Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Israel và những thánh tích

Chủ đề trong 'Bạn Đọc Sáng Tác' do lltran khởi đầu 23 tháng Tư 2018.

  1. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên


    Biển Chết



    Biển Chết, Biển Muối hay “Dead Sea”, “Al-Baḥr Al-Mayyit” (“Sea of Death”) theo tiếng Ả Rập, và “Yam HaMelaẖ” (“Salt Sea”) theo Hebrew , là tên gọi của vùng biển nằm giữa đất liềntrên biên giới của Israel và Jordan, phía tây nam của châu Á. Thực ra Biển Chết là một cái hồ nước muối dù có tên gọi là “biển”. Phía đông Biển Chết thuộc về Jordan; nửa nam của phía tây thuộc về Israel và nửa bắc của phía tây thuộc West Bank của Palestine nhưng bị chiếm đóng bởi Israel sau cuộc chiến tranh 1967; báo chí Ả Rập gọi vùng đất này là “đất tạm chiếm” hay ‘occupied land’. Từ phía bắc, nước sông Jordan đổ về Biển Chết.

    DeadSeaMap.jpg

    Theo tiền lệ từ thế kỷ XX, đo lường mực sâu của mặt đất dựa trên mực nước biển, Biển Chết có độ sâu 400 thước (1,300 bộ Anh) dưới mặt biển và là điểm sâu nhất, thấp nhất của địa cầu. Tuy nhiên, bị con người tận lực khai thác, cả Jordan lẫn Israel đều thu góp nước sống Jordan và nước Biển Chết để sử dụng, buôn bán nên độ sâu của Biển Chết mỗi ngày một sâu thêm: từ những năm 2010, độ sâu của Biển Chết là 430 thước và mỗi năm sâu thêm 1 thước nữa.

    20180413_084834.jpg

    Biển Chết dài khoảng 50 dặm, rộng khoảng 11 dặm và diện tích là 394 dặm vuông. Biển sâu nhưng cạn nước, mỗi ngày một khát khô như vùng sa mạc Judean chung quanh. Biển cạn nên đất khô và sụp, sinkholes, kéo theo những khách sạn & khu giải trí xây cất dọc bờ biển trong thập niên 70-80 của thế kỷ trước; ngày nay chỉ còn là mấy bãi muối khô dưới nắng mặt trời. Đi dọc theo bờ biển sẽ thấy những đùn muối nổi lên giữa các vũng nước. Bờ biển không có cát mà toàn là... muối.

    SeaCoast.jpg

    Ngoài sông Jordan, nguồn nước chính, bốn lạch nước Al-ʿUẓaymī, Zarqāʾ Māʿīn, Al-Mawjib, và Al-Ḥasā cũng đổ nước về Biển Chết. Vài mạch nước chứa nhiều lưu huỳnh chảy ngầm dưới đất cũng đổ về Biển Chết; không lạ là không khí trong vùng thoang thoảng mùi trứng thối.

    Lượng muối của Biển Chết thay đổi theo độ sâu; ở độ sâu khoảng 40 thước, Biển Chết có nhiệt độ là 66 – 98 độ F, nồng độ muối khoảng 300ppm hay 300mg muối trong mỗi lít nước và nước chứa nhiều sulfates & bicarbonates. Ở mức sâu hơn (40-100 thước), nồng độ muối gia tăng 332ppm, nước chứa hydrogen sulfide nhiều khoáng chất khác như magnesium, potassium, chlorine, và bromine. Ở mực sâu hơn nữa, nước chứa toàn muối và đóng cục dưới đáy.
    Muối Biển Chết mặn nhưng có vị đắng, có lẽ do các khoáng chất. Nước biển cũng đắng như thế.

    SaltRock.jpg SaltHill.jpg

    Con người tận dụng nước và khoáng chất nên sinh thái tại Biển Chết và vùng phụ cận thay đổi khá nhiều, muối và khoáng chất trong nước biển đóng từng lớp, lúc nổi lúc chìm tùy theo nhiệt độ. Tuy nhiên, nước mặn nên chẳng có mấy loài thủy sinh sống sót trừ halophytes. Nước muối “nặng” nên người đi bơi có thể nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Dế Mèn thò hai chân xuống biển, sức vóc cũng khá khá mà vẫn có cảm tưởng chênh vênh, hai chân như bị đẩy ngược lên mặt nước và sẽ té nhào. Nhớ đến câu chuyện kể trong kinh thánh là Jesus có thể “đi” trên mặt nước, có lẽ là tại vùng Biển Chết này đây?

    Năm 2015, Israel và Jordan ký kết một hiệp ước đồng lòng tiết giảm việc khai thác Biển Chết, chỉ lấy muối khoáng ở mức nhất định để bảo vệ vùng sinh thái. Đứng trên núi [muối], ta có thể thấy xe vận tải đi lại dọc biên giới, vận chuyển những kiện hàng ra vào xưởng chế biến. Và để có đủ nước dùng, cả hai quốc gia đều đặt các trạm lọc nước dọc kênh đào từ Biển Đỏ (Red Sea), muối thải ra được đổ vào Biển Chết. Người Israel rất hãnh diện về kỹ thuật lọc nước biển (loại trừ muối) của họ, người dẫn đường nói rằng họ đang hướng dẫn người California về cách áp dụng kỹ thuật lọc nước kể trên để giảm hậu quả của việc hạn hán liên miên (?). Riêng Dế Mèn thì thắc mắc lắm, muối từ Biển Đỏ, biển Địa Trung Hải có thể khuân ra Biển Chết; Biển Chết không có thủy sinh nên bỏ thêm muối thì cũng không mấy ảnh hưởng (?), nhưng còn Thái Bình Dương thì sao? Nếu California lấy nước để dùng thì người Huê Kỳ sẽ đổ muối đi đâu? Và sẽ gây ảnh hưởng gì với vùng sinh thái chung quanh?

    Băn khoăn về chuyện sinh thái nhưng bá tánh vẫn kiếm bạc triệu trong việc khai thác khoáng chất từ Biển Chết. Israel có cả ba bốn công ty mỹ phẩm rao bán các sản phẩm từ Biển Chết để làm đẹp, để chữa bệnh hầm bà lằng. Các món hàng ấy đắt gấp đôi so với giá cả bán bên Hoa Kỳ. Họ quảng cáo rằng mấy món bùn nhão, muối hột, kem thoa mặt, thoa tay chân chứa khoáng chất của Biển Chết …; sản phẩm từ Biển Chết không chứa phấn hoa (?), tinh tuyền (chẳng có thứ gì sống nổi trong thứ nước mặn như thế nên tinh tuyền là điều dễ hiểu?!) lắm…; sẽ cải lão hoàn đồng, quý bà quý cô sẽ trẻ ra ít nhất mười tuổi sau khi dùng… [bùn hút hết chất nhờn trên da nên sau khi rửa mặt, sẽ thấy da căng (taut) trong chốc lát cho đến các túi dầu (sebaceous glands) ở lỗ chân lông tiết ra đủ lượng chất nhờn (sebum) cần thiết].
    Lang thang dọc bờ biển, phe ta thấy có mấy phụ nữ thoa bùn lên mặt, định chụp hình về khoe bạn đọc mà sợ bị ném đá [muối cục] nên chỉ cười cười đi tiếp. Có người bạn trong nhóm sau khi đắp bùn lên mặt than rằng sao da tui khô quá xá… Dế Mèn định chọc ghẹo là muối Biển Chết được dùng để ướp xác (chuyện có thực), nhưng không dám.

    Mấy ngày ở Biển Chết trời nắng gắt, không khí sa mạc lại khô rang nên chỉ có thể lang thang vào buổi mai, đến khoảng hai giờ trưa là ngầy ngật mệt mỏi, về quán trọ chỉ gặp những du khách Nga kẻ đi lại, người ngồi phi thuốc lá mù mịt, ai cũng ở trần phơi thùng nước lèo với cái quần tắm kiểu ‘Z string’ nên trông nản lòng hết sức. Dế Mèn nghe nói rằng dân Nga thích đi tắm nước muối, yêu chuộng các loại “spas” nên Biển Chết là nơi nghỉ “mát” lý tưởng của họ. Phe ta ở đó ba ngày, đủ để ghé thăm Masada, Qum Ran, ốc đảo Ein Gedi và lanh quanh trong sa mạc, giữa các ngọn đồi kết tinh từ muối nên chuyến đi khá thích thú.
     
    Gấu Nhẫn Nại and p324530 like this.
  2. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Di tích Masada

    Quanh vùng Biển Chết là một số di tích được xem là “thắng cảnh quốc gia” của Israel, từ núi đá, hang động đến ốc đảo: Masada, Qum Ran và Ein Gedi. Là vùng đất cổ xưa, việc mô tả các di tích tại Israel thường được (bị) lẫn lộn giữa những dữ kiện được khảo sát rồi chứng minh theo khoa học khảo cổ và những lời dẫn giải dựa trên thánh kinh (Cựu Ước). Con người hiện diện tại Biển Chết từ 300 năm trước Công Nguyên, thời Hellenist và the kinh thánh Hebrew thì thủa ấy là thời khai mở của đạo Do Thái với ông tổ Abraham.
    Sa mạc hoang vu bao quanh Biển Chết với các hang động sâu kín là nơi trốn tránh lý tưởng cho các thủ lãnh thua trận bị quân thù truy đuổi. Lịch sử Israel kể lại rằng khi thành Jerusalem thất thủ, vua David (vị vua mở nước, king of Israel) và đời sau là vua Herod Israel (king of Judaea) đã ẩn thân ở đây.

    Masada được UNESCO nhìn nhận là di sản thế giới vào năm 2001, xem ra muộn màng (?) so với số tuổi và kết quả của các công trình khảo cổ được công bố từ những năm 60 của thế kỷ trước. Nhìn từ xa lộ 90, Masada giống như tảng núi không có ngọn, “đỉnh” núi là một mặt phẳng lớn.
    Mặt phẳng Masada dài 650 thước và rộng 300 thước; nơi đó, vua Herod (trị vì từ năm 37 [trước Công Nguyên] đến năm 4 [trước Công Nguyên])* xây thành quách làm nơi nghỉ mát và cũng là nơi trú ẩn khi quân thù đánh thành Jerusalem. Là người nổi tiếng xa hoa, thích tiêu xài rộng rãi nên giữa sa mạc hoang vu nọ, vua Herod đã cho xây hai tòa lâu đài lớn, Northern Palace và Western Palace. Dù ngày nay chỉ còn là những đống đá nhưng di tích vẫn cho thấy đầy đủ các phòng ốc cẩn đá hoa, tường vách sơn phết vàng đỏ, cột kèo …, từ chỗ ở, nơi tắm táp (Roman bath) với ống dẫn nước nóng và chỗ đun nước (!) đến hồ nước và nhà kho. Nhìn ngắm quần thể di tích mênh mông mà thương dân công, quân lính xây thành quá đỗi, không biết bao nhiêu mồ hôi, máu và nước mắt đã đổ ra ở chốn này? Dế Mèn lên núi bằng xe điện treo, cable car, giữa trời lơ lửng rồi đi quanh leo trèo mươi bậc thang đá để nhìn ngắm mà còn tháo mồ hôi huống hồ dân phu khuân vác vật liệu xây cất!

    Lịch sử Masada do ông Josephus Flavius, nguyên là tướng Do Thái sau khi thua trận đã đầu hàng và theo người La Mã, ghi chép về trận thư hùng kéo dài hai năm giữa quân La Mã và dân quân Do Thái do Eleazar ben-Yair lãnh đạo. Chuyện kể rằng sau khi vua Herod qua đời, dân Judea lại nổi lên chống đối và vào năm 6, đất Judea được chia hẳn cho La Mã; Masada trở thành nhà tù nơi giam giữ quân [Do Thái] nổi dậy và tội phạm.
    Năm 66, trong cuộc Cách Mạng (Great Revolt) của người Do Thái nổi dậy chống quân La Mã, nhóm Sicarii (lính đeo gươm mũi cong sica) chiếm được Masada và đóng quân ở đó cho đến khi thua trận. Masada bị quân La Mã chiếm lại vào năm 74. Trong thời gian sinh sống ở Masada, dân quân Do Thái xây cất phòng ốc riêng để sử dụng; xây synagogue để thờ phượng và xây cả nơi tắm rửa theo giáo luật Do Thái, ritual bath, kiểu phòng tắm đặc thù của Do Thái. Di tích của các kiến trúc này vẫn còn cho đến ngày nay và người Do Thái theo dấu vết ấy mà nhìn nhận di đồ của tổ tiên.
    Hào hùng nhất là di ngôn của tướng Eleazar ben-Yair khi thành Masada bị tấn công và sắp mất vào tay quân La Mã, thay vì chịu bị bắt sống và giữ làm nô lệ, ông ấy khuyến khích 90 người lính còn lại rằng hãy về nhà giết hết vợ con rồi cùng nhau chết. Với 10 người sau cùng, họ bắt thăm, người đầu tiên được người thứ hai giết, tuần tự như thế, cho đến người chót phải tự sát (chịu phạm giáo luật). Ngày nay, lúc khai quật, các nhà khảo cổ tìm thấy các mảnh bình vỡ ghi chép tên 10 người lính sau cùng.
    Khi quân đội La Mã vào Masada, họ tìm thấy hai phụ nữ và mấy đứa trẻ còn sống sót ẩn trốn sau hồ nước; những người này kể lại câu chuyện đi vào lịch sử kể trên. Ngày thất trận của dân quân Do Thái trùng với ngày đầu của tuần lễ Vượt Qua.

    Thành Masada thất thủ đánh dấu cuộc nổi dậy bất thành cuối cùng của dân quân Do Thái , và người La Mã hoàn toàn cai trị Judea cho đến thế kỷ II.

    Vào thời Byzantine, Masada trở thành tu viện của các dòng tu đạo Thiên Chúa cho đến khi vùng Judea rơi vào tay người Ả Rập trong thế kỷ VII, Masada trở thành “es-Sebbeh”.
    Đến thế kỷ XIX, Masada được khám phá bởi các nhà khảo cổ Anh, và việc sưu khảo bởi các nhà khảo cổ Do Thái tiếp tục cho đến năm 1965, đến năm 1971 thì người Israel đặt hệ thống xe điện treo để mở mang di tích cho bá tánh thăm viếng. Song song với chương trình khai quật di tích, năm 1923, cuốn sách cổ “The Wars of the Jews” của Josephus Flavius được chuyển dịch từ La Tinh sang Hebrew, chiến tích oai hùng của Eleazar ben-Yair được loan truyền rộng rãi và từ đó Masada trở thành biểu tượng của việc nổi dậy đòi độc lập, tinh thần quốc gia của người Do Thái.

    Vé xem di tích bao gồm vé vào viện bảo tàng (cất giữ cổ vật), lệ phí xe điện treo, và vé xem đoạn phim ngắn ghi chép công trình khảo cổ. Dưới đây là một vài hình ảnh về Masada:

    Từ xe điện treo:

    Masada2.jpg
    Masada3.jpg

    Mô hình của Masada:

    MasadaModel.jpg

    Mô hình của Northern Palace:

    M.NorthPalace.jpg

    Nơi vua chúa cư trú:

    CommanderRm.jpg

    Roman bath:

    MasadaBath.jpg

    Synogogue của người Do Thái:

    synagogue.jpg

    Mảnh vỡ ghi tên 10 người lính cuối cùng:

    The Lots.jpg

    Trong khi leo trèo, nhìn ngắm, Dế Mèn gặp gỡ một nhóm sinh viên Việt Nam, các bạn trẻ qua Israel khoảng một năm để thực tập về nông nghiệp, học hỏi kỹ thuật canh nông. Người Do Thái thành công trong việc biến đất sa mạc thành nơi trồng cấy mấy trăm mẫu chà là sai trái. Chà là ở đây rất dẻo, ngọt đậm nhưng không gắt, khá nổi tiếng.


    MasadaV.Friends.jpg

    Người dẫn đường có “khoe” rằng Israel không sản xuất được nhiều thứ nhưng có trí tuệ, kiến thức để rao bán khắp nơi. Và theo một người bạn trẻ, Việt Nam với đường lối truyền thông “định hướng”, họ chỉ biết đến Israel qua kỹ thuật canh nông dù nông sản chỉ chiếm 2% GDP, nghĩa là nông nghiệp không phải là một kỹ nghệ quan trọng cuả đất nước này!

    *Chi tiết này khiến các sử gia đặt câu hỏi về năm sinh của Chúa Jesus, họ ước định rằng Chúa ra đời khoảng năm 6 [trước Công Nguyên] đến năm 4 [trước Công Nguyên] vì sách vở chép rằng lúc gần mãn đời, vì lo sợ việc dòng dõi vua David xuất hiện lấy lại lãnh thổ, vua Herod cho lệnh tru diệt các hài nhi Do Thái. Khi bà Maria mang thai, phải về nguyên quán của ông Joseph để ghi danh theo luật lệ hộ tịch, đến Bethlehem thì sanh nở.
     
    KhucCamTa and p324530 like this.
  3. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Hang động trong núi đá - Qumrān

    Qumrān hay Kumran là một di tích nằm bên bờ tây bắc của Biển Chết. Đây là một dãy núi với nhiều hang động và thung lũng trong sa mạc. Người thế giới chỉ biết đến Qumrān từ năm 1947 khi các nhà khảo cổ tìm ra những cuộn da với chữ viết. Những cổ thư này được đặt tên “the Dead Sea Scrolls”.
    Câu chuyện “khám phá” khởi đầu bằng việc một người chăn dê (bộ tộc Bedoin) tìm kiếm một con dê lạc đàn. Khi quẳng một viên đá xuống thung lũng (để ước lượng độ sâu), tiếng vọng cho thấy viên đá chạm vào một vật bằng gốm, và có vật dụng là có [dấu vết của] con người. Nhóm người chăn dê lần mò xuống thung lũng tìm kiếm, họ tìm thấy những mảnh gốm vỡ và các hang động. Trong các hang động là các cuộn da có chữ viết.
    Một chút về các bộ tộc Bedoin: họ là những người du mục nói tiếng Ả Rập, sống rày đây mai đó theo chân các đoàn gia súc đi tìm đồng cỏ. Khi gia súc ăn cạn nguồn cây cỏ, người chăn dẫn thú đi nơi khác. Nếp sống ấy tiếp nối qua cả ngàn năm nhưng ngày nay, tại những sa mạc kể cả vùng Trung Đông, ta vẫn tìm thấy các túp lều xiêu vẹo vá víu dưới chân núi. Vì lý do chính trị và quân sự, người Bedoin tại Israel và Jordan không còn được phép sống lang thang nữa, họ phải ghi danh theo sổ bộ địa phương và sinh sống tại một nơi cố định theo luật pháp.

    Nhóm Bedouin dạm bán các cổ vật tìm thấy, bắt đầu từ hai thương nhân từ giáo hội [Thiên Chúa] Syria, dẫn đến vị lãnh đạo nhà dòng tu viện Saint Mark tại Jerusalem, the Metropolitan Mar Athanase Samuel. Cùng lúc, các cuộn da có chữ viết khác được đem bán cho Giáo Sư Eleazar Sukenik của Hebrew University of Jerusalem. Vị giáo sư này nhận ngay ra sự quý hiếm của cổ thư và tìm cách mua lại mọi các cổ thư khác kể cả mấy cuộn da của Metropolitan Mar Samuel. Tuy nhiên các cổ thư ấy được cất dấu và đem rao bán tại Hoa Kỳ với giá cao; không bán được, năm 1954, ông Samuel bèn quảng cáo trên báo chí và truyền nhân của Giáo Sư Sukenik, ông Yigael Yadin, âm thầm dấu tên để mua lại. Do đó Israel giữ lại được các cổ thư này.

    Chỉ trong vòng hai năm sau ngày khám phá cổ vật, năm 1949, cuộc khảo cứu do linh mục Roland de Vaux, Giám Đốc the École Biblique et Archéologique de Jérusalem và ông Gerald Lankaster Harding, Giám Đốc the Department of Antiquities in Jordan lãnh đạo bắt đầu. Kế tiếp là sự hợp tác của các nhà khảo cổ Pháp, Anh và Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm khai quật, cất giữ cổ vật; họ tranh đua với các nhóm du mục Bedoin trước khi các di tích bị phá nát. Ngày ấy, Israel là một quốc gia mới thành hình, luật pháp lỏng lẻo và việc kiểm soát lãnh thổ chưa chặt chẽ nên cổ vật, các món quốc bảo đã bị bá tánh rầm rộ khuân vác đi nơi khác để bán cho được giá!

    Trong giai đoạn 1947 - 1955, hằng trăm hang động trong vùng Qumrān được “thăm viếng”, khai quật, trong số này, 11 hang động cất dấu 900 cổ thư gom góp từ cả mấy trăm ngàn mảnh da vụn trong bình gốm. Các chuyên gia cho rằng đây chỉ là một phần rất nhỏ vì khí hậu qua thời gian ngàn năm đã huỷ hoại khá nhiều cổ thư chưa kể những món bị đánh cắp, cất dấu.

    Những cổ thư kể trên ghi chép những gì? Cổ thư ghi chép các sinh hoạt tôn giáo của một giáo phái Do Thái trong giai đoạn trước thời Đền Thờ Jerusalem bị tàn phá năm 70 (Kinh thánh và lịch sử Israel dùng “Đền Thờ Jerusalem” “First Temple era” [bị tàn phá và xây dựng lại], “Second Temple era” [cũng bị tàn phá] làm mốc thời gian). Cổ thư được chia làm hai nhóm: ‘Kinh Thánh” và các [ghi chép] bên ngoài Kinh Thánh; các cổ thư liên quan đến Kinh Thánh Cựu Ước (chiếm 25% số cổ thư) rất gần gũi với các giáo luật của kinh thánh Do Thái và kinh thánh Thiên Chúa giáo trong khi các cổ thư khác bao gồm những lời diễn giải, ý kiến của tu sĩ về ý nghĩa của kinh thánh. Một phần của những lời diễn giải này được lưu truyền đến ngày nay qua kinh sách Do Thái / Thiên Chúa từ thời Trung Cổ. Tạm hiểu là có nhiều tương đồng trong kinh thánh Do Thái và Thiên Chúa giáo, từ nguyên thủy đến cách diễn giải.

    Đây là một khám phá quan trọng nhất của ngành khảo cổ trong thế kỷ XX. Khám phá này chẳng những ghi chép dấu vết của một nhóm người cổ xưa mà còn mang lại các chi tiết dẫn đến nhiều câu hỏi về nguồn gốc của đạo Do Thái và đạo Thiên Chúa.

    Về mặt địa lý, di tích Qumrān là một quần thể rộng khoảng tám cây số vuông bao gồm nhiều tòa nhà với đầy đủ hệ thống dẫn nước, 8 hồ chứa nước và 2 bồn tắm. Các tòa nhà gạch lớn có cả lò sưởi dùng làm chỗ nấu nướng, và cả một tòa nhà nơi vị tu sĩ lãnh đạo ghi chép kinh kệ, ‘scriptorium’, với bàn ghế bằng gạch trộn đất nung và cả những lõm mực trên bàn. Nhà kho chứa nhiều đồ gốm và di tích có cả một lò nung để chế tạo vật dụng cần thiết, từ lu khạp, bình tích đến cối xay bột… Gần đó là một nghĩa trang chôn cất 1,100 bộ xương đàn ông; một nghĩa trang nhỏ hơn chôn cất khoảng 100 bộ xương phụ nữ và trẻ em. Nói giản dị là thủa ấy người chết được chôn cất theo giới tính, trẻ em được chôn cất chung với phụ nữ. Các di vật này cho thấy Qumrān là nơi trú ngụ của một nhóm cư dân ngày trước.

    Các cuộn da ghi chép dấu tích của nhóm cư dân kể trên, nhóm người Essenes. Về mặt nhân chủng, cộng đồng Essenes là những người Do Thái “ly khai”, tách rời khỏi bộ tộc gốc trong thế kỷ II trước Công Nguyên (khoảng 2200 năm trước đây) khi bị các lãnh đạo tôn giáo Jonathan Maccabeus và Simon Maccabeus truy đuổi. Cộng đồng Essenes trốn vào sa mạc, sinh sống và thành lập một xã hội với giáo hội Do Thái riêng. Sự khác biệt của các giáo phái Do Thái nằm trong cách diễn giải và thi hành các giáo luật từ Cựu Ước. Cộng đồng Essenes tập trung vào việc học hỏi, tìm hiểu kinh thánh, cầu nguyện và canh tác. Họ sống chung như một gia đình lớn, cùng ăn tại nhà ăn và cùng làm việc theo thời khóa biểu chung. Khái niệm sống theo “cộng đồng” kể trên vẫn còn tồn tại đến ngày nay qua hình thức “kibbutz”.

    Sau khi quân đội La Mã chiếm lãnh toàn cõi Judea, cộng đồng Essenes rời bỏ nơi sinh sống và tản mát, Qumrān bị bỏ phế từ đó nhưng di sản tinh tinh thần, các cuộn da ghi chép kinh thánh và cuộc sống hàng ngày, được chôn dấu cất giữ trong các hang động quanh vùng.
    Ngày nay tuy vẫn còn các giáo phái Do Thái khác tuyên xưng các giáo luật tương tự nhưng không giáo phái nào ghi nhận cộng đồng Essenes là tổ tiên họ.
    Hiện nay các cổ thư tìm thấy được lưu trữ tại viện bảo tàng quốc gia, Israel Museum, tại Jerusalem trong khi các cổ vật khai quật được cất giữ tại viện bảo tàng địa phương.

    Dưới đây là một số hình ảnh của Qumrān:

    Hình 1 – Hang động và núi đá

    KumranCave.jpg

    Hình 2& 3 – Viện bảo tàng

    KumranMuseum.jpg KumRan.jpg

    Hình 4 – Cổ thư

    KumranScroll.jpg

    Hình 5 – Các cổ vật

    KumranStorage.jpg

    Hình 6 – Hồ tắm (Ritual bath)

    KumranRitualBath.jpg

    Hình 7 – Lều của dân du mục Bedoin

    BedoinHomes.jpg
     
    p324530 likes this.
  4. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Galilee và làng Nazareth

    Galilee là một vùng đất phía bắc của Israel, khoảng 2.5 tiếng lái xe từ Jerusalem. Diện tích của vùng đất này “co giãn” theo thời đại nhưng tựu trung, vùng Galilee bao gồm Biển Galilee, những ngọn đồi, đồng ruộng, các thôn làng nói tiếng Ả Rập trong lãnh thổ Israel và cả các kibbutzim (cộng đồng gồm nhiều gia đình chung sống & làm việc như một đại gia đình), được nhắc đến trong kinh thánh Tân Ước của Thiên Chúa giáo và cả kinh Quran của Hồi giáo. Tạm hiểu Nazareth là một thánh tích của Thiên Chúa giáo, từ giáo hội La Mã đến giáo hội Chính Thống và Tin Lành.

    Biển Galilee (Sea of Galilee) tuy được gọi là “Biển” nhưng thực sự là một hồ nước ngọt, trên sách vở địa lý và bản đồ ngày nay là “Lake Kinneret”. Quanh vùng Galilee là những thánh tích, từ làng Nazareth quê nhà của Thánh Maria (mẹ Chúa Jesus và cũng là nơi Chúa Jesus khôn lớn) đến thung lũng Jordan và Akko, một di tích thời La Mã.

    Làng Nazareth, tên gọi được nhìn nhận bởi khối Ả Rập và Israel, (Jesus hay Nazarene theo tiếng Ả Rập) ngày xa xưa là một thôn làng nhỏ xíu, khoảng 35 ngôi nhà. Một trong những ngôi nhà ấy là nơi Bà Maria cư ngụ trong thời thơ ấu. Nền móng ngôi nhà ấy là nhà nguyện xây cất từ thế kỷ IV thời Byzantine, được tu bổ thay đổi nhiều lần trong các thế kỷ kế tiếp. Kiến trúc mới nhất được hoàn tất vào năm 1969 và được gọi là nhà thờ Truyền Tin (Basilica of the Annunciation) trực thuộc hội thánh Thien Chúa La Mã. Theo kinh thánh, đây là nơi Thiên Thần Gabriel báo tin bà Maria sẽ thụ thai và sinh ra đấng Cứu Thế.
    Bên trong nhà thờ là di tích bồn tắm (ritual bath) của gia đình bà Maria. Mái vòm theo hình thể hoa loa kèn, tượng trưng cho sự tinh khiết. Hai bên tường là những tác phẩm Mẹ bồng Con (Madonna and Child) theo hình thể địa phương, từ Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản… Đẹp nhất, theo ý riêng, là tác phẩm của Nhật Bản cẩn xa cừ và áo bà Maria có màu cobalt xanh biếc. Bên ngoài, hai bên hành lang cũng trưng bày những tác phẩm tương tự của Philippines, Đại Hàn, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Mexico… Có cả một bức tranh từ Việt Nam, Nữ Vương Hòa Bình.
    Ngôi nhà thờ kề cận, Church of Saint Joseph, tương đối khiêm nhường, tương truyền rằng đây là nơi ông Joseph (cha của Chúa Jesus) mở tiệm thợ mộc.

    Giếng nước trong làng thủa xưa được ghi nhận là giếng nước nơi bà Maria đi lấy nước, Mary’s Well. Tuy nhiên, theo kinh sách của hội thánh Thiên Chúa Chính Thống Hy Lạp (Greek Orthodox Church) thì giếng nước Maria lại nằm trong khuôn viên của nhà thờ ấy, cũng trong làng Nazareth.

    Theo sách vở, Chúa Jesus sinh trưởng trong vùng Judea và theo đạo Judaism, Do Thái Giáo, được “rửa tội” và sinh sống theo nghi thức đạo Do Thái, dùng nước để tẩy rửa trước khi vào đền thờ, và trong làng vẫn còn di tích một synagogue nơi Jesus đến dự lễ hàng tuần.

    Thôn làng Nazareth, ngoài các thánh tích, là những con đường ngoằn ngoèo, hai bên đường là các cửa tiệm buôn bán từ hoa quả đến vật gia dụng; hàng hóa bày lỉnh kỉnh đủ món thập cẩm, in hệt các món chế tạo từ... Hoa Lục! Trong làng cư dân nói tiếng Ả Rập và theo đạo Thiên Chúa, Arab Christian hay “Nasara”, và theo Hebrew “Notzrim”. Sự khác biệt về ngôn ngữ ngay trong một thôn làng nhỏ xíu ấy cho thấy một bức tranh đặc thù của vùng “xôi đậu”; mỗi nhóm cư dân tranh đấu cật lực để giữ lấy “truyền thống” của họ, bắt đầu từ ngôn ngữ đến trang phục và phong cách tế lễ theo tôn giáo riêng. Người Ả Rập ở đó, tuy cũng là tín đồ Thiên Chúa Giáo nhưng họ cử hành lễ theo hội thánh riêng.

    Dưới đây là một số hình từ thôn làng Nazareth:

    Hình 1 & 2 – Nhà thờ Truyền Tin (từ bên ngoài) - Basilica of the Annunciation

    AnnunChurchOutside.jpg AnnunciationChurch.jpg

    Hình 3 – Mái vòm trong nhà thờ

    Annun.ChurchRoof.jpg

    Hình 4 – 7 – các tác phẩm về Mẹ Maria (Tác phẩm bằng kim loại đến từ Hoa Kỳ)

    American Madona.jpg HallwayMadonna.jpg ThaiMadona.jpg
    VietMadonna.jpg

    Hình 8 – Di tích từ đền thờ Do Thái (tương truyền rằng ngày trước Jesus đã từng dự lễ ở đây)

    Church Synagogue.jpg

    Hình 9 – Đường phố Nazareth

    NazarethStreet.jpg
     
  5. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Galilee và làng Nazareth (2)

    Từ làng Nazareth, tín đồ hành hương có thể đi bộ theo con đường ngày trước Chúa Jesus đã đi qua để đến Biển Galilee giảng đạo. Con đường đất, the Jesus Trail, dài khoảng 40 dặm (65 cây số), đi qua những rừng olive, mạch nước suối xưa cũ và cả những di tích đã bị hư hại khá nhiều. Con đường hành hương được thành lập do sự hợp tác của các nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo, Hồi Giáo và cả Do Thái giáo (con đường đi qua các thôn làng của các nhóm cư dân này). Dế Mèn đi theo xe bus cho nhanh và đỡ mất sức & thời giờ, chỉ dừng chân ở những thánh tích.

    Trong vùng Galilee, Mount Tabor (Tavor) là một trong những thánh tích quan trọng của giáo phái Canaanite, được xem là “bàn thờ” (altar) nơi Tiên Tri Elijah (Elias) tranh luận với Tiên Tri Baal của giáo phái này trong thế kỷ II. Đây cũng là ngọn núi cao nhất trong vùng Galilee, nơi Chúa Jesus hiện ra cùng ông Moses và Elijah. Hai ngôi nhà thờ, Basilica of Transfiguration (hội thánh La Mã) và Church of Elijah (hội thánh Hy Lạp Chính Thống) nằm trên đỉnh núi. Phe ta đứng ngó từ lưng núi, tín đồ hành hương chật hai bên đường nên Dế Mèn tháo lui.

    Nhóm du khách dừng chân tại Tiberias ăn trưa tại hàng quán bên bờ Galilee. Thành phố nhỏ xíu nhưng rất quan trọng với các tín đồ Do Thái: Sau khi đền thờ tại Jerusalem bị phá huỷ, tín đồ tản mát và tụ họp tại đây để tiếp tục học giáo lý và phát triển đạo giáo. Từ nơi này, xuất hiện các kinh sách nổi tiếng của Do Thái giáo, kinh Mishnah do giáo chủ Rabbi Yehuda Ha-Nassi thực hiện trong thế kỷ II và Jerusalem Talmud trong thế kỷ IV. Dế Mèn không biết chi về đạo Do Thái nên không “cảm” được mức quan trọng của thánh tích này.
    *Bốn thánh tích quan trọng của đạo Do Thái bao gồm Jerusalem, Tiberias, Hebron và Safed. Các thánh tích quan trọng của đạo Thiên Chúa bao gồm Bethlehem noi Jesus ra đời, vùng Galilee nơi ngài khôn lớn và giảng đạo (Nazareth, sông Jordan), Jerusalem nơi Chúa chịu nạn và lên trời.

    Safed nằm trên đồi, cao khoảng 3,000 bộ Anh so với mặt biển. Nơi này được xem là trung tâm linh hồn của đạo Do Thái (Kabbalah) nơi các tu sĩ tụ họp để nghiên cứu và chuyển dịch cổ thư, các bộ kinh sách từ 2,000 năm trước viết bằng ngôn ngữ Armenia, một ngôn ngữ hầu như sắp mất dấu. Vị tu sĩ giải thích sơ sơ về tinh thần đạo Do Thái và lý do ông ấy từ một Tiến Sĩ Thần Học tại Đại Học Chicago lại dọn về đây sinh sống để được tu học và sinh sống như các giáo sĩ thủa trước, không gian với ‘hơi thở tổ tiên’ và kinh thánh đã giúp ông ấy hiểu rõ hơn về Kabbalah.
    Thôn làng có một con đường chính, cổng vào hai bên tường còn in vết đạn từ trận chiến the Yom Kippur War năm 1973. Nhóm du khách thăm viếng trong tuần kỷ niệm Lễ Vượt Qua (Pass Over) nên trừ những hàng quán của người Ả Rập, hàng quán Do Thái đóng cửa, và nơi nào mở cửa cũng chỉ có bánh không men (unleavened bread), ỉu và nhạt thếch cùng mấy món như hummus (đậu nghiền nát với tỏi và dầu olive), rau tươi và phó mát.
    Phe ta mua được một bức tranh sơn dầu nhỏ nhỏ, vẽ con đường lên đồi của một họa sĩ địa phương, màu sắc rực rỡ, đem về đóng khung treo tường, thỉnh thoảng ngó bức tranh lại nghĩ đến chuyến đi đầy ắp lịch sử và di tích.

    Dưới đây là một ít hình ảnh về Galilee và Safed.

    Hình 1 – Giếng nước bà Mary

    Marys'Well.jpg

    Hình 2 – Tòa thị chính của làng Nazareth (chữ Ả Rập)

    NazarethTownHall.jpg

    Hình 3 – Biển Galilee

    SeaGalilee.jpg

    Hình 4 – Cổng vào làng Safed

    SafedEntrance.jpg

    Hình 5 - 8 – Đường phố Safed

    SafedOldHouse.jpg SafedStreet.jpg
    SafedStore.jpg LocalTaxi.jpg

    Hình 9 – Tu sĩ Do Thái

    KababalahRabbi.jpg

    Hình 10 – Giáo lý Do Thái

    SafedKabbalah.jpg
     
  6. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Galilee và thung lũng Jordan

    Con tàu của Jesus: Năm 1986, dân chài địa phương tìm thấy một con tàu trong bùn đất. Khi định tuổi theo ngành khảo cổ, con tàu được xem là có số tuổi trên dưới 2,000 năm, cùng thời đại với chúa Jesus. Ngày ấy dân chài dung các con thuyền tương tự để đánh cá trong biển Galilee, và người ta cho rằng Chính Chúa Jesus cũng sử dụng con tàu tương tự. Ở vùng biển này, theo kinh thánh Tân Ước, Chúa đã làm phép lạ, biến hai con cá và một ổ bánh mì thành thực phẩm nuôi cả trăm người đang tụ họp nghe ngài giảng đạo. Nơi tìm thấy xác con tàu cũ nát, ngày nay là một viện bảo tàng trưng bày hình ảnh về cuộc khai quật.

    Gần đó là ngọn đồi Capernaum (tên cũ là Kfar Nahum), theo sách vở là nơi gia đình ông Thánh Phê Rô (St. Peter, vị Giáo Hoàng đầu tiên của hội thánh Thiên Chúa La Mã) sinh sống. Trước khi theo chân Chúa, ông Phê Rô tên tục là Simon, cùng vợ con sinh sống trong vùng Galilee. Kinh sách không nhắc chi đến gia đình ông Simon sau khi ông này theo chân Chúa đi giảng đạo. Cách Capernaum khoảng 3 cây số là Mount of Beatitudes, một ngọn đồi thấp; trên đồi là một ngôi nhà thờ khá lớn, Church of the Beatitudes, trực thuộc hội thánh La Mã và do các tu sĩ dòng Franciscan trông coi. Sát bên cạnh nhà thờ là di tích một synagogue tuổi cỡ 3,000 năm. Theo thánh thư, Mount of Beatitudes được xem là một thánh tích nổi tiếng nơi bài giảng nổi tiếng của Chúa Jesus hiện ra sau khi sống lại, và truyền dạy môn đệ đi rao giảng lời Chúa khắp nơi, the Sermon on the Mount.

    Bên trong nhà thờ bài trí khá giản dị; ngoài sân có tượng thánh Phê Rô; và nhà dòng Franciscan cũng gần đó.

    Sông Jordan (dòng sông có tên này từ năm 1948) là nơi Chúa Jesus được Thánh John de Baptist rửa tội, và các tín đồ Thiên Chúa giáo (bất kể từ hội thánh La Mã, Chính Thống Nga, Chính Thống Hy Lạp hoặc Tin Lành…) khắp nơi đến đây để chịu phép Rửa Tội. Họ mua hoặc thuê áo để mặc ra ngoài quần áo tắm khi ngụp đầu xuống nước.

    Ngoài các thánh tích, Biển Galilee (hay Hồ Kinneret) là hồ nước ngọt duy nhất trong vùng. Hồ nước khá lớn với diện tích khoảng 65 dặm vuông, nuôi sống cư dân trong vùng qua ngành chài lưới và nông nghiệp. Không lạ là các quốc gia trong vùng tranh giành ráo riết. Sông Jordan chảy qua hồ Kinneret từ bắc đến nam; có những khúc sông được chia đôi, một bên là lãnh thổ Israel, bên kia là lãnh thổ Jordan. Lính biên phòng súng ống đầy đủ canh gác ngày đêm, không biết có tín đồ nào đến những khúc sông này chịu bí tích Rửa Tội hay không? Năm nọ Dế Mèn đi chơi bên Jordan, cũng đến sông Jordan nhưng ngần ngại trước cảnh lính võ trang đầy mình nên chỉ đứng nhìn từ xa. Năm nay đến khúc sông Jordan nằm trong lãnh thổ Israel nên có vẻ thanh bình. Dưới nước bá tánh lội bì bõm, có cả mấy ông mục sư / linh mục đứng giảng đạo ngay mé nước và con chiên bổn đạo tụ họp chung quanh. Trên bờ sông là những bức tường ghi chép thánh kinh dưới nhiều ngôn ngữ. Tiếng Việt cũng có mặt ở đây.

    Một ít hình ảnh về “Jesus Boat” và sông Jordan (nơi bí Tích Rửa Tội có tên “the Yardenit”)

    Hình 1 – Viện bảo tàng Galilee

    BoatMuseum.jpg

    Hình 2 – Cổng vào viện bảo tàng

    GalileeBoat.jpg

    Hình 3 – Con tàu cổ xưa

    JesusBoat.jpg

    Hình 4 – Nhà thờ Beatitudes

    BeatitudesChurch2.jpg

    Hình 5 – Bia đá trên lối vào nhà thờ Beatitudes

    BeatitudesChurch.jpg

    Hình 6 – Bàn thờ – Nhà thờ Beatitudes

    BeatitudesAltar.jpg

    Hình 7 – Tượng gỗ trên tường – Nhà thờ Beatitudes

    BeatitudesChurch3.jpg

    Hình 8 – Tượng Thánh Phê Rô – Nhà thờ Beatitudes

    StPeter.jpg

    Hình 9 - Synagogue - Nhà Thánh Phê Rô

    StPetr'sHouse.jpg
     
    p324530 likes this.
  7. lltran

    lltran Banned Tình Nguyện Viên

    Galilee và thung lũng Jordan (2)

    Hình 1 – Capernaum – Tấm biển đánh dấu hòn đá nơi Chúa Jesus làm phép lạ bánh và cá đủ ăn cho 5,000 người

    Capernaum.jpg

    Hình 2-5 - Nhà thờ Thiên Chúa Chính Thống Hy Lạp từ bên ngoài và bàn thờ bên trong.

    MensaChristi.jpg MensaChristi3.jpg
    MensaChristi2.jpg

    Hình 6-8: Yardenit: sông Jordan nơi Chúa Jesus được rửa tội

    Yardenit.jpg Yardenit2.jpg
    Yardenit3.jpg
     
    p324530 likes this.

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn