Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lễ Các Thánh trong Tháng 12

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 3 tháng Mười Hai 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 03 tháng 12

    Thánh PHANXICÔ XAVIÊ, Tông đồ Ấn Độ và Nhật Bản (1506-1552)

    Phanxicô ra đời tại lâu đài Xaviê thuộc vương quốc Navarre ngày 7-4-1506. Cha ngài là cố vấn của nhà vua miền Navarre và là thẩm phán. Anh em ngài theo binh nghiệp. Riêng Phanxicô ham thích học hành. Năm 19 tuổi, ngài theo học tại Đại học Paris, trường lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Khi còn ở Học viện Thánh Barbe, ngài được phúc trọ cùng phòng với Phêrô Faure, người sau này sẽ nhập dòng Tên và được phong chân phước. Bốn năm sau, ngài lại có được người bạn học giả là Inhatio thành Loyoa.

    Người học trò mẫn cán đã trở thành giáo sư. Ngài dạy triết học. Thành công làm cho ngài thành con người tham vọng. Inhaxiô nói với ngài về một hội dòng mà thánh nhân muốn thành lập. Nhưng Phanxicô mơ tới danh vọng, ngài chế nhạo cũng như khinh bỉ nếu sống nghèo tự nguyện của bạn mình. Inhaxiô vui vẻ đón nhận những lời châm biếm, nhưng lặp lại rằng: “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì”.

    Cuối cùng, Phanxicô đã bị ảnh hưởng. Inhaxiô còn đưa ra những lời cao đẹp hơn: “Một tâm hồn cao cả như anh, không hề chỉ gò bó với cái vinh dự thế trần được. Vinh quang trên trời mới đúng với cao vọng của anh. Thật vô lý, khi ưa chuộng một thứ mây khói chóng tàn hơn là những của cải tồn tại đời đời”.

    Phanxicô bắt đầu thấy được cái hư không của những sự cao trọng của thế nhân và hướng vọng tới của cải vĩnh cửu. Chiến thắng rồi, ngài chống lại tính kiêu căng bằng mọi loại sám hối. Ngài quyết định theo sát Phúc Âm, vâng theo cách cư xử của người bạn thánh thiện và xin được khiêm tốn hãm nình. Ngài chỉ còn chú tâm cứu rỗi các linh hồn.

    Ngày lễ Mông Triệu năm 1533, trong một nhà nguyện tại Monmartre, trên mộ bia thánh Dénis, Phanxicô, Inhaxiô và 5 bạn khác đã hiến mình cho Chúa. Họ khấn từ bỏ mọi của cải, hành hương thánh địa, làm việc để cải hoá lương dân và hoàn toàn đặt mình dưới sự điều động của Đức Thánh Cha để phục vụ Hội Thánh. Phanxicô còn học thần học 2 hai năm nữa, rồi cùng 6 bạn đi Italia. Đi đường, họ chỉ mang theo cuốn Thánh Kinh và sách nguyện trong bị, cổ đeo tràng hạt. Tuyết lạnh hay khắc khổ cũng không làm họ sợ hãi. Trái lại, Phanxicô lại còn cảm thấy quá êm ái nhẹ nhàng, nên một ngày kia đã cột dây thừng vào chân, khiến dây đó ăn vào thịt và ngay việc được khỏi bệnh đó cũng đã là một phép lạ.

    Đoàn quân bé nhỏ đó tới Venatia chống lại quân Thổ. Thế là họ phải bỏ cuôc hành hương đi thánh địa. Đức Thánh Cha đã chúc lành cho nhóm bạn cũng như dự định của họ. Phanxicô và Inhatiô thụ phong linh mục ngày 16-6-1537. Phanxicô đã chuẩn bị thánh lễ mở tay bằng cuộc sám hối kéo dài 40 ngày trong một túp lều tranh bỏ hoang và sống bằng của ăn xin.

    Trong khi chờ đợi bắt đầu thực hiện công việc vĩ đại của mình, ngài rao giảng và săn sóc cho người nghèo trong các nhà thương. Ngài còn phải chiến thắng chính mình nữa, chẳng hạn khi băng bó các vết thương lở loét. Ngài luôn đi ăn xin thực phẩm.

    Khi Phanxicô được 35 tuổi, vua nước Bồ Bào Nha xin Đức Thánh Cha gửi các thừa sai sang Ấn Độ. Phanxicô rất vui mừng khi được chỉ định.

    Ngài bộc lộ cho một người bạn: “Anh có nhớ rằng, khi ở nhà thương tại Roma, một đêm kia, anh đã nghe tôi la: “Còn nữa, lạy Chúa, còn nữa” không? Tôi đã thấy rằng: phải chịu khổ nạn cho vinh danh Chúa Giêsu Kitô. Trước mặt tôi là những hoang đảo, những miền đất báo cho tôi biết trước cơn đói, cơn khát và cả đến cái chết dưới hàng ngàn hình thức. Tôi ao ước được chịu khổ hình hơn nữa”.

    Chỉ còn 24 giờ để chuẩn bị lên đường. Nhưng thế đã quá đủ để xếp đặt hành trang. Với vài bộ đồ cũ. Một thánh giá, một cuốn sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng. Ngài đáp tàu. Cuộc hành trình cực khổ vì say sóng. Đau bệnh, Ngài vẫn săn sóc các bệnh nhân. những thủy thủ hư hỏng dường như là đoàn chiên đầu tiên ngài phải đưa về cho Chúa. Ngài rao giảng cho họ bằng chính việc chia sẻ cuộc sống với họ.

    Sau 7 tháng hành trình, người ta dừng lại bến Mozambique. Khí trời ngột ngạt. Một cơn bệnh dịch đang hoành hành nơi đây. Phanxicô lại săn sóc các bệnh nhân và muốn sống đời cực khổ nhất. Ngài lặp lại: “Tôi khấn sống nghèo khó, tôi muốn sống và chết giữa người nghèo”.

    Sau một năm hành trình, Phanxicô cặp bến Goa, thủ đô miền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha vào tháng 5-1542. Ngài phát khóc vì vui mừng. Nhưng việc cấp thiết, nhất là phải làm cho những người chinh phục Bồ Đào Nha giữ đạo đã. Những tật xấu và tính hung hăng của họ làm ô danh Kitô giáo. Còn dân An thì thờ ngẫu tượng. Họ vặn đó có con để tế lễ. Vị tông đồ làm thầy thuốc, thẩm phán, giáo viên. Ngài học tiếng một cách khó khăn, thời gian của ngài dành cho các nhà thương, nhà tù, người nghèo và việc dạy giáo lý. Rảo qua đường phố, ngài rung chuông tập họp trẻ em và dân nô lệ lại, với sự nhẫn nại vô bờ, ngài ghi khắc tình yêu Chúa vào lòng họ. Các trẻ em tham dự lại trở thành các nhà truyền giáo cho cha mẹ và thầy dạy của chúng. Chúng mang thánh giá của “ông cha” cho các bệnh nhân. Chúng trở nên hung hăng với các ngẫu tượng. Bây giờ, các cánh đồng lúa vang lên được bài thánh ca. Dần dần, đời sống Kitô giáo đã vững vàng trong lòng các gia đình.

    Phanxicô nghe nói tới một bộ lạc thờ lạy ngẫu thần ở mũi Comorin, sống bằng nghề mò ngọc trai. Muốn loan báo Tin Mừng cho họ, thánh nhân học ngôn ngữ mới, vượt mọi khó khăn để phổ biến đức ái và chân lý. Rồi ngài lại qua các làng khác. Cứ như thế ngài đi khắp Ấn Độ Trong 15 tháng trời, ngài đã rửa tội cho một số đông đảo người Kitô hữu, khiến “xuôi tay vì mệt mỏi”. Người nói: “Mọi ngày tôi đều thấy tái diễn những phép lạ thời Giáo Hội sơ khai”.

    Ngài ngủ ít, đêm thức khuya để cầu nguyện. Sống khắc khổ để đền tội cho các tội nhân. Ngài chăm chú đào tạo các tâm hồn thanh thiếu niên địa phương để sai đi làm tông đồ truyền giáo cho các người đồng hương của họ.

    Ở tỉnh Travancore, trong vòng một tháng, thánh nhân đã rửa tội cho 10.000 người. Người Brames muốn hạ sát ngài, nhưng ngài đã giữ được mạng sống một cách lạ lùng dưới cơn mưa tên. Ở vương quốc Travance, khi nhóm người man-di muốn tràn ngập, Phanxicô cầm thánh giá trong tay với một số ít tín hữu đã làm cho họ phải tháo lui. Ngài mang Tin Mừng tới Ceylanca, Malacca. Các đảo Molluques vang danh vì sự hung tợn của họ, nhất là đảo của dân More ở phía Bắc...

    Ngài nhắm tới đảo này, ngài muốn bị dân cư giết chết như một vị thừa sai 13 năm trứơc đây sao?

    - Người ta ngăn không cho tàu bè chở ngài đi. Phanxicô đáp lại: “Thì tôi bơi tới vậy”.

    - Nhưng ngài sẽ bị đầu độc thì sao? Ngài nói: “Niềm tin tưởng ở Thiên Chúa là thuốc kháng độc”.

    Rồi ngài thêm: “Ôi, nếu như hy vọng tìm được gỗ quý hay vàng bạc, các Kitô hữu đổ xô tới ngay. Nhưng lại chỉ có các linh hồn cần được cứu rỗi. Tôi sẽ chịu khổ gấp ngàn lần để cứu lấy một linh hồn thôi”.

    Phanxicô đã viết thư xin vua Bồ Đào Nha và Thánh Inhatiô gởi các linh mục tới săn sóc cho các cộng đoàn Kitô hữu ngài để lại. Sự khó khăn và chậm chạp về thư tín làm cho đời ngài thêm nhiều phiền phức. Ngài phải mất gần 4 năm để gửi thư từ Moluques về Roma. Dầu giữa các khó khăn mệt nhọc, thánh nhân không để mất tính hiền hậu và khiêm tốn.

    Năm 1549, một người Nhật được ngài rửa tội ở Malacca đã thu hút ngài tới hòn đảo vô danh, chưa có người Kitô hữu nào. Lời cầu nguyện và đời sống hãm mình củng cố lòng can đảm của ngài. Không để mình bị chán nản do ngôn ngữ khó học hay bởi nội chiến. Ngài đã có thể tạo lập được một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ như ngài mơ ước. Các phép lạ củng cố lời giảng dạy của ngài, nhưng dân chúng bị đánh động nhiều hơn bởi đức tin và lòng can đảm của người ngoại quốc này đã từ xa đến để loan báo cho họ chân lý duy nhất.

    Được 2 năm, nhà truyền giáo lại ra đi, để lại tại miền đất xa này những cộng đồng Kitô hữu đứng khá vững trong nhiều thế kỷ, dù không có linh mục cai quản.

    Phanxicô trở lại Ấn Độ. Ngài đã rảo qua gần 100.000 cây số trong 10 năm. Bấy giờ, việc chinh phục Trung Hoa ám ảnh tâm hồn ngài. Ngài đáp tàu, nhưng không bao giờ tới được quốc gia rộng lớn này. Vào cuối tháng 11-1552, trên đảo Hoàng Châu, ngài bị lên cơn sốt rét. Giữa cơn đau, ngài đã lặp lại: Lạy Chúa Giêsu, con vua Đavit, xin thương xót con, xin thương đến các tội con.

    Ngài dứt tiếng và không nhận ra được các bạn hữu nữa. Khi hồi tỉnh, ngài lại kêu cầu Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu và nài xin Đức Mẹ: “Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin hãy nhớ đến con”.

    Một người Trung Hoa thấy ngài hấp hối thì đặt vào tay ngài một cây nến. Phanxicô qua đời ngày 3-12-1552. Ít tuần sau, người ta tìm thấy xác ngài vẫn nguyên vẹn và chở về Goa. Dân chúng tại đây nhiệt tình tôn kính ngài, vì đã coi ngài như một vị thánh.

    Năm 1619, Đức Phaolô V đã phong chân phước cho ngài cùng với thánh Inhaxiô. Nay ngài được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 04 tháng 12

    Thánh GIOAN DAMAS, Tiến Sĩ Hội Thánh (676-754)

    GIOAN chào đời vào lúc thành phố Damas sinh quán của ngài, đang dưới quyền của người Ảrập. Cha ngài là Sergiô được vị Calife (người kế vị của Mahomet) mến chuộng. Đến nỗi dầu là người Kito hữu, ông cũng được đặt làm kẻ thừa hành. Ông quan tâm bảo vệ các tín hữu bị áp bức, hy sinh tiền bạc để chuộc họ. Ngày kia, giữa đám người bất hạnh bị điệu ra nơi công cộng, ông thấy các tử tội qùi xuống dưới chân một người trong nhóm họ xin cầu nguyện... Ông biết được rằng người được khẩn nài đó tên là Cosma, một tu sĩ Italia rất thông thái. Sergiô liền chạy tới vị Calife, xin được lưu giữ Cosma làm thầy dạy cho con mình là Gioan.

    Cosma trở thành bạn của Sergiô, đồng thời là thày dạy của Gioan và của một đứa trẻ Giêrusalem khác mà Sergiô nhận nuôi. Khi kết thúc chu kỳ dạy dỗ, Cosma xin rút lui vào một tu viện. Gioan đã nên lừng danh nhờ trí khôn ngoan và sự hiểu biết của mình và được gởi về triều đình của vị vua Calife. Khi cha ngài qua đời, hoàng tử người Ảrập đặt ngài đứng đầu hội đồng cố vấn và làm thừa tướng vùng Damas. Thế là định mệnh đổi thay của một tu sĩ được cứu mạng, đã khiến cho những hiểu biết của Hy lạp và Roma được đưa vào triều đình của các vị Califes.

    Đế quốc Đông phương lúc ấy do Lêo, người Isauria, cai quản. Ông là một con người bách hại các Kitô hữu. Gioan có thế giá nơi vị Calife không sợ hãi gì mà lại còn viết thư thúc đẩy các Kitô hữu can đảm trong đức tin. Hoàng đế biết điều đó, liền giận dữ. Không làm gì được, ông đã dùng đến một mưu mô khả ố. Ông cho người giả mạo chữ của Gioan để viết một bức thư bội phản, trong đó, người được vị Calife bảo vệ, tính trao nộp Damas cho vua Byzance. Rồi Leo, người Isauria, báo cho vị Calife biết có một kẻ thừa hành bội phản. Và câu chuyện thật kỳ diệu đến nỗi các văn phẩm thời đó còn kể lại. Vị Calife đòi Gioan đến. Dầu biện minh cho sự vô tội của mình, Gioan vẫn bị chặt tay phải.

    Gioan mang cánh tay bị chặt về nhà và khấn nài Đức Trinh Nữ hoàn lại cánh tay mà từ nay ngài sẽ chỉ dùng để viết các thánh thi ca tụng Con Mẹ. Gioan đi ngủ và mơ thấy Đức Trinh Nữ chữa lành cho mình. Thức dậy, cánh tay đã được nối liền và chỉ còn để lại một đường máu đỏ. Trước phép lạ này, vị Calife không còn nghi ngờ gì về sự vô tội của Gioan nữa và đã tái lập ngài làm nhà cầm quyền. Nhưng đối với Gioan Damascênô, thời danh giá đã qua rồi. Ngài muốn hiến thân cho Thiên Chúa.

    Ngài phân phát của cải cho người nghèo và đến tu viện thánh Sabas, nơi thày mình đang sống và người em nuôi cũng đã tới đó trước. Nhưng không ai dám huấn luyện quan thừa tướng bãi nhiệm theo đường thánh thiện cả. Cuối cùng bề trên trao ngài cho một tu sĩ già khó tính, thù ghét với tất cả những gì là êm ái đối với Gioan như thơ phú và âm nhạc.

    Nếu không tự ý vâng phục như một bằng chứng của tình yêu, thì cuộc sống ngài sẽ cay đắng đến thế nào. Ngài đã bị tước bỏ mọi niềm vui cao đẹp, cả đến việc giữ lời hứa là viết các thánh thi. Ông thày còn sai người đã cai trị Damas đi bán giỏ sọt với giá cắt cổ, khiến các lời chế nhạo đổ xuống như mưa. Gioan vẫn âm thầm vâng phục và chịu đựng, sau khi đã thử thách quá lâu người tập sinh như thế, vị tu sĩ già để cho Người được tự do học hỏi và tìm hứng. Lúc ấy, tự đáy lòng Gioan đã khơi dậy những khúc thánh thi đáng khâm phục, cùng với sự cộng tác của người em nuôi, cho tới khi ông ta được đặt làm Giám mục Palestina.

    Gioan Damascênô chỉ rời tu viện để đi giảng tại các thánh đường. Lúc về già, ngài sửa chữa các bản văn, đôi khi tự trách là bút pháp quá khởi sắc, ngài nghiên cứu học hỏi không ngừng và đã trình bày thần học một cách liên tục đáng kể.

    Một bí nhiệm bao quanh những năm cuối đời thánh nhân. Có người tin rằng: ngài đã qua đời trong thinh lặng tại tu viện, người khác lại nghĩ rằng, ngài đã rảo qua các tỉnh Đông phương để nâng đỡ các tín hữu đang bị nhóm phá ảnh tượng bách hại, rồi chết vì đạo. Là triết gia, thần học gia, nhà hùng biện, thi sĩ, Thánh Gioan được danh hiệu là Tiến sĩ Hội Thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 06 tháng 12

    Thánh NICÔLA, Giám mục (Thế kỷ IV)

    Thánh Nicôla, vị đại thánh bình dân, nhưng chỉ tìm được tiểu sử 200 năm sau khi ngài chết. Người ta có thể nói rằng ngài đích thực là giám mục Myra, đã hiện ra với vua Constantinô trong một giấc mơ. Sau đó dường như các nhà chép sữ lại lẫn lộn với Nicola người Simon đã bị tù dưới thời Diocletianô, đã xây một tu viện và được chôn cất tại vương cung thánh đường thành Myra. Trừ sự kiện trên, nảy sinh ra nhiều huyền thoại và hơn nghìn năm sau, Thánh Nicôla nhân hậu đã thành danh tiếng khắp thế giới.

    Huyền thoại kể lại rằng, ở Patara, thuộc tỉnh Lycia, hai vợ chồng giàu có Anna và Euphêmiô vì không con đã cố gắng tìm an ủi trong công việc từ thiện. Thiên Chúa chúc lành cho lòng bác ái của họ. Cuối cùng họ có được một mụn con và đăt tên cho con là Nicôla, có nghĩa là “sự chiến thắng của dân”. Đây cũng là tên cậu ngài, vị giám mục Myra.

    Ông cậu đã tiên đoán rằng: Nicôla sẽ là “mặt trời soi chiếu thế gian”. Khi mới tắm rửa lần đầu, con trẻ đặc biệt này đã chắp tay, đứng trong thau nước 2 giờ liền, mắt hướng về trời. Thứ tư và thứ sáu, ngài không chịu bú cho tới chiều để ăn chay. Chị vú nuôi sợ ngài chết, nhưng trái lại, ngài đã trở nên một con trẻ kiêu hùng.

    Nicôla có nhiều đức tính tốt như một trẻ em gương mẫu. Cha mẹ mất sớm. Nicôla thừa hưởng một gia tài kếch xù. Nhưng ngài lại coi tất cả tài sản này như của Chúa cho vay. Người phân phát cho những người bất hạnh và thực hiện đức bác ái như một sự tế nhị dễ thương. Chẳng hạn một người cha có 3 cô con gái, ông tính cho con làm nghề bất lương để có tiền cưới hỏi. Nhưng rồi đêm kia, ông thấy 3 túi vàng chuyển qua cửa sổ, và có thể làm lễ cưới hỏi cách lương thiện cho các cô. Khi biết được người cho, ông đến xin Thánh Nicôla cầu cho ơn tha thứ cho dự tính đáng chúc dữ của mình. Rồi bất kể sự ngăn cấm của thánh nhân, ông đã kể lại khắp nơi cử chỉ bác ái của thánh nhân đã thực hiện để cứu 3 người phụ nữ khỏi cảnh bất lương như thế nào.

    Nicôla đã ao ước hiến đời mình cho Thiên Chúa. Ông cậu giám mục của ngài khi sắp chết đã truyền chức và đặt ngài làm bề trên tu viện Thánh Sion. Khi ngài du hành qua Thánh Địa, cơn bão nổi lên, các hành khách run sợ, Nicôla cầu nguyện cho họ và các cơn sóng dịu xuống, con tàu êm đềm theo đuổi cuộc hành trình. Những cuộc can thiệp khác nữa làm cho Thánh Nicôla trở thành đấng bảo trợ những người vượt biển. Các thuỷ thủ làm chứng rằng khi bị đắm chìm, nhớ cầu tới ngài là thấy ngài đến cầm tay lái đưa tới cảng, rồi biến đi...

    Khi những người thoát nạn tới nhà nguyện tu viện tạ ơn, người ta ngạc nhiên vì thấy vị cứu tinh của mình đang chìm đắm trong kinh nguyện như không hề rời bỏ nơi này. Họ không cầm nổi những lời tán tụng biết ơn xuất phát tự cõi lòng, nhưng thánh nhân bảo họ: “Hãy chỉ nên ngợi khen Chúa về cuộc cứu thoát này, bởi vì đối với tôi, tôi chỉ là một tội nhân và một đầy tớ vô dụng”.

    Và ngài đã cho biết rằng, nguy hiểm họ vừa trải qua là hình phạt vì các tội kín, cũng như sự hối lỗi của các thuỷ thủ đã cứu thoát họ.

    Nicôla xuống Alexandria là nơi ngài đã chữa lành các bệnh nhân, rồi đi thăm Thánh Antôn ở Aicập. Sau cùng, ngài đến Giêrusalem kính các nơi thánh và trải qua ít tuần trong hang mà Thánh Gia đã dừng lại khi trốn qua Ai cập. Nơi đây, sẽ xây cất một thánh đường Thánh Nicôla. Vừa mới trở về Myra, nơi các tu sĩ đang nóng lòng chờ đợi cha họ trở về, ngài đã tăng gấp một cách lạ lùng đống bánh cho cả trăm người ăn.

    Giám mục Myra qua đời, các giám mục miền Lycia cân nhắc để chọn vị mục tử mới. Một sứ giả từ trời xuống báo tin cho vị niên trưởng biết, người được chọn là linh mục Nicôla ngày mai sẽ tới mhà thờ trước hết. Trời vừa sáng, Nicôla tới nhà thờ theo lòng sốt sắng và nghe loan báo mình làm giám mục. Ngài muốn chạy trốn, nhưng phải theo ý nguyện của Đấng Cao Cả hơn mình, trời cao chúc lành cho ngài: dịp lễ đầu tay, Thánh Nicôla đã làm cho một em bé bị phỏng sống lại. Từ kỷ niệm này, người ta hay kêu cầu thánh nhân những khi gặp nguy hiểm vì lửa.

    Trở thành mục tử cả dân, thánh nhân rất cưng chiều những người bị áp bức, mồ côi, bênh hoạn và tù tội hơn. Ban đêm, ngài cầu nguyện, nghỉ một chút trên đất, ăn ngày một bữa, mặc áo quần khiêm tốn khác với hình ảnh ngày nay nhiều. Những y phục lộng lẫy theo hình vẽ ấy, ngài chỉ mặc vào những ngày đại lễ.

    Đời sống tín hữu xáo trộn vì những cuộc bách hại: vị giám mục bị lưu đày, đánh đập. Cuộc trở lại của vua Constantinô đem lại tự do. Trên đường về, ngài rao giảng Chúa Kitô, cải hoá lương dân, phá đổ các đền thờ và ngẫu tượng. Ngài làm nhiều phép lạ như mưa. Các thế hệ tương lai, còn kể lại huyền thoại của 3 đứa trẻ bị một đồ tể tham lam độc ác cắt cổ và để trong thùng muối ướp thịt đã sống lại nhờ lời cầu nguyện của Thánh Nicôla.

    Các truyện có nhiều thêm thắt như: Truyện người gian xảo có cây gậy đầy vàng, truyện đứa trẻ bị quỷ giả bộ ăn xin bóp cổ, nhưng đã được thánh nhân cứu sống, truyện thánh nhân dàn xếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân hiếm muộn con cái, hứa tặng chén vàng mà khi được lại không giữ lời hứa. Gần với sự thực hơn là việc các nhà buôn lúa gạo ở Sycily nhờ sự bao bọc lạ lùng của giám mục đã nuôi những người đói mà không giảm thiểu của dự trữ. Vua Constantinô cũng mơ thấy thánh nhân đến gặp để cứu cuộc xử tội bất công của 3 viên chức. Sau đó các người bị giữ kêu cầu ngài giải cứu và được nhận lời bằng một phép lạ. Thế là các nạn nhân bị xử oan hay kêu cầu ngài.

    Sau khi hoàn tất bao nhiêu việc lành thiêng liêng lẫn vật chất, Thánh Nicôla muốn vào cõi đời đời. Bảo vệ giáo thuyết công giáo tinh tuyền, ngài đã chống lại lạc giáo tham dự cộng đồng Nicea. Khi thấy sắp kết thúc cuộc đời. Ngài muốn lui về tu viện, nơi mà buổi thiếu thời ngài đã tự hiến cho Thiên Chúa, và chính tại nơi đây, ngài phú dâng linh hồn trong tay Chúa.

    Năm 1087, Myra rơi vào tay người Thổ, người ta vội đưa hài cốt vị thánh về Bari gần Naples. Từ đó, huyền thoại đời ngài lại lan rộng. Mỗi miền nói theo cách của mình. Dân ca Đông phương coi ngài như một vị chúa trên trời. Đối với người Nga, ngài là thừa kế thần linh lo chuyện gặt hái. Siberia cho ngài là người chế tạo rượu “bia”.

    Các vua nước Pháp sùng kính ngài. Các chủ tịch luật sư đoàn cầm gậy có hình Thánh Nicôla. Bên Tây phương, lễ Thánh Nicôla trở thành lễ của thiếu nhi vì làm sao các em lại không yêu mến vị thánh nhân hậu đã cứu 3 đứa trẻ đi mót lúa được? Vị giám mục đầy huyền bí này sau cùng đã trở thành ông già Noel ngày nay.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 07 tháng 12

    Thánh AMBRÔSIÔ, Giám Mục và Tiến Sĩ Hội Thánh (339-397)

    Thánh Ambrôsiô chào đời khoảng năm 339 tại Augusta Trevororum. Cha ngài, ông Aurlio Ambrôsiô làm tổng trấn xứ Gauules và là nghị sĩ viện quí tộc. Nhưng ông chết sớm, mẹ ngài trở về Roma với 3 người con: Ambrosiô. Marcellina và Satyra, cả 3 đều nên thánh.

    Ambrôsiô chưa lãnh phép rửa tội như thói quen thời ấy hay chần chừ, sợ mất ơn phép rửa tội, nhưng ngài đã sống tuổi thơ ấu đạo đức. Lớn lên, ngài tỏ ra thông minh đặc biệt, nổi tiếng về thơ văn, tài hùng biện và luật pháp. Thuộc dòng quí tộc, Ambrôsiô được đặt làm lãnh sự tỉnh Emilia và Liguria với thị trấn là Milan. Probus, vị tổng trấn theo Kitô giáo đã khuyên ngài: “Hãy đi và hành động như một giám mục hơn là quan án”.

    Và người ta thán phục nhà quí tộc Kitô giáo vì sự khôn ngoan tỉnh thức và hiền hậu của ngài. Giám mục Milan qua đời, một cộng đoàn tập hợp trong nhà thờ, người ta gây ồn ào xáo trộn tại đó vì chiahai phe: phe Công giáo và phe theo Ariô. Ambrôsiô với tư cách là nhà cầm quyền đã đến dàn xếp. Ngài diễn thuyết kêu gọi hoà bình và khuyên dân chúng khôn ngoan chọn lựa, ngài nói một cách đáng phục đến nỗi mọi tín hữu đều một tiếng kêu lớn: “Ambrôsiô làm giám mục”.

    Hết còn phân ly, người ta ôm nhau khóc vì vui mừng. Hoàng đế Valentinô đã chuẩn nhận việc tuyển chọn bất ngờ này.

    Lúc ấy, Ambrôsiô còn là một dự tòng, nên cảm thấy mình bất xứng để làm cha linh hồn của cả đoàn dân Ngài. Ngài đã có lần trốn thoát đến nỗi còn muốn gây cớ xúc phạm để tỏ ra bất xứng, nhưng vẫn không đánh lừa nổi ai. Ngài còn viết thư cho các giám mục và hoàng để xin cáo lui, nhưng hoàng đế còn bày tỏ lòng thán phục: “Không có một tinh thần nào ngay chính hơn, đây là một tay lái không thể uốn cong được”.

    Ambrôsiô dành nhiều miễn cưỡng chấp nhận. Ngày 24-11, ngài chịu phép Rửa Tội. Ngày 7-12-374, ngài đã thụ phong linh mục và được thánh hiến giám mục. Ngài nói: “Tôi bắt đầu dạy dỗ điều mà tôi không được học”.

    Ambrôsiô không coi mình như người thuộc thế gian nữa, ngài phân phát của cải cho người nghèo và dâng đất đai cho Giáo Hội. Một phần đêm khuya dành để cầu nguyện và học hỏi. Ngài học các tác phẩm Kitô giáo, nhất bằng tiếng Hy Lạp và đào sâu thần học. Buổi rạng đông, dâng lễ rồi vào bàn làm việc. Ngài rao giảng để tái hồi giáo phận bị xáo trộn bởi phái Ariô. Ngài mở rộng cửa tiếp đón mọi người cần đến mình. Thánh Augustinô mà ngài góp phần cải hóa đã gọi ngài là thầy. Khi dạy dỗ, ngài tỏ ra hiền hậu mà người ta gọi là “sự ngọt ngào của Ambrôsiô”.

    Khi ngồi toà, ngài đã khóc như chính mình là tội nhân. Không có giờ ăn, ngài như chay tịnh liên tiếp. Việc mục vụ nặng nề không ngăn cản ngài tỏ ra là một thủ lãnh quyết bảo vệ đức tin Công giáo. Ở Roma, tại cung điện nữ hoàng Justina theo Ariô, muốn chiếm nhà thờ Milan, giám mục chống lại và quyết bảo vệ thánh đường. Từ Chúa Nhật Lễ Lá tới Thứ Năm Tuần Thánh, một đoàn người công hãm thánh đường. Ambrôsiô dùng việc giảng dạy và thánh ca để giữ tín hữu. Những người yêu mến Ngài làm thành một hàng rào bao quanh ngài. Cuối cùng, chiến thắng về tay Ambrôsiô. Ngài vẫn luôn tỏ thái độ cương quyết như thế.

    Đế quốc rơi vào tay Theodosiô. Vị tân hoàng đế rất quí chuộng và kính trọng giám mục. Đức giám mục cũng yêu mến ông bằng tình phụ tử, nhưng không vì thế mà thành ra yếu đuối bất công. Theodosiô trên đài vinh quang, để trừng phạt cuộc nổi loạn ở Thesalonica, đã ra lệnh tàn sát dã man. Thánh Ambrôsiô viết thư quở trách, bắt ông hối cải và cấm vào thánh đường. Ít lâu sau, Theodosiô chiến thắng trở về Milan với binh sĩ muốn vào thánh đường, đức giám mục đứng ở cưả ngăn ông lại và trách cứ ông. Hoàng đế lui về hoàng cung thống hối trong tám tháng. Ngày lễ Giáng Sinh, ông khóc lóc xin tha tội. Ông cởi áo bào, phục dưới thềm nhà thờ và xếp hàng giữa đám tội nhân công khai. Không bao giờ ông còn chiếm chỗ danh dự nơi cung thánh nữa. Dân Milan rất thán phục vị vua đã đền tội cách quảng đại như vậy.

    Về sau, ông lại đi dẹp một cuộc nổi loạn mới. Thánh Ambrôsiô lại viết cho ông: “Chiến thắng của vua sẽ bất toàn nếu vua không tha cho các kẻ nổi loạn”.

    Vua đã tha. Trở về, Ambrôsiô ôm ông và khóc vì vui mừng. Vua đã qua đời trong tay vị giám mục. Với hoàng tử kế vị. Thánh Ambrôsiô nói: “Ông không phải làm vua để phục vụ lợi ích gia đình mình thôi, nhưng là để cai quản mọi người”.

    Và đối với vị vua băng hà, thánh Ambrôsiô nói: “Tôi yêu mến con người này, vì đã ưa người quở trách mình hơn bọn nịnh thần. Hoàng đế đã không mắc cỡ khi hoàn tất việc thống hối công khai và không ngày nào mà không khóc lỗi lầm mình”.

    Thánh Ambrôsiô còn sống thêm hai năm sau cái chết của vua Theodosiô. Nghe loan báo về cơn bệnh của ngài, một viên chức của nhà vua tuyên bố: “Con người này mà chết đi thì Italia sẽ bị đe doạ tàn phá đến nơi”.

    Danh tiếng của ngài vang dội đến nỗi rợ dân đã không dám chống lại ngài. Có những thủ lãnh tin rằng: ngài có thể ngưng mặt trời lại. Ngài đã hạnh phúc dùng thư tín mà cải hoá được nữ hoàng Marcômans. Trước khi qua đời ngày 4-4-379, ngài đã tổ chức các tòa giám mục miền bắc Italia. Theo một tường thuật, ngài đã nằm, tay chéo lại như hình Thánh giá và người ta có thể thấy như môi ngài vẫn cầu nguyện không ngừng.

    Gần mộ ngài sẽ đặt phần mộ Marcellina, người em mà ngài yêu quý hơn cả. Con người và sự sống của thánh nữ chính nhờ sự dẫn dắt của ngài đã hiến mình cho Thiên Chúa. Thánh Ambrôsiô đã để lại một công trình đáng kể.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 6 tháng Mười Hai 2017 at 8:25 PM
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 08 tháng 12

    Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội

    Một trong những lễ đẹp lòng trái tim Mẹ Maria nhất, chắc chắn là lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Thánh lễ này nhằm tôn kính đặc ân riêng cho Mẹ là đã được thụ thai trong lòng Thánh Anna một cách tinh tuyền không vương tì ố. Thiên Chúa đã giữ gìn Mẹ khỏi tội tổ tông, tội mà vì mọi người chúng ta khi sinh ra đều vướng mắc vì thuộc dòng giống Adam. Đức Maria, do một đặc ân duy nhất, từ lúc hình thai, vẫn luôn tinh tuyền xinh đẹp trước mặt Chúa. Bởi vậy, do ơn thánh và do cuộc sống, Mẹ luôn là đối tượng đẹp mắt Chúa, theo như lời Thánh Kinh đã được quy về Mẹ: Mẹ tuyệt mỹ, không hề vương vấn tội tình.

    Người ta có thể tự hỏi, làm sao lại có đặc ân này? Để trả lời cho trường hợp đặc biệt này, chúng ta chạy đến ơn phúc của Chúa Giêsu Kitô. Ơn cứu chuộc của Chúa Kitô đã có sức mạnh toàn năng để cứu nhân loại khỏi tội nguyên tổ, cũng đã giữ gìn cho Mẹ khỏi tội tổ tông. Chắc chắn đây là một phép lạ, nhưng phép lạ này không lạ lùng hơn các điều kỳ diệu trong cuộc đời Đức Mẹ. Hơn nữa, các dặc ân khác Đức Mẹ thụ hưởng mà chúng ta chấp nhận sễ dàng, đều là hiệu quả của ơn vô nhiễm nguyên tội và giả thuyết ơn huệ này, nếu chối bỏ ơn vô nhiễm nguyên tội, mỗi biến cố trong cuộc đời Đức Maria đều giả thiết một phép lạ mới, nhưng với ơn vô nhiễm nguyên tội, mọi điều đều có thể giải thích được dễ dàng, vì không vương mắc tội nguyên, Mẹ Maria vượt qua tất cả những gì là hiệu quả và hình phạt do tội gây nên, như tình tư dục, thống khổ và tan rữa sau khi chết. Con người không mắc tội nguyên tổ là một bí ẩn không thể giải thích nổi. Đức Maria, nếu mắc tội nguyên tổ lại còn là một bí ẩn khó giải thích hơn nữa.

    Niềm tin vào sự vô nhiễm nguyên tội của Mẹ Maria là một niềm tin không thễ thay đổi. Các nhà thần học đã chứng minh điều đó, các giáo phụ giảng dạy, các nhà giảng thuyết phổ biến... nhưng thời đại của chúng ta được thấy sự vinh quang cao cả này trở thành tín điều trong đức tin Kitô giáo, ngày 8-12-1854, trước sự hiện diện của 54 hồng y, 42 tổng giám mục và 92 giám mục cùng đoàn người đông đảo, Đức Giáo hoàng Piô IX, vị đại diện Chúa Kitô, đã tuyên bố tín điều từ bao thế kỷ đợi trông. Chúng ta kể ra một vài lý do khiến Giáo Hội công bố tín điều: Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.

    1. Chúa Giêsu Kitô, vì sự thánh thiện của Ngài, phải được sinh ra bởi người mẹ vô nhiễm nguyên tội. Đấng thấy cả tì vết nơi các thiên thần, lại chịu sinh ra từ một thân thể bị nhơ nhớp vì tội lỗi được sao? Thân xác của Chúa Kitô là xác thân bởi Mẹ Maria. Vậy nếu Mẹ Maria thụ thai trong tội, hẳn Ngài đã thông truyền cho Chúa Giêsu một xác thể bị nhơ uế vì tội lỗi. Quả là một điều ô nhục cho Chúa Giêsu một xác thể bị nhơ uế vì tội lỗi. Quả là một điều ô nhục cho Chúa!

    2. Vinh quang của Chúa Giêsu phải giữ cho Mẹ Người khỏi vết nhơ tội nguyên. Mục đích của Chúa Con khi xuống trần gian này là để huỷ diệt sự uy quyền của quỷ dữ và tội lỗi. Người đã thắng ma quỷ khi nhờ phép rửa tội, đưa các Kitô hữu ra hỏi vòng tội lỗi, thanh tẩy các tội nhân nhờ phép giải tội. Người đã thắng ma quỷ cả trước khi Người sinh ra, như khi thánh hoá từ lòng mẹ tiên tri Giêrêmia, Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giuse bạn Đức Trinh Nữ.

    Nhưng những chiến thắng này chưa hoàn toàn. Còn một lúc mà quyền lực hoả ngục khoe khoang rằng: có thể làm cho ơn thánh bị vô hiệu, đó là lúc thụ thai. Vậy sự chiến thắng sẽ hoàn hảo nếu Mẹ Maria được ơn vô nhiễm nguyên tội, đặc ân này thể hiện lời hứa đã được loan báo từ trước: “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp nát đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” (St 3,15).

    Niềm tin vào ơn vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria đã được chính Đức Mẹ chứng thực. Năm 1858, nghĩa là chỉ bốn năm sau ngày tuyên bố tín điều, Mẹ đã hiện ra tại Lộ Đức và tuyên bố: Ta là Đấng vô nhiễm nguyên tội ngay từ buổi đầu thai.

    Việc mừng trọng thể lễ Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội vào Mùa Vọng có một ý nghĩa đặc biệt, như mừng “cuộc chuẩn bị căn bản cho Đấng Cứu Thế xuất hiện, vầng đông sáng tươi của một Hội Thánh không tì vết” (Marialis Cultus 3).

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 09 tháng 12

    Thánh Juan Diego

    Vào tháng Tư năm 1990, tại Vatican, Juan Diego được ÐTC Gioan Phaolô II nâng lên Bậc Ðáng Kính. Và một tháng sau, trong chuyến viếng thăm Ðền Thánh Ðức Mẹ Guadalupe lần thứ hai, ÐTC Gioan Phaolô II đã Chủ tế thánh lễ Phong Chân Phước cho Juan Diego.

    Vào tháng Bảy năm 2002, ÐTC Gioan Phaolô II viếng thăm Ðền Thánh Ðức Mẹ Guadalupe một lần nữa, và tại đây, ngài Chủ tế Thánh Lễ Tôn Phong Hiển Thánh cho Juan Diego.

    Thánh Juan Diego là ai?

    Hầu hết các sử gia đều đồng ý rằng, Juan Diego sinh vào năm 1474, tại Calpulli hay còn gọi là Tlayacac ở Cuauhtitlan, nằm cách Tenochtitlan (Thành Phố Mexicô) khoảng 14 cây số về phía Bắc. Là một ngôi làng được các người của Bộ Lạc Nahua thiết lập vào năm 1168, và bị Lãnh Chúa Axayacalt của dân Aztec đánh chiếm vào năm 1467.
    Tên thật của Juan Diego là Cuauhtlatoatzin, có nghĩa là " con người nói như đại bàng" hay "như đại bàng nói".

    Tập tài liệu "Nican Mopohua" diễn tả ngài như là một "macehualli" nghĩa là "người thổ dân nghèo", một người không thuộc về bất cứ một tầng lớp xã hội nào, chẳng phải là Thực dân, Tư tế, Chiến sĩ hay Thương gia..., nhưng cũng không phải là một nô lệ; là một thành phần thấp nhất, loại cùng đinh trong thời đế quốc Aztec. Khi nói chuyện với Ðức Bà, ngài tự xưng mình là "một kẻ chẳng là gì" (a nobody), và để trả lời với Ðức Bà rằng ngài chẳng có địa vị gì đáng tín nhiệm để chuyển đạt mệnh lệnh của Ðức Bà tới Ðức Giám Mục.

    Ngài là một người hăng say chăm lo làm việc tại nông trại chuyên sản xuất thảm cỏ. Ngài có một miếng đất nhỏ và ở trong một ngôi nhà nho nhỏ trên miếng đất đó. Ngài sống hạnh phúc bên người vợ hiền nhưng không có con.

    Khoảng giữa năm 1524 đến 1525 ngài cùng với vợ gia nhập Giáo hội Công giáo và được Rửa tội với tên thánh là Juan Diego, và tên thánh của vợ là Maria Lucia. Ngài được Rửa tội bởi một cha thừa sai dòng Phanxicô nổi tiếng và rất đáng yêu tên là Fray Toribio de Benavente, và người thổ dân thường gọi cha với tên là "Motolinia", nghĩa là "kẻ nghèo hèn", vì ngài rất tốt lành và rất dễ mến với tất cả mọi người.

    Dựa theo những nghiên cứu chính thức thủa ban đầu của Giáo hội về những sự lạ đã xảy ra, Những tài liệu về Ðức Bà Guadalupe vào năm 1666, Juan Diego là một tín đồ rất nhiệt thành, ngay cả trước khi ngài gia nhập Giáo hội Công giáo. Là một người đầy nghiêm nghị, trầm lặng và thường hãm mình đền tội và thường đi bộ từ nhà của ngài tới làng Tenochtitlan, cách xa khoảng 22 cây số, để được hướng dẫn về giáo lý.
    Vợ của ngài bị bệnh và qua đời vào năm 1529. Sau đó, Juan Diego dọn nhà về ở với người chú tên là Juan Bernadino ở Tolpetlac, gần với nhà thờ ở Tlatilolco-Tenochtitlan hơn, chỉ cách khoảng 14 cây số.

    Mỗi ngày thứ Bảy và Chúa Nhật, ngài đi bộ tới nhà thờ, thường đi từ sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, để kịp tham dự Thánh Lễ và dự những giờ hướng dẫn giáo lý. Ngài đi bộ với chân không, giống như bao nhiêu người macehualli khác thuộc tầng lớp như ngài. Chỉ có những người thuộc những tầng lớp cao hơn của xã hội mới có giày hay xăng đan những loại được làm bằng sợi hay bằng da để mang, Vào những ngày lạnh giá, ngài thường mặc một chiếc áo "tilma" vải thô quấn choàng qua vai, loại vải bông thì chỉ có những người dân Aztec thuộc hạng cao cấp hơn mới có mà mặc.

    Một trong những lần trên đường đi bộ tới Tenochtitlan, khoảng 3 tiếng rưỡi để đi từ làng và qua các ngọn núi, và ngài đã gặp Ðức Mẹ hiện ra vào lần thứ nhất tại một địa điểm mà ngày nay gọi là "Capilla del Cerrito", tại nơi này, Ðức Mẹ nói với ngài bằng tiếng thổ dân của ngài. Ðức Mẹ gọi ngài là "Juanito, Juan Dieguito", "Người con khiêm nhượng nhất của Ta", "người con bé mọn nhất của Ta", "người con bé nhỏ yêu dấu của Ta".

    Lúc đó ngài đã 57 tuổi, chắc chắn đã là lứa tuổi đủ già đối với một người đàn ông đã trên 40 rồi.

    Sau sự lạ Ðức Mẹ hiện ra tại Guadalupe, Juan Diego dọn đến ở trong một căn phòng sát với Nhà Nguyện có giữ Bức Ảnh Thánh, sau khi đã trao hết công việc làm ăn và của cải cho người chú; và ngài sống những ngày còn lại của cuộc đời để phổ biến sự lạ Ðức Mẹ hiện ra cho những người đồng hương của ngài.

    Ngài qua đời vào ngày 30 tháng 5 năm 1548, hưởng thọ 74 tuổi.

    Juan Diego là một người yêu mến Phép Thánh Thể, và được phép đặc biệt của Ðức Giám Mục cho phép ngài được lãnh nhận Phép Thánh Thể 3 lần trong một tuần, được nhiều hơn bình thường theo như quy định vào thời đó.

    ÐTC Gioan Phaolô II ca tụng đức tin đơn sơ và việc chăm chỉ học giáo lý của Juan Diego, và đặt ngài (là người tự xưng với Ðức Mẹ: "con chỉ là một kẻ chẳng là gì, con chỉ là một sợi giây nhỏ, một chiếc thang tí hon, một mẩu đuôi, một chiếc lá") là mẫu gương của sự khiêm nhượng cho tất cả mọi người chúng ta.

    ~~~~~~~~~~~~~~~

    Bài Giảng Phong Thánh của ÐTC Gioan Phaolô II cho Vị Thụ Khải Juan Diego

    1. “Con tạ ơn Cha… vì Cha đã giấu kẻ khôn ngoan tri thức những điều này và Cha đã tỏ chúng cho những kẻ bé mọn” (Mt 11:25-26).

    Anh Chị Em thân mến,

    Những lời Chúa Giêsu nói đây trong bài Phúc Âm hôm nay là một lời rất đặc biệt mời gọi chúng ta hãy ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa về tặng ân có một vị Thánh bản xứ Mỹ Châu.

    Tôi hết sức vui mừng được hành hương tới Đền Thờ Đức Mẹ Guadalupe, một trung tâm Thánh Mẫu của Mễ Tây Cơ và Mỹ Châu, để công bố thánh đức của Juan Diego Cuauhtlatoatzin, một người Da Đỏ đơn sơ khiêm tốn đã được chiêm ngưỡng dung nhan dịu dàng và uy nghi của Đức Bà Tepeyac rất thân yêu của nhân dân Mễ Tây Cơ.

    2. (ĐTC cám ơn và chào các chức sắc trong đạo ngoài đời và cả dân bản xứ)

    3. Juan Diego được ví giống như gì? Tại sao Thiên Chúa lại nhìn đến Ngài? Sách Sirach, như chúng ta vừa nghe, dạy chúng ta rằng chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng “toàn năng; Ngài được vinh danh bởi thành phần thấp hèn” (3:20). Những lời của Thánh Phaolô, cũng được công bố trong lễ hôm nay, đã làm sáng tỏ đường lối thần linh trong việc Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ của Ngài: “Thiên Chúa đã chọn những gì hèn kém và bị khinh thường trên thế gian…. Để không ai có thể huyênh hoang trước mặt Thiên Chúa” (1Cor 1:28-29).

    Thật là cảm động khi đọc câu truyện được viết lên một cách tinh tế và dễ thương về Đức Mẹ Guadalupe. Nơi câu truyện này, Đức Trinh Nữ Maria, người tỳ nữ, Vị “tôn vinh Chúa” (Lk 1:46), đã tỏ mình cho Juan Diego như Mẹ thật của Thiên Chúa. Để làm bằng chứng, Mẹ đã cho Juan Diego những hoa hồng quí giá, và khi Juan Diego tỏ cho vị giám mục biết thì Juan Diego mới khám phá ra chiếc áo khoác của mình có thánh ảnh Đức Mẹ.

    Như Hàng Giáo Phẩm Mễ Tây Cơ đã cho thấy: “Biến cố Guadalupe đã mở màn cho cuộc truyền bá phúc âm hóa với một nguồn sinh lực ngoài lòng mong ước. Sứ điệp qua Mẹ của Người, đã tiếp nhận những yếu tố chính nơi văn hóa bản xứ, thanh tẩy chúng và ban cho chúng ý nghĩa cứu độ tối hậu” (14/5/2002, đoạn 8). Như thế, Guadalupe và Juan Diego mang một ý nghĩa sâu xa về Giáo Hội và truyền giáo, và là một khuôn mẫu cho việc truyền bá phúc âm hóa hoàn toàn hội nhập văn hóa.

    4. “Chúa từ trời nhìn xuống, Ngài thấy tất cả mọi con cái loài người” (Ps 33:13), chúng ta cùng với vị Tác Giả Thánh Vịnh đọc những lời này để một lần nữa tuyên xưng đức tin của chúng ta nơi Thiên Chúa, Đấng không phân biệt chủng tộc hay văn hóa. Trong việc chấp nhận sứ điệp của Chúa Kitô mà không đánh mất căn tính bản xứ của mình, Juan Diego đã khám phá thấy sự thật sâu xa về một nhân loại mới, đó là chúng ta được kêu gọi trở nên con cái Thiên Chúa. Như thế, ngài đã làm cho cuộc gặp gỡ tốt đẹp giữa hai thế giới thành dễ dàng, và ngài trở nên một nhà cải cách cho một thứ căn tính mới của Mễ Tây Cơ gắn liền với Đức Mẹ Guadalupe, Đấng có một bộ mặt lai, bộc lộ cho thấy vai trò từ mẫu thiêng liêng ôm ấp tất cả mọi người Mễ Tây Cơ của Mẹ. Đó là lý do tại sao cái chứng từ Ngài đã sống phải được tiếp tục là nguồn hứng khởi trong việc xây dựng một đất nước Mễ Tây Cơ, trong việc phấn khích tình huynh đệ nơi tất cả mọi con cái của nước này, và giúp vào việc hòa giải nước Mễ Tây Cơ với các gốc rễ, giá trị và truyền thống của nó.

    Công việc cao cả xây dựng một nước Mễ Tây Cơ tốt đẹp hơn, công chính và đoàn kết hơn, đòi tất cả mọi người phải hợp tác với nhau. Đặc biệt, hôm nay đây, cần phải hỗ trợ các thành phần dân bản xứ theo khát vọng của họ, tôn trọng và bênh vực những giá trị chân chính của mỗi một nhóm thiểu số. Mễ quốc cần đến những người dân bản xứ này và những người dân bản xứ này cần đến Nước Mễ!

    Anh Chị Em của mọi sắc tộc Mễ Quốc và Mỹ Châu thân mến, hôm nay, trong việc ca tụng Juan Diego người Da Đỏ, tôi muốn bày tỏ cho tất cả mọi người trong anh chị em thấy được sự gắn bó của Giáo Hội cũng như của vị Giáo Hoàng này, ở chỗ yêu thương ấp ủ anh chị em và phấn khích anh chị em hãy tin tưởng thắng vượt những lúc khó khăn anh chị em gặp phải.

    5. Ở vào giây phút quyết liệt của lịch sử Mễ Quốc đây, một lịch sử đã bước qua ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba, Tôi ký thác cho lời cầu bầu quyền năng của Thánh Juan Diego các niềm vui và hy vọng, những nỗi sợ hãi và lo âu của nhân dân Mễ Quốc, một nhân dân Tôi ôm ấp trong lòng.

    Hỡi Vị Juan Diego diễm phúc, một con người Kitô hữu Da Đỏ tốt lành, vị được người đời thường gọi là thánh! Chúng tôi xin ngài hãy đồng hành với Giáo Hội trong cuộc lữ hành ở Mễ Quốc, để Giáo Hội mỗi ngày có thể truyền bá phúc âm hóa hơn và truyền giáo hơn. Xin hãy phấn khích các vị giám mục, nâng đỡ các linh mục, khơi lên những ơn gọi mới và thánh hảo, giúp cho tất cả những ai hiến đời mình cho Chúa Kitô và cho việc truyền bá Nước Trời.

    Hỡi Vị Juan Diego hạnh phúc, một con người chân thực và thành tín! Chúng tôi ký thác cho ngài anh chị em giáo dân của chúng tôi, để khi cảm nhận được ơn gọi nên thánh của mình, họ có thể làm cho mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội được thấm nhuần tinh thần Phúc Âm. Xin ngài chúc lành cho các gia đình, hãy làm cho các cặp vợ chồng kiên cường sống đời hôn nhân của họ, xin hãy nâng đỡ những nỗ lực của các bậc phụ huynh trong việc dưỡng dục con cái thành người Kitô hữu. Xin ngài hãy đoái nhìn đến nỗi thương đau của những ai đang khổ sở về phần xác hay trong tinh thần, đến những ai bị nghèo túng, lẻ loi, bị bỏ rơi hay bị quên lãng. Chớ gì tất cả mọi người, các vị lãnh đạo dân sự và thường dân, luôn luôn tác hành theo những đòi hỏi của công lý và tôn trọng nhân phẩm mỗi người, nhờ đó hòa bình được vững chắc.

    Hỡi Vị Juan Diego yêu dấu, “con đại bàng phát ngôn”! Xin hãy tỏ cho chúng tôi con đường dẫn tới “Vị Trinh Nữ Đen”, Tepeyac, để Người nhận lấy chúng tôi trong thâm tâm của Người, vì Người là Mẹ ưu ái, xót thương, Đấng dẫn chúng tôi đến cùng Vị Thiên Chúa chân thật. Amen.

    (Nguyên ngữ Tây Ban Nha, do Vatican Press Office phổ biến, bản tiếng Anh của Màn Điện Toán Zenit; Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch sang Việt Ngữ)
     
  7. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 11 tháng 12

    Thánh ĐAMASÔ I, Giáo Hoàng (305-384)

    Đây là một vị Giáo Hoàng sáng chói trong Hội Thánh. Ngài đã xác nhận quyền tài thẩm trên toàn thể Giáo Hội là do Thánh Phêrô lãnh được bởi Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Libêriô đã chú ý tới Linh mục Damasô gốc Tân Ban Nha và đặt ngài làm tổng phó tế cai quản Giáo Hội. Khi hoàng đế Constance ủng hộ phái Ariô bắt ĐGH Libêriô đi đày. Damasô đi theo ngài. Nhưng Đức Libêriô cảm thấy mình sắp chết, và để chiều theo ý ngài, Damasô trở lại Roma, nơi ngài sẽ được chọn làm Giáo Hoàng.

    Giữa những phiến động, phân ly và xáo trộn, triều đại Giáo Hoàng của ngài khổ não tột cùng. Dầu vậy, chính những điều đó làm nên vinh quang cho Đức Giáo Hoàng. Là nhà trí thức, khảo cổ và thi nhân, ĐGH Damasô đã lưu giữ những chứng liệu quý báu về Roma của Kitô giáo thời xưa, ngài đã sửa sang phần mộ các thánh tử đạo, trước tác những vần thơ để ở mộ bia. Những nét chữ đẹp trên các mộ mênh danh là “chữ Damasô”. Ngài cho xây nhiều đại thánh đường và nhiều nhà từ thiện.

    Chúng ta phải biết ơn Thánh Damasô nhiều, vì ngài đã nhận thức được tài năng giá trị của thánh Hiêrônimô và đã trao phó trách nhiệm hiệu đính bản dịch Thánh Kinh. Chính ngài đã kết các thánh vịnh bằng kinh Sáng Danh.

    Giữ cho đức tin được tinh ròng ở cộng đồng Nicêa chống lại phái Ariô, ĐGH Damasô đã triệu tập nhiều công đồng. Công đồng Constantinople đã đưa ngài tới danh hiệu cao cả nhất là “viên ngọc của đức tin”.

    ĐGH Damasô đã viết nhiều vần thơ đề mộ bia. Có một tấm ngài viết về chính mình và đăt ở nghĩa trang Thánh Callistô: “Tôi, Damasô muốn được chôn cất tại đây, nhưng tôi sợ phàm tục hoá xương cốt các thánh nhân”.

    Bởi vậy, ngài đã được chôn cất trong một thánh đường ở Via Ardeatina.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  8. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 12 tháng 12

    Đức Trinh Nữ Guadalupe

    [​IMG]

    Một Thánh lễ để vinh danh Ðức Mẹ Guadalupe đã có từ thế kỷ 16. Niên sử của thời đại đó kể cho chúng ta biết câu chuyện sau đây.

    Một người thổ dân nghèo hèn tên Cuatitlatoatzin được rửa tội và lấy tên là Juan Diego. Ông 57 tuổi, goá vợ và sống trong một làng nhỏ gần Mexico City. Vào buổi sáng thứ Bảy, 9-12-1531, ông đến nhà nguyện gần đó để tham dự lễ kính Ðức Mẹ.

    Khi đang đi trên ngọn đồi gọi là Tepeyac thì ông nghe có tiếng nhạc du dương như tiếng chim hót. Sau đó một đám mây sáng chói xuất hiện, đứng trên đám mây là một trinh nữ người thổ dân mặc y phục như công chúa của bộ lạc Aztec. Trinh nữ nói chuyện với ông bằng tiếng bản xứ và sai ông đến với Ðức Giám mục của Mexico, là một tu sĩ dòng Phanxicô tên Juan de Zumarraga, và yêu cầu đức giám mục xây cất một nguyện đường nơi Trinh Nữ hiện ra.

    Dĩ nhiên vị giám mục không tin và bảo Juan Diego xin Trinh Nữ cho một dấu chỉ. Trong thời gian này, người chú của ông bị bệnh nặng. Ðiều đó khiến ông cố tránh né không muốn gặp Trinh Nữ. Tuy nhiên, Đức Trinh Nữ tìm ông, đảm bảo với ông là người chú sẽ khỏi bệnh, và bảo ông hái các bông hồng quanh đó để làm bằng chứng với vị giám mục. Lúc ấy là mùa đông thì không thể có bông hoa nào mọc được, nhưng lạ lùng thay, gần chỗ Trinh Nữ hiện ra lại đầy dẫy những hoa hồng tuyệt đẹp. Và ông đã dùng chiếc áo tơi của mình để bọc lấy các bông hồng đem cho vị giám mục.

    Trước sự hiện diện của đức giám mục, ông Juan Diego mở áo tơi ra và bông hồng đổ xuống tràn ngập khiến vị giám mục phải quỳ gối trước dấu chỉ lạ lùng ấy. Lạ lùng hơn nữa, trên chiếc áo tơi lại có in hình Ðức Trinh Nữ như ngài đã hiện ra với ông ở đồi Tepeyac. Ðó là ngày 12-12-1531.

    Mẹ Guadalupe

    Có thể nói, đối với những người Công giáo ở Châu Âu, thì Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Mẹ Fatima rất đỗi thiêng liêng đối với họ; còn đối với phần còn lại của thế giới tính luôn cả Nam và Bắc Mỹ Châu Latinh, thì việc sùng kính Đức Mẹ Guadalupe quả cũng thánh thiện và trang trọng không kém. Người Mỹ Châu Latinh nhìn chung dẫu rất nghèo, rất giản dị, và rất tầm thường - thế nhưng lòng đạo đức và sự chân chất của họ quả đúng là điều đáng học hỏi. Hầu như mọi cử chỉ, hành động của họ đều xuất phát từ lòng kính mến một cách rất đặc biệt đến Đức Mẹ Guadalupe.

    Bức hình Đức Mẹ Guadalupe cũng rất là linh thiêng. Do đó, vào ngày Lễ Kính Đức Mẹ Guadalupe, rất nhiều các giáo phận và tổng giáo phận Công giáo tại Hoa Kỳ được tái cung kính và dâng lên cho sự bảo trợ và gìn giữ của Đức Mẹ Guadalupe.

    Hành động này chính là việc lặp lại hành động mà Đức cố Tổng Giám mục Juan de Zumarraga đã làm cho Giáo Hội tại Mêhicô trong những năm thuộc thế kỷ thứ 15. Lúc đó, đang diễn ra hàng ngàn vụ tàn sát những người thuộc thổ dân Aztec tại Mêhicô, cũng giống hệt như những vụ thảm sát một cách tương tàn và vô tội vạ đối với những trẻ sơ sinh chưa được chào đời, cũng như các cuộc chiến có tính chất thảm sát tại khắp mọi nơi trên thế giới vào thời đại ngày nay vậy. Đức cố Tổng Giám mục Zumarraga đã khẩn cầu Đức Mẹ hãy gởi đến cho ngài những Cánh Hoa Hồng Castilian (Castilian Roses) như là một dấu chỉ để chấm dứt ngay những vụ thảm sát tương tàn này. Khi Juan Diego mở tilma (trang phục hay áo) của mình ra ngay trước mặt Đức Tổng Giám Mục, tức thì các cành bông hồng tuôn đổ ra như thác nước, bao gồm luôn cả các Cánh Hoa Hồng Castilian, và hình ảnh của Mẹ xuất hiện một cách rất nhiệm mầu trên chiếc áo mà Thánh Juan Diego đang mặc. Hàng triệu người khi đó đã quay trở lại đạo, và tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa, thay vì các thần khác mà họ đã tôn thờ trước kia. Rất nhiều phép lạ đã xảy ra tại nơi đó.

    Trong lúc hiện ra với Juan Diego, bức thông điệp mà Mẹ nhắn gửi lại, mãi cho đến ngày hôm nay vẫn còn có giá trị hết sức tỏ tường và đích thực đối với từng người trong chúng ta. Bức thông điệp đó chính là:

    “Hãy biết chắc rằng, hỡi người con trai của Ta, hỡi người con bé bỏng của ta, rằng Ta chính là Đức Nữ Trinh Maria rất Thánh và Hoàn Hảo, là Mẹ của Thiên Chúa thật - Đấng hằng sống và cũng là Đấng Tạo Dựng ra toàn thể nhân loại, Đấng làm chủ tất cả những gì gần hay xa, Đấng làm Chủ cả trời lẫn đất. Ta rất mong ước rằng họ xây dựng một ngôi nhà nhỏ thiêng liêng dành cho ta tại nơi đây, một 'Teocalli’, là nơi mà ta sẽ trình bày Ngài, tán tụng Ngài, và làm cho Ngài được vinh hiển. Là nơi mà ta sẽ dâng lên cho Ngài tất cả mọi người với tất cả tình yêu thương của ta, với cái nhìn của lòng trắc ẩn, với sự trợ giúp và cứu rỗi của ta, bởi vì ta thật sự chính là người mẹ đầy lòng nhân ái của con; của riêng con và cũng là mẹ của tất cả những ai sống đoàn kết trên mãnh đất này, và của tất cả nhân loại; của tất cả những ai mến yêu ta; của tất cả những ai than khóc với ta; của tất cả những ai tìm kiếm ta; của tất cả những ai tín thác vào ta. Ở tại nơi đó Ta sẽ lắng nghe tiếng than khóc của họ, sự sầu não của họ, như là cách để làm cạn vơi đi tất cả những nỗi đau khác của họ, những sự thống khổ và sầu não của họ, để cứu chữa và loại bỏ đi tất cả những sự thống khổ của họ”.

    Hình ảnh mà Mẹ đã trao cho Thánh Juan Diego cho thấy Mẹ đang mang thai Chúa Giêsu. Những người thổ dân Aztec đã được Thánh Juan Diego cho nhìn thấy bức ảnh này đã quyết định chấm dứt đi sự thảm sát tương tàn nhau, vì trước đó họ tin rằng Thiên Chúa chống đối lại họ. Hình ảnh này công bố ra một sứ điệp của Phúc Âm đó là “Thiên Chúa ở cùng với Chúng Ta” (God Is With Us), Ngài chính là Emmanuel, để qua đó chúng ta có thể có được niềm hy vọng, nhằm mang đến cho chúng ta một sự can đảm để có thể nói lên hai tiếng “Xin Vâng” với Sự Sống, như chính Đức Mẹ đã nói lên hai lời đó.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~​

    Ngày 12 tháng 12

    Thánh GIOANA PHANXICA CHANTAL (1572 – 1641)

    Gioana Phanxica Fremyet chào đời ngày 23.01.1572 ở Dijon, là con của vị chủ tịch nghị viện. Thuộc một gia đình công giáo đạo đức, ông đã đào tạo con gái của mình nên một đứa trẻ có đời sống tín hữu mạnh mẽ. Học tập như các trẻ em khác, thánh nữ có một tinh thần sống động và tỏ ra vừa vui tươi vừa đứng đắn.

    Dầu còn nhỏ, Gioana Phanxica quyết xa rời những người lạc đạo, Ngài la hét khi có ai trong số họ chạm tới Ngài. Khi đến tuổi hoà mình với đời sống đài các, sự dè giữ của thánh nữ chứng tỏ Ngài đã không ao ước một cuộc sống dễ dãi trống rỗng. Một trong những nhiệt huyết nơi Ngài là được thực hiện những công trình lớn cho Thiên Chúa: Ngài muốn được tử đạo. Ngài đã phát khóc khi thấy những người khốn cực, Ngài nói : – “Nếu không yêu thương người nghèo, tôi thấy mình như không yêu mến Thiên Chúa”.

    Vị bá tước de Chantal thấy rằng : Gioana Phanxica sẽ là người vợ quí nhất trên thế gian. Cuộc hôn nhân hoàn tất. Gioana Fremyet lúc ấy 20 tuổi trở thành Gioana De Chantal. Buổi đầu, vị nữ bá tước trẻ lo âu vì những món nợ cũ phải thanh toán. Nhưng GIOANA đã vui cười bắt tay vào việc. Ngài chỗi dậy từ 5 giờ sáng, dự thánh lễ, dùng ngựa để đi thăm nông trại và đất đai, kéo sợi và may vá với những người giúp việc, Ngài tỏ ra là một người quản lý danh tiếng, đồng thời cũng rất bác ái và dễ yêu đến nỗi người ta gọi Ngài là “bà phúc hậu”.

    Có người còn nói rằng: mình thích mang bệnh để được nữ bá tước viếng thăm, nhưng Ngài cũng biết rằng: săn sóc và mỉm cười chưa đủ, phải có Chúa giúp sức. Chẳng hạn đến với một bênh nhân xem như tuyệt vọng, Ngài thức đêm cầu nguyện và đến sáng thì bệnh nhân được lành. Vị bá tước nhiều lần thấy người vợ đầy lòng bác ái quì cầu nguyện .

    Khi xảy ra nội chiến, cảnh khốn cùng lan rộng cắp làng quê. Vị nữ bá tước đón tiếp các người bị bỏ rơi. Bệnh tật và các trẻ sơ sinh. Đoàn người thiếu ăn trong vòng bảy dặm tuôn đến, Ngài tự tay múc cháo phục vụ mọi người. Thấy người đã được trợ cấp trở lại, Ngài không từ chối giúp đỡ họ và thưa với Chúa : – “Con đến gõ cửa van xin lòng thương xót của Chúa, nào là con có muốn đến lần thứ hai thứ ba mà bị xua đuổi đâu ?”

    Bá tước de Chantal là một sị quan, thường vắng mặt để phục vụ nhà vua nơi triều đình hay trong quân đội. Khi ấy thánh nữ bỏ đồ trang sức và áo nhung, tự khép mình với sáu người con và các việc nội trợ, dành nhiều thời gian hơn để cầu nguyện. Khi bá tước trở về, Ngài tổ chức ăn mừng với nét mặt rạng rỡ vui tươi. Hạnh phúc chiếu sáng tổ ấm gia đình.

    Nhưng trong một cuộc đi săn, bá tước bị tử thương. Ngườivợ trẻ thành góa bụa lúc 28 tuổi, đã đau đớn khóc lóc : – “Lạy Chúa, xin hãy cất đi mọi của cải và con cái, nhưng xin để lại người chồng yêu quí mà Chúa ban cho con”.

    Dầu vậy, trong cơn thất vọng, thánh nữ đã điều khiển được lòng mình và tìm vâng theo thánh ý Chúa. Gioanna Phanxica phải từ giã lâu đài để về sống gần cha chồng. Những người nghèo vây quanh xe Ngài khóc lóc vì họ đã mất người mẹ hiền. Một cảnh huống nặng nề đang đợi Gioanna nơi nhà cha chồng. Người quản gia già nắm mọi quyền bính, bắt Ngài nuôi nấng con cái bà với con cái của thánh nữ. Người đàn bà trẻ đã cố gắng để khỏi bị chống đối, Ngài luôn hiền hậu và không hề làm cha chồng nổi nóng. Ngài cũng tổ chức một phòng thuốc cấp cứu và săn sóc người nghèo. Bảy năm trôi đi trong nếp sống khó khăn và hãm mình.

    Năm 164, Gioanna Phanxica gặp thánh Phanxicô Salesiô. Vị thánh quyết định đời Ngài. Thánh nhân giảng mùa chay tại Dijon và nhận thấy thánh nữ chăm chú nghe mình. Ngài hỏi thánh nữ có ý định tái gái không ? Thánh nữ kêu: – Không !

    Và thánh nhân đã trả lời : – “Vậy phải kéo bảng hiệu xuống”. Chỉ muốn Chúa thôi, đừng làm dỏm, dẹp bỏ tất cả chi tiết phong lưu lẫn lòng kiêu hãnh.

    Gioanna tự lo cho mình, phục vụ người nghèo, lau rửa những người khốn klhổ đầy chấy rận. Mặc đồ sạch sẽ cho họ rồi nấu giặt và vá mạng áo quần cho họ. Thánh Phaxicô Salesiô dẫn Ngài tới sự Thánh thiện bằng đời sống ngày càng kết hiệp sâu xa hơn với Chúa. Thánh nhân cũng qủa quyết rằng: thời giờ đã đến để thánh nữ từ bỏ thế gian. Đường chân thực của thánh nữ là trở nên tu sĩ và thiết lập dòng thăm viếng.

    Gioanna đã anh hùng từ giã gia đình, Ngài dẫn người con gái không lập gia đình là Fracoise để bổ túc việc giáo dục bên cạnh Ngài. Người con trai ở lại với ông nội đã chống lại việc Ngài ra đi và nằm ngang cửa ngăn cản. Cử chỉ của thánh nữ không theo tầm mức của chúng ta: Gioanna lau nước mắt bước qua mình con. Ngài biết rằng: con mình sẽ không bị bỏ rơi, vì Ngài đã trao phó cho người cậu là tổng giám mục Bourges. Và mỗi khi cần đến, Ngài sẽ đi thăm để lo cho lợi ích của các con.

    Tháng 6 năm 1610, thánh nữ đã thiết lập tu viện dầu tiên ở Annecy và khẩn nguyện luôn thực hiện điều gì xem ra hoàn hảo hơn. Danh tiếng của các nữ tu dòng Thăm Viếng tận tâm phục vụ người nghèo, bệnh nhân và giáo dục các thiếu nữ lan rộng mau chóng. Suốt 30 năm, mẹ de Chanltal đã thiết lập nhiều tu viện, hiến mình làm nọi việc.

    Vào cuối đời, Ngài kể lại: – “Tôi như những nữ tá thô kệch thời thu hoạch. Người cha gia đình nói với họ: hãy đến chỗ này, hãy đi chỗ nọ, hãy trở lại cánh đồng này, hãy đi tới chỗ khác. Chẳng hạn người cha diễm phúc của chúng tôi đã nói: hãy đi thiết lập ở Lyon , ở Grenoble, hãy trở lại để đi Bourges, hãy đi Paris, hãy từ giã Paris và trở lại Dijon. Chẳng hạn nhiều năm tôi chỉ đi và đến, khi thì ở một trong những cánh đồng, khi thì ở một nơi khác của cha thân yêu”.

    Nơi nào thánh nữ đi qua, Ngài đều để lại sự êm dịu, sự phấn khởi và niềm tin tưởng. Người ta thấy Ngài chống lại sự nhọc mệt bằng niềm vui và can đảm. Linh động trong công việc, Ngài nấu ăn và coi bò, giờ giải trí, Ngài vui vẻ với các nữ tu… khiến họ nói: “Khi Mẹ chúng ta không giải trí được là thiếu một phần vui tươi êm ái”. Bệnh tật không ngăn cản Ngài săn sóc và nghĩ tới mọi sự .

    Với một trí khôn nhanh nhẹn và chính xác, một lúc, Ngài đọc cho 3 nữ tu ghi chép.

    Mười chín năm trước khi qua đời, Gioanna Phanxica mất người bạn, người cha, người nâng đỡ là thánh Phanxicô Salesio. Sự đau đớn của Ngài thực sự lớn lao. Rồi đến cái chết của người con trai để lại một cháu gái sẽ là nữ nam tước de Sévigné. Các tang lễ liên tiếp nơi các người thân. Nhưng thử thách lớn lao nhất của thánh nữ là những chán nản nội tâm, những cám dỗ kinh khủng nghịch lại đức tin. Ngài không hể tỏ lộ những đau đớn của mình và lấy sự bình thản để phủ lấp những lo âu. Mẹ de Claugy đã nói về những khô khan liên tục của Ngài: – “Chỉ trong cõi đời đời, người ta mới biết hết được”.

    Khi Ngài qua đời, cha giải tội nói : – “Suốt 23 năm, tôi đã thán phục nơi thánh nữ một lương tâm tinh ròng trong suốt và rõ rệt hơn cả pha lê”.

    Trong những hành trình cuối cùng mẹ de Chantal được reo mừng khắp nơi. Khi có dịch hạch ở Annecy, Ngài đã không từ chối bỏ nơi này và tăng gấp các việc bố thí và lời cầu nguyện . Ở St. Germain, hoàng hậu đưa hai người con tới gặp và xin Ngài chúc lành. Ngài hân hạnh được gặp thánh Vinh -sơn Phaolô, Dân Paris chen lấn để mong chạm tới Ngài và nghe Ngài nói. Trở về, Ngài ngã bệnh ở Monlins. Tới phút cuối Ngài vẫn còn lo lắng đến mọi việc. Và sau 3 lần kêu danh Chúa Giêsu, Ngài tắt thở năm 1641, năm 1767 Ngài được tuyên thánh.

    ~~~~~~~~~~~~~~
    Ngày 12 tháng 12

    Thánh Simon PHAN ĐẮC HÒÀ, Y Sĩ (+1840)

    Simon Phan Ðắc Hoà sinh tại làng Mai Vĩnh, Thừa Thiên, trong một gia đình ngoại giáo. Sau khi thân phụ qua đời, Simon Hòa cùng với mẹ và chị tới ở nhờ một gia đình Công Giáo tại làng Nhu Lý (Quảng Trị). Nhờ đó, Simon Hòa học biết đạo và được lãnh phép Rửa tội lúc 12 tuổi. Là một trẻ em thông minh đạo đức, Simon Hoà được gửi học tại trường La Tinh. Nhưng vì mắc ngăn trở gia đình, Simon Hoà không thể tiếp tục đời tu. Tại Nhu Lý, ngài học nghề thuốc và nhờ có năng khiếu nên chữa bệnh rất cao tay. Ngài có lòng thương người và đức tin sáng chói, nên được bầu làm trùm họ. Ngài lập gia đình và sinh hạ được 12 người con. Nhà ngài là nơi các vị thừa sai hay lui tới và đến trú ẩn trong cơn bách đạo. Năm 1839, vua Minh Mạng ra tay bách hại gắt gao, nên ngài rước cố Y (M. Gilles Delamotte) về tạm lánh tại nhà mình. Việc đó khiến cả làng Nhu Lý xôn xao sợ vạ lây. Ngài đã trấn an mọi người và tuyên bố sẵn sàng chịu hết mọi trách nhiệm nếu có chuyện gì xảy ra. Nhưng rồi tình thế nguy ngập, ngài quyết định đem cố Y đi trốn ở An Ninh bằng đường thủy. Rủi ro, ngày 13-4-1840, khi đò vừa tới Hòa Ninh, lính canh trông thấy đuổi theo và bắt được cả hai điệu về Dương Xuân để áp giải ra Quảng Trị. Sau nhiều lần bị tra tấn vô hiệu quả, ngài bị giải về Huế. Dù bị đánh đập, ngài vẫn một lòng tin theo Chúa, không khi nào chịu quá khoá.

    Ngày 12-12-1840, ngài bị điệu đi trảm quyết tại pháp trường An Hoà (Huế) để lãnh triều thiên tử đạo.

    Ngày 27-5-1900, Ðức Lêô XIII đã phong Chân Phước cho ngài và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-6-1988.
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn