Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lễ Các Thánh trong Tháng 12

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 3 tháng Mười Hai 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 03 tháng 12

    Thánh PHANXICÔ XAVIÊ, Tông đồ Ấn Độ và Nhật Bản (1506-1552)

    Phanxicô ra đời tại lâu đài Xaviê thuộc vương quốc Navarre ngày 7-4-1506. Cha ngài là cố vấn của nhà vua miền Navarre và là thẩm phán. Anh em ngài theo binh nghiệp. Riêng Phanxicô ham thích học hành. Năm 19 tuổi, ngài theo học tại Đại học Paris, trường lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Khi còn ở Học viện Thánh Barbe, ngài được phúc trọ cùng phòng với Phêrô Faure, người sau này sẽ nhập dòng Tên và được phong chân phước. Bốn năm sau, ngài lại có được người bạn học giả là Inhatio thành Loyoa.

    Người học trò mẫn cán đã trở thành giáo sư. Ngài dạy triết học. Thành công làm cho ngài thành con người tham vọng. Inhaxiô nói với ngài về một hội dòng mà thánh nhân muốn thành lập. Nhưng Phanxicô mơ tới danh vọng, ngài chế nhạo cũng như khinh bỉ nếu sống nghèo tự nguyện của bạn mình. Inhaxiô vui vẻ đón nhận những lời châm biếm, nhưng lặp lại rằng: “Lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào ích lợi gì”.

    Cuối cùng, Phanxicô đã bị ảnh hưởng. Inhaxiô còn đưa ra những lời cao đẹp hơn: “Một tâm hồn cao cả như anh, không hề chỉ gò bó với cái vinh dự thế trần được. Vinh quang trên trời mới đúng với cao vọng của anh. Thật vô lý, khi ưa chuộng một thứ mây khói chóng tàn hơn là những của cải tồn tại đời đời”.

    Phanxicô bắt đầu thấy được cái hư không của những sự cao trọng của thế nhân và hướng vọng tới của cải vĩnh cửu. Chiến thắng rồi, ngài chống lại tính kiêu căng bằng mọi loại sám hối. Ngài quyết định theo sát Phúc Âm, vâng theo cách cư xử của người bạn thánh thiện và xin được khiêm tốn hãm nình. Ngài chỉ còn chú tâm cứu rỗi các linh hồn.

    Ngày lễ Mông Triệu năm 1533, trong một nhà nguyện tại Monmartre, trên mộ bia thánh Dénis, Phanxicô, Inhaxiô và 5 bạn khác đã hiến mình cho Chúa. Họ khấn từ bỏ mọi của cải, hành hương thánh địa, làm việc để cải hoá lương dân và hoàn toàn đặt mình dưới sự điều động của Đức Thánh Cha để phục vụ Hội Thánh. Phanxicô còn học thần học 2 hai năm nữa, rồi cùng 6 bạn đi Italia. Đi đường, họ chỉ mang theo cuốn Thánh Kinh và sách nguyện trong bị, cổ đeo tràng hạt. Tuyết lạnh hay khắc khổ cũng không làm họ sợ hãi. Trái lại, Phanxicô lại còn cảm thấy quá êm ái nhẹ nhàng, nên một ngày kia đã cột dây thừng vào chân, khiến dây đó ăn vào thịt và ngay việc được khỏi bệnh đó cũng đã là một phép lạ.

    Đoàn quân bé nhỏ đó tới Venatia chống lại quân Thổ. Thế là họ phải bỏ cuôc hành hương đi thánh địa. Đức Thánh Cha đã chúc lành cho nhóm bạn cũng như dự định của họ. Phanxicô và Inhatiô thụ phong linh mục ngày 16-6-1537. Phanxicô đã chuẩn bị thánh lễ mở tay bằng cuộc sám hối kéo dài 40 ngày trong một túp lều tranh bỏ hoang và sống bằng của ăn xin.

    Trong khi chờ đợi bắt đầu thực hiện công việc vĩ đại của mình, ngài rao giảng và săn sóc cho người nghèo trong các nhà thương. Ngài còn phải chiến thắng chính mình nữa, chẳng hạn khi băng bó các vết thương lở loét. Ngài luôn đi ăn xin thực phẩm.

    Khi Phanxicô được 35 tuổi, vua nước Bồ Bào Nha xin Đức Thánh Cha gửi các thừa sai sang Ấn Độ. Phanxicô rất vui mừng khi được chỉ định.

    Ngài bộc lộ cho một người bạn: “Anh có nhớ rằng, khi ở nhà thương tại Roma, một đêm kia, anh đã nghe tôi la: “Còn nữa, lạy Chúa, còn nữa” không? Tôi đã thấy rằng: phải chịu khổ nạn cho vinh danh Chúa Giêsu Kitô. Trước mặt tôi là những hoang đảo, những miền đất báo cho tôi biết trước cơn đói, cơn khát và cả đến cái chết dưới hàng ngàn hình thức. Tôi ao ước được chịu khổ hình hơn nữa”.

    Chỉ còn 24 giờ để chuẩn bị lên đường. Nhưng thế đã quá đủ để xếp đặt hành trang. Với vài bộ đồ cũ. Một thánh giá, một cuốn sách nguyện và một cuốn sách thiêng liêng. Ngài đáp tàu. Cuộc hành trình cực khổ vì say sóng. Đau bệnh, Ngài vẫn săn sóc các bệnh nhân. những thủy thủ hư hỏng dường như là đoàn chiên đầu tiên ngài phải đưa về cho Chúa. Ngài rao giảng cho họ bằng chính việc chia sẻ cuộc sống với họ.

    Sau 7 tháng hành trình, người ta dừng lại bến Mozambique. Khí trời ngột ngạt. Một cơn bệnh dịch đang hoành hành nơi đây. Phanxicô lại săn sóc các bệnh nhân và muốn sống đời cực khổ nhất. Ngài lặp lại: “Tôi khấn sống nghèo khó, tôi muốn sống và chết giữa người nghèo”.

    Sau một năm hành trình, Phanxicô cặp bến Goa, thủ đô miền Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha vào tháng 5-1542. Ngài phát khóc vì vui mừng. Nhưng việc cấp thiết, nhất là phải làm cho những người chinh phục Bồ Đào Nha giữ đạo đã. Những tật xấu và tính hung hăng của họ làm ô danh Kitô giáo. Còn dân An thì thờ ngẫu tượng. Họ vặn đó có con để tế lễ. Vị tông đồ làm thầy thuốc, thẩm phán, giáo viên. Ngài học tiếng một cách khó khăn, thời gian của ngài dành cho các nhà thương, nhà tù, người nghèo và việc dạy giáo lý. Rảo qua đường phố, ngài rung chuông tập họp trẻ em và dân nô lệ lại, với sự nhẫn nại vô bờ, ngài ghi khắc tình yêu Chúa vào lòng họ. Các trẻ em tham dự lại trở thành các nhà truyền giáo cho cha mẹ và thầy dạy của chúng. Chúng mang thánh giá của “ông cha” cho các bệnh nhân. Chúng trở nên hung hăng với các ngẫu tượng. Bây giờ, các cánh đồng lúa vang lên được bài thánh ca. Dần dần, đời sống Kitô giáo đã vững vàng trong lòng các gia đình.

    Phanxicô nghe nói tới một bộ lạc thờ lạy ngẫu thần ở mũi Comorin, sống bằng nghề mò ngọc trai. Muốn loan báo Tin Mừng cho họ, thánh nhân học ngôn ngữ mới, vượt mọi khó khăn để phổ biến đức ái và chân lý. Rồi ngài lại qua các làng khác. Cứ như thế ngài đi khắp Ấn Độ Trong 15 tháng trời, ngài đã rửa tội cho một số đông đảo người Kitô hữu, khiến “xuôi tay vì mệt mỏi”. Người nói: “Mọi ngày tôi đều thấy tái diễn những phép lạ thời Giáo Hội sơ khai”.

    Ngài ngủ ít, đêm thức khuya để cầu nguyện. Sống khắc khổ để đền tội cho các tội nhân. Ngài chăm chú đào tạo các tâm hồn thanh thiếu niên địa phương để sai đi làm tông đồ truyền giáo cho các người đồng hương của họ.

    Ở tỉnh Travancore, trong vòng một tháng, thánh nhân đã rửa tội cho 10.000 người. Người Brames muốn hạ sát ngài, nhưng ngài đã giữ được mạng sống một cách lạ lùng dưới cơn mưa tên. Ở vương quốc Travance, khi nhóm người man-di muốn tràn ngập, Phanxicô cầm thánh giá trong tay với một số ít tín hữu đã làm cho họ phải tháo lui. Ngài mang Tin Mừng tới Ceylanca, Malacca. Các đảo Molluques vang danh vì sự hung tợn của họ, nhất là đảo của dân More ở phía Bắc...

    Ngài nhắm tới đảo này, ngài muốn bị dân cư giết chết như một vị thừa sai 13 năm trứơc đây sao?

    - Người ta ngăn không cho tàu bè chở ngài đi. Phanxicô đáp lại: “Thì tôi bơi tới vậy”.

    - Nhưng ngài sẽ bị đầu độc thì sao? Ngài nói: “Niềm tin tưởng ở Thiên Chúa là thuốc kháng độc”.

    Rồi ngài thêm: “Ôi, nếu như hy vọng tìm được gỗ quý hay vàng bạc, các Kitô hữu đổ xô tới ngay. Nhưng lại chỉ có các linh hồn cần được cứu rỗi. Tôi sẽ chịu khổ gấp ngàn lần để cứu lấy một linh hồn thôi”.

    Phanxicô đã viết thư xin vua Bồ Đào Nha và Thánh Inhatiô gởi các linh mục tới săn sóc cho các cộng đoàn Kitô hữu ngài để lại. Sự khó khăn và chậm chạp về thư tín làm cho đời ngài thêm nhiều phiền phức. Ngài phải mất gần 4 năm để gửi thư từ Moluques về Roma. Dầu giữa các khó khăn mệt nhọc, thánh nhân không để mất tính hiền hậu và khiêm tốn.

    Năm 1549, một người Nhật được ngài rửa tội ở Malacca đã thu hút ngài tới hòn đảo vô danh, chưa có người Kitô hữu nào. Lời cầu nguyện và đời sống hãm mình củng cố lòng can đảm của ngài. Không để mình bị chán nản do ngôn ngữ khó học hay bởi nội chiến. Ngài đã có thể tạo lập được một cộng đoàn Kitô hữu nhỏ như ngài mơ ước. Các phép lạ củng cố lời giảng dạy của ngài, nhưng dân chúng bị đánh động nhiều hơn bởi đức tin và lòng can đảm của người ngoại quốc này đã từ xa đến để loan báo cho họ chân lý duy nhất.

    Được 2 năm, nhà truyền giáo lại ra đi, để lại tại miền đất xa này những cộng đồng Kitô hữu đứng khá vững trong nhiều thế kỷ, dù không có linh mục cai quản.

    Phanxicô trở lại Ấn Độ. Ngài đã rảo qua gần 100.000 cây số trong 10 năm. Bấy giờ, việc chinh phục Trung Hoa ám ảnh tâm hồn ngài. Ngài đáp tàu, nhưng không bao giờ tới được quốc gia rộng lớn này. Vào cuối tháng 11-1552, trên đảo Hoàng Châu, ngài bị lên cơn sốt rét. Giữa cơn đau, ngài đã lặp lại: Lạy Chúa Giêsu, con vua Đavit, xin thương xót con, xin thương đến các tội con.

    Ngài dứt tiếng và không nhận ra được các bạn hữu nữa. Khi hồi tỉnh, ngài lại kêu cầu Chúa Ba Ngôi, Chúa Giêsu và nài xin Đức Mẹ: “Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, xin hãy nhớ đến con”.

    Một người Trung Hoa thấy ngài hấp hối thì đặt vào tay ngài một cây nến. Phanxicô qua đời ngày 3-12-1552. Ít tuần sau, người ta tìm thấy xác ngài vẫn nguyên vẹn và chở về Goa. Dân chúng tại đây nhiệt tình tôn kính ngài, vì đã coi ngài như một vị thánh.

    Năm 1619, Đức Phaolô V đã phong chân phước cho ngài cùng với thánh Inhaxiô. Nay ngài được đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 04 tháng 12

    Thánh GIOAN DAMAS, Tiến Sĩ Hội Thánh (676-754)

    GIOAN chào đời vào lúc thành phố Damas sinh quán của ngài, đang dưới quyền của người Ảrập. Cha ngài là Sergiô được vị Calife (người kế vị của Mahomet) mến chuộng. Đến nỗi dầu là người Kito hữu, ông cũng được đặt làm kẻ thừa hành. Ông quan tâm bảo vệ các tín hữu bị áp bức, hy sinh tiền bạc để chuộc họ. Ngày kia, giữa đám người bất hạnh bị điệu ra nơi công cộng, ông thấy các tử tội qùi xuống dưới chân một người trong nhóm họ xin cầu nguyện... Ông biết được rằng người được khẩn nài đó tên là Cosma, một tu sĩ Italia rất thông thái. Sergiô liền chạy tới vị Calife, xin được lưu giữ Cosma làm thầy dạy cho con mình là Gioan.

    Cosma trở thành bạn của Sergiô, đồng thời là thày dạy của Gioan và của một đứa trẻ Giêrusalem khác mà Sergiô nhận nuôi. Khi kết thúc chu kỳ dạy dỗ, Cosma xin rút lui vào một tu viện. Gioan đã nên lừng danh nhờ trí khôn ngoan và sự hiểu biết của mình và được gởi về triều đình của vị vua Calife. Khi cha ngài qua đời, hoàng tử người Ảrập đặt ngài đứng đầu hội đồng cố vấn và làm thừa tướng vùng Damas. Thế là định mệnh đổi thay của một tu sĩ được cứu mạng, đã khiến cho những hiểu biết của Hy lạp và Roma được đưa vào triều đình của các vị Califes.

    Đế quốc Đông phương lúc ấy do Lêo, người Isauria, cai quản. Ông là một con người bách hại các Kitô hữu. Gioan có thế giá nơi vị Calife không sợ hãi gì mà lại còn viết thư thúc đẩy các Kitô hữu can đảm trong đức tin. Hoàng đế biết điều đó, liền giận dữ. Không làm gì được, ông đã dùng đến một mưu mô khả ố. Ông cho người giả mạo chữ của Gioan để viết một bức thư bội phản, trong đó, người được vị Calife bảo vệ, tính trao nộp Damas cho vua Byzance. Rồi Leo, người Isauria, báo cho vị Calife biết có một kẻ thừa hành bội phản. Và câu chuyện thật kỳ diệu đến nỗi các văn phẩm thời đó còn kể lại. Vị Calife đòi Gioan đến. Dầu biện minh cho sự vô tội của mình, Gioan vẫn bị chặt tay phải.

    Gioan mang cánh tay bị chặt về nhà và khấn nài Đức Trinh Nữ hoàn lại cánh tay mà từ nay ngài sẽ chỉ dùng để viết các thánh thi ca tụng Con Mẹ. Gioan đi ngủ và mơ thấy Đức Trinh Nữ chữa lành cho mình. Thức dậy, cánh tay đã được nối liền và chỉ còn để lại một đường máu đỏ. Trước phép lạ này, vị Calife không còn nghi ngờ gì về sự vô tội của Gioan nữa và đã tái lập ngài làm nhà cầm quyền. Nhưng đối với Gioan Damascênô, thời danh giá đã qua rồi. Ngài muốn hiến thân cho Thiên Chúa.

    Ngài phân phát của cải cho người nghèo và đến tu viện thánh Sabas, nơi thày mình đang sống và người em nuôi cũng đã tới đó trước. Nhưng không ai dám huấn luyện quan thừa tướng bãi nhiệm theo đường thánh thiện cả. Cuối cùng bề trên trao ngài cho một tu sĩ già khó tính, thù ghét với tất cả những gì là êm ái đối với Gioan như thơ phú và âm nhạc.

    Nếu không tự ý vâng phục như một bằng chứng của tình yêu, thì cuộc sống ngài sẽ cay đắng đến thế nào. Ngài đã bị tước bỏ mọi niềm vui cao đẹp, cả đến việc giữ lời hứa là viết các thánh thi. Ông thày còn sai người đã cai trị Damas đi bán giỏ sọt với giá cắt cổ, khiến các lời chế nhạo đổ xuống như mưa. Gioan vẫn âm thầm vâng phục và chịu đựng, sau khi đã thử thách quá lâu người tập sinh như thế, vị tu sĩ già để cho Người được tự do học hỏi và tìm hứng. Lúc ấy, tự đáy lòng Gioan đã khơi dậy những khúc thánh thi đáng khâm phục, cùng với sự cộng tác của người em nuôi, cho tới khi ông ta được đặt làm Giám mục Palestina.

    Gioan Damascênô chỉ rời tu viện để đi giảng tại các thánh đường. Lúc về già, ngài sửa chữa các bản văn, đôi khi tự trách là bút pháp quá khởi sắc, ngài nghiên cứu học hỏi không ngừng và đã trình bày thần học một cách liên tục đáng kể.

    Một bí nhiệm bao quanh những năm cuối đời thánh nhân. Có người tin rằng: ngài đã qua đời trong thinh lặng tại tu viện, người khác lại nghĩ rằng, ngài đã rảo qua các tỉnh Đông phương để nâng đỡ các tín hữu đang bị nhóm phá ảnh tượng bách hại, rồi chết vì đạo. Là triết gia, thần học gia, nhà hùng biện, thi sĩ, Thánh Gioan được danh hiệu là Tiến sĩ Hội Thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 06 tháng 12

    Thánh NICÔLA, Giám mục (Thế kỷ IV)

    Thánh Nicôla, vị đại thánh bình dân, nhưng chỉ tìm được tiểu sử 200 năm sau khi ngài chết. Người ta có thể nói rằng ngài đích thực là giám mục Myra, đã hiện ra với vua Constantinô trong một giấc mơ. Sau đó dường như các nhà chép sữ lại lẫn lộn với Nicola người Simon đã bị tù dưới thời Diocletianô, đã xây một tu viện và được chôn cất tại vương cung thánh đường thành Myra. Trừ sự kiện trên, nảy sinh ra nhiều huyền thoại và hơn nghìn năm sau, Thánh Nicôla nhân hậu đã thành danh tiếng khắp thế giới.

    Huyền thoại kể lại rằng, ở Patara, thuộc tỉnh Lycia, hai vợ chồng giàu có Anna và Euphêmiô vì không con đã cố gắng tìm an ủi trong công việc từ thiện. Thiên Chúa chúc lành cho lòng bác ái của họ. Cuối cùng họ có được một mụn con và đăt tên cho con là Nicôla, có nghĩa là “sự chiến thắng của dân”. Đây cũng là tên cậu ngài, vị giám mục Myra.

    Ông cậu đã tiên đoán rằng: Nicôla sẽ là “mặt trời soi chiếu thế gian”. Khi mới tắm rửa lần đầu, con trẻ đặc biệt này đã chắp tay, đứng trong thau nước 2 giờ liền, mắt hướng về trời. Thứ tư và thứ sáu, ngài không chịu bú cho tới chiều để ăn chay. Chị vú nuôi sợ ngài chết, nhưng trái lại, ngài đã trở nên một con trẻ kiêu hùng.

    Nicôla có nhiều đức tính tốt như một trẻ em gương mẫu. Cha mẹ mất sớm. Nicôla thừa hưởng một gia tài kếch xù. Nhưng ngài lại coi tất cả tài sản này như của Chúa cho vay. Người phân phát cho những người bất hạnh và thực hiện đức bác ái như một sự tế nhị dễ thương. Chẳng hạn một người cha có 3 cô con gái, ông tính cho con làm nghề bất lương để có tiền cưới hỏi. Nhưng rồi đêm kia, ông thấy 3 túi vàng chuyển qua cửa sổ, và có thể làm lễ cưới hỏi cách lương thiện cho các cô. Khi biết được người cho, ông đến xin Thánh Nicôla cầu cho ơn tha thứ cho dự tính đáng chúc dữ của mình. Rồi bất kể sự ngăn cấm của thánh nhân, ông đã kể lại khắp nơi cử chỉ bác ái của thánh nhân đã thực hiện để cứu 3 người phụ nữ khỏi cảnh bất lương như thế nào.

    Nicôla đã ao ước hiến đời mình cho Thiên Chúa. Ông cậu giám mục của ngài khi sắp chết đã truyền chức và đặt ngài làm bề trên tu viện Thánh Sion. Khi ngài du hành qua Thánh Địa, cơn bão nổi lên, các hành khách run sợ, Nicôla cầu nguyện cho họ và các cơn sóng dịu xuống, con tàu êm đềm theo đuổi cuộc hành trình. Những cuộc can thiệp khác nữa làm cho Thánh Nicôla trở thành đấng bảo trợ những người vượt biển. Các thuỷ thủ làm chứng rằng khi bị đắm chìm, nhớ cầu tới ngài là thấy ngài đến cầm tay lái đưa tới cảng, rồi biến đi...

    Khi những người thoát nạn tới nhà nguyện tu viện tạ ơn, người ta ngạc nhiên vì thấy vị cứu tinh của mình đang chìm đắm trong kinh nguyện như không hề rời bỏ nơi này. Họ không cầm nổi những lời tán tụng biết ơn xuất phát tự cõi lòng, nhưng thánh nhân bảo họ: “Hãy chỉ nên ngợi khen Chúa về cuộc cứu thoát này, bởi vì đối với tôi, tôi chỉ là một tội nhân và một đầy tớ vô dụng”.

    Và ngài đã cho biết rằng, nguy hiểm họ vừa trải qua là hình phạt vì các tội kín, cũng như sự hối lỗi của các thuỷ thủ đã cứu thoát họ.

    Nicôla xuống Alexandria là nơi ngài đã chữa lành các bệnh nhân, rồi đi thăm Thánh Antôn ở Aicập. Sau cùng, ngài đến Giêrusalem kính các nơi thánh và trải qua ít tuần trong hang mà Thánh Gia đã dừng lại khi trốn qua Ai cập. Nơi đây, sẽ xây cất một thánh đường Thánh Nicôla. Vừa mới trở về Myra, nơi các tu sĩ đang nóng lòng chờ đợi cha họ trở về, ngài đã tăng gấp một cách lạ lùng đống bánh cho cả trăm người ăn.

    Giám mục Myra qua đời, các giám mục miền Lycia cân nhắc để chọn vị mục tử mới. Một sứ giả từ trời xuống báo tin cho vị niên trưởng biết, người được chọn là linh mục Nicôla ngày mai sẽ tới mhà thờ trước hết. Trời vừa sáng, Nicôla tới nhà thờ theo lòng sốt sắng và nghe loan báo mình làm giám mục. Ngài muốn chạy trốn, nhưng phải theo ý nguyện của Đấng Cao Cả hơn mình, trời cao chúc lành cho ngài: dịp lễ đầu tay, Thánh Nicôla đã làm cho một em bé bị phỏng sống lại. Từ kỷ niệm này, người ta hay kêu cầu thánh nhân những khi gặp nguy hiểm vì lửa.

    Trở thành mục tử cả dân, thánh nhân rất cưng chiều những người bị áp bức, mồ côi, bênh hoạn và tù tội hơn. Ban đêm, ngài cầu nguyện, nghỉ một chút trên đất, ăn ngày một bữa, mặc áo quần khiêm tốn khác với hình ảnh ngày nay nhiều. Những y phục lộng lẫy theo hình vẽ ấy, ngài chỉ mặc vào những ngày đại lễ.

    Đời sống tín hữu xáo trộn vì những cuộc bách hại: vị giám mục bị lưu đày, đánh đập. Cuộc trở lại của vua Constantinô đem lại tự do. Trên đường về, ngài rao giảng Chúa Kitô, cải hoá lương dân, phá đổ các đền thờ và ngẫu tượng. Ngài làm nhiều phép lạ như mưa. Các thế hệ tương lai, còn kể lại huyền thoại của 3 đứa trẻ bị một đồ tể tham lam độc ác cắt cổ và để trong thùng muối ướp thịt đã sống lại nhờ lời cầu nguyện của Thánh Nicôla.

    Các truyện có nhiều thêm thắt như: Truyện người gian xảo có cây gậy đầy vàng, truyện đứa trẻ bị quỷ giả bộ ăn xin bóp cổ, nhưng đã được thánh nhân cứu sống, truyện thánh nhân dàn xếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân hiếm muộn con cái, hứa tặng chén vàng mà khi được lại không giữ lời hứa. Gần với sự thực hơn là việc các nhà buôn lúa gạo ở Sycily nhờ sự bao bọc lạ lùng của giám mục đã nuôi những người đói mà không giảm thiểu của dự trữ. Vua Constantinô cũng mơ thấy thánh nhân đến gặp để cứu cuộc xử tội bất công của 3 viên chức. Sau đó các người bị giữ kêu cầu ngài giải cứu và được nhận lời bằng một phép lạ. Thế là các nạn nhân bị xử oan hay kêu cầu ngài.

    Sau khi hoàn tất bao nhiêu việc lành thiêng liêng lẫn vật chất, Thánh Nicôla muốn vào cõi đời đời. Bảo vệ giáo thuyết công giáo tinh tuyền, ngài đã chống lại lạc giáo tham dự cộng đồng Nicea. Khi thấy sắp kết thúc cuộc đời. Ngài muốn lui về tu viện, nơi mà buổi thiếu thời ngài đã tự hiến cho Thiên Chúa, và chính tại nơi đây, ngài phú dâng linh hồn trong tay Chúa.

    Năm 1087, Myra rơi vào tay người Thổ, người ta vội đưa hài cốt vị thánh về Bari gần Naples. Từ đó, huyền thoại đời ngài lại lan rộng. Mỗi miền nói theo cách của mình. Dân ca Đông phương coi ngài như một vị chúa trên trời. Đối với người Nga, ngài là thừa kế thần linh lo chuyện gặt hái. Siberia cho ngài là người chế tạo rượu “bia”.

    Các vua nước Pháp sùng kính ngài. Các chủ tịch luật sư đoàn cầm gậy có hình Thánh Nicôla. Bên Tây phương, lễ Thánh Nicôla trở thành lễ của thiếu nhi vì làm sao các em lại không yêu mến vị thánh nhân hậu đã cứu 3 đứa trẻ đi mót lúa được? Vị giám mục đầy huyền bí này sau cùng đã trở thành ông già Noel ngày nay.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 07 tháng 12

    Thánh AMBRÔSIÔ, Giám Mục và Tiến Sĩ Hội Thánh (339-397)

    Thánh Ambrôsiô chào đời khoảng năm 339 tại Augusta Trevororum. Cha ngài, ông Aurlio Ambrôsiô làm tổng trấn xứ Gauules và là nghị sĩ viện quí tộc. Nhưng ông chết sớm, mẹ ngài trở về Roma với 3 người con: Ambrosiô. Marcellina và Satyra, cả 3 đều nên thánh.

    Ambrôsiô chưa lãnh phép rửa tội như thói quen thời ấy hay chần chừ, sợ mất ơn phép rửa tội, nhưng ngài đã sống tuổi thơ ấu đạo đức. Lớn lên, ngài tỏ ra thông minh đặc biệt, nổi tiếng về thơ văn, tài hùng biện và luật pháp. Thuộc dòng quí tộc, Ambrôsiô được đặt làm lãnh sự tỉnh Emilia và Liguria với thị trấn là Milan. Probus, vị tổng trấn theo Kitô giáo đã khuyên ngài: “Hãy đi và hành động như một giám mục hơn là quan án”.

    Và người ta thán phục nhà quí tộc Kitô giáo vì sự khôn ngoan tỉnh thức và hiền hậu của ngài. Giám mục Milan qua đời, một cộng đoàn tập hợp trong nhà thờ, người ta gây ồn ào xáo trộn tại đó vì chiahai phe: phe Công giáo và phe theo Ariô. Ambrôsiô với tư cách là nhà cầm quyền đã đến dàn xếp. Ngài diễn thuyết kêu gọi hoà bình và khuyên dân chúng khôn ngoan chọn lựa, ngài nói một cách đáng phục đến nỗi mọi tín hữu đều một tiếng kêu lớn: “Ambrôsiô làm giám mục”.

    Hết còn phân ly, người ta ôm nhau khóc vì vui mừng. Hoàng đế Valentinô đã chuẩn nhận việc tuyển chọn bất ngờ này.

    Lúc ấy, Ambrôsiô còn là một dự tòng, nên cảm thấy mình bất xứng để làm cha linh hồn của cả đoàn dân Ngài. Ngài đã có lần trốn thoát đến nỗi còn muốn gây cớ xúc phạm để tỏ ra bất xứng, nhưng vẫn không đánh lừa nổi ai. Ngài còn viết thư cho các giám mục và hoàng để xin cáo lui, nhưng hoàng đế còn bày tỏ lòng thán phục: “Không có một tinh thần nào ngay chính hơn, đây là một tay lái không thể uốn cong được”.

    Ambrôsiô dành nhiều miễn cưỡng chấp nhận. Ngày 24-11, ngài chịu phép Rửa Tội. Ngày 7-12-374, ngài đã thụ phong linh mục và được thánh hiến giám mục. Ngài nói: “Tôi bắt đầu dạy dỗ điều mà tôi không được học”.

    Ambrôsiô không coi mình như người thuộc thế gian nữa, ngài phân phát của cải cho người nghèo và dâng đất đai cho Giáo Hội. Một phần đêm khuya dành để cầu nguyện và học hỏi. Ngài học các tác phẩm Kitô giáo, nhất bằng tiếng Hy Lạp và đào sâu thần học. Buổi rạng đông, dâng lễ rồi vào bàn làm việc. Ngài rao giảng để tái hồi giáo phận bị xáo trộn bởi phái Ariô. Ngài mở rộng cửa tiếp đón mọi người cần đến mình. Thánh Augustinô mà ngài góp phần cải hóa đã gọi ngài là thầy. Khi dạy dỗ, ngài tỏ ra hiền hậu mà người ta gọi là “sự ngọt ngào của Ambrôsiô”.

    Khi ngồi toà, ngài đã khóc như chính mình là tội nhân. Không có giờ ăn, ngài như chay tịnh liên tiếp. Việc mục vụ nặng nề không ngăn cản ngài tỏ ra là một thủ lãnh quyết bảo vệ đức tin Công giáo. Ở Roma, tại cung điện nữ hoàng Justina theo Ariô, muốn chiếm nhà thờ Milan, giám mục chống lại và quyết bảo vệ thánh đường. Từ Chúa Nhật Lễ Lá tới Thứ Năm Tuần Thánh, một đoàn người công hãm thánh đường. Ambrôsiô dùng việc giảng dạy và thánh ca để giữ tín hữu. Những người yêu mến Ngài làm thành một hàng rào bao quanh ngài. Cuối cùng, chiến thắng về tay Ambrôsiô. Ngài vẫn luôn tỏ thái độ cương quyết như thế.

    Đế quốc rơi vào tay Theodosiô. Vị tân hoàng đế rất quí chuộng và kính trọng giám mục. Đức giám mục cũng yêu mến ông bằng tình phụ tử, nhưng không vì thế mà thành ra yếu đuối bất công. Theodosiô trên đài vinh quang, để trừng phạt cuộc nổi loạn ở Thesalonica, đã ra lệnh tàn sát dã man. Thánh Ambrôsiô viết thư quở trách, bắt ông hối cải và cấm vào thánh đường. Ít lâu sau, Theodosiô chiến thắng trở về Milan với binh sĩ muốn vào thánh đường, đức giám mục đứng ở cưả ngăn ông lại và trách cứ ông. Hoàng đế lui về hoàng cung thống hối trong tám tháng. Ngày lễ Giáng Sinh, ông khóc lóc xin tha tội. Ông cởi áo bào, phục dưới thềm nhà thờ và xếp hàng giữa đám tội nhân công khai. Không bao giờ ông còn chiếm chỗ danh dự nơi cung thánh nữa. Dân Milan rất thán phục vị vua đã đền tội cách quảng đại như vậy.

    Về sau, ông lại đi dẹp một cuộc nổi loạn mới. Thánh Ambrôsiô lại viết cho ông: “Chiến thắng của vua sẽ bất toàn nếu vua không tha cho các kẻ nổi loạn”.

    Vua đã tha. Trở về, Ambrôsiô ôm ông và khóc vì vui mừng. Vua đã qua đời trong tay vị giám mục. Với hoàng tử kế vị. Thánh Ambrôsiô nói: “Ông không phải làm vua để phục vụ lợi ích gia đình mình thôi, nhưng là để cai quản mọi người”.

    Và đối với vị vua băng hà, thánh Ambrôsiô nói: “Tôi yêu mến con người này, vì đã ưa người quở trách mình hơn bọn nịnh thần. Hoàng đế đã không mắc cỡ khi hoàn tất việc thống hối công khai và không ngày nào mà không khóc lỗi lầm mình”.

    Thánh Ambrôsiô còn sống thêm hai năm sau cái chết của vua Theodosiô. Nghe loan báo về cơn bệnh của ngài, một viên chức của nhà vua tuyên bố: “Con người này mà chết đi thì Italia sẽ bị đe doạ tàn phá đến nơi”.

    Danh tiếng của ngài vang dội đến nỗi rợ dân đã không dám chống lại ngài. Có những thủ lãnh tin rằng: ngài có thể ngưng mặt trời lại. Ngài đã hạnh phúc dùng thư tín mà cải hoá được nữ hoàng Marcômans. Trước khi qua đời ngày 4-4-379, ngài đã tổ chức các tòa giám mục miền bắc Italia. Theo một tường thuật, ngài đã nằm, tay chéo lại như hình Thánh giá và người ta có thể thấy như môi ngài vẫn cầu nguyện không ngừng.

    Gần mộ ngài sẽ đặt phần mộ Marcellina, người em mà ngài yêu quý hơn cả. Con người và sự sống của thánh nữ chính nhờ sự dẫn dắt của ngài đã hiến mình cho Thiên Chúa. Thánh Ambrôsiô đã để lại một công trình đáng kể.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 6 tháng Mười Hai 2017
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 08 tháng 12

    Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội

    Một trong những lễ đẹp lòng trái tim Mẹ Maria nhất, chắc chắn là lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Thánh lễ này nhằm tôn kính đặc ân riêng cho Mẹ là đã được thụ thai trong lòng Thánh Anna một cách tinh tuyền không vương tì ố. Thiên Chúa đã giữ gìn Mẹ khỏi tội tổ tông, tội mà vì mọi người chúng ta khi sinh ra đều vướng mắc vì thuộc dòng giống Adam. Đức Maria, do một đặc ân duy nhất, từ lúc hình thai, vẫn luôn tinh tuyền xinh đẹp trước mặt Chúa. Bởi vậy, do ơn thánh và do cuộc sống, Mẹ luôn là đối tượng đẹp mắt Chúa, theo như lời Thánh Kinh đã được quy về Mẹ: Mẹ tuyệt mỹ, không hề vương vấn tội tình.

    Người ta có thể tự hỏi, làm sao lại có đặc ân này? Để trả lời cho trường hợp đặc biệt này, chúng ta chạy đến ơn phúc của Chúa Giêsu Kitô. Ơn cứu chuộc của Chúa Kitô đã có sức mạnh toàn năng để cứu nhân loại khỏi tội nguyên tổ, cũng đã giữ gìn cho Mẹ khỏi tội tổ tông. Chắc chắn đây là một phép lạ, nhưng phép lạ này không lạ lùng hơn các điều kỳ diệu trong cuộc đời Đức Mẹ. Hơn nữa, các dặc ân khác Đức Mẹ thụ hưởng mà chúng ta chấp nhận sễ dàng, đều là hiệu quả của ơn vô nhiễm nguyên tội và giả thuyết ơn huệ này, nếu chối bỏ ơn vô nhiễm nguyên tội, mỗi biến cố trong cuộc đời Đức Maria đều giả thiết một phép lạ mới, nhưng với ơn vô nhiễm nguyên tội, mọi điều đều có thể giải thích được dễ dàng, vì không vương mắc tội nguyên, Mẹ Maria vượt qua tất cả những gì là hiệu quả và hình phạt do tội gây nên, như tình tư dục, thống khổ và tan rữa sau khi chết. Con người không mắc tội nguyên tổ là một bí ẩn không thể giải thích nổi. Đức Maria, nếu mắc tội nguyên tổ lại còn là một bí ẩn khó giải thích hơn nữa.

    Niềm tin vào sự vô nhiễm nguyên tội của Mẹ Maria là một niềm tin không thễ thay đổi. Các nhà thần học đã chứng minh điều đó, các giáo phụ giảng dạy, các nhà giảng thuyết phổ biến... nhưng thời đại của chúng ta được thấy sự vinh quang cao cả này trở thành tín điều trong đức tin Kitô giáo, ngày 8-12-1854, trước sự hiện diện của 54 hồng y, 42 tổng giám mục và 92 giám mục cùng đoàn người đông đảo, Đức Giáo hoàng Piô IX, vị đại diện Chúa Kitô, đã tuyên bố tín điều từ bao thế kỷ đợi trông. Chúng ta kể ra một vài lý do khiến Giáo Hội công bố tín điều: Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.

    1. Chúa Giêsu Kitô, vì sự thánh thiện của Ngài, phải được sinh ra bởi người mẹ vô nhiễm nguyên tội. Đấng thấy cả tì vết nơi các thiên thần, lại chịu sinh ra từ một thân thể bị nhơ nhớp vì tội lỗi được sao? Thân xác của Chúa Kitô là xác thân bởi Mẹ Maria. Vậy nếu Mẹ Maria thụ thai trong tội, hẳn Ngài đã thông truyền cho Chúa Giêsu một xác thể bị nhơ uế vì tội lỗi. Quả là một điều ô nhục cho Chúa Giêsu một xác thể bị nhơ uế vì tội lỗi. Quả là một điều ô nhục cho Chúa!

    2. Vinh quang của Chúa Giêsu phải giữ cho Mẹ Người khỏi vết nhơ tội nguyên. Mục đích của Chúa Con khi xuống trần gian này là để huỷ diệt sự uy quyền của quỷ dữ và tội lỗi. Người đã thắng ma quỷ khi nhờ phép rửa tội, đưa các Kitô hữu ra hỏi vòng tội lỗi, thanh tẩy các tội nhân nhờ phép giải tội. Người đã thắng ma quỷ cả trước khi Người sinh ra, như khi thánh hoá từ lòng mẹ tiên tri Giêrêmia, Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Giuse bạn Đức Trinh Nữ.

    Nhưng những chiến thắng này chưa hoàn toàn. Còn một lúc mà quyền lực hoả ngục khoe khoang rằng: có thể làm cho ơn thánh bị vô hiệu, đó là lúc thụ thai. Vậy sự chiến thắng sẽ hoàn hảo nếu Mẹ Maria được ơn vô nhiễm nguyên tội, đặc ân này thể hiện lời hứa đã được loan báo từ trước: “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp nát đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” (St 3,15).

    Niềm tin vào ơn vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria đã được chính Đức Mẹ chứng thực. Năm 1858, nghĩa là chỉ bốn năm sau ngày tuyên bố tín điều, Mẹ đã hiện ra tại Lộ Đức và tuyên bố: Ta là Đấng vô nhiễm nguyên tội ngay từ buổi đầu thai.

    Việc mừng trọng thể lễ Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội vào Mùa Vọng có một ý nghĩa đặc biệt, như mừng “cuộc chuẩn bị căn bản cho Đấng Cứu Thế xuất hiện, vầng đông sáng tươi của một Hội Thánh không tì vết” (Marialis Cultus 3).

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 09 tháng 12

    Thánh Juan Diego

    Vào tháng Tư năm 1990, tại Vatican, Juan Diego được ÐTC Gioan Phaolô II nâng lên Bậc Ðáng Kính. Và một tháng sau, trong chuyến viếng thăm Ðền Thánh Ðức Mẹ Guadalupe lần thứ hai, ÐTC Gioan Phaolô II đã Chủ tế thánh lễ Phong Chân Phước cho Juan Diego.

    Vào tháng Bảy năm 2002, ÐTC Gioan Phaolô II viếng thăm Ðền Thánh Ðức Mẹ Guadalupe một lần nữa, và tại đây, ngài Chủ tế Thánh Lễ Tôn Phong Hiển Thánh cho Juan Diego.

    Thánh Juan Diego là ai?

    Hầu hết các sử gia đều đồng ý rằng, Juan Diego sinh vào năm 1474, tại Calpulli hay còn gọi là Tlayacac ở Cuauhtitlan, nằm cách Tenochtitlan (Thành Phố Mexicô) khoảng 14 cây số về phía Bắc. Là một ngôi làng được các người của Bộ Lạc Nahua thiết lập vào năm 1168, và bị Lãnh Chúa Axayacalt của dân Aztec đánh chiếm vào năm 1467.
    Tên thật của Juan Diego là Cuauhtlatoatzin, có nghĩa là " con người nói như đại bàng" hay "như đại bàng nói".

    Tập tài liệu "Nican Mopohua" diễn tả ngài như là một "macehualli" nghĩa là "người thổ dân nghèo", một người không thuộc về bất cứ một tầng lớp xã hội nào, chẳng phải là Thực dân, Tư tế, Chiến sĩ hay Thương gia..., nhưng cũng không phải là một nô lệ; là một thành phần thấp nhất, loại cùng đinh trong thời đế quốc Aztec. Khi nói chuyện với Ðức Bà, ngài tự xưng mình là "một kẻ chẳng là gì" (a nobody), và để trả lời với Ðức Bà rằng ngài chẳng có địa vị gì đáng tín nhiệm để chuyển đạt mệnh lệnh của Ðức Bà tới Ðức Giám Mục.

    Ngài là một người hăng say chăm lo làm việc tại nông trại chuyên sản xuất thảm cỏ. Ngài có một miếng đất nhỏ và ở trong một ngôi nhà nho nhỏ trên miếng đất đó. Ngài sống hạnh phúc bên người vợ hiền nhưng không có con.

    Khoảng giữa năm 1524 đến 1525 ngài cùng với vợ gia nhập Giáo hội Công giáo và được Rửa tội với tên thánh là Juan Diego, và tên thánh của vợ là Maria Lucia. Ngài được Rửa tội bởi một cha thừa sai dòng Phanxicô nổi tiếng và rất đáng yêu tên là Fray Toribio de Benavente, và người thổ dân thường gọi cha với tên là "Motolinia", nghĩa là "kẻ nghèo hèn", vì ngài rất tốt lành và rất dễ mến với tất cả mọi người.

    Dựa theo những nghiên cứu chính thức thủa ban đầu của Giáo hội về những sự lạ đã xảy ra, Những tài liệu về Ðức Bà Guadalupe vào năm 1666, Juan Diego là một tín đồ rất nhiệt thành, ngay cả trước khi ngài gia nhập Giáo hội Công giáo. Là một người đầy nghiêm nghị, trầm lặng và thường hãm mình đền tội và thường đi bộ từ nhà của ngài tới làng Tenochtitlan, cách xa khoảng 22 cây số, để được hướng dẫn về giáo lý.
    Vợ của ngài bị bệnh và qua đời vào năm 1529. Sau đó, Juan Diego dọn nhà về ở với người chú tên là Juan Bernadino ở Tolpetlac, gần với nhà thờ ở Tlatilolco-Tenochtitlan hơn, chỉ cách khoảng 14 cây số.

    Mỗi ngày thứ Bảy và Chúa Nhật, ngài đi bộ tới nhà thờ, thường đi từ sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, để kịp tham dự Thánh Lễ và dự những giờ hướng dẫn giáo lý. Ngài đi bộ với chân không, giống như bao nhiêu người macehualli khác thuộc tầng lớp như ngài. Chỉ có những người thuộc những tầng lớp cao hơn của xã hội mới có giày hay xăng đan những loại được làm bằng sợi hay bằng da để mang, Vào những ngày lạnh giá, ngài thường mặc một chiếc áo "tilma" vải thô quấn choàng qua vai, loại vải bông thì chỉ có những người dân Aztec thuộc hạng cao cấp hơn mới có mà mặc.

    Một trong những lần trên đường đi bộ tới Tenochtitlan, khoảng 3 tiếng rưỡi để đi từ làng và qua các ngọn núi, và ngài đã gặp Ðức Mẹ hiện ra vào lần thứ nhất tại một địa điểm mà ngày nay gọi là "Capilla del Cerrito", tại nơi này, Ðức Mẹ nói với ngài bằng tiếng thổ dân của ngài. Ðức Mẹ gọi ngài là "Juanito, Juan Dieguito", "Người con khiêm nhượng nhất của Ta", "người con bé mọn nhất của Ta", "người con bé nhỏ yêu dấu của Ta".

    Lúc đó ngài đã 57 tuổi, chắc chắn đã là lứa tuổi đủ già đối với một người đàn ông đã trên 40 rồi.

    Sau sự lạ Ðức Mẹ hiện ra tại Guadalupe, Juan Diego dọn đến ở trong một căn phòng sát với Nhà Nguyện có giữ Bức Ảnh Thánh, sau khi đã trao hết công việc làm ăn và của cải cho người chú; và ngài sống những ngày còn lại của cuộc đời để phổ biến sự lạ Ðức Mẹ hiện ra cho những người đồng hương của ngài.

    Ngài qua đời vào ngày 30 tháng 5 năm 1548, hưởng thọ 74 tuổi.

    Juan Diego là một người yêu mến Phép Thánh Thể, và được phép đặc biệt của Ðức Giám Mục cho phép ngài được lãnh nhận Phép Thánh Thể 3 lần trong một tuần, được nhiều hơn bình thường theo như quy định vào thời đó.

    ÐTC Gioan Phaolô II ca tụng đức tin đơn sơ và việc chăm chỉ học giáo lý của Juan Diego, và đặt ngài (là người tự xưng với Ðức Mẹ: "con chỉ là một kẻ chẳng là gì, con chỉ là một sợi giây nhỏ, một chiếc thang tí hon, một mẩu đuôi, một chiếc lá") là mẫu gương của sự khiêm nhượng cho tất cả mọi người chúng ta.

    ~~~~~~~~~~~~~~~

    Bài Giảng Phong Thánh của ÐTC Gioan Phaolô II cho Vị Thụ Khải Juan Diego

    1. “Con tạ ơn Cha… vì Cha đã giấu kẻ khôn ngoan tri thức những điều này và Cha đã tỏ chúng cho những kẻ bé mọn” (Mt 11:25-26).

    Anh Chị Em thân mến,

    Những lời Chúa Giêsu nói đây trong bài Phúc Âm hôm nay là một lời rất đặc biệt mời gọi chúng ta hãy ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa về tặng ân có một vị Thánh bản xứ Mỹ Châu.

    Tôi hết sức vui mừng được hành hương tới Đền Thờ Đức Mẹ Guadalupe, một trung tâm Thánh Mẫu của Mễ Tây Cơ và Mỹ Châu, để công bố thánh đức của Juan Diego Cuauhtlatoatzin, một người Da Đỏ đơn sơ khiêm tốn đã được chiêm ngưỡng dung nhan dịu dàng và uy nghi của Đức Bà Tepeyac rất thân yêu của nhân dân Mễ Tây Cơ.

    2. (ĐTC cám ơn và chào các chức sắc trong đạo ngoài đời và cả dân bản xứ)

    3. Juan Diego được ví giống như gì? Tại sao Thiên Chúa lại nhìn đến Ngài? Sách Sirach, như chúng ta vừa nghe, dạy chúng ta rằng chỉ có Thiên Chúa mới là Đấng “toàn năng; Ngài được vinh danh bởi thành phần thấp hèn” (3:20). Những lời của Thánh Phaolô, cũng được công bố trong lễ hôm nay, đã làm sáng tỏ đường lối thần linh trong việc Thiên Chúa thực hiện ơn cứu độ của Ngài: “Thiên Chúa đã chọn những gì hèn kém và bị khinh thường trên thế gian…. Để không ai có thể huyênh hoang trước mặt Thiên Chúa” (1Cor 1:28-29).

    Thật là cảm động khi đọc câu truyện được viết lên một cách tinh tế và dễ thương về Đức Mẹ Guadalupe. Nơi câu truyện này, Đức Trinh Nữ Maria, người tỳ nữ, Vị “tôn vinh Chúa” (Lk 1:46), đã tỏ mình cho Juan Diego như Mẹ thật của Thiên Chúa. Để làm bằng chứng, Mẹ đã cho Juan Diego những hoa hồng quí giá, và khi Juan Diego tỏ cho vị giám mục biết thì Juan Diego mới khám phá ra chiếc áo khoác của mình có thánh ảnh Đức Mẹ.

    Như Hàng Giáo Phẩm Mễ Tây Cơ đã cho thấy: “Biến cố Guadalupe đã mở màn cho cuộc truyền bá phúc âm hóa với một nguồn sinh lực ngoài lòng mong ước. Sứ điệp qua Mẹ của Người, đã tiếp nhận những yếu tố chính nơi văn hóa bản xứ, thanh tẩy chúng và ban cho chúng ý nghĩa cứu độ tối hậu” (14/5/2002, đoạn 8). Như thế, Guadalupe và Juan Diego mang một ý nghĩa sâu xa về Giáo Hội và truyền giáo, và là một khuôn mẫu cho việc truyền bá phúc âm hóa hoàn toàn hội nhập văn hóa.

    4. “Chúa từ trời nhìn xuống, Ngài thấy tất cả mọi con cái loài người” (Ps 33:13), chúng ta cùng với vị Tác Giả Thánh Vịnh đọc những lời này để một lần nữa tuyên xưng đức tin của chúng ta nơi Thiên Chúa, Đấng không phân biệt chủng tộc hay văn hóa. Trong việc chấp nhận sứ điệp của Chúa Kitô mà không đánh mất căn tính bản xứ của mình, Juan Diego đã khám phá thấy sự thật sâu xa về một nhân loại mới, đó là chúng ta được kêu gọi trở nên con cái Thiên Chúa. Như thế, ngài đã làm cho cuộc gặp gỡ tốt đẹp giữa hai thế giới thành dễ dàng, và ngài trở nên một nhà cải cách cho một thứ căn tính mới của Mễ Tây Cơ gắn liền với Đức Mẹ Guadalupe, Đấng có một bộ mặt lai, bộc lộ cho thấy vai trò từ mẫu thiêng liêng ôm ấp tất cả mọi người Mễ Tây Cơ của Mẹ. Đó là lý do tại sao cái chứng từ Ngài đã sống phải được tiếp tục là nguồn hứng khởi trong việc xây dựng một đất nước Mễ Tây Cơ, trong việc phấn khích tình huynh đệ nơi tất cả mọi con cái của nước này, và giúp vào việc hòa giải nước Mễ Tây Cơ với các gốc rễ, giá trị và truyền thống của nó.

    Công việc cao cả xây dựng một nước Mễ Tây Cơ tốt đẹp hơn, công chính và đoàn kết hơn, đòi tất cả mọi người phải hợp tác với nhau. Đặc biệt, hôm nay đây, cần phải hỗ trợ các thành phần dân bản xứ theo khát vọng của họ, tôn trọng và bênh vực những giá trị chân chính của mỗi một nhóm thiểu số. Mễ quốc cần đến những người dân bản xứ này và những người dân bản xứ này cần đến Nước Mễ!

    Anh Chị Em của mọi sắc tộc Mễ Quốc và Mỹ Châu thân mến, hôm nay, trong việc ca tụng Juan Diego người Da Đỏ, tôi muốn bày tỏ cho tất cả mọi người trong anh chị em thấy được sự gắn bó của Giáo Hội cũng như của vị Giáo Hoàng này, ở chỗ yêu thương ấp ủ anh chị em và phấn khích anh chị em hãy tin tưởng thắng vượt những lúc khó khăn anh chị em gặp phải.

    5. Ở vào giây phút quyết liệt của lịch sử Mễ Quốc đây, một lịch sử đã bước qua ngưỡng cửa của ngàn năm thứ ba, Tôi ký thác cho lời cầu bầu quyền năng của Thánh Juan Diego các niềm vui và hy vọng, những nỗi sợ hãi và lo âu của nhân dân Mễ Quốc, một nhân dân Tôi ôm ấp trong lòng.

    Hỡi Vị Juan Diego diễm phúc, một con người Kitô hữu Da Đỏ tốt lành, vị được người đời thường gọi là thánh! Chúng tôi xin ngài hãy đồng hành với Giáo Hội trong cuộc lữ hành ở Mễ Quốc, để Giáo Hội mỗi ngày có thể truyền bá phúc âm hóa hơn và truyền giáo hơn. Xin hãy phấn khích các vị giám mục, nâng đỡ các linh mục, khơi lên những ơn gọi mới và thánh hảo, giúp cho tất cả những ai hiến đời mình cho Chúa Kitô và cho việc truyền bá Nước Trời.

    Hỡi Vị Juan Diego hạnh phúc, một con người chân thực và thành tín! Chúng tôi ký thác cho ngài anh chị em giáo dân của chúng tôi, để khi cảm nhận được ơn gọi nên thánh của mình, họ có thể làm cho mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội được thấm nhuần tinh thần Phúc Âm. Xin ngài chúc lành cho các gia đình, hãy làm cho các cặp vợ chồng kiên cường sống đời hôn nhân của họ, xin hãy nâng đỡ những nỗ lực của các bậc phụ huynh trong việc dưỡng dục con cái thành người Kitô hữu. Xin ngài hãy đoái nhìn đến nỗi thương đau của những ai đang khổ sở về phần xác hay trong tinh thần, đến những ai bị nghèo túng, lẻ loi, bị bỏ rơi hay bị quên lãng. Chớ gì tất cả mọi người, các vị lãnh đạo dân sự và thường dân, luôn luôn tác hành theo những đòi hỏi của công lý và tôn trọng nhân phẩm mỗi người, nhờ đó hòa bình được vững chắc.

    Hỡi Vị Juan Diego yêu dấu, “con đại bàng phát ngôn”! Xin hãy tỏ cho chúng tôi con đường dẫn tới “Vị Trinh Nữ Đen”, Tepeyac, để Người nhận lấy chúng tôi trong thâm tâm của Người, vì Người là Mẹ ưu ái, xót thương, Đấng dẫn chúng tôi đến cùng Vị Thiên Chúa chân thật. Amen.

    (Nguyên ngữ Tây Ban Nha, do Vatican Press Office phổ biến, bản tiếng Anh của Màn Điện Toán Zenit; Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch sang Việt Ngữ)
     
  7. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 11 tháng 12

    Thánh ĐAMASÔ I, Giáo Hoàng (305-384)

    Đây là một vị Giáo Hoàng sáng chói trong Hội Thánh. Ngài đã xác nhận quyền tài thẩm trên toàn thể Giáo Hội là do Thánh Phêrô lãnh được bởi Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Libêriô đã chú ý tới Linh mục Damasô gốc Tân Ban Nha và đặt ngài làm tổng phó tế cai quản Giáo Hội. Khi hoàng đế Constance ủng hộ phái Ariô bắt ĐGH Libêriô đi đày. Damasô đi theo ngài. Nhưng Đức Libêriô cảm thấy mình sắp chết, và để chiều theo ý ngài, Damasô trở lại Roma, nơi ngài sẽ được chọn làm Giáo Hoàng.

    Giữa những phiến động, phân ly và xáo trộn, triều đại Giáo Hoàng của ngài khổ não tột cùng. Dầu vậy, chính những điều đó làm nên vinh quang cho Đức Giáo Hoàng. Là nhà trí thức, khảo cổ và thi nhân, ĐGH Damasô đã lưu giữ những chứng liệu quý báu về Roma của Kitô giáo thời xưa, ngài đã sửa sang phần mộ các thánh tử đạo, trước tác những vần thơ để ở mộ bia. Những nét chữ đẹp trên các mộ mênh danh là “chữ Damasô”. Ngài cho xây nhiều đại thánh đường và nhiều nhà từ thiện.

    Chúng ta phải biết ơn Thánh Damasô nhiều, vì ngài đã nhận thức được tài năng giá trị của thánh Hiêrônimô và đã trao phó trách nhiệm hiệu đính bản dịch Thánh Kinh. Chính ngài đã kết các thánh vịnh bằng kinh Sáng Danh.

    Giữ cho đức tin được tinh ròng ở cộng đồng Nicêa chống lại phái Ariô, ĐGH Damasô đã triệu tập nhiều công đồng. Công đồng Constantinople đã đưa ngài tới danh hiệu cao cả nhất là “viên ngọc của đức tin”.

    ĐGH Damasô đã viết nhiều vần thơ đề mộ bia. Có một tấm ngài viết về chính mình và đăt ở nghĩa trang Thánh Callistô: “Tôi, Damasô muốn được chôn cất tại đây, nhưng tôi sợ phàm tục hoá xương cốt các thánh nhân”.

    Bởi vậy, ngài đã được chôn cất trong một thánh đường ở Via Ardeatina.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  8. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 12 tháng 12

    Đức Trinh Nữ Guadalupe

    [​IMG]

    Một Thánh lễ để vinh danh Ðức Mẹ Guadalupe đã có từ thế kỷ 16. Niên sử của thời đại đó kể cho chúng ta biết câu chuyện sau đây.

    Một người thổ dân nghèo hèn tên Cuatitlatoatzin được rửa tội và lấy tên là Juan Diego. Ông 57 tuổi, goá vợ và sống trong một làng nhỏ gần Mexico City. Vào buổi sáng thứ Bảy, 9-12-1531, ông đến nhà nguyện gần đó để tham dự lễ kính Ðức Mẹ.

    Khi đang đi trên ngọn đồi gọi là Tepeyac thì ông nghe có tiếng nhạc du dương như tiếng chim hót. Sau đó một đám mây sáng chói xuất hiện, đứng trên đám mây là một trinh nữ người thổ dân mặc y phục như công chúa của bộ lạc Aztec. Trinh nữ nói chuyện với ông bằng tiếng bản xứ và sai ông đến với Ðức Giám mục của Mexico, là một tu sĩ dòng Phanxicô tên Juan de Zumarraga, và yêu cầu đức giám mục xây cất một nguyện đường nơi Trinh Nữ hiện ra.

    Dĩ nhiên vị giám mục không tin và bảo Juan Diego xin Trinh Nữ cho một dấu chỉ. Trong thời gian này, người chú của ông bị bệnh nặng. Ðiều đó khiến ông cố tránh né không muốn gặp Trinh Nữ. Tuy nhiên, Đức Trinh Nữ tìm ông, đảm bảo với ông là người chú sẽ khỏi bệnh, và bảo ông hái các bông hồng quanh đó để làm bằng chứng với vị giám mục. Lúc ấy là mùa đông thì không thể có bông hoa nào mọc được, nhưng lạ lùng thay, gần chỗ Trinh Nữ hiện ra lại đầy dẫy những hoa hồng tuyệt đẹp. Và ông đã dùng chiếc áo tơi của mình để bọc lấy các bông hồng đem cho vị giám mục.

    Trước sự hiện diện của đức giám mục, ông Juan Diego mở áo tơi ra và bông hồng đổ xuống tràn ngập khiến vị giám mục phải quỳ gối trước dấu chỉ lạ lùng ấy. Lạ lùng hơn nữa, trên chiếc áo tơi lại có in hình Ðức Trinh Nữ như ngài đã hiện ra với ông ở đồi Tepeyac. Ðó là ngày 12-12-1531.

    Mẹ Guadalupe

    Có thể nói, đối với những người Công giáo ở Châu Âu, thì Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Mẹ Fatima rất đỗi thiêng liêng đối với họ; còn đối với phần còn lại của thế giới tính luôn cả Nam và Bắc Mỹ Châu Latinh, thì việc sùng kính Đức Mẹ Guadalupe quả cũng thánh thiện và trang trọng không kém. Người Mỹ Châu Latinh nhìn chung dẫu rất nghèo, rất giản dị, và rất tầm thường - thế nhưng lòng đạo đức và sự chân chất của họ quả đúng là điều đáng học hỏi. Hầu như mọi cử chỉ, hành động của họ đều xuất phát từ lòng kính mến một cách rất đặc biệt đến Đức Mẹ Guadalupe.

    Bức hình Đức Mẹ Guadalupe cũng rất là linh thiêng. Do đó, vào ngày Lễ Kính Đức Mẹ Guadalupe, rất nhiều các giáo phận và tổng giáo phận Công giáo tại Hoa Kỳ được tái cung kính và dâng lên cho sự bảo trợ và gìn giữ của Đức Mẹ Guadalupe.

    Hành động này chính là việc lặp lại hành động mà Đức cố Tổng Giám mục Juan de Zumarraga đã làm cho Giáo Hội tại Mêhicô trong những năm thuộc thế kỷ thứ 15. Lúc đó, đang diễn ra hàng ngàn vụ tàn sát những người thuộc thổ dân Aztec tại Mêhicô, cũng giống hệt như những vụ thảm sát một cách tương tàn và vô tội vạ đối với những trẻ sơ sinh chưa được chào đời, cũng như các cuộc chiến có tính chất thảm sát tại khắp mọi nơi trên thế giới vào thời đại ngày nay vậy. Đức cố Tổng Giám mục Zumarraga đã khẩn cầu Đức Mẹ hãy gởi đến cho ngài những Cánh Hoa Hồng Castilian (Castilian Roses) như là một dấu chỉ để chấm dứt ngay những vụ thảm sát tương tàn này. Khi Juan Diego mở tilma (trang phục hay áo) của mình ra ngay trước mặt Đức Tổng Giám Mục, tức thì các cành bông hồng tuôn đổ ra như thác nước, bao gồm luôn cả các Cánh Hoa Hồng Castilian, và hình ảnh của Mẹ xuất hiện một cách rất nhiệm mầu trên chiếc áo mà Thánh Juan Diego đang mặc. Hàng triệu người khi đó đã quay trở lại đạo, và tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa, thay vì các thần khác mà họ đã tôn thờ trước kia. Rất nhiều phép lạ đã xảy ra tại nơi đó.

    Trong lúc hiện ra với Juan Diego, bức thông điệp mà Mẹ nhắn gửi lại, mãi cho đến ngày hôm nay vẫn còn có giá trị hết sức tỏ tường và đích thực đối với từng người trong chúng ta. Bức thông điệp đó chính là:

    “Hãy biết chắc rằng, hỡi người con trai của Ta, hỡi người con bé bỏng của ta, rằng Ta chính là Đức Nữ Trinh Maria rất Thánh và Hoàn Hảo, là Mẹ của Thiên Chúa thật - Đấng hằng sống và cũng là Đấng Tạo Dựng ra toàn thể nhân loại, Đấng làm chủ tất cả những gì gần hay xa, Đấng làm Chủ cả trời lẫn đất. Ta rất mong ước rằng họ xây dựng một ngôi nhà nhỏ thiêng liêng dành cho ta tại nơi đây, một 'Teocalli’, là nơi mà ta sẽ trình bày Ngài, tán tụng Ngài, và làm cho Ngài được vinh hiển. Là nơi mà ta sẽ dâng lên cho Ngài tất cả mọi người với tất cả tình yêu thương của ta, với cái nhìn của lòng trắc ẩn, với sự trợ giúp và cứu rỗi của ta, bởi vì ta thật sự chính là người mẹ đầy lòng nhân ái của con; của riêng con và cũng là mẹ của tất cả những ai sống đoàn kết trên mãnh đất này, và của tất cả nhân loại; của tất cả những ai mến yêu ta; của tất cả những ai than khóc với ta; của tất cả những ai tìm kiếm ta; của tất cả những ai tín thác vào ta. Ở tại nơi đó Ta sẽ lắng nghe tiếng than khóc của họ, sự sầu não của họ, như là cách để làm cạn vơi đi tất cả những nỗi đau khác của họ, những sự thống khổ và sầu não của họ, để cứu chữa và loại bỏ đi tất cả những sự thống khổ của họ”.

    Hình ảnh mà Mẹ đã trao cho Thánh Juan Diego cho thấy Mẹ đang mang thai Chúa Giêsu. Những người thổ dân Aztec đã được Thánh Juan Diego cho nhìn thấy bức ảnh này đã quyết định chấm dứt đi sự thảm sát tương tàn nhau, vì trước đó họ tin rằng Thiên Chúa chống đối lại họ. Hình ảnh này công bố ra một sứ điệp của Phúc Âm đó là “Thiên Chúa ở cùng với Chúng Ta” (God Is With Us), Ngài chính là Emmanuel, để qua đó chúng ta có thể có được niềm hy vọng, nhằm mang đến cho chúng ta một sự can đảm để có thể nói lên hai tiếng “Xin Vâng” với Sự Sống, như chính Đức Mẹ đã nói lên hai lời đó.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~​

    Ngày 12 tháng 12

    Thánh GIOANA PHANXICA CHANTAL (1572 – 1641)

    Gioana Phanxica Fremyet chào đời ngày 23.01.1572 ở Dijon, là con của vị chủ tịch nghị viện. Thuộc một gia đình công giáo đạo đức, ông đã đào tạo con gái của mình nên một đứa trẻ có đời sống tín hữu mạnh mẽ. Học tập như các trẻ em khác, thánh nữ có một tinh thần sống động và tỏ ra vừa vui tươi vừa đứng đắn.

    Dầu còn nhỏ, Gioana Phanxica quyết xa rời những người lạc đạo, Ngài la hét khi có ai trong số họ chạm tới Ngài. Khi đến tuổi hoà mình với đời sống đài các, sự dè giữ của thánh nữ chứng tỏ Ngài đã không ao ước một cuộc sống dễ dãi trống rỗng. Một trong những nhiệt huyết nơi Ngài là được thực hiện những công trình lớn cho Thiên Chúa: Ngài muốn được tử đạo. Ngài đã phát khóc khi thấy những người khốn cực, Ngài nói : – “Nếu không yêu thương người nghèo, tôi thấy mình như không yêu mến Thiên Chúa”.

    Vị bá tước de Chantal thấy rằng : Gioana Phanxica sẽ là người vợ quí nhất trên thế gian. Cuộc hôn nhân hoàn tất. Gioana Fremyet lúc ấy 20 tuổi trở thành Gioana De Chantal. Buổi đầu, vị nữ bá tước trẻ lo âu vì những món nợ cũ phải thanh toán. Nhưng GIOANA đã vui cười bắt tay vào việc. Ngài chỗi dậy từ 5 giờ sáng, dự thánh lễ, dùng ngựa để đi thăm nông trại và đất đai, kéo sợi và may vá với những người giúp việc, Ngài tỏ ra là một người quản lý danh tiếng, đồng thời cũng rất bác ái và dễ yêu đến nỗi người ta gọi Ngài là “bà phúc hậu”.

    Có người còn nói rằng: mình thích mang bệnh để được nữ bá tước viếng thăm, nhưng Ngài cũng biết rằng: săn sóc và mỉm cười chưa đủ, phải có Chúa giúp sức. Chẳng hạn đến với một bênh nhân xem như tuyệt vọng, Ngài thức đêm cầu nguyện và đến sáng thì bệnh nhân được lành. Vị bá tước nhiều lần thấy người vợ đầy lòng bác ái quì cầu nguyện .

    Khi xảy ra nội chiến, cảnh khốn cùng lan rộng cắp làng quê. Vị nữ bá tước đón tiếp các người bị bỏ rơi. Bệnh tật và các trẻ sơ sinh. Đoàn người thiếu ăn trong vòng bảy dặm tuôn đến, Ngài tự tay múc cháo phục vụ mọi người. Thấy người đã được trợ cấp trở lại, Ngài không từ chối giúp đỡ họ và thưa với Chúa : – “Con đến gõ cửa van xin lòng thương xót của Chúa, nào là con có muốn đến lần thứ hai thứ ba mà bị xua đuổi đâu ?”

    Bá tước de Chantal là một sị quan, thường vắng mặt để phục vụ nhà vua nơi triều đình hay trong quân đội. Khi ấy thánh nữ bỏ đồ trang sức và áo nhung, tự khép mình với sáu người con và các việc nội trợ, dành nhiều thời gian hơn để cầu nguyện. Khi bá tước trở về, Ngài tổ chức ăn mừng với nét mặt rạng rỡ vui tươi. Hạnh phúc chiếu sáng tổ ấm gia đình.

    Nhưng trong một cuộc đi săn, bá tước bị tử thương. Ngườivợ trẻ thành góa bụa lúc 28 tuổi, đã đau đớn khóc lóc : – “Lạy Chúa, xin hãy cất đi mọi của cải và con cái, nhưng xin để lại người chồng yêu quí mà Chúa ban cho con”.

    Dầu vậy, trong cơn thất vọng, thánh nữ đã điều khiển được lòng mình và tìm vâng theo thánh ý Chúa. Gioanna Phanxica phải từ giã lâu đài để về sống gần cha chồng. Những người nghèo vây quanh xe Ngài khóc lóc vì họ đã mất người mẹ hiền. Một cảnh huống nặng nề đang đợi Gioanna nơi nhà cha chồng. Người quản gia già nắm mọi quyền bính, bắt Ngài nuôi nấng con cái bà với con cái của thánh nữ. Người đàn bà trẻ đã cố gắng để khỏi bị chống đối, Ngài luôn hiền hậu và không hề làm cha chồng nổi nóng. Ngài cũng tổ chức một phòng thuốc cấp cứu và săn sóc người nghèo. Bảy năm trôi đi trong nếp sống khó khăn và hãm mình.

    Năm 164, Gioanna Phanxica gặp thánh Phanxicô Salesiô. Vị thánh quyết định đời Ngài. Thánh nhân giảng mùa chay tại Dijon và nhận thấy thánh nữ chăm chú nghe mình. Ngài hỏi thánh nữ có ý định tái gái không ? Thánh nữ kêu: – Không !

    Và thánh nhân đã trả lời : – “Vậy phải kéo bảng hiệu xuống”. Chỉ muốn Chúa thôi, đừng làm dỏm, dẹp bỏ tất cả chi tiết phong lưu lẫn lòng kiêu hãnh.

    Gioanna tự lo cho mình, phục vụ người nghèo, lau rửa những người khốn klhổ đầy chấy rận. Mặc đồ sạch sẽ cho họ rồi nấu giặt và vá mạng áo quần cho họ. Thánh Phaxicô Salesiô dẫn Ngài tới sự Thánh thiện bằng đời sống ngày càng kết hiệp sâu xa hơn với Chúa. Thánh nhân cũng qủa quyết rằng: thời giờ đã đến để thánh nữ từ bỏ thế gian. Đường chân thực của thánh nữ là trở nên tu sĩ và thiết lập dòng thăm viếng.

    Gioanna đã anh hùng từ giã gia đình, Ngài dẫn người con gái không lập gia đình là Fracoise để bổ túc việc giáo dục bên cạnh Ngài. Người con trai ở lại với ông nội đã chống lại việc Ngài ra đi và nằm ngang cửa ngăn cản. Cử chỉ của thánh nữ không theo tầm mức của chúng ta: Gioanna lau nước mắt bước qua mình con. Ngài biết rằng: con mình sẽ không bị bỏ rơi, vì Ngài đã trao phó cho người cậu là tổng giám mục Bourges. Và mỗi khi cần đến, Ngài sẽ đi thăm để lo cho lợi ích của các con.

    Tháng 6 năm 1610, thánh nữ đã thiết lập tu viện dầu tiên ở Annecy và khẩn nguyện luôn thực hiện điều gì xem ra hoàn hảo hơn. Danh tiếng của các nữ tu dòng Thăm Viếng tận tâm phục vụ người nghèo, bệnh nhân và giáo dục các thiếu nữ lan rộng mau chóng. Suốt 30 năm, mẹ de Chanltal đã thiết lập nhiều tu viện, hiến mình làm nọi việc.

    Vào cuối đời, Ngài kể lại: – “Tôi như những nữ tá thô kệch thời thu hoạch. Người cha gia đình nói với họ: hãy đến chỗ này, hãy đi chỗ nọ, hãy trở lại cánh đồng này, hãy đi tới chỗ khác. Chẳng hạn người cha diễm phúc của chúng tôi đã nói: hãy đi thiết lập ở Lyon , ở Grenoble, hãy trở lại để đi Bourges, hãy đi Paris, hãy từ giã Paris và trở lại Dijon. Chẳng hạn nhiều năm tôi chỉ đi và đến, khi thì ở một trong những cánh đồng, khi thì ở một nơi khác của cha thân yêu”.

    Nơi nào thánh nữ đi qua, Ngài đều để lại sự êm dịu, sự phấn khởi và niềm tin tưởng. Người ta thấy Ngài chống lại sự nhọc mệt bằng niềm vui và can đảm. Linh động trong công việc, Ngài nấu ăn và coi bò, giờ giải trí, Ngài vui vẻ với các nữ tu… khiến họ nói: “Khi Mẹ chúng ta không giải trí được là thiếu một phần vui tươi êm ái”. Bệnh tật không ngăn cản Ngài săn sóc và nghĩ tới mọi sự .

    Với một trí khôn nhanh nhẹn và chính xác, một lúc, Ngài đọc cho 3 nữ tu ghi chép.

    Mười chín năm trước khi qua đời, Gioanna Phanxica mất người bạn, người cha, người nâng đỡ là thánh Phanxicô Salesio. Sự đau đớn của Ngài thực sự lớn lao. Rồi đến cái chết của người con trai để lại một cháu gái sẽ là nữ nam tước de Sévigné. Các tang lễ liên tiếp nơi các người thân. Nhưng thử thách lớn lao nhất của thánh nữ là những chán nản nội tâm, những cám dỗ kinh khủng nghịch lại đức tin. Ngài không hể tỏ lộ những đau đớn của mình và lấy sự bình thản để phủ lấp những lo âu. Mẹ de Claugy đã nói về những khô khan liên tục của Ngài: – “Chỉ trong cõi đời đời, người ta mới biết hết được”.

    Khi Ngài qua đời, cha giải tội nói : – “Suốt 23 năm, tôi đã thán phục nơi thánh nữ một lương tâm tinh ròng trong suốt và rõ rệt hơn cả pha lê”.

    Trong những hành trình cuối cùng mẹ de Chantal được reo mừng khắp nơi. Khi có dịch hạch ở Annecy, Ngài đã không từ chối bỏ nơi này và tăng gấp các việc bố thí và lời cầu nguyện . Ở St. Germain, hoàng hậu đưa hai người con tới gặp và xin Ngài chúc lành. Ngài hân hạnh được gặp thánh Vinh -sơn Phaolô, Dân Paris chen lấn để mong chạm tới Ngài và nghe Ngài nói. Trở về, Ngài ngã bệnh ở Monlins. Tới phút cuối Ngài vẫn còn lo lắng đến mọi việc. Và sau 3 lần kêu danh Chúa Giêsu, Ngài tắt thở năm 1641, năm 1767 Ngài được tuyên thánh.

    ~~~~~~~~~~~~~~
    Ngày 12 tháng 12

    Thánh Simon PHAN ĐẮC HÒA, Y Sĩ (+1840)

    Simon Phan Ðắc Hoà sinh tại làng Mai Vĩnh, Thừa Thiên, trong một gia đình ngoại giáo. Sau khi thân phụ qua đời, Simon Hòa cùng với mẹ và chị tới ở nhờ một gia đình Công Giáo tại làng Nhu Lý (Quảng Trị). Nhờ đó, Simon Hòa học biết đạo và được lãnh phép Rửa tội lúc 12 tuổi. Là một trẻ em thông minh đạo đức, Simon Hoà được gửi học tại trường La Tinh. Nhưng vì mắc ngăn trở gia đình, Simon Hoà không thể tiếp tục đời tu. Tại Nhu Lý, ngài học nghề thuốc và nhờ có năng khiếu nên chữa bệnh rất cao tay. Ngài có lòng thương người và đức tin sáng chói, nên được bầu làm trùm họ. Ngài lập gia đình và sinh hạ được 12 người con. Nhà ngài là nơi các vị thừa sai hay lui tới và đến trú ẩn trong cơn bách đạo. Năm 1839, vua Minh Mạng ra tay bách hại gắt gao, nên ngài rước cố Y (M. Gilles Delamotte) về tạm lánh tại nhà mình. Việc đó khiến cả làng Nhu Lý xôn xao sợ vạ lây. Ngài đã trấn an mọi người và tuyên bố sẵn sàng chịu hết mọi trách nhiệm nếu có chuyện gì xảy ra. Nhưng rồi tình thế nguy ngập, ngài quyết định đem cố Y đi trốn ở An Ninh bằng đường thủy. Rủi ro, ngày 13-4-1840, khi đò vừa tới Hòa Ninh, lính canh trông thấy đuổi theo và bắt được cả hai điệu về Dương Xuân để áp giải ra Quảng Trị. Sau nhiều lần bị tra tấn vô hiệu quả, ngài bị giải về Huế. Dù bị đánh đập, ngài vẫn một lòng tin theo Chúa, không khi nào chịu quá khoá.

    Ngày 12-12-1840, ngài bị điệu đi trảm quyết tại pháp trường An Hoà (Huế) để lãnh triều thiên tử đạo.

    Ngày 27-5-1900, Ðức Lêô XIII đã phong Chân Phước cho ngài và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-6-1988.
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 13 tháng Mười Hai 2017
  9. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 13 tháng 12

    Thánh LUCIA, Đồng Trinh Tử Đạo (Thế kỷ IV)

    Theo lịch sử, chắc chắn là đã có một thánh nữ tử đạo tên là Lucia và mộ ngài được tìm thấy trong hang toại đạo của các Kitô hữu Syracusa. Sau đây là câu chuyện về cuộc tử đạo của ngài.

    Lucia là một thiếu nữ quí phái người Syracusa tại thủ đô miền Sicily. Mẹ ngài gốc người Hy Lạp tên là Eutychia, có nghĩa là hạnh phúc. Sớm thành goá phụ, bà đã gắng chuẩn bị cho Lucia một địa vị cao bằng cách dưỡng dục thánh nữ theo tinh thần Kitô giáo. Bà thường nói với con gái mình về lòng can đảm của các vị tử đạo đã tưới máu trên đế quốc hai thế kỷ qua. Như ở Sicily, tại hải cảng Catana, nửa thế kỷ trước thánh nữ Agatha thay vì chối bỏ đức tin, đã khước từ tình yêu của quan cầm quyền và trung thành với Chúa Kitô giữa các cực hình.

    Mẫu gương đáng phục này đã ám ảnh Lucia và khi Eutychia nhận lời cầu hôn cho con gái mình, Lucia khẩn cầu Chúa cất xa những cuộc cưới hỏi trần thế để dâng hồn xác phụng sự một mình ngài thôi. Bỗng Eutychia ngã bệnh, Lucia lấy cớ này để đình hôn. Dầu vậy, ngài thấy buồn vì mẹ khổ lâu, nên khuyên bà kêu cầu với thánh nữ Agatha, ngài đưa mẹ đi Cathana để dưỡng bệnh. Khi đó, ngài xem thường những sắc lệnh bách hại đạo của Điôclêtianô, khấn hiến mình hoàn tòan cho Thiên Chúa. Ngài đòi phân gia tài để phân phát cho người ghèo. Ngài nói: “Dâng cho Chúa điều người ta không mang theo sau khi chết thì cũng không có gì là nhiều”.

    Nhưng người theo đuổi Lucia thấy ngài bán nữ trang và ruộng đất rồi phát cho người khổ cực, liền nổi giận và tố cáo với Paschse là người cầm quyền ở Syracusa. Lucia bị cầm tù. Trước toà, ngài đã trả lời cách đáng phục:

    “Giờ thì tôi chẳng còn gì nữa để dâng, tôi dâng chính mình như bánh thánh lên Thiên Chúa tối cao. Ông run rẩy trước mặt Thiên Chúa, còn tôi, tôi kính sợ Thiên Chúa. Ông muốn làm đẹp lòng họ, còn tôi, tôi chỉ có một ước vọng là làm đẹp lòng Chúa Kitô thôi. Những người thiêu huỷ thân xác là những người bỏ niềm vui mau qua để đổi lấy những niềm vui đời đời. Thánh Phaolô tông đồ đã nói: Ai sống trong sạch và đạo đức là đền thờ Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần ở trong họ. Thân thể chỉ ra nhơ uế nếu linh hồn đồng tình với nó”.

    Nhà cầm quyền truyền trao Lucia cho bọn đâm đãng để làm nhục cho đến chết. Nhưng ngài đã thành một sức mạnh khủng khiếp khiến bao sức lực của họ cũng không thể kéo ngài đi được. Người ta kêu các phù thuỷ, đưa bò đến kéo nhưng không nghĩa lý gì đối với sự bất động của Trinh Nữ.

    Người ta đốt lửa cũng không chạm tới ngài. Sau cùng, người ta dùng giáo đâm cổ ngài, nhưng ngài còn tiên báo một cách lạ lùng: “Tôi báo cho các ngươi biết rằng, Giáo hội Chúa được ơn bình an vì hôm nay Điôclêtiano bị đuổi khỏi đế quốc, Maximianô phải chết. Và như Catana vui sướng được chị tôi là Agatha bảo trợ, thành Syracusa được Chúa ban cho tôi, nếu các ngươi hết lòng thực hiện thánh ý Chúa”.

    Và dân Sicily thấy Paschase bị xiềng. César biết được rằng ông ta sẽ chiếm thành. Lucia trước khi chết đã được rước Mình Chúa do các linh mục đem đến.

    Lucia là tên do từ ngữ Lux, nghĩa là ánh sáng. Như ánh sáng, gương mẫu đời ngài dẫn các linh hồn lên trời. Tên ngài khiến những ai đau mắt thường kêu cầu ngài.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  10. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 14 tháng 12

    Thánh GIOAN THÁNH GIÁ, Linh Mục, Tiến Sĩ Hội Thánh (1542-1591)

    Gioan de Yepes sinh tại Phontiveros, gần Avila. Tây Ban Nha ngày 24-6-1542. Cha ngài làm thợ dệt, bị gia đình giàu có làm nghề buôn bán loại trừ vì đã cưới một người vợ kém hơn. Mẹ ngài là một người đàn bà thánh thiện, trở thành goá phụ sau khi sinh Gioan. Không nguồn lợi, với 3 đứa con, bà đã làm thuê cho một thợ dệt. Bé Gioan dần dần đã học nghề thợ mộc, may vá, điêu khắc, hội hoạ trong tình yêu mến Chúa Giêsu Kitô.

    Trong mọi việc, ngài có thói quen tự hỏi: “Vào trường hợp tôi, Chúa Giêsu sẽ làm gì?”

    Ngài không trốn tránh một hy sinh nào. Lúc 12 tuổi, Gioan được học đọc, học viết với các nữ tu ở Medina del Campo. Đức bác ái của ngài bao la: từ hồi còn niên thiếu, ngài đã dùng giờ rảnh để phục vụ các bệnh nhân ở nhà thương, dầu vẫn theo học văn phạm và triết học nơi các cha dòng Tên.

    Năm1563, Gioan gia nhập dòng Carmêlô và năm sau được gửi học tại Đại học Salamanca. Năm 1567, ngài thụ phong linh mục ở Medina và đã gặp thánh nữ Avila. Thánh nữ đã khuyên ngài thực hiện việc cải tổ dòng Camêlô như thánh nữ đang làm. Thánh nữ nói với ngài: “Đây là công trình đòi hy sinh và máu. Tôi không biết cha sẽ phải chịu khổ tới đâu nhưng chắc chắn cha phải chịu khổ”.

    Gioan trở thành người con thiêng liêng của người nữ tu Carmêlô này. Cha 25 tuổi và chị 52 tuổi. Chị gửi cha đến với hai người bạn ở Duruelô trong cảnh cô tịch và đây là nguồn gốc của dòng Carmêlô canh tân đi chân không, ngài lấy tên là Gioan Thánh Giá. Sự nghèo túng thật khủng khiếp, ngài chỉ sống bằng cỏ, nhưng vẫn dùng những khúc ca tạ ơn Chúa vì đã chỉ cho biết phải sống và cư xử cách nào. Ngài hành động cách khác thường trên những người chung quanh, giải thoát họ khỏi những việc hư hỏng, tạo cho họ một lòng yêu thích hy sinh.

    Sau khi chống lại đoàn thể các tu sĩ Carmêlô ở Alcala de Hélenrés, Ngài trở thành tuyên uý của tu viện Avila trong 5 năm, thánh nữ Têrêxa giới thiệu với con cái mình: “Cha là vị thánh”.

    Sự thánh thiện của Gioan vượt quá nhiều người và trở nên khó hiểu, sự canh tân khiến ngài bị tố cáo là nổi loạn. Các thầy dòng Carmêlô chước giảm chống lại các thầy dòng Carmêlô đi chân không. Cuối cùng, sau những nhục mạ dữ dội, ngài bị cầm tù ở Tolêđô. Người ta đối xử cứng rắn với ngài, 3 lần mỗi tuần họ đưa ngài tới nhà cơm và đánh đập không nương tay. Nhưng ngài cảm thấy đang đi đúng đường Chúa muốn và tạ ơn Chúa vì đã chịu được hạ nhục và chịu khổ cực. Những bắt bớ tăng thêm đức tin và lý tưởng của ngài. Đáp lại, ngài yêu mến nhiều hơn và trong hầm tối thiếu khí trời, ngài trước tác những vần thơ bí nhiệm làm thành cuốn “Thánh ca thiêng liêng” (cantiques spirituelles).

    Được 9 tháng, thánh nhân vượt ngục. Trước khi đến tu viện định tới, ngài dừng lại trong một dòng nữ. Ngài nghe một nữ tu ca hát về “hạnh phúc của đau khổ” và bỗng ngài phải bám chặt vào cửa sắt nhà khách. Ngài đã xuất thần. Ý tưởng được chịu khổ vì Chúa đã làm cho ngài cả thấy dư tràn hạnh phúc. Phép lạ này trong tâm hồn, như muốn lôi kéo cả thân xác đổi mới theo... thánh Têrêxa nói: “Không có cách gì để nói về Thiên Chúa với cha Gioan Thánh Giá. Ngài xuất thần ngay và lôi kéo người khác theo”.

    Một ngày kia quỳ bên song sắt, thánh nữ nghe cha nói về Chúa Ba Ngôi, thì thánh linh như muốn nâng ngài lên. Khiêm tốn, ngài nắm lấy tay vào thành ghế. Nhưng hoạt động thần linh đã nâng ngài lên tới trần nhà. Têrêxa ở trước mặt ngài cũng xuất thần và bay bổng. Một nữ tu tiến vào, cảm kích vì cảnh tượng vội đi gọi các nữ tu khác đến chiêm ngưỡng cả hai vị thánh được Chúa chúc phúc.

    Đức Thánh Cha và vua Philipphe II ủng hộ những cuộc cải cách và bây giờ Gioan phải nhận nhiều trọng trách. Ngài làm bề trên dòng Calvariô. Ngài lập cộng đoàn Carmêlô Baeza và 3 năm sau được chọn làm tu viện trưởng ở Grenade. Đi đường qua các thành Tây Ban Nha, ngài chinh phục các linh hồn về cho Chúa Kitô, chính ngài đã xây dựng một thủy lộ, một tu viện. Trong 15 ngày, ngài đã viết cuốn “Ngọn lửa tình yêu sống động” (La vive flamme d'amour). Cuối cùng ngài trở thành Tổng Đại diện Andalousia.

    Sự trong trắng của thánh nhân đã tạo cho ngài một quyền năng trên quỷ thần. Ngài đã giải thoát nhiều người bị quỷ ám. Người ta nói rằng, bằng những dấu thánh giá ngài dẹp tan cơn bão, bằng lời nguyện, ngài dập tắt một hỏa hoạn. Các thú vật quý mến ngài. Để giữ mình trong sạch, thánh nhân tự nhận lấy đau khổ nhưng lại rất thương cảm những đau khổ của người khác, ngài còn tế nhị hơn nữa đối với những đau khổ tinh thần mà ngài gọi là “đêm tối của tâm hồn”. Nhưng ngài hiểu rằng, những đau khổ này thanh tẩy tâm hồn rất nhiều. Không kết hợp với Chúa được nếu không có khổ hạnh trong tâm hồn.

    Thường nhà dòng nghèo khó đến độ có ngày không có bánh ăn. Tập họp ở nhà ăn, thánh nhân nói với các tu sĩ về hạnh phúc được chịu khổ vì Chúa Giêsu Kitô. Họ khóc vì nhiệt tâm và lui ra. Bỗng chuông reo, một người vô danh đã đem bánh cho nhà dòng. Các tu sĩ trở lại phòng ăn. Lần này, thánh nhân khóc và nói: “Ôi, vậy là Chúa đã thấy sự yếu đuối của chúng con không chịu thử thách được lâu. Ngài đã sớm thương hại chúng ta”.

    Lần kia, ngài đã trả lời Chúa Giêsu khi ngài hỏi về phần thưởng ngài muốn rằng: “Lạy Chúa, xin cho con được chịu khổ và bị khinh miệt vì Chúa”.

    Và Ngài đã xin 3 ơn này là: đừng có ngày nào mà không được chịu đau khổ, đừng là bề trên vào lúc chết và được chết trong khiêm hạ. Thiên Chúa đã nhận lời Ngài.

    Những tháng bị giam cầm, với bao đau khổ dữ dằn người ta đối xử, đã huỷ hoại thân thể ngài. Mệt nhọc vì du hành tới Andalousia, làm thánh nhân bị thiêu đốt ở chân, các vết thương mở rộng. Ngài chịu đau đớn kinh khủng đến nỗi lần kia ngài nói với người đối thoại:

    - Xin lỗi, tôi không trả lời nổi. Tôi bị đay nghiến và đau nhức.

    Thánh nhân được chọn một trong hai nơi để chữa bệnh, hoặc ở Baeza, nơi người ta quý mến, hoặc ở Ubeda, nơi tu viện trưởng có ác cảm với ngài. Ngài đã chọn tu viện Ubeda. Những cư xử nghiêm nhặt làm cho ngài đau đớn thêm. Nhưng ngài càng ôm chặt Thánh Giá vào lòng. Vị tu viện trưởng cảm động vì sự dịu dàng không mệt mỏi, vì lòng bác ái sâu xa của bệnh nhân, cuối cùng đã hiểu và xin ngài tha thứ.

    Gioan báo trước mình sẽ chết đêm 14-12 (năm 1591). Các tu sĩ đọc kinh phó linh hồn, ngài xin đọc sách Diễn Tình Ca. Các cơn đau không ngừng gia tăng khi chuông reo giờ kinh sáng, ngài cầm thánh giá nói: “Lạy Chúa, con phó linh hồn trong tay Chúa”.

    Ngài còn nhìn các tu sĩ, hôn Chúa Kitô và tắt thở. Ngài đã viết: “Vào xế chiều cuộc sống này, bạn được phán xét về tình yêu”.

    Gioan Thánh Giá để lại nhiều sách luôn được suy gẫm như: Đường lên Carmêlô, Đêm Tối Tâm Hồn, Ngọn Lửa Tình Yêu Sống Động, Thánh Ca Thiêng Liêng. Ngài được phong thánh năm 1726. Và Đức Piô XI đã đăt ngài làm Tiến sĩ Hội Thánh năm 1962.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    thiên chương likes this.
  11. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 15 tháng 12

    Thánh Maria Rosa, sáng lập Dòng Nữ Tì Bác Ái

     
  12. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 17 tháng 12

    Thánh Lagiarô

    Lagiarô, người bạn của Ðức Giêsu, là anh em của bà Mácta và Maria, được các người Do Thái thời ấy nói rằng, "Kìa xem ngài quý mến ông là chừng nào." Và trước sự chứng kiến của họ, Ðức Giêsu đã cho Lagiarô sống lại sau ba ngày nằm trong mộ.

    Sau khi Ðức Giêsu chết và sống lại, có nhiều truyền thuyết về cuộc đời Thánh Lagiarô. Người ta nói rằng ngài đã viết lại những gì được thấy ở bên kia thế giới trước khi được Ðức Giêsu cho sống lại. Có truyền thuyết cho rằng ngài theo Thánh Phêrô đến Syria. Truyền thuyết khác lại nói rằng mặc dù người Do Thái ở Jaffa đã ép buộc ngài và các chị em của ngài lên một chiếc thuyền bị đâm thủng, nhưng họ đã cập Cyrus một cách an toàn. Ở đây, sau khi làm giám mục trong 30 năm, ngài đã từ trần cách bình an.

    Một nhà thờ được xây cất để tôn kính ngài ở Constantinople và một số thánh tích được đưa về từ Cyrus vào năm 890. Truyền thuyết Tây Phương lại nói rằng có một chiếc thuyền không mái chèo cập bến nước Gaul (nước Pháp bây giờ). Ở đây, ngài làm giám mục của Marseilles, bị tử đạo sau khi đã hoán cải nhiều người, và được chôn cất trong một cái hang. Thánh tích của ngài được đưa về một vương cung thánh đường mới ở Autun năm 1146.

    Có một điều chắc chắn là trước đây người ta đã sùng kính thánh nhân. Khoảng năm 390, vào thứ Bảy trước Chúa Nhật Lễ Lá, người ta thường rước kiệu ngay tại ngôi mộ mà Lagiarô đã được sống lại từ cõi chết. Ở Tây Phương, Chúa Nhật Thương Khó trước đây được gọi là "Dominica de Lazaro" (Chúa Nhật Lagiarô), và Thánh Augustine cho chúng ta biết ở Phi Châu, phúc âm về đoạn Lagiarô sống lại được đọc trong ngày Chúa Nhật Lễ Lá.

    Trích từ NguoiTinHuu.com
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 18 tháng Mười Hai 2017
  13. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 18 tháng 12

    Thánh Phaolô NGUYỄN VĂN MỸ, thầy giảng;
    Thánh Phêrô TRƯƠNG VĂN ĐƯỜNG, thầy giảng;
    và Thánh Phêrô VŨ VĂN TRUẬT, thầy giảng

    (+1838)

    Thời vua Minh Mạng, lệnh cấm đạo mỗi ngày thêm gắt gao, và ngày 20-6-1837, quan tỉnh Sơn Tây sai lính tới bao vây làng Bầu Nọ bắt được Cố Tân (Cornay) và ba thầy giảng Việt Nam là Phaolô Mỹ, Phêrô Ðường và Phêrô Truật.

    - Phaolô Nguyễn Văn Mỹ sinh năm 1798, cuối đời Sơn Tây, trong một gia đình đạo đức và giàu có thuộc xứ Kẻ Non, địa phận Tây Ðàng Ngoài. Năm 13 tuổi (1811), ngài được cha mẹ cho vào nhà Ðức Chúa Trời. Rồi năm 1817, theo học tại Chủng Viện Vĩnh Trị. Và sau mấy năm tu luyện, Phaolô Nguyễn Văn Mỹ chính thức trở thành thầy giảng giúp việc truyền giáo. Lúc bị bắt, ngài đang giúp Cố Tân tại xứ Bầu Nọ.

    - Phêrô Trương Văn Ðường chào đời năm 1808, tại Kẻ Sở (Hà Nam). Khi lên 9 tuổi, ngài đã được nhận vào nhà Ðức Chúa Trời ở xứ Yên Tập. Năm 1834, trở thành thầy giảng và giúp việc truyền giáo tại Bầu Nọ.

    - Phêrô Vũ Văn Truật sinh năm 1816 tại Kẻ Thiếc, thuộc xứ Bầu Nọ. Ngài ở nhà Ðức Chúa Trời với địa vị khiêm tốn của bậc tôi tớ, vì lý do sức khỏe không thích hợp cho việc học tập. Khi bị bắt, ngài đang giúp việc tại xứ Bầu Nọ. Phần thưởng đầu tiên mà ngài nhận được sau khi bị bắt, là Ðức Giám Mục địa phận Tây Ðàng Ngoài đã chính thức nhận ngài làm thầy giảng.

    Trong suốt 18 tháng trong tù, ba thầy đã bị tra tấn nhiều lần, nhưng luôn luôn tỏ ra nhẫn nại chịu đựng, quyết giữ vững đức tin, và hằng ước ao được phúc tử đạo.

    Bản án tử hình do quan tỉnh Sơn Tây đệ trình vua Minh Mạng đã được châu phê và trả về ngày 19-10-1837. Mãi tới ngày 18-12, ba thầy giảng mới bị điệu đi xử giảo.

    Ngày 27-5-1900, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã long trọng tôn ba thầy hàng Chân Phước và Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-6-1988.
     
  14. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 19 tháng 12

    Tôi Tớ Thiên Chúa Berthold ở Ratisbon (c. 1272)

    Qua sự rao giảng của cha, lời Chúa đánh động những tâm hồn chai đá. Tinh thần của ngài vẫn sống động trong các bài giảng, mà nhiều bài ấy vẫn thích hợp trong thời đại chúng ta.
    Sinh ở Ðức vào khoảng năm 1220, ngay từ khi còn trẻ, Berthold người xứ Ratisbon đã gia nhập dòng Phanxicô khi mới được thành lập. Ngài đạo đức, chịu khó sống kham khổ, và được hướng dẫn bởi vị linh hướng nổi tiếng là cha David người xứ Augsburg. Nhận thấy Berthold có khoa ăn nói nên cha David đã khuyến khích và giúp vị linh mục trẻ tuổi này trau dồi thêm khả năng đó.

    Không bao lâu khắp Ðế Quốc Ðức, ai ai cũng biết tiếng Cha Berthold là một người rao giảng đại tài. Qua sự rao giảng của cha, lời Chúa đánh động những tâm hồn chai đá. Hàng ngàn người đổ về để nghe ngài giảng. Có khi, số người lên đến hơn 100,000, và ngài phải leo lên toà giảng được dựng trên một cái cây cao để mọi người có thể nghe được. Ngày nay, một cánh đồng thật lớn ở Bohemia vẫn còn được gọi là Cánh Ðồng Cha Berthold, vì ngài đã giảng thuyết ở đây. Nhiều người được ơn trở lại, thay đổi đời sống, sám hối tội lỗi. Và họ xây một tu viện và một nguyện đường ở Ratisbon để dâng kính Thánh Maria Mađalêna. Ngày nay tu viện và nhà thờ này vẫn còn đó và do các Nữ Tu Dòng Thánh Clara Nghèo Hèn trông coi.

    Cha Berthold có ơn tiên tri và đã tiên đoán đúng nhiều thiên tai và biến cố trong thời ấy. Sau khi ngài từ trần ở Ratisbon năm 1272, ngôi mộ ngài trở nên trung tâm hành hương. Tinh thần của ngài vẫn sống động trong các bài giảng, mà nhiều bài ấy vẫn thích hợp trong thời đại chúng ta.

    Trích từ NguoiTinHuu.com
     
  15. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 20 tháng 12

    Thánh Elizabeth ở Áo
    (1554 - 1592)

    Là con gái của Hoàng Ðế Maximilian II nước Ðức, Elizabeth kết hôn với Vua Charles IX của Pháp khi mới 15 tuổi. Bốn năm sau ngài đã thành góa phụ, trở về Vienna, nhất định không tái hôn.

    Thánh nữ là một gương mẫu cho tất cả mọi người. Ðời sống của ngài thật đơn giản, luôn cầu nguyện, siêng đến nhà thờ, tham dự các buổi nguyện ngắm. Trong khi cố tránh con mắt dòm ngó của công chúng, ngài gia nhập Dòng Ba Phanxicô, phục vụ bệnh nhân trong các nhà thương hoặc ở nhà, tiếp tế thuốc men cho những người có nhu cầu.
    Nhiều ngày thứ Năm, ngài mời những người nghèo đến ăn cùng bàn với ngài để tưởng nhớ bữa Tiệc Ly.

    Ngài thường thi hành những công việc hèn mọn ở tu viện Thánh Clara Nghèo Hèn mà ngài giúp thành lập, ở đó ngài nấu ăn cho người nghèo. Cũng như Cha Thánh Phanxicô, ngài lo lắng đến việc duy trì giáo hội. Ngài giúp đỡ cho việc giáo dục người trẻ trong ơn gọi tu trì để phục vụ Giáo Hội.

    Thánh Elizabeth từ trần khi ngài khoảng 38 tuổi, sau khi đã hoàn tất quá nhiều công việc để vinh danh Thiên Chúa và vì lợi ích cho người dân. Nhiều phép lạ đã xảy ra tại ngôi mộ của ngài.

    ~~~~~~~~~~~~~~~~
    20 Tháng Mười Hai

    Thánh Ðaminh ở Silos (c. 1073)

    Ðaminh sinh vào đầu thế kỷ mười một và là cậu bé chăn cừu Tây Ban Nha ở dưới chân rặng Pyrênê. Chính trong thời gian này Ðaminh dần dà yêu quý việc cầu nguyện. Không bao lâu ngài trở thành một tu sĩ thật tốt lành. Ðaminh được bầu làm tu viện trưởng và đã đem lại nhiều thay đổi tốt đẹp.

    Tuy nhiên, một ngày kia, quốc vương Garcia III của Navarre, Tây Ban Nha, cho rằng một số đất đai tu viện là của ông ta, nhưng tu viện trưởng Ðaminh từ chối không trao lại cho nhà vua. Ngài nghĩ rằng, thật không đúng để trao cho nhà vua những gì thuộc về Giáo Hội. Quyết định này đã làm nhà vua tức giận. Ông ra lệnh Thánh Ðaminh phải rời bỏ vương quốc của ông. May mắn thay, Thánh Ðaminh và các tu sĩ lại được đón nhận bởi một ông vua khác, là Ferdinand I của Castile. Ông này để cho thánh nhân sử dụng một tu viện cũ, là tu viện St. Sebastian ở Silos. Tu viện này ở một chỗ rất lẻ loi và trong tình trạng thật xiêu vẹo. Nhưng với bàn tay của các tu sĩ, không bao lâu, tu viện đã mang một khuôn mặt mới. Thật vậy, thánh nhân đã biến tu viện này thành một trong những tu viện nổi tiếng nhất ở Tây Ban Nha.

    Thánh Ðaminh làm nhiều phép lạ chữa lành ngay khi còn sống và ngài cũng cứu thoát người tín hữu Kitô khỏi tay người Moor. Nhiều năm sau khi từ trần, thánh nhân hiện ra với một bà mẹ, tên là Joan (bây giờ là Chân Phước Joan ở Aza) khi bà đến đền kính thánh nhân để cầu xin một đứa con. Thánh Ðaminh nói với bà rằng Thiên Chúa sẽ gửi cho bà một đứa con trai. Khi người con ấy chào đời, bà đặt tên con là Ðaminh de Guzman. Và người con này trở thành vị đại thánh sáng lập dòng Ðaminh ngày nay.

    Thánh Ðaminh ở Silos từ trần ngày 20-12-1073.

    Trích từ NguoiTinHuu.com
     
  16. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 21 tháng 12

    Thánh PHÊRÔ CANISIÔ, Linh mục, Tiến sĩ Hội Thánh (1521-1579)

    Thánh Tiến sĩ Phêrô Canisiô thường được gọi là vị tông đồ thứ hai của nước Đức. Ngài chào đời ngày 8-5-1521 tại Nijmegen. Cha ngài là người Công giáo, 9 lần làm thị trưởng Nijmegen. Ông gửi ngài tới phại học Cologne lúc ngài 15 tuổi. Nơi ấy ngài gặp được một vị linh mục trẻ thánh thiện Nicolaus van Esch. Chính vị linh mục này đã đưa Canisiô vào nhóm người trung thành với Công giáo được hình thành để chống lại Hermann van Wied, vị tổng giám mục đã sang hàng ngũ Luthêrô.

    Canisiô được nhóm chọn để tiếp xúc với hoàng đế và tổng giám mục, và việc thoái vị của tổng giám mục đã tránh cho người Công giáo Phineland một thảm hoạ. Ít lâu sau đó, Canisiô gặp được Chân phước Phêrô Faber, một trong các bạn tiên khởi của Thánh Inhaxiô và được hướng dẫn linh thao. Trong cuộc tĩnh tâm này, ngài đã tìm được giải đàp cho vấn nạn ngài tự đặt cho mình làm sao phụng sự Chúa tốt đẹp nhất và nâng đỡ Giáo hội Công giáo đang bị tấn công?

    Ngài gia nhập dòng Tên, thụ phong linh mục năm 1546 và sớm lừng danh do việc ấn hành các tác phẩm của Thánh Cyrillô thành Giêruslem và của Thánh Leo Cả. Năm 1547, ngài tham dự Công đồng Tridentinô như là đại diện của Giám mục Augsburg.

    Năm 1549, ngài được gọi về Roma và lãnh nhận trách nhiệm truyền giáo cho nước Đức, điều sẽ trở thành công trình của đời ngài. Trong cuộc chinh phục của bá tước Bavaria, Canisiô và hai cha dòng Tên khác được chọn để dạy thần học tại Đại học Ingolstadt. Chẳng bao lâu, ngài được đặt làm viện trưởng đại học, rồi sau đó, do sự can thiệp của vua Ferdinand, ngài được gởi đi thi hành cũng một nhiệm vụ tại đại học Vienna, ngài thành công mỹ mãn đến nỗi nhà vua đã cố đưa ngài lên chức tổng giám mục. Dầu đã từ chối vinh dự này, ngài cũng được gọi để quản nhiệm địa phận trong khoảng một năm.

    Vào thời kỳ này, tức năm 1555, ngài đã cho ra cuốn “giáo lý” thời danh, một trong những phụng vụ lớn lao nhất của ngài cho Giáo Hội. Với lối trình bày trong sáng và bình dị giáo thuyết Công giáo, cuốn sách này đáp ứng nhu cầu và chống lại sức tàn phá do cuốn “giáo lý” của Luthênô. Tính cho đến cuối thế kỷ XVII, cuốn sách được xuất bản hơn 400 lần và được chuyển dịch sang 15 ngôn ngữ.

    Từ Vienna, Canisiô qua Bohemia là nơi Giáo Hội ở trong điều kiện tuyệt vọng. Chống lại, ngài đã thiết lập một học viện ở Praha, sau trở thành đại học. Năm 1556, được đặt làm giám tỉnh miền nam nước Đức, ngài lập trường học cho trẻ em tại 6 thành phố và tự nhận trách vụ cung ứng cho nước Đức các linh mục được đào luyện tốt. Thực hiện điều này, ngài thiết lập các chủng viện và gửi người trẻ đi tu nghiệp thường xuyên ở Roma.

    Du hành trong nước Đức, Thánh Canisiô không ngừng rao giảng Lời Chúa. Trước hết, ngài tiếp xúc với những người lãnh đạm hay thù nghịch. Nhưng lòng nhiệt thành và sự thông hiểu của ngài quá rõ đến nỗi đám đông kéo đến chật ních các nhà thờ để nghe giảng. Trong 7 năm liền, ngài là người giảng thuyết chính thức của Nhà thờ Chính toà Augsburg và được coi như vị tông đồ của thành phố này. Mỗi khi qua một nhà thờ miền quê vắng bóng chủ chăn, ngài thường dừng lại để giảng dạy và ban các phép bí tích.

    Dường như ngài không thể nào kiệt sức được. Ngài nói với vài người đã tố cáo ngài làm việc quá độ rằng: “Nếu bạn phải làm việc quá nhiều, với sự trợ lực của Chúa, bạn sẽ tìm giờ để làm cho hết”.

    Một hình thức tông đồ khác là viết thơ. Các pho sách in thư từ của ngài dày hơn cả ngàn trang giấy. Như Thánh Bernardô Clairvaux, ngài dùng phương tiện này để khích lệ, quở trách và hướng dẫn mọi hạng người. Theo nhu cầu của cả Giáo Hội hay của từng cá nhân đòi hỏi. Ngài đã viết thư cho Đức Thánh Cha, cho nhà vua, cho các giám mục, cho các hoàng tử, cho linh mục và giáo dân. Nơi nào thư từ không đủ, ngài đưa ra một sức mạnh do ảnh hưởng cá nhân. Chẳng hạn trong một cuộc họp giữa công giáo và Thệ phản ở Worms năm 1556, đã phải nhờ đến ảnnh hưởng của ngài; mà người công giáo mới có thể hiệp nhất chống lại những mời mọc của Thệ phản để thoả hiệp với những điều thuộc về nguyên tắc.

    Ở Balan năm 1558, ngài đã kiểm soát được một đe doạ mới chớm nở đối với niềm tin cổ truyền của xứ sở. Và trong cùng một năm ấy, ngài đã nhận được lời cám ơn của Đức Piô IV về tài ngoại giao của ngài trong việc hàn gắn sự bất hoà giữa Đức Thánh Cha và hoàng đế. Năm 1561, ngài được trao phó để công bố các sắc lệnh của Công đồng Tridentinô tại nước Đức.

    Ít lâu sau, ngài được kêu gọi để trả lời cho cuốn Kenturies của Magdeburg. Tác phẩm đầu tiên và tồi tệ nhất của lịch sử “Thệ Phản giáo” tấn công giáo hội Công Giáo trong mức độ rông rãi và những bóp méo lịch sử đòi nhiều người mới có thể trả lời đầy đủ được. Dầu vậy, thánh Canisiô đã vạch ra đường lối với hai tác phẩm của Ngài là: “Lịch sử Thánh Gioan Tẩy Giả" và “Đức Trinh Nữ Maria khôn sánh”.

    Từ năm 1580 tới khi qua đời năm 1597, ngài đã cực nhọc và đau khổ nhiều ở Thuỵ Sĩ. Sáu năm cuối, ngài nhẫn nại chịu dựng và cầu nguyện lâu giờ tại Học viện Fribourg, vì bây giờ, sức khoẻ tàn tạ không cho phép ngài có thể hoạt động tích cực nữa.

    Chẳng bao lâu sau khi ngài qua đời, ngày 21-12-1597, mộ ngài đã được tôn kính. Nhiều phép lạ đã diễn ra nhờ lời chuyển cầu của ngài. Ngài là duy nhất đã được phong thánh và tuyên dương làm Tiến sĩ Hội Thánh vào cùng một ngày, ngày 21-6-1925.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  17. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 23 tháng 12

    Thánh GIOAN KENTY, Linh Mục (1390-1473)

    Chúng ta biết đến Thánh Gioan Kenty như là một con người thánh thiện và học thức, ngài vừa là một giáo sư đại học lừng danh, vừa là một ân nhân của người nghèo.

    Có một truyền thuyết rất đẹp về lòng bác ái của thánh nhân. Một người nghèo ăn xin ở cửa phòng ăn. Mỗi người có đúng phần mình, nhưng Gioan đã lấy trọn phần mình cho người bất hạnh. Từ đó, phần của người ăn xin được dành riêng. Công thức “người nghèo đến” được đáp ứng lại bằng “Chúa Kitô đến”. Gioan Kenty còn đưa chính áo choàng của mình cho người bị lạnh lẽo.

    Là bậc thầy về đức ái, ngài cũng rất vui tươi. Một lần, được những người quí phái mời, ngài đến với y phục rất khiêm tốn của mình và bị đầy tớ chủ nhà xua đuổi. Thay bộ đồ khiêm tốn ấy đi ngài được mời vào tiệc. Chẳng may, một người giúp việc vụng về làm rớt đồ ăn vào đó. Ngài nói: “Này, chính nhờ bộ áo mà tôi được ở đây, thế là nó cũng được quyền nếm nước chấm nữa”.

    Tinh thần và bác ái đi đôi quá chân thật có một không hai. Ngày kia, khi đi Roma, ngài bị bọn cướp bóc lột, Ngài nói với họ là không còn gì nữa. Nhưng sau đó ngài thấy tiền trong áo kép. Ngài vội đuổi theo họ, thú nhận mình ăn cắp và đưa cho họ số tiền này. Lịch sử kể lại rằng, bon cướp đã hối cải ngay.

    Kenty, quê hương của Gioan gần Cracovia, là nơi ngài theo học và đạt bằng tiến sĩ triết học lẫn thần học, ngài thụ phong linh mục. Giữ ghế tại đại học, ngài nói tiếng Latinh và tiếng Ba Lan.

    Khi cần thiết, ngài chỉ tranh luận trong tinh thần bác ái bao dung. Trả lời cho những nhục mạ của đối phương, ngài chỉ biết nói: “Tạ ơn Chúa”. Để vượt qua mọi cực nhọc, thử thách, Ngài tự nhủ: "ráng lên". Ngài thường nói với học trò của mình: “Hãy lấy nhẫn nại, dịu dàng và tình yêu làm khí giới để chống lại những quan điểm sai lầm. Thô bạo chỉ hại cho linh hồn và làm hư chính nghĩa”.

    Những ghen tương đố kỵ đã làm cho ngài mất chức đại học và đẩy ngài vào công việc nặng nhọc tại giáo xứ. Thời gian làm cha sở tại Gracôvia, ngài đã tỏ ra có một đức bác ái vô bờ, nhưng đại học lại đòi ngài phải trở về, ngài lãnh trách nhiệm dạy Thánh Kinh và tôn giáo cho các công tử Ba Lan. Ngài hành hương Giêrusalem và lắng nghe các lương dân. Khi qua đời vào tuổi rất thọ, sự thánh thiện của ngài đã lừng khắp nơi ngài đã đi qua. Thánh Gioan Kenty đã để lại lời kinh rất đẹp này.
    “Xin hãy cho chúng con yêu Chúa trên hết mọi sự và yêu mọi người vì Chúa và làm đẹp lòng Chúa trong tâm hồn và trong hành động của chúng con”.

    Nhiều người khóc thương ngài và ngài được kể như người làm nhiều phép lạ. Nhưng mãi tới năm 1767, Ngài mới được phong thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  18. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 26 tháng 12

    Thánh STÊPHANÔ, Tử Đạo Tiên Khởi

    Thật đáng tiếc khi chúng ta không biết được nhiều hơn về Thánh Stephanô. Như một người trong số người Do thái lưu lạc nói tiếng Hy Lạp, được giáo dục theo văn minh La-Hy và như vị tiền hô của Thánh Phaolô, ngài là một nhân vật rất quan trọng trong lịch sử Giáo hội thời sơ khai. Có chút hiển nhiên là ngài đã được giáo dục tại Alexandria. Có lẽ ngài thuộc vào số những người “Hy Lạp” tìm Chúa vào những ngày cuối cùng của Người trên trần gian (x. Ga 12,20). Nếu đúng như vậy thì quả ngài đã chứng minh nơi con người mình những lời Chúa Giêsu đã nói rằng hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không chết đi thì không sinh nhiều hoa trái (x. Ga 12,24-25).

    Ngài xuất hiện lần đầu trong lịch sử như một trong bảy vị Phó tế các tông đồ đã tấn phong (x. Cv 6) để trợ giúp các ngài trong việc quản trị, nhưng ngài dường như đã dấn mình vào việc rao giảng và hộ giáo hướng tới những hội đường nói tiếng Hy Lạp. Chính ở nơi một những hội đường này mà nhóm người “tự do” đã tố cáo ngài truóc hội đồng công tọa như một người lạc đạo. Họ bắt giam và thử thách Thánh Stephanô.

    Diễn từ Stephanô nói để biện minh cho mình được Thánh Luca kể lại khá dài dòng và xem ra có hơi buồn đối với độc giả tân tiến. Đó là gì, nếu không phải là một đoạn lược tóm lịch sử Cựu ước? Tại sao nó lại đưa những người học thức tới cơn giận dữ không kiềm chế nổi?

    Bởi vì sự vặn ngược trong đó cũng như sự giải thích minh nhiên hoặc mặc nhiên không đặt vào câu chuyện. Ngài đưa ra hai điểm: trước hết, Thiên Chúa không chỉ tìm được trong đền thờ hay ở Giêrusalem hoặc ở Palestina, nhưng ở bất cứ nơi nào. Thiên Chúa ở với Abraham tại Chaldes, với Giuse ở Aicập, với Môsê trên núi Sinai, với dân Israel trong sa mạc, với David cả trước khi xây cất đền thờ. Điểm thứ hai là các nhà lãnh đạo chính thức của Dothái thường hay khước từ sứ giả của Chúa. Các tổ phụ bán Giuse đi làm nô lệ, miêu duệ của họ bắt Môsê phải lưu lạc, trong hoang địa, Aaron dẫn họ xa khỏi lề luật mà thờ ngẫu tượng. Liên tiếp, các thủ lãnh của dân Do thái đã loại bỏ, ném đá và bắt bớ những ngôn sứ của Chúa. Bấy giờ tới tuyệt đỉnh, họ đã sát hại Đấng Thiên Sai, Người Công Chính, Con Người. Nhưng Chúa Giêsu bây giờ đang ngự bên hữu Thiên Chúa trong vinh quang.

    Hội đồng công toạ điên tiết. Họ xô Stephanô ra một chỗ ở ngoài thành và ném đá. trước khi chết, Ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin đừng chấp tội họ”. Lời cầu đã được Chúa và cả Saulê nghe thấy. Saulê có mặt trong vụ này. Ông biết mình đang chứng kiến một tội phản. Tự mình, ông không ném đá nhưng giữ áo cho nhóm người hành sự. Sau này, ông cố trấn an lương tâm bằng việc bắt bớ dữ dội các Kitô hữ khác. Nhưng khốn cho ông khi đạp mũi nhọn. Sau đó không lâu, ông đi Damas, con đường dẫn ông tới cuộc tử đạo như Stêphanô. Thánh Augustinô nói: “Nếu Stephanô không cầu nguyện, Giáo Hội khó có thể có được một Phaolô”.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  19. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 27 tháng 12

    Thánh GIOAN Tông Đồ, Thánh Sử

    Gioan là tông đồ yêu dấu, tông đồ tình yêu mà trong bữa tiệc ly đã dựa đầu vào lòng Chúa Giêsu. Mọi điều ngài viết là tình yêu. Nhưng ngài cũng là ngư phủ thô kệch hăng hái và bồng bột khi Chúa gọi làm môn đệ, đến nỗi Chúa Giêsu gọi là “con cái sấm sét” (Mc 3,7).

    Gioan là ngư phủ ở Galilê, con của ông Giêbêđê và bà Salomê. Năm 20 tuổi, ngài là môn đệ của Thánh Gioan Tẩy Giả đang giảng dạy trong sa mạc. Ngài tìm kiếm sự hoàn thiện. Gioan Tẩy Giả đã thấy Chúa Thánh Thần xuống trên Chúa Kitô và loan báo cho mọi người rằng Người ở giữa họ, nhưng người ta không nhận biết Người. Ngày kia, Chúa Giêsu đi qua, Gioan Tẩy Giả chỉ cho Gioan và Anrê: “Đây là chiên Thiên Chúa”. Lập tức, hai ông đã theo Chúa Giêsu.

    Chúa Giêsu đã yêu thương Gioan cách đặc biệt vì sự trong trắng, nhiệt tâm và thành tín của Ngài. Ở trường học Thần Linh, ngài tự biến đổi, thủ đắc tinh thần hiền hậu, học được đức ái chân thật và tiến tới tinh thần hy sinh. Gioan cùng với anh là Giacôbê, cũng như mỗi người đều tin rằng, Chúa Giêsu sắp tái lập vương quyền và họ xin Người cho họ được giữ những chỗ danh dự trong ngày vinh quang của thày. Nhưng Chúa Giêsu đã từng nói vương quốc của Ngài không thuộc thế gian này và đã trả lời bằng việc trao thánh giá cho họ: “Các con có thể uống chén Ta không?” Đầy nhiệt tâm, họ trả lời: “Dạ được”. Như thế là họ biết rằng, việc chia sẻ vinh quang sẽ tiếp sau việc chia sẻ đau khổ.

    Suốt ba năm sống công khai của Chúa Giêsu, Gioan không rời thày mình. Ngài có mặt khi Thầy làm phép lạ và tâm sự với thày bằng những lời mang lại sự sống. Ngài đã thấy thầy chói sáng trên núi Tabor. Với kỷ niệm này, Gioan viết rằng: "Chúng tôi đã thấy vinh quang Con Một Thiên Chúa Cha: Chúa Giêsu đã chọn ngài với Phêrô để dọn lễ Vượt qua, và trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã nói những lời mà Gioan không bao giờ quên được. Ngài sẽ ghi lại diễn từ ấy trong sách Phúc Âm của mình.

    Chỉ có một mình Gioan trong số 12 tông đồ trung thành theo Chúa Giêsu tới thánh giá. Ngài đứng cạnh Mẹ Maria. Chúa Giêsu đã nói với Mẹ Maria: “Này là con bà”, và với Gioan: “Này là Mẹ con”. Và mọi người đã trở thành con mẹ trong con người của Gioan.

    Sau phục sinh. Maria Madalêna không thấy xác thày và hớt hả đi báo tin. Tình yêu như chắp cánh thêm, Gioan đã chạy tới mồ trước, nhưng vì tôn trọng thủ lãnh các tông đồ, nên đã dừng lại trước khi cúi nhìn mộ (x. Ga 20,1-8).
    Vì ngày sau, khi Gioan cùng với các môn đệ khác đi đánh cá, Chúa Giêsu hiện ra. Được tình yêu soi sáng, Gioan đã nhận ra thày và thốt lên: “Chúa đấy” (Ga 21,1-8).

    Sau khi nhận lấy Chúa Thánh Thần trong dịp lễ Ngũ Tuần, Gioan ở lại Giêrusalem, người ta nghĩ rằng, Ngài sống với Đức Trinh nữ. Ngày kia, Ngài cùng với Thánh Phêrô vào đền thờ cầu nguyện. Một người què xin bố thí, các tông đồ đã chữa lành anh ta (x. Cv 3,1-8). Các thủ lãnh bắt giam các ngài, cấm không được rao truyền danh Chúa Giêsu, các Tông đồ đã trả lời: “Chúng tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn là loài người” (Cv 4,1-20). Một lần khác, Gioan bị bắt và bị đánh đòn, ngài hãnh diện khi thấy mình được chịu đau khổ vì Chúa Kitô.

    Gioan sống rất thọ và trải qua nhiều thử thách gian khổ. Những người chung quanh không biết Chúa Kitô bớt lần. Chắc hắn ngài sống ở Antiokia rồi ở Ephêssô. Hoàng đế Domitianô đã truyền bách hại các Kitô hữu. Từ đây, tường thuật không có mấy giá trị lịch sử. Sử sách kể lại rằng, khi biết còn một môn đệ chót của Chúa Giêsu sống và giảng dạy ở Á Châu, ông truyền đem về Roma để kết án tử. Người ta đánh đòn ngài rồi dẫn tới cửa Latinh và dìm vào vạc dầu sôi. Thật lạ lùng, Ngài đi ra không hề hấn gì. Quan án xúc động không dám hành hạ ngài nữa và truyền đày ải ở đảo Patnmô. Vị tông đồ rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho dân trên đảo. Chính ở đây mà ngài có được thị kiến và lãnh mệnh lệnh ghi lại trong sách “Khải huyền”. Những cao siêu mà vị tông đồ vươn tới, đã làm cho ngài được ví như cánh chim phượng hoàng bay bổng trên trời cao. Dầu vậy, có thể sách Khải huyền đã cho một môn đệ của Gioan viết.

    Khi hoàng đế bằng hà, những người bị lưu đày được gọi trở về, và Gioan trở lại Ephêsô. Một kỷ niệm cảm động liên quan tới những chuyến hành trình của ngài. Trong một cuộc du hành, ngài đã rửa tội cho một thiếu niên, rồi trao phó cho vị giám mục sở tại. Nhưng khi trở về, ngài được vị giám mục buồn sầu cho biết rằng con trẻ này đã thành kẻ cướp. Lập tức, dầu già nua, Gioan đã và cưỡi ngựa đi tìm đứa con.

    Khi thấy ngài, người đó chạy trốn. Vị tông đồ đuổi theo và khuyên nhủ: “Con ơi, tại sao con chạy trốn cha già không có khí giới? Còn hy vọng được cứu rỗi, cha sẽ vui lòng chết cho con như Chúa Giêsu sai cha đến với con”.
    Tên cướp xúc động ngừng lại, bởi khí giới: chàng khóc trong tay cha già đang ôm chặt chàng vào lòng và dẫn chàng về với Giáo hội.

    Gioan trở thành ánh sáng vùng Tiểu Á, đến lúc đó ngài vẫn lớn tiếng giảng dạy, nhưng những lạc thuyết đang lộ diện giữa Giáo Hội sơ khai. Nhưng kiến sĩ giả hiệu làm biến tính Phúc Âm của Thánh Matthêu, chối Chúa Giêsu vừa là Chúa vừa là người. Để bác bỏ những sai lầm, vừa để bổ túc ba Phúc Âm đã xuất hiện, ngài viết cuốn thứ tư, trong đó, tình yêu Chúa Kitô đốt cháy lòng ngài. Còn ba bức thư nữa thuộc về ngài. Bức thư thứ I tóm tắt trọn mạc khải: “Thiên Chúa là tình yêu”. “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa đã có, bây giờ chúng ta biết ngài là ai. Ngài là cha yêu thương ta hết lòng và đòi ta yêu nhau”. Và hướng ta về thực tại không thể kể ra được, ngài nói: “Các con thân yêu, ngay từ giờ này, chúng ta là con Thiên Chúa, nhưng ngày mai chúng ta như thế nào thì chưa tỏ lộ ra”.

    Về già, không đi được nữa, Ngài được mang tới nhà thờ. Ngài thường lặp lại: “Các con hãy yêu thương nhau”. Thấy ngài nói mãi một điều, người ta kêu ca và ngài trả lời: “Đó là lệnh truyền của Chúa, và như vậy là đủ”.

    Thánh Gioan là bổn mạng các văn sĩ và mọi người cầm viết.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  20. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 28 tháng 12

    Các Thánh Anh Hài, Tử Đạo

    Hằng năm tại Bêlem, người ta kỷ niệm lễ chu niên các thánh thơ nhi măng sữa đã chịu khó vì Chúa Kitô dưới thời Hêrôdê. Các thánh Anh hài dù chưa biết tới gian khổ cuộc sống, đã được tế hiến cho Đấng Cứu chuộc thế gian. Các ngài tiến về trời trong ánh quang.

    Chúa Giêsu đã đến thế gian tại Belem. Các đạo sĩ những người thông thái và quyền thế, được ánh sao mới bất ngờ xuất hiện báo tin, đã theo ánh sao đi tìm Chúa Giêsu. Họ muốn thờ lạy Người. Sau một chuyến hành trình dài, họ tới Giêrusalem. Nhờ họ, Hêrôđê là vua Giuda biết rằng: Đấng thiên sai mà các ngôn sứ loan báo đã sinh ra. Ông sợ rằng: Đấng Thiên sai này một ngày kia những đoạt ngôi của mình. Để biết rõ vua Dothái tương lai ở đâu, ông căn dặn các đạo sĩ trở lại Giêrusalem cho ông biết, vì ông cũng muốn bái thờ Người.

    Nhưng ông ta đã không gặp các đạo sĩ nữa. Bởi vì lúc trở về, họ đã được báo qua giấc mộng để đi đường khác. Hêrôđê giận dữ điên người lên với ý tưởng là mai kia đứa trẻ này sẽ làm vua. Ông truyền lệnh tàn sát mọi con trẻ dưới hai tuổi ở Belem và các vùng phụ cận. Như thế là tân vương sẽ bị diệt.

    Trong khi Thánh Giuse được thiên thần báo trước đã cùng với Đức Mẹ Maria và Chúa Giêsu trốn qua Ai Cập thì binh sĩ thi hành lệnh của Hêrôđê. Nỗi thất vọng của các bà mẹ không diễn tả nổi. Ngôn sứ Giêrêmia đã nói về họ: “Tại Rama, người ta nghe thấy tiếng khóc than nức nở, đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình, bà không chịu cho ai an ủi bà, vì các con bà không còn nữa” (Gr 31,15-20).

    Đối với các trẻ em, đây là vinh quang cao cả. Các ngài đã chết thay cho Con Thiên Chúa, và Chúa Giêsu ban cho các ngài sự sống đời đời. Trong sách Khải huyền, Thánh Gioan chỉ cho thấy các Thánh Anh hài bao xung quanh toà Con Chiên Thiên Chúa như là những tâm hồn trong trắng nhất.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 27 tháng Mười Hai 2017

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn