Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lễ Các Thánh Trong Tháng 01

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 31 tháng Mười Hai 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 01 tháng 01

    ĐỨC MARIA, MẸ THIÊN CHÚA

    Mẹ Thiên Chúa, đó là phẩm chức cao cả nhất của Đức Maria, chính phẩm chức cao cả này là nền tảng mỗi đặc ân khác dành cho Mẹ. Công đồng Vatican II đã trình bày các đặc ân liên kết với phẩm chức Thiên Chúa như sau:

    “Không có gì lạ, nếu các giáo phụ đã thường xưng tụng Mẹ là Đấng toàn thánh, không vương nhiễm một tội nào, như một tạo vật mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành. Tràn đầy thánh thiện, có một không hai ngay từ lúc thụ thai, Đức Trinh Nữ thành Nazareth được Thiên thần vâng lệnh Chúa đến truyền tin và đã kính chào là "Đầy ơn phước (Lc 1,28)” (GH 59).

    “Được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội nguyên tổ, và sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Nữ Trinh Vô nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Ngài cách trọn vẹn hơn” (GH 59).

    “Đức Maria luôn tiếp tục thiên chức làm Mẹ... Thật vậy, sau khi về trời, vai trò của Ngài trong việc cứu chuộc không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục liên lỉ cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời... Vì thế, trong Giáo hội, Đức Trinh Nữ Maria được kêu cầu qua các tước hiệu: trạng sư, vị bảo trợ, Đấng phù hộ và Đấng Trung gian” (GH 62).

    Như vậy, long trọng mừng Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta hãy tỏ một niềm tin vững chắc vào vai trò của Mẹ trong chương trình cứu rỗi nhân loại. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vì Ngài đã sinh ra cho chúng ta Thiên Chúa cứu chuộc. Trong buổi Truyền Tin, chính sứ thần Gabriel đã quả quyết: “Người sẽ thụ thai và sinh con... trẻ sẽ sắp sinh sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa” (Lc 1,31-35). Được Thánh Thần linh hứng, bà Elisabeth cũng đã lên tiếng: “Bởi đâu tôi được thế này, là mẹ Chúa tôi đến với tôi” (Lc 1,43). Niềm tin vào chức phẩm cao quí là Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria đã có từ đầu Giáo hội. Chính thánh Phaolô đã viết: “Khi thời viên mãn đến, Thiên Chúa sai con của Người, sinh bởi người Nữ” (Gl 4,4).

    Tiếp tục niềm tin đã có từ đầu, các tín hữu còn xác tín hơn nữa do biến cố dẫn tới những xác quyết chắc chắn của Công đồng chung Ephêsô (năm 413). Nestoriô khi ấy bác bỏ tước hiệu Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, ông chỉ chấp thuận Đức Maria là Mẹ Chúa Kitô, vì Ngài chỉ sinh ra xác thể Chúa Kitô thôi, chống lại lời rao giảng của Giám mục Nestoriô, khoảng hai trăm Giám mục đã họp tại Ephêsô ngày 22-6-431, dưới quyền chủ tọa của Thánh Cyrillô thành Alexandrioa. Công đồng này kết án Nestoriô và tuyên bố tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Toàn thể dân thành đã công khai bày tỏ niềm hân hoan trước thành quả này. Họ tổ chức rước đuốc để mừng các nghị phụ công đồng. Cũng từ Công đồng này mà có phần sau của kinh Kính Mừng: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”.

    Hợp với niềm hân hoan của dân Chúa dịp công đồng Êphêsô bế mạc, niềm tôn kính dâng lên Mẹ Thiên Chúa ngày một thêm sâu đậm. Vua Giuse Emmanuel nước Bồ Đáo Nha đã xin ông được đặc ân mừng lễ Mẹ Thiên Chúa. Thánh bộ nghi lễ đã ban bố sắc lệnh thiết lập ngày 22-1-1751 và ấn định vào Chúa Nhật đầu tháng năm. Từ đó nhiều nước cũng được hưởng đặc ân này.

    Năm 1931, dịp kỷ niệm 1500 năm, Công đồng Ephêsô, ĐGH Piô XI đã lập lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, kính trọng thể trong khắp Giáo Hội vào ngày 11-10. Chính Đức Giáo hoàng Piô XI đã viết: “Tín điều Mẹ Thiên Chúa là một mối nước mầu nhiệm vô tận, đã tuôn ra mọi đặc ân cho Đức Mẹ và nâng Người lên một địa vị cao sang tuyệt vời bên Thiên Chúa (Lux Veritatis 1931).

    Năm 1962, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã chọn lễ kính Mẹ Thiên Chúa làm ngày khai mạc Công đồng Vatican II (11/10/1962).

    Khi canh tân Sách lễ Rôma và Niên lịch vào năm 1970, Đức Giáo hoàng Phaolô VI dời ngày lễ vào đầu Năm dương lịch, ngày thứ tám trong tuần Bát nhật Giáng Sinh, và trước đó hai năm, từ năm 1968, ngài đã chọn ngày đầu Năm mới dương lịch làm ngày Quốc tế Hòa Bình, để nhấn mạnh thêm ý nghĩa lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa hôm nay.

    Đức Giáo hoàng Phaolô VI viết: “Khi canh tân mùa Giáng Sinh, mọi người phải chú ý đến việc tái lập lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa vào ngày 1-1, đúng phụng vụ Roma từ xưa, nhằm tôn kính việc Đức Maria góp phần vào mầu nhiệm cứu rỗi và tôn vinh địa vị đặc biệt, khiến cho “Mẹ rất thánh, đáng tiếp nhận Nguồn sống cho chúng tôi”. Lễ này cũng là dịp rất tốt để chúng ta tôn thờ Vua Hoà Bình mới sinh, và nghe lại lời chúc hoà bình của các thiên sứ (x. Lc 2,14), để cầu xin Chúa, nhờ sự can thiệp của Nữ Vương Hoà Bình, ban cho ta ơn cao cả nhất là Hòa bình. Vì sự trùng hợp tốt đẹp giữa ngày 1-1 với ngày thứ tám giáp Lễ Giáng Sinh mà chúng tôi đã đặt ngày đó là ngày thế giới hoà bình, mà thế giới mỗi ngày càng hưởng ứng thêm, và thành quả của hoà bình đã phát sinh trong lòng nhiều Người” (ĐGH Phaolô VI, Tông huấn Marialis Cultus, số 5b).

    ***

    Lễ Đức Maria rất thánh là Mẹ Thiên Chúa

    Trong số tất cả các tước hiệu được gán cho Đức Maria, tước hiệu Mẹ Thiên Chúa “Theotókos” cao cả và vinh quang nhất. Là Mẹ Thiên Chúa đã là lý do sự hiện hữu của Mẹ và là lý do của tất cả các đặc ân và các ơn thánh mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ. Đối với chúng ta tước hiệu này chứa đựng tất cả Mầu nhiệm Nhập Thể, là nguồn gốc các lời chúc tụng của Mẹ và niềm vui của chúng ta. Trong Giáo Hội theo Lễ nghi Latinh, lễ trọng này được cử hành như lễ vọng chiều ngày 31-12, và ngày mồng 1-1 hằng năm. Trong Lễ nghi Ambrosiano, lễ ngày được cử hành ngày Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng, tức Chúa Nhật thứ IV. Trong các truyền thống Lễ nghi Siriac và Bisantine, lễ này được cử hành ngày 26-12, trong khi Lễ nghi copte cử hành vào ngày 16-1.

    Một cách đúng đắn, Thánh Efrem đã nghĩ rằng tin và khẳng định rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria là Mẹ Thiên Chúa là đưa ra một bằng chứng chắc chắn cho đức tin của chúng ta. Vì thế, Giáo Hội không cử hành lễ mừng kính Đức Mẹ nào mà không chúc tụng Mẹ vì đặc ân lớn lao này. Do đó, Giáo Hội kính chào Đức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa khi Mẹ được thụ thai vô nhiễm nguyên tội, trong ngày Mẹ được sinh ra, trong biến cố Mẹ hồn xác về trời. Và khi lần hạt Mân Côi kính Đức Mẹ, chúng ta vẫn đọc: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”.

    “Theotókos” - Mẹ Thiên Chúa - là Tên mà Kitô hữu đã dùng để gọi Đức Maria trong biết bao thế kỷ qua. Lần giở lại lịch sử, chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria cũng là duyệt lại lịch sử của toàn Kitô giáo, bởi vì Tên gọi ấy đã đi sâu vào con tim của các tín hữu, đến độ khi Linh mục Nestorio, phát ngôn viên của Đức Giám mục Constantinopoli, dám khẳng định rằng Đức Maria chỉ là mẹ của một người, bởi vì Thiên Chúa không thể sinh ra từ một người đàn bà được, thì tín hữu đã coi đó là gương mù gương xấu và mạnh mẽ phản đối ngay trước mặt Đức Giám mục. Thánh Cirillo, Giám mục thành Alessandria bên Ai Cập, đã mạnh mẽ bảo vệ danh dự của Đức Maria và bày tỏ sự kinh ngạc của ngài: “Tôi lấy làm lạ là có những người nghĩ rằng không được gọi Đức Thánh Trinh Nữ là Mẹ Thiên Chúa. Nếu Chúa chúng ta là Thiên Chúa, thì Đức Maria, Đấng đã cho Chúa chào đời, lại không phải là Mẹ Thiên Chúa hay sao? Nhưng đây là đức tin mà các Tông đồ đã truyền lại cho chúng ta, cả khi các vị đã không dùng từ này, và đó là Giáo lý mà chúng ta đã học được từ các Giáo phụ”.

    Nhưng Linh mục Nestorio đã không thay đổi tư tưởng của mình, và Hoàng đế Teodosio II đã phải triệu tập Công Đồng. Công Đồng đã khai mạc ngày 24-6-431 tại Êphêxô dưới quyền chủ toạ của Thánh Cirillo, Đặc sứ của Đức Giáo hoàng Celestino, với sự tham dự của 200 giám mục. Các Nghị phụ khẳng định rằng “Con Người của Chúa Kitô là Một, và là Thiên Chúa, và Trinh Nữ Rất Thánh phải được thừa nhận và tôn kính bởi tất cả như là Mẹ Thiên Chúa”. Các Kitô hữu Ệphêxô đã cất cao các bài thánh ca chiến thắng và cầm đèn đuốc sáng trưng hộ tống các Nghị phụ về nhà trọ và hô to rằng các Giám mục đã “đến để tái trao ban Mẹ Thiên Chúa cho chúng ta và phê chuẩn với quyền bính của các ngài điều đã đựơc viết trong mọi con tim”.
    Các nỗ lực của Satan đã luôn luôn dẫn đưa tới một kết quả mà thôi: đó là chuẩn bị một chiến thắng tuyệt vời cho Đức Mẹ, và nếu chúng ta tin vào Truyền Thống, thì để ghi nhớ biến cố này một cách trường tồn các Nghị phụ của Công Đồng đã thêm vào lời chào “Kính mừng Maria” câu “Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa, xin cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử”. Hàng trăm triệu người hằng ngày đọc lên lời kinh ấy và thừa nhận vinh quang của Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, mà một linh mục lạc giáo đã yêu sách chối bỏ.

    Thừa nhận Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa là điều dễ dàng và đơn sơ. Đức Giáo hoàng Pio XI viết trong Thông điệp “Lux Veritatis” (Ánh sáng Chân lý): “Đấng đã sinh hạ Chúa Giêsu xứng đáng được gọi là Mẹ Thiên Chúa. Nếu con Người của Chúa Giêsu Kitô là Một và là Thiên Chúa, thì chắc chắn là tất cả mọi người phải gọi Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, chứ không chỉ là Mẹ của Đức Kitô Con Người mà thôi. Cũng như các phụ nữ khác được gọi là mẹ và họ thực sự là mẹ, bởi vì họ đã hình thành trong lòng họ bản chất phải chết của chúng ta, chứ không phải là họ đã tạo dựng nên linh hồn con người, thì cũng vậy, Đức Maria đã chiến hữu được chức làm Mẹ Thiên Chúa vì đã sinh ra Con Người duy nhất của Con Mẹ”.

    Chức làm Mẹ Thiên Chúa kết hiệp Đức Maria với Con mình bằng một mối dây mạnh mẽ hơn nối dây của các bà mẹ khác với con cái họ. Các bà mẹ trần gian không hoạt động một mình trong việc sinh con, nhưng Đức Maria, trái lại, đã sinh Con là Con Người Thiên Chúa, với chính bản thể của mình; và Đức Giêsu là phần thưởng sự đồng trinh của Mẹ và thuộc về Mẹ bởi sự sinh hạ, bởi việc sinh ra trong Đền Thánh, bởi việc dưỡng nuôi bú mớm, bởi việc dạy dỗ giáo dục, bởi quyền là mẹ trên con của mình.

    Chức làm Mẹ Thiên Chúa kết hiệp Đức Maria một cách không thể diễn tả nổi với Thiên Chúa Cha. Thật vậy, Đức Maria đã có chính Người Con của Thiên Chúa là con. Mẹ bắt chước và tái lập lại trong thời gian việc Thiên Chúa Cha sinh ra Chúa Con từ đời đời. Như thế, Mẹ là người được kết hiệp với Thiên Chúa Cha trong chức làm Cha của Người. Đức cha Jacques Bénigne Bossuet, người Pháp, sống vào thế kỷ XVII, ca tụng Đức Maria như sau: “Nếu Thiên Chúa Cha đã biểu lộ cho chúng con một tình yêu thương chân thành như vậy, bằng cách ban cho chúng con Con của Người làm Thầy và làm Đấng Cứu Chuộc, thì tình yêu mà Người có đối với Mẹ, ôi Mẹ Maria, đã khiến cho Người có các dự án khác đối với Mẹ, và Người đã thiết định rằng Đức Giêsu là Con Mẹ như là Con của Người, và để thực hiện một xã hội vĩnh cửu với Mẹ, Người đã muốn rằng Mẹ là Mẹ của Con duy nhất của Người, và muốn rằng Người là Cha của Con Mẹ” (Diễn văn về lòng sùng kính Đức Thánh Trinh Nữ).

    Chức làm Mẹ Thiên Chúa cũng kết hiệp Đức Maria với Chúa Thánh Thần, bởi vì do quyền năng Chúa Thánh Thần Đức Maria đã thụ thai Ngôi Lời trong cung lòng mình. Chính trong nghĩa này, trong Thông điệp “Divinum Munus”, công bố ngày 9-5-1897, Đức Giáo hoàng Leo XIII gọi Đức Maria là Hiền Thê của Chúa Thánh Thần. Và Đức Maria là Đền Thánh đặc biệt của Chúa Thánh Thần vì các điều kỳ diệu mà Người đã thực hiện nơi Mẹ.

    Thánh Bênađô khẳng định: “Nếu Thiên Chúa ở với các Thánh, thì Người ở với Đức Maria một cách hoàn toàn đặc biệt, bởi vì giữa Thiên Chúa và Đức Maria có sự đồng ý hoàn toàn, đến độ Thiên Chúa không chỉ hiệp nhất ý muốn của Người, mà còn hiệp nhất thịt xác và bản thể của Người với ý muốn, thịt xác và bản thể của Đức Maria, và đã làm nên một Chúa Kitô; và Chúa Kitô nếu không phát xuất như Người là không hoàn toàn tất cả từ Thiên Chúa, cũng không hoàn toàn tất cả từ Đức Maria, tuy nhiên hoàn toàn là Thiên Chúa và hoàn toàn của Đức Maria, bởi vì không có hai người con, mà chỉ có một Người Con, là Con của Thiên Chúa và của Đức Trinh Nữ.

    Thánh Bênađô viết tiếp: “Sứ thần nói: “Kính chào bà, hỡi bà đầy ơn phúc, Chúa ở cùng bà”. Ở cùng bà không chỉ có Chúa Con, mà bà đã mặc cho thịt xác của Bà, mà cả Chúa Thánh Thần từ đó bà đã thụ thai, và Chúa Cha, là Đấng đã sinh ra Đấng mà bà đã thụ thai. Ở cùng bà, Chúa Cha, là Đấng làm cho Con của Người trở thành con của bà. Ở cùng bà, Chúa Con là Đấng để thực hiện Mầu nhiệm đáng tôn thờ, mở lòng bà ra một cách lạ lùng và tôn trọng dấu ấn sự đồng trinh của bà. Ở cùng bà, Chúa Thánh Thần, Đấng với Chúa Cha và Chúa Con, thánh hoá cung lòng bà. Vâng, Chúa ở cùng bà” (3a Omelia Super Missus est).

    Đức Giáo hoàng Pio XI đã viết trong Thông điệp “Ánh sáng chân lý” như sau: “Hôm nay, khi kính chào Mẹ với tước hiệu lớn lao là Mẹ Thiên Chúa, chúng ta đừng quên rằng “vì đã trao ban sự sống cho Đấng Cứu Rỗi loài người, bởi chính sự kiện đó, Mẹ đã trở thành Mẹ rất dịu hiền của chúng ta, và Chúa Kitô đã muốn chúng ta là em của Người. Khi lựa chọn Mẹ là Mẹ của Con Người, Thiên Chúa đã khắc ghi nơi Mẹ các tâm tình hoàn toàn hiền mẫu, chỉ hít thở tình yêu và sự tha thứ”.

    Từ vinh quang thiên quốc nơi Mẹ đang sống, xin Mẹ nhớ đến chúng con, chúng con cầu khẩn Mẹ với biết bao vui mừng và trông cậy.

    Thánh Bonaventura đã nói: “Đấng Toàn Năng ở với Mẹ và cùng Người, cho Người và sau Người, Mẹ cũng toàn năng”. Mẹ có thể trình diện với Thiên Chúa không phải để cầu nguyện cho bằng để ra lệnh, Mẹ biết một cách chắc chắn rằng Thiên Chúa nhận các ước mong của Mẹ. Chắc chắn chúng con là những kẻ tội lỗi, nhưng Mẹ đã trở thành Mẹ Thiên Chúa vì chúng con và “chưa từng nghe nói có ai trong số những người chạỵ đến với Mẹ mà bị Mẹ bỏ rơi. Được linh hoạt bởi sự trông cậy đó, ôi Trinh Nữ của các trinh nữ, ôi Mẹ của chúng con, chúng con chạy đến với Mẹ rên siết dưới sức nặng các lỗi lầm của chúng con, và chúng con sấp mình dưới chân Mẹ, ôi Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể, xin dừng khinh chê các lời cầu của chúng con, xin ghé mắt nhìn và nhận lời chúng con” (Thánh Bênađô).

    Năm 1931, nhân kỷ niệm 1.500 năm Công đồng Chung Êphêxô, Đức Giáo hoàng Pio XI đã công bố thông điệp “Ánh sáng Chân lý”, cho tu sửa Đền thờ Đức Bà Cả ở Roma, và thành lập một lễ phụng vụ “giúp phát triển lòng sùng kính đối với Mẹ Thiên Chúa mơi giáo sĩ và giáo dân, bằng cách giới thiệu Đức Maria và Thánh Gia Nazareth như là mẫu gương, để cho sự thánh thiện của hôn nhân và việc giáo dục giới trẻ ngày càng được tôn trọng hơn.

    (Thánh Mẫu học, bài MM327)

    Linh Tiến Khải
     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 02 tháng 01

    THÁNH BASILIÔ CẢ và GRÊGÔRIÔ NAZIANZÊNÔ, Giám Mục, Tiến Sĩ

    Thánh Basiliô (329-397), con người kỳ diệu mà mọi thời gọi là thánh Cả, chào đời vào khoảng cuối năm 329 tại Cêsarêa, thủ đô miền Cappadocia. Ngài thật có phúc vì được sinh ra trong một gia đình thánh thiện. Cha ngài là thánh Basilio, mẹ ngài là Thánh nữ Emelia. Nhưng sinh ra Ngài, cha mẹ ngài đã chịu bao nỗi lo âu. Một cơn bệnh nặng tưởng như đã cất mất mạng sống của ngài. Việc ngài bình phục được coi như là kết quả của lời cầu nguyện mà thôi.

    Từ thuở thơ ấu thánh nhân đã đến sống với người bà là Thánh nữ Macrina. Tại đây, ngài đã hấp thụ được những nguyên tắc sống đạo đức đầu tiên. ngài nói: Tôi không hề quên được những lời dạy dỗ và gương lành mà người bà thánh thiện đã ghi vào trong tâm hồn bé thơ của tôi.

    Ngay khi tới buổi đi học, cha ngài, một con người vừa đạo đức vừa hoạt bát, đã tự đảm nhiệm việc dạy dỗ ngài những yếu tố đầu tiên về văn chương. Sau khi cha qua đời, ngài được gửi đi Cêsarea rồi Constantinople để học khoa hùng biện. Sau cùng, ngài đi Athena, kinh thành ánh sáng của thế giới nói tiếng Hy Lạp thời đó. Tại đây, ngài có dịp làm quen với Thánh Gregoriô thành Nazianze. Hai người kết thân với nhau và tình bạn đầy thánh thiện của họ không hề bị một áng mây mù nào che phủ. Trong thành phố xa hoa ấy, họ chỉ biết có hai con đường dẫn tới nhà thờ và tới trường học.

    Sau khi hoàn tất các môn học, Ngài dồn nỗ lực học Thánh Kinh và các giáo phụ. Ngài đã kín múc được từ kho tàng phong phú này những hiểu biết và những tâm tình cao thượng quy hướng con người lên trời.

    Lúc hai mươi bảy tuổi, ngài trở về quê nhà và biện hộ cho một vài vụ kiện tụng. Tài lợi khẩu và thành công tưởng đã cột chặt ngài vào với pháp đình. Nhưng chị ngài là Thánh nữ Macrina (trẻ) đã nói cho ngài biết về sự giả trá của những tài năng của cả loài người, và về những giá trị chân thực mà ngài nhhư đã bỏ quên. Thế là thánh nhân quyết từ giã thế gian và đeo đuổi đời sống tu trì. Ngài đã viếng thăm các tu viện bên Đông phương để tìm kiếm gương mẫu và thầy dạy đường nhân đức. Một năm sau ngài trở về Cappadocia, rồi lui về miền Pont và thiết lập nhiều tu viện. Các quy luật ngài soạn ra cho các tu viện đã trở thành danh tiếng và ngày nay vẫn còn được áp dụng tại các tu viện của Giáo hội Công giáo theo nghi lễ Byzantin. Chính Thánh Bênêdictô cũng chịu ảnh hưởng của ngài qua bản dịch tiếng Latinh của Ruffinô. Thánh Basiliô chỉ sống năm năm như tu sĩ trong viện. Nhưng điều ngài đã làm đã viết là phần thành công trực tiếp và lâu bền nhất trong công trình đời ngài.

    Năm 370 khi Đức Giám mục Eusêbiô qua đời, Thánh Basiliô được bầu làm Giám mục Cêsaria. Thánh nhân đã lãnh nhận giáo phận trong một hoàn cảnh đầy sóng gió và đã tỏ ra là một chủ chăn bất khuất trong việc bảo vệ đức tin. Lúc ấy lạc giáo Ariô đang ở vào thời cực thịnh. Hoàng đế Valăng (valens) đúng vào phái lạc giáo để bách hại Giáo Hội. Thánh Grêgoriô đã kể lại cuộc đời Thánh Basiliô, có lẽ đã tô điểm thêm đôi chút, nhưng đã cho thấy được cá tính của thánh nhân như thế nào. Valăng phái Modestô, một tổng trấn nổi tiếng mưu mô và hung ác đến gặp thánh nhân.
    Hắn nói: Tại sao ông dám chống lại hoàng đế và không theo đạo của ngài.

    Thánh nhân trả lời: Bởi vì Thiên Chúa là hoàng thượng của tôi, ngài bảo vệ tôi.

    Modestô vặn lại: Vậy ông coi chúng tôi là thứ gì chứ?

    Thánh nhân trịnh trọng đáp lời: Tôi chẳng coi các ông là gì cả, bởi vì các ông đã bắt chúng tôi phải có những điều phản nghịch lại thánh ý Thiên Chúa:

    Modestô liền dở trò đe doạ: Ông không biết rằng tôi có thể cho ông nếm mùi sức mạnh của chúng tôi sao?

    Nhưng thánh nhân đã khẳng khái trả lời: Những hậu quả do sức mạnh của các ông chỉ có thể là tịch biên tài sản, lưu đày, tra tấn hay là sát hại mà thôi. Đối với việc tịch biên tài sản thì người không có gì như tôi làm gì mà phải sợ. Tôi càng không sợ phải lưu đày, bởi vì đâu có Chúa thì đấy cũng là quê hương của tôi. Đối với những tra tấn ông muốn bắt tôi phải chịu, thì quả thật tôi đã quá yếu đuối và không đủ sức để chịu được một cuộc tra tấn thứ hai. Về cái chết, làm sao tôi lại phải sợ, vì nó sẽ sớm đưa tôi về với Thiên Chúa hơn”.

    Vị tổng trấn ngạc nhiên: Tôi chưa hề gặp người nào gan dạ như ông.

    Và Thánh Basiliô bình tĩnh trả lời: Bởi vì ông chưa nói chuyện với một giám mục nào.

    Sau cuộc đàm thoai nẩy lửa này, tình hình lắng dịu một thời gian. Nhưng vì áp lực của bè rối, hoàng đế Valăng tính bắt Giám mục Basiliô đi đày. Nhưng ý định bất thành vì ngay đêm trước con ông ngã bệnh nặng, được giám mục viếng thăm và cầu nguyện cho lành, nó cũng đã qua đời vì sự thay lòng đổi dạ của nhà vua. Dầu vậy, dưới áp lực mạnh mẽ của bè rối, vua cũng quyết ký án lệnh phát lưu Đức Giám mục. Lần này, ông vẫn thất bại vì ba bốn lần cầm lấy viết thì viết bị hư, cầm đến ấn thì ấn bị bể nát.

    Ngoài sự can trường để bảo vệ đức tin chân chính, Thánh Basilio còn là một mục tử nhiệt hành và giàu lòng bác ái, ngài đã liên tục đi thăm viếng từng miền trong giáo phận, ngài chuyên chăm dạy dỗ đoàn chiên và một số bài giảng của ngài được lưu giữ tới ngày nay là những công trình thần học rất đáng giá. Ngoài ta thánh nhân còn thương yêu đặc biệt những người nghèo khó bệnh tật. Ngài đã thiết lập một nhà thương, đặt tên là Basiliô (Basiliade) để săn sóc họ.
    Thánh nhân đã được sống để chứng kiến cái chết của Valăng lẫn sự tàn lụi của lạc giáo Ariô. Nhưng chẳng bao lâu sau ngài cũng qua đời vì kiệt sức, ngày 1-1-379.

    Thánh Grêgôriô Nazianzênô (329-390) là một trong những giáo phụ danh tiếng của Giáo hội Hy Lạp và được mệnh danh là thần học vì giáo thuyết rất sâu sắc của ngài. Ngài ra đời khoảng năm 329, trong một gia đình danh giá và đáng mến chuộng. Cha ngài, cũng tên là Grêgôriô, lúc ấy còn là lương dân. Nhưng thánh nữ Monna, mẹ ngài, nhờ nhân đức siêu vượt, sự dịu hiền, đời sống gương mẫu với kinh nghiệm và nước mắt đã đưa ông về với Chúa Giêsu.
    Thánh Leông (Léonce) Giám mục thành Cêsarêa đã rửa tội cho ông. Vài năm sau, nhờ đời sống đạo đức trổi vượt, ông đã xứng đáng lãnh chức giám mục, cai quản điạ phận Nazianze.

    Thánh Grêgôriô ra đời như kết quả lời cầu nguyện của bà mẹ thánh thiện, chỉ mong có được người con để phục vụ bàn thánh. Khi thánh nhân ra đời, bà coi ngài như quà tặng của trời cao. Được đào tạo trong một môi trường thánh thiện như vậy, ngay từ nhỏ, ngài đã biết quý trọng những nét đẹp của tội thơ vô tội.

    Thánh nhân được cử đi học hùng biện ở Cêsarêa, rồi Palestina. Sau đó ngài đã qua Alexandria và sau cùng tới Athena là nơi coi là nguồn gốc đích thật của khoa hùng biện, trên đường tới Athena, con tàu thánh nhân đi đã phải một cơn bão dữ dội, tưởng chừng như sẽ bị đắm chìm trong lòng biển. Lúc ấy thánh nhân chưa được rửa tội và rất lo âu cho phần rỗi của mình. Ngài tha thiết cầu khẩn Thiên Chúa thánh cho được sống thêm, để có thể làm con Chúa. Thánh nhân đã được nhậm lời. Cơn giông bão chấm dứt và ngài tới được Athena.

    Tại đây Thánh Gregorio gặp lại một người bạn cũ của mình là thánh Basiliô. Mối giây thân tình giữa các ngài ngày càng trở nên bền chặt hơn. Cho đến ngày nay, người ta vẫn còn trưng dẫn hai vị nhân này như là khuôn mẫu cho tình bạn trong trắng và chân thành nhất. Không thể lìa xa nhau, họ còn chú tâm tránh thoát mọi cuộc kết thân nguy hiểm và chỉ giao tiếp với những bạn bè mà lòng hiếu học luôn đi đôi với việc thực hành các nhân đức. Không bao giờ người ta thấy họ đi vào các cuộc giải trí có tính cách trần tục. Trong thành phố xa hoa ấy họ chỉ biết có hai con đường dẫn tới nhà thờ và các trường học.

    Hoàn tất việc học hành, Thánh Grêgôriô trở về sống với cha mình đang làm giám mục cai quản Giáo phận Nazianze và được cha ban phép Rửa Tội cho. Một khi đã được đóng ấn tín thần linh, ngài coi mình hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và hiến thân phung sự ngài.

    Ngài nói: “Tôi hiến trọn cho Đấng đã ban cho tôi tất cả. Từ nay chỉ có Ngài là phần sản nghiệp của tôi”.
    Tình thảo hiếu đã giữ lại bên người cha già tám mươi tuổi trong 3 năm trời. Ngài giúp đỡ cha trong mọi công việc và chăm sóc mọi việc trong nhà. Nhưng lòng yêu thích được ẩn dật đã đưa ngài tới gặp Thánh Basiliô đang theo đuổi nếp sống tu trì. Ngài đã sống xa thế gian một thời gian và chỉ lo tới sự hoàn thiện của mình. Nhưng thời gian ẩn dật này mới chỉ đủ cho ngài nếm thử được sự ngọt ngào để mà luyến tiếc thôi, người cha già chín mươi tuổi đã gọi Ngài về giúp việc điều khiển giao phận. Nhận thấy rằng: Giáo Hội sẽ được lợi ích nhiều bởi người con thân yêu của mình, vị thánh giám mục già cả đã truyền chức linh mục cho ngài ngày 6-1-362. Lúc ấy Thánh Gregôriô hơn 35 tuổi và ấn tích mới càng tăng thêm nhiệt tình của ngài.

    Thánh Basiliô lúc ấy đã làm Tổng Giám mục Cêsalêa, quyết định nâng Thánh Gregoriô lên làm giám mục cai quản điạ phận Sarima. Nhưng vì những chống đối dữ dội, ngài đã không hề tới nhậm điạ phận được và dường như ngài chịu chức giám mục chỉ để giúp đỡ người cha mà tuổi tác đã không cho phép chu toàn phận sự được nữa. Sau khi cha qua đời năm 374, thánh nhân trở lại Nazianze săn sóc cho giáo phận, nhưng không hề muốn làm giám mục của giáo phận này.

    Năm 380, tức là khoảng năm năm sau, các tín hữu ở Constantinopkle đã khẩn nài thánh nhân tới củng cố giáo phận đã bị bè rối Ariô tàn phá của họ, với nhiệt tâm tông đồ, thánh nhân đã nhận lời. Trước tiên thánh nhân đã không được tiếp đón nồng hậu lắm. Trong một thành phố xa hoa giàu có vì là thủ đô mới của đế quốc này, người ta đang ngóng đợi một nhân vật có khuôn mặt sáng sủa giữa một đám rước linh đình. Nhưng người ta đã vô cùng kinh ngạc khi thấy Ngài chỉ là một ông lão già yếu, ăn mặc giản dị và lời nói vắn gọn.

    Những người theo lạc giáo Ariô chế giễu phỉ báng ngài. Dầu vậy, bằng những giáo huấn vững chắc và hùng hồn, ngài đã thành công trong việc đưa dân thành này từ chỗ bỏ cái sai lầm của lạc giáo mà trở về với đức tin công giáo. Sau 40 bị tàn phá, Giáo phận không có nhà thờ, ngài rao giảng trên đường phố hay tại một ngôi nhà mà ngài đăt tên là Anastasia.

    Hương thơm nhân đức và sự hiểu biết uyên thâm của ngài đã lối kéo cảm tình người nghe càng thêm đông. Từ trong sa mạc, Thánh Hiêronymô cũng tìm đến nghe người giảng thuyết. Tuy nhiên bề ngoài khiêm tốn bình dị và hoàn cảnh khó khăn ấy cũng là một khó khăn khiến cho địch thủ đã nhiều lần toan tính ám hại ngài.

    Năm 381, Công đồng chung họp tại Constantinople, Thánh Grêgôriô được bầu lên làm giám mục chính toà của giáo phận này và giữ ghế chủ tịch công đồng. Nhưng ít lâu sau, một số giám mục đã chất vấn tính cách hợp pháp của chức vụ Ngài. Lợi dụng những chống đối này, Thánh Grêgôriô đã xin từ chức. Sau khi đã làm vui lòng các nghị phụ công đồng bằng quyết định của mình, thánh nhân đã đệ đơn lên Hoàng đế Têodô (Thésdose). Hoàng đế buộc lòng chấp thuận, cho ngài từ nhiệm, chỉ vì lý do sức khoẻ mà thôi. Trước khi dứt mình khỏi Giáo hội mà ngài đã dày công tạo lập với đầy tình yêu quý, ngài đã nói với mọi tín hữu và với các nghị phụ một diễn từ đặc sắc. Người ta gọi diễn từ ấy là: những lời giã biệt (Les Adieux).

    Lui về Nazianze, Thánh Grêgôriô dành thời gian viết sách. Năm 390, ngài qua đời và để lại cho Giáo Hội một kho tàng quý báu gồm 45 bài suy luận thần học và điếu văn, 245 bức thư và mấy tập thi ca. Người ta đọc cuộc đời trong những tác phẩm có giá trị văn chương và tín lý, chính ân đức ấy và sức mạnh tinh thần của ngài.

    Người ta còn giữ được bản di chúc và bản văn trên bia mộ chính ngài sáng tác. Bản mộ thi này là một tóm lược khúc chiết trọn đời ngài với những dòng kết thúc như sau: “Tôi là mục tử không có đoàn chiên, và tôi đã đau khổ không ít bởi chính các mục tử. Tôi để Chúa Giêsu Kitô lo lắng cho tương lai đời tôi như chính Người đã lo cho tôi trong quá khứ”.
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 03 tháng 01

    DANH THÁNH CHÚA GIÊSU

    Danh Giêsu Cực Thánh

    Sống trong một thế giới cực lực bảo vệ tên và huy hiệu của công ty giúp chúng ta dễ hiểu về ngày lễ này. Các chữ IHS là chữ viết tắt của Jesous, tên Giêsu theo tiếng Hy Lạp.

    Mặc dù Thánh Phaolô có thể cho rằng ngài có công trong việc cổ vũ lòng sùng kính Thánh Danh này vì trong thư gửi cho các tín hữu Philípphê, ngài có viết: Thiên Chúa Cha đã ban cho Đức Giêsu Kitô “một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu” (x. 2,9), việc sùng kính này trở nên phổ thông nhờ các nam nữ đan sĩ của dòng Xitô trong thế kỷ 12 nhưng nhất là nhờ sự rao giảng của Thánh Bernardine ở Siena, một tu sĩ Phanxicô thuộc thế kỷ 15.

    Thánh Bernardine dùng việc sùng kính Thánh Danh Đức Giêsu như một phương cách để khắc phục các cuộc đấu tranh giai cấp đẫm máu và cay đắng cũng như sự thù nghịch giữa các dòng tộc ở các tỉnh nước Ý. Việc sùng kính gia tăng, một phần là nhờ các vị rao giảng thuộc dòng Phanxicô và Đaminh. Việc sùng kính này lan rộng hơn nữa sau khi các linh mục dòng Tên bắt đầu đẩy mạnh trong thế kỷ 16.

    Vào năm 1530, Đức Giáo hoàng Clementê V phê chuẩn một Nghi thức kêu cầu Thánh Danh cho các tu sĩ Phanxicô. Vào năm 1721, Đức Giáo hoàng Innôcentê XIII nới rộng ngày lễ này cho toàn Giáo Hội.

    Lời bàn
    Đức Giêsu đã chết và đã sống lại vì tất cả loài người. Không một ai có thể đăng ký hay có bản quyền trên danh Giêsu. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và là con Đức Maria. Mọi sự hiện hữu được tạo thành trong và qua Con Thiên Chúa (x. Cl 1,15-20). Danh Giêsu sẽ bị mất phẩm giá nếu bất cứ Kitô hữu nào dùng danh ấy để biện minh cho việc sỉ nhục những người không phải Kitô Hữu. Đức Giêsu nhắc nhờ chúng ta rằng vì tất cả chúng ta đều có liên hệ với Người, bởi đó, tất cả chúng ta cũng phải liên hệ với nhau.

    Lời trích
    “Danh huy hoàng, danh từ bi, danh của tình yêu và quyền thế! Nhờ Ngài mà tội lỗi đã được tha thứ, nhờ Ngài mà kẻ thù bị chế ngự, nhờ Ngài mà người đau ốm được lành mạnh, nhờ Ngài mà những ai đang đau khổ vì thử thách được vững mạnh và phấn khởi. Ngài đem vinh dự cho những ai có lòng tin, Ngài dạy bảo những người rao giảng, Ngài thêm sức cho những người lao nhọc, Ngài duy trì những kẻ chán chường” (Thánh Bernardine ở Siena).

    THÁNH DANH CHÚA GIÊSU
    Tên của một con người, gắn bó với cả sinh mạng và cuộc đời của con người đó. Cái tên mang một ý nghĩa rất quan trọng của đời một con người. Tên của Chúa Giêsu được chính Thiên Chúa gọi để ứng nghiệm lời của ngôn sứ: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1,23).

    MỘT CON NGƯỜI, MỘT CUỘC ÐỜI

    Nơi hang đá Bêlem, Hài Nhi Giêsu đã vén lộ cho nhân loại thấy hình hài của Ngài, Ngài là người thật bằng xương bằng thịt, Ngài không phải là một người trên mây trên gió, trên trời giáng lâm như nhiều chuyện thần thoại cổ tích. Chúa Giêsu là một con người thật với hai bản tính: bản tính Thiên Chúa và bản tính con người. Hài Nhi Giêsu mang xương thịt hoàn toàn con người, mặc xác phàm như con người, sống như con người, ngoại trừ tội lỗi. Người là người thật, nhưng sống hoàn toàn thuộc về Cha. Ngài là một con người luôn mới mẻ vì như Tác giả Thư gửi tín hữu Do Thái đã viết: “Ðức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8). Thánh Phaolô muốn cho nhân loại thấy mầu nhiệm Ðức Kitô luôn mới mẻ vì con người, nhân loại với trí khôn, với tâm trí hạn hẹp của mình không bao giờ có thể hiểu thấu nổi. Con người qua Ađam và Eva đã mang sự tội vào trần gian, nghĩa là đã đem sự chết vào cuộc sống. Con người đã tự đánh mất, làm hư hỏng sự vẹn tuyền của mình nghĩa là thân xác đầu tiên hoàn toàn tinh ròng, thuộc trọn về Chúa. Nhưng qua cái chết của Chúa Giêsu Kitô, con người đã lấy lại sự sống vĩnh cửu. Chúa Giêsu Kitô trước bản án khắc nghiệt của Philatô, của Hêrôđê, của các thượng tế và các luật sĩ, biệt phái đã chỉ ra rằng Ngài luôn sống. Ngài đánh bại thần chết, Ngài chiến thắng thần chết.
    Philatô trước mặt Chúa Giêsu đã ấm ớ vô tội, ông đang đứng trước sự thật là chính Chúa Giêsu, nhưng ông vẫn không được soi tỏ để nhận ra Ngài. Mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người mãi mãi là mầu nhiệm. Chỉ có đức tin mới giúp con người và nhân loại lãnh hội ra sự cao sâu của mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người với hình hài của một bé thơ khó nghèo, nhưng dưới lớp nghèo khó ấy lại vén lộ một mầu nhiệm cao sâu khôn lường. Lấp ló dưới máng cỏ, sau lưng Hài Ðồng Giêsu, ta đã nhìn thấy bóng thánh giá đem ơn cứu chuộc. Nơi Ngài ơn cứu độ chứa chan.

    THÁNH DANH CHÚA GIÊSU
    Môt bài hát thật quen thuộc, nhưng đầy ý nghĩa: “Chúa Giêsu là vua” có câu: “Khi nghe Danh Thánh Chúa Giêsu, cả bầu trời bừng sáng, các tà thần chạy trốn, khắp trái đất khiếp run”. Danh Thánh Chúa Giêsu quả cao siêu mầu nhiệm. Chỉ mới nghe Danh Thánh Chúa Giêsu: tà thần, ma quỷ đã chạy trốn, cả trái đất khiếp run. Vì ma quỷ là bóng tối, ánh sáng luôn tiêu diệt bóng tối. Ma quỷ xưa trong vườn địa đàng đã lấy hình rắn để cám dỗ bà Evà. Rắn đã thắng Ông Adong và Evà vì hai ông bà kiêu ngạo, tự mãn, muốn bằng Thiên Chúa. Thánh Danh Chúa Giêsu ngọt ngào êm dịu. Con người mỗi lần nhắc tới Thánh Danh Chúa Giêsu như có một sức mạnh huyền nhiệm nâng cao con người lên. Chỉ nhắc tới Thánh Danh Chúa Giêsu, con người đã thấy được an bình vì nơi tên Giêsu ơn cứu chuộc chứa chan. Mỗi lần làm dấu thánh giá: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, mầu nhiệm Ba Ngôi bừng sáng lên và như thế, nhân loại lãnh nhận được ơn giải thoát. Thánh Danh Chúa Giêsu đi đôi với sinh mạng cứu chuộc của Ngài: “Khi nào Ta bị treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta” (Ga 12,32); “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15,13).

    Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho mỗi người chúng con sức mạnh của Chúa Thánh Thần để chúng con mãi mãi tôn vinh Danh Thánh Chúa Giêsu vì chỉ có Chúa mới mang lại cho mỗi người chúng con sự sống đời đời.
     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 04 tháng 01

    Thánh Elizabeth Ann Seton (1774 - 1821)

    Mẹ Seton là một trong những rường cột của Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ. Ngài sáng lập tu hội đầu tiên dành cho phụ nữ Hoa Kỳ, Dòng Nữ Tu Bác Ái, mở trường học đầu tiên trong giáo xứ Hoa Kỳ và thiết lập cô nhi viện đầu tiên ở Hoa Kỳ. Tất cả những điều trên ngài thực hiện trong vòng 46 năm đồng thời vừa nuôi dưỡng năm người con.

    Elizabeth Ann Bayley Seton quả thực là người của thế hệ Cách Mạng Hoa Kỳ, ngài sinh ngày 28 tháng Tám 1774, chỉ hai năm trước khi có bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập. Bởi dòng dõi và hôn nhân, ngài có liên hệ đến các thế hệ đầu tiên sống ở Nữu Ước và vui hưởng kết quả của một xã hội tiến bộ. Ðược nuôi nấng trong một gia đình nề nếp Anh Giáo, ngài biết được giá trị của sự cầu nguyện, Kinh Thánh và sự kiểm điểm lương tâm hàng đêm trước khi đi ngủ. Cha của ngài, Bác Sĩ Richard Bayley, không đóng góp nhiều cho nhà thờ nhưng ông là người rất nhân đạo, đã dạy được cho cô con gái bài học yêu thương và phục vụ tha nhân.

    Sự chết sớm của người mẹ năm 1777 và của bà vú nuôi năm 1778 đã đem lại cho Elizabeth một cảm nhận về sự tạm bợ của trần gian và thúc giục ngài hướng về vĩnh cửu. Thay vì ủ rũ và chán chường, ngài đối diện với các biến cố mà ngài coi là sự "hủy hoại khủng khiếp" với một hy vọng đầy phấn khởi.

    Vào năm 19 tuổi, Elizabeth là hoa khôi của Nữu Ước và kết hôn với một thương gia đẹp trai, giầu có là ông William Magee Seton. Họ được năm người con trước khi doanh nghiệp lụn bại và ông chết vì bệnh lao. Vào năm 30 tuổi, bà Elizabeth đã là một goá phụ, không một đồng xu và phải nuôi nấng năm đứa con.

    Trong khi sống ở Ý, bà được chứng kiến phong trào Tông Ðồ Giáo Dân qua gia đình của những người bạn. Ba điểm căn bản sau đã đưa bà trở về đạo Công Giáo: tin tưởng sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, sùng kính Ðức Mẹ và tin rằng Giáo Hội Công Giáo là một giáo hội tông truyền do Ðức Kitô thành lập. Nhiều người trong chính gia đình bà cũng như bạn hữu đã tẩy chay bà khi trở lại Công Giáo vào tháng Ba 1805.

    Ðể nuôi con, bà mở trường học ở Baltimore. Ngay từ ban đầu, nhóm giáo chức của bà đã theo khuôn khổ của một tu hội, mà sau đó được chính thức thành lập vào năm 1809.

    Hàng ngàn lá thư của Mẹ Seton để lại cho thấy sự phát triển đời sống tâm linh của ngài, từ những việc tốt lành bình thường cho đến sự thánh thiện cách anh hùng. Ngài chịu đau khổ vì những thử thách như đau ốm, hiểu lầm, cái chết của những người thân yêu (chồng và hai con gái), cũng như sự lo lắng đến đứa con trai hoang đàng. Ngài từ trần ngày 4 tháng Giêng 1821, và vào ngày 17-3-1963, Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã tuyên xưng ngài là vị chân phước đầu tiên người Hoa Kỳ. Ngài được phong thánh ngày 24-9-1975.

    Lời Bàn

    Thánh Elizabeth Seton không có những khả năng phi thường. Ngài không phải là một vị thần bí hay được in năm dấu thánh. Ngài không được ơn tiên tri hay nói tiếng lạ. Ngài chỉ có hai điều thành tâm: từ bỏ ý riêng để theo thánh ý Thiên Chúa, và yêu quý Bí Tích Thánh Thể. Ngài viết thư cho người bạn là bà Julia Scott, rằng ngài muốn đổi cả thế gian để sống ẩn dật ở "trong hang hay sa mạc. Nhưng Thiên Chúa đã ban cho tôi nhiều việc phải làm, và tôi hằng cầu xin và luôn luôn hy vọng được vâng theo ý Chúa hơn là ý riêng tôi." Kiểu cách nên thánh của ngài là mở lòng cho mọi sự nếu chúng ta yêu mến Thiên Chúa và thi hành thánh ý Ngài.

    Lời Trích

    Thánh Elizabeth Seton nói với các nữ tu, "Tôi thiết nghĩ mục đích trước nhất trong công việc hàng ngày của chúng ta là thi hành thánh ý Thiên Chúa; thứ đến, thi hành điều ấy trong phương cách mà Ngài muốn; và thứ ba, thi hành điều ấy vì đó là ý Chúa."

    (MeMaria.org)

    ~~~

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 12 tháng Giêng 2018 at 5:00 PM
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 05 tháng 01

    Thánh Gioan Neumann, Tu sĩ DCCT

     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 07 tháng 01

    Thánh RAYMUNDO PENYAFORT, Linh Mục (1175-1275)

    Thánh Raymudô chào đời năm 1175 trong một gia đình hiệp sĩ tại lâu đài Penyafort ở California. Không chiều theo cuộc sống dễ dãi, Ngài đã dành trọn nỗ lực tuổi trẻ vào việc học hành và thực tập các nhân đức. Mới 20 tuổi, Ngài đã giữ ghế triết tại đại học Barcelona. Nhưng vì tinh thần hiếu học và muốn giúp ích cho Giáo hội đắc lực hơn, năm 30 tuổi, Ngài qua Italia để tiếp tục học luật tại Bologna. Tại đây Ngài đã tốt nghiệp tiến sĩ và thành công trong nghề luật sư, lại còn giảng dạy tại chính đại học Bologna trong ba năm. Nhiều nhà quí phái và bậc thứ giả tìm đến với Ngài. Tận tụy hướng dẫn họ, Ngài chỉ mong cho họ tiến bộ. Nếu có bị ép để nhận một ít thù lao nào, Ngài cũng đem phân phát cho người nghèo.

    Năm 1249, Đức giám mục địa phận Bacelona mời Ngài về giúp việc địa phận. Nhưng lúc 48 tuổi, thánh nhân đã trốn mọi danh vọng và xin gia nhập dòng Daminh, Ngài chỉ ao ước được trao phó cho những công việc thấp hèn nhất. Nếu được tán thưởng, Ngài liền xin bề trên cho được làm việc đền tội. Tuy nhiên việc đền tội Ngài không mong mỏi chút nào, là việc nhà dòng trao cho Ngài trách nhiệm viết một tác phẩm về các vấn đề lương tâm để hướng dẫn các cha giải tội. Tác phẩm này cho tới ngày nay vẫn còn danh tiếng.

    Năm 1230, Đức giáo hoàng Gregoriô IX cảm kích những thành quả do thánh Raymundô mang lại, đã mời làm cha giải tội cho mình, đồng thời chọn Ngài làm tổng giám mục thành Tarragona. Nhưng danh dự này đã khiến thánh nhân, khi nghe tin, lên cơn sốt liền trong vòng ba ngày, Ngài đã xin các đức hồng y can thiệp cho mình khỏi lãnh nhận danh dự và gánh nặng này. Cuối cùng Đức giáo hoàng đành chấp thuận. Năm năm làm việc tại giáo triều, đức giáo hoàng đã ủy thác cho thánh nhân thu thập các sắc lệnh của các đức giáo hoàng và các công đồng thánh nhân đã gom góp vào năm cuốn sách và được phê chuẩn năm 1234. Ngoài việc chu toàn các nghĩa vụ được trao phó, Ngài còn theo đuổi một nếp sống nhiệm nhặt, khiến Ngài lâm trọng bệnh. Thánh nhân liền khẩn nài cho mình được trở về với nếp sống tu sĩ bình thường.

    Từ khứơc mọi đặc ân thánh nhân rời khỏi Roma trở về Barcelona. Trên chuyến tàu Ngài gặp một người lâm bệnh nặng không còn nói năng gì được. Cầu nguyện và xin mọi người cầu nguyện cho ông, thánh nhân hỏi ông có muốn xưng tội không ? Bệnh nhân bỗng nói được. Ông ta đã xưng tội rồi tắt thở.

    Tại Barcelon, thánh nhân trở lại đời sống sám hối rất gương mẫu. Hàng ngày Ngài vẫn xưng tội rước khi dâng lễ. Ngài nói : – “Những ngày bị ngăn trở không xưng tội được, đối với tôi là những tang chế u sầu”.

    Năm 1238, Ngài được bầu làm bề trên tổng quyền thứ ba của dòng Daminh. Suốt hai năm làm bề trên, Ngài đã đi bộ đến thăm viếng mỗi tỉnh dòng để hun nóng lòng nhiêt thành của các tu sĩ. Hai năm sau Ngài xin từ chức vì tuổi già sức yếu.

    Tuy nhiên trong tuổi già yếu, Ngài vẫn góp phần xây dựng cho tổ quốc. Ngài đã viết thư yêu cầu thánh Tôma viết một bộ sách để chống lại bọn lạc giáo, như vua Giacôbê yêu cầu. Thánh Tôma đã nhận lời và viết bộ sách “Summa Contra Ghentiles” Dù được nhà vua quí mến chiều chuộng, nhưng thánh nhân không ngại cảnh cáo ông ta. Một lần kia, trong cuộc chinh phục đảo Maiorqua. Vua mời thánh nhân cùng đi. Thánh nhân nhận lời với ước vọng giảng thuyết để phá đổ những sai lầm tại đó. Nhưng tới nơi, Ngài khám phá ra rằng nhà vua đang phá hoại tổ chức bằng cuộc sống tội lỗi của mình. Ngài can ngăn nhưng nhà vua không giữ lời hứa.

    Thánh nhân liền tuyên cáo: – Vì Ngài không bỏ đường tội lỗi nên tôi sẽ bỏ đi.

    Hoảng hốt, nhà vua cấm mọi tàu thuyền không được phép chở Ngài. Tương truyên rằng: thánh nhân đã nói với một tu sĩ đi theo Ngài rằng: – Một vua trần thế cản đường, thì vua trên trời sẽ mở lối cho chúng ta đi.

    Nói rồi, Ngài cởi áo ngoài trải ra trên mặt biển, cắm cây gậy làm cột và cuốn một góc làm buồm. Ngài mời thầy dòng lên “Tàu” nhưng ông không dám. Thế là một mình Ngài đáp “tàu” hồi hương. Vài giờ sau thánh nhân tới bến và Ngài vội vàng cuốn áo thẳng về nhà dòng để tránh tiếng hoan hô của dân chúng. Phép lạ này đã trở thành sức mạnh cải hóa nhà vua, đưa ông trở lại với lương tâm và quê hương mình.

    Về già, thánh Raymundô đã chịu nhiều cơn đau yếu, nhưng lòng nhiệt thành của Ngài vẫn bốc cháy không ngừng. Ngày 6 tháng giêng năm 1275 Ngài đã từ giã cõi thế là nơi mà Ngài đã hiến trọn đời phụng vụ Chúa.

    ~~~~~~~~~~~

    Ngày 07 tháng 01

    Thánh Giuse Tuân, giáo dân (+1862)

    Thánh Giuse Tuân là một nông dân và trưởng gia đình nổi tiếng đạo đức. Vì theo Công giáo nên ngài đã bị bắt thời vua Tự Ðức. Lý hình dụ dỗ ngài đạp qua Thánh Giá, nhưng ngài đã quỳ lạy và kêu lên: “Lạy Thánh Giá là sức mạnh của tôi”. Do đó, ngài đã bị xử trảm tại pháp trường Nam Ðịnh ngày 7-1-1862.

    Ðức Thánh Cha Piô XII đã tôn ngài lên bậc Chân Phước ngày 29-4-1951 và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-6-1988.
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 6 tháng Giêng 2018
  7. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 13 tháng 01

    Thánh HILARIÔ, Giám Mục Tiến Sĩ (khoảng 320-368)

    Thánh Hilariô chào đời tại Poa-tu (Poitou) Ngài là con một nhà quí tộc làm nghị viên và được giáo dục đầy đủ. Các môn học mà thánh nhân ưa thích là văn chương, thi ca, nhất là triết lý.

    Việc học tập của Ngài luôn được đào sâu cho tới cùng là Thiên Chúa, Ngài nhận định rằng: hạnh phúc thật của con người không phải bị những thú vui đời này, dù chúng thanh cao đến mấy đi nữa. Trái lại hạnh phúc là được sống cho chân lý ở một cuộc sống khác với cuộc sống tạm trên trần gian này. Ngài nói: - "Tôi khóc lên vì vui sướng mỗi khi nghĩ đến thân xác này chỉ được tiền định để phải chết đi".

    Nhưng làm thế nào mà thánh nhân đã gặp được chân lý, gặp được Thiên Chúa mà các triết gia và các tôn giáo thường nói tới một cách mù mờ ? Chính thánh nhân kể lại cuộc khám phá của mình: - "Từ môi trường ngoại giáo, Chúa đã dẫn đưa tôi tới nguồn sáng chân thực. Giữa bao nhiêu hệ thống triết lý và tư tưởng khác nhau, tôi vẫn ưu tư tìm đến Chúa bằng con đường ngay thật, chắc chắn hữu thể thần linh vĩnh cửu phải là đơn thuần và độc nhất, không có gì là không bắt nguồn tự Ngài, vạn vật đều phải thờ phượng Ngài".

    Xác tín rằng phải có Chúa, Ngài còn suy nghĩ về các phẩm tính thần linh của Chúa.

    - "Nếu một công rình vượt quá trí khôn chúng ta, thì nhà nghệ sĩ thần linh còn trổi vượt công trình đó thế nào ? Vậy phải nhận biết rằng, Thiên Chúa tuyệt mỹ và chúng ta chỉ cảm nhận mà chúng ta không thể thấu hiểu nổi".

    Trong khi còn miên man suy nghĩ như vậy. Thánh nhân bỗng gặp được một cuốn kinh thánh. Ngài đọc được đoạn văn trên Chúa hiện ra với Môsê và tự bày tỏ: "Ta là Đấng hiện hữu".

    Ngài sung sướng với khám phá này : - "Tôi vui thỏa với danh hiệu mà Thiên Chúa đã tỏ ra cho Môsê. Thánh danh ấy vừa biểu lộ một quan niệm sâu xa về Thiên Chúa, lại vừa tầm với trí óc con người.

    Từ đó thánh nhân say mê nghiên cứu thánh kinh, nhất là các sách tiên tri với những đoạn loan báo về Đấng thiên sai. Trong các sách Tin Mừng, Ngài thích nhất tự ngôn của Tin Mừng theo thánh Gioan. - "Trí tôi học biết và Thiên Chúa vượt quá điều nó dám ước mong... lòng tôi run rẩy bồn chồn vì vui sướng trước giáo thuyết về Thiên Chúa Ba Ngôi và trước lời mời gọi tái sinh nhờ đức tin".

    Thế là thánh nhân đã lãnh nhận phép rửa tội và cảm thấy hạnh phúc lạ lùng. Ngài đã lập gia đình và có được một người con gái. Rồi đây Ngài sẽ đưa cả vợ con về với đức tin. Khi Ngài muốn trở thành linh mục, vợ Ngài chỉ còn gặp lại Ngài tại bàn thánh và coi Ngài như một người anh. Nhân đức và trí khôn ngoại hạng còn đưa Ngài tới chức giám mục cai quản địa phận Pcachie (Poutiers) năm 350.

    Lúc ấy lạc giáo Ariô nổi lên như vũ bão trong Giáo hội. Vua Constantiô ủng hộ lạc giáo và tiếp tay cho cuộc bách hại. Thánh Athanasiô bị bắt đi lưu đày. Thánh Hilariô đứng lên lãnh đạo công cuộc bảo vệ đức tin chân chính. Ngài triệu tập một công đồng để lên án hai giám mục theo lạc giáo. Cộng đồng còn cử Ngài đi thương thuyết với nhà vua. Nhưng lòng can đảm của Ngài đã bị trừng phạt bằng cuộc lưu đày năm 356, chấp nhận gian khổ, Ngài tuyên bố:

    - "Người ta có thể bắt các giám mục lưu đày, nhưng có thể trục xuất chân lý được không ?"

    Cuộc hành trình tới Phrygia nằm ở cuối miền Tiểu Á thật dài và đầy gian khổ. Nhưng thánh nhân đã không hề phàn nàn mà vẫn bình thản sống mật thiết kết hợp với Chúa. Đầy dũng cảm, Ngài vẫn tiếp tục làm rung chuyển thế giới bằng công việc viết lách của mình.

    Ngài nói : - "Dầu bị lưu đày, chúng tôi vẫn tiếp tục nói bằng sách vở, bởi vì người ta không thể giam hãm lời Chúa".
    Ngài đã viết 12 khảo luận bàn về Chúa Ba Ngôi, và đưa giáo thuyết chân chính của công giáo với những tư tưởng kinh tế của Hylạp vào thổ ngữ. Ngài tiếp tục điều khiển giáo phận bằng thư tín. Cũng vào thời này, thánh nhân diụ dàng hướng dẫn Ebra, người con gái của mình tới đời sống thánh thện. Một bức thư Ngài viết trong buổi lưu đày còn sót lại có khuyên nhủ nàng tận hiến cho Chúa như sau:

    - "Con thân yêu, con là đứa con duy nhất của cha, cha muốn thấy con đẹp nhất và đẹp nhất trong các phụ nữ. Người ta nói với cha về một thanh niên có một viên ngọc quí và một bộ áo quí giá đến nỗi ai mà có được những thứ đó thì sẽ là người giàu có hơn hết mọi người".

    Và thánh nhân kể lại rằng: phải khó khăn lâu ngày, Ngài mới gặp được người thanh niên này để xin Người ban viên ngọc và chiếc áo ấy cho Ebra. Bên chiếc áo này, tuyết hết trắng, không có một vết nhơ nào có thể bôi bẩn, không một tai nạn nào có thể xé rách. Còn viên ngọc, không vật nào chịu nổi vể rực rỡ huy hoàng, chẳng bao giờ tàn sắc, ai mang được sẽ hết khổ và không phải chết.

    Và Ngài tiếp: - "Đấy là những món trang sức mà cha ước ao, những thứ ban ơn cứu rỗi và hạnh phúc vĩnh cửu".
    Ngài còn gửi cho cô những khúc thánh thi để cô ca nguyện sớm chiều. Ebra sớm theo ước nguyện của người cha nhưng cũng sớm lìa trần.

    Bốn năm trôi qua, Hoàng đế cho triệu tập công đồng Sêlêucia. May mắn Ngài cũng được mời dự. Tại đây Ngài đã dùng hết tài hùng biện và trí thông minh để chống lạc giáo, bảo vệ đức tin chân chính. Không chịu nổi ảnh hưởng của Ngài. Bọn theo lạc giáo đã can thiệp để Ngài về quê hương cho rảnh nợ. Thế là năm 360, Đức Giám mục Hilariô được trở về Poa-chi-ê.

    Cuộc hồi hương của thánh nhân là niềm vui cho toàn dân chứ không riêng gì cho giáo phận Poa-chi-ê. Thánh Hiêrônimô đã nói : "Toàn dân Gôn (Gaules) ôm hôn vị anh hùng tay mang nhành vạn tuế trở về".

    Trong đoàn người đông đảo đón mừng người cha già, phải kể đến một người lính trẻ tên là Martinô. Lúc ấy Martinô đang sống ẩn dật ở Ganlinaria và sau này sẽ làm thánh giám mục. Ngày về của vị giám mục già cả còn được ghi dấu bằng một phép lạ nhãn tiền. Một bà mẹ khóc lóc ôm một đứa con mới chết gặp Ngài. Bà tha thiết xin thánh nhân cứu sống con mình, ít ra để nó được rửa tội. Cảm tưởng nỗi niềm đau đớn của người thiếu phụ, Ngài quì gối cầu nguyện và da thịt đứa trẻ dần dần đỏ hồng rồi sống lại.

    Tuổi già sức yếu nhưng thánh nhân vẫn nhiệt thành chỉnh đốn lại những tàn phá do bè rối gây nên. Lòng nhiệt thành đã đưa Ngài tới tận Milan khiến bọn lạc giáo kinh hoàng và làm áp lực bắt Ngài phải trở lại Poa-chi-ê. Ngày 13 tháng giêng năm 386 Ngài đã qua đời. Người ta kể lại rằng: lúc thánh nhân tử trần, một luồng chói chang khắp phòng.
    Ngày 10 tháng giêng năm 1852, theo lời thỉnh cầu của nhiều vị giám mục. Đức giáo hoàng phong Ngài lên bậc Tiến sĩ Hội Thánh. Ngài là vị thánh tiến sĩ đầu tiên ở Gôn.
     
  8. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 17 tháng 01

    Thánh ANTÔN, Viện phụ (Thế kỷ IV)

    Thánh Antôn chào đời năm 250 tại Corma, gần Hieraclens, miền thượng Ai Cập. Cha mẹ Ngài nổi danh giàu có lẫn đạo đức, đã lo lắng dạy dỗ ngài sống đạo ngay từ nhỏ.

    Khi được 18 tuổi thì cha mẹ ngài qua đời. Sáu tháng sau ngày mất cha mất mẹ, tại một giáo đường, thánh nhân đã nghe đọc lời Sách Thánh: “Nếu con muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải và đem phân phát cho kẻ nghèo khó rồi theo Ta” (Mt 19,21). Tưởng như Thiên Chúa nói riêng với mình đã về bán hết của cải và đem phân phát cho người nghèo khó.

    Sau khi lo lắng gửi gắm em gái của mình cho một nữ tu viện, ngài lui vào sa mạc để làm việc và cầu nguyện, ngài theo đuổi một cuộc sống rất khắc khổ, chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn. Để giữ được sự cô tịch trọn vẹn, ngài còn ẩn thân vào một ngôi mộ bỏ trống. Thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho ngài nhưng ma quỷ đã tìm cách quấy phá để trục ngài ra khỏi “căn phòng” và cuộc sống khắc khổ, chúng thường hay la hét và hiện hình kỳ quái. Phản ứng lại, thánh nhân thường cầu nguyện nhiều hơn và tăng gấp những việc hãm mình. Giận dữ vì các mưu mô bị thất bại, ma quỉ còn công khai hành hạ ngài nữa.

    Một ngày kia người bạn mang bánh đến, bỗng thấy thánh nhân nửa sống nửa chết, mình đầy thương tích. Nhưng khi vừa bừng tỉnh, thánh nhân liền chỗi dậy và la lớn: Tôi còn sẵn sàng chiến đấu. Lạy Chúa, không, không gì có thể tách lìa con khỏi lòng yêu mến Chúa được.

    Giữa những đau đớn vì các cuộc tấn công của ma quỉ, ngài khinh bỉ trả lời: Ồn ào vô ích. Dấu thánh giá và lòng tin tưởng vào Chúa là những thành trì kiên cố.

    Thánh nhân luôn tin tưởng nơi Chúa. Ngày kia, được an ủi trong tâm hồn và cảm thấy là ma quỷ đã lùi bước, ngài cầu nguyện: Ôi, lạy Chúa, Chúa ở đâu? Sao Chúa không ở đây lau sạch nước mắt và thoa dịu những dày vò của con?

    Tiếng Chúa trả lời: Cha ở gần con, cha giúp con chiến đấu. Bởi vì con đã chống trả lại ma quỷ, cha sẽ bảo vệ quãng đời còn lại của con. Cha sẽ làm cho tên con rạng rỡ trên trời.

    Tràn đầy nghị lực, thánh nhân chỗi dậy tạ ơn Chúa. Muốn xa mọi người hơn nữa, ngài vượt sông Nil đến trú ngụ trong một pháo đài hoang phế đầy những rắn rết. Nhưng sự thánh thiện của Ngài như một sức nam châm, vẫn thu hút nhiều người đến xin làm môn đệ. Thế là một phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ. Sa mạc mọc lên những mái tranh, từ đó không ngừng vang lên những lời kinh ca khen Chúa. Thánh nhân trở nên vị thủ lãnh của nếp sống ẩn tu.

    Dầu vậy, Thánh Antôn đã hai lần từ giã sa mạc. Vào năm 311 khi có cuộc bách hại của Alaximiô, ngài nói: Nào ta cùng đi chiến đấu với anh em ta.

    Ngài lên đường đi Alexandria. Người ta thấy thánh nhân khích lệ các tù nhân nơi các trại giam, theo họ tới trước quan toà và khuyên nhủ họ can đảm chết vì đạo, ngài còn xuống hầm trú để an ủi các linh mục. Ngài thoát chết là một điều lạ lùng.
    Cuộc bách hại chấm đứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc. Số các môn sinh ngày càng tăng thêm đông. Sợ bị cám dỗ thành kiêu căng, và thấy gương các thánh tử đạo, thánh Antôn khao khát sống khắc khổ để đền tội. Ngài tiến sâu hơn nữa vào sa mạc. Sau ba ngày đi theo đoàn người buôn bán, ngài dừng lại gần biển Đỏ, dưới chân núi Kolzim và dựng một căn lều vừa đủ để nằm để ở. Dân Bêđuanh (Bédouins) cho ngài bánh ăn. Về sau các môn sinh tìm tới và mang cho ngài một cái xuổng với một ít hạt giống, đây là nguồn gốc của tu viện thánh Antôn hay là Deir-el-Arat, một tu viện theo nghi lễ Cốp (Copte) ngày nay vẫn còn.

    Lần thứ hai, thánh nhân trở lại Alexandria theo lời mời của đức giám mục Athanasiô, để chống lại lạc giáo. Dân chúng cả thành chen lấn nhau đi đón ngài. Các lương dân cũng bảo nhau: Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa.

    Nhiều người cảm động vì những bài diễn thuyết và những phép lạ ngài làm, đã xin lãnh bí tích Rửa Tội, người ta tưởng sẽ gặp một lão già tám mươi hoang dại, nhưng đã ngạc nhiên khi thấy ngài rất lịch thiệp, xử dụng ngôn ngữ văn hoá và diễn tả tư tưởng rất uyên thâm. Các triết gia ngoại giáo ngạc nhiên hỏi ngài:

    - Ngài làm gì được trong sa mạc không có sách vở chi hết? Thánh nhân trả lời:

    - Thiên nhiên đối với tôi là một cuốn sách mở rộng.

    Và người ta ngỡ ngàng về những điều thánh nhân đã khám phá được trong cuốn sách vĩ đại này của Đấng Tạo Hoá.
    Điều đáng kể dường như không phải những nhiệm nhặt ngài theo đuổi, mà là tâm hồn trong trắng ngài kết hiệp mật thiết với Chúa, ngài nói: Hư danh là kẻ thù nguy hiểm nhứt của chúng ta.

    Danh tiếng của Thánh Antôn lan rộng đến nỗi vua Constantinô và con cái ông đã viết thư tham khảo ý kiến ngài, Môn sinh của ngài hãnh diện lắm. Nhưng ngài bảo họ: Đừng ngạc nhiên lắm khi thấy nhà vua là một con người viết thư cho một con người. Đáng ngạc nhiên là chính Thiên Chúa đã muốn viết luật cho loài người, và đã nói với chúng ta qua Đức Giêsu Kitô.

    Và trả lời cho lớp người vương giả ấy, ngài dùng những lời cao thượng để khuyên họ biết khinh chê danh vọng mà nhớ tới cuộc chung thẩm.

    Khi ngài đã quá 90 tuổi, Thiên Chúa qua một thị kiến đưa ngài đến thăm Thánh Phaolô ẩn tu trong sa mạc. Ngài còn được cho biết là sẽ sống tới tuổi 105.

    Biết sắp tới giờ từ giã trần gian, ngài đi thăm anh em ngài lần chót. Ngài nói với họ về sự chết với niềm vui của người hồi hương. Họ đã khóc ròng, nhưng ngài khuyên nhủ họ: Hãy sống như phải chết mỗi ngày. Hãy cố gắng noi gương các thánh.

    Thánh nhân trở lại núi với hai môn sinh. Trong căn phòng nghèo nàn của mình, ngài đã phó linh hồn trong tay Chúa lúc 105 tuổi. Chúng ta biết được ân sủng giai thoại quý báu của đời Thánh Antôn là nhờ Thánh Athanasiô kể lại.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn