Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lễ Các Thánh Trong Tháng 11

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 31 tháng Mười 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 01 tháng 11

    CÁC THÁNH NAM NỮ

    Trước hết, đây là lễ các Thánh Tử Đạo. Vào đầu thế kỷ V, Đức Giáo hoàng Bonifaciô IV đã nhận từ tay hoàng đế một đền thờ ngoại giáo, đền Panthéon. Được dựng để tôn vinh các thần. Ngài đã biến thành đền thờ dâng kính Đức Trinh Nữ Maria và các Thánh Tử Đạo. Xác các thánh an nghỉ trong các hang toại đạo được chuyển về nhà thờ trong một cuộc lễ huy hoàng. Mỗi năm các tu viện đều nhắc lại kỷ niệm này. 400 năm sau, Đức Giáo hoàng Grêgôriô IV quyết định rằng việc tôn kính long trọng này phải hướng về các thánh nam nữ đã được tôn phong hay chưa được biết đến vì không có sự đặc biệt nào của các ngài chói sáng trên trần thế, nhưng ý chí và việc làm lành thánh của các ngài được Thiên Chúa thấu suốt cõi lòng biết đến.

    Trong thánh lễ hôm nay, Phúc Âm kể ra những người chiếm hữu được hạnh phúc chân thật, những người có tinh thần nghèo khó hiền lành biết thương xót, có lòng trong sạch ăn ở thuận hoà, sẵn sàng chịu bách hại vì sự công chính. Tất cả đều vui sướng vì phần thưởng bội hậu chờ đón họ trên trời. Lễ các Thánh là lễ của người muốn nên lành thánh.

    Lịch sử

    Lễ các Thánh nam nữ đã có từ thế kỷ thứ IV. Thánh Ephraim người Syrie và Thánh Gioan Kim Khẩu đều biết đến một ngày lễ mừng các Thánh Tử Đạo vào ngày 13-5 hằng năm, hay rõ hơn là Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Lễ này vẫn còn trong lịch sử phụng vụ của Giáo hội Hy Lạp và được gọi là Chúa Nhật Chư Thánh.

    Giáo hội Tây phương cũng có một thánh lễ từ thế kỷ thứ VII, lễ toàn thể các Thánh Tử Đạo mừng vào ngày 13-5. Đó là ngày lễ thánh hiến Đền Panthéon của Rôma, để Kính Đức Trinh Nữ Maria và toàn thể các Thánh Tử Đạo vào ngày 13-5-609.

    Lễ chư thánh (toàn thể các thánh, chứ không dành riêng cho các thánh tử đạo) được mừng vào ngày 1-11 hằng năm, chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ VIII do các thầy Dòng Irland, và Anh quốc, khi sang truyền giáo ở Âu Châu đã đem theo và trong thời gian ngắn đã phổ biến rộng khắp Âu Châu.

    (Theo Lm. Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Phụng vụ Chư Thánh)

    ~~~~~~~~~~~~

    Lễ Các Thánh Nam Nữ




     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 31 tháng Mười 2017
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 02 tháng 11

    CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI

    Tại sao chúng ta cầu nguyện cho linh hồn những người quá cố?

    Dịp kỷ niệm 1.000 năm ngày Viện Phụ Odilon - Viện Phụ thứ năm của Đan viện Cluny - cổ võ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục vào ngày 2-11 hằng năm, Ðức Thánh Cha đã gửi một Sứ điệp đến Ðức Giám mục Autun, Chalon và Mâcon, kiêm Viện Phụ Ðan viện Cluny, nhiệt liệt khuyến khích các tín hữu sốt sắng cầu nguyện cho người quá cố để họ được tha thứ mọi hình phạt do tội lỗi. Sứ điệp được công bố tại Rôma ngày 12-9-1998 với nội dung như sau:

    Kính gửi Ðức Cha Raymond Séguy, Giám Mục Autun, Chalon và Mâcon, Viện Phụ Cluny

    Trong năm kỷ niệm 1.000 năm thành lập lễ các linh hồn do Thánh Odilon (+1049), Viện Phụ thứ năm của Đan viện Cluny, đồng thời kỷ niệm 100 năm vị tiền nhiệm của Ðức cha là Ðức Hồng y Perraud thành lập Hiệp hội các bà Cluny chuyên cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục, kỷ niệm 40 năm thành lập tạp chí “Lumière et Vie” -Ánh Sáng và Sự Sống chuyên cổ vũ việc cầu nguyện cho người quá cố, tôi vui lòng hiệp ý với tất cả những người trong năm nay tham dự các buổi lễ cầu nguyện cho những người đã ra đi trước chúng ta.

    Thực vậy, sau ngày lễ các thánh, trong đó Giáo Hội hân hoan cử hành tình hiệp thông của các thánh và ơn cứu độ con người, Thánh Odilon đã nhắn nhủ các đan sĩ cầu nguyện đặc biệt cho những người quá cố, nhờ đó góp phần cách huyền diệu giúp các linh hồn ấy đạt tới hạnh phúc. Từ Ðan viện Cluny, thói quen long trọng cầu nguyện cho những người quá cố dần dần được phổ biến và ngày nay vẫn còn thịnh hành trong Giáo Hội hoàn vũ.

    Khi cầu nguyện cho những người qua đời, Giáo Hội chiêm ngưỡng trước tiên Mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô, Ðấng đã đạt cho chúng ta ơn cứu độ và sự sống đời đời qua cái chết của Người trên Thập giá. Vì thế, cùng với Thánh Odilon, chúng ta có thể lặp lại không ngừng: “Thập Giá là nơi tôi nương náu. Thập Giá là Ðường và là Sự Sống cho tôi. Thập Giá là khí giới vô địch của tôi. Thập Giá đẩy lùi mọi sự dữ. Thập Giá phá tan tăm tối”. Thập Giá của Chúa nhắc nhở cho chúng ta rằng: toàn thể cuộc sống được Ánh sáng Phục Sinh soi chiếu; không có tình trạng nào hoàn toàn là tuyệt vọng, hư mất, vì Chúa Kitô đã chiến thắng sự chết và mở cho chúng ta con đường sự sống chân thật. Ơn cứu độ được hiện thực nhờ Hy tế của Chúa Kitô, nhờ đó con người chuộc tội mình và được giao hoà với Thiên Chúa.

    Niềm hy vọng của chúng ta dựa trên Hy tế của Chúa Kitô. Sự Phục sinh của Ngài khai mạc thời kỳ sau hết. Niềm tin vào sự sống vĩnh cửu như chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính đồng thời mời gọi hy vọng vui tươi sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa nhãn tiền. Tin “xác loài người sẽ sống lại” là nhìn nhận rằng có một mục đích sau cùng, một cứu cánh chung cuộc của mọi đời người. Cứu cánh ấy thoả mãn được mọi ước muốn của con người đến độ không còn mong ước sự gì khác ngoài mục đích ấy. Thánh Augustinô đã diễn tả cùng một ước muốn đó cách tuyệt hảo khi nói rằng: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa và tâm hồn chúng con sẽ được an nghỉ cho đến khi nào được ở trong Chúa”.

    Vì thế, tất cả chúng ta đều được mời gọi sống với Chúa Kitô ngự bên hữu Chúa Cha và chiêm ngưỡng Ba Ngôi Chí Thánh, vì Thiên Chúa là đối tượng chính của niềm cậy trông Kitô giáo. Cùng với ông Gióp, chúng ta có thể thốt lên: Giờ đây, “tôi biết rằng Ðấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất. Sau khi da tôi đây bị tiêu huỷ, thì với tâm thần, tôi sẽ được nhìn ngắm Thiên Chúa” (G 19,25tt). Chúng ta cũng nhớ rằng: Nhiệm Thể Chúa Kitô đang chờ đợi sự hợp nhất vào ngày tận thế, khi tất cả mọi chi thể được ở trong hạnh phúc hoàn toàn, và “Thiên Chúa sẽ là tất cả trong mọi người” (1 Cr 15,28).

    Thực vậy, Giáo Hội hy vọng ơn cứu độ vĩnh cửu cho mọi con cái mình và cho mọi người. Chúng tôi tin rằng Giáo Hội là cần thiết cho ơn cứu độ, vì Chúa Kitô là Ðấng Trung Gian Duy Nhất và là Con Ðường Cứu Ðộ. Ngài sẽ cứu chúng ta trong Thân Thể Ngài là Giáo Hội. Nhưng ý Chúa muốn cứu độ tất cả mọi người, và những ai không vì lỗi của họ mà không được biết Tin Mừng của Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài, họ vẫn trung thành tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng thi hành thánh ý Chúa được nhìn nhận qua những mệnh lệnh của lương tâm, thì những người ấy có thể được ơn cứu rỗi, và số người đó chỉ có Thiên Chúa biết.

    Trong khi chờ đợi sự chết hoàn toàn bị đè bẹp, con người tiếp tục cuộc lữ hành trên mặt đất; có những người sau khi hoàn tất cuộc sống còn phải chịu sự thanh tẩy; sau cùng có những người được hưởng vinh quang và chiêm ngưỡng Ba Ngôi Thiên Chúa trong ánh sáng viên mãn. Chỉ có công nghiệp của các thánh, lời cầu nguyện huynh đệ của chúng ta, trợ giúp những ai đang chờ đợi được hưởng kiến Thiên Chúa. Việc cầu nguyện cho người quá cố cũng như đời sống của những người đang sống theo các giới răn của Chúa đạt được những công nghiệp nhắm hoàn tất ơn cứu độ. Trong tình bác ái huynh đệ, chúng ta đáp ứng ơn gọi sâu xa của Giáo Hội, đó là cứu vớt những linh hồn yêu mến Chúa đời đời. Ðối với các linh hồn trong luyện ngục, tình trạng phải chờ đợi hạnh phúc vĩnh cửu, mong mỏi được gặp gỡ với Ðấng được yêu mến khiến họ đau khổ vì hình phạt phải chịu do tội lỗi khiến họ phải xa Chúa, nhưng chắc chắn rằng sau khi hoàn tất thời kỳ thanh luyện, linh hồn sẽ đến gặp Ðấng mình hằng ao ước.

    Sự chiêm ngưỡng cuộc sống những người đã theo Chúa Kitô thúc đẩy chúng ta sống đời Kitô tươi đẹp và ngay chính, làm cho chúng ta xứng đáng với nước Chúa. Vì thế,chúng ta được mời gọi hãy sống “tỉnh thức - siêu nhiên”, theo kiểu nói của Ðức Hồng y Perraud, để chúng ta chuẩn bị mỗi ngày cho đời sống vĩnh cửu. Như Ðức Hồng y John Newman đã nhấn mạnh: “Không những chúng ta phải tin, nhưng còn phải tỉnh thức; không những yêu mến, nhưng còn phải tỉnh thức; không những vâng phục, nhưng còn phải tỉnh thức”. Có thể sự tỉnh thức là một thử thách xem mình có phải là Kitô hữu hay không, vì tỉnh thức có lẽ là tách rời khỏi cái hiện tại và sống với tư tưởng về Chúa Kitô như Ngài mong muốn xưa kia và như Ngài sẽ trở lại, mong ước Ngài đến trong vinh quang.

    Những lời chuyển cầu và kêu xin của Giáo Hội được dâng lên Thiên Chúa có một giá trị rất lớn lao. Chúng là đặc tính của một tâm hồn, phù hợp với lòng từ bi Chúa. Chúa luôn để cho tâm hồn Ngài bị xúc động vì những lời khẩn cầu của con cái, vì Ngài là“Thiên Chúa của kẻ sống”. Trong lời nguyện chung và lời cầu cho người quá cố, cộng đoàn phó dâng cho Chúa Cha đầy tình thương xót tất cả những người quá cố, để qua việc thanh tẩy trong lòng, họ được luyện sạch và được hạnh phúc trường sinh. Khi phó thác các linh hồn ấy cho Chúa, chúng ta nhìn nhận mình liên đới với họ và chúng ta tham dự vào phần rỗi của họ trong mầu nhiệm tuyệt diệu về tình hiệp thông của các thánh. Giáo Hội tin rằng các linh hồn còn bị cầm giữ trong luyện ngục được trợ giúp nhờ lời cầu nguyện của các tín hữu, nhất là bằng thánh lễ đền tội dâng trên bàn thờ cũng như bằng việc làm phúc và các việc đạo đức khác. Thực vậy, sự thánh thiện được sống thực sự chỉ phát xuất từ sự tham gia vào đời sống thánh thiện của Giáo Hội, và chính nó cũng là sự đóng góp đầu tiên và cơ bản cho sự thánh thiện của Giáo Hội vốn là một cộng đồng các thánh hiệp thông.

    Vậy, tôi khuyến khích các tín hữu Công giáo hãy sốt sắng cầu nguyện cho những người qua đời, những người thân thuộc và mọi anh chị em đã quá cố, để họ được tha thứ các hình phạt do tội lỗi và được nghe tiếng Chúa gọi: “Hỡi linh hồn yêu dấu, hãy vào nơi an nghỉ đời đời trong vòng tay nhân từ của Ta đã dọn sẵn cho con hạnh phúc trường cửu”.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 03 tháng 11

    Thánh MARTINÔ PORRES, Tu sĩ (1579-1639)

    1579 là niên biểu ghi nhớ ngày sinh ra của Martinô ở Lima, Pêru, con của một người mẹ da đen và của một người cha hiệp sĩ, và 1639 là niên biểu ghi nhớ ngày qua đời của thánh nhân. Sáu mươi năm giữa hai niên biểu này là khoảng thời gian Martinô tiến tới miền ánh sáng, trong sự khiêm tốn và hiến mình trọn vẹn để phục vụ các bệnh nhân.

    Cuộc tình của cha mẹ ngài không suôn sẻ lắm, vì màu da của mẹ ngài đã đưa đến những hắt hủi không những cho bà mẹ mà còn cho cả những đứa con xấu số của bà nữa. Nhưng hoàn cảnh đen tối ấy, Martinô lại coi như nén bạc trao tay để ngài sinh lời, thành bông hoa khiêm tốn tuyệt vời.

    Hồi còn là một thiếu niên, Martinô đã chứng tỏ lòng bác ái đầy khiêm tốn phục vụ của mình. Hôm ấy khi theo chị mang thức ăn cho gia đình, ngài nghe thấy tiếng rên rỉ của một bà lão người da đỏ. Dừng lại, ngài kinh hãi khi thấy một người lính Tây Ban Nha đang hành hạ lão. Đầy thương cảm, cậu thiếu niên Martinô cúi xuống lão già người da đỏ. Nhưng ông thù ghét cự tuyệt: Thằng nô lệ... mày đen đủi. Bọn da đen tụi mày là kẻ thù của dân da đỏ.

    Nhưng người thiếu niên da đen này đã không bỏ đi. Cậu nói chuyện với lão già da đỏ cách dịu dàng đến nỗi lão đã thú nhận là 3 ngày rồi không ăn thứ gì vào bụng lại chẳng có con cháu gì cả. Martinô đã khóc và đưa tất cả thực phẩm cả ngày đã mua được cho lão già.

    Vào thời đó, chỉ cần học một chút nghề cạo gió, cắt lể như Martinô đã học thì đã được coi là đủ để chữa nhiều loại bệnh, như Martinô đã săn sóc các bệnh nhân. Và các con bệnh có thể là loài người hay loài vật, bởi vì mọi loài đau khổ đều có quyền được người bạn da đen này khiêm tốn tận tình săn sóc. Ngài đã chữa lành một con gà tây gãy giò. Người ta còn nói rằng: ngài đã làm cho nhiều con vật sống lại.

    Vào tuổi 15, ngài nhập dòng Daminh như một thầy dòng ba. Thầy thích làm những việc khiêm tốn đến độ đã được biệt danh là “thầy chổi”. Tại nhà dòng Đức bà Mân Côi, ngài vẫn tiếp tục nghề thuốc của mình với một đức ái nhẫn nại vô bờ, như là một y tá của nhà dòng. Ngài kín múc sức mạnh trong kinh nguyện và khổ hạnh, vừa giấu việc mình làm việc và lần hạt Mân Côi, thức đêm để cầu nguyện rồi ngủ trên cái cáng dùng khiêng xác chết.

    Trong dòng, ngài cũng vẫn tiếp tục lấy tình yêu để đáp lại những bất công. Một bệnh nhân giận dữ với Martinô, nhưng ngài đã êm ái nói với họ: Anh giận dữ phải lẽ lắm, nhưng cơn giận có thể gia tăng cơn bệnh của anh. Hãy dùng món ăn anh thích này đi và tôi xoa bóp chân cho anh.

    Ngài còn lo lắng săn sóc nhiều hơn cho những người tỏ ra độc ác, bất công với ngài.

    Martinô đã từ chối không lãnh chức linh mục để có thể tiếp tục làm đầy tớ mọi người. Để thưởng lòng trong trắng, đức bác ái và sự khiêm tốn, Thiên Chúa đã ban cho ngài ơn chữa bệnh, nói tiên tri và làm nhiều phép lạ. Ngài qua đời trong hương thơm thánh thiện năm 1639.

    Cuộc điều tra phong thánh cho ngài đã sớm khởi sự từ năm 1657, nhưng mãi 200 năm sau, năm 1837, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XVI mới phong ngài lên hàng chân phước và 100 năm sau nữa, ngày 6-5-1962, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII phong ngài lên bậc hiển thánh. Hương thơm thánh thiện của ngài quả là không thể tan loãng theo thời gian.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~

    Ngày 03 tháng 11

    Thánh Phêrô Phanxicô NÉRON BẮC, Linh Mục Thừa Sai Paris (1818-1860)

    Chọn Việt Nam làm quê hương.
    Tuy chỉ ở Việt Nam hơn 11 năm, thánh Phêrô Néron Bắc đã trở nên như người Việt Nam chính gốc. Cha cũng tập ăn tương cà như mọi người. Cha có công phiên dịch ra tiếng Việt sách toán Pháp, chuyển ngữ các bài triết học, thần học cho các chủng sinh, và cuối cùng gởi nắm xương tàn cho mảnh đất thân yêu này, như ước nguyện khẩn cầu với Mẹ Mân Côi trong những ngày tu học ở Hội Thừa Sai Paris.

    Phêrô Phanxicô Néron sinh ngày 21.09.1818 tại Bordeaux, giáo phận Saint Claude, nước Pháp. Là con thứ năm trong gia đình có chín anh em. Thuở thơ ấu của Néron khá vất vả. Tuy được đi học, nhưng mỗi ngày cậu phải ra đồng chăn súc vật, vì thế chịu nhiều ảnh hưởng xấu của các bạn. Thế nhưng, một biến cố đã thay đổi cuộc đời cậu. Năm 17 tuổi, một người cho cậu mượn một cuốn sách đạo đức, cậu đọc và nhận ra tiếng Chúa kêu gọi mình. Từ đó cậu thay đổi hẳn lối sống.

    Năm 19 tuổi, Néron xin nhưng mãi đến ngày 14.02.1839 (21 tuổi) mới được vào chủng viện Neteroy. Sau sáu năm, thày lên học tại chủng viện Saunier, rồi xin gia nhập Hội Thừa Sai Paris và thụ phong linh mục ngày 17.06.1848. Bề trên cử cha Néron đi giảng đạo tại Việt Nam. Trong những ngày đợi tàu, cha Néron thường xin Đức Mẹ Mân Côi cho mình được dâng hiến mạng sống vì xứ vụ tại xứ truyền giáo. Ước nguyện của cha là một khi đã vào được Việt Nam, sẽ không bao giờ phải rời khỏi đất nước này.

    Ngày 28.03.1849, cha đến trình diện Đức cha Retord Liêu, khi ấy đang coi giáo phận Tây Đàng Ngoài. Đức cha gởi cha Néron đến Kẻ Vĩnh để học tiếng Việt và đặt cho ngài tên mới là Bắc. Năm 1852, Đức cha trao cho cha giúp xứ Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Năm 1854, Đức cha cử cha làm bề trên chủng viện Kẻ Vĩnh coi sóc 150 em. Cha kiên nhẫn giảng dạy chủng sinh các kiến thức cần thiết và dịch cho họ sách toán học ra tiếng Việt. với các lớp đại chủng sinh, cha dạy họ về triết lý và thần học. Một lần cha bị bắt, nhưng được Đức Giám mục chuộc lại.

    Những chặng đường Thập Tự
    Dù bận rộn với việc giảng dạy, cha Bắc đã không sao lãng đời sống nội tâm. Mỗi ngày cha đều quỳ suy niệm cuộc thương khó Đức Chúa Giêsu qua 14 chặng đường Thánh Giá. Cha ăn chay các ngày thứ sáu, các ngày vọng lễ trọng, suốt mùa chay và đặc biệt cả những ngày vọng lễ Đức Mẹ. Năm 1858, đang khi phụ trách bốn giáo xứ ở trên Sơn Tây, coi sóc 16 ngàn tín hữu, cha bị bắt lần thứ hai, phải chuộc mất 300 lạng bạc.

    Ngày 17.01.1860, vì bị thất bại trong việc quan hệ với Pháp, vua Tự Đức đã ra một chiếu chỉ cấm đạo gắt gao hơn: "Tất cả các quan phải triệt để thi hành triệt để chỉ thị của Trẫm. Nếu theo ý riêng mình như xảy ra trước đây, sẽ bị nghiêm phạt như kẻ vi phạm luật nhà nước". Chiếu chỉ trên khiến các quan địa phương không dám chểnh mảng trong việc bách hại đạo nữa. Cha Phêrô Bắc lại là người Aâu Châu da trắng, vóc dáng cao lớn, nên rất dễ bị lộ. Các giáo xứ Công Giáo cũng không dám cho cha ẩn trú lâu ngày. Chỗ ẩn thường xuyên của cha giờ đây là rừng rậm. Nhưng rừng rậm đâu phải là dễ đi. Có lần cha bị mất liên lạc với cha giáo hữu, bị đói khát đến kiệt sức ngất xỉu dưới một gốc cây. May mắn sau đó dân làng Tạ Xá tìm thấy liền lấy nước cháo tiếp cho cha từng muỗng, một giờ đồng hồ sau mới tỉnh lại được.

    Một hôm có tin báo là quân lính đã biết cha ở làng Tạ Xá, dân làng liền xin lỗi rồi mời cha lên một ghe nhỏ đẩy ra giữa đồng, tiếp tế ít lương thực, rồi đưa cha đến làng Yên Tập. Dân Yên Tập cũng hoảng quá, liền cử một cụ già dẫn cha lên một đỉnh núi vắng vẻ, ở trong lều lợp bằng lá chuối. Cha phải ở đó với cụ ba tuần lễ, mỗi ngày chỉ được một nắm cơm nguội, vì nếu chụm lửa nấu cơm sẽ bị phát hiện. Thức ăn duy nhất là một hũ tương, thỉnh thoảng mới được một ít cà muối. Cũng may là cha đã làm quen với món ăn này từ trước.

    Cơn bách hại ngày càng gay gắt, cha Bắc phải tiếp tục di chuyển. Ở làng Suồng ba tháng trong nhà một người ngoại giáo tốt bụng, rồi ở Chiêu Ửng, bị quan quân rượt chạy sang làng Ru Bơ, rồi ẩn trong rừng rậm nửa tháng, lại về Yên Tập, Tạ Xá và bị bắt. Có một người tên Luyện đánh bạc thua ông Lý trưởng 100 quan, ông hứa tha nợ nếu anh chỉ chỗ cha Bắc ẩn trú. Và anh "Giuđa" này đã bán cha với giá tiền đó.

    Ngày 05.08.1860, theo sự chỉ dẫn của anh Luyện. Lý trưởng và Cai tổng Mờn đem lính đến bắt cha đang ẩn nấp tại nhà bà Truật. Cha xứ Yên Tập cho giáo hữu đem tiền đến chuộc. Viên cai đội này không chịu, nhưng ông vẫn nhận tiền và hứa ghi vào hồ sơ là bắt được cha Bắc ở ngoài đồng vắng, nhờ thế không có ai bị liên lụy. Đó cũng là điều bận tâm nhất của cha Bắc. Trước mặt quan Sơn Tây, cha luôn luôn bình tĩnh, khẳng khái và cẩn mật. Quan hỏi cha đã gặp những ai, ở nhà nào và được ai giúp đỡ. Cha thẳng thắn trả lời: "Xin quan đừng hỏi làm chi, tôi sẽ không khai ai hay vùng nào cả. tôi không muốn người ấy hay vùng đó bị các quan làm khó đâu". Quan truyền đánh đòn cha 40 roi, nhưng cha cắn răng chịu, không khai một lời cũng không than một tiếng.

    Ông thần sống
    Điều làm quan, lính và dân miền Sơn Tây ngạc nhiên hơn cả là cha đã nhịn ăn 21 ngày liền, mỗi ngày chỉ uống một bát nước. Ngồi trong cũi chật hẹp mà khuôn mặt lúc nào cũng vui tươi. Các vết thương lở loét, cha cũng không xin thuuốc chữa trị gì hết. Dân chúng đồn thổi với nhau coi cha như một " ÔNG THẦN SỐNG". Họ bảo: "Không ăn mà vẫn sống, thật lạ lùng". Thấy để cha sống lâu, dư luận bất lợi, quan tỉnh liền làm án về kinh đô xin chém đầu và bêu giữa chợ ba ngày rồi thả trôi sông. Vua Tự Đức liền chuẩn phê theo án xin.

    Ngày 03.11.1860, vị tông đồ bị dẫn đi xử tại pháp trường Sơn Tây, cách Hà Nội khoảng 50 cây số. Cha xin được cởi trói, cổ vẫn mang gông, bước đi nhẹ nhàng giữa tốp lính bên người cầm gươm sáng loáng. Đến pháp trường, vị chứng nhân quỳ xuống sốt sắng cầu nguyện, rồi giơ cho lý hình chém. Hai người lính đứng hai bên tử tội cùng vung gươm một lượt, giữa lúc chiêng trống khua lên ba hồi chín tiếng.

    Vì nhịn ăn 21 ngày trước đây, dân chúng người ngoại giáo cũng tranh nhau thấm máu "ông thần sống". Cha Độ, chánh xứ Bách Lộc, nhờ một người ngoại giáo đến xin thi thể vị tử đạo để chôn cất, nói rằng: "Tội nghiệp ông Tây không có thân nhân nên làm phúc để đức cho con cháu". Ba ngày sau, cha Độ tìm cách chuyển thi hài về an táng ở nhà xứ. Thủ cấp vị tử đạo bị ném xuống sông Hồng, sau các giáo dân tìm vớt hoài mà không thấy.

    Đức Thánh Cha Piô X suy tôn linh mục Phêrô Néron Bắc lên bậc Chân Phước ngày 02.05.1909. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Giáo phận nguyên quan Saint Claude hằng năm tổ chức lễ trọng thể ngày 03.11 với bài lễ riêng và chọn ngài làm bổn mạng giới trẻ trong giáo phận.

    Lm. Đào Trung Hiệu, OP
     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 04 tháng 11

    Thánh CARÔLÔ BORRÔMÊÔ, Giám Mục (1538-1584)

    Xuất thân từ dòng họ quý phái Lombardo, Thánh Carôlô Borrômêô sinh tại Arôna ngày 2-10-1538, là con thứ trong gia đình, tuổi trẻ đạo đức đã sớm định hứơng cuộc đời ngài để phục vụ Giáo Hội, ngài đạt bằng tiến sĩ Luật ở Paris năm 1559, nhưng tháng giêng năm sau đã triệu vời về Roma. Ở đó ngài được đặt ngay làm Hồng Y với những trách và cao trọng trong Giáo Hội gồm cả chức vụ Tổng Giám Mục Milan, và dù còn trẻ cũng đã được trao cho trách nhiệm làm quốc vụ khanh Toà Thánh.

    Trong quyền hạn này, ngài kiểm soát mọi giao dịch chính thức của Đức Giáo Hoàng, bao gồm nhiều cuộc đám phán khó khăn liên quan đến việc hoàn thành Công đồng Tridentinô từ năm 1560-1564. Công đồng kết thúc, ngài còn phải lo lắng tới những công chuyện còn sót lại và mãi tới tháng 9-1565 ngài mới được Đức Giáo Hoàng cho phép về ở tại nhiệm sở của mình. Khó khăn lắm mới được trở về Milan, ngài lại bị triệu hồi để giúp cậu ngài bên giường bệnh, và sau đó góp phần chọn lựa đấng kế vị là Đức Giáo Hoàng Piô V. Ngài trở lại Milan vào tháng 4-1566.

    Kể từ lúc đó cho đến khi qua đời, ngày 3-10-1584, cuộc đời của Thánh Carôlô được dành trọn cho giáo phận với tư cách của một Tổng Giám mục. Việc canh tân khẩn thiết nhất trong mục vụ của vị giám mục tập chú vào sơ đồ canh tân Công Đồng Tridentinô để ra. Thánh Carôlô đã trở thành giám mục “kiểu mới” của Công Đồng Tridentinô, ngài đã thành công đến nỗi trở thành gương mẫu và gợi hứng cho toàn thể Giáo Hội. Có lẽ hơn bất cứ một cá nhân nào khác ngài đã chuyển các sắc lệnh của cộng đồng ra hành động trong Giáo hội Công Giáo, ngài đã thực hiện cuộc canh tân, tổ chức lại hàng giáo sĩ và đời sống thiêng liêng trong cả địa phận lẫn tỉnh Milan. Nhưng nỗ lực này được ghi lại đầy đủ chi tiết qua một số quy luật do 6 hội nghị giáo tỉnh và 11 hội nghị giáo nhận.

    Ngài kiên trì viếng thăm toàn giáo phận rộng rãi bao la được giảng dạy, ban các phép bí tích tới những làng mạc xa xôi nhất và những vùng thung lũng núi Alpels. Cuộc hồi sinh đạo công giáo tại Thuỵ Sĩ mà nhiều phần nằm trong quyền hạn của ngài đã là ảnh hưởng quyết định của ngài, ngài đã thiết lập nhiều học viện và chủng viện, ngài là người bạn của dòng tên, dòng Thánh Barnaba và nhiều dòng mới thời đó. Chính ngài cũng đã thiết lập dòng cho những tu sĩ Thánh Ambrôsiô (bây giờ là Thánh Carôlô) để đặc biệt giúp đỡ ngài. Ngài còn liên hệ một cách chủ động tới cuộc canh tân dòng cổ. Có một nhóm bất mãn dòng Umiliati là ngài muốn canh tân và sau này đã biến mất, đã tìm cách sát hại khi ngài đang cầu nguyện năm 1569.

    Ngài đã khích lệ những hội đạo đức và tổ chức lại các trường công giáo. Ngài cố gắng bảo tồn nghi thức Thánh Ambrôsiô cho Milan khi nghi thức này bị đe doạ và cố gắng theo gương Thánh Ambrôsiô. Nhưng sự cương quyết không chịu thoả hiệp và sự nghiêm khắc về những nguyên tắc luân lý đã không khỏi gây nên những chống đối. Sức chống đối không chỉ từ vài nhóm giáo sĩ và còn từ phía uy quyền thế tục đại diện bởi những nhà cầm quyền Tây Ban Nha và nghị viện thành phố nữa.

    Dầu vậy, như một thánh nhân và một nhà canh tân, Thánh Borrômêô không đòi những người khác điều gì mà chính ngài đã thi hành. Đời sống cầu nguyện và bỏ mình của ngài còn tân tiến với những nỗ lực mục vụ. Tai hoạ dịch hạch năm 1576 đến 1578 cho thấy sự hy sinh xả kỷ tột cùng của ngài, ngài đã hiến mình làm hiến tế, bô thí tất cả những gì Ngài có như động sản, áo quần; lột bỏ những màn trướng để phủ che những người bất hạnh, chính ngài cũng ngủ trên sàn nhà, ngài gọi các linh mục và tu sĩ đến, chỉ định cho họ những ngả đường để giải tội cho những bênh nhân, an ủi và chuẩn bị cho họ chết lành. Để những người hấp hối có thể tham dự thánh lễ, ngài cho dựng những bàn thờ nơi các ngã tư. Thánh giá mọc lên khắp nơi cho mọi người nhìn thấy. Chuông nhà thờ reo vang, những bản thánh ca được hát lớn trong mỗi gia đình vào giờ nhất định.

    Như thế, bệnh nhân được tham dự vào đời sống cộng đoàn, thành phố thoát khỏi cảnh tang thương vô vọng để sống như trong một tu viện. Đức Tổng Giám Mục đến với người bị dịch hạch, những trẻ em lăn lóc bên xác mẹ, ngài cuốn áo choàng mang về nhà. Người ta tổ chức những cuộc đi chân không theo đám rước tay cầm chặt thánh giá. Cuối cùng khi tai hoạ chấm dứt, Đức Hồng Y đã xác tín rằng: dù cho có bao nhiêu nạn nhân, đoàn chiên ngài phải cảm ơn Thiên Chúa vì cơn thử thách đã đổi mới các tâm hồn.

    Nhiều dịp khác cũng cho thấy sáng kiến và lòng tận tâm của thánh nhân, Milan nhiều lần bị nạn đói, Thánh Carôlô cho trồng bắp, tổ chức những bữa cháo nghèo, lập các nhà từ thiện. Nhờ ngài, những người giàu có nên quảng đại hơn. Thánh nhân đã không tìm nghĩ ngơi sau những nỗ lực không ngừng cho công việc bác ái và mục vụ. Mỗi lúc đêm về người ta còn thấy ngài tiến vào nhà nguyện để đọc kinh suy gẫm. Tới cuối đời, ngài còn tìm tòi học hỏi, không lãng quên sách thánh, ngài thích đọc sách cổ, sách thuốc và sách chiêm tinh Ảrập. Ngài rất ưa thích nghệ thuật và nếu phải bán bộ sưu tầm của ngài đi, thì đây là một hy sinh lớn lao cho ngài.

    Không nghỉ ngơi, Thánh Carôlô Borrômêô giống như một người nghèo không bao giờ biết đến nghỉ ngơi. Cơn bệnh đến, thánh nhân bất động, mắt nhắm nghiền. Vài người nói: “Kìa cơn mê của Giám mục thành Modène”. Vào những ngày cuối đời, nhắm mắt lại để người ta tưởng ngài ngủ và như thế có thể hồi tâm cầu nguyện mà không bị lo ra, ngài cười khi người ta khuyên ngài đừng sợ chết. Rồi sau khi lãnh nhận các bí tích sau hết, ngài lịm vào trong sự tôn thờ.

    Tin loan báo cái chết của Thánh Carôlô Borrômêô đã làm cho cả Milan đau đớn. Sử gia viết truyện đời ngài nói: “Đêm ấy, ít có ai ngủ được”. Đức Phaolô V đã phong thánh cho ngài ngày 10-11-1610.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 3 tháng Mười 2017
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 05 tháng 11

    Thánh Đaminh Hà Trọng Mầu, Linh Mục, tử đạo (1794 – 1858)

    Tiểu sử
    Cậu Đa Minh Hà Trọng Mậu sinh năm 1794 tại làng Phú Nhai, Phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Cậu xin vào chủng viện và kiên trì học tập cho đến khi thụ phong Linh mục. Năm 1829, cùng với 10 linh mục khác trong giáo phận, cha Mậu gia nhập Dòng Đa Minh để có thể kết hợp mật thiết hơn với Chúa và gắn bó với nhau trong sứ mạng rao giảng Tin mừng. Năm sau cả 11 vị đều được khấn dòng; trong số này có 7 vị được phúc tử vì đạo.

    Trải qua những ngày gian khổ dưới cuộc bách hại đạo của vua Minh Mạng, rồi những ngày bình an dưới thời Thiệu Trị, cho đến 10 năm đầy khó khăn thời vua Tự Đức, cha Mậu luôn tận tụy với đàn chiên. Ngày 27-8-1858 quan quân vây làng Kẻ Điền và bắt cha.

    Khi bị giải về giam ở Hưng Yên, cha luôn khuyến khích những người cùng cảnh ngộ giữ vững đức tin, dù phải chấp nhận mọi đau khổ. Khi thấy không thể làm gì cho cha bỏ đạo, quan ra án trảm quyết cha Mậu cùng với 21 giáo hữu khác. Khi biết tin này, cha tỏ ra hân hoan, thanh thản chấp nhận án với lòng can đảm.

    Ngày 5-11-1858, trên đường ra pháp trường, người dẫn đầu đoàn tử đạo. Đến nơi xử bên bờ sông Hưng Yên, người quì gối cầu nguyện, rồi đưa cổ cho lý hình thi hành án. Thi thể cha được mai táng trong nhà thờ xứ Mai Linh, tỉnh Nam Định.

    Đức Thánh Cha Pi-ô XII đã nâng người lên hàng chân phước ngày 29-4-1951. Ngày 19-6-1988, Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II đã suy tôn người lên bậc hiển thánh.

    (Trích từ tác phẩm “Đám mây nhân chứng” của các anh em Đa Minh)
     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 07 tháng 11

    Thánh HYACINTHA GIA (CASTANEDA), Linh Mục
    và Thánh VINH SƠN LIÊM, Linh Mục

    (+ 1773)

    - Thánh Hyacintha Gia sinh năm 1743 tại Javita nước Tây Ban Nha. Lớn lên, ngài xin gia nhập dòng thánh Ða Minh và được gửi đến Phi Luật Tân vào năm 1762. Bốn năm sau, ngài đặt chân lên đất Trung Hoa, nhưng chỉ một thời gian ngắn, ngài bị bắt và bị trục xuất. Vẫn một lòng nhiệt thành, ngài tình nguyện sang Việt Nam ngày 23-02-1770, giúp việc truyền giáo tại Thái Bình. Ngày 12-07-1773, trên đường phụng sự nước Chúa, ngài bị bắt và bị đóng cũi nộp cho chúa Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm.

    - Thánh Vinh Sơn Liêm sinh năm 1732 tại Thôn Ðông, Trà Lũ, Phú Nhai, Bắc Việt. Năm 12 tuổi, ngài dâng mình vào nhà Chúa tại Lục Thủy. Ba năm sau, được gửi học tại Manila, và ngày 08-09-1753, ngài xin gia nhập dòng Ða Minh. Năm 1758, ngài thụ phong linh mục và trở về quê hương phục vụ. Trước hết, ngài giữ chức giáo sư tại Chủng viện Trung Linh, sau được cử đi truyền giáo tại Lai Ổn, Quất Lâm, Trung Lao, Lục Thủy, Trung Lễ... Năm 1767, thời Cảnh Hưng, chúa Trịnh Sâm ra lệnh cấm đạo. Ngày 02-10-1773, ngài bị bắt ở Lương Ðồng và bị tống giam tại Hưng Yên cùng với cha Hyacintha Gia.

    Ngày 07-11-1773 hai cha Hyacintha Gia và Vinh Sơn Liêm chịu trảm quyết tại pháp trường Ðồng Mơ, ngoài thành Thăng Long.

    Ðức Giáo hoàng Piô X đã phong hai ngài lên hàng Chân Phước ngày 20-05-1906 và Ðức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-06-1988.
     
  7. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 08 tháng 11

    Thánh Giuse NGUYỄN ĐÌNH NGHI, Thánh Phaolô NGUYỄN NGÂN,
    Thánh Martinô TẠ ĐỨC THỊNH, Thánh Martinô THỌ và Thánh Gioan Baotixita CỎN

    (+ 1840)

    Ba linh mục Nghi, Ngân, Thịnh, và hai giáo dân Thọ, Cỏn đều bị bắt tại làng Kẻ Báng, Nam Ðịnh và được phúc tử đạo cùng một ngày.

    - Cha Giuse Nguyễn Ðình Nghi sinh năm 1771 tại làng Kẻ Vồi, Hà Nội. Mồ côi từ nhỏ nên ngài đã theo giúp cha già Liêm. Lớn lên được gửi vào Chủng Viện và chịu chức linh mục năm 30 tuổi. Ngài được cử làm cha phó xứ Sơn Miêng, Kẻ Bạc và Phúc Nhạc, sau đó làm cha sở Ða Phạn và Kẻ Vồi cho tới khi bị bắt. Ngài là một linh mục rất chăm lo cho giáo hữu, đặc biệt siêng năng việc giải tội và giảng dạy.

    - Cha Phaolô Nguyễn Ngân sinh năm 1771 tại làng Kẻ Bền, Thanh Hóa. Ngài học cùng lớp với cha Nghi. Sau khi chịu chức linh mục, ngài được cử giúp các xứ Phúc Nhạc, Duyên Mậu, Trình Xuyên và Kẻ Báng. Dù tính khí nóng nảy, nhưng mỗi khi lỡ lời với ai, liền hối lỗi. Tuy rất sợ hãi việc bắt bớ giam cầm nhưng ngài vẫn luôn chu toàn bổn phận.

    - Cha Martinô Tạ Ðức Thịnh sinh năm 1760 tại làng Kẻ Sặt, Hà Nội. Khi lên 18 tuổi, ngài vào Chủng viện, sau đó thụ phong linh mục và làm thư ký cho Ðức cha Giacôbê. Ngài cũng được sai coi xứ Cửa Bảng, Ðồng Chuối, Nam Sang, Trình Xuyên. Tính tình rất mực thước và nghiêm nhặt, rất chú trọng đến việc dạy giáo lý cho trẻ em và khuyên răn những người khô khan trở lại.

    - Thánh Martinô Thọ quê tại Kẻ Báng, Nam Ðịnh, sinh năm 1787. Từ nhỏ, ngài đã tỏ ra đạo đức, nết na. Ðược mọi người tin cậy, ngài lãnh nhiệm vụ đi thu thuế trong làng. Về sau được bầu làm trùm họ, kiêm lý trưởng. Ngài sẵn sàng giúp đỡ các linh mục và những người nghèo khó. Ngài bị bắt vì đã chứa chấp cha Ngân trong nhà.

    - Thánh Gioan Baotixita Cỏn sinh năm 1805 tại Kẻ Báng. Tuy là một lý trưởng hung dữ, nhưng lại hăng say việc đạo. Khi có lệnh truy nã các linh mục, ngài đã bạo dạn lãnh giấu cha già Thịnh để rồi cùng bị bắt.

    Việc lùng bắt các linh mục tại Kẻ Báng xảy ra vào năm thứ 21 triều vua Minh Mạng. Ngày 30-05-1840, tuần phủ Trịnh Quang Khanh đã đem lính vây làng bắt được ba cha và một số giáo dân liên hệ. Bị giải về Nam Ðịnh, ba cha đã phải chịu hình phạt phơi nắng và đánh đập. Riêng hai thánh Thọ và Cỏn bị tra tấn đau đớn nhiều hơn nữa. Quan cai sỉ nhục các ngài bằng cách bắt liếm vết thương của ba cha. Sau nhiều lần dụ dỗ thất bại, quan đã gửi sớ vào triều đình, ngày 08-11-1840 cả năm vị cùng bị trảm quyết.

    Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong các ngài lên bậc Chân Phước ngày 27-05-1900 và Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-06-1988.
     
  8. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 09 tháng 11

    Lễ Cung hiến Thánh Đường Latêranô

    Thánh Đường là nơi qui tụ dân Chúa, là nơi các tín hữu tới cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Thánh Đường là nơi Chúa ngự, là nơi Mình Máu Thánh Chúa luôn hiện diện, là nơi dân Chúa lãnh nhận muôn vàn ân huệ, muôn vàn hồng ân của Chúa.

    ĐỀN THỜ LATÊRANÔ

    Đền thờ Latêranô là Nhà thờ Chính toà của Đức Giáo Hoàng với tư cách là Giám mục Roma, cũng đặt ngai toà của mình tại Nhà thờ Chính toà. Đền thờ này được xây dựng vào năm 320 khi Giáo hội Chúa Kitô vừa thoát khỏi một thời kỳ cấm cách, bắt bớ khủng khiếp. Đền thờ này do công của Hoàng đế Constantinô xây dựng để tôn vinh danh Chúa và để dân Chúa có nơi tụ tập, đọc kinh cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Đền thờ này đã được cung hiến vào khoảng thời gian nói trên. Lịch sử thuật lại rằng khi hoàn tất ngôi thánh đường này, nhiều đoàn người khắp trong thành phố Roma đã tuôn đến để dự lễ khánh thành và hiệp ý trong nghi lễ cung hiến ngôi thánh đường dùng đặt ngai toà của Đức Giáo Hoàng, với tư cách là Giám mục Roma. Ngôi đền thờ Latêranô đã trải qua biết bao nhiêu biến cố, biết bao nhiêu thăng trầm của đạo giáo, biết bao nhiêu thử thách, khó khăn của các thời Hoàng đế Roma trị vì. Biết bao nhiêu người đã tới thánh đường Latêranô để xin rửa tội, gia nhập dân thánh Chúa trong những đêm phục sinh và mừng lễ vượt qua tại đây.

    ĐỀN THỜ LATÊRANÔ NGÀY NAY

    Ngày nay, Đền thờ Latêranô vẫn vút cao, vẫn đứng sững như muốn nói với mọi người Thiên Chúa luôn yêu thương dân người. Ngày nay, vẫn có đoàn đoàn lớp người tới dự thánh lễ và lãnh nhận các bí tích. Hằng năm, ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha vẫn tới cử hành lễ với hàng linh mục Roma, với các hồng y, giám mục và ngài diễn tả lại hành động, cử chỉ của Chúa Giêsu xưa nơi nhà tiệc ly là rửa chân cho các Tông đồ.

    Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con luôn biết kính yêu Đức Giáo Hoàng, cầu nguyện cho ngài và cho Giáo Hội luôn trung tín với sứ mạng rao giảng Tin Mừng.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 8 tháng Mười 2017
  9. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 10 tháng 11

    THÁNH LÊO CẢ, Giáo Hoàng và Tiến Sĩ Hội Thánh (-461)

    Người ta không biết được Thánh Lêo sinh ra ngày nào và cả nơi sinh của ngài cũng không được biết chắc. Có lẽ ngài là người Roma. Chúng ta chỉ biết được rằng: ngài là một phó tế góp phần cai quản dưới hai triều Giáo Hoàng Cêlestinô I và Sixtô III và được bầu làm Giáo Hoàng năm 440. Được chọn làm Giám Mục Roma, phải đợi 40 ngày sau ngài mới được trở về.

    Trước trách nhiệm chất đầy, ngài đã sợ: Lạy Chúa, có sự cân xứng nào giữa gánh nặng Chúa trao và sự yếu hèn của con, giữa sự cất nhắc và sự hư không của con?

    Và ngài tiếp: Chúa đã đặt gánh nặng cho con, xin Chúa gánh với con, xin Chúa hãy là người hướng dẫn và nâng đỡ con.

    Công cuộc ngài làm thật lớn lao và đa diện khó có thể tóm kết lại được mà không bất công. Dầu vậy, có thể nói công cuộc này qui về 4 hình thái chính: kiểm soát lạc giáo bên Tây phương, can thiệp về giáo thuyết quan trọng bên Đông phương, bảo vệ Roma khỏi cuộc tấn công của dân rợ và những nỗ lực của một mục tử và một nhà giáo dục.

    Thánh Lêô đã phải có biện pháp đối với không dưới 3 lạc giáo. Không còn dễ dãi cho những người theo Pêlagiô được hiệp thông nữa và đòi phải công khai tuyên xưng đức tin trước khi được nhận là phần tử đầy đủ của Giáo Hội. Những người trốn thoát cuộc tấn công của Valda Phi Châu đã mang thuyết Manichêô đến Roma. Thánh Lêô thấy rằng: cộng đoàn bí mật này phải được công khai đưa ra ánh sáng. Ngài cũng nhiệt liệt ủng hộ các giám mục Tây Ban Nha và Phi Châu chống lại thuyết Priscillanô, những cuộc tranh luận về giáo thuyết tại Giáo Hội bên Đông phương liên quan tới chính bản tính của Chúa. Hai nhà tiền phong của cuộc tranh luận là Eutiches, một tu viện trưởng ở Constantinople và Thánh Plavianê, Thượng phụ Giáo chủ Constantinople là người trong cuộc chiến đã bị những người theo Eutiches hành hạ cho đến chết.

    Năm 451, một cộng đồng quy tụ trên 600 giám mục về Chalcedonia. Thánh Lêô đã viết lá thư danh tiếng gởi Plavianô, Trình bày giáo thuyết về ngôi vị và bản tính của Chúa Giêsu Kitô. Ngài đã đặt bức thư này trên mộ Thánh Phêrô, vị thủ lãnh tiên khởi của Giáo Hội và ăn chay cầu nguyện suốt 40 ngày. Bức thư được đọc tại công đồng và đã được nhận như một bản tuyên xưng đức tin. Quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng tỏ hiện khi giám mục đồng thanh kêu lớn: - Chính Thánh Phêrô đã nói qua Lêô.

    Như thế, đứng đầu các giám mục không mấy quan tâm tới quyền tối thượng của Roma. Ngài đã cất giữ được sự hiệp nhất Giáo Hội. Ngài đã viết: “Đức tin của Phêrô đã được chính Thiên Chúa mặc cho sự kiện vững không thể lay chuyển nổi. Dù cho sự cứng lòng của các lạc giáo hay sư man rợ của lương dân cũng sẽ không bao giờ đảo lộn được đức tin này”.

    Trong số các quyết định, ngài đã tạo được sự đồng ý giữa Đông Tây cử hành lễ Phục Sinh vào cùng một ngày ở khắp nơi.

    Một cuộc chiến khác chờ đón Đức Giáo Hoàng Attila và rợ Hung Nô vũ trang hùng hậu, gieo rắc những khủng khiếp chiến tranh và tàn phá. Người ta nói rằng: những người man di này khi sinh ra là mẹ họ nghiền mặt đi cho hợp với nón sắt, và chính họ xẻ má cho râu hết mọc nổi. Họ thờ thanh gươm khắc sâu vào bàn thờ, tưới máu các tù nhân trên đó và làm một thiết đồ bằng đầu các địch thủ. Năm 452, họ đổ vào miền Bắc Italia gieo rắc tàn phá trên đường tiến quân. Không một đoàn quân nào có sức bảo vệ Roma. Các tướng lĩnh và hoàng đế Valentinô III run sợ chỉ biết đặt niềm tin tưởng vào Đức Giáo Hoàng.

    Thánh Lêô sau 3 ngày cầu nguyện chay tịnh đã ra đón người gieo vãi kinh sợ trên thế gian. Và điều gì đã xảy ra? Người ta có thể tưởng tượng được một Attila hùng hổ với đoàn quân đông đảo đối diện với người cha chung của các Kitô hữu mặc phẩm phục Giáo Hoàng và chỉ có tình yêu trong lòng làm khí giới. Attila tiến đến Roma với những dự tính đẫm máu, nhưng Đức Lêô đã đổi lòng hắn. Vương quốc được bình an với lễ vật triều cống hằng năm. Dân Hung Nô trở lại Pannonnia. Đức Giáo Hoàng nói với nhà vua: Hãy tạ ơn Chúa vì Ngài đã cứu chúng ta khỏi tai họa khủng khiếp.

    Đối với dân chúng vui mừng sung sướng, ngài truyền cho họ phải cảm tạ Chúa.

    Nhưng lòng nhiệt thành và biết ơn ban đầu đã không tồn tại được lâu. Dân chúng vô ơn và sa đoạ, khi nỗi sợ qua rồi họ quên rằng lòng thương xót họ đã cứu vương quốc và họ lao mình vào các cuộc chơi bời phóng đãng. Cả đến nhà vua Valentinô cũng làm gương xấu cho dân chúng. Những lời trách cứ của Đức Giáo Hoàng không được đến xỉa tới. Và 3 năm sau, những rợ Vandales dưới quyền vua Ghenséric kéo quân tới. Các nhân vật lớn chạy trốn, cửa thành bỏ ngõ và Đức Giáo Hoàng một mình ở lại với dân Roma. Ngài một lần nữa ra đón quân xâm lăng. Lần này họ ít bị khắc phục hơn lần trước.

    Dầu vậy, ảnh hưởng của Thánh Lêô cũng đáng đủ để kiềm chế bớt cuộc chém giết và sự tàn phá, các nhà thờ được tôn trọng. Trái với lời hứa hẹn, nhiều dân thành vẫn bị bắt. Đức Giáo Hoàng đã chuyển đồ cứu tế cho họ, sai các linh mục tới nâng đỡ họ và còn mua chuộc lại một số lớn các tù nhân.

    Những năm cuối đời ngài dành sửa sang lại các tai hoạ do các cuộc xâm lăng gây nên, xây dựng lại các tu viện mà với cảm quan về nghệ thuật, ngài đã làm giàu thêm bao nhiêu là hoạ phẩm. Ngài để lai nhiều bài giảng, nhiều thư từ rất quan trọng, ngày nay chúng ta còn đọc được.

    Thánh Lêô từ trần năm 461. Ngài xứng đáng được mệnh danh là người đầu tiên được chôn cất trong đại vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Đức Giáo Hoàng Sergiô I ghi trên bia mộ của ngài: “Tôi canh chừng kẻo lang sói luôn rình mò phá phách đoàn chiên”.

    Đây là lời Thánh Lêô để lại: “Các con được thấm nhập vào Chúa”.

    - “Trong tâm hồn mỗi tín hữu còn có cái trên trời mà người ta thán phục”.

    - “Nước Trời không đến với những người ngủ mê”

    Năm 1754, ngài được tôn phong lên bậc thánh tiến sĩ trong Giáo Hội.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  10. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 11 tháng 11

    Thánh MARTINÔ thành Turinô, Giám Mục (khoảng 315-397)

    Chúng ta biết được Thánh Martinô nhờ Sulpicô Sêvêrê, thân hữu và nhà chép sử của ngài. Nhiều phép lạ động trời ông kể lại tuy khó tin nhưng đầy sống động và xác tín khiến các phép lạ chỉ còn khó tin đối với những ai chối bỏ thế giới thiêng liêng. Một cách chính yếu chúng ta có thể tin vào Sulpiciê được.

    Martinô sinh ra khoảng năm 315 ở Sabaria... miền Pannonia (hay là Hungari) là con của một sĩ quan. Cha mẹ ngài đều là lương dân, nhưng còn trẻ ngài đã ghi tên làm dự tòng.

    Lúc 15 tuổi, Martinô nhập ngũ và sớm được phái sang miền Gaule ngoại đạo (nước Pháp ngày nay). Các binh sĩ trong trại sống không gương mẫu gì, nhưng Martinô tin vào Chúa Kitô nên sống như một Kitô hữu. Ngài phân phát một phần tiền lương cho người nghèo và có những hành vi bác ái ít gặp thấy, chẳng hạn đảo ngược vai trò để đánh giày cho người hầu. Ở cửa thành Amiens, vào một ngày mùa đông, chàng hiệp sĩ sẽ trẻ gặp người ăn xin dường như trần truồng. Martinô nói: Tôi chỉ có áo quần và khí giới.

    Rồi rút kiếm ra, ngài xẻ đi chiếc áo cho người ăn xin.

    Câu chuyện kết thúc với giấc mơ trong đó Martinô thấy Chúa Kitô hiện ra mặc nửa chiếc áo và nói với các thiên thần: Chính Martinô đã mặc cho Ta đây.

    Sau đó ít lâu, vào khoảng 20 tuổi, Martinô lãnh nhận phép rửa tội, nhưng vẫn phải miễn cưỡng ở lại trong quân đội 2 năm sau khi quân rợ xâm lăng Gaule, Martinô xin cấp chỉ huy, có lẽ là Constantinô để được từ nhiệm: Tôi là binh sĩ Chúa Kitô, thật trái phép nếu tôi phải phục vụ trong quân ngũ.

    Bị coi là hèn nhát, ngài bị giải giáp trong hành tiền quân tại chiến địa. Tuy nhiên, quân rợ đã bao vậy nhưng không động binh. Martinô được giải ngũ, có lẽ năm 339.

    Danh tiếng của Thánh Hilariô Giám mục Poitier đã thu hút Martinô trở thành môn đệ của ngài. Nhưng ao ước cho cha mẹ trở lại đạo, Martinô đã trở về sinh quán ở Pannonia. Khi qua núi Alple, ngài bị bọn cướp vây bắt. Martinô đã nói với người sắp dùng búa giết ngài:

    - Một người Kiô hữu không sợ gì, nhưng chính anh lại phải sợ tất cả. Anh sẽ trả lời thế nào với Chúa khi anh phải trả lẽ cho đời sống đầy tội ác của anh?

    Ngài đã được tên cướp giải phóng và đưa hắn trở về với Chúa.

    Tương truyền rằng: bên ngoài Milan, Thánh Martinô gặp quỷ và satan tuyên cáo rằng: Đi đâu mày cũng sẽ phải gặp tao. Đáp lại, Thánh Martinô hứa hẹn với quỷ một cuộc chiến cam go: Cả hai bên đều phải giữ lời nhé.

    Thánh Martinô được hạnh phúc thấy mẹ trở lại nhưng người cha không muốn nghe gì hết. Bị bắt bớ và bị người đồng hương đánh đòn, Thánh Martinô đi Gaule. Nhưng ngài biết rằng: Thánh Hilariô đã bị những người theo Kitô bắt đi đày. Ngài rút vào một tu viện gần Milan, nhưng bị những người theo lạc giáo săn đuổi và chạy ẩn vào một hoang đảo gần Ghênes, sống nhờ cây cỏ. Ngày kia, ngài bị trúng độc và như sắp chết. Theo thói quen, ngài chống lại bệnh tật bằng lời cầu nguyện và cơn bệnh biến mất, ngài gặp lại Thánh Hilariô trên đường lưu đày trở về và xây dựng ở Lihugné. Gần Poitiers một nơi ẩn tu mà chẳng bao lâu đã trở thành cộng đoàn của các nhà ẩn tu.

    Ngài được chọn làm giám mục thành Tour vì danh tiếng và sự thánh thiện của ngài. Nhưng để đưa được ngài ra khỏi tu viện, người ta phải kiếm cớ là có bệnh nhân ở Tours cần được chữa khỏi. Thầy dòng vội vã ra đi nhưng chỉ gặp và một số giám mục đến tấn phong cho ngài ngày 4-7-371. Trong khi đó những người quý phái và lãnh Chúa chống lại “một người ăn mặc bẩn thỉu và đầu tóc rối bù”.

    Vị tân Giám mục vẫn giữ được chiếc áo len thô, ngai toà ngài là một chiếc ghế đẩu bằng gỗ. Càng nặng trách nhiệm ngài càng cảm thấy cần hồi tâm. Ngài lập tu viện Marmoutiers với chủng viện và nhà trường. Các linh mục được đào tạo tại đó để nâng hàng giáo sĩ buông thả lên. Marmuotiers sắp sinh ra trường công lập đầu tiên là mẹ Đại học Oparis.

    Công cuộc truyền giáo của Thánh Martinô mở rộng khác thường. Đời sống luân lý của dân quê thật khắc khổ. Có những Kitô hữu hợp nhau với lương dân để mừng kính thần Jupiter, tập hợp quanh những dòng nước, nhưng cây cổ thụ. Vị giám mục truyền giáo không dừng lại ở giáo phận ngài, nhưng đi khắp nơi tìm kiếm các linh hồn. Ở mỗi sào huyệt của ngẫu tượng, ngài dừng lại giảng dạy, cải hoá, thay thế đền miếu bằng một thánh đường, và đặt linh mục Marmoutiers dẫn dắt. Thế là một giáo xứ thành hình.

    Thiên Chúa luôn giúp đỡ ngài. Ở Ambroisé có một ngôi đền vĩ đại thờ thần Mars. Không ai dám nghĩ đến việc phá đổ. Martinô cầu nguyện suốt đêm. Hôm sau một cơn bão lớn nổi lên phá đổ ngẫu tượng. Một nhà thờ được dựng lên và thế là Giáo xứ Ambroise được thành lập.

    Trong một thị trấn nhỏ, vị tông đồ truyền chặt bỏ cây cổ thụ được thần thánh hoá. Những người thờ ngẫu tượng nói: Nếu Thiên Chúa ông thờ quyên phép như ông nói, ông hãy nằm dưới chỗ cây đổ xuống, nếu ông thoát nạn, chúng tôi sẽ tin Thiên Chúa.

    Martinô nhận lời, cây bị đốn lung lay ngã xuống... sắp nghiền nát Đức Giám mục... nhưng ngài bình tĩnh làm Dấu Thánh Giá và cây bỗng quay ngược về phía đối diện.

    Ở Apris, ngài chữa lành một người cùi, ở Treves ngài làm phép dầu để chữa lành một cô bé bất toại, trên đường về, ngài phục sinh đứa con duy nhất của một phụ nữ và toàn dân hò vang niềm tin vào Thiên Chúa. Tới gần Vandome tái diễn phép lạ: sau bài giảng làm động lương tâm người nghe, một phụ nữ đưa tới cho ngài một em bé đã chết, quỳ xuống cầu nguyện và trả đứa bé sống lại cho mẹ nó.

    Đây là một giai thoại đẹp về chiếc áo Thánh Martinô mặc, biến thành áo choàng sáng láng. Các vua chúa nhận lời thề của các chư hầu trên “chiếc áo choàng Thánh Martinô này” và người ta có lẽ đã hay gọi nơi giữ áo choàng này là nguyện đường (tiếng Pháp là Capelle hay Chapelle). Aix, nơi Charlemanghe ở trẻ thành Aix-la-chapelle, và tên chapelle này lan rộng để chỉ mọi nơi người ta đến cầu nguyện.

    Tới 80 tuổi, Thánh Martinô vẫn truyền giáo không mệt mỏi. Ngài còn chuộc các tù nhân, tham dự các cộng đồng. Ngài chỉ nghỉ ngơi đôi chút nơi các tu sĩ của mình, ở Marmoutiers để lại ra đi bằng bất cứ phương tiện nào dùng được cho việc truyền giáo. Trong một sứ vụ cuối tại địa phận, khi thấy cái chết tới gần, Thánh Martinô báo cho môn đệ biết, nhưng vẫn dâng lao lực của mình cho Chúa.

    - “Lạy Chúa, nếu dân Chúa còn cần đến con, con không từ chối đau khổ và công việc nào, nguyện cho ý Chúa được thực hiện”.

    Nằm trên tro như ngài muốn. Thân thể lên cơn sốt, Đức Giám mục vẫn đưa tay ngước mắt lên trời. Các tu sĩ xin ngài xuôi tay, ngài nói: “Các anh để tôi nhìn trời hơn là nhìn thế gian để hồn tôi theo đường ngay mà tới Chúa”.

    Quỉ dữ tấn công ngài lần chót, người ta nghe tiếng người hấp hối nói: “Đồ súc vật độc ác, mày làm gì đó? Mày không tìm được nơi tao điều gì đâu, đồ bị chúc dữ! Chính lòng Abraham sẽ đón nhận tao”.

    Đó là những lời sau cùng trước khi ngài qua đời ngày 8-11-379. Ba ngày sau ngày được mai táng ở Tours. Ngài là vị thánh đầu tiên không phải là tử đạo hay lừng danh vì cuộc tử đạo. Mộ của ngài ở Tours là thành trì vững chắc chống lại dân man di. Toàn dân Pháp và các vị thánh của nước này suốt nhiều thế kỷ vẫn hành hương để khấn cầu vị cải hoá Gaule che chở.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 10 tháng Mười 2017
  11. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 12 tháng 11

    Thánh GIOSAPHAT, Giám Mục, Tử đạo (1580-1625)

    Thánh Giosaphat sinh năm 1580 (vài tác giả nói là 1584) ở Vladimir, thủ đô của Volynia miền Ukraine, sau là một tỉnh của Ba Lan. Dù cha mẹ ngài thuộc dòng quý phái, nhưng họ đã nhập thương trường với vài thành công và cha ngài đã trở thành nghị viên thành phố. Giosaphat (tên rửa tội là Gioan) trước hết đã học nghề với một thương gia ở Vilna miền Lithuania và làm việc với ông tới năm 1604 khi ngài trở thành một tu sĩ nhà dòng Basiliô ở Vilna.

    Các Kitô hữu Ruthenia và Ukraina phần lớn theo nghi thức Byzantine bị phân rẽ sâu xa kể từ khi một số đông các giám mục của họ năm 1596 tuyên bố ở Brest-Litovsk hợp nhất với Giáo hội Roma. Thượng phụ Giáo chủ ở Constantinople đã cố gắng ngăn cản sự chia cắt này khỏi Giáo hội Chính thống và đã đặt một vị nhiếp chính cho Ruthenia vì mục đích này. Điều này chẳng quen thuộc với các bậc vị vọng địa phương vì họ coi đó như một đe doạ cho sự tự chủ của họ, nhưng lại được vương quốc Ba Lan và chính quyền trung ương ủng hộ hoàn toàn.

    Dầu vậy suốt cuộc đời, Thánh Giosaphat luôn trung thành với chính mình, viễn quan thiêng liêng và phụng vụ của ngài theo nghi thức Byzantine. Ngài đã học thuộc lòng toàn sách các phép bằng tiếng Slave như một đứa trẻ, nắm giữ nghiêm nhặt việc ăn chay theo lịch Byzantine, còn nhặt nhiệm hơn lịch chay tịnh của Roma nhiều, và kinh nguyện ngài cũng dùng nhiều nhất là “Kinh nguyện Chúa Giêsu”, lòng sùng kính được nhiều nhà khổ hạnh và thần trí Kitô giáo Đông phương ưa thích. Nhưng lý lẽ của nhưng người theo Chính thống hay Giáo hoàng, và những thúc đẩy đưa tới đối nghịch chính trị đều vô nghĩa đối với Thánh Giosaphat. Ngài không thể tin được rằng những việc sùng mộ và phong tục của dân tộc ngài và dĩ nhiên của toàn thế giới lại không hoà được với sự trung thành đối với Giáo Hội hiệp nhất dưới thánh nhan.

    Ngài sớm nổi tiếng với những khắc khổ nhiệm nhặt và với kiến thức của ngài. Ngài được tấn phong linh mục năm 1609 và sớm nổi tiếng như là vị hướng dẫn thiêng liêng. Ngài cũng viết nhiều sách tranh luận về thời này (về phép tửa của Thánh Vladimir, về sự giả mạo của các sách tiếng Slave).

    Năm 1617, ngài được thánh hiến làm Giám mục Vitebsk với quyền kế vị Đức Tổng Giám mục Pskov. Ngài đã làm Tổng Giám mục Pskov năm 1618. Được dân chúng kính trọng, ngài lại cương quyết với những người ly khai, không chấp nhận cả những nhượng bộ chính quyền trung ương Ba Lan định làm. Năm 1623, khi đang viếng Vitebsk, ngài bị một đám đông theo tinh thần quốc gia quá khích tấn công chặt đầu và bắn chết. Xác ngài được đưa về Pskov và trên đường về này đã được nhiều người tôn kính, bao gồm cả những người thù địch của ngài nữa.

    Cuộc tử đạo của ngài đã bảo đảm sự hồi sinh của Giáo hội Công giáo Slave. Họ khác về phong tục, kỷ luật, phụng vụ và ngôn ngữ với người Ba Lan theo Công giáo Roma, trong khi đó họ vẫn độc lập với Maxcơva và người Nga vì sự liên kết của họ với Roma. Bởi đó họ trở thành một trung tâm quan trọng của phong trào quốc gia Ruthania.

    Đức Giáo hoàng Urbanô VIII năm 1628 đã khởi đầu cuộc án phong thánh cho Giosaphat khi mở mộ ra và thấy xác ngài còn nguyên vẹn. Ngài được phong chân phước năm 1643 và được phong thánh năm 1867.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  12. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 14 tháng 11

    Thánh Stêphanô Thêôđorô THỂ (CUÉNOT), Giám Mục
    (+ 1861)

    Ðức Cha Stêphanô Thêôđorô Thể chào đời ngày 08-02-1802 tại Bélieu nước Pháp, là con cả trong một gia đình nghèo gồm 11 anh chị em. Nhờ sự giúp đỡ của họ hàng, ngài được gửi đến trường. Sau thời gian vất vả và bền gan học tập, ngày 24-09-1825, ngài thụ phong linh mục. Theo ước nguyện từ nhỏ, ngày 23-06-1827, ngài xin gia nhập Hội Thừa Sai và được chỉ định đi truyền giáo tại Ðông Dương. Ngài đặt chân lên vùng đất này vào ngày 15-10-1828 tại hải cảng Macao, và ngày 02-05-1829, ngài đến Chủng Viện Lái Thiêu (Nam Kỳ). Hăng say và tận tụy trong việc truyền giáo, ngày 03-05-1835, ngài được tấn phong Giám mục hiệu tòa Métellopolis phụ tá đặc trách Nam Bộ. Trước sắc chỉ cấm đạo của vua Minh Mạng đề ngày 03-10-1839, ngài vẫn hăng say và tận tụy với chức vụ, duy trì những tổ chức và cổ vũ việc truyền giáo, đặc biệt chú tâm đào tạo các linh mục bản xứ. Thành quả công việc của ngài thật lớn lao. Kể từ năm 1842, số người trở lại mỗi năm trung bình là 1.000. Cũng do sự vận động của ngài, Tòa Thánh đã chấp thuận thiết lập nhiều giáo khu mới, như việc chia Nam Bộ thành hai địa phận miền Ðông và Tây (1844), sau đó thêm địa phận miền Nam (1850).

    Tháng 11 năm 1847, vua Tự Ðức lên kế vị và chính sách cấm đạo càng gay gắt hơn từ năm 1855. Nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân bị cầm tù. Cuối cùng, ngày 29-10-1861, ngài bị bắt. Vì kiệt sức, ngài ngã bệnh, và đêm 14-11-1861, ngài đã qua đời tại nhà giam Bình Ðịnh. Mấy giờ trước khi án lệnh trảm quyết từ triều gửi tới...

    Ngài được phong Chân Phước do Ðức Piô X ngày 02-05-1909 và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-06-1988.
     
  13. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 15 tháng 11

    THÁNH ALBERTÔ CẢ, Giám Mục, Tiến Sĩ Hội Thánh (1206-1280)

    Thánh Albertô là một người thuộc thế hệ đầu của dòng Đaminh, Dòng được thành lập năm 1216. Ngài góp phần lớn trong những tiến triển quan trọng về trí thức trong thế kỷ XIII và Đức Giáo Hoàng Piô XII năm 1941 đã đặt ngài làm thánh bảo trợ cho những ai say mê nghiên cứu các khoa học tự nhiên.

    Ngài sinh ra tại Swabia, có lẽ vào năm 1206, là con trưởng thuộc một gia đình quý phái trong binh nghiệp. Điều người ta biết rõ về người thiếu niên người Đức này là lòng yêu thích nghiên cứu học hành và thiên nhiên. Khi thì ngài học với các thầy dòng Beneđictô, khi thì ngài lạc lõng trong miền quê, say mê quan sát cây cỏ khám phá các loại cây và để cho năng khiếu chín mùi trước cảnh sắc của tạo hoá.

    Cuối cùng, Albertô đã bỏ rơi truyền thống hiệp sĩ của gia đình. Một người cậu đã dẫn Albertô tới Bologne để hoàn tất việc học hành. Ngài nghe một bài giảng của chân phước Giocdano (Jordain) miền Saxe thuộc dòng Đaminh và cảm thấy được Chúa gọi, nhưng lại ngập ngừng vì mới 16 tuổi. Ông cậu muốn Albertô quên đi ý tưởng này. Nhưng ở Padua, Albertô gặp lại chân phước Giocđanô và sau một cuộc đàm thoại đã nói với ngài: Thưa thầy, ai đã tỏ lộ lòng con cho thầy?

    Từ đây không ai ngăn cản nổi ơn kêu gọi của Albertô nữa. Ngài vào nhà tập dòng anh em giảng thuyết. Lời cầu nguyện của ngài diễn tả một ước muốn sống tự thoát: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, con kêu lên Chúa, xin Chúa đừng để con bị quyến rũ bởi những lời hão huyền về danh giá gia đình, về uy thế của dòng tu, về sự lôi cuốn của khoa học”.

    Dưới ánh sáng chân lý, ngài đã tuân theo, Albertô nhiệt thành nghiên cứu khoa học và trở thành tu sĩ thánh thiện, nhà tư tưởng lớn, giáo sư siêu việt, nhà sưu tầm bách khoa tài ba. Ngài có sự hiểu biết uyên bác đặc biệt như một số những nhà trí thức lớn thời Trung Cổ.

    Luôn luôn tìm gia tăng những hiểu biết, Albertô rảo qua khắp nước Đức, thu thập những ý niệm về các loại súc vật cây cỏ, trước tác những tác phẩm về khoa học tự nhiên. Ngài quan tâm tới các thuyết của Aristote và tìm cách Kitô hoá các lý thuyết đó. Ngài lần lượt dạy học tại Cvologne, Pribourg, Ratisbonne, Strasbourg, ngài sẽ ảnh hưởng trọng yếu tới người học trò thiên phú này là “bò câm”, ngài tiên báo rằng: tiếng rống của con bò này sẽ vang dội khắp nơi.

    Khoảng năm 1240, ngài tới Paris giữ ghế giáo sư tại đây. Các lớp học quá nhỏ không đủ để dung nạp hết các thính giả của ngài, ngài phải dạy họ tại công trường nay vẫn còn giữ tên ngài: Công trường Maubert hay Albertô cả. Lời ngài có uy tín đến nỗi để chấm dứt cuộc tranh luận chỉ cần nói: “Thầy Albertô đã nói vậy”.

    Tài năng ngài lan rộng tại Đại học Paris, một trong những đại học danh tiếng nhất thế giới. Ngài trú ngụ tại nhà dòng thánh Giacobê, viết nhiều tác phẩm về nhiều đề tài khác nhau: thần học, toán học, luân lý, chính trị, triết học, hình học, địa chất học. Người ta kể rằng: ngày kia một thầy dòng Đaminh vô danh đến trước mặt Thánh Albertô, tội nghiệp cho sự lao lực của ngài và khuyên ngài nghỉ ngơi lo lắng tới sức khoẻ. Đây lại chẳng phải là một thần dữ mặc lốt thầy dòng sao? Để trả lời, ngài làm dấu Thánh Giá. Thế là hết các cám dỗ, satan trốn mất.

    Vua thánh Luy (Louis) tỏ tình nghĩa với thầy dòng thời danh này và trao cho ngài nhiều kỷ vật quý báu trước khi nghe về Đức, bởi vì Thánh Albertô được đặt làm giám tỉnh. Vâng lệnh Đức Giáo Hoàng, ngài giã từ căn phòng sách vở và học trò, suốt 3 năm ngài đi bộ, không tiền của, ăn xin để thăm các nhà dòng và lập nhiều nhà mới. Roma kêu mời ngài để làm sáng tỏ cuộc tranh cãi giữa các giáo sĩ. Albertô được một thời an bình trong dòng để dạy học và viết lại những quan sát và suy tư của mình. Nhưng Đức Giáo Hoàng buộc ngài nhậm chức Giám Mục Ratisbonne, một trách vụ năng nề.

    Trong trung tâm giàu có phồn thịnh này, người ta kể lại rằng: Đức Giám Mục không có lấy “một đồng tiền trong két, một giọt rượu trong hầm, một nhúm bột trong vựa”. Dầu vậy, Thánh ALBERTO vẫn trả hết nợ và xây dựng một nhà thương. Khi đã hoàn thành công cuộc hết sưc có thể, ngài xin từ chức để trở lại đời sống một tu sĩ đơn giản. Năm 1623, theo lệnh Đức Giáo Hoàng, ngài đi kêu gọi nghĩa binh trong các làng quê nước Đức.

    Một năm sau, Đức Giáo Hoàng qua đời và ngài ngừng công việc lại. Thánh Albertô thấy cần được hồi tâm. Ngài lui về tu viện Surtzbourg và đắm mình vào cuộc nghiên cứu và chỉ đi sửa lại những cuộc tranh luận cãi. Một lần nữa lại được rảo gót qua các đô thị lớn nước Đức, ngài thánh hiến các thánh đường, truyền chức cho các giáo sĩ. Năm 1270, ngài đến dạy tại Cologne. Ở Công đồng Lyon, ngài bênh vực Rodolphe I miền Habbsourg. Bảy năm sau, tức năm 1277, dầu đã già, ngài buộc phải đi Paris để bênh vực cho giáo thuyết học trò mình là Tôma Aquinô.

    Albertô hoàn toàn già nua, ngài chọn cho mình một phần mộ trong dòng và mỗi ngày đến đọc kinh nhật tụng cầu cho kẻ chết, để cầu cho chính mình. Dần dần ngài đâm ra lú lẫn. Một lần có du khách hỏi thăm ngài, ngài trả lời chắc nịch: “Albertô không còn ở đây nữa, ông ta...”.

    Ngài qua đời êm ái tại phòng riêng giữa các anh em đầy chung quanh, ngài được phong làm Tiến Sĩ Hội Thánh năm 1931.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  14. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 16 tháng 11

    Thánh MARGARITA SCOTIA (1045-1093)

    Thánh Magarita sinh ra khoảng năm 1045. Cha ngài là hoàng tử Edward người Anh, bị lưu đày và cưới một nữ công chúa người Đức, có lẽ là cháu của hoàng hậu vua Thánh Stephanô nước Hungaria. Magarita lớn lên trong triều đình Hungari và đã gặp được sự công chính và thánh thiện để làm nên dấu thánh thiện của chính mình. Khoảng 12 tuổi trở lại nước Anh, thánh nữ sống trong triều đình của vua thánh Edward.

    Trong cuộc chinh phục Norman năm 1066, Magarita cùng với mẹ và anh chị em ngài bị lưu đày một lần nữa. Họ trốn sang Scotia, dầu lúc ấy đang có chiến tranh giữa hai nước, vua Scotia là Malcola Cannore cũng đã nhân ái tiếp nhận những kẻ lưu đày.

    Malcolm Cannore mà tên gọi có nghĩa là “nhà cai trị vĩ đại” là một vị vua uy quyền có khả năng. Ông yêu Magarita, còn Magarita thì có ý định đi tu dòng. Nhưng ông đã khuyên Magarita lập gia đình với ông. Cuộc sống chung của họ được mô tả với vài chi tiết trong một tập hồi ký có lẽ do cha giải tội của ngài là Turgot, sau là giám mục viết. Đây là một câu chuyện thích thú về sự gặp gỡ giữa một người đàn bà trẻ khôn ngoan và thánh thiện với người chồng hung hăng ít được giáo dục nhưng hứơng chiều về sự thánh thiện của vợ mình.

    Cuộc hoà hợp nhân duyên này mang lại cho họ 6 người con trai và 2 người con gái. Hoàng hậu chỉ chấp nhận cho những gương lành tới gần các tâm hồn trẻ thơ này và không một người xấu nào dám tới triều đình. Những hoàng tử công chúa này lớn lên và tham gia vào các công cuộc của người mẹ thánh thiện và của người cha đã trở thành vị vua gương mẫu.

    Thánh Magarita dùng nhiều thì giờ và tiền của cho các công cuộc bác ái, chính ngài hầu hạ người nghèo khó, già cả, côi cút và yếu đau. Ngài khám phá ra mọi hình thức khổ cực, giúp đỡ các gia đình phá sản phục hồi, chuộc lại các tù nhân, xây dựng nhà thương, nhà vãng lai cho du khách. Người lạ biết rằng: họ có thể luôn tìm được chỗ trú ngụ nơi ngài khi ra khỏi nhà. Cả đoàn người bất hạnh vây quanh ngài và đây mới là triều đình thật của ngài. Khi trở về nhà, ngài chỉ muốn ngồi vào bàn ăn sau khi đã hầu bàn cho 300 người nghèo ngồi đầy một phòng ăn lớn.

    Scotia đã được cải hoá từ lâu, nhưng sự man rợ còn tồn tại ở đó trở thành mẹ của một vương quốc, Thánh Magarita biến nó thành một gia đình rộng lớn và dẫn tới Thiên Chúa, ngài trao cho những quan liêm chính tái lập trật tự, sai các nhà giảng thuyết đi loan báo Tin Mừng để Chúa Giêsu được yêu mến khắp nơi. Ngài giải quyết vấn đề Giáo Hội ở Scotia thời ngài gặp phải. Bị cắt đứt liên lạc do cuộc xâm lăng của người ngoại, Giáo hội Celt đã khác biệt nhiều điểm với Roma và chính thánh Magarita đã hoà giải những yếu tố tranh chấp và đưa Giáo hội Celt ở Scotia về qui phục. Ngài làm việc này mà vẫn tránh được sự phân ly đau đớn.

    Cũng thế những cố gắng đưa văn hoá Âu Châu vào Scotia của ngài rất thành công. Trong khi bên Anh, cuộc chinh phục Norman đã để lại một di sản cay đắng thì ở Scotia dưới ảnh hưởng của Magarita và các con của ngài, việc lan tràn văn hóa Trung Cổ đã mang lại cho Scotia một thời đại hoàng kim kéo dài cả 2000 năm sau khi thánh nữ qua đời.

    Thánh Magarita qua đời năm 1093 tại lâu đài Ediburgh như rất nhiều vị thánh, vào lúc mà mọi công trình xem ra tiêu tan hết. Vua nước Anh xâm chiếm một pháo đài. Malcoln và hai người con cả đi tái chiếm. Thánh nữ cảm thấy âu lo. Ngày kia Edgar con ngài trở về, thánh nữ hiểu ngay thực tế khủng khiếp là vua và người con kia đã chết. Đau đớn, thánh nữ chỉ biết nói: Lạy Chúa toàn năng, Chúa đã gửi cho con sự đau đớn lớn lao này để thanh tẩy tâm hồn con, con xin chúc tung Chúa.

    Ngài không than trách, đức tin và lòng dũng cảm không rung chuyển, nhưng 6 tháng sau ngài đã qua đời.

    Ba người con của ngài tiếp tục cai trị trên ngai vàng, công cuộc của người mẹ được tăng cường và đi tới hoàn thành. Thánh Magarita được phong thánh năm 1250.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~

    Ngày 16 tháng 11

    Thánh GERTRUĐÊ, Đồng Trinh (1256-1301)

    Thánh GERTRUDÊ sinh ra vào ngày lễ Hiển Linh năm 1256. Người ta không biết gì về cha mẹ ngài, nhưng chắc hắn cha ngài đã có lòng đạo đức sâu xa và đã dâng con gái 5 tuổi của mình làm tu sĩ tu viện Helfia theo luật dòng Thánh Biển Đức. Chẳng may ngài lại trùng tên với vị tu viện trưởng. Ngài lớn lên xa mọi thú vui thế gian và sớm chứng kiến hoạt động trí thức lớn mạnh.

    Trong bầu khí chiến tranh, nhà dòng trốn về Rossdorf, rồi vì thiếu nước lại trở về Helfta. Thánh Mechtilde chị của tu viện trưởng Gertrudê đứng trường. Người nữ tu trẻ GERTRUDÊ say mê quên bỏ đời sống cầu nguyện. Việc trau dồi văn chương nghệ thuật thu hút ngài đến nỗi ngài nói rằng vào thời đó “ngài lo lắng cho tâm hồn chỉ bằng lo lắng cho đôi chân của mình thôi”.

    Vào lúc 25 tuổi, trong một thị kiến, Chúa Kitô đã trách móc ngài là đã bỏ Chúa mà lo học hành. Thế là đảo lộn tất cả: “Mọi bồng bột tuổi trẻ đối với con bắt đầu xem ra lạt lẽo vô vị. Lạy Chúa, Chúa là chân lý trong suốt hơn mọi ánh sáng, nhưng sâu thẳm hơn mọi bí mật. Chúa đã quyết phá tan những bóng đêm đậm đặc của con”. Và thị kiến kết thúc bằng một cuộc trở lại. Ngài đã kể lại và nói: “Trong một niềm vui của tinh thần mới, tôi bắt đầu tiến tới”.

    Gertrudê chỉ còn muốn học và suy gẫm Thánh Kinh, các giáo phụ và các nhà thần học. Ngài kiềm chế tính hiếu động bằng việc hãm mình dữ dằn và sống trong sự kết hiệp liên lỉ với Chúa. Đáp lại việc hiến thân hoàn toàn ấy, ngài được nhiều ơn thần bí phi thường. Ngài được mạc khải nhiều lần trong khi hát kinh nhật tụng viết lại những mạc khải này trong cuộc khảo luận.

    Cùng với thánh nữ Mechtilde, ngài là người đầu tiên tỏ bày lòng tôn sùng Trái Tim Chúa. Lúc đó Gertrudê 35 tuổi. Sức khoẻ ngài không cho phép ngài giữ những nhiệm vụ quan trọng nữa, ngài chỉ còn là phó ca trưởng. Nghi ngờ nhiều, ngài chỉ thấy sự thấp kém và hư không của mình mà chạy đến với ý kiến của Thánh Mechtilde là ca trưởng. Chúa đã tỏ cho Thánh Mechtilde: “Cuộc đời của Gertrude là một thánh ca liên tục ca ngợi vinh quang Cha. Trên trần gian này, sau Bí tích Thánh Thể, Cha chỉ cư ngụ cách đặc biệt trong lòng Gertrudê”.

    Thánh nhân được ơn những dấu đinh vô hình và một vết thương trong lòng. Các sách của ngài chỉ được phổ biến 200 năm sau, cho thấy đời sống nội tâm nồng nhiệt của ngài, ngài liên kết say mê với phụng vụ cố gắng đồng nhất đời mình với những mầu nhiệm mà chu kỳ phụng vụ nhắc lại. Ngài muốn chịu khổ vì phần rỗi anh em và tìm những lời nồng cháy để cải hoá các tội nhân và đổ ra nhiều nước mắt vì những đau khổ gây nên cho Chúa.

    Năm tháng cuối đời, thánh nữ nằm bệnh bất động với những đau đớn dữ dằn. Ngài không còn nói được nữa, nhưng vẫn giữ được sự bình thản. Ngài biết giờ vinh quang sắp tới. Ngày 17-10-1031 hay là 1032 thánh nữ từ trần. Tương truyền rằng: lúc chết ngài thấy Chúa Giêsu và đức trinh nữ với đoàn người trên trời đến dẫn ngài vào thiên đàng trong khi quỷ dữ khóc ròng.

    Để kết thúc, nhà chép sử ghi lại mạc khải của một nữ tu thấy linh hồn thánh Gertrudê bay thẳng như một cánh chim vào lòng Chúa Giêsu đang mở rộng đón tiếp ngài vào tình yêu vô cùng của Chúa.

    Không được chính thức tôn phong làm thánh, nhưng lễ kính ngài có trong lịch chung theo nghi thức Rôma.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  15. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 17 tháng 11

    Thánh ELISABETH Hungaria, nữ tu (1207-1231)

    Em bé 4 tuổi mặc ái nhung đeo vàng, người ta dẫn tớiThuringia, là con vua Hungaria. Tên ngài là Elisabeth và vừa được đính hôn với hoàng tử Luy (Louis) 11 tuổi con của Landgrave miền Thuringia, và theo thói thường ngài lớn lên tại cung điện Thuringia.

    Elisabeth xem ra đã được tiền định với niềm vui, được cầu nguyện hãm mình và mỗi ngày hy sinh một điều thích thú. Nếu trong cuộc chơi mà thành công rực rỡ, ngài không quá vui và ngừng lại. Một phần những cái người ta cho ngài thường là tới tay người nghèo. Nhưng ngài sớm thấy một đau khổ khác, không phải mọi người đều vui lòng khi thấy ngài lớn lên trong đạo đức, tốt lành và quảng đại như vậy. Công chúa Sophia, mẹ của Luy tức giận vì sự hoàn thiện này.

    Khi bà dẫn Elisabeth với cô con gái mình tới nhà thờ, cả hai trang điểm như công chúa thì Elisabeth lại cởi vương miện bằng đá ra mà nói không muốn mang nó đến trước Thiên Chúa phải đội mão gai. Thế là công chúa và con mình khinh bỉ và tuyên bố rằng: ngài bất xứng để làm vợ của bá tước. Nhưng khi Luy đã trở lại triều đình chàng ngây ngất vì vị hôn thê trẻ của mình. Chàng chọn làm châm ngôn những đức tính: đạo đức, trong sạch và công bình. Chàng đã cử hành hôn phối sớm hết sức có thể, lúc chàng 20 và nàng 14.

    Năm sau họ có con đầu lòng và 2 năm sau nữa sinh con thứ. Các đầy tớ của thánh nữ nói về ngài: “Bà kêu đến Chúa trong mọi hành vi, bà sống khiêm tốn, rất bác ái và say mê cầu nguyện”. Ngày sống của nữ bá tước được phân phối cho công việc cầu nguyện, làm việc bác ái, cùng với các phụ nữ dệt len cho người nghèo. Rảo quanh các làng quê phân phát các đồ cứu trợ. Luy, một hiệp sĩ hào hùng, rất lịch thiệp, là bạn trung thành nâng đỡ Elisabeth trong đường thánh thiện ngài đeo đuổi. Ông yêu vợ có khuôn mặt và tâm hồn dịu hiền của mình. Người ta thích kể lại một huyền thoại làm đẹp cuộc đời thánh nữ như sau:

    Vào một ngày mùa đông. Luy đi săn về gặp vợ cong mình xuống dưới sức nặng các đồ ăn giấu trong vạt áo. Ông hỏi: Em mang gì đó?

    Vạch áo ra ông chỉ thấy những bó hoa hồng trắng rất đẹp không mùa xuân nào có được. Vị bá tước xúc động vì phép lạ, ngài ưu ái người vợ lý tưởng của mình hơn nữa.

    Còn chính thánh nữ thì tăng gấp việc bác ái. Ngài săn sóc các bệnh nhân nghèo, cấp đồ ăn cho họ, băng bó các vết thương. Vào một ngày Thứ Năm Tuần Thánh, ngài đã hôn chân các người phong ngài tập hợp lại. Dưới những chiếc áo sang trọng, ngài giấu một chiếc áo nhặm. Không ai nghi ngờ sự khắc khổ của ngài. Isentrude, người đầy tớ theo ngài và có nhiệm vụ đánh thức ngài ban đêm để cầu nguyện đã làm chứng: “Ngài hoàn thành những công trình bác ái trong tâm hồn vui tươi và không đổi nét mặt”.

    Chính Elisabeth đã nói về những người nhân đức mà mặt mày ủ dột: “Họ có vẻ muốn làm khiếp đảm Thiên Chúa nhân lành. Trong khi ngài yêu thích những kẻ cho một cách vui tươi”.

    Luy phải ra trận. Đây là lúc nữ bá tước đau đớn nhất và tăng gấp lời cầu nguyện và đánh tội. Thánh nữ vẫn thường bối rối lo sợ có những bất công mà lãnh Chúa thường gặp phải. Gặp buổi đói ăn, thánh nữ nhiệt thành nâng dỡ người nghèo. Phân phát hết lúa gạo dự trữ, ngài hy sinh cả nữ trang và đá quý, ngài thiết lập những nhà thương. Dân chúng gọi ngài là “mẹ”. Khi chồng trở về, thánh nữ thường cười nói: Em đã dâng cho Thiên Chúa cái thuộc về ngài bảo vệ của cải của chúng ta.

    Nhưng đã đến lúc những thử thách lớn lao đưa Elisabeth tới đỉnh cao thánh thiện. Luy tham gia đoàn quân thánh giá và thiệt mạng năm 1227. Vài ngày sau thánh nữ sinh hạ người con thứ ba. Ngài như điên lên vì đau đớn, nhưng đã chứng tỏ lòng đại độ từ bỏ mà thánh nữ đã có từ buổi thiếu thời. Hình ảnh cổ truyền còn diễn tả thánh nữ, bị người em bất xứng của Luy xua đuổi và cấm dân chúng không được cho trú ngụ, khóc lóc ôm con nhỏ đi vào đường mòn sỏi đá giữa mùa đông lạnh lẽo với hai người con níu bên tay...

    Thực tế là người em rể đã một thời không cho ngài được thừa hưởng của cải của chồng ngài. Elisabeth từ chối mọi thoả hiệp với ông ta và không muốn nhận được cấp dưỡng bằng cái ngài coi là của cắp của dân nghèo. Ngài thích được rẫy bỏ hơn và tự kiếm kế sinh nhai. Như thế với lương tâm Kitô giáo, ngài đã chọn được nên nghèo khó. Thực vậy, ngài đã phải trú ngụ trong một chuồng heo cũ và đã biết khốn cực là gì. Người đầy tớ theo ngài kể rằng: “Bị bắt bớ bởi những chư hầu của chồng, thiếu mọi thứ của cải và vì thiếu thốn, ngài đã phải gửi con đến những miền xa để chúng được nuôi dưỡng ở đó”.

    Dầu vậy, ngài vẫn cảm tạ Chúa vì đã bị bóc lột ngài như thế, và trong một nguyện đường các anh em hèn mọn, ngài đã đặt tay lên bàn thờ thề hứa từ bỏ tất cả.

    Cậu của ngài là giám mục miền Bamberg rất muốn ngài tái giá và còn gọi ngài tới lâu đài Haute Francoine nơi đặt các xương cốt của chồng ngài. Nhận xương cốt, ngài nguyện vâng phục và tạ ơn Thiên Chúa.

    “Lạy Chúa, con yêu biết bao. Nhưng Chúa biết con không hối tiếc việc hy sinh người yêu của con cho Chúa. Anh đã tự hiến mình cho Chúa, con cũng hiến dâng anh con cho Chúa để yểm trợ thánh địa. Nếu được con cho cả thế giới để đổi lấy anh, rồi chúng con cùng đi ăn xin với nhau. Nhưng con xin chứng tỏ rằng: nếu trái với ý Chúa, con sẽ không muốn chuộc lại sự sống của anh, cả đến sợi tóc đi nữa... Nguyện ý Chúa thành sự trong chúng con”.

    Người goá phụ trẻ không muốn có phần gì đối với vinh hoa trần thế nữa, đã mặc áo dòng ba Phanxicô và dùng tiền của chồng để lại để điều hành một nhà thương là nơi bà ngồi ăn chung với các bệnh nhân nghèo khó. Sau cùng, ngài ở trong một ngôi nhà bằng cây vách đất. Ngài dệt vải để nuôi thân và chịu những hy sinh cực khổ hơn nữa.

    Cha giải tội của ngài là Conrad thấy sự dịu hiền của ngài có vẻ tạo nên cảm tình của hai người bạn từ hồi trẻ và nay theo ngài, nên không cho ngài giữ họ gần mình nữa. Thay vào đó là một đứa trẻ vô giáo dục và một bà điếc lác khó chịu. Elisabeth đối xử với họ cách âu yếm như với bạn bè và giành lấy những công việc gớm ghiếc nhất. Một đứa trẻ bất toại ngài săn sóc bắt ngài thức dậy mỗi đêm 6 lần và chính ngài giặt giũ áo quần hôi hám của nó. Khi đứa trẻ chết, ngài thay vào đó một đứa trẻ phong cùi và nói: Tôi không đang cởi dây giày cho em. Đối với tôi, Chúa Giêsu đang ở vào vị trí của em.

    Đứa trẻ chết, lại một người bị bệnh trứng tóc sống bên ngài. Vị hướng dẫn còn dùng đến những cư xử nghiệt ngã lạ lùng. Nhà chép sử nói rằng: “Ông ta có thể đánh vào mặt ngài, nhưng thánh nữ đủ mạnh để chịu dựng như một người đang chiêm niệm. Ngài qua những giờ ngây ngất và nét mặt trở nên rực sáng”.

    Nhưng Elisabeth yếu dần và qua đời lúc mới 24 tuổi, vào ngày 19-10-1231. Từng đoàn người lũ lượt hành hương kính viếng mộ ngài và đã có rất nhiều phép lạ xảy ra tại đó. Bốn năm sau, Đức Giáo hoàng Gregoriô IX đã tôn phong ngài lên bậc hiển thánh

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  16. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 18 tháng 11

    Cung hiến Ðền thờ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô

    Vua Constantin Cả (270-337) đã chiến thắng quân Maxence dưới tường thành Rôma năm 312, nhờ sự xuất hiện lạ lùng của cây Thánh Giá lơ lửng giữa không trung với hàng chữ: “In hoc signo vinces” (Tin vào dấu này, ông sẽ thắng). Năm 313, ngài đã ban hành chiếu chỉ (Edit de Milan) chấm dứt cuộc bách hại người Công Giáo và cho tự do tôn giáo. Sau đó, năm 323, nhà vua mới thật sự trở lại Công giáo. Ðể tỏ lòng biết ơn về chiến thắng Maxence, ngài đã xây cất nhiều đại thánh đường nguy nga, trong số đó phải kể Vương cung thánh đường thánh Phêrô và thánh Phaolô.

    Ðền thờ thánh Phêrô được xây cất năm 326 và được nới rộng ra năm 1506 với sự cộng tác đắc lực của nhiều kỹ sư và nghệ sĩ có tiếng: Rosellinô. Bramante, Raphael, Michel Ange, Carlô Modernô và Silvestrê. Riêng cái tháp cao 138m, rộng 42m. Thánh Silvestrê và Ðức Giáo Hoàng Urbanô VIII đã thánh hiến ngày 18-11-1626.

    Ðền thờ thánh Phaolô được xây cất trên đường Ostie, bên “ngoài thành” Vatican, và được thánh hiến cũng cùng một ngày với đền thánh Phêrô. Năm 1823, một cuộc hỏa tai đã thiêu hủy gần hết và Ðức Grêgoriô XVI và Ðức Piô IX đã chọn ngày định tín “Ðức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội” để thánh hiến lại, với sự chứng kiến đông đảo của các Giám Mục.
     
  17. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 20 tháng 11

    Thánh Phanxicô Xaviê CẦN, thầy giảng (+ 1837)

    Thầy giảng Phanxicô Xaviê Cần sinh năm 1803 tại Sơn Miêng, Hà Nội. Lớn lên, dâng mình cho Chúa trong bậc thầy giảng, ngài được sai giúp cha M. Retord. Vì sống đạo đức sốt sắng, người đương thời gọi ngài là “ông thánh”. Ngày 20-04-1836, khi đi công tác, ngài bị bắt gần làng Kẻ Vạc vì bị tình nghi là linh mục. Trong tù, rất nhiều lần ngài bị dụ dỗ bước qua Thập Giá. Một hôm, quan làm một hình chữ thập và bảo ngài: “Ðây là chữ thập..., cứ nhắm mắt bước qua rồi đi xưng tội sau”. Ngài nhất quyết từ chối. Vì không lay chuyển nổi, quan kết án ngài bị xử giảo. Ngày 20-11-1837, ngài lãnh nhận triều thiên tử đạo tại pháp trường Ô Cầu Giấy.

    Ngày 27-05-1900, Ðức Lêô XIII phong ngài lên bậc Chân Phước và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-06-1988.
     
  18. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 21 tháng 11

    LỄ ĐỨC MẸ DÂNG MÌNH TRONG ĐỀN THỜ
    Bài Suy Gẫm số 191 của Thánh Gioan La San

    Không phải vô duyên vô cớ mà Hội Thánh tôn vinh sự kiện Đức Trinh Nữ rất thánh dâng mình trong Đền thờ bằng một ngày lễ. Bởi vì chính trong ngày nầy mà Đức Trinh Nữ đã dâng mình cho Thiên Chúa, để hoàn toàn thuộc về Người suốt đời, ngõ hầu không chỉ xa lánh sự đồi trụy của thế gian, Trinh Nữ còn loại bỏ khỏi tâm trí người mọi lo toan với những tư tưởng vô ích của thế gian, và loại khỏi lòng người cảm tình đối với tạo vật, vì lòng người được dựng nên chỉ để yêu Chúa và dâng trọn cho Chúa mà thôi.

    21.11 - LỄ ĐỨC MẸ DÂNG MÌNH TRONG ĐỀN THỜ

    “Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào,
    đưa mắt nhìn và hãy lắng tai,
    quên dân tộc, quên đi nhà thân phụ.
    Sắc nước hương trời, Quân Vương sủng ái”

    (TV 44: 10-11)

    Điểm 1. Đức Maria dâng mình trọn vẹn cho Thiên Chúa.

    Không phải vô duyên vô cớ mà Hội Thánh tôn vinh sự kiện Đức Trinh Nữ rất thánh dâng mình trong Đền thờ bằng một ngày lễ. Bởi vì chính trong ngày nầy mà Đức Trinh Nữ đã dâng mình cho Thiên Chúa, để hoàn toàn thuộc về Người suốt đời, ngõ hầu không chỉ xa lánh sự đồi trụy của thế gian, Trinh Nữ còn loại bỏ khỏi tâm trí người mọi lo toan với những tư tưởng vô ích của thế gian, và loại khỏi lòng người cảm tình đối với tạo vật, vì lòng người được dựng nên chỉ để yêu Chúa và dâng trọn cho Chúa mà thôi. Vì thế, trong ngày thánh nầy, được Thiên Chúa ban cho không những ân sủng mà còn cả trí hiểu biết, cho nên dù tuổi còn rất trẻ, Trinh Nữ đã khấn sống khiết tịnh suốt đời, theo niềm tin truyền thống dựa trên tường trình của một tác giả đạo đức thời xưa. Theo lời thánh Gioan Damascène, (Trinh Nữ đã khấn như thế) để gìn giữ linh hồn mình trong sự thanh khiết, một khi thân xác người thoát khỏi mọi lạc thú của đời sống nầy.

    Anh Em đã dâng mình cho Chúa khi Anh Em xa lìa thế gian, để sống trong cộng đoàn nầy bằng cách hoàn toàn thoát ra khỏi tất cả những gì, trong thế gian, có thể làm thoả mãn các giác quan Anh Em, và chọn nơi nầy làm nhà của Anh Em. Anh Em phải xem ngày nầy như là ngày hạnh phúc của Anh Em bắt đầu trên mặt đất, để một ngày kia được thành toàn trên Trời. Nhưng Anh Em đã dâng mình cho Chúa không phải chỉ tạm thời mà thôi. Bởi lẽ Anh Em đã dâng linh hồn Anh Em cho Chúa, mà linh hồn Anh Em thì sẽ sống đời đời, vì vậy sự dâng hiến của Anh Em cũng phải đời đời. Mà nếu Anh Em đã bắt đầu dâng mình trên trái đất nầy rồi, thì sự dâng hiến nầy phải như thể một cuộc tập huấn cho việc mà Anh Em sẽ làm đời đời trên Thiên đàng.

    Điểm 2. Cuộc sống của Đức Maria trong Đền thờ.

    Đức Trinh Nữ rất thánh đã hiến mình hoàn toàn cho Thiên Chúa một cách dứt khoát trong ngày thánh nầy. Cha mẹ người tháp tùng người trong hành động thánh thiện nầy, đã để người ở lại trong Đền thờ hầu được dưỡng dục tại đó với các trinh nữ khác, và chú tâm thực hành mọi nhân đức. Vì Thiên Chúa muốn một ngày kia Đức Maria sẽ trở thành đền thờ cho Thiên tính của Người, nên Người đã thực hiện nơi Trinh Nữ một điều cao trọng, ngay từ tuổi thơ ấu, bằng sự tuyệt đỉnh của ân sủng để tôn vinh Trinh Nữ. Điều Thiên Chúa làm thật là chính đáng. Vì thế, theo lời một tác giả đạo đức, trong Đền thờ Trinh Nữ luôn tận tụy phục vụ Thiên Chúa, tập luyện chay tịnh và cầu nguyện ngày đêm. Chính bằng cách nầy mà Trinh Nữ vẹn toàn thanh khiết nầy đã sống cách thánh thiện trong suốt thời gian người đã trải qua trong Đền thờ.

    Anh Em được hạnh phúc sống trong nhà Thiên Chúa mà Anh Em đã dấn thân phụng sự. Anh Em phải : 1) tích lũy đầy tràn ân sủng nhờ linh thao thánh là nguyện gẫm ; 2) ra sức thực hành các nhân đức thích hợp nhất với bậc sống của Anh Em. Chính bằng những phương tiện nầy mà Anh Em có khả năng chu toàn bổn phận của Anh Em. Bởi vì Anh Em chỉ có thể làm tròn bổn phận mà Thiên Chúa đòi hỏi nơi Anh Em trong mức độ Anh Em trở nên trung tín và chuyên cần nguyện gẫm. Chính nhờ nguyện gẫm mà “Thần Khí sẽ ngự đến và dẫn Anh Em đến sự thật toàn vẹn”, như Đức Giêsu Kitô đã dạy các tông đồ của Người, những chân lý của Giáo lý và những châm ngôn Kitô giáo, mà Anh Em phải biết và thực hành cách thật trọn hảo, vì Anh Em có bổn phận truyền lại cho người khác.

    Điểm 3. Bằng sự thánh thiện của mình, Đức Maria chuẩn bị trở thành Mẹ Thiên Chúa.

    Kết quả của việc Đức Trinh Nữ rất thánh ở trong Đền thờ là sự biến đổi lòng Trinh Nữ thành một đền thánh. Đó là lời mà Hội Thánh đã dùng để ca ngợi Trinh Nữ trong ngày thánh nầy, rằng Trinh Nữ là đền thờ của Chúa và là thánh điện của Chúa Thánh Thần. Vì lẽ ấy, Trinh Nữ là thọ tạo duy nhất đẹp lòng Thiên Chúa một cách tuyệt hảo và cao quý đến nỗi sẽ không có một thọ tạo nào khác giống như Trinh Nữ. Vì Trinh Nữ chính là thiếu nữ mà Đức Chúa, theo lời sách Sáng Thế (3:15), đã chuẩn bị cho con của Người, và vì theo lời một ngôn sứ, “ngày của Đức Chúa đến gần” (x. Ed 12:23) nên Người đã chuẩn bị Trinh Nữ trước, biến Trinh Nữ thành một lễ phẩm thánh thiện được thánh hiến cho Người. Vì vậy mà, theo sách Khải Huyền, Trinh Nữ “trốn vào sa mạc” (Kh 12:6), nghĩa là vào trong Đền thờ, là nơi cách ly khỏi những liên hệ với con người, nơi mà Trinh Nữ tìm được sự tĩnh mịch mà Thiên Chúa đã định cho Trinh Nữ. Vì Con Thiên Chúa phải chọn Trinh Nữ làm nơi lưu ngụ cho mình, thì việc Trinh Nữ không chuyện vãn với người phàm ngoài đời là điều rất hợp lý ; mọi cuộc chuyện vãn đều ở trong Đền thờ của Đức Chúa ; thậm chí Trinh Nữ thường chuyện vãn với các Thiên Thần hơn là với các bạn đồng môn của mình, để trở nên xứng đáng được một thiên sứ của Thiên Chúa bái chào.

    Hôm nay Anh Em hãy tôn vinh Đức Trinh Nữ rất thánh như là Nhà Tạm và Đền thờ sống mà chính Thiên Chúa đã xây dựng cho Người, và tự tay Thiên Chúa tô điểm. Anh Em hãy nguyện xin Trinh Nữ cầu thay nguyện giúp cho Anh Em được hồng ân là linh hồn Anh Em được trang điểm xinh đẹp, và sẵn sàng đón nhận Lời Chúa để truyền đạt lại cho người khác, đến nỗi Anh Em trở thành những nhà tạm của Ngôi Lời Thiên Chúa, nhờ lời Trinh Nữ chuyển cầu.

    Bó hoa thiêng liêng:

    “Cuộc đời Đức Maria có thể làm gương mẫu cho mọi người” (Thánh Amrôsiô)


    SH Francois Ánh (chuyển ngữ)
    thienvanfsc (Theo Tỉnh Dòng La San Việt Nam)​
     
  19. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 22 tháng 11

    Thánh CÊCILIA, Đồng trinh, Tử đạo

    Cuộc tử nạn của Thánh CÊCILIA rất được nhiều người biết đến, quý chuộng, thán phục và ưa lặp lại.

    Nhưng những thế kỷ đầu không thấy nói gì tới vị thánh này cả. Thánh Ambrôsiô Hierônimô rất kính các trinh nữ tử đạo, nhưng không nhắc đến tên ngài. 300 năm sau cuộc tử đạo giả định này, câu chuyện của thánh nữ xem ra là một trong những áng văn đẹp nhất làm say mê tín hữu và phổ biến rộng rãi lạ thường. Câu chuyện tưởng tượng về Thánh nữ Cêcilia được chen vào giữa hai vị tử đạo có thật là Valêriô và Tiburtiô. Truyện đó như sau:

    Cêcilia thuộc gia đình quý phái sống tại Roma dưới thời vua Alexander Sêvêrô. Cuộc bách hại thật dữ dằn. Một mình trong gia đình là Kitô hữu, ngài luôn mang theo cuốn Phúc Âm và sống đời cầu nguyện bác ái. Mỗi khi tới hang toại đạo là nơi Đức Giáo hoàng Urbanô bí mật cử hành thánh lễ, đoàn người ăn xin đợi chờ ngài trên đường đi Roma chìa tay xin ngài phân phát của bố thí. Dưới lớp áo thêu vàng, Cêcilia mặc áo nhặm mà vẫn tỏ ra bình thản dịu dàng.

    Trong khi tuổi trẻ ngoại giáo mê say nhạc trần tục, lòng Cêcilia hướng về Chúa và ca tụng một mình ngài thôi. Đáp lại lòng đạo đức của ngài, Thiên Chúa cho ngài được đặc ân được thấy thiên tnần hộ thủ hiện diện bên mình.

    Cha mẹ Cêcilia gả ngài cho một nhà quý phái tên là Valêriô, người yêu Cêcilia nồng nhiệt, ông không biết ngài theo Kitô giáo, nhưng ông có một tâm hồn ngay thẳng.

    Ngày cưới, Cêcilia mặc chiếc áo nhặm duới lớp áo ngoài sang trọng và khẩn cầu Chúa giữ cho mình được trinh nguyên. Giữa những tiếng ca vui nhộn, Cêcilia vẫn theo thói quen cùng với các thiên thần ca hát những khúc thánh thi. Bởi đó mà các người Kitô hữu hay nhận ngài là bổn mạng của các nhạc sĩ. Chúa Giêsu khấng nghe lời ca trong trắng tự lòng vị hôn thê trẻ dâng lên ngài. Khi chiều về, Cêcilia nói với Valêriô:

    - Thưa Chúa công, em có điều này muốn nói với anh, không bàn tay trần tục nào được động tới em, vì em có một thiên thần bảo vệ. Nếu anh tôn trọng em, ngài cũng yêu mến anh và ban ân phúc cho anh.

    Ngạc nhiên và rất cảm kích, Valêriô đã ao ước nhìn thấy thiên thần. Cêcilia mới nói rằng: Ông phải chịu phép rửa tội đã, rồi nàng giải thích mầu nhiệm cứu rỗi các linh hồn do Đức Kitô cho ông nghe. Ngài đề nghị: Anh hãy tới đường Appianô. Anh sẽ gặp những người nghèo khổ và lấy danh nghĩa em để xin họ dẫn anh tới gặp cụ già Urbanô đang ẩn náu trong hang toại đạo. Vị giám mục này sẽ dạy dỗ anh hay hơn em, ngài sẽ chúc bình an cho anh, sẽ mặc cho anh bộ áo trắng tinh. Rồi trở lại đây anh sẽ thấy thiên thần của em.

    Valêriô theo lời vị hôn thê của mình, đến đường Appianô và được dẫn tới vị giám mục. Ngài dạy đạo và rửa tội cho ông. Trở về với Cêcilia. Ông gặp nàng đang cầu nguyện, có thiên thần bên cạnh, khuôn mặt thiên thần rực sáng, tay cầm hai triều thiên kết bằng hoa huệ và hoa hồng. Ngài đặt một chiếc trên đầu Cêcilia và một chiếc trên đầu Valêriô và nói:

    - “Hãy giữ lòng trong trắng để xứng đáng bảo vệ những triều thiên này, chúng từ vườn của Thiên Chúa, không bao giờ tàn tạ, chẳng hề lạt hương”.

    Thiên thần còn nói thêm: “Hỡi Valêriô, bởi vì anh đã biết nghe lời hiền thê của anh, vậy anh xin điều gì anh muốn”.

    Valêriô có người em mà ông yêu thương tên là Tiburtiô, ông xin: “Con muốn em con cũng biết đạo thật như con”.

    Thiên thần trả lời: “Điều anh xin rất đẹp lòng Chúa. Vậy hãy biết rằng: Tiburtiô và anh sẽ lên trời với ngành vạn tuế tử đạo”.

    Ngay lúc ấy Tiburtiô xuất hiện. Ông thấy mùi hoa huệ và hoa hồng và muốn biết từ đâu mà có hương thơm như vậy giữa mùa này, thứ hương thơm như làm con người ông trẻ lại. Cêcilia đã nói cho ông hiểu sự hư không của các ngẫu thần, đã tỏ cho ông thấy sự rực rỡ của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô. Tiburtiô muốn được sự chỉ dạy, và đến lượt ông, cũng đã lãnh nhận bí tích rửa tội do Đức Giáo hoàng Urbanô.

    Cêcilia, Valêriô và Tiburtiô cùng nhau sống đời thánh thiện. Họ phân phát của bố thí cho các Kitô hữu bị bắt bớ, bí mật cầu nguyện với những người bị kết án và khuyến khích họ can đảm chịu cực hình. Đêm về hai anh em lo chôn cất xác các vị tử đạo.

    Chẳng bao lâu họ bị phát giác. Tổng trấn Almachiô ngac nhiên hỏi: Các người quan tâm tới các tử tội bị ta kết án hay sao?

    Cêcilia trả lời: Thật đẹp lòng Chúa biết bao, nếu chúng tôi xứng đáng được làm nô lệ cho những người mà ngài kết án là tử tội.

    Quan tổng trấn nhún vai cho rằng: người đàn bà này mất trí. Ông tách riêng Valêriô và Tiburtiô và cũng hỏi như vậy. Nhưng các ngài đã khinh thường danh vọng với sang giàu mà Almachiô rất coi trọng. Ông liền kết án trảm quyết các ngài. Tác giả kể lại cuộc tử nạn các ngài đã nói: Người ta thấy các ngài chạy xô tới cái chết như tới dự một đại lễ.

    Cêcilia thu lượm và chôn cất xác các ngài. Nàng vẫn tiếp tục bao bọc cho các Kitô hữu bị bách hại. Almachiô liền tống giam ngài. Bị vấn danh, ngài nói: Tôi tên là Cêcilia, nhưng Kitô hữu là tên đẹp hơn nhiều của tôi.

    Quan tổng trấn bắt nộp tài sản của Valêriô và Tiburtiô. Cêcilia trả lời tất cả đã được phân phát cho người nghèo rồi. Tức giận Almachiô truyền cho Cêcilia phải dâng hương tế thần ngay nếu không sẽ phải chết. Cêcilia cười trả lời: Chư thần của ông chỉ là đá, đồng chì, và ngài tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô mà thôi. Các binh sĩ xúc động nghị rằng ngài sắp phải chết nên nài nỉ: Cô sang trọng và trẻ đẹp, hai mươi tuổi đầu hãy dâng hương tế thần đi, đừng để chết uổng.

    Nhưng Cêcilia trả lời họ rằng: Các ông không biết rằng chết vào tuổi tôi, không phải là đánh mất tuổi trẻ, nhưng là đổi chác vì Thiên Chúa sẽ trả lại gấp trăm cái người ta dâng cho Ngài sao? Nếu người ta đưa quý kim để đổi lấy vật tầm thường, các ông có ngập ngừng không?

    Nghe ngài các binh sĩ hoán cải. Almachiô mất bình tĩnh truyền giam ngài vào phòng tắm. Căn phòng đầy hơi nóng. Cêcilia không hề thấy khó chịu. Almachiô truyền chém đầu ngài, lý hình 3 lần dùng gươm mà chỉ gây nên được một vết thương ghê rợn. Thánh nữ đã cầu xin để được gặp Đức Giáo hoàng Urbanô đến lo linh hồn mình. Ngài còn sống được 3 ngày, được gặp Đức Urbanô, rồi lãnh triều thiên thiên thần đã hứa.

    Các Kitô hữu chôn táng ngài và tôn trọng thái độ lúc ngài tắt hơi, đầu không cúi gục như bông hoa không tàn.

    Hơn một nghìn năm sau, người ta thấy trong hang toại đạo một thi thể được coi như là của Cêcilia, huyền thoại kể lại và nghệ sĩ trẻ Maderna tạc tượng đã nghĩ đây là tuyệt phẩm của ơn thánh.

    Vào thế kỷ thứ V, một nhà quý phái trùng tên đã dâng nhiều dinh thự làm nhà thờ đặt tên là Cêcilia danh hiệu bà đã được mang.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 21 tháng Mười 2017 at 6:25 PM
  20. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 23 tháng 11

    Thánh CLÊMENTÊ I, Giáo Hoàng, Tử Đạo

    Người ta biết được về Thánh Clêmentê, vị giáo hoàng trị vì trong 10 năm chỉ nhờ bức “thư gửi giáo hữu Corintô” thôi. Vào thế kỷ thứ IV có lưu hành những chứng thư đầy huyền thoại. Theo đó, cha ngài là Phaustin thuộc dòng dõi Giacop. Sinh tại Roma, được nuôi dưỡng trong Do Thái giáo.

    Thánh Clêmentê đã nghe theo những diễn từ của các thánh tông đồ và trở thành môn đệ các ngài. Ngài đã theo Thánh Phaolô trong các hành trình đi truyền giáo và đã trở thành đấng kế vị thứ ba của Thánh Phêrô. Vua Trajanô đang bách hại các Kitô hữu biết được rằng: vị giáo hoàng đã đem được nhiều người trở lại đạo. Ông kết án ngài phải làm việc khổ sai tại các hầm mỏ bên kia Bắc Hải, trong các miền hoang vắng. 2.000 Kitô hữu đẽo đá tại đây chịu cảnh khát nước thảm khốc.

    Tương truyền rằng Thánh Clêmentê cầu nguyện rồi lên một ngọn đồi và thấy một con chiên ghi dấu chân đúng vào chỗ có dòng nước tươi mát vọt lên làm giảm khát cho người mang án. Các bức tranh cẩn đâu tiền còn diễn lại biểu tượng một con chiên đứng trên ngọn núi xanh. Nhà vua khi biết được rằng Thánh Clêmentê đã dùng lời nói và phép lạ để an ủi các Kitô hữu, liền sai các sứ giả tới cột cổ ngài vào một cái neo rồi ném xuống biển. Lệnh đường thi hành. Nhưng trong khi các tín hữu cầu nguyện trên bờ, họ thấy dòng nước rút đi một cách lạ lùng và có thể đưa xác vị tử đạo lên đất liền.

    Điều chắc chắn kính là bức thư của Thánh Clêmentê đã thành một trong các tài liệu quý giá của Kitô giáo thời Chúa xưa. Các Kitô hữu Côrintô chạy đến Đức Giáo hoàng để tìm hoà giải những cuộc tranh chấp, đã kính cẩn đón tiếp thư của ngài. Những thư này được đọc cho các cộng đoàn tín hữu. Thư của Thánh Clêmentê chứng thực việc Thánh Phêrô đến và chịu chết ở Roma, việc Nêrô bắt các Kitô hữu làm trò mua vui. Thư cũng gợi ý cho chúng ta việc tổ chức Giáo hội. Giữa các sự việc lớn lao khác, thánh Clêmentê đã nói:

    - Ai mạnh hãy lo cho người yếu. Người giàu hãy giúp đỡ người nghèo và người nghèo hãy chúc tụng Chúa và điều Ngài muốn cung ứng cho các nhu cầu của họ. Người khôn ngoan hãy tỏ ra khôn ngoan không phải chỉ trong lời nói mà còn trong các việc lành. Người khiêm tốn đùng nóí gì về mình và đừng tìm phô diễn hành động của mình. Người lớn không thể tồn tại mà không có người nhỏ và người nhỏ cũng không thể tồn tại mà không có người lớn... Thân thể không thể bỏ qua sự phục vụ của những chi thể nhỏ bé hơn.

    Các tín hữu còn học biết bằng qua những âu lo vô ích và sống đời sám hối, mỗi người phải biết vâng phục để trở nên tôi tớ hoàn tất vinh quang Thiên Chúa. Đức Kitô đã không đến trong kiêu sa, nhưng đã tự hạ, đã chịu khổ cực. Vậy phải nên thánh và tín thác cho Chúa.

    Chỉ một bức thư này còn quan trọng trong sự thật vượt xa mọi truyện thần thoại.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn