió lạnh khiến không thể cắm trại được).
    2.1.6 Dự trù khả năng
    Để đáp ứng toàn thể nhu cầu của một dư án, cần phân biệt những khả năng hiện có, những khả năng có thể huy động được và những yểm trợ thiết yếu khác.
    • Khả năng hiện có: bao gồm những gì mà nhóm tổ chức có được trong tầm tay và có thể mang ra sử dụng dễ dàng. Thí dụ: muốn tổ chức một đêm văn hóa dân tộc, Liên Đoàn có sẵn năm tiết mục đã tập dợt như ý và vào thời gian cần đến, các diễn viên đều có thể có mặt được.
    • Khả năng có thể huy động: bao gồm những khả năng mà nhóm trách nhiệm hoặc những cơ quan liên hệ có thể vận dụng thêm được. Những phương tiện nầy tuy không nằm trong tầm tay, nhưng nguồn cung cấp và cách thức huy động có thể biết và vận dụng được. Trong thí dụ tổ chức đêm văn hóa nói trên, nhóm tổ chức biết rằng Liên Đoàn XYZ hoặc Hội Đoàn ABC có khả năng đóng góp thêm vài tiết mục và có thể liên lạc để nhờ yểm trợ được.
    • Những khả năng cần yểm trợ khác: bao gồm những phương tiện cần thiết, nhưng không có và chưa biết có thể huy động từ đâu. Trong thí dụ kể trên, đêm văn hóa dân tộc cần thêm một vài màn độc tấu hoặc hòa tấu các nhạc khí cổ truyền, nhưng nhóm trách nhiệm chưa biết sẽ nhờ ai hoặc tìm từ đâu. Kinh nghiệm thực tế cho thấy một dự án ít tốn kém, hoặc phương tiện cần thiết có thể do nhóm thực hiện tự đảm trách được thì dự án đó có nhiều hy vọng thành công hơn những dự án đòi hỏi nhiều chi phí và yểm trợ quá lớn từ bên ngoài.
    2.1.7 Quyết định dự án
    Sau khi đã nghiên cứu sơ khởi, nhận thấy dự án đáp ứng được nhu cầu, mối quan tâm hoặc sở thích cũng như mong muốn và có thể thực hiện được, nhóm soạn thảo sẽ trình bày với những người có trách nhiệm. Phiên họp có thể có thêm sự hiện diện của các chuyên gia, của những người quan tâm hoặc có thể yểm trợ sự thực hiện. Dự án sơ thảo cần được bàn luận tỉ mỉ và bổ túc, nếu cần, trước khi đi đến quyết định chung.
    Trong trường hợp có nhiều dự thảo được tiến hành nghiên cứu cùng một lúc để sau đó lựa chọn một dự án, việc thảo luận và quyết định đòi hỏi phải có đủ thời gian để giải pháp lựa chọn đạt được sự hài lòng thực sự (chứ không phải miễn cưỡng) của tất cả mọi người. Kinh nghiệm cho thấy hễ dự án càng lớn thì việc cứu xét càng phải thận trọng và trong mọi trường hợp, sự đồng tâm nhất trí giữa những người có trách nhiệm bao giờ cũng là yếu tố then chốt cần đạt được.

    2.2 Giai đoạn chuẩn bị

    Bất cứ dự án nào nếu được chuẩn bị kỹ cũng sẽ có triển vọng thành công rất cao. Tùy tính chất của mỗi dự án mà giai đoạn chuẩn bị bao gồm những công tác khác nhau; nhưng tựu trung mục tiêu của giai đoạn nầy là sắp sẵn những điều kiện thiết yếu để từ đó dự án có thể tiến hành hoặc tạo thêm những yếu tố thuận lợi cho giai đoạn thực hiện. Để hình dung những gì cần phải chuẩn bị trước, có thể nêu các câu hỏi sau:
    • Những việc nào cần phải làm trước? Lúc nào phải hoàn tất? Ai làm? Làm cách nào?
    • Dự án cần bao nhiêu người? Những người nầy cần có những điều kiện gì?
    • Cần có những phương tiện gì? Làm sao để có những phương tiện đó?
    Những chi tiết thu thập được trong giai đoạn nghiên cứu sơ khởi sẽ rất hữu ích để giúp nhóm trách nhiệm thấy rõ hơn những công tác nào cần chuẩn bị. Nếu xét thấy cần, những khía cạnh mới được nghiên cứu sơ khởi phải được nghiên cứu kỹ càng hơn. Thông thường, giai đoạn chuẩn bị bao gồm các công tác sau:
    2.2.1 Tổ chức nhân sự
    • Thành lập nhóm trách nhiệm dự án: Dự án bao giờ cũng phải có một nhóm trách nhiệm thực hiện, gọi là Ban Điều Hành Dự Án. Tùy theo khối lượng công việc và điều kiện của nhân sự có thể huy động mà ấn định sự phân công. Ban Điều Hành Dự Án gồm Trưởng Dự Án và những người phụ tá (cần phải ý hợp tâm đầu và làm việc chặt chẽ với nhau) cùng các thành viên khác. Tùy theo tính chất của dự án mà Trưởng Dự Án có thể có những danh xưng khác như Trại Trưởng, Trưởng Ban Tổ Chức… Nếu dự án kéo dài thì thành phần lãnh đạo hoặc nồng cốt cần tham dự từ đầu đến cuối. Những nhân sự giữ những trách nhiệm không quan trọng có thể bổ sung hoặc thay thế sau từng giai đoạn; nhưng tốt nhất vẫn là tham dự suốt tiến trình của dự án để nhờ đó sự đóng góp và học hỏi có thể được hoàn hảo hơn. Công việc của mỗi người trong Ban Điều Hành Dự Án cần được qui định rõ ràng, tránh sự dẫm chân nhau hoặc bỏ sót công việc. Dĩ nhiên, sự phân công phải được căn cứ trên các điều kiện sẵn có của mỗi cá nhân (thời giờ, sức khoẻ, khả năng…), nhưng cũng nên tạo điều kiện cho mỗi người có cơ hội gánh vác trách nhiệm, vì một trong những phương pháp giáo dục của Phong Trào là học hỏi bằng cách làm việc (learning by doing).
    • Thành lập bộ phận yểm trợ: Ngoài nhóm trách nhiệm, cũng cần mời thêm những người có khả năng, có uy tín hoặc có phương tiện để yểm trợ cho dự án, có thể gọi là Ban Bảo Trợ Dự Án. Những người được mời tham gia vào bộ phận yểm trợ cần được thông báo đầy đủ về dự án để sự đóng góp được hữu hiệu. Vì dự án còn là cơ hội để mời gọi thêm sự tham gia của những thành phần ngoài Phong Trào, nên trong Ban Điều Hành Dự Án lẫn trong Ban Bảo Trợ Dự Án nên có sự tham gia của những người chưa từng sinh hoạt Hướng Đạo. Một dự án thành công mỹ mãn sẽ giúp phát triển Phong Trào vì chẳng những dự án đạt được mục tiêu đã đề ra mà còn thu hút được thêm nhiều nhân sự mới cho sinh hoạt chung.
    2.2.2 Tài liệu hóa
    Nhằm tạo điều kiện cho Ban Điều Hành Dự Án và những người liên hệ có thể có được một cái nhìn mau lẹ, tổng quát và rõ ràng cũng như tiện theo dõi tiến trình của dự án, cần có tài liệu diễn tả được các khía cạnh, đặc điểm, nhu cầu … của những mục tiêu đang theo đuổi hay nói khác đi là cần phải tài liệu hóa dự án. Công tác tài liệu hóa có thể thực hiện trong suốt tiến trình của dự án, từ lúc chuẩn bị cho đến lúc kết thúc và rất cần thiết để việc quảng bá, điều hợp, kiểm soát, lượng giá có thêm điều kiện đạt được kết quả mỹ mãn.
    Ngoài ra, nhờ các tài liệu đầy đủ và chính xác về dự án đã thực hiện (thí dụ một dự án lớn như Trại Họp Bạn HĐVN), những người tiếp nối công việc sau này sẽ có được vốn liếng hữu ích và sẽ cảm thấy hãnh diện về những nỗ lực của những người đi trước.
    Công tác tài liệu hóa bao gồm tất cả những giấy tờ, đồ biểu, phim ảnh, CD, DVD, trang mạng… nhằm mô tả hay ghi nhận về dự án. Tùy theo tầm mức của mỗi dự án mà sử dụng những phương tiện tài liệu hóa khác nhau. Trong giai đoạn chuẩn bị, cần thực hiện các biểu đồ mô tả hoặc tóm tắt về dự án, đặc biệt là biểu đồ “Diễn tiến công tác theo thời gian”. Có thể nghĩ đến các tờ bươm bướm, bích chương, hình ảnh, bài tường trình…
    Sau đây là môt vài hướng dẫn về đồ biểu theo chức năng và đồ biểu diễn tiến công tác theo thời gian:
    • Kỹ thuật đồ biểu theo chức năng: Giới thiệu cơ cấu tổ chức và điều hành dự án, trong đó mỗi bộ phận giữ một trách nhiệm khác nhau. Biểu đồ “Sơ đồ tổ chức Ban Điều Hành Trại” ở trang bên sẽ mang đến một khái niệm về những trách nhiệm trong trại hè của nhiều Liên Đoàn. Số lượng các Tiểu Ban có thể tùy nghi thay đổi. Cần phân biệt:
    - Hệ thống chỉ huy: Bộ phận cấp dưới nhận lệnh từ một cấp trên duy nhất (hệ thống chỉ huy duy nhất) hoặc từ hai cấp trên trở lên (hệ thống chỉ huy đa phương).
    - Hệ thống tham mưu: Bộ phận tham mưu chỉ góp ý kiến chứ không quyết định hoặc ra lệnh.
    • Kỹ thuật đồ biểu diễn tiến công tác theo thời gian (Gantt chart hay bar chart): Cung cấp một cái nhìn tổng quát về tiến trình của dự án. Muốn vẽ đồ biểu nầy cần xác định:
    - Công tác nào phải thực hiện trước hoặc sau
    - Những công tác nào có thể tiến hành song song
    - Thời gian dự trù và chấm dứt một công tác
    - Công tác do ai đảm trách
    Sau đó, ghi nhận các phân tích trên vào biểu đồ.
    Để có khái niệm về loại biểu đồ nầy, xin xem thí dụ điển hình qua “Biểu đồ công tác chuẩn bị Trại”. Dĩ nhiên, các công tác được liệt kê (việc) cùng nhân sự trách nhiệm (người) chỉ có tính cách tiêu biểu. Trong thực tế, nhóm soạn thảo hoặc thực hiện có thể sửa đổi, điều chỉnh biểu đồ sao cho thích hợp với kế hoạch đã quyết định.
    2.2.3 Vận động phương tiện
    Phương tiện, tiền và vật dụng, lắm khi giữ vai trò thiết yếu cho sự thành công của dự án. Có rất nhiều phương cách khác nhau để vận động phương tiện yểm trợ cho dự án. Tùy địa phương, hoàn cảnh, tính chất của dự án và sáng kiến của nhóm trách nhiệm mà những biện pháp vận động được lựa chọn. Có thể kể sơ lược một số phương cách như sau:
    Tự lực cánh sinh: Trước tiên, những thành phần liên hệ mật thiết đến dự án (những người thụ hưởng, nhóm thực hiện) tự mình đóng góp những phương tiện cần thiết để có thể hoàn toàn chủ động sự thực hiện. Thí dụ: trong dự án mở lớp dạy Việt ngữ cho trẻ em, phụ huynh sẽ chung nhau tiền mua học cụ (phấn hoặc viết và bảng, sách vở cho con em…), các anh chị em dạy học tự đài thọ chi phí di chuyển. Cũng có thể xếp vào loại nầy những hy sinh đóng góp của mỗi cá nhân hoặc cả nhóm bằng cách làm thêm giờ, làm thêm một công việc ngắn hạn khác, chỉ với mục tiêu là dành số tiền kiếm được để yểm trợ dự án.
    • Vận động trực tiếp: Tìm tài chánh để yểm trợ dự án đã trở thành một trong những công tác thiết yếu hàng đầu của tất cả các tổ chức trách nhiệm về dự án. Những nhân viên vận động tài chánh luôn nỗ lực đi tìm nguồn yểm trợ cho các dự án và cả cho chương trình sinh hoạt của đoàn thể từ năm nầy sang năm khác. Phương cách thông thường nhất là liên lạc trực tiếp với những nơi có thể cấp ngân khoản, tìm hiểu điều kiện, thủ tục nạp hồ sơ để xin yểm trợ. Cần đặc biệt lưu ý là các cơ quan yểm trợ thường đòi hỏi các chi tiết cho thấy dự án sẽ được thực hiện nghiêm chỉnh, thiện chí yểm trợ của họ được công chúng “biết đến” và kết quả của dự án được tường trình đầy đủ.
     Với các tổ chức thiện nguyện quốc tế: Một số tổ chức thiện nguyện quốc tế (Caritas, Oxfam, Brot fuer Die Welt, Red Cross, World Vision… ) có dự trù ngân khoản hàng năm để yểm trợ một số dự án, nhất là những dự án cứu trợ cấp thời, phục hồi, văn hoá, giáo dục. Chi tiết về các cơ quan nầy có thể được tìm thấy trong niên giám điện thoại, trên các trang mạng hay qua các tài liệu của chính các tổ chức nầy phổ biến.
     Với chính quyền các cấp: Một số cơ quan chính quyền thuộc Tỉnh Bang, Tiểu Bang, Liên Bang như Bộ Dịch Vụ Cộng Đồng, Bộ Thanh Niên, Bộ Văn Hoá và Nghệ Thuật… và các Hội Đồng Thành Phố địa phương thường có dự trù ngân khoản để yểm trợ các dự án thuộc nhiều lãnh vực khác nhau.
     Với giới doanh nghiệp: Một số cơ sở doanh nghiệp có chính sách trích một phần tiền lời để yểm trợ cho những dự án có ích lợi chung (từ thiện, văn hoá, giáo dục…) được thực hiện bởi các đoàn thể bất vụ lợi. Ngân khoản yểm trợ sẽ được doanh nghiệp một mặt dùng vào việc giảm thuế phải trả hàng năm, mặt khác chứng minh thiện chí phục vụ cộng đồng của doanh nghiệp. Một số cơ sở giải trí khác phải chấp hành các qui định của chính quyền về việc đóng góp một phần tiền lời cho các sinh hoạt cộng đồng (trường hợp của các câu lạc bộ giải trí với các trò chơi đen đỏ) nên luôn luôn chọn một số dự án có ích lợi chung để yểm trợ.
    • Vận động công chúng: Một số dự án có thể được mang ra vận động gây quỹ với quãng đại quần chúng nhờ có ý nghĩa đặc biệt hoặc có tầm mức lớn lao, thí dụ: dự án cứu trợ nạn nhân bị thiên tai, xây dựng đền thờ Quốc Tổ… Trong trường hợp nầy, vai trò của giới truyền thông rất quan trọng trong việc tác động để sự yểm trợ được mạnh mẽ. Có thể sử dụng các kỹ thuật kể sau:
     Kỹ thuật “Dự án được bảo trợ bởi”: Có thể mời một hay nhiều nhân vật (hoặc một hay nhiều cơ quan) có vai trò hay tiếng tăm nổi bật trong xã hội giúp bảo trợ dự án. Bằng cách này, dự án có thể thu hút được sự chú ý của quần chúng, đặc biệt là giới doanh nghiệp và do đó có thể huy động được những sự trợ giúp cần thiết. Dĩ nhiên, muốn đạt được sự yểm trợ nầy, dự án thường phải có được một tầm vóc tối thiểu và nhóm vận động cũng phải có được sự tin cậy của người hay cơ quan đứng ra bảo trợ.
     Kỹ thuật “Gây quỹ cho dự án”: Cũng có thể nhân danh dự án để tổ chức những gian hàng, buổi trình diễn, cơm gây quỹ, xổ số, cung cấp dịch vụ… nhằm gây quỹ cho dự án. Cần lưu ý tính toán kỹ càng để những “dự án trung gian” nầy sẽ không gây trở ngại cho việc thực hiện dự án chính (vì dự án trung gian bị thâm lỗ hoặc nhân sự sau đó quá mệt mỏi). Nhóm phụ trách dự án trung gian nên có thành phần nhân sự khác với Ban Điều Hành dự án chính để giảm bớt tình trạng những người nòng cốt bị tràn ngập công việc.
     Kỹ thuật “Quyên Góp Tại Chỗ”: Trong rất nhiều trường hợp, có thể vận động thêm phương tiện bằng cách quyên góp tại chỗ qua sổ vàng, xổ số, bán đấu giá … trong khi dự án đang được thực hiện. Thí dụ: Hội Tết, Ngày Văn Hoá, Đêm Văn Nghệ Giúp Đồng Bào Tỵ Nạn, Giúp Nạn Nhân Bị Thiên Tai… Thành quả của sự quyên góp tại chỗ tùy thuộc rất nhiều vào mục tiêu của dự án và khả năng tác động của Ban Tổ Chức, đặc biệt là người điều khiển chương trình. Trong những trường hợp nầy, cần lưu ý đến khía cạnh pháp lý khi muốn tiến hành các công tác nhằm gây quỹ cho một dự án, nhất là khi công tác ấy quy tụ đông người hoặc cung cấp các thức ăn uống. Tốt nhất là nên liên lạc với các công sở có thẩm quyền liên hệ để được cho phép trước hầu tránh những rắc rối có thể xảy ra.

    2.3 Giai đoạn thực hiện

    Sau khi đã được nghiên cứu và chuẩn bị đầy đủ, dự án được tiến hành hầu đạt được những mục tiêu mong muốn. Giai đoạn thực hiện giữ vai trò chủ yếu vì chính giai đoạn này sẽ quyết định sự thành bại của dự án trong khi hai giai đoạn nghiên cứu và giai đoạn chuẩn bị chỉ giữ vai trò “mở đường” mà thôi.
    Tùy theo đặc điểm riêng của mỗi dự án mà kế hoạch trù liệu được tiến hành. Phương tiện đã huy động sẽ được sử dụng để nhân sự hoạt động theo biểu đồ diễn tiến công tác đã được soạn thảo trong giai đoạn chuẩn bị. Thành phần lãnh đạo dự án cần theo dõi chặt chẽ để điều hợp công việc giữa những bộ phận khác nhau, bổ sung những thiếu sót hoặc kịp thời ứng phó với những bất ngờ. Nếu thời gian thực hiện kéo dài, những nhân sự liên hệ (Ban Điều Hành Dự Án, Ban Bảo Trợ Dự Án) cần gặp gỡ để kiểm điểm tiến trình, trao đổi tin tức, tạo thêm thông cảm hoặc khích lệ lẫn nhau. Có lắm trường hợp vì lý do nầy hay lý do khác, dự án cần được thu gọn lại hay mở rộng ra, kéo dài thời gian hay rút ngắn bớt. Đôi khi phải chọn một quyết định chẳng mấy vui là hủy bỏ dự án nửa chừng!
    Những quyết định về việc điều chỉnh dự án cần phải được cân nhắc kỹ càng và đưa ra đúng lúc, vì tầm ảnh hưởng của quyết định chẳng những chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai nữa.


    2.4 Giai đoạn kết thúc


    Đã có lúc bắt đầu thì ắt hẳn phải có hồi kết thúc. Vào giai đoạn cuối nầy, có những công việc sau đây cần thực hiện:
    2.4.1 Liên hoan kết thúc
    Dự án được kết thúc bằng một buổi liên hoan. Đây là cơ hội để mừng thành quả hoặc những mục tiêu đạt được và cũng chính là cơ hội để mọi người liên hệ đến dự án, qua cuộc vui, trút bỏ những buồn phiền, căng thẳng, bực mình đã vướng phải trong thời gian chuẩn bị và thực hiện dự án, cùng phát triển (hoặc củng cố lại) tình thân ái với nhau. Trong rất nhiều trường hợp, nhất là sau những dự án lớn và kéo dài, tình cảm giữa người nầy với người kia thường bị sứt mẻ vì những đụng chạm, do sự khác biệt cá tính hoặc khác biệt phương pháp làm việc.
    Hình thức liên hoan được quyết định tùy theo ý kiến của toàn thể, miễn sao không là gánh nặng chung hay cho bất cứ người nào. Điều quan trọng là sự tham dự đông đủ của những người đã góp phần thực hiện dự án và tất cả cảm thấy thoải mái trong cuộc liên hoan. Những tiết mục văn nghệ tự biên tự diễn hoặc tùy hứng nên được khuyến khích. Buổi liên hoan dĩ nhiên cũng không được quá tốn kém hoặc quá trớn, nhất là khi dùng các thức uống có rượu.
    2.4.2 Thẩm định kết quả dự án
    Các thành phần có liên hệ đến dự án cùng nhau đánh giá kết quả việc lựa chọn, chuẩn bị và thực hiện dự án.
    • Những khía cạnh sau đây cần được đánh giá:
    - Những mục tiêu đề ra cho dự án có đạt được không?
    - Mục tiêu nào đạt được? Mục tiêu nào không?
    - Mỗi mục tiêu đạt được chừng bao nhiêu phần trăm?
    - Lý do vì sao không thể đạt được kết quả tối đa? Có những trở ngại chủ quan và khách quan nào? Những trở ngại trên có thể khắc phục được không?
    - Những mục tiêu đã đề ra có bị thay đổi không? Tại sao?
    - Dự án có phù hợp với đường hướng của Phong Trào Hướng Đạo? Của ngành?
    - Dự án có được nghiên cứu, chuẩn bị và thực hiện một cách đúng mức, hợp lý?
    - Cá nhân tham dự thế nào vào dự án?
    - Cá nhân có cảm nghĩ gì: vui, buồn, phấn khởi, bực mình, thất vọng?
    - Có học hỏi, thu lượm được gì trong khi và sau khi dự án được thực hiện?
    - Những tác dụng khác của dự án đối với cá nhân?
    - Tác dụng của dự án đối với nhóm thực hiện? với Đoàn/Liên Đoàn?
    - Sự làm việc chung của nhóm trong dự án ra sao?
    - Vấn đề lãnh đạo và thông đạt thế nào?
    - Cơ cấu tổ chức có hợp lý và hữu hiệu không?
    - Có những dị biệt, bất đồng, đụng chạm… nào đã xảy ra và cách thức giải quyết có thỏa đáng không?
    - Nhóm thực hiện thu lượm được gì từ dự án?
    - Hiện tình của nhóm ra sao sau khi dự án đã kết thúc?
    • Những yếu tố khác cần có trong sự thẩm định dự án:
    - Thái độ của mỗi người cần thành thực, thẳng thắn, nhưng hòa nhã. Cần lắng nghe và tôn trọng ý kiến của người khác.
    - Cần có đủ thời gian cần thiết. Thời điểm tốt nhất là ngay sau khi dự án được kết thúc, đừng để trễ quá khiến nhiều dữ kiện và cảm nghĩ sẽ bị lãng quên.
    - Mỗi người cần có cơ hội phát biểu.
    - Diễn tiến của dự án cần được nhắc lại, hoặc chiếu lại hình, nếu là dự án lớn diễn ra tại nhiều nơi hoặc kéo dài, để giúp mọi người nhìn được các khía cạnh của dự án hoặc nhớ lại các chi tiết.
    2.4.3 Đúc kết, tường trình, quảng bá, cảm ơn và lưu trữ
    Những thành công cũng như những khiếm khuyết, thất bại của dự án cần được thảo luận, thông báo đến những người đã tham dự, và có thể cả những người có quan tâm nữa, để giúp các dự án sau nầy được hoàn hảo hơn. Cũng có thể phổ biến thành quả trên báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, trang mạng (nếu thích nghi) để tạo thêm thuận lợi về sau. Đừng quên cảm ơn (và gửi tường trình đến, nếu đuợc yêu cầu) những người hoặc cơ quan, tổ chức đã yểm trợ dự án. Hình thức cảm ơn có thể là lời nói, điện thoại, thư, thông báo qua các cơ quan truyền thông, chứng chỉ, bảng kỷ niệm…
    Đối với các dự án có sự quyên góp của công chúng, nên công bố tường trình kết quả và tài chánh. Theo thời gian, nhiều dữ kiện về dự án sẽ bị dần dà quên lãng hoặc thất lạc nếu không được ghi chép và lưu trữ hợp lý. Công tác tài liệu hoá trong giai đoạn kết thúc sẽ rất hữu ích chẳng những cho những người đi sau, như đã đề cập trên, mà còn quan trọng đối với Ban Điều Hành Dự Án, nhất là khi có những câu hỏi hoặc thắc mắc được nêu lên trong một thời gian sau. Luật lệ thường qui định thời gian lưu trữ hồ sơ tài chánh kéo dài trong nhiều năm, có khi đến mười năm, tùy theo mỗi quốc gia.
    Để đáp ứng nhu cầu tài liệu hoá, những chi tiết thiết yếu như mục tiêu, tiến trình chuẩn bị và thực hiện, kết quả… cần được ghi nhận và lưu trữ. Những kỹ thuật tài liệu hóa trên giấy tờ, băng nhựa, phim ảnh, CD/DVD, trang mạng… cần được sử dụng.


    Mẫu dự án đề nghị:


     Bối cảnh và tầm quan trọng của dự án:
    - Hoàn cảnh và những nguyên nhân xa và gần khiến dự án được đề ra.
     Mục tiêu:
    - Dự án nhằm đạt được những gì? Để làm gì? Cho ai?
     Thời gian:
    - Từ… đến… (giờ, ngày, tháng năm).
    - Giai đoạn nghiên cứu và quyết định
    - Giai đoạn chuẩn bị
    - Giai đoạn thực hiện
    - Giai đoạn kết thúc
     Địa điểm:
    - Tại đâu? (số nhà, đường, thành phố, điện thoại…)

     Nhân sự:
    - Nhân sự trách nhiệm là những ai?
    - Nhân sự tham gia?
    - Nhân sự cố vấn và bảo trợ?
    - Nhân sự thụ hưởng?
     Phân công:
    - Người nào làm việc gì? Tương quan với nhau như thế nào?
     Phương tiện cần:
    - Dự chi: Cần phải chi tiêu cho những gì? Bao nhiêu?
    - Dự thu: Có thể thu được từ những nguồn nào? Bao nhiêu?
    - Các nhu cầu khác là những gì? Làm sao để đáp ứng?
     Kế hoạch thực hiện:
    - Tiến trình thực hiện dự án ra sao?
    - Dự án sẽ được thực hiện như thế nào? Những gì sẽ được tiến hành theo thứ tự thời gian?
    - Tại đâu? Ai làm?
    - Kiểm soát và phối hợp như thế nào?
    - Kế hoạch đáp ứng khi có những trường hợp bất thường xảy ra (Thí dụ: thời tiết xấu)?
     Tổng kết:
    - Triển vọng thành công và lợi ích của dự án.
    Trong thực tế, tùy tính chất của dự án và tùy trường hợp mà những mục đề nghị trên được thêm, bớt hoặc thay đổi để đáp ứng nhu cầu.
    3.0 Kết luận
    Nhìn chung, phương pháp dự án là một kỹ thuật quản trị thiết yếu giúp chúng ta đạt được những mục tiêu mong muốn với phí tổn thấp nhất. Dĩ nhiên, sự áp dụng phải linh động sao cho thích hợp với hoàn cảnh cũng như loại công tác cần thực hiện. Ước mong rằng qua phần trình bày trên, các anh chị em Trưởng cũng như Tráng (và cả Thanh sinh nữa) sẽ tìm thấy một số ý kiến hữu ích để nhờ đó sinh hoạt chung sẽ được vui tươi hơn và đạt được kết quả mỹ mãn hơn.

    Nguyễn Văn Thuất
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn