Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Israel và những thánh tích

Chủ đề trong 'Bạn Đọc Sáng Tác' do lltran khởi đầu 23 tháng Tư 2018.

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên


    Biển Chết



    Biển Chết, Biển Muối hay “Dead Sea”, “Al-Baḥr Al-Mayyit” (“Sea of Death”) theo tiếng Ả Rập, và “Yam HaMelaẖ” (“Salt Sea”) theo Hebrew , là tên gọi của vùng biển nằm giữa đất liềntrên biên giới của Israel và Jordan, phía tây nam của châu Á. Thực ra Biển Chết là một cái hồ nước muối dù có tên gọi là “biển”. Phía đông Biển Chết thuộc về Jordan; nửa nam của phía tây thuộc về Israel và nửa bắc của phía tây thuộc West Bank của Palestine nhưng bị chiếm đóng bởi Israel sau cuộc chiến tranh 1967; báo chí Ả Rập gọi vùng đất này là “đất tạm chiếm” hay ‘occupied land’. Từ phía bắc, nước sông Jordan đổ về Biển Chết.

    DeadSeaMap.jpg

    Theo tiền lệ từ thế kỷ XX, đo lường mực sâu của mặt đất dựa trên mực nước biển, Biển Chết có độ sâu 400 thước (1,300 bộ Anh) dưới mặt biển và là điểm sâu nhất, thấp nhất của địa cầu. Tuy nhiên, bị con người tận lực khai thác, cả Jordan lẫn Israel đều thu góp nước sống Jordan và nước Biển Chết để sử dụng, buôn bán nên độ sâu của Biển Chết mỗi ngày một sâu thêm: từ những năm 2010, độ sâu của Biển Chết là 430 thước và mỗi năm sâu thêm 1 thước nữa.

    20180413_084834.jpg

    Biển Chết dài khoảng 50 dặm, rộng khoảng 11 dặm và diện tích là 394 dặm vuông. Biển sâu nhưng cạn nước, mỗi ngày một khát khô như vùng sa mạc Judean chung quanh. Biển cạn nên đất khô và sụp, sinkholes, kéo theo những khách sạn & khu giải trí xây cất dọc bờ biển trong thập niên 70-80 của thế kỷ trước; ngày nay chỉ còn là mấy bãi muối khô dưới nắng mặt trời. Đi dọc theo bờ biển sẽ thấy những đùn muối nổi lên giữa các vũng nước. Bờ biển không có cát mà toàn là... muối.

    SeaCoast.jpg

    Ngoài sông Jordan, nguồn nước chính, bốn lạch nước Al-ʿUẓaymī, Zarqāʾ Māʿīn, Al-Mawjib, và Al-Ḥasā cũng đổ nước về Biển Chết. Vài mạch nước chứa nhiều lưu huỳnh chảy ngầm dưới đất cũng đổ về Biển Chết; không lạ là không khí trong vùng thoang thoảng mùi trứng thối.

    Lượng muối của Biển Chết thay đổi theo độ sâu; ở độ sâu khoảng 40 thước, Biển Chết có nhiệt độ là 66 – 98 độ F, nồng độ muối khoảng 300ppm hay 300mg muối trong mỗi lít nước và nước chứa nhiều sulfates & bicarbonates. Ở mức sâu hơn (40-100 thước), nồng độ muối gia tăng 332ppm, nước chứa hydrogen sulfide nhiều khoáng chất khác như magnesium, potassium, chlorine, và bromine. Ở mực sâu hơn nữa, nước chứa toàn muối và đóng cục dưới đáy.
    Muối Biển Chết mặn nhưng có vị đắng, có lẽ do các khoáng chất. Nước biển cũng đắng như thế.

    SaltRock.jpg SaltHill.jpg

    Con người tận dụng nước và khoáng chất nên sinh thái tại Biển Chết và vùng phụ cận thay đổi khá nhiều, muối và khoáng chất trong nước biển đóng từng lớp, lúc nổi lúc chìm tùy theo nhiệt độ. Tuy nhiên, nước mặn nên chẳng có mấy loài thủy sinh sống sót trừ halophytes. Nước muối “nặng” nên người đi bơi có thể nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Dế Mèn thò hai chân xuống biển, sức vóc cũng khá khá mà vẫn có cảm tưởng chênh vênh, hai chân như bị đẩy ngược lên mặt nước và sẽ té nhào. Nhớ đến câu chuyện kể trong kinh thánh là Jesus có thể “đi” trên mặt nước, có lẽ là tại vùng Biển Chết này đây?

    Năm 2015, Israel và Jordan ký kết một hiệp ước đồng lòng tiết giảm việc khai thác Biển Chết, chỉ lấy muối khoáng ở mức nhất định để bảo vệ vùng sinh thái. Đứng trên núi [muối], ta có thể thấy xe vận tải đi lại dọc biên giới, vận chuyển những kiện hàng ra vào xưởng chế biến. Và để có đủ nước dùng, cả hai quốc gia đều đặt các trạm lọc nước dọc kênh đào từ Biển Đỏ (Red Sea), muối thải ra được đổ vào Biển Chết. Người Israel rất hãnh diện về kỹ thuật lọc nước biển (loại trừ muối) của họ, người dẫn đường nói rằng họ đang hướng dẫn người California về cách áp dụng kỹ thuật lọc nước kể trên để giảm hậu quả của việc hạn hán liên miên (?). Riêng Dế Mèn thì thắc mắc lắm, muối từ Biển Đỏ, biển Địa Trung Hải có thể khuân ra Biển Chết; Biển Chết không có thủy sinh nên bỏ thêm muối thì cũng không mấy ảnh hưởng (?), nhưng còn Thái Bình Dương thì sao? Nếu California lấy nước để dùng thì người Huê Kỳ sẽ đổ muối đi đâu? Và sẽ gây ảnh hưởng gì với vùng sinh thái chung quanh?

    Băn khoăn về chuyện sinh thái nhưng bá tánh vẫn kiếm bạc triệu trong việc khai thác khoáng chất từ Biển Chết. Israel có cả ba bốn công ty mỹ phẩm rao bán các sản phẩm từ Biển Chết để làm đẹp, để chữa bệnh hầm bà lằng. Các món hàng ấy đắt gấp đôi so với giá cả bán bên Hoa Kỳ. Họ quảng cáo rằng mấy món bùn nhão, muối hột, kem thoa mặt, thoa tay chân chứa khoáng chất của Biển Chết …; sản phẩm từ Biển Chết không chứa phấn hoa (?), tinh tuyền (chẳng có thứ gì sống nổi trong thứ nước mặn như thế nên tinh tuyền là điều dễ hiểu?!) lắm…; sẽ cải lão hoàn đồng, quý bà quý cô sẽ trẻ ra ít nhất mười tuổi sau khi dùng… [bùn hút hết chất nhờn trên da nên sau khi rửa mặt, sẽ thấy da căng (taut) trong chốc lát cho đến các túi dầu (sebaceous glands) ở lỗ chân lông tiết ra đủ lượng chất nhờn (sebum) cần thiết].
    Lang thang dọc bờ biển, phe ta thấy có mấy phụ nữ thoa bùn lên mặt, định chụp hình về khoe bạn đọc mà sợ bị ném đá [muối cục] nên chỉ cười cười đi tiếp. Có người bạn trong nhóm sau khi đắp bùn lên mặt than rằng sao da tui khô quá xá… Dế Mèn định chọc ghẹo là muối Biển Chết được dùng để ướp xác (chuyện có thực), nhưng không dám.

    Mấy ngày ở Biển Chết trời nắng gắt, không khí sa mạc lại khô rang nên chỉ có thể lang thang vào buổi mai, đến khoảng hai giờ trưa là ngầy ngật mệt mỏi, về quán trọ chỉ gặp những du khách Nga kẻ đi lại, người ngồi phi thuốc lá mù mịt, ai cũng ở trần phơi thùng nước lèo với cái quần tắm kiểu ‘Z string’ nên trông nản lòng hết sức. Dế Mèn nghe nói rằng dân Nga thích đi tắm nước muối, yêu chuộng các loại “spas” nên Biển Chết là nơi nghỉ “mát” lý tưởng của họ. Phe ta ở đó ba ngày, đủ để ghé thăm Masada, Qum Ran, ốc đảo Ein Gedi và lanh quanh trong sa mạc, giữa các ngọn đồi kết tinh từ muối nên chuyến đi khá thích thú.
     
    Gấu Nhẫn Nại and p324530 like this.
  2. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Di tích Masada

    Quanh vùng Biển Chết là một số di tích được xem là “thắng cảnh quốc gia” của Israel, từ núi đá, hang động đến ốc đảo: Masada, Qum Ran và Ein Gedi. Là vùng đất cổ xưa, việc mô tả các di tích tại Israel thường được (bị) lẫn lộn giữa những dữ kiện được khảo sát rồi chứng minh theo khoa học khảo cổ và những lời dẫn giải dựa trên thánh kinh (Cựu Ước). Con người hiện diện tại Biển Chết từ 300 năm trước Công Nguyên, thời Hellenist và theo sách vở Hy Lạp ghi chép thì thủa ấy là thời khai mở của đạo Do Thái với ông tổ Abraham. Theo kinh sách Hebrew thì đạo Do Thái bắt đầu từ lúc Thiên Chúa truyền dạy Abraham từ những năm 1812 trước Công Nguyên (khoảng 3,800 năm trước), tại Trung Đông.
    Sa mạc hoang vu bao quanh Biển Chết với các hang động sâu kín là nơi trốn tránh lý tưởng cho các thủ lãnh thua trận bị quân thù truy đuổi. Lịch sử Israel kể lại rằng khi thành Jerusalem thất thủ, vua David (vị vua mở nước, king of Israel) và đời sau là vua Herod Israel (king of Judaea) đã ẩn thân ở đây.

    Masada được UNESCO nhìn nhận là di sản thế giới vào năm 2001, xem ra muộn màng (?) so với số tuổi và kết quả của các công trình khảo cổ được công bố từ những năm 60 của thế kỷ trước. Nhìn từ xa lộ 90, Masada giống như tảng núi không có ngọn, “đỉnh” núi là một mặt phẳng lớn.
    Mặt phẳng Masada dài 650 thước và rộng 300 thước; nơi đó, vua Herod (trị vì từ năm 37 [trước Công Nguyên] đến năm 4 [trước Công Nguyên])* xây thành quách làm nơi nghỉ mát và cũng là nơi trú ẩn khi quân thù đánh thành Jerusalem. Là người nổi tiếng xa hoa, thích tiêu xài rộng rãi nên giữa sa mạc hoang vu nọ, vua Herod đã cho xây hai tòa lâu đài lớn, Northern Palace và Western Palace. Dù ngày nay chỉ còn là những đống đá nhưng di tích vẫn cho thấy đầy đủ các phòng ốc cẩn đá hoa, tường vách sơn phết vàng đỏ, cột kèo …, từ chỗ ở, nơi tắm táp (Roman bath) với ống dẫn nước nóng và chỗ đun nước (!) đến hồ nước và nhà kho. Nhìn ngắm quần thể di tích mênh mông mà thương dân công, quân lính xây thành quá đỗi, không biết bao nhiêu mồ hôi, máu và nước mắt đã đổ ra ở chốn này? Dế Mèn lên núi bằng xe điện treo, cable car, giữa trời lơ lửng rồi đi quanh leo trèo mươi bậc thang đá để nhìn ngắm mà còn tháo mồ hôi huống hồ dân phu khuân vác vật liệu xây cất!

    Lịch sử Masada do ông Josephus Flavius, nguyên là tướng Do Thái sau khi thua trận đã đầu hàng và theo người La Mã, ghi chép về trận thư hùng kéo dài hai năm giữa quân La Mã và dân quân Do Thái do Eleazar ben-Yair lãnh đạo. Chuyện kể rằng sau khi vua Herod qua đời, dân Judea lại nổi lên chống đối và vào năm 6, đất Judea được chia hẳn cho La Mã; Masada trở thành nhà tù nơi giam giữ quân [Do Thái] nổi dậy và tội phạm.
    Năm 66, trong cuộc Cách Mạng (Great Revolt) của người Do Thái nổi dậy chống quân La Mã, nhóm Sicarii (lính đeo gươm mũi cong sica) chiếm được Masada và đóng quân ở đó cho đến khi thua trận. Masada bị quân La Mã chiếm lại vào năm 74. Trong thời gian sinh sống ở Masada, dân quân Do Thái xây cất phòng ốc riêng để sử dụng; xây synagogue để thờ phượng và xây cả nơi tắm rửa theo giáo luật Do Thái, ritual bath, kiểu phòng tắm đặc thù của Do Thái. Di tích của các kiến trúc này vẫn còn cho đến ngày nay và người Do Thái theo dấu vết ấy mà nhìn nhận di đồ của tổ tiên.
    Hào hùng nhất là di ngôn của tướng Eleazar ben-Yair khi thành Masada bị tấn công và sắp mất vào tay quân La Mã, thay vì chịu bị bắt sống và giữ làm nô lệ, ông ấy khuyến khích 90 người lính còn lại rằng hãy về nhà giết hết vợ con rồi cùng nhau chết. Với 10 người sau cùng, họ bắt thăm, người đầu tiên được người thứ hai giết, tuần tự như thế, cho đến người chót phải tự sát (chịu phạm giáo luật). Ngày nay, lúc khai quật, các nhà khảo cổ tìm thấy các mảnh bình vỡ ghi chép tên 10 người lính sau cùng.
    Khi quân đội La Mã vào Masada, họ tìm thấy hai phụ nữ và mấy đứa trẻ còn sống sót ẩn trốn sau hồ nước; những người này kể lại câu chuyện đi vào lịch sử kể trên. Ngày thất trận của dân quân Do Thái trùng với ngày đầu của tuần lễ Vượt Qua.

    Thành Masada thất thủ đánh dấu cuộc nổi dậy bất thành cuối cùng của dân quân Do Thái , và người La Mã hoàn toàn cai trị Judea cho đến thế kỷ II.

    Vào thời Byzantine, Masada trở thành tu viện của các dòng tu đạo Thiên Chúa cho đến khi vùng Judea rơi vào tay người Ả Rập trong thế kỷ VII, Masada trở thành “es-Sebbeh”.
    Đến thế kỷ XIX, Masada được khám phá bởi các nhà khảo cổ Anh, và việc sưu khảo bởi các nhà khảo cổ Do Thái tiếp tục cho đến năm 1965, đến năm 1971 thì người Israel đặt hệ thống xe điện treo để mở mang di tích cho bá tánh thăm viếng. Song song với chương trình khai quật di tích, năm 1923, cuốn sách cổ “The Wars of the Jews” của Josephus Flavius được chuyển dịch từ La Tinh sang Hebrew, chiến tích oai hùng của Eleazar ben-Yair được loan truyền rộng rãi và từ đó Masada trở thành biểu tượng của việc nổi dậy đòi độc lập, tinh thần quốc gia của người Do Thái.

    Vé xem di tích bao gồm vé vào viện bảo tàng (cất giữ cổ vật), lệ phí xe điện treo, và vé xem đoạn phim ngắn ghi chép công trình khảo cổ. Dưới đây là một vài hình ảnh về Masada:

    Từ xe điện treo:

    Masada2.jpg
    Masada3.jpg

    Mô hình của Masada:

    MasadaModel.jpg

    Mô hình của Northern Palace:

    M.NorthPalace.jpg

    Nơi vua chúa cư trú:

    CommanderRm.jpg

    Roman bath:

    MasadaBath.jpg

    Synogogue của người Do Thái:

    synagogue.jpg

    Mảnh vỡ ghi tên 10 người lính cuối cùng:

    The Lots.jpg

    Trong khi leo trèo, nhìn ngắm, Dế Mèn gặp gỡ một nhóm sinh viên Việt Nam, các bạn trẻ qua Israel khoảng một năm để thực tập về nông nghiệp, học hỏi kỹ thuật canh nông. Người Do Thái thành công trong việc biến đất sa mạc thành nơi trồng cấy mấy trăm mẫu chà là sai trái. Chà là ở đây rất dẻo, ngọt đậm nhưng không gắt, khá nổi tiếng.


    MasadaV.Friends.jpg

    Người dẫn đường có “khoe” rằng Israel không sản xuất được nhiều thứ nhưng có trí tuệ, kiến thức để rao bán khắp nơi. Và theo một người bạn trẻ, Việt Nam với đường lối truyền thông “định hướng”, họ chỉ biết đến Israel qua kỹ thuật canh nông dù nông sản chỉ chiếm 2% GDP, nghĩa là nông nghiệp không phải là một kỹ nghệ quan trọng cuả đất nước này!

    *Chi tiết này khiến các sử gia đặt câu hỏi về năm sinh của Chúa Jesus, họ ước định rằng Chúa ra đời khoảng năm 6 [trước Công Nguyên] đến năm 4 [trước Công Nguyên] vì sách vở chép rằng lúc gần mãn đời, vì lo sợ việc dòng dõi vua David xuất hiện lấy lại lãnh thổ, vua Herod cho lệnh tru diệt các hài nhi Do Thái. Khi bà Maria mang thai, phải về nguyên quán của ông Joseph để ghi danh theo luật lệ hộ tịch, đến Bethlehem thì sanh nở.
     
    KhucCamTa and p324530 like this.
  3. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Hang động trong núi đá - Qumrān

    Qumrān hay Kumran là một di tích nằm bên bờ tây bắc của Biển Chết. Đây là một dãy núi với nhiều hang động và thung lũng trong sa mạc. Người thế giới chỉ biết đến Qumrān từ năm 1947 khi các nhà khảo cổ tìm ra những cuộn da với chữ viết. Những cổ thư này được đặt tên “the Dead Sea Scrolls”.
    Câu chuyện “khám phá” khởi đầu bằng việc một người chăn dê (bộ tộc Bedoin) tìm kiếm một con dê lạc đàn. Khi quẳng một viên đá xuống thung lũng (để ước lượng độ sâu), tiếng vọng cho thấy viên đá chạm vào một vật bằng gốm, và có vật dụng là có [dấu vết của] con người. Nhóm người chăn dê lần mò xuống thung lũng tìm kiếm, họ tìm thấy những mảnh gốm vỡ và các hang động. Trong các hang động là các cuộn da có chữ viết.
    Một chút về các bộ tộc Bedoin: họ là những người du mục nói tiếng Ả Rập, sống rày đây mai đó theo chân các đoàn gia súc đi tìm đồng cỏ. Khi gia súc ăn cạn nguồn cây cỏ, người chăn dẫn thú đi nơi khác. Nếp sống ấy tiếp nối qua cả ngàn năm nhưng ngày nay, tại những sa mạc kể cả vùng Trung Đông, ta vẫn tìm thấy các túp lều xiêu vẹo vá víu dưới chân núi. Vì lý do chính trị và quân sự, người Bedoin tại Israel và Jordan không còn được phép sống lang thang nữa, họ phải ghi danh theo sổ bộ địa phương và sinh sống tại một nơi cố định theo luật pháp.

    Nhóm Bedouin dạm bán các cổ vật tìm thấy, bắt đầu từ hai thương nhân từ giáo hội [Thiên Chúa] Syria, dẫn đến vị lãnh đạo nhà dòng tu viện Saint Mark tại Jerusalem, the Metropolitan Mar Athanase Samuel. Cùng lúc, các cuộn da có chữ viết khác được đem bán cho Giáo Sư Eleazar Sukenik của Hebrew University of Jerusalem. Vị giáo sư này nhận ngay ra sự quý hiếm của cổ thư và tìm cách mua lại mọi các cổ thư khác kể cả mấy cuộn da của Metropolitan Mar Samuel. Tuy nhiên các cổ thư ấy được cất dấu và đem rao bán tại Hoa Kỳ với giá cao; không bán được, năm 1954, ông Samuel bèn quảng cáo trên báo chí và truyền nhân của Giáo Sư Sukenik, ông Yigael Yadin, âm thầm dấu tên để mua lại. Do đó Israel giữ lại được các cổ thư này.

    Chỉ trong vòng hai năm sau ngày khám phá cổ vật, năm 1949, cuộc khảo cứu do linh mục Roland de Vaux, Giám Đốc the École Biblique et Archéologique de Jérusalem và ông Gerald Lankaster Harding, Giám Đốc the Department of Antiquities in Jordan lãnh đạo bắt đầu. Kế tiếp là sự hợp tác của các nhà khảo cổ Pháp, Anh và Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm khai quật, cất giữ cổ vật; họ tranh đua với các nhóm du mục Bedoin trước khi các di tích bị phá nát. Ngày ấy, Israel là một quốc gia mới thành hình, luật pháp lỏng lẻo và việc kiểm soát lãnh thổ chưa chặt chẽ nên cổ vật, các món quốc bảo đã bị bá tánh rầm rộ khuân vác đi nơi khác để bán cho được giá!

    Trong giai đoạn 1947 - 1955, hằng trăm hang động trong vùng Qumrān được “thăm viếng”, khai quật, trong số này, 11 hang động cất dấu 900 cổ thư gom góp từ cả mấy trăm ngàn mảnh da vụn trong bình gốm. Các chuyên gia cho rằng đây chỉ là một phần rất nhỏ vì khí hậu qua thời gian ngàn năm đã huỷ hoại khá nhiều cổ thư chưa kể những món bị đánh cắp, cất dấu.

    Những cổ thư kể trên ghi chép những gì? Cổ thư ghi chép các sinh hoạt tôn giáo của một giáo phái Do Thái trong giai đoạn trước thời Đền Thờ Jerusalem bị tàn phá năm 70 (Kinh thánh và lịch sử Israel dùng “Đền Thờ Jerusalem” “First Temple era” [bị tàn phá và xây dựng lại], “Second Temple era” [cũng bị tàn phá] làm mốc thời gian). Cổ thư được chia làm hai nhóm: ‘Kinh Thánh” và các [ghi chép] bên ngoài Kinh Thánh; các cổ thư liên quan đến Kinh Thánh Cựu Ước (chiếm 25% số cổ thư) rất gần gũi với các giáo luật của kinh thánh Do Thái và kinh thánh Thiên Chúa giáo trong khi các cổ thư khác bao gồm những lời diễn giải, ý kiến của tu sĩ về ý nghĩa của kinh thánh. Một phần của những lời diễn giải này được lưu truyền đến ngày nay qua kinh sách Do Thái / Thiên Chúa từ thời Trung Cổ. Tạm hiểu là có nhiều tương đồng trong kinh thánh Do Thái và Thiên Chúa giáo, từ nguyên thủy đến cách diễn giải.

    Đây là một khám phá quan trọng nhất của ngành khảo cổ trong thế kỷ XX. Khám phá này chẳng những ghi chép dấu vết của một nhóm người cổ xưa mà còn mang lại các chi tiết dẫn đến nhiều câu hỏi về nguồn gốc của đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa.

    Về mặt địa lý, di tích Qumrān là một quần thể rộng khoảng tám cây số vuông bao gồm nhiều tòa nhà với đầy đủ hệ thống dẫn nước, 8 hồ chứa nước và 2 bồn tắm. Các tòa nhà gạch lớn có cả lò sưởi dùng làm chỗ nấu nướng, và cả một tòa nhà nơi vị tu sĩ lãnh đạo ghi chép kinh kệ, ‘scriptorium’, với bàn ghế bằng gạch trộn đất nung và cả những lõm mực trên bàn. Nhà kho chứa nhiều đồ gốm và di tích có cả một lò nung để chế tạo vật dụng cần thiết, từ lu khạp, bình tích đến cối xay bột… Gần đó là một nghĩa trang chôn cất 1,100 bộ xương đàn ông; một nghĩa trang nhỏ hơn chôn cất khoảng 100 bộ xương phụ nữ và trẻ em. Nói giản dị là thủa ấy người chết được chôn cất theo giới tính, trẻ em được chôn cất chung với phụ nữ. Các di vật này cho thấy Qumrān là nơi trú ngụ của một nhóm cư dân ngày trước.

    Các cuộn da ghi chép dấu tích của nhóm cư dân kể trên, nhóm người Essenes. Về mặt nhân chủng, cộng đồng Essenes là những người Do Thái “ly khai”, tách rời khỏi bộ tộc gốc trong thế kỷ II trước Công Nguyên (khoảng 2200 năm trước đây) khi bị các lãnh đạo tôn giáo Jonathan Maccabeus và Simon Maccabeus truy đuổi. Cộng đồng Essenes trốn vào sa mạc, sinh sống và thành lập một xã hội với giáo hội Do Thái riêng. Sự khác biệt của các giáo phái Do Thái nằm trong cách diễn giải và thi hành các giáo luật từ Cựu Ước. Cộng đồng Essenes tập trung vào việc học hỏi, tìm hiểu kinh thánh, cầu nguyện và canh tác. Họ sống chung như một gia đình lớn, cùng ăn tại nhà ăn và cùng làm việc theo thời khóa biểu chung. Khái niệm sống theo “cộng đồng” kể trên vẫn còn tồn tại đến ngày nay qua hình thức “kibbutz”.

    Sau khi quân đội La Mã chiếm lãnh toàn cõi Judea, cộng đồng Essenes rời bỏ nơi sinh sống và tản mát, Qumrān bị bỏ phế từ đó nhưng di sản tinh tinh thần, các cuộn da ghi chép kinh thánh và cuộc sống hàng ngày, được chôn dấu cất giữ trong các hang động quanh vùng.
    Ngày nay tuy vẫn còn các giáo phái Do Thái khác tuyên xưng các giáo luật tương tự nhưng không giáo phái nào ghi nhận cộng đồng Essenes là tổ tiên họ.
    Hiện nay các cổ thư tìm thấy được lưu trữ tại viện bảo tàng quốc gia, Israel Museum, tại Jerusalem trong khi các cổ vật khai quật được cất giữ tại viện bảo tàng địa phương.

    Dưới đây là một số hình ảnh của Qumrān:

    Hình 1 – Hang động và núi đá

    KumranCave.jpg

    Hình 2& 3 – Viện bảo tàng

    KumranMuseum.jpg KumRan.jpg

    Hình 4 – Cổ thư

    KumranScroll.jpg

    Hình 5 – Các cổ vật

    KumranStorage.jpg

    Hình 6 – Hồ tắm (Ritual bath)

    KumranRitualBath.jpg

    Hình 7 – Lều của dân du mục Bedoin

    BedoinHomes.jpg
     
    p324530 likes this.
  4. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Galilee và làng Nazareth

    Galilee là một vùng đất phía bắc của Israel, khoảng 2.5 tiếng lái xe từ Jerusalem. Diện tích của vùng đất này “co giãn” theo thời đại nhưng tựu trung, vùng Galilee bao gồm Biển Galilee, những ngọn đồi, đồng ruộng, các thôn làng nói tiếng Ả Rập trong lãnh thổ Israel và cả các kibbutzim (cộng đồng gồm nhiều gia đình chung sống & làm việc như một đại gia đình), được nhắc đến trong kinh thánh Tân Ước của Thiên Chúa giáo và cả kinh Quran của Hồi giáo. Tạm hiểu Nazareth là một thánh tích của Thiên Chúa giáo, từ giáo hội La Mã đến giáo hội Chính Thống và Tin Lành.

    Biển Galilee (Sea of Galilee) tuy được gọi là “Biển” nhưng thực sự là một hồ nước ngọt, trên sách vở địa lý và bản đồ ngày nay là “Lake Kinneret”. Quanh vùng Galilee là những thánh tích, từ làng Nazareth quê nhà của Thánh Maria (mẹ Chúa Jesus và cũng là nơi Chúa Jesus khôn lớn) đến thung lũng Jordan và Akko, một di tích thời La Mã.

    Làng Nazareth, tên gọi được nhìn nhận bởi khối Ả Rập và Israel, (Jesus hay Nazarene theo tiếng Ả Rập) ngày xa xưa là một thôn làng nhỏ xíu, khoảng 35 ngôi nhà. Một trong những ngôi nhà ấy là nơi Bà Maria cư ngụ trong thời thơ ấu. Nền móng ngôi nhà ấy là nhà nguyện xây cất từ thế kỷ IV thời Byzantine, được tu bổ thay đổi nhiều lần trong các thế kỷ kế tiếp. Kiến trúc mới nhất được hoàn tất vào năm 1969 và được gọi là nhà thờ Truyền Tin (Basilica of the Annunciation) trực thuộc hội thánh Thien Chúa La Mã. Theo kinh thánh, đây là nơi Thiên Thần Gabriel báo tin bà Maria sẽ thụ thai và sinh ra đấng Cứu Thế.
    Bên trong nhà thờ là di tích bồn tắm (ritual bath) của gia đình bà Maria. Mái vòm theo hình thể hoa loa kèn, tượng trưng cho sự tinh khiết. Hai bên tường là những tác phẩm Mẹ bồng Con (Madonna and Child) theo hình thể địa phương, từ Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản… Đẹp nhất, theo ý riêng, là tác phẩm của Nhật Bản cẩn xa cừ và áo bà Maria có màu cobalt xanh biếc. Bên ngoài, hai bên hành lang cũng trưng bày những tác phẩm tương tự của Philippines, Đại Hàn, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Mexico… Có cả một bức tranh từ Việt Nam, Nữ Vương Hòa Bình.
    Ngôi nhà thờ kề cận, Church of Saint Joseph, tương đối khiêm nhường, tương truyền rằng đây là nơi ông Joseph (cha của Chúa Jesus) mở tiệm thợ mộc.

    Giếng nước trong làng thủa xưa được ghi nhận là giếng nước nơi bà Maria đi lấy nước, Mary’s Well. Tuy nhiên, theo kinh sách của hội thánh Thiên Chúa Chính Thống Hy Lạp (Greek Orthodox Church) thì giếng nước Maria lại nằm trong khuôn viên của nhà thờ ấy, cũng trong làng Nazareth.

    Theo sách vở, Chúa Jesus sinh trưởng trong vùng Judea và theo đạo Judaism, Do Thái Giáo, được “rửa tội” và sinh sống theo nghi thức đạo Do Thái, dùng nước để tẩy rửa trước khi vào đền thờ, và trong làng vẫn còn di tích một synagogue nơi Jesus đến dự lễ hàng tuần.

    Thôn làng Nazareth, ngoài các thánh tích, là những con đường ngoằn ngoèo, hai bên đường là các cửa tiệm buôn bán từ hoa quả đến vật gia dụng; hàng hóa bày lỉnh kỉnh đủ món thập cẩm, in hệt các món chế tạo từ... Hoa Lục! Trong làng cư dân nói tiếng Ả Rập và theo đạo Thiên Chúa, Arab Christian hay “Nasara”, và theo Hebrew “Notzrim”. Sự khác biệt về ngôn ngữ ngay trong một thôn làng nhỏ xíu ấy cho thấy một bức tranh đặc thù của vùng “xôi đậu”; mỗi nhóm cư dân tranh đấu cật lực để giữ lấy “truyền thống” của họ, bắt đầu từ ngôn ngữ đến trang phục và phong cách tế lễ theo tôn giáo riêng. Người Ả Rập ở đó, tuy cũng là tín đồ Thiên Chúa Giáo nhưng họ cử hành lễ theo hội thánh riêng.

    Dưới đây là một số hình từ thôn làng Nazareth:

    Hình 1 & 2 – Nhà thờ Truyền Tin (từ bên ngoài) - Basilica of the Annunciation

    AnnunChurchOutside.jpg AnnunciationChurch.jpg

    Hình 3 – Mái vòm trong nhà thờ

    Annun.ChurchRoof.jpg

    Hình 4 – 7 – các tác phẩm về Mẹ Maria (Tác phẩm bằng kim loại đến từ Hoa Kỳ)

    American Madona.jpg HallwayMadonna.jpg ThaiMadona.jpg
    VietMadonna.jpg

    Hình 8 – Di tích từ đền thờ Do Thái (tương truyền rằng ngày trước Jesus đã từng dự lễ ở đây)

    Church Synagogue.jpg

    Hình 9 – Đường phố Nazareth

    NazarethStreet.jpg
     
  5. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Galilee và làng Nazareth (2)

    Từ làng Nazareth, tín đồ hành hương có thể đi bộ theo con đường ngày trước Chúa Jesus đã đi qua để đến Biển Galilee giảng đạo. Con đường đất, the Jesus Trail, dài khoảng 40 dặm (65 cây số), đi qua những rừng olive, mạch nước suối xưa cũ và cả những di tích đã bị hư hại khá nhiều. Con đường hành hương được thành lập do sự hợp tác của các nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo, Hồi Giáo và cả Do Thái giáo (con đường đi qua các thôn làng của các nhóm cư dân này). Dế Mèn đi theo xe bus cho nhanh và đỡ mất sức & thời giờ, chỉ dừng chân ở những thánh tích.

    Trong vùng Galilee, Mount Tabor (Tavor) là một trong những thánh tích quan trọng của giáo phái Canaanite, được xem là “bàn thờ” (altar) nơi Tiên Tri Elijah (Elias) tranh luận với Tiên Tri Baal của giáo phái này trong thế kỷ II. Đây cũng là ngọn núi cao nhất trong vùng Galilee, nơi Chúa Jesus hiện ra cùng ông Moses và Elijah. Hai ngôi nhà thờ, Basilica of Transfiguration (hội thánh La Mã) và Church of Elijah (hội thánh Hy Lạp Chính Thống) nằm trên đỉnh núi. Phe ta đứng ngó từ lưng núi, tín đồ hành hương chật hai bên đường nên Dế Mèn tháo lui.

    Nhóm du khách dừng chân tại Tiberias ăn trưa tại hàng quán bên bờ Galilee. Thành phố nhỏ xíu nhưng rất quan trọng với các tín đồ Do Thái: Sau khi đền thờ tại Jerusalem bị phá huỷ, tín đồ tản mát và tụ họp tại đây để tiếp tục học giáo lý và phát triển đạo giáo. Từ nơi này, xuất hiện các kinh sách nổi tiếng của Do Thái giáo, kinh Mishnah do giáo chủ Rabbi Yehuda Ha-Nassi thực hiện trong thế kỷ II và Jerusalem Talmud trong thế kỷ IV. Dế Mèn không biết chi về đạo Do Thái nên không “cảm” được mức quan trọng của thánh tích này.
    *Bốn thánh tích quan trọng của đạo Do Thái bao gồm Jerusalem, Tiberias, Hebron và Safed. Các thánh tích quan trọng của đạo Thiên Chúa bao gồm Bethlehem noi Jesus ra đời, vùng Galilee nơi ngài khôn lớn và giảng đạo (Nazareth, sông Jordan), Jerusalem nơi Chúa chịu nạn và lên trời.

    Safed nằm trên đồi, cao khoảng 3,000 bộ Anh so với mặt biển. Nơi này được xem là trung tâm linh hồn của đạo Do Thái (Kabbalah) nơi các tu sĩ tụ họp để nghiên cứu và chuyển dịch cổ thư, các bộ kinh sách từ 2,000 năm trước viết bằng ngôn ngữ Armenia, một ngôn ngữ hầu như sắp mất dấu. Vị tu sĩ giải thích sơ sơ về tinh thần đạo Do Thái và lý do ông ấy từ một Tiến Sĩ Thần Học tại Đại Học Chicago lại dọn về đây sinh sống để được tu học và sinh sống như các giáo sĩ thủa trước, không gian với ‘hơi thở tổ tiên’ và kinh thánh đã giúp ông ấy hiểu rõ hơn về Kabbalah.
    Thôn làng có một con đường chính, cổng vào hai bên tường còn in vết đạn từ trận chiến the Yom Kippur War năm 1973. Nhóm du khách thăm viếng trong tuần kỷ niệm Lễ Vượt Qua (Pass Over) nên trừ những hàng quán của người Ả Rập, hàng quán Do Thái đóng cửa, và nơi nào mở cửa cũng chỉ có bánh không men (unleavened bread), ỉu và nhạt thếch cùng mấy món như hummus (đậu nghiền nát với tỏi và dầu olive), rau tươi và phó mát.
    Phe ta mua được một bức tranh sơn dầu nhỏ nhỏ, vẽ con đường lên đồi của một họa sĩ địa phương, màu sắc rực rỡ, đem về đóng khung treo tường, thỉnh thoảng ngó bức tranh lại nghĩ đến chuyến đi đầy ắp lịch sử và di tích.

    Dưới đây là một ít hình ảnh về Galilee và Safed.

    Hình 1 – Giếng nước bà Mary

    Marys'Well.jpg

    Hình 2 – Tòa thị chính của làng Nazareth (chữ Ả Rập)

    NazarethTownHall.jpg

    Hình 3 – Biển Galilee

    SeaGalilee.jpg

    Hình 4 – Cổng vào làng Safed

    SafedEntrance.jpg

    Hình 5 - 8 – Đường phố Safed

    SafedOldHouse.jpg SafedStreet.jpg
    SafedStore.jpg LocalTaxi.jpg

    Hình 9 – Tu sĩ Do Thái

    KababalahRabbi.jpg

    Hình 10 – Giáo lý Do Thái

    SafedKabbalah.jpg
     
  6. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Galilee và thung lũng Jordan

    Con tàu của Jesus: Năm 1986, dân chài địa phương tìm thấy một con tàu trong bùn đất. Khi định tuổi theo ngành khảo cổ, con tàu được xem là có số tuổi trên dưới 2,000 năm, cùng thời đại với chúa Jesus. Ngày ấy dân chài dung các con thuyền tương tự để đánh cá trong biển Galilee, và người ta cho rằng Chính Chúa Jesus cũng sử dụng con tàu tương tự. Ở vùng biển này, theo kinh thánh Tân Ước, Chúa đã làm phép lạ, biến hai con cá và một ổ bánh mì thành thực phẩm nuôi cả trăm người đang tụ họp nghe ngài giảng đạo. Nơi tìm thấy xác con tàu cũ nát, ngày nay là một viện bảo tàng trưng bày hình ảnh về cuộc khai quật.

    Gần đó là ngọn đồi Capernaum (tên cũ là Kfar Nahum), theo sách vở là nơi gia đình ông Thánh Phê Rô (St. Peter, vị Giáo Hoàng đầu tiên của hội thánh Thiên Chúa La Mã) sinh sống. Trước khi theo chân Chúa, ông Phê Rô tên tục là Simon, cùng vợ con sinh sống trong vùng Galilee. Kinh sách không nhắc chi đến gia đình ông Simon sau khi ông này theo chân Chúa đi giảng đạo. Cách Capernaum khoảng 3 cây số là Mount of Beatitudes, một ngọn đồi thấp; trên đồi là một ngôi nhà thờ khá lớn, Church of the Beatitudes, trực thuộc hội thánh La Mã và do các tu sĩ dòng Franciscan trông coi. Sát bên cạnh nhà thờ là di tích một synagogue tuổi cỡ 3,000 năm. Theo thánh thư, Mount of Beatitudes được xem là một thánh tích nổi tiếng nơi bài giảng nổi tiếng của Chúa Jesus hiện ra sau khi sống lại, và truyền dạy môn đệ đi rao giảng lời Chúa khắp nơi, the Sermon on the Mount.

    Bên trong nhà thờ bài trí khá giản dị; ngoài sân có tượng thánh Phê Rô; và nhà dòng Franciscan cũng gần đó.

    Sông Jordan (dòng sông có tên này từ năm 1948) là nơi Chúa Jesus được Thánh John de Baptist rửa tội, và các tín đồ Thiên Chúa giáo (bất kể từ hội thánh La Mã, Chính Thống Nga, Chính Thống Hy Lạp hoặc Tin Lành…) khắp nơi đến đây để chịu phép Rửa Tội. Họ mua hoặc thuê áo để mặc ra ngoài quần áo tắm khi ngụp đầu xuống nước.

    Ngoài các thánh tích, Biển Galilee (hay Hồ Kinneret) là hồ nước ngọt duy nhất trong vùng. Hồ nước khá lớn với diện tích khoảng 65 dặm vuông, nuôi sống cư dân trong vùng qua ngành chài lưới và nông nghiệp. Không lạ là các quốc gia trong vùng tranh giành ráo riết. Sông Jordan chảy qua hồ Kinneret từ bắc đến nam; có những khúc sông được chia đôi, một bên là lãnh thổ Israel, bên kia là lãnh thổ Jordan. Lính biên phòng súng ống đầy đủ canh gác ngày đêm, không biết có tín đồ nào đến những khúc sông này chịu bí tích Rửa Tội hay không? Năm nọ Dế Mèn đi chơi bên Jordan, cũng đến sông Jordan nhưng ngần ngại trước cảnh lính võ trang đầy mình nên chỉ đứng nhìn từ xa. Năm nay đến khúc sông Jordan nằm trong lãnh thổ Israel nên có vẻ thanh bình. Dưới nước bá tánh lội bì bõm, có cả mấy ông mục sư / linh mục đứng giảng đạo ngay mé nước và con chiên bổn đạo tụ họp chung quanh. Trên bờ sông là những bức tường ghi chép thánh kinh dưới nhiều ngôn ngữ. Tiếng Việt cũng có mặt ở đây.

    Một ít hình ảnh về “Jesus Boat” và sông Jordan (nơi bí Tích Rửa Tội có tên “the Yardenit”)

    Hình 1 – Viện bảo tàng Galilee

    BoatMuseum.jpg

    Hình 2 – Cổng vào viện bảo tàng

    GalileeBoat.jpg

    Hình 3 – Con tàu cổ xưa

    JesusBoat.jpg

    Hình 4 – Nhà thờ Beatitudes

    BeatitudesChurch2.jpg

    Hình 5 – Bia đá trên lối vào nhà thờ Beatitudes

    BeatitudesChurch.jpg

    Hình 6 – Bàn thờ – Nhà thờ Beatitudes

    BeatitudesAltar.jpg

    Hình 7 – Tượng gỗ trên tường – Nhà thờ Beatitudes

    BeatitudesChurch3.jpg

    Hình 8 – Tượng Thánh Phê Rô – Nhà thờ Beatitudes

    StPeter.jpg

    Hình 9 - Synagogue - Nhà Thánh Phê Rô

    StPetr'sHouse.jpg
     
    p324530 likes this.
  7. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Galilee và thung lũng Jordan (2)

    Hình 1 – Capernaum – Tấm biển đánh dấu hòn đá nơi Chúa Jesus làm phép lạ bánh và cá đủ ăn cho 5,000 người

    Capernaum.jpg

    Hình 2-5 - Nhà thờ Thiên Chúa Chính Thống Hy Lạp từ bên ngoài và bàn thờ bên trong.

    MensaChristi.jpg MensaChristi3.jpg
    MensaChristi2.jpg

    Hình 6-8: Yardenit: sông Jordan nơi Chúa Jesus được rửa tội

    Yardenit.jpg Yardenit2.jpg
    Yardenit3.jpg
     
    p324530 likes this.
  8. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Jerusalem

    Jerusalem (hay יְרוּשָׁלַיִם theo Hebrew và القُدس‎ theo Arabic) là một thành phố cổ trên mặt phẳng của dãy núi Judea, giữa Địa Trung Hải và Biển Chết (Dead Sea). Đây là một trong những thành phố cổ nhất trên thế giới và được xem là thánh địa của ba tôn giáo, Thiên Chúa, Do Thái và Hồi giáo, có chung một gốc rễ là ông tổ Abraham.
    Cả hai quốc gia Israel và Palestine đều gọi Jerusalem là thủ đô của đất nước họ.

    Trải qua nhiều thời đại, Jerusalem có nhiều tên gọi khác nhau: Trong khoảng thế kỷ XIV trước Công Nguyên, trên bia đá cổ Ai Cập ghi chép tên "Urusalim", có nghĩa "City of Shalem” dựa theo thần thánh từ triều đại Canaanite. Trong thời Israelite, thế kỷ IX trước Công Nguyên, thành phố được xây cất rầm rộ, và một thế kỷ sau, Jerusalem trở thành trung tâm tôn giáo và hành chánh của Kingdom of Judah. Sách vở ghi chép tên gọi “City of David” (một phần của Jerusalem) từ thế kỷ IV trước Công Nguyên (BCE). Trước đó, cổ thư Ai Cập đã đề cập đến “Rušalim” từ thế XIX trước Công Nguyên và “Urušalim” đã được ghi chép trong cổ thư Amarna letters of Abdi-Heba, năm 1330 trước Công Nguyên). Sử gia cho rằng hai tên gọi kể trên đề cập đến Jerusalem. Tạm hiểu là Jerusalem đã hiện diện trong sách vở rất lâu đời, từ nhiều ngàn năm nay.

    Là một thành phố tuổi nhiều ngàn năm, Jerusalem mang nặng chuỗi lịch sử đầy những cuộc chiến tranh, chịu tấn công, tàn phá, cướp bóc, chiếm giữ và ít nhất là hai lần, thành phố bị hoàn toàn phá huỷ, san thành bình địa. Năm 1538, Jerusalem được vua Suleiman the Magnificent xây cất lần sau cùng, tường thành từ thủa ấy vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
    Từ thế XIX, thành phố cổ được chia làm bốn khu vực dựa trên bốn nhóm tôn giáo có nhiều cư dân nhất: Armenian (một giáo phái Thiên Chúa giáo, không trực thuộc hội thánh La Mã), Christian (Thiên Chúa giáo), Jewish (Do Thái giáo), và Muslim (Hồi giáo). Từ năm 1860, thành phố bắt đầu được mở rộng bên ngoài tường thành cũ để đáp ứng nhu cầu phát triển của cư dân. Tính đến năm 2015, Jerusalem có khoảng 850,000 cư dân; 200,000 cư dân theo đạo Do Thái ‘cấp tiến” (không còn thuần nhất như đạo chính gốc nhưng vẫn tự nhận là “Jewish”), 350,000 tín đồ Do Thái thuần thành (gọi chung là nhóm “Haredi Jews”, các giáo hội Do Thái áp dụng chặt chẽ mọi giáo luật, mỗi chi nhánh có synagogue và giáo chủ riêng) và 300,000 người Palestine sinh sống trong khu vực phía đông thành phố, khu vực này là lãnh thổ của quốc gia Palestine (theo sự chia cắt của Anh, the British Mandate) khi vùng Judea còn là thuộc địa của Hoàng Gia Anh.

    Theo kinh thánh Do Thái, vào thế kỷ X (khoảng năm 993) trước Công Nguyên, sau khi chiếm được đất đai từ người Jebusites, vua David là ông tổ dựng nước Israel, đặt thủ đô tại Jerusalem. Do đó, Jerusalem còn có tên “City of David”. Vị vua kế nghiệp, vua Solomon, xây dựng ngôi đền thờ thứ nhất, the First Temple. Những dữ kiện lịch sử này ngoài ý nghĩa tôn giáo còn là nền tảng lập quốc của Israel.
    Theo kinh thánh Septuagint, một bản dịch từ nguyên tác Hebrew của giáo hội Thiên Chúa Chính Thống Hy Lạp (Greek Orthodox Church) trong thế kỷ III-II trước Công Nguyên, Jerusalem là thánh địa của Thiên Chúa giáo, niềm tin này được củng cố sau khi Jesus chịu đóng đinh và tử nạn tại Jerusalem theo kinh thánh Tân Ước.
    Theo giáo phái Hồi giáo – Sunni, Jerusalem là thánh địa quan trọng thứ ba sau Mecca và Medina. Trong kinh Quran, năm 610 là năm đầu tiên, the first qibla, và 10 năm sau Giáo Chủ Muhammad đã đến Jerusalem trong đêm tối, the Night Journey; đã lên trời hầu chuyện cùng Thượng Đế.

    Với những chi tiết ghi chép từ thánh kinh của ba tôn giáo kể trên, dù diện tích chỉ vỏn vẹn trên dưới một (1) cây số vuông, Jerusalem trở thành thánh địa và được (bị?) các tín đồ tranh giành. Các thánh tích quan trọng bao gồm the Temple Mount (nằm trong lãnh thổ của Palestine) nhưng bức tường [phía] Tây (Western Wall hay Wailing Wall) bên ngoài lại là thánh địa Do Thái tín đồ cầu nguyện); Dome of the Rock và al-Aqsa Mosque thuộc về Palestine, thánh địa này chỉ mở cửa rất giới hạn, Dế Mèn đến đó chỉ được đứng từ xa mà ngó bên ngoài đền thờ; và Church of the Holy Sepulchre, thánh địa của Thiên Chúa giáo nơi Jesus tử nạn.

    Với một lịch sử lâu đời và phức tạp như thế, Jerusalem vẫn tiếp tục là nơi tranh chấp của hai quốc gia Israel &Palestine. Trong trận chiến Arab–Israeli War năm 1948, West Jerusalem do Israel chiếm giữ trong khi East Jerusalem, bao gồm cả Phố Cổ, do Jordan chiếm giữ. Trong trận Six-Day War năm 1967, quân đội Israel chiếm được East Jerusalem và khu vực lân cận. Israel ban hành đạo luật “the 1980 Jerusalem Law” đoan quyết rằng Jerusalem là thủ đô không thể chia cắt của quốc gia họ dù cộng đồng quốc tế không nhìn nhận tính cách hợp pháp của việc chiếm giữ East Jerusalem; khu vực này vẫn được thế giới xem là lãnh thổ của Palestine và là vùng “tạm chiếm”.
    Bất kể áp lực quốc tế, Israel đặt cơ quan hành chánh tại Jerusalem, quốc hội (the Knesset) và các công thự như dinh tổng thống (Beit HaNassi), dinh thủ tướng (Beit Aghion) … đều nằm tại Jerusalem, bên ngoà Phố Cổ.

    Bản đồ Phố Cổ (Old City) - Jerusalem ngày nay:

    jerusalem-old-city-7.jpg

    Cư dân gốc Israel và theo đạo Do Thái (Zionism) cho rằng Jerusalem thuộc về họ vì tổ tiên đã sinh sống ở đó trên dưới 5,000 năm trong khi cư dân Palestinian cho rằng tổ tiên họ cũng sinh sống trên mảnh đất ấy dù chỉ mới trên dưới 1,000 năm, và do đó Jerusalem là đất tổ bất kể ai đến trước đó. Dù East Jerusalem nằm gọn trong lãnh thổ Israel, khu vực nhỏ xíu này treo cờ Palestine, chưng bảng cấm cư dân Do Thái, và do quân đội / cảnh sát Palestine tuần hành.

    Năm 1981, Jerusalem được ghi tên trên danh sách Di Sản Thế Giới.
     
    p324530 likes this.
  9. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Jerusalem – Phố Cổ

    Vua David đặt hoàng thành tại Jerusalem trong thế kỷ X trước Công Nguyên, trải qua nhiều thời đại, hoàng thành bị phá huỷ rồi xây cất lại. Đến triều vua Herod (thế kỷ I), hoàng thành được mở rộng và nền móng được giữ lại cho đến ngày nay. Sau những trận chiếm đẫm máu, Jerusalem bị san thành bình địa và bỏ phế cho đến khi vua Suleiman the Magnificent, vị sultan lừng lẫy nhất của triều đại Ottoman, xây cất lại vào năm 1538. Bao quanh thành phố là một tường thành cao cỡ 12 thước với những khúc tường thành được xây cất trên nền đá cũ của tường thành cổ xưa. Tương truyền rằng vua Suleiman nằm mộng thấy thần linh biểu rằng phải xây thành Jerusalem, nếu không sẽ bị cọp nuốt. Nhà vua bèn gửi kiến trúc sư và kỹ sư sang thuộc địa xây thành quách trên gạch đá vụn (thành Jerusalem thủa ấy bị hư hại khá nhiều sau các trận đánh của quân Thập Tự trong thế kỷ XIII). Phố Cổ nằm trên một mặt phẳng, bên dưới là thung lũng Kidron và chung quanh là các ngọn đồi lớn nhỏ.
    Thành Jerusalem có tám cổng vào nhưng ngày nay chỉ còn bảy: Jaffa, Damascus, Dung, Zion, Lion (cũng có tên là St Stephen) và Golden Gate (hay Gate of Mercy). Quanh những cổng vào này là các địa danh nổi tiếng. Từ Rehavam Ze’evi Observation Point nằm trên triền đồi Olives (Mount of Olives), ta có thể nhìn chung quanh và thấy khá nhiều thắng tích, từ Temple Mount với Dome of the Rock thếp vàng rực rỡ, nóc các ngôi nhà thờ lớn nhỏ, đại học Hebrew và cả khu nghĩa trang Do Thái nơi chôn cất các tiên tri Haggai, Malachi và Zechariah, các quý tộc từ thế kỷ I… Đây là nơi các tín đồ Do Thái thuần thành đều muốn được chôn cất (khái niệm khi chết được về Đất Thánh, từa tựa như người Ấn Độ muốn được hỏa thiêu bên sông Hằng) nhưng ngày nay đất đai có hạn, chỗ đâu để dùng? Từ đó, nảy sinh những mẩu chuyện về người giàu đi tìm truyền nhân của kẻ chết để mua lại đất đai.

    Khu Phố Cổ nhỏ xíu nhưng mang theo lịch sử ngàn trang; cứ vài mươi bước chân là ta lại “gặp” một di tích, nơi được xem như chỗ Jesus đi qua, chỗ tiên tri / giáo sĩ Do Thái giảng đạo… Người dẫn đường vừa đi vừa giải thích, Dế Mèn lắng nghe được khoảng một, hai tiếng đồng hồ là lỗ tai lùng bùng, đành đứng nhìn quanh rồi chụp hình ảnh để dành chờ lúc về phòng trọ đọc sách vở tìm hiểu thêm.

    Phe ta vào Phố Cổ ngày đầu tiên qua Dung Gate, tường thành phía nam; ngày xưa cổng này là nơi cư dân đổ và mang rác ra khỏi thành phố (chữ “dung” trong Anh ngữ là phân thú vật, có lẽ cùng nghĩa với chữ “phế thải” của Hebrew?). Ngày nay cổng được mở rộng để taxi và xe bus có thể ra vào dễ dàng. Đi bộ chút xíu từ cổng vào là ta thấy một công trường rộng lát đá, Azarat Israel Plaza, dẫn đến Wester Wall hay Wailing Wall, nơi các tín đồ Do Thái đến cầu nguyện hàng tuần, nhất là tuần lễ Pass Over. Trước khi vào cầu nguyện tín đồ đến bồn nước giữa công trường rửa tay, một hình thức “tẩy uế” cho trong sạch, bằng một vật chứa có hai quai xách, để tay [đã rửa] sạch không sờ vào quai bẩn. Khuôn viên trước bức tường đá được ngăn làm hai phần, đôi bên nam nữ cầu nguyện riêng. Phụ nữ trùm khăn che kín tóc tai, váy dài dưới đầu gối và đi vớ đen, giày đen; để che dấu tóc thật, nhiều phụ nữ đội tóc giả thay thế khăn trùm đầu. Giữa các tảng đá trên tường là các khe hở, bá tánh viết giấy kê khai ước nguyện rồi gấp nhỏ và nhét mảnh giấy vào các kẽ hở. Không biết có ước mơ nào thành hình hay không, riêng Dế Mèn cũng cầu mong bình an cho mình và thân nhân. Đến hôm nay khi ngồi gõ những dòng này kể chuyện thăm viếng Israel với bạn đọc cũng đang được bình an như ý nguyện nên hoan hỷ lắm.

    Người Do Thái gọi nhà nguyện của họ là “synagogue”, không gọi là “temple”; lịch sử Do Thái chỉ nhìn nhận có hai đền thờ được xây cất và bị phá huỷ. Nền tảng của đền thờ được sách vở ghi chép là “Temple Mount”. Đền thờ đầu tiên do vua Solomon xây cất trong thế kỷ X trước Công Nguyên, bị phá huỷ vào năm 585 trước Công Nguyên; đền thờ thứ nhì do cư dân xây cất trên nền đất cũ trong khoảng năm 525-516 trước Công Nguyên và được vua Herod mở rộng nên có tên Herod’s temple. Đền thờ này bị phá huỷ bởi quân La Mã năm 70. Các thành quách dinh thự cổ ta thấy ngày nay cũng được xây cất trên nền cũ, “Temple Mount”, nổi tiếng nhất là Dome of the Rock và Al Aqsa Mosque sau khi quân Hồi giáo chiếm đóng Jerusalem, và khu đất này trở thành thánh địa của Hồi giáo.

    The Western Wall hay Kotel Ha-Ma‘aravi theo Hebrew do vua Herod xây cất để bao bọc đền thờ gồm nhiều dinh thự, trường thành xây theo ba mặt đông, tây và nam. Tường xây bằng những tảng đá. Tảng đá lớn nhất cao khoảng 3.6 thước, dài 14 thước và nặng khoảng 400 tấn! Không biết thủa xa xưa ấy người ta làm thế nào để khuân các tảng đá ấy đến đây và xếp đá chồng lên nhau? Sách vở ghi chép rằng người La Mã đã xây thành Jerusalem ròng rã suốt 11 năm!
    Western Wall được dân Âu Châu đặt tên “Wailing Wall” hay Bức Tường Than Khóc vì dân Do Thái đến đây kêu than về nỗi mất đền thờ (“Temple”) hoặc thề nguyền sẽ quang phục đất tổ và xin đất trời chứng giám. Tín đồ Do Thái tay cầm thánh kinh, tay sờ bức tường và thân mình đưa tới đưa lui nhịp nhàng. Nhìn ngắm các tín đồ cầu kinh ta mới “thấm” phần nào lòng thành tín của họ và dù không đồng tâm hợp ý, Dế Mèn cũng bắt đầu hiểu tại sao máu đổ triền miên cả mấy trăm năm vì tranh giành đất đai.

    Từ Western Wall, phe ta lần mò theo nhóm du khách vào đường hầm qua ngả Robinson’s Arch. Bên trong là cả một thành phố dưới lòng đất, đầy đủ bể chứa nước, hồ tắm (ritual bath), lối đi, các bậc thang lên xuống, những phòng ốc nhỏ nhỏ là nơi thờ phượng xưa cũ… Tóm tắt là khu Phố Cổ không chỉ bao gồm các dinh thự ta nhìn thấy trên mặt đất mà còn những kiến trúc khác sâu dưới lòng đất. Dế Mèn nghe kể rằng sau trận chiến tranh 6 ngày năm 1967, Israel chiếm lại một số đất đai của Palestine, khi các nhà khảo cổ Israel khai quất đào xới đã tìm thấy vô số các cổ vật quý giá nhưng bị người Palestine kêu gào đòi chủ quyền vì Phố Cổ nằm trong lãnh thổ Palestine. Tất nhiên là người Do Thái căm hận lắm vì các cổ vật ấy mang số tuổi ngàn năm, có nguồn gốc Israel trước khi đất đai bị quân Hồi giáo chiếm cứ. Ngoại trừ các đường hầm dọc theo Western Wall sau khi được khám phá và mở cửa cho du khách đến xem, từ đó (khoảng năm 1980-82), Israel bị cấm ngặt không được phép đào xới tìm hiểu chi nữa dưới phần đất của Palestine.

    Dưới đây là một số hình ảnh về Phố Cổ tại Jerusalem

    Hình 1 – Thành phố cũ và mới nhìn từ triền đồi Mount of Olives, xa xa là nóc Dome of the Rock (Qubbat Al-Sakhra) thếp vàng lấp lánh:

    JObservationPt.jpg

    Hình 2 – Đền thờ Hồi giáo El Aksa, từ bên ngoài:

    J.AlAqsaMosque.jpg

    Hình 3 – Nghĩa trang Do Thái nhìn từ trên đồi:

    JCemetary2.jpg

    Hình 4 – Cổng vào Dung Gate:

    JDungGate.jpg

    Hình 5&6 – Western Wall:

    JWesternWall.jpg WesternWall.jpg

    Hình 7&8 – Bồn nước & cách rửa tay

    JWaterFountain.jpg handwashing.jpg

    Hình 9 – Đường hầm bên dưới Western Wall, cũng có tín đồ cầu uy

    WWallBelow.jpg

    Hình 10 - Western Wall, khu nam phái cầu nguyện:

    WWallManside.jpg
     
    p324530 likes this.
  10. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Dolorosa - Đàng Thánh Giá (Way of Sorrow)

    Ngay trong Phố Cổ của Jerusalem, chỉ vài trăm bước là ta đi từ thánh tích Hồi giáo qua đến thánh tích Thiên Chúa giáo. Không được vào nhìn ngắm Temple of the Rock, thánh địa Hồi giáo với đền thờ El Aksa nơi lưu trữ khoảng chục sợi tóc của Giáo Chủ Muhammed, và chỉ có tín đồ mới được vào chiêm bái, phe ta lần theo đường hầm Hasmonian với những tảng đá vài ngàn tấn nằm sâu dưới lòng đất để đến chặng đầu tiên của Đàng Thánh Giá, nhà nguyện Xử Tội (Chapel of Condemnation) và nhà nguyện Quất Roi (Chapel of Flagellation), mấy chục bước phía bên phải là nhà thờ Thánh Anne (Thánh Anne là mẹ bà Maria, mẹ Chúa Jesus). Đây là một nhà thờ tương đối mới, ở một vùng đất cổ xưa như Jerusalem, món chi dưới 5,000 năm được xem là “mới”, xây cất trong thế kỷ XII, thời quân Thập Tự; bên cạnh là hồ Bethesda nơi Jesus chữa lành kẻ liệt. Nhà thờ thì còn nguyên nhưng hồ Bethesda ngày nay chỉ còn là những tảng gạch vụn.

    Condemnation & Flagellation là điểm khởi đầu của 14 chặng đường khổ nạn của Jesus, đây là nơi Jesus bị đem ra xử tội và đánh đòn. Sách vở ghi chép rằng trên con đường đá ngoằn ngoèo Jesus đã vác thánh giá đi qua, đã ngã xuống ba lần. Mỗi đoạn đường đánh dấu bởi một biến cố, nơi ngài ngã xuống, được gặp mẹ, được trợ giúp…, ngày nay là nhà nguyện, là một cổng đá… Những trạm này do các giáo hội Thiên Chúa giáo xây cất và bảo trì. Tùy theo giáo hội, bên trong nhà nguyện bài trí khác nhau. Đặc điểm của giáo hội Chính Thống Hy Lạp là các ngọn đèn treo từ trần nhà, đèn lù mù ít ánh sáng và tín đồ chiêm bái đều trùm khăn trên đầu. Nhà nguyện của giáo hội La Mã tương đối sáng sủa và bài trí giản dị hơn.

    Chặng thứ ba là nơi Jesus ngã lần thứ nhất, nhà nguyện này do giáo hội La Mã xây cất theo kiểu Ba Lan, chặng thứ tư là một cổng đá có tượng bà Maria nắm tay con và Jesus vác thập tự trên vai; chặng thứ năm là một cổng đá nơi dòng tu Francisco có phòng thuyết giảng giáo lý; chặng thứ sáu nơi thánh Veronica lau mặt cho Jesus…. Và năm chặng cuối cùng ngày nay là nhà thờ Holy Sepulchre, do nhiều giáo hội Thiên Chúa xây cất và bài trí, phần của giáo hội La Mã, phần của giáo hội Chính Thống Hy Lạp, phần của nhà thờ Armenia.
    Giáo hội La Mã xây cất nhà nguyện nới Chúa bị lột áo (Chapel of the Stripping [of Jesus’] Garment); giáo hội Hy Lạp xây bàn thờ nơi Jesus bị đóng đinh và bàn thờ nơi Jesus tắt hơi, trước mặt là tảng đá nơi đặt xác, Stone of Anointment. Tín đồ thuần thành mang hình tượng và những vật dụng đến đây cầu xin phép lạ; họ quỳ gối, hôn lên tảng đá, có người rạp đầu bái lạy. Nhà thờ tối thui lại không cho phép dùng đèn nên hình ảnh lù mù, tối tăm. Đành vậy.
    Chặng cuối cùng là nơi Jesus được mang vào hầm mộ (thủa xa xưa, người Do Thái chôn cất bằng cách mang xác vào các hang đá), nơi này được xem là thánh địa của Thiên Chúa giáo; bá tánh xếp hàng lòng vòng để được vào hầm mộ, thời gian chờ đợi dài đến ba tiếng nên Dế Mèn chịu thua, chỉ chụp tấm hình từ nóc hầm mộ rồi thôi.

    Hôm Dế Mèn đến thăm thánh địa Thiên Chúa giáo, ở đó cả ngàn tín đồ hành hương, từng nhóm từng nhóm người trong đủ kiểu trang phục màu sắc, người người xếp hàng lòng vòng chờ đến phiên mình thắp nến, quỳ lạy…. ở mỗi hình tượng. Tiếng cầu kinh, tiếng thì thầm chỉ dẫn của tour guide… và bên trong nhà thờ đầy các thánh tích, dày đặc khói nến, hơi người và thán khí nên khó thở vô cùng. Dù muốn tẩn mẩn đứng xem từng bức tranh, từng tảng đá… nhưng phe ta cũng đành thôi. Tiếc lắm.

    Một ít hình ảnh về Đàng Thánh Giá:

    Hình 1 – Lối vào Đàng Tháng Giá
    WayofCross.jpg

    Hình 2 - Nhà nguyện Condemnation & Flagellation
    Flagellatechurch.jpg

    Hình 3 & 4 – Tín đồ hành hương, nữ tu giáo hội Chính Thống Hy Lạp mặc quần áo đen từ đầu đến chân
    GreekNuns.jpg the faithful.jpg

    Hình 5 – Chặng 3: Chúa Jesus ngã lần thứ nhất
    Station3.jpg

    Hình 6 – Chặng 4: Chúa gặp bà Maria
    Station4.jpg

    Hình 7 – Chặng 5: Ông Simon vác thánh giá giúp Jesus
    Station5.jpg

    Hình 8 – Nhà thờ Sepulchre, bên ngoài
    HolySepulchre.jpg

    Hình 9 – Anointment Stone
    JesusStone.jpg

    Hình 10 - Hầm mộ
    JesusTomb.jpg
     
    p324530 likes this.
  11. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Mount of Olives và Garden of Gethsemane


    Ở chân Đồi Olives có khu vườn Gethsemane (hay Gaḏ Šmānê có nghĩa là "oil press", ép dầu [ô liu]), một thánh tích quan trọng của Thiên Chúa giáo. Tương truyền rằng đây là nơi Jesus cầu nguyện, ngài trăn trở thao thức trước ngày bị bắt và đem xử tội trong khi các môn đồ đều say ngủ. Do đó, khu vườn nơi cư dân thủa ấy trồng và ép dầu ô liu còn có tên là Vườn Thống Khổ, Garden of Agnony.
    Trong vườn là những cây ô liu già cỗi, có ba gốc cây được định tuổi trên dưới 1,000 năm và được xem là cây ô liu “già” nhất thế giới. Có cả tảng đá nơi Jesus ngồi thao thức (?) theo truyền thuyết của hội thánh La Mã. Tuy nhiên cách khu vườn khoảng chục thước, cũng trong khuôn viên của tu viện là một tảng đá khác, lớn hơn, được hội thánh Tin Lành cho rằng đó mới là nơi Jesus cầu nguyện. Tạm hiểu là cũng trong khu vườn này, mỗi hội thánh đánh dấu một tảng đá và cho rằng đó là nơi Jesus cầu nguyện & thao thức; và tín đồ tùy theo lòng tin cứ đến tảng đá ấy mà chiêm bái, thờ lạy.

    Bên cạnh vườn Gethemane là ngôi nhà thờ Basilica of the Agony, còn có tên “The Church of All Nations”, trực thuộc hội thánh La Mã. Ngôi nhà thờ tương đối mới, xây năm 1924, trên nên tảng của hai ngôi nhà thờ cổ, nhà thờ cổ nhất xây trong thế kỷ IV thời Byzantine và nhà thờ thứ nhì trong thế kỷ XII, thời quân Thập Tự.
    Nhà thờ được xây cất dưới sự tài trợ của 12 quốc gia, mỗi quốc gia đóng góp đều có huy hiệu trên mái vòm: Argentina, Brazil, Chile, Mexico, Italy, France, Spain, Anh, Belgium, Canada, Germany, và Hoa Kỳ. Ngoài ra, các công trình bài trí được tài trợ bởi bốn quốc gia khác: Ireland, Hungary, Poland và Australia. Mỗi quốc gia đóng góp đều được long trọng ghi tên ở cổng vào!
    Với mái vòm, các cột đá và mặt tiền dát gạch vụn, nhà thờ có kiểu dáng “Tân Cổ Điển”.

    Cạnh vườn Gethsemane là huyệt mộ của bà Maria, trên mặt đất là nhà thờ, ngôi nhà thờ trông không có chi đặc biệt nhất là khi phe ta đã nhìn ngắm trên dưới cả trăm ngôi nhà thờ, nhà nguyện lớn nhỏ trước khi đến thánh địa này. Đường xuống mộ tối lù mù nên Dế Mèn chụp không ra hình ảnh.


    City of David – Thành David

    Citadel of David nằm trên Đồi Zion (Mount Zion), ngọn đồi thấp bên ngoài tường thành của Phố Cổ Jerusalem. Ngọn đồi này cũng được gọi là “Đồi Tây” hay “Western Hill” trong một số sách vở xưa cũ.
    Dù thành quách đã bị phá huỷ cả ngàn năm nhưng gạch đá còn lại vẫn ghi chép dấu vết của thời đại cổ xưa. Con cháu dân Israel thu góp gạch đá và xây dựng lại những tòa nhà mới để thờ phượng tổ tiên. Lăng mộ Vua David nằm trên Đồi Zion, đây là nơi thờ phượng của tín đồ Do Thái nên nam nữ riêng biệt và ngay bên cạnh là Coenaculum nơi Jesus và môn đệ ăn bữa tối, the Passover Seder và cũng là bữa ăn cuối cùng, The Last Supper.

    Một vài hình ảnh từ Đồi Olives và Đồi Zion:

    Hình 1 – Cổng vào Vườn Gethsemane

    Gethsemane.jpg

    Hình 2 – Cây Olive tuổi ngàn năm trong Vườn Gethsemane

    GethemaneOlive.jpg

    Hình 3 – Tảng đá Jesus cầu nguyện trong Vườn Gethsemane

    ProtestantStoneGethsemane.jpg

    Hình 4 – Basilica of Agony

    AllNationsChurch.jpg

    Hình 5 – US huy hiệu trong nhà thờ Agony

    USEnblemGethesemane.jpg

    Hình 6 – Lăng mộ vua David, nơi tín đồ Do Thái chiêm bái & cầu nguyện

    DavidTomb.jpg

    Hình 7 & 8 – Cổng vào Phòng Tiệc Ly

    LastSupper.jpg LastSupper2.jpg

    Hình 9 – Bên trong phòng Tiệc Ly bài trí với cửa kính kiểu Ả Rập và cũng có tưởng thờ kiểu La Mã. Khi chiếm giữ đất đai, quân Hồi giáo giữ lại một số thánh tích Thiên Chúa giáo trong vùng; tạm hiểu là Hồi giáo nhìn nhận sự hiện diện của Jesus như một đấng tiên tri dù không tin rằng ngài là Chúa Cứu Thế.

    LastSupperRoom.jpg
     
    p324530 likes this.
  12. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Jerusalem, các thắng tích “mới” - 1

    Ngoài các khu vực được chia cắt theo “lịch sử” [và các cuộc tranh chấp chính trị] trong Phố Cổ như khu Do Thái giáo, khu Hồi giáo (Muslim Quarter), Thiên Chúa giáo và khu Armenia (theo Thiên Chúa giáo chính thống), Muslim Quarter, dù chỉ vẻn vẹn vài trăm thước vuông, nằm trong lãnh thổ Palestine và đề bảng cấm người Do Thái lai vãng. Năm ngoái đã có tín đồ Do Thái bị một người Palestine đâm chết ở đây. Người dẫn đường cho biết rằng họp đoàn với du khách ngoại quốc là một cách an toàn nhất khi lanh quanh trong khu phố nhỏ xíu kia vì cư dân hiểu rằng du lịch mang đến lợi nhuận nên ít khi tấn công du khách (?) và bà ấy đã đi khá nhanh khi qua chặng đường thứ nhất của Đàng Thánh Giá (ngày nay nằm trong lãnh thổ Palestine). Các khu phố còn lại nằm trong lãnh thổ Israel nên cờ quạt rầm rộ.


    Yad Vashem

    Ra khỏi Phố Cổ là những con đường ngoằn ngoèo lên đồi xuống dốc của thành phố. Địa danh nổi tiếng nhất là Đồi Tưởng Niệm, Mount of Remembrance, nơi Yad Vashem tọa lạc. Nơi này là những khu vườn lớn nhỏ, nhiều tòa nhà và đài kỷ niệm do thân nhân và những người Do Thái lưu vong tài trợ, tất cả đều chung mục đích ghi chép tội ác của quân đội Nazi và để nhắc nhở con cháu họ cũng như người thế giới về tội ác diệt chủng khủng khiếp. Quan trọng nhất là Holocaust museum, viện bào tàng có lượng lưu trữ lớn nhất các tài liệu về Holocaust, trận thảm sát 6 triệu người Do Thái khắp Âu Châu của quân đội Nazi, từ hình ảnh, quần áo, sách vở đến các bản thu âm của chương trình truyền thanh, truyền hình và các bài phỏng vấn người sống sót. Nạn nhân đến từ nhiều quốc gia, nói nhiều thứ tiếng khác nhau nhưng tựu trung đều là tín đồ Do Thái hoặc có cha mẹ, vợ / chồng là tín đồ Do Thái.
    Viện bảo tàng nhìn từ trên đồi có hình ống, nóc lợp kính để lấy ánh sáng, hình dạng của một đường hầm hun hút, tượng hình cho con đường khổ nạn tăm tối của người Do Thái lưu vong, từ lúc bị bắt, bị phân loại, bị đầy ải, bỏ đói cho đến bị giết. Đặc biệt nhất trong các tài liệu triển lãm là mấy lá thư kêu cứu (bản phụ?) của các rabbi, cầu xin hội thánh La Mã can thiệp, giúp đỡ người Do Thái và không được hồi âm. Hẳn trong giai đoạn ấy, hội thánh La Mã chẳng có vị thế chính trị quan trọng nào để lên tiếng?
    Hình ảnh, vật dụng trưng bày cho người xem là Dế Mèn đây một cảm giác nôn nao buồn nôn, cộng thêm nỗi bàng hoàng vì kinh sợ cái ác. Khách thăm viếng đều im lặng, chỉ có tiếng thì thào giải thích của những người dẫn đường. Dế Mèn đã đến Dachau, đã thấy các vòng kẽm gai, đã thấy lò gas năm xưa…, nhưng đến đây thì mới “cảm” được mức vĩ đại của chiến dịch tiêu diệt 6 triệu con người theo một hệ thống sắp đặt sẵn. Làm thế nào mà Hitler chiêu dụ được cả mấy trăm ngàn người tin theo, vâng lời ông ấy để đi cướp của, giết người?

    Bên cạnh viện bảo tang là một tòa nhà khá lớn có hình dạng như nhà mồ, Hall of Remembrance, bên trong không bày biện gì ngoài một tảng đá lớn đặt trên nền nhà, ghi chép tên các trại tập trung và các địa điểm nơi Nazi giết người hàng loạt; ở giữa là một đốm lửa cháy ngày đêm, eternal light. Ngoại trừ đốm lửa leo lét và chút ánh sáng từ vài khung từ trần nhà, tòa nhà mang vẻ âm u, buồn bã. Đây là nơi tưởng niệm, có tính cách tôn giáo nên khách thăm viếng phái nam đều phải đội mũ che đầu, yarmulke.
    Bên ngoài tòa nhà là Avenue of the Righteous Among the Nations nơi cộng đồng Israel ghi nhớ ơn đức ân nhân, những người đã liều mạng che chở, giúp đỡ dân Do Thái trong các cuộc càn quét của quân đội Nazi. Nổi tiếng nhất có lẽ là ông Oskar Schindler (xác được mang về Israel để chôn cất tại Mount of Olives như một vĩ nhân và câu chuyện được dựng lại trong cuốn phim đen trắng lẫy lừng Schindler’s List của đạo diễn Steven Spielberg) và Công Chúa Alice của Hy Lạp. Bà công chúa này là mẹ của Hoàng Tử Philip và mẹ chồng của Nữ Hoàng Anh Elizabeth đang tại vị, đã che dấu một số người Do Thái trong cung điện trong suốt 13 tháng cho đến khi Hy Lạp được giải phóng. Qua đời tại Anh nhưng bà công chúa được chôn cất theo ý nguyện tại Mount of Olives, trong nhà thờ Thánh Mary Magdalene của hội thánh Thiên Chúa Chính Thống Hy Lạp.

    Valley of the Destroyed Communities và Children of the Holocaust là các đài tưởng niệm khác trong vùng đồi núi này. Khoảng 6 triệu ngọn cây được trồng ở đây, mỗi ngọn cây cho một nạn nhân Holocaust. Đẹp nhất là đền kỷ niệm có bức tượng ông Janusz Korczak vòng tay ôm mấy đứa trẻ. Chuyện kể rằng ông này là một tu sĩ nuôi trẻ mồ côi tại Ba Lan; khi cha mẹ bị Nazi bắt giữ, những đứa trẻ Do Thái bị xua vào viện mồ côi, và không lâu sau đó, những đứa trẻ này cũng bị mang đi giết. Ông Korczak được tha nhưng không muốn đi thoát một mình, đã ở lại để che chở và cùng chết với đám trẻ.


    Các toán tân binh Israel được người hướng dẫn đưa đi và mô tả chi tiết từng chứng tích về Holocaust, chuyến viếng thăm có lẽ kéo dài cả ngày. Tất nhiên cuộc thăm viếng có tính cách “huấn luyện”, để những người lính non trẻ kia hiểu được lịch sử, tại sao họ cầm súng và tại sao họ phải chiến đấu cho sự tồn vong của Israel: Tín đồ Do Thái bị xua đuổi và tru diệt khắp nơi và đây là mảnh đất an toàn cuối cùng!

    Hình 1 – Yad Vashem – từ trên đồi:

    YasVashem1.jpg

    Hình 2 – Yad Vashem – cổng vào:

    YadVashem.jpg

    Hình 3 & 4 – Holocaust Museum

    HolocaustMuseum.jpg HolocaustMuseum2.jpg

    Hình 5 & 6 – Tượng Janusz Korczak và nhóm tân binh Israel

    Holocaust3.jpg IsrealiTroop2.jpg

    Hình 7 – Remembrance Hall

    RemembranceHall.jpg

    Hình 8 – Eternal Light

    EternalLight.jpg

    Hình 9 – Đài tri ân

    AveRighteous.jpg

    Hình 10 – St Magdalena Church (Greek Orthodox) nơi an táng Công Chúa Alice

    MagdalenaChurch.jpg
     
  13. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Jerusalem, các thắng tích “mới” - 2


    Một chút về tình trạng “quân dịch” hiện nay tại Israel: người trẻ sau khi tốt nghiệp trung học đều phải đi lính 3 năm, sau đó mới được trở về đời sống dân sự và tiếp tục học hành hoặc đi làm, nam cũng như nữ. Đây là bổn phận công dân của Israel; tuy nhiên có vài ngoại lệ cho “tu sĩ”, những nguời tu học theo kinh sách (Yeshiva) được miễn dịch. Khi được tiếp chuyện với một vài tu sinh Do Thái, họ nói rằng bổn phận con người là sinh sản cho đông con cháu hầu thờ phượng Thiên Chúa, ta bổn phận với Trời chứ không có bổn phận với người (bảo vệ đất nước Israel), nôm na là họ lo về phần linh hồn, còn ai chiến đấu thì cứ việc. Tu sĩ Do Thái kết hôn và sinh đẻ rất nhiều con cái, gia đình với 10, 12 đứa con là chuyện rất bình thường; đặc biệt nhất là trong các gia đình tu sinh / tu sĩ, người mẹ / người vợ ra ngoài kiếm sống trong khi người chồng / cha lo việc tu học, dồi mài kinh sách 8 tiếng mỗi ngày và đón con cái từ trường học!

    Hadassah Ein Kerem Medical Center

    Một địa danh lẫy lừng khác là các khung kính do Chagall sáng tạo. Câu chuyện sáng tác của nhà danh họa khá ly kỳ. Các khung kính ta được nhìn ngắm ngày nay là các tác phẩm sáng tạo lần thứ nhì, được trung bày trong synagogue của trung tâm y khoa chính trong thành phố, Hadassah Ein Kerem Medical Center.
    Lần đầu, các tác phẩm của Chagall gồm 12 khung kính màu tượng trưng cho 12 bộ tộc Israel nguyên thủy. Ông họa sĩ biểu rằng ông ấy thấy các hình ảnh ấy trong giấc mơ khi được tuyển dụng để sáng tác. Trong trận chiến tranh 6-Ngày, the Six-Day War, năm 1967, bệnh viện kể trên bị quân đội Syria thả bom tan nát và toàn bộ tác phẩm chỉ còn là những mảnh vụn. Ông họa sĩ nguyện rằng sẽ làm lại các tác phẩm phẩm ấy và làm lại đẹp hơn những khung kính cũ. Ước mơ của Chagall thành tựu và ta được nhìn ngắm các tác phẩm mới ngày nay. Điểm đặc biệt nhất là danh sách bảo trợ trên vách ghi chép toàn tên tuổi của những công ty / người sinh sống tại Hoa Kỳ. Và không chỉ Hadassah Ein Kerem Medical Center với nhà nguyện trưng bày tác phẩm Chagall, hầu hết những công trình xây cất trên lãnh thổ Israel từ bảo tàng viện, trường học đến bệnh viện dường như được xây cất bởi tiền bạc đóng góp từ Hoa Kỳ. Bây giờ thì Dế Mèn đoán ra tại sao Israel có một sức mạnh chính trị đáng kể trên chính trường Hoa Kỳ: con cháu di dân dù sinh sống làm giàu trên đất mới, họ vẫn không quên quê cha đất tổ và đã góp bạc tỷ để kiến thiết quê xưa, chưa kể những tín đồ Do Thái thuần thành, khi “thấm” được mối hờn vong quốc, con cháu ba bốn đời sau bỏ đất mới về quê cũ sinh sống. Dế Mèn gặp gỡ mấy chục tu sĩ (một người là bạn cũ từ thời học Y khoa) sinh trưởng & thành đạt tại Hoa Kỳ, nhưng bỏ về Israel hành nghề và tu học. Ông ấy biểu rằng về Israel để con cháu được sống trên Đất Hứa! Khi được hỏi về các cuộc đánh bom tự sát ngay trong thành phố thì người bạn cũ nhún vai mà rằng… chuyện dài ở huyện, đã chọn Đất Hứa thì phải chịu đổi sinh mạng để tranh dành và cắm dùi. Niềm tin tôn giáo của những tín đồ này quả là mãnh liệt.

    Một đài kỷ niệm khác, cũng do những người Hoa Kỳ gốc Do Thái xây cất tại Jerusalem, nằm bên ngoài thành phố là đàn tưởng niệm nạn nhân ngày 9/11, 9/11 Memorial Park. Đài tưởng niệm xây cất từ một số vật liệu (sắt vụn, đá vụn) thu góp từ Ground Zero, New York. Người dẫn đường biểu rằng dân Israel chia sẻ nỗi mất mát với người Huê Kỳ qua công ttình xây cất này, họ thấu hiểu sự đau đớn của một vùng đất bị khủng bố! Ngược lại, mấy người Palestine thì nói rằng, biến cố 9/11 xảy ra …hàng ngày qua các trận tấn công của quân đội Israel vào lãnh thổ họ, vùng West Bank, và do người Huê Kỳ trợ giúp, ủng hộ!?
    Xin rẽ ngang một chút về cộng đồng Palestine tại Jerusalem, trong một bữa ăn sáng tại khách sạn, được tiếp chuyện với mấy người Palestine sinh sống tại Jerusalem: một người là chủ một khách sạn nhỏ trong vùng phía đông thành phố (lãnh thổ của Palestine) đã từng du học bên Hoa Kỳ và tốt nghiệp cử nhân kinh tế mang quốc tịch Israel, người thứ nhì là tài xế xe bus tư nhân và người thứ ba là sinh viên; hai người này mang quốc tịch Palestine. Cả ba đều dùng tiếng Ả Rập dù họ thông thạo Hebrew. Ông chủ khách sạn nói dùm hai người kia bằng tiếng Anh. Họ nói rằng họ phải đóng thuế theo luật Israel, được cấp giấy phép làm việc và du lịch bằng “special permit” của chính phủ Palestine khi sử dụng phi trường Ben Gurion tại Tel Aviv. Họ không có quyền bỏ phiếu kể cả người mang quốc tịch Israel, và con cái họ đi học tại trường địa phương nhưng không phải đi lính.
    Không biết những người Palestine khác nghĩ ngợi những gì nhưng dúm người này dứt khoát đòi đuổi tín đồ Do Thái ra khỏi đất Israel dù cũng nhìn nhận rằng tổ tiên người Israel có mặt ở đó tự ngàn năm xưa. Khi Dế Mèn bạo phổi hỏi rằng khối Ả Rập 390 triệu người bao quanh Israel, chỉ hai tiếng xe hơi là đến Jordan theo hướng tây, hai, ba tiếng là đến Lebanon theo hướng bắc, chưa kể Ai Cập … tại sao phải tranh dành mảnh đất nhỏ xíu là Israel ngày nay? Ba người đồng thanh biểu rằng họ không đi đâu cả, cha mẹ họ sinh ra ở đây và họ sẽ giữ miếng đất ấy dù phải tranh dành uýnh lộn với người Do Thái cho đến chết! Ôi chao là hàng xóm láng giềng, làm sao họ có thể sinh sống làm việc cạnh nhau hàng ngày với sự căm hờn nung nấu trong xương tủy như thế nhỉ? Hẳn là Dế Mèn… đứt gốc nên không bám rễ nơi quê nhà?

    Viện bảo tàng quốc gia Israel, Israel Museum, xem ra khiêm nhường so với viện bảo tàng Holocaust. Đây là điều dễ hiểu, Israel là một quốc gia tân lập, ra đời năm 1948, chỉ 70 năm so với lịch sử dày đến chục ngàn năm nhưng bảo vật thì tản mát khắp nơi, phần bị huỷ diệt vì chiến tranh, phần bị cướp bóc, biến dạng. Nhưng ở đó, vật quốc bảo là cổ thư, trang sách từ cuốn Genesis và những trang sách viết trên da thú từ hang động Qumran, tuổi tác vài ngàn năm. Dế Mèn đừng chờ 15 phút mới được thấy một trang của cuốn Genesis, đèn bật sáng khoảng 60 giây rồi tắt ngúm, phải chờ 60 giây mới được xem lần thứ nhì. Chuỗi người đứng chờ dài thoòng nên phe ta không dám cù cưa đứng lâu hơn thời gian cho phép. Không đọc được Hebrew nên không hiểu trang sách viết gì, đành về nhà tìm đọc thêm các bản dịch.

    Jerusalem là thành phố đầy đủ những mới và cũ và là một mảnh đất chịu rất nhiều vết thương, nhìn đâu cũng thấy một vài tấm bảng ghi nhận biến cố nào đó chưa kể các vết đạn lớn nhỏ trên tường vách. Thành phố cũng có những con đường lớn nhỏ và các ngõ hẻm loanh quanh chỉ vừa cho người đi bộ hoặc xe đạp / xe gắn máy. Và kẹt xe là chuyện đương nhiên; để đáp ứng với các nhu cầu cấp thiết, thành phố sáng chế ra nhiều thứ, xe cứu thương hai bánh có mặt khắp nơi để y tá, điều dưỡng có thể khám bệnh nhanh chóng trước khi tải thương. Tiền tuyến là những con đường ngay trong thành phố kể cả những con hẻm quanh co bé xíu. Lính Israel đeo súng máy đi bộ khắp nơi; phe ta bắt gặp một hình ảnh khá ngộ nghĩnh: giờ ăn trưa, anh lính trẻ súng để trên đùi, tay ôm người tình ngay bên cạnh. Đôi uyên ương trẻ xem ra thắm thiết, mắt cô gái rạng ngời. Và hình ảnh đôi uyên ương không còn trẻ cũng thắm thiết không kém.
    Dế Mèn ở lại Jerusalem 5 ngày nhưng vẫn chỉ đủ để … cưỡi ngựa xem hoa, “chạy” từ thánh tính tích này sang thánh tích khác, nhìn thoáng chứ không có thời giờ để ngắm cho mãn nhãn.

    Một vài hình ảnh trên đường phố Jerusalem:

    Hình 1 – Chagall Glasses

    ChagallGlasses.jpg

    Hình 2 – 9/11 Memorial

    9.11Memorial.jpg

    Hình 3 & 4 – Uyên ương liền cánh

    LoveBirds.jpg LovePair2.jpg

    Hình 5 – Chứng tích

    StreetSign.jpg

    Hình 6 – Xe cứu thương

    EmergencyMobile.jpg

    Hình 7 & 8 – Cảnh sát Palestine và cảnh sát Israel

    PalestinePolice.jpg IsraelPolice.jpg

    Hình 9 – Tín đồ thuần thành

    CityDwellers.jpg

    Hình 10 – Quán nước trên đường phố

    StreetBar.jpg
     
  14. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Thánh tích Bethlehem

    Bethlehem là tên gọi theo vị thần sinh sản ‘Lahem’ xuất phát từ gốc rễ Canaanite, theo tiếng Ả Rập là ‘Bayt Lahm’ (بيت لحم‎ ) có nghĩa "House of Meat"; hoặc ‘Bet Lehem’ (בֵּית לֶחֶם) có nghĩa "House of Bread" theo Hebrew.
    Bethlehem hiện diện trên sách vở từ 1330 năm trước Công Nguyên và như mọi địa danh khác trên vùng đất cổ xưa ấy, Bethlehem cũng trải qua nhiều thời đại, chịu chiếm lãnh, cai trị bởi nhiều đời vua chúa đồng chủng cũng như dị chủng. Kinh sách Hebrew cho rằng thành Bethlehem được xây cất bởi nhóm Rehoboam, là nơi ra đời của vua David, vị vua mở nước của dân tộc Israel. Bethlehem bị vua Hadrian phá nát trong thế kỷ II nhưng rồi được Hoàng Hậu Helena, mẹ vua Constantine the Great (Hy Lạp), xây cất lại sau khi hoàn tất ngôi nhà thờ lịch sử Church of the Nativity vào năm 323. Ngôi nhà thờ ấy cũng bị phá huỷ rồi xây cất lại nhiều lần trong lịch sử.

    Bethlehem trở thành một phần của vùng Jund Filastin sau khi bị quân đội Hồi giáo chiếm lãnh năm 637. Quân Hồi giáo thua trận, bỏ đất cho quân Thập Tự năm 1099, và lại về tay người Hồi giáo của hoàng triều Ottoman trong thế kỷ XIV cho đến khi trở thành thuộc địa của hoàng gia Anh sau Thế Chiến I.
    Khi vùng Judea bị chia cắt năm 1948, Bethlehem trở thành một thôn làng của Jordan, rồi bị Israel giành lại sau cuộc chiến tranh 6-Ngày năm 1967. Từ năm 1995, theo hòa ước Oslo, Bethlehem thuộc về lãnh thổ Palestine trong vùng West Bank.


    Bản đồ Bethlehem ngày nay:

    Bethlehem_Location.png

    Về mặt địa lý, Bethlehem cách Jerusalem khoảng 6 dặm về phía bắc, diện tích khoảng 30 cây số vuông và dân số là 30 ngàn người theo thống kê năm 2007. Con số này có lẽ đã sút giảm khá khá sau khi tín đồ Thiên Chúa giáo rủ nhau di tản khỏi lãnh thổ Palestine dù các dòng tu trực thuộc hội thánh La Mã như dòng Franciscan, dòng De La Salle… vẫn còn hiện diện. Dòng tu De La Salle đã thành lập và duy trì Đại Học Bethlehem từ năm 1893, đại học này vẫn là một trong những đại học hàng đầu của Palestine.
    Dù vẫn còn một số khá lớn các tín đồ Thiên Chúa giáo sinh sống ở đó nhưng Bethlehem ngày nay cư dân phần lớn theo đạo Hồi.

    Như nhiều thành phố khác tại Israel và Palestine, Bethlehem là một thánh tích quan trọng của cả ba tôn giáo: Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo.

    Với tín đồ Do Thái, Bethlehem (Bet Lechem) là nơi chôn cất bà Rachel, vợ ông Jacob, một nhân vật quan trọng trong Cựu Ước, và cũng là nơi ra đời của vua David, vị vua mở nước của Israel. Mộ bà Rachel được xây cất năm 1841 và được các tín đồ Do Thái đến cầu nguyện để có con đàn cháu đống mà thờ phượng Chúa Trời.
    Khi Bethlehem về tay Palestine, tín đồ Do Thái không còn lui tới nơi này nữa vì bị người Palestine cấm cửa. Người Hồi giáo cũng xem địa danh ấy là chốn linh thiêng nên đã mở một nghĩa địa ngay bên cạnh.

    Với Thiên Chúa giáo, theo kinh sách của Thánh Matthew và Thánh Luke, Bethlehem là nơi Jesus ra đời và một trong những thánh tích quan trọng nhất. Tự ngàn năm nay, nhiều tín đồ hành hương đã đi bộ từ Jerusalem đến đây (khoảng 2.5 -3 tiếng đồng hồ) để tỏ lòng sùng bái. Phe ta dùng xe bus, nhóm du khách đã phải mướn loại bus do người Palestine làm chủ và tài xế cũng như người dẫn đường đều là công dân Palestine. Nhóm du khách được chính phủ Palestine cho phép “nhập cảnh” sau khi di chuyển trên xa lộ khoảng 20 – 30 phút đồng hồ từ Jerusalem và đi qua trạm canh biên phòng. Trên đường vào thành phố có tấm biển màu đỏ quạch, viết chữ Hebrew, Ả Rập và cả Anh ngữ nhắn nhủ công dân Israel chớ có đặt chân vào lãnh thổ của Palestine, nguy hiểm lắm!

    Di tích chỉ có mấy địa điểm nhưng chuyến đi kéo dài cả 3 tiếng vì phải xếp hàng chờ đợi. Đầu tiên là Shepherd’s Field, cánh đồng nơi thiên thần hiện ra cùng mục đồng và báo tin Chúa ra đời. Ngày nay là một nhà nguyện nhỏ nhỏ do tu sĩ dòng Francisco trông nom. Gần đó là nhà thờ Shepherd’s Field được xây cất khoảng 800 năm nay.
    Gần nhà nguyện Shepherd’s Field là một vùng đất đang được khai quật, trước đó là khu vườn và tu viện xây thời Byzantine.

    Thánh tích chính là Church of the Nativity, hang lừa và máng cỏ ngày trước nơi Jesus ra đời. Tại địa điểm này, nhà thờ được xây cất lần đầu tiên trong thế kỷ IV (bởi Thánh Helena, mẹ vua Constantine, bà này cũng cho xây cất Church of the Holy Sepulcher tại Jerusalem). Khi người Persia chiếm được Bethlehem năm 614, họ phá huỷ tường thành nhưng giữ lại nhà thờ vì ưng ý với các hình tượng Ba Vua (ba người thông thái) trong y phục kiểu Persia đến từ phương đông để chiêm bái Chúa Hài Đồng.

    Cổng nhà thờ cao khoảng 1 thước, Humility Door, muốn vào phải khom lưng bước qua ngưỡng cửa. Huyền thoại kể lại rằng người Hồi xây cửa thấp để nhắc nhở tín đồ đạo Thiên Chúa rằng họ đang ở trên “đất khách”, phải tỏ lòng kính trọng chủ nhà bằng cách khom lưng cúi mình (?). Truyền thuyết khác lại cho rằng vào nhà Chúa thì phải cúi đầu (cửa thấp ngăn cản người ngồi trên lưng ngựa).

    Bên trong nhà thờ khá rộng, xây cất theo kiểu Byzantine với những cột đá Corinthia và hình ảnh các tông đồ dát bằng gạch vụn (mosaic) trên cột và trên sàn nhà. Nhìn nơi nào cũng thấy hình ảnh thánh thần. Cách bài trí theo kiểu Greek Orthodox chỉ để đèn lù mù, những ngọn đèn chùm bằng vàng và bạc lấp lánh; vào buổi chiều tối khi nắng tắt, hẳn bên trong nhà thờ sẽ tối om? Đằng sau bàn thờ là đường xuống hang động nơi Jesus ra đời. Chao ôi là người, xếp hàng rồng rắn gần một tiếng đồng hồ chỉ để xe xích trên khoảng cách cỡ 20 -30 thước, từ cửa nhà thờ Dế Mèn mới xuống tới hang lừa & máng cỏ. Nơi Chúa giáng sinh có một ngôi sao bạc gắn trên tảng đá có hàng chữ ‘Hic de Virgine Maria Jesus Christus natus est’ nơi bà Mary đặt đứa con sơ sinh. Tín đồ xì xụp bái lạy, có người cố hôn lên ngôi sao bạc nhưng bị người canh gác xua tay đuổi và thục giục bá tánh nhanh bước để đến phiên người khác đến chiêm bái. Ngay trước mặt tảng đá là nhà nguyện Máng Cỏ bé tí xíu, Chapel of the Manger.
    In như Church of the Holy Sepulcher tại Jerusalem, nhà thờ này cũng được chung tay góp sức bởi nhiều giáo hội Thiên Chúa giáo, mỗi giáo hội giữ một phần nhà thờ và trang trí theo truyền thống riêng. Hang lừa, máng cỏ thuộc về giáo phái Truyền Thống Hy Lạp (Greek Orthodox Church).

    Bên cạnh Church of the Nativity là nhà thờ St. Catherine của giáo hội La Mã nơi cử hành thánh lễ Giáng Sinh vào chiều ngày 24 tháng Mười Hai hàng năm. Trước mặt nhà thờ St. Catherine có bức tượng St. Jerome, vị giám mục Bethlehem đã chuyển dịch Cựu Ước từ Hebrew sang tiếng Latin. Chapel of the Innocents dành cho các thánh anh hài, những hài nhi bị vua Herod giết trong đêm Giáng Sinh và Chapel of St. Joseph là nơi thiên thần hiện ra biểu ông Joseph hãy trốn qua Ai Cập lánh nạn.
    Khu đất mấy trăm thước vuông nhưng nơi nào cũng có một lịch sử và là thánh tích. Hôm đến thăm viếng, một nhóm tín đồ Mormon từ Utah đến hành hương và họ ngồi vòng quanh trong khuôn viên trước mặt nhà thờ St. Catherine để hát thánh ca Giáng Sinh. Ca đoàn hát rất hay. Có điều ngồ ngộ là các bài hát Giáng Sinh quen thuộc như Silent Night, O Come All Thee Faithful, Oh Christmas Tree… lại vang vọng trong một buổi chiều tháng Tư ấm áp. Thì ra giáo phái Mormon cử hành lễ Giáng Sinh vào tháng Năm hằng năm.
    Ngồi viết lại mấy dòng này, Dế Mèn lại mơ màng nhớ đến buổi chiều đầy ắp hình ảnh, nếu không nhờ mấy tấm ảnh, cái đầu óc bé tí này chắc trộn lẫn các chi tiết lịch sử và sẽ nhầm lẫn vô số kể!

    Quan trọng như thế nên không lạ là Bethlehem có vô số nhà thờ nhà nguyện: giáo phái Hy Lạp Chính Thống có 15 ngôi nhà thờ, giáo hội La Mã có 25, giáo hội Tin Lành có 8, giáo hội Syriac Orthodox có 1, giáo hội Ethiopia có 1 và giáo hội Copt cũng có 1 nhà thờ chưa kể mấy chục cái đền thờ Hồi giáo. Nghe người dẫn đường kê khai số nhà thờ, nhà nguyện trong thành phố và hỏi nhóm du khách muốn đi xem tiếp chỗ nào. Sau một tiếng chờ đợi chen lấn, ai cũng le lưỡi lắc đầu và chỉ muốn trở lại Jerusalem vì ngại nỗi khám xét khi trở lại cổng biên giới!

    Không mấy an tâm khi lanh quanh ở West Bank nên Dế Mèn và bạn bè bỏ qua một số thắng tích nổi tiếng khác như Rachel’s Tomb, Herod’s Palace, Mar Saba Monastery, Mar Elias Monastery, St. Theodosius Monastery và Solomon’s Pools. Muốn xem hết các di tích này có lẽ ta sẽ cần 1-2 ngày nữa; dù rất cần ngoại tệ nhưng Palestine không mấy thân thiện với du khách Huê Kỳ nên phe ta cũng ngần ngại chẳng muốn thi gan, nhất là khi bạn bè cứ bàn ra chứ chẳng ai tỏ ý muốn ở lại ngắm cảnh nữa.

    Trên đường phố quanh co lên đồi xuống dốc là các cửa tiệm buôn bán của dân địa phương; cũng có quán cà phê “Stars & Bucks” và những tấm biển kêu gọi du khách cầu nguyện cho cuộc tranh đấu vì hòa bình của người Palestine.

    Một ít hình ảnh từ Bethlehem:

    Hình – 1: Cổng vào thánh tích

    Shepherd'sFieldEntrance.jpg

    Hình – 2: Nhà thờ Sheperd’s Field

    Shepherd'sFieldChurch.jpg

    Hình – 3 & 4: Bên ngoài và cửa vào Church of Nativity

    NativityChurchOutside.jpg NativityChurchEntrance.jpg

    Hình – 5: Hang lừa & Máng cỏ xưa

    NativityCave.jpg

    Hình – 6: Nhà thờ St Catherine và tượng Thánh Jerome

    StCatherinenStJerome.jpg

    Hình – 7: Mosque of Omar ngay trước mặt nhà thờ Nativity, hình như trên đất Israel và Palestine, hễ nơi nào có nhà thờ là có đền thờ Hồi giáo ngay bên cạnh, tháp to hơn và cao hơn:

    BethlehemMosque.jpg

    Hình – 8 & 9: Đường phố chính của Bethelehem:

    BethlehemWelcomeSign.jpg BethlehemStreet.jpg
     
  15. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Đồi Golan (1)


    Golan là tên một vùng bình nguyên, the Golan Heights hay chỉ ‘Golan’ cho ngắn gọn, rộng khoảng 695 dặm vuông, phía nam là sông Yarmouk, phía tây là biển Galillee và thung lũng Hul, đồi Hermon ở phía bắc và Wadi Raqqad ở phía đông. Trước đây Golan thuộc về Syria nhưng bị quân đội Israel chiếm giữ trong trận chiến 6-Ngày (năm 1967) và trở thành đất đai của Israel từ năm 1981, khi chính phủ Israel đặt cơ quan hành chánh, áp dụng luật pháp; nghĩa là chiếm đất rồi giữ luôn, bất chấp quốc tế công pháp và mặc Liên Hiệp Quốc phản đối.

    Israel_Gaza_Strip_and_West_Bank.png

    Như những nơi khác trong vùng Judea, Golan cũng trải qua nhiều cuộc chiến tranh, thay tên đổi chủ trong suốt 5-6 ngàn năm lịch sử. Sách vở ghi chép sự hiện diện diện của hai bộ tộc Israel và vua Solomon đặt cơ quan hành chánh tại đấy tự thủa ấy. Golan qua tay người La Mã, người Assyria … Triều đại vua chúa cuối cùng cai trị Golan là hoàng triều Ottoman, rồi miền đất rơi vào tay người Pháp năm 1918 và từ năm 1946, trở thành lãnh thổ của quốc gia tân lập Syria Republic.
    Sau cuộc chiến tranh Arab–Israel, Israel giành được độc lập năm 1948, nhưng giữa quốc gia này và khối Ả Rập chung quanh là một mối thù hận âm ỉ. Năm 1956, Ai Cập cấm thuyền bè qua lại the Straits of Tiran để chặn đường tiếp tế của Israel, và Jordan chặn nguồn nước từ sông Jordan. Bị cắt đứt nguồn nhu yếu phẩm và nguồn nước, phải giành đất sống, Israel tiến quân đánh chiếm vùng Sinai của Ai Cập. Khối Ả Rập thua trận, Ai Cập đành cam kết mở cửa biển, và Israel phải rút quân. Nhưng từ đó mối thù trở nên sâu đậm hơn. Tháng Năm năm 1967, Tổng Thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser công bố sẽ cấm thuyền bè của Israel qua lại cửa biển kể trên và mang quân đội dàn trận dọc biên giới. Ngày 5 tháng Sáu cùng năm, quân đội Israel tấn công, bắt đầu từ những trận đánh trên không phận Ai Cập và cùng lúc tiến quân qua Gaza Strip và vùng Sinai. Ai Cập mất Sinai dẫn đến việc tham chiến của Syria và Jordan. Tóm tắt là cả ba quốc gia Ả Rập hè nhau áp đảo Israel. Israel phản công và chiếm luôn East Jerusalem cũng như West Bank của Jordan và Golan Heights của Syria!

    Dưới sự lãnh đạo của tướng độc nhãn Moshe Dayan, bộ trưởng bộ Quốc Phòng Israel thủa ấy, và các tướng lãnh lẫy lừng như Yitzhak Rabin, Menahem Begin, Ariel Sharon (cả ba về sau trở thành thủ tướng chính phủ), quân đội Israel đã đánh bại quân đội Ai Cập, Jordan, Syria và Palestine; chiếm giữ Gaza Strip, bán đảo Sinai, West Bank [bờ tây của sông Jordan] kể cả vùng đất phía đông Jerusalem trong một thời gian ngắn ngủi. Thỏa ước ngưng bắn được ký kết ngày 11 tháng Sáu năm 1967. Nói giản dị là cuộc chiến tranh đẫm máu kể trên chỉ kéo dài 6 ngày, ba quốc gia Ả Rập mất một phần lãnh thổ và mất 20,000 quân trong khi Israel chịu tổn thất rất ít, dưới 1,000 quân tử trận. Israel thắng lớn, chiến thắng lẫy lừng về quân sự nên tiếng nói của quốc gia này có “trọng lượng” hơn trước thế giới.
    Vinh quang như thế nhưng cũng chính chiến thắng ấy dẫn đến sự ỷ y, lơ là việc phòng bị, nôm na là Israel đã ngủ quên trên chiến thắng và mở đầu cho trận Yom Kippur War năm 1973. Lợi dụng sự quá tự tin của Israel, khối Ả Rập tấn công Israel trong dịp Yom Kippur, một dịp lễ quan trọng của tín đồ Do Thái. Quân đội Israel phản công, đẩy lui quân Ả Rập, giữ được lãnh thổ nhưng chịu tổn thất khá nặng nề. Trận chiến tranh này đã dẫn đến cuộc di dân khá lớn, 300,000 người Palestine bỏ West Bank và khoảng 100,000 người Syria bỏ Golan Heights đi lánh nạn tại các quốc gia Ả Rập chung quanh. Ngược lại tín đồ Do Thái sinh sống trong vùng Ả Rập cũng lìa bỏ nơi sinh sống, về Israel hoặc qua Âu Châu tị nạn.
    Bà Golda Meir, thủ tướng Israel năm ấy, bị người dân quy tội thiếu trách nhiệm, và đã đi vào lịch sử của đất nước này như một vị thủ tướng tệ hại nhất từ khi lập quốc.

    Bất chấp sự phản đối của Liên Hiệp Quốc, từ đó, 2/3 đất phía tây Golan được sát nhập vào lãnh thổ Israel và giữa hai quốc gia trong quá khứ đã xảy ra nhiều trận đụng độ tranh giành đất đai và nguồn nước dù giữa các trận đụng độ ấy là các cuộc thương thảo bất thành giữa Syria và Israel. Một phần ba đất phía đông Golan vẫn thuộc về Syria, đây cũng là vùng đất khói lửa trong cuộc nội chiến của Syria trong mấy năm vừa qua.

    Sau khi chiếm giữ Golan, người Israel đến đây sinh sống trong những thôn làng bỏ trống. Trong số những người Syria “trụ lại” sau chiến tranh, chỉ 10% nhập tịch Israel, phần còn lại giữ quốc tịch Syria và giữ tình trạng “cư dân” thay vì công dân. In hệt như dân Việt năm xưa khi đất nước bị chia cắt, cư dân Syria tại Golan cũng có bà con anh em sinh sống hai bên biên giới, người đông kẻ tây. Phần lớn các cư dân này theo đạo Druze, một tôn giáo có nguồn gốc Hồi giáo, xuất phát từ Ai Cập khoảng 1,000 năm trước và có khoảng một triệu tín đồ, sinh sống rải rác tại Syria, Israel, Lebanon và Jordan. Khi xảy ra cuộc nội chiến tại Syria, số cư dân xin nhập tịch Israel gia tăng nhanh chóng.
    Ngày nay, khoảng 30 cộng đồng Israel (với 20 ngàn người) đã an cư, chia đất nhưng sống riêng rẽ [từng nhóm, từng thôn làng] với 20 ngàn cư dân Syria tại Golan.
    Nhóm du khách dừng chân ăn trưa tại một thôn làng nơi tín đồ Druze sinh sống; quán ăn trong nhà riêng và nhà bếp dọn một thực đơn định sẵn cho mọi khách hàng. Cũng cà ri thịt bò, bánh chiên nhồi thịt bò băm trộn hành… không có chi đặc sắc. Hỏi chuyện cà kê cô gái dọn bàn [nói tiếng Anh kha khá] về chuyện học hành sinh sống thì cô bé này cũng như những người trẻ thế giới khác, cũng xài internet nhanh như máy, cũng ưa disco, cinema buổi chiều cuối tuần nhưng trong những ước mơ tương lai kia có cả một chuyến đi chơi Huê Kỳ… Riêng về mục tôn giáo thì cô gái tần ngần thú nhận cô ấy cũng chẳng biết chi nhiều về đạo Druze dù cha mẹ là tín đồ thuần thành… Cô ấy chỉ biết rằng đạo dạy rằng sống cho tử tế để khi chết sẽ trở lại làm một phụ nữ đạo Druze (tôn giáo này tin vào luân hồi, in như Hindu và Phật giáo; không biết đạo Druze có dính dáng chi với những người Gypsy thủa xa xưa lang thang từ Ấn Độ qua Âu Châu không nhỉ?)
    “Thôn làng” trong thế kỷ XXI nên cũng những con đường tráng nhựa, nhà mấy tầng lầu xen lẫn giữa các trang trại trồng hoa quả, rau xanh. Trước nhà treo các lá cờ nhiều màu. Dù chỉ là một thôn làng chẳng mấy kẻ xa lạ biết tên tuổi nhưng nơi này vẫn đầy đủ những món như Coca Cola và bảng điện toán (tablet)… bước chân thương mại đã có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm với các sản phẩm đương thời.

    Một ít hình ảnh từ Golan Heights:

    Hình 1, 2, 3 & 4 – Một tiền đồn của quân đội Syria ngày trước, mặt tiền và bên trong; ngày nay bị bỏ hoang và trở thành một địa điểm thăm viếng của các du khách tò mò:

    Syrianbarack.jpg syrianback2.jpg
    OldSyrianBarrack.jpg Grafiti.jpg

    Hình 5 & 6– Quán ăn & nhà bếp trong làng Druze:

    Druze restaurant.jpg Druzekitchen.jpg

    Hình 7 – Căn nhà trong làng Druze với lá cờ nhiều màu:

    Druzetown.jpg

    Hình 8 – Nhạc cụ cổ truyền: đàn một dây và dùng với nhị, âm thanh từa tựa như đàn cò bên mình:

    musicalinstrument.jpg

    Hình 9 – Dấu vết chiến tranh qua những mìn bẫy:

    landmind.jpg
     
  16. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Đồi Golan (2)

    Diện tích Golan khoảng 695 dặm vuông, theo tài liệu của CIA Israel chiếm giữ khoảng 500 dặm vuông, nhưng đây là vùng đất “nóng hổi” vì vị thế quân sự cũng như kinh tế.
    Về mặt quân sự, từ các ngọn đồi Golan, ta có thể quan sát rất rõ vùng đất chung quanh: Thủ đô Damacus của Syria chỉ cách biên giới [mới] khoảng 60 cây số về phía bắc, các đồn trú của quân đội và thôn làng Israel [mới] nằm rải rác dưới chân đồi. Ngày trước quân đội Syria dùng các căn cứ này để pháo kích qua biên giới Israel.
    Vùng đồng bằng và thung lũng Golan rất trù phú, nước từ sông Yarmouk và biển [hồ] Galilee đổ về nuôi sống nông trại. Đây là nơi cư dân Israel canh tác, nuôi trâu bò, trồng nho [và cất rượu], các loại trái cây và nông phẩm khác cung cấp thực phẩm cho 40% dân chúng. Golan là nguồn nước quan trọng, cung cấp khoảng 1/3 lượng nước ngọt cho dân chúng và cũng là chỗ nghỉ mát, nơi trượt tuyết duy nhất tại Israel.

    Hôm Dế Mèn thăm vùng Galilee, đã dừng chân tại Golan Heights, hôm ấy cũng là ngày không quân Hoa Kỳ oanh tạc Syria sau vụ quân đội Assad dùng hơi độc giết thường dân trong vùng đóng quân của phiến quân. Đứng trên đồi gió lồng lộng, súng pháo rầm rầm chung quanh và các cột khói đen bay cuồn cuộn từ lãnh thổ Syria. Chiến tranh xem ra gần xịt một bên, nhưng người dẫn đường tỉnh rụi biểu rằng còn 5 dặm nữa mới …tới đây!

    Gần nơi đóng quân cũ của quân đội Syria là ngọn đồi Avital, nơi đóng quân cũ của quân đội Do Thái, ngày nay là công viên nơi các nghệ sĩ trình bày tác phẩm. Nổi bật nhất là những tác phẩm chế biến từ những khung sắt cũ. Giữa những tác phẩm là các tấm bảng dặn dò bá tánh chớ thám hiểm vì nơi này vẫn còn những quả mìn chưa nổ! Tiền đồn nên đồi Avital vẫn còn giữ được những đường hầm quanh doanh trại ngày trước.

    Kibbutz El Rom, một cộng đồng Israel nằm trong thung lũng Nước Mắt (Valley of Tears), tọa lạc ngay trên chiến địa năm xưa nơi xảy ra các trận đánh ác liệt giữa quân đội Syria và Israel. Ở đó, Dế Mèn được xem một khúc phim 15 phút, chiếu lại cảnh chiến tranh năm 1973 khi người Israel không còn sự lựa chọn nào khác, phải chiến đấu để sống còn. Người chiếu phim là một công dân Hoa Kỳ, từng sinh sống trên 30 năm tại New Jersey, đã trở về để sống trên Đất Hứa và ông ấy trả lời bằng nụ cười buồn câu hỏi… tại sao Israel giữ được đất đai với một số quân nhỏ, 1 chống 20-30, như thế…? … không bắn lại thì chết hết nếu thua trận. Chúng tôi bị dồn đến đường cùng, không có sự lựa chọn nào khác. Và họ thắng trận với tinh thần quả cảm, hy sinh hết mình ấy.

    Trên đường về quán trọ, Dế Mèn có ghé vườn nho và thử rượu. Rượu Israel không có chi đặc biệt, cũng từa tựa như rượu Âu Châu dù chủ vườn, một tín đồ Do Thái gốc Anh, biểu rằng nho địa phương đặc biệt lắm?!
    Phe ta và nhóm du khách nghỉ đêm tại Kibbutz Kfar Haruv, nhà trọ gồm mấy chục ngôi nhà nhỏ nhỏ, có nhà bếp và phòng khách, đủ chỗ ngủ cho một gia đình 4 người. Hiên trước nhà nhìn ra hồ Galilee, phe ta ngồi nhìn mặt trời lặn trên hồ nước phẳng lặng, một hình ảnh an bình quá thể, bình an như tên gọi của nhà trọ ‘Peace Vista’, nhưng chỉ vài dặm đường là biên giới. Và bên kia biên giới là chiến tranh tàn khốc với những khu phố bị cô lập, cư dân kẹt bên trong đói khát kinh hoàng.
    Kibbutz có nhà ăn rộng đủ cho 200 người, và chỉ dọn ăn đúng bữa, 2 lần mỗi ngày. Cư dân sinh sống bằng nghề nuôi trâu bò lấy sữa. Quán trọ Peace Vista là nguồn tài chánh phụ của cộng đồng này. Vì không có hàng quán chi trong kibbutz nên mỗi buổi sáng, nhà bếp mang thức ăn (bánh mì, trứng tráng, ngũ cốc, yogurt…) đến tận phòng cho khách trọ. Trong phòng sẵn cà phê và trà để khách trọ tự sửa soạn lấy.

    Một chút về kibbutz: kibbutz (Hebrew: קִבּוּץ / קיבוץ) dịch thoáng là ‘cộng đồng’, nơi những người [không liên hệ máu mủ] làm việc và sống quây quần như một đại gia đình. Ngày xưa cũ, kibbutz thành lập với mục đích canh tác chung. Cộng đồng xưa cũ nhất xuất hiện từ năm 1909. Ngày nay, kibbutz có màu sắc tôn giáo, đa số là cộng đồng tín đồ Do Thái thuần thành cùng quan niệm sống tụ họp, mọi người chia sẻ công việc và lợi nhuận, như một hãng xưởng, công ty vài trăm người với đầy đủ những người làm việc chuyên môn. Cũng có hội đồng quản trị, ban “hòa giải” khi thành viên xích mích với nhau … Con cái họ đi học được trông nom săn sóc bởi thày cô sinh sống trong cộng đồng, cha mẹ chỉ việc đưa và đón con cái mỗi ngày. Có cộng đồng ăn uống chung trong phòng ăn lớn, nhưng cũng có cộng đồng ăn uống riêng từng gia đình.
    Khái niệm sinh sống trong cộng đồng xem ra không còn phổ thông như trong thập niên 70-80 của thế kỷ trước. Thành viên trong các kibbutz xem ra sống riêng tư hơn nên các kibbutz dần dần thu nhỏ lại.

    Golan Heights cho Dế Mèn ngửi được mùi khói, mùi máu của chiến tranh. Và ngay cả khi chiến tranh đã chấm dứt, mấy chục năm rồi, mùi thù hận ân oán vẫn còn phảng phất trong không khí xem ra trong lành của phần Đất Hứa ấy.

    Một ít hình ảnh từ Mount Avital và kibbutz Kfar Haruv:

    Hình 1 – Bản đồ hành quân trong trận Yom Kippur năm 1973

    oldwarmap.jpg

    Hình 2 – Đường hầm trong đồn quân Israel trên đồi Avital:

    oldtunnel.jpg

    Hình 3, 4, 5 – Mount Avital và các tác phẩm chế biến từ sắt vụn:

    MtAvital.jpg
    SculptureGarden.jpg SculptureGarden2.jpg

    Hình 6 – Quán bên đường bán những món ăn vặt, oliu ngâm muối như xí mụi, xoài dầm … bên mình:

    MtAvitalMrechant.jpg

    Hình 7, 8 & 9– Kibbutz Kfar Haruv & nhà trọ Peace Vista

    KfarHaruvLodge.jpg
    KfarHarubGarden.jpg PeaceVista.jpg

    Hình 10 – Hoàng hôn trên hồ Galilee:

    PeaceVista2.jpg
     
    matroi likes this.
  17. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Những thành phố lớn của IsraeL: Tel Aviv & Haifa

    Tel Aviv - Jaffa

    Tel Aviv là thành phố lớn thứ nhì của Israel, sau Jerusalem, mệnh danh là thủ đô tài chánh và văn hóa của quốc gia này, từa tựa như New York City của Huê Kỳ, thành phố không bao giờ thiếp ngủ. Đây cũng là thủ đô kỹ thuật của Israel, Silicon Wadi hay một danh xưng khác của ‘Gush Dan’, ngụ ý so sánh với Silicon Valley của Hoa Kỳ. Nói giản dị Tel Aviv là thành phố của những người trẻ tuổi sính kỹ thuật, ưa chuộng nếp sống ồn ào với hộp đêm, hàng quán, năng động, cởi mở và “cấp tiến”.

    Về mặt địa lý, Tel Aviv tựa lưng trên bờ Địa Trung Hải với những bãi biển cát trắng ngà. So với các địa điểm khác, Tel Aviv là một thành phố mới keng, chỉ có mặt trên bản đồ từ năm 1909 như một vùng ngoại ô của Jaffa, hải cảng lâu đời nhất của thế giới. Vùng ngoại ô này mở mang nhanh chóng, nhất là sau khi Israel giành được độc lập và lập quốc, vượt mặt phố chính Jaffa và trở thành trung tâm thương mại của đất nước.
    Về phía đông bắc, Tel Aviv cách Jerusalem khoảng 60 cây số và cách Haifa khoảng 90 cây số về phía bắc. Giữa thành phố là Azrieli Center, trung tài chánh và thương mại của Israel và Tel Aviv University, trường đại học lớn nhất (có khoảng 30,000 sinh viên) của quốc gia này nằm ở phía bắc thành phố. Không biết tại sao người thành phố ví von và so sánh những địa danh ở đây với các địa danh tại New York City, như Tel Aviv University từa tựa như “Yale”, Azrieli Center là “Wall Street” …, hẳn sợ khách thăm viếng không ‘cảm’ được sự quan trọng hay vĩ đại của mấy địa điểm ấy?!
    Địa danh đặc biệt nhất tại Tel Aviv có lẽ là đài tưởng niệm ông Rabin, vị thủ tướng thứ năm của Israel. Yitzhak Rabin (Hebrew: יצחק רבין) là một chính khách và một tướng lãnh trong quân đội, giữ vai trò thủ tướng trong hai nhiệm kỳ, 1974–77 và 1992 cho đến khi bị ám sát vào năm 1995.
    Thủa còn trẻ, ông Rabin theo võ nghiệp và trở thành Tham Mưu Trưởng của quân đội Israel, giữ vai chính trong chiến trận 6-Ngày năm 1967, cuộc chiến tranh ngắn ngủi nhưng thành công rực rỡ. Giải ngũ, ông Rabin trở thành Đại Sứ Israel tại Hoa Kỳ và sau đó trở thành thủ tướng thay thế bà Golda Meir sau khi bà này [bị ép] thoái vị năm 1974 (vì Israel chịu tổn thất nặng nề trong trận chiến Yom Kippur 1973).

    Với chủ trương ôn hòa, trở lại chính trường năm 1992 trong chức vị thủ tướng, ông Rabin đã ký kết các thỏa ước với Palestine và Jordan; chính phủ và nội các Rabin đã nhìn nhận sự hiện diện của thể chế này như một vùng đất độc lập trên lãnh thổ Israel qua hiệp ước quan trọng nhất, Oslo Accords. Trước mặt thế giới ông Rabin đã bắt tay hòa giải với thủ lãnh Palestine, ông Yasser Arafat. Qua các hành động hòa hoãn ấy, ông Rabin cùng Shimon Peres và Yasser Arafat đoạt giải Nobel Hòa Bình năm 1994.
    Thế giới hoan hỷ nhưng tại đất nhà, Oslo Accords xem ra đã chia cắt xã hội Israel thành hai mảnh rõ rệt; cánh tả xem Yitzhak Rabin như vị anh hùng, hòa hoãn sống chung với Palestine để mang lại hòa bình cho đất nước trong khi phía hữu cho rằng ông thủ tướng là kẻ phản quốc, đã nhượng đất tổ cho kẻ thù. Họ tin rằng đối với khối Ả Rập, chỉ có chuyện sống / chết chứ không khoan nhượng.
    Ngày 4 tháng 11 năm 1995, sau khi tham dự buổi mít tinh tại Kings of Israel Square ở Tel Aviv, ông Rabin bị Yigal Amir, một người theo phe cực hữu ám sát. Công trường kể trên và cũng là nơi đặt đài tưởng niệm ngày nay được gọi là công trường Rabin.
    Sau đó, các cuộc đánh bom tự sát từ các nhóm Ả Rập vẫn tiếp tục xảy ra trên lãnh thổ Israel, lúc tại Tel Aviv, khi ở Jerusalem… Không lạ là binh sĩ Israel được huấn luyện thói quen “bắn trước, phân giải sau” mỗi khi thấy các hành động khác thường.

    Về mặt lịch sử, lịch sử của Tel Aviv dính liền với lịch sử của Jaffa, thành phố mẹ. Jaffa hiện diện từ Thời Đồ Đồng, khoảng 7,500 năm trước Công Nguyên, đã trải qua nhiều thời đại, chịu cai trị bởi nhiều nhóm người từ dân Canaanites, Egyptians, Philistines, Israelites, Assyrians, Babylonians, Persians, Phonecians, Ptolemies, Seleucids, Hasmoneans, Romans, Byzantines, Islamic caliphates, Crusaders, đến Ayyubids, và Mamluks trước khi thuộc về triều đại Ottoman năm 1515. Thành phố này được nhắc đến trong cổ thư Ai Cập và cả thánh kinh Hebrew.

    Trong thế kỷ XIX, dưới thời Aliyah Đệ Nhất, tín đồ Do Thái bắt đầu tản ra vùng ngoai ô của Jaffa vì thành phố mẹ quá chật chội. Những di dân đầu tiên thành lập các khu vực mới như Neve Tzedek, Neve Shalom (1890), Yafa Nof (1896), Achva (1899), Ohel Moshe (1904), Kerem HaTeimanim… Đến đầu thế kỷ XX, 1904-1917, dưới thời Aliyah Đệ Nhị thì vùng ngoại ô này phát triển rầm rộ, di dân liên kết thành các hội đoàn, thành lập các nhóm tôn giáo để mở mang thành phố dưới hình thức văn hóa, xã hội. Để hợp thức hóa việc mua bán đất đai (thủa ấy luật pháp Thổ Nhĩ Kỳ cấm tín đồ Do Thái sở hữu đất), ông Jacobus Kann, một công dân Hòa Lan, đứng tên mua khu đất Kerem Djebali để phát triển theo khuynh hướng kể trên.
    Ngày 11, tháng Tư năm 1909, cuộc xổ số đầu tiên được tổ chức để chia các khu đất hoang cho 66 gia đình Do Thái và Tel Aviv được chính thức mở mang như một thành phố Hebrew với đầy đủ đường sá, nước, cống rãnh… 'Tel Aviv' có nghĩa là "Ancient Hill of Spring".
    Năm 1950, hai năm sau ngày lập quốc của Israel, Tel Aviv và Jaffa được gom chung, trở thành một thành phố. Một phần của Tel Aviv mệnh danh là “White City” được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 2003 qua các tòa nhà có kiến trúc quốc tế, bao gồm cả Bauhaus (khu phố có kiến trúc dựa theo kiểu mẫu của trường Bauhaus tại Đức) và các tòa nhà khác.

    Ngày nay, khoảng 430 ngàn cư dân sinh sống tại Tel Aviv trên một diện tích 52 cây số vuông hay mật độ 7,500/ cây số vuông; 91 % cư dân là tín đồ Do Thái, dùng ngôn ngữ Hebrew.

    Tel Aviv có khá nhiều hý viện và viện bảo tàng lớn nhỏ; ngay cả khu Bauhaus cũng có một phòng triển lãm nho nhỏ trưng bày các di tích về lịch sử thành phố. Ngày đầu đến Israel, về đến quán trọ là Dế Mèn ngủ mê mệt. Buổi chiều chỉ kịp đi lanh quanh trong khu phố gần quán trọ trong vùng Dizengoff, tên đặt theo ông Meir Dizengoff, vị thị trưởng đầu tiên của thành phố. Chính khu phố này cũng từng bị đánh bom vài năm trước đây.
    Quán trọ Cinema dùng những vật dụng trong kỹ nghệ quay phim, chiếu phim để bài trí, phòng ốc đầy những bản quảng cáo cine cũ xưa, máy quay phim, máy ảnh… trên sân thượng là quán rượu, ta có thể vừa uống rượu vừa nhìn quanh thành phố. Hai bên quán trọ là những hàng quán san sát. Bờ biển khá gần, khoảng 15 phút lanh quanh là đến nơi.
    Tel Aviv không lớn lắm nên đi bộ khoảng 2 tiếng là có thể quan sát những phố chính, và có cả một quán cà phê mang bảng hiệu “Cà Phê Hà Nội”, phe ta đi ngang nhưng không ghé [vì không phải là “Cà phê Saigon”] nên chẳng bên trong có những gì.

    Một ít hình ảnh từ Tel Aviv:

    Hình 1 – Quán trọ Cinema

    hotelcinema.JPG

    Hình 2, 3, 4 – Bên bờ Địa Trung Hải - Tel Aviv

    BeachWalk.JPG TelAvivBeach.jpg
    BeachTA.jpg

    Hình 5, 6, 7 – Công trường và đài tưởng niệm Yitzhak Rabin

    Rabin.JPG Rabin2.JPG Rabin3.JPG

    Hình 8, 9, 10 – Đường phố Tel Aviv và quán cà phê Hanoi

    TelAvivStreet.JPG TelAvivStreet2.JPG Hanoi.JPG

    (Còn tiếp)
     
    p324530 likes this.
  18. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Những thành phố lớn của IsraeL: Tel Aviv & Haifa (2)

    Tel Aviv – Jaffa (2)

    Tel Aviv có khá nhiều hý viện và viện bảo tàng lớn nhỏ; ngay cả khu Bauhaus cũng có một phòng triển lãm nho nhỏ trưng bày các di tích về lịch sử thành phố. Ngày đầu đến Israel, phi trường chính Ben Gurion nằm ở Tel Aviv, về đến quán trọ là Dế Mèn ngủ mê mệt. Buổi chiều chỉ kịp đi lanh quanh trong khu phố gần quán trọ, vùng Dizengoff tên đặt theo ông Meir Dizengoff, vị thị trưởng đầu tiên của thành phố.

    Cũng như mọi thành phố lớn khác, Tel Aviv có bộ mặt “tân thời”, cũng những tòa nhà chọc trời, khu thương mại, hàng ăn, quán rượu quán cà phê… khắp nơi. Người trẻ trong thành phố cũng quần jeans áo thun và chúi mũi vào chiếc điện thoại di động như mọi người trẻ ở những nơi khác. Nhìn thoáng, Tel Aviv chẳng có chi đặc biệt ngoài những bảng hiệu Hebrew và thỉnh thoảng, đề chữ Ả Rập nhưng hầu như quán ăn nào cũng có thực đơn Anh ngữ dù chưng bảng hiệu Hebrew hoặc Ả Rập. Có lẽ đây là “dấu hiệu” của một thành phố quốc tế.

    Đông cư dân nên Tel Aviv khá đắt đỏ, nhà cửa rất cao giá, một chung cư nhỏ nhỏ, một phòng ngủ rộng cỡ 400 bộ vuông, giá thuê khoảng 1,500 -3,000 mỹ kim mỗi tháng tùy theo địa điểm. Đắt gần như phòng ốc trong New York City. Vì thế những người trẻ sinh sống ở đây cũng cần chia “nhà” để có thể cáng đáng được giá sinh hoạt. Và họ hồn nhiên kể chuyện kẻ ngủ trên giường, người nằm dưới đất hầu tiết kiệm tiền bạc…, chọn cách sống giản tiện tối thiểu, dùng tiền kiếm được vào các món giải trí hay du lịch. Tạm hiểu là “ăn”, “ở” không được xem là quan trọng như nhu cầu giải trí, hưởng thụ về tinh thần.

    Thức ăn ở Tel Aviv hoặc Israel, nói chung, không có chi đặc biệt, tín đồ Do Thái không ăn thịt heo và các loại hải sản có vỏ như tôm, cua và tùy theo mức độ thuần thành, các tín đồ này có thể ăn uống theo giáo luật Kosher chặt chẽ. Đại khái là các món thịt không nấu hoặc ăn chung với các món [có] sữa [thú vật như bò/dê…]; thí dụ, cái nồi nấu thịt không dùng để nấu những thứ có sữa; cái chén đựng kem (chế biến từ sữa thú vật) không được dùng để chứa thịt, và thú vật khi đem mổ thịt cũng theo một số các giáo luật riêng. Gia đình Do Thái thuần thành thường có hai cái bếp lò, hai bộ nồi niêu soong chảo, hai bộ chén dĩa… dành riêng cho các món thịt và món sữa. Giản dị hơn, họ chỉ ăn các món sữa xuất phát từ cây cỏ như sữa đậu nành, bơ thực vật, bơ almond, kem almond… có thể nấu / ăn chung với thịt cá.
    Các món địa phương dễ tìm là cá chiên, cá nướng, thịt bò nướng… khó lòng kiếm ra một khúc xúc xích thịt heo. Các món quen thuộc của vùng Địa Trung Hải cũng có mặt rầm rộ ở Israel, ô liu đủ loại, humus, falafel… Ăn uống tại Israel trên hai tuần lễ, thành phố nào cũng thế dù theo cổ tục Ả Rập hay Do Thái, món ăn không có chi để kể với bạn, rượu vang địa phương thuộc loại “nhẹ ký”.
    Hôm đầu tiên đến đây trong tuần lễ Pass Over, hàng quán phần lớn đóng cửa nghỉ lễ, thức ăn lanh quanh với bánh không men nhạt nhẽo và đồ hộp! Chỉ vài hàng quán do người Ả Rập hoặc dân ngoại quốc làm chủ mới mở cửa đón khách du lịch. Phe ta gặm bánh mì phết mứt nho hai ngày liên tiếp vì không hảo những thứ như cá xông khói, phó mát. Nói tóm lại là vị nào đi tìm thức ăn cổ truyền lạ lẫm và ngon miệng thì Israel không phải là nơi vừa ý; mấy người trong nhóm du khách càm ràm quá xá chừng, rồi sau đó kéo nhau đi ăn cơm Tây, mì Ý và cá sống Nhật Bản, giá cả đắt ngang ngửa với Thụy Sĩ!

    Phi trường chính ở Tel Aviv và trạm xe lửa, xe bus đi khắp nơi cũng tọa lạc ở đây nên không lạ là du khách dùng Tel Aviv là tụ điểm đến và đi. Trừ khi ta đến thành phố này vì công việc làm ăn buôn bán, cần dừng chân lâu ngày, bằng không, chỉ cần 1-2 hôm là quá đủ để nhìn quanh và thăm viếng thành phố mẹ, Jaffa, cách Tel Aviv một đoạn đường ngắn ngủi, 20 phút lái xe.

    Jaffa theo tiếng Ả Rập hoặc Yafo (יפו‎) theo Hebrew, là một thành phố bờ biển cổ xưa, nặng hơi hướng Trung Đông và những tòa nhà cũ mới xen lẫn. Đây là một hải cảng “già” nhất của thế giới, đã có thời được xem là “Bride of the Sea”, tên tuổi thành phố nhỏ xíu này gắn liền với những bài thánh kinh về Jonah, Solomon và cả Thánh Peter. Giữa mấy con đường chính, Jaffa vẫn còn giữ được những con hẻm ngoằn ngoèo uốn lượn lên dốc xuống đồi. Để mời gọi nghệ sĩ, chính quyền thành phố đã tặng không một số nhà cửa nên một số lớn nghệ sĩ trình diễn cũng như nghệ sĩ sáng tạo của Israel sinh sống ở đây, tạo ra khá nhiều phòng triển lãm lớn nhỏ.

    Dân số Jaffa khoảng 45 ngàn người, 2/3 là tín đồ Do Thái, phần còn lại là những người Ả Rập theo đạo Thiên Chúa hoặc đạo Hồi.
    Chỉ mới chục năm trước đây, Jaffa là vùng “tội lỗi”, chốn tụ họp của thế giới ma túy và cờ bạc, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, thành phố được “dọn dẹp” nên ngày nay xem ra an toàn hơn, nhất là khi du khách rủ nhau đến thăm viếng vài di tích cổ. Nổi tiếng nhất có lẽ là nhà thờ St Peter do nhà dòng Francisco của hội thánh La Mã trông nom. Ngôi nhà thờ này xây cất trên nền đồn trại của quân Thập Tự từ năm 1654, tôn vinh Thánh Peter người đã khiến môn đệ, Thánh Tabitha, sống lại. Sách vở ghi chép rằng Vua Napoleon đã dừng chân tại ngôi nhà thờ ấy (bên cạnh nhà thờ là công trường chính của thành phố, có hàng quán chưng hình tượng quân sĩ Pháp đứng ôm tấm thực đơn).
    Giữa thành phố là Clock Square với tòa tháp đồng hồ, do Sultan Abdul Hamid II xây dựng, tuổi thọ chỉ chừng trăm năm. Và gần đó là khu chợ trời bán đủ thứ thượng vàng hạ cám, đồ cổ cũng như các món trang sức bằng vàng / bạc thật và giả.

    Phòng triển lãm nghệ thuật đương đại lớn nhất tại Jaffa là của bà Ilna Goor, trưng bày nhiều tác phẩm lạ mắt chế tạo từ những vòng thép, những vật phế thải bằng kim loại, bằng gỗ… Dế Mèn nhìn ngắm đã đời mà vẫn chưa thấy cái đẹp của các tác phẩm ấy kể cả tác phẩm Poseidon (vị thần trong cổ tích Hy Lạp) bị đám con nít [rắn mắt] dùng đinh ba đâm xỉa… Phe ta nghe nói rằng bà Goor là một nghệ sĩ nổi tiếng thế giới, tác phẩm được mua với giá cả mấy trăm ngàn mỹ kim?!
    Phòng triển lãm khá đồ sộ lại nằm giữa công trường chính nên từ sân thượng ta có thể nhìn ra bờ biển Địa Trung Hải.
    Jaffa nhỏ xíu nên chỉ vài tiếng là ta có thể xem hết các thằng tích ở đây.

    Một ít hình ảnh từ Jaffa:

    Hình 1 -2 – Nhà thờ Thánh Peter, bên ngoài và bên trong

    JaffaStPete.outside.JPG JaffaSt.Peter.jpg

    Hình 3 – Đường hẻm quanh co tại Jaffa

    Jaffa3.jpg

    Hình 4 – Tác phẩm “Cây Cam Lơ Lửng” (“Oranger Suspendu”) nổi tiếng của Ran Morin

    Jaffa4.jpg

    Hình 5 – Công trường chính, nhìn từ sân thượng của phòng triển lãm Ilana Goor

    Jaffatownsquare.JPG

    Hình 6, 7, 8 – Vài tác phẩm tại phòng triển lãm Ilana Goor

    janaGoorMuseum.JPG JanaGoor2.JPG
    JanaGoor.JPG

    Hình 9 – Tháp Đồng Hồ giữa phố chợ

    Jaffamosque.jpg

    Hình 10 – Chuyện kể về Jaffa

    Jaffa2.jpg
     
    p324530 likes this.
  19. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Những thành phố lớn của Israel: Tel Aviv & Haifa (3)

    Haifa

    Haifa là thành phố lớn thứ ba của Israel, nằm trên lưng đồi Carmel đối diện với biển Địa Trung Hải; cảnh trí khá đẹp nên được gọi là “San Francisco của Israel” (lại so sánh với Huê Kỳ!?). Có lẽ đây là nơi tín đồ Do Thái và người Ả Rập sống chung hòa bình nhất so với những thành phố khác trên lãnh thổ Israel.
    Là một thành phố cổ xưa, hiện diện trong sách vở từ thế kỷ III trước Công Nguyên, Haifa cũng trải qua nhiều triều đại trị vì từ dân Canaanites, Israelites, Romans, Byzantines, Arabs, Crusaders, Kurds, the Mamluks, đến thời Ottoman Turks (1918). Vùng đất này bị quân đội Napoleon Bonaparte đánh chiếm năm 1799 nhưng tự lui quân, và thành phố rơi vào tay người Ai Cập năm 1831. Khi Israel trở thành thuộc địa của hoàng gia Anh, Haifa cũng chịu chung số phận nhưng cộng đồng di dân Đức, the Templers, vẫn được phép tiếp tục phát triển các dịch vụ cung cấp năng lượng [từ] hơi nước hoạt động và mở mang thành phố. Nhờ đó, Haifa trở thành một thành phố kỹ nghệ và hải cảng quan trọng của Israel.

    Vào đầu thế kỷ XX, dân số thành phố là 20,000 người với 96% Ả Rập; con số này tiết giảm dần dần, chỉ còn 53% Ả Rập vào năm 1945. Ngày nay, theo thống kê của Nha Kiểm Kê Dân Số địa phương, Haifa có 266,300 cư dân, 90% là người Israel không liệt kê tín ngưỡng; hầu hết những cư dân này đến từ liên bang Xô Viết, là những truyền nhân hoặc vợ / chồng của tín đồ Do Thái hồi hương. Số cư dân còn lại là nhóm Israeli-Arabs, người Israel gốc Ả Rập, sống quây quần trong những khu phố Wadi Nisnas, Abbas và Halisa. Có thể nói đây là những “xóm nghèo”, nhà cửa lụp xụp, nhếch nhác của thành phố, đường phố tối tăm, đầy rác rưởi. Có lẽ những người Ả Rập sinh sống tại Israel có lý do để căm ghét nhà cầm quyền, họ đi làm đóng thuế đầy đủ nhưng nơi sinh sống không được thành phố chăm sóc kỹ lưỡng như các khu phố khác?! Không biết có sự khác biệt về việc cung cấp các dịch vụ y tế, xã hội, giáo dục … giữa những cư dân gốc Ả Rập và cư dân gốc Do Thái hay không?

    Thắng tích nổi tiếng nhất tại đây là the Bah’ai Shrine & Gardens, một phần của Trung Tâm Bah’ai, the Bah’ai World Center, được UNESCO nhìn nhận là di sản thế giới. Là đất thánh của đạo Bah’ai nên tín đồ khắp nơi về đây hành hương rầm rộ.
    Đạo Bah’ai xuất phát từ Ba Tư trong thế kỷ XIX sau một trận tàn sát đẫm máu vì nhà cầm quyền thủa ấy không chấp nhận tôn giáo ấy. Tín đồ Bah’ai tin vào sự cộng hợp của mọi tôn giáo và cho rằng các vị lãnh đạo tinh thần như Jesus, Buddha, Muhammad, Moses… là các thiên sứ, được Thiên Chúa sai phái đi rao giảng đức tin; dù thời đại khác nhau nhưng cùng một đức tin. Vị thiên sứ gần đây nhất là Baha’ Allah và cũng là giáo chủ của tôn giáo này. Bah bị nhà cầm quyền Thổ cầm tù, đày đi Acre (một thôn làng thời La Mã tại Israel), ông Baha viết sách vở dạy dỗ tín đồ và chết tại đây. Môn đồ là ông Bab tiếp tục truyền đạo nhưng bị nhà cầm quyền đem giết, thân xác được tín đồ giấu diếm và đem về chôn cất tại Haifa trong một ngôi nhà mồ rất lớn và rất đẹp.
    Khu vườn được chăm sóc, cắt tỉa kỹ lưỡng nên hoa cỏ rực rỡ. Khách viếng thăm như Dế Mèn đây chỉ được đứng ngó quanh từ đỉnh đồi, không được đi lang thang trong vườn cũng như không được héo lánh đến nhà mồ để xem bên trong. Buổi tối nhìn từ chân đồi, khu vườn rực rỡ ánh đèn.

    Một thắng tích khác khá nổi tiếng, một đài kỷ niệm thì có lẽ chính xác hơn, là Clandestine Immigration & Naval Museum. Nơi này ghi chép và trưng bày những di vật của thuyền nhân Do Thái trong thời Nazi. Cũng như các thuyền nhân Việt trong thập niên 80 của thế kỷ trước, người Do Thái cũng lên tàu, lên thuyền bỏ trốn dù bị tàu của hoàng gia Anh cầm nhập cảnh và đã đẩy tàu ra biển, hoặc nổ thủy đạn để đánh chìm. Cả ngàn người chết trên biển, kẻ sống sót (tàu Exodus) bị cầm tù và bị trả về trại tập trung ở Cypres hoặc Đức.
    Lịch sử xem ra tiếp tục lặp đi lặp lại, từ bờ biển Haifa đến bờ biển Thái Lan, Mã Lai, rồi Ý, Hy Lạp ngày nay…

    Acre (Akko) là một di tích La Mã cách Haifa khoảng 12 dặm về phía bắc. Trải qua các triều đại sau thời La Mã, Acre trở thành nơi pha trộn các văn hóa khác nhau, các kiến trúc Hy La lẫn với Ả Rập. Một thời xa xưa, nơi này là chốn qua lại của các thương buôn từ đường biển nên đường sá lát đá chắc chắn, cũng những hồ tắm, quán trọ, đền thờ…, và cả một hý viện lộ thiên còn đến ngày nay. Thành phố bao bọc bởi tường thành khá cao.
    Gần thành nội là đền thờ Hồi giáo Al Jazzar Mosque hay “White Mosque”, đền thờ Hồi giáo lớn thứ nhì tại Israel. Ngôi đền thờ được xây cất năm 1781, trong thời Ottoman. Để bảo vệ quyền lực, chính quyền Ottoman gửi một tướng lãnh gốc Bosnia đến Acre, ám sát lãnh chúa Dhaher al-Omar. Al Jazzar (“đồ tể” theo tiếng Ả Rập) tên thật là Jezzar Pasha, nổi tiếng là độc ác, hung bạo, đã thành công và trở thành lãnh chúa của Acre, trung thành với hoàng triều Ottoman. Cũng chính lãnh chúa này đẩy lui quân đội Napoleon năm 1799, và phá vỡ ước mộng chiếm giữ vùng Trung Đông của người Pháp. Khi còn tại chức, lãnh chúa cho xây đền thờ và một số các kiến trúc khác mang tên ông ấy.

    Vô cửa du khách nữ phải trùm khăn che tóc. Bên trong hình như có một bệ thờ chứa mấy sợi tóc của giáo chủ Mohammad dành riêng cho tín đồ đến chiêm bái. Du khách chỉ được đứng từ xa mà ngó. Ngó thì ngó nhưng phe ta ngầm so sánh ngôi đền này với ngôi đền “Blue Mosque” bên Thổ thì thấy thua xa về mặt kiến trúc cũng như vẻ tinh xảo, tỉ mỉ.

    Phe ta theo nhóm du khách đi xe điện treo để đến xem hang động Rosh HaNikra, khá đẹp, hang động này ở sát biên giới Lebanon. Bên kia hàng rào là lính biên phòng súng ống rầm rộ nên Dế Mèn chỉ đứng ngó từ xa; đến đây mới thật sự “cảm” được cách sinh sống “hồi hộp” của người Israel, tựa lưng bờ biển nhưng chung quanh là đất thù. Hàng xóm Ả Rập nào cũng rình rình, chờ cơ hội để xóa sổ đất nước non trẻ nhưng khí phách và can đảm ấy.

    Một ít hình ảnh từ Haifa:

    Hình 1 – Bản thông báo cấm khách trọ mang thức ăn không “sạch” (theo giáo luật Kosher của Do Thái) vào khách sạn, sợ ô uế. Quán trọ ở Israel thường có những bữa rượu và ăn nhẹ vào buổi chiều, không biết có dính dáng chi đến “Afternoon Tea” của dân Ăng Lê không? Rượu, cà phê, trà và các món phó mát, bánh mì (nhưng vào dịp Pass Over thì chỉ có bánh lạt không men nhạt nhẽo), bánh ngọt, ô liu, cá xông khói…

    PassOverRules.jpg

    Hình 2 & 3 – Đường phố Haifa, xóm Ả Rập

    WadiNisna.JPG ArabNeighborhood.JPG

    Hình 4 – Đền thờ Bah’ai & Vườn

    Bah'aiGardens.JPG

    Hình 5 – Bờ biển Haifa nhìn từ vườn Bah’ai

    HaifaSeaside.JPG

    Hình 6 – Hý viện lộ thiên tại Acre

    Acre.jpg

    Hình 7 & 8 – Al Jazzar’s Mosque & bên trong:

    AlJazzarMosque.jpg MosqueInside.jpg

    Hình 9 – Hang động Rosh HaNikra

    RoshHanikraRock.jpg

    Hình 10 – Biên giới

    BorderSign.jpg
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn