Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lễ Các Thánh Trong Tháng Chín

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 4 tháng Chín 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 5 tháng 9

    Thánh PHÊRÔ NGUYỄN VĂN TỰ, Linh Mục
    và Thánh GIUSE HOÀNG LƯƠNG CẢNH, Y Sĩ

    (+1838)

    Thánh Phêrô Nguyễn Văn Tự sinh năm 1796 tại Ninh Cường, Nam Ðịnh. Ðược nhận vào nhà Chúa từ nhỏ, nhưng đến năm 30 tuổi mới thụ phong linh mục, sau đó gia nhập dòng thánh Ða Minh. Ngài đặc biệt chăm lo suy gẫm và trung thành với thánh lễ mỗi ngày. Trong thời gian đang coi xứ Ðức Trai (Kẻ Mốt), cha đã bị tố cáo và bị bắt giải về Bắc Ninh giam chung với Thánh Giuse Cảnh. Trong tù, cha đã cương quyết bảo vệ đức tin, và có một lần chính ngài đã cãi lý về đạo trước mặt quan Bố Chánh Án Sát và quan phải nể phục.

    Thánh Giuse Hoàng Lương Cảnh sinh khoảng năm 1763 tại làng Ván, tỉnh Bắc Giang. Ngài được bầu làm trùm họ, sinh sống bằng nghề thầy thuốc, trổi vượt về đường thánh thiện và lòng thương người. Ngài đã gia nhập và được mặc áo hội Dòng Ba Ða Minh. Năm 75 tuổi, ngài bị bắt và bị giải về Bắc Ninh giam chung với cha Phêrô Tự. Trong tù, quan khuyên nhủ ngài bỏ đạo, ngài đã mạnh dạn tuyên xưng: “Chúa là Chúa trời đất và muôn vật phải thờ phụng Người”, sau đó, thầm thì đọc kinh. Quan cho phép đọc lớn, ngài đã đọc kinh Ðức Chúa Thánh Thần rồi cung kính hôn tượng Chúa. Nhiều lần ngài còn giải thích giáo lý cho quan nghe nữa.

    Các quan đã lên án tử hình cha Phêrô Tự và ông trùm Giuse Cảnh vì tội “bất khẳng quá khóa.” Ngày 05-09-1838, hai ngài đã hiên ngang tới pháp trường Bắc Ninh chịu xử trảm.

    Ngày 27-05-1900, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong hai ngài lên hàng Chân Phước và ngày 19-06-1988 Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh.

    Châu-Kiên-Long

    hdgmvietnam.org
     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 5 tháng 9

    Vào Chúa nhật ngày 4-9-2016, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chủ sự thánh lễ tuyên thánh cho Mẹ Têrêsa Calcutta tại Quảng trường Thánh Phêrô ở Vatican với khoảng 120.000 người tham dự. Lễ kính Thánh nữ được ấn định vào ngày 5-9 hằng năm. Dưới đây là tiểu sử và chứng từ của Thánh nhân.

    MẸ TÊRÊXA: TIỂU SỬ VÀ CHỨNG TỪ

    "Theo huyết thống, tôi là người Anbani. Theo quốc tịch, tôi là người Ấn Độ. Theo đức tin, tôi là một nữ tu công giáo. Theo ơn gọi, tôi thuộc về thế gian. Theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu" (Mẹ Têrêxa).

    Với dáng người nhỏ bé, nhưng với một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêxa thành Calcutta được giao phó sứ mạng công bố tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại, đặc biệt đối với những người bần cùng nhất. "Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi để biểu lộ tình yêu và lòng thương cảm của Người đối với người nghèo". Mẹ có một tâm hồn tràn đầy ánh sáng Chúa Kitô, một tâm hồn bùng cháy tình yêu đối với Ngài và bị thôi thúc bởi một mong ước duy nhất: "xoa dịu cơn khát của Chúa: khát tình yêu và khát các linh hồn".

    Thời thơ ấu

    Agnes Gonxha Bojaxhiu sinh ngày 26 tháng 08 năm 1910, và chịu phép rửa ngay hôm sau, tại Skopje, Macedonia. Gia đình cô thuộc cộng đồng người Anbani. Đây là một gia đình công giáo, mặc dù đa số người Anbani ở đấy theo Hồi Giáo. Thời bấy giờ, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ cai trị đất nước. Cha cô, ông Nikola, là một doanh nhân. Ông làm chủ một công ty và một cửa hàng thực phẩm. Ông thường du hành đó đây, biết nhiều thứ tiếng và rất quan tâm đến chính trị. Ông là một thành viên của Hội Đồng người Anbani. Cùng với vợ mình là bà Drana, ông đã dạy cho Agnes những bài học bác ái đầu tiên.

    Khi Agnes lên 9, năm 1919, cha cô qua đời một cách đột ngột. Bà Drana phải một mình bươn chải hầu nuôi dạy ba người con là Aga (1904), Lazar (1907) và Agnes Gonxha (1910). Để sinh sống, bà lao động vất vả qua nghề thêu may. Dù vậy, bà vẫn dành thì giờ để giáo dục con cái. Gia đình cầu nguyện mỗi tối, đi nhà thờ hằng ngày, lần chuổi Mân Côi mỗi ngày trong suốt tháng Năm và chuyên cần tham dự các lễ kính Đức Mẹ. Họ cũng luôn quan tâm giúp đỡ những người nghèo khổ và túng thiếu đến gõ cửa nhà họ. Trong các kỳ nghỉ, gia đình có thói quen đến tĩnh tâm tại một nơi hành hương kính Đức Mẹ, ở Letnice.

    Agnes rất thích đi nhà thờ, cô cũng thích đọc sách, cầu nguyện và ca hát. Mẹ cô tình nguyện chăm sóc một phụ nữ nghiện rượu ở gần đấy. Mỗi ngày hai lần, bà đến rửa ráy và cho người phụ nữ ấy ăn, đồng thời bà cũng chăm sóc một bà góa có 6 con. Những ngày bà không đi được, thì Agnes thay bà đi làm các việc bác ái đó. Khi bà góa qua đời, những người con của bà đến sống với bà Drana như con ruột của mình.

    Ơn Gọi

    Những năm trung học, cô Agnes dùng phần lớn thời gian để hoạt động trong hội Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Mariae). Vì giỏi ngoại ngữ, cô giúp một linh mục gặp khó khăn trong ngôn ngữ, cô dạy giáo lý và đọc rất nhiều sách về các nhà thừa sai Slovenia và Croatia ở Ấn Độ. Khi lên 12, lần đầu tiên cô mong muốn dâng đời mình để làm việc Chúa, hiến trọn đời mình cho Chúa để Người quyết định. Nhưng cô phải làm sao để biết chắc chắn là Chúa có gọi cô hay không?

    Cô cầu nguyện nhiều rồi tâm sự với các chị và mẹ mình. Cô cũng trình bày với vị linh mục giải tội: "Làm sao con biết chắc?". Cha trả lời: "Căn cứ trên NIỀM VUI. Nếu con cảm thấy thực sự hớn hở vui mừng với ý tưởng rằng Chúa có thể gọi con phục vụ Người và tha nhân, thì đấy là bằng chứng cho thấy rằng con có ơn gọi". Và cha nói thêm: "Niềm vui sâu xa mà con cảm nhận là la bàn để chỉ cho con biết hướng đi của đời mình".

    Năm 18 tuổi là năm trọng đại. Cô quyết định. Hai năm trước đó, cô đã đến tĩnh tâm nhiều lần tại Letnice và nhận ra rõ ràng là cô sẽ phải đi truyền giáo ở Ấn Độ. Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời năm 1928, cô đến Letnice cầu nguyện xin Đức Mẹ chúc lành trước khi ra đi. Cô chuẩn bị gia nhập dòng Đức Mẹ Lorette, một hội dòng đang hoạt động tích cực tại Ấn Độ.

    Ngày 25 tháng 09, cô lên đường. Cả cộng đồng tiễn cô ra ga: nào bạn hữu, nào láng giềng già trẻ, và dĩ nhiên cả Mẹ và bà chị Aga. Mọi người đều khóc.

    Cô đi qua Zagreb, Áo, Thụy Sĩ, Pháp và đến Luân Đôn, rồi từ đấy vào một tu viện gần Dublin là nhà mẹ của Hội Dòng Đức Mẹ Lorette. Tại đấy, cô học nói tiếng Anh và sống nếp sống nữ tu. Ngày mặc áo dòng, cô chọn tên là Têrêxa, để tưởng nhớ chị thánh Têrêxa Hài Đồng ở Lisieux, nơi mà cô dừng chân trên đường đến Luân Đôn. Cùng thời gian này cô làm các thủ tục giấy tờ và năm 1928 cô khởi sự cuộc hành trình đầu tiên đến với Ấn Độ: đất nước ước mơ của cô! Cuộc hành trình này thật gian nan. Có vài chị em nữ tu đi cùng tàu với cô nhưng phần đông hành khách thì theo Anh giáo. Suốt nhiều tuần lễ, họ không được dự lễ và rước lễ, kể cả ngày Giáng Sinh. Tuy nhiên, họ cũng làm một máng cỏ, lần hạt và hát thánh ca Giáng Sinh.

    Đầu năm 1929 họ đến Colombo, rồi đến Madras và cuối cùng là Calcutta. Họ tiếp tục đi đến Darjeeling, dưới chân dãy Hy mã lạp sơn, nơi mà người nữ tu trẻ sẽ hoàn tất thời gian huấn luyện. Ngày 23 tháng 05 năm 1929, chị Têrêxa vào tập viện và hai năm sau chị khấn lần đầu. Ngay sau đó, chị được chuyển đến Bengali để giúp đỡ các chị trong một bệnh viện nhỏ hầu chăm sóc các bà mẹ đau yếu, đói khát và không nơi nương tựa. Chị bị đánh động trước nỗi khốn cùng vô biên tại nơi này.

    Nữ Tu và Giáo viên

    Sau đó, chị được gởi đến Calcutta để học sư phạm. Khi nào có thể, chị đều đi giúp chăm sóc bệnh nhân. Khi ra trường, chị trở thành giáo viên và mỗi ngày phải đi xuyên qua thành phố. Công việc đầu tiên của chị là lau phòng học. Chẳng bao lâu, các em bé yêu mến cô giáo vì sự nhiệt tình và lòng trìu mến của cô, nên số học sinh lên đến ba trăm em. Ở một khu khác trong thành phố, còn 100 em nữa. Chị nhìn thấy nơi các em ở và đồ các em ăn. Cảm được sự chăm sóc và tình yêu của chị, các em gọi chị là ‘ma’ (mẹ). Những ngày chúa nhật, chị đi thăm viếng gia đình các em.

    Ngày 24 tháng 05 năm 1937, chị khấn trọn đời ở Darjeeling và trở thành, như lời chị nói, “hiền thê của Chúa Giêsu cho đến đời đời”. Chị được cử làm hiệu trưởng một trường phổ thông cơ sở tại trung tâm Calcutta, dành cho nữ sinh Bengali. Đôi khi chị cũng đích thân dạy sử địa. Cạnh trường là một trong những khu ổ chuột lớn nhất Calcutta. Chị Têrêxa không thể nhắm mắt làm ngơ được: Ai chăm sóc cho những người nghèo sống lang thang trên đường phố đây? Tinh thần bác ái toát ra từ những bức thư của mẹ chị nhắc lại tiếng gọi căn bản: hãy chăm sóc người nghèo.

    Hội đoàn Legio Mariae cũng hoạt động trong trường này. Cùng với các nữ sinh, chị Têrêxa thường đi thăm bệnh viện, khu ổ chuột, người nghèo. Họ không chỉ cầu nguyện suông. Họ cũng nghiêm túc trao đổi về những gì mình thấy và làm. Cha Henry, một linh mục dòng Tên người Bỉ, là vị linh hướng của chị; ngài gợi ý nhiều điều trong công tác này. Ngài hướng dẫn chị Têrêxa trong nhiều năm. Qua các gợi ý của ngài, chị càng ngày càng mong muốn phục vụ người nghèo, nhưng bằng cách nào đây?

    ‘Ơn gọi trong ơn gọi’

    Với tất cả những thao thức ấy, chị đi tĩnh tâm ngày 10 tháng 09 tại Darjeering. Sau này chị nói: "đấy là chuyến đi quan trọng nhất trong đời tôi". Đấy chính là nơi mà chị thực sự nghe được tiếng Chúa: "Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy”". Sứ điệp của Người rất rõ ràng: chị phải rời tu viện để giúp đỡ những kẻ khốn khổ nhất và cùng sống với họ. "Đấy là một mệnh lệnh, một bổn phận, một xác tin tuyệt đối. Tôi biết mình phải làm gì, nhưng không biết phải làm thế nào". Ngày 10 tháng 09 là một ngày quan trọng đến nỗi Hội Dòng gọi ngày này là ‘ngày linh hứng’ (inspiration day).

    Chị Têrêxa cầu nguyện, trình bày cho vài chị khác, tham khảo ý kiến mẹ bề trên, và mẹ bảo chị đến gặp đức tổng giám mục Calcutta, Đức Cha Perrier. Chị giải thích cho ngài về ơn gọi của mình, nhưng đức cha không cho phép. Ngài đã trao đổi với các cha dòng Tên Henry và Celeste Van Exem, là những vị biết rõ chị Têrêxa. Các ngài xem xét mọi mặt vấn đề: Ấn Độ sắp được độc lập và chị Têrêxa lại là một người Âu! E rằng chị sẽ gặp những nguy hiểm về chính trị và nhiều vấn đề khác xuất phát từ việc phân biệt sắc tộc. Liệu Rôma có phê chuẩn quyết định này chăng? Đức cha khuyên chị cầu nguyện một năm nữa trước khi thực hiện quyết định này, nếu không thì nên gia nhập dòng các Nữ Tử thánh Anna, những nữ tu mặc sari xanh đang hoạt động cho người nghèo. Chị Têrêxa nghĩ rằng đấy không phải là con đường thích hợp cho mình. Chị muốn sống cùng với người nghèo. Một năm sau, khi chị Têrêxa trình lên ý định mình, đức tổng giám mục muốn cho phép, nhưng ngài bảo tốt hơn là chị hãy xin phép Rôma và Mẹ bề trên tổng quyền của chị ở Dublin. Chị lại phải chờ đợi một thời gian khá lâu để nhận được quyết định từ trung ương.

    Quyết định

    Tháng 08 năm 1948, chị Têrêxa được phép rời cộng đoàn Lorette với điều kiện là tiếp tục tuân giữ các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Chị chia tay với chị em mình năm 38 tuổi, rời tu phục dòng Lorette để mặc lấy chiếc sari rẻ tiền màu trắng viền xanh. Trước hết, chị đến Patna để theo học một khóa huấn luyện y tá cùng với các nữ tu tại đấy. Chị thấy rõ ràng là chị chỉ có thể giúp đỡ người nghèo trong các căn nhà bẩn thỉu bệnh hoạn của họ nếu chị biết cách phòng bệnh và chữa bệnh. Kiến thức y khoa là điều kiện không thể thiếu được hầu chu toàn ơn gọi mới của mình.

    Vị bề trên ở Patna, một bác sĩ, đã cho chị một lời khuyên khôn ngoan khi chị tỏ ý muốn ra sống giữa những người nghèo và chăm sóc họ. Chị bảo rằng chị muốn sống chỉ bằng cơm với muối, giống như người nghèo, và vị bề trên đáp lại rằng đấy là cách hay nhất để cản trở chị khỏi phải đi theo ơn gọi của chị: nếp sống mới đòi hỏi ở chị một sức khoẻ thật vững và thật tốt.

    Sau khi trở về Calcutta, chị Têrêxa đến với các khu ổ chuột và đường phố, thăm viếng và giúp đỡ người nghèo. Toàn bộ tài sản của chị vẻn vẹn là một cục xà phòng và năm rupi (một đôla = 45 rupi; và 5 rupi = dưới 2000 VNĐ). Chị giúp tắm các em bé và rửa các vết thương. Người nghèo rất ngạc nhiên: Cái bà người Âu mặc chiếc sari nghèo nàn này là ai vậy? Mà bà nói thông thạo tiếng Bengali! Bà lại đến giúp họ rửa ráy, lau chùi và chăm sóc họ nữa chứ! Thế rồi chị bắt đầu dạy các em bé nghèo học chữ, học cách rửa ráy và giữ vệ sinh. Sau đấy chị mướn được một phòng nhỏ để làm lớp học.

    Phần chị, chị vẫn tạm trú tại nhà các Chị Em Người Nghèo. Chúa là nơi nương tựa của chị để có được những sự trợ giúp vật chất. Và Người luôn có mặt: lúc nào chị cũng tìm ra thuốc men, quần áo, thức ăn và chỗ ở để đón người nghèo và chăm sóc họ. Vào giữa trưa, các em bé được uống một ly sữa và nhận một miếng xà phòng, nhưng đồng thời các em cũng được nghe nói về Chúa, Đấng Tình Yêu, và - ngược với cái thực trạng rành rành trước mắt các em - Người yêu thương các em, thực sự yêu thương các em.

    Một thời điểm cảm động

    Một hôm, một thiếu nữ Bengali, xuất thân từ một gia đình khá giả và là cựu học sinh của Mẹ Têrêxa, muốn đến ở với Mẹ mà giúp một tay. Đây là một thời điểm cảm động. Nhưng Mẹ Têrêxa rất thực tế: Mẹ nói về sự nghèo khó toàn diện, về những khía cạnh khó chịu của công việc Mẹ làm. Mẹ đề nghị thiếu nữ chờ đợi một thời gian nữa.

    Ngày 19 tháng 03 năm 1949, thiếu nữ ấy trở lại trong một chiếc áo nghèo nàn và không mang trên người một món nữ trang nào. Cô đã quyết định. Cô là người đầu tiên gia nhập cộng đoàn của Mẹ Têrêxa và lấy tên khai sinh của Mẹ là Agnes. Những thiếu nữ khác nối tiếp cô: vào tháng 05 cộng đoàn có ba người, tháng 11 là năm người, năm sau đó là bảy người. Mẹ Têrêxa thiết tha cầu nguyện để có được nhiều ơn gọi hơn nữa cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Có quá nhiều việc phải làm. Các chị em thức dậy thật sớm, cầu nguyện lâu giờ, dự thánh lễ để kín múc sức mạnh cho đời sống thiêng liêng hầu thực thi những công việc phục vụ người nghèo. Tạ ơn Chúa, có một ông tên là Gomes đã dâng tặng tầng cao nhất của căn nhà mình cho cộng đoàn Mẹ Têrêxa. Đây cũng là năm mà Mẹ Têrêxa lấy quốc tịch Ấn Độ.

    Mẹ Têrêxa nhìn cộng đoàn lớn lên và biết rằng Mẹ có thể nghiêm túc nghĩ đến việc sáng lập một hội dòng. Muốn xây dựng hiến pháp đầu tiên, Mẹ tham khảo ý kiến của hai người đã từng giúp Mẹ trước đây: các cha dòng Tên Julien Henry và Celest Van Exem. Vị linh mục đọc lại lần cuối là cha De Gheldere. Giờ đây "hiến pháp của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái" có thể trình lên đức tổng giám mục, và ngài gởi về Rôma để xin phê chuẩn.

    Đầu mùa thu, sắc lệnh phê chuẩn của Đức Thánh Cha đến, và ngày 7 tháng 10 năm 1950, lễ Mân Côi, nghi thức khánh thành diễn ra trong nhà nguyện của chị em. Đức tổng giám mục cử hành thánh lễ và cha Van Exem đọc sắc lệnh thành lập. Vào lúc ấy, có 12 chị em. Không đầy 5 năm sau, cộng đoàn được nâng lên thành hội dòng Tòa Thánh, có nghĩa là trực thuộc Đức Thánh Cha.

    Những lãnh vực khác

    Muốn đáp ứng trọn vẹn hơn các nhu cầu vật chất và thiêng liêng của người nghèo, Mẹ Têrêxa sáng lập:

     Năm 1963: Tu hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái.
     Năm 1976: Nhánh nữ tu chiêm niệm.
     Năm 1979, Các Nam tu sĩ chiêm niệm.
     Năm 1984, Hội linh mục Thừa Sai Bác Ái.
    Tuy nhiên, thao thức của Mẹ không dừng lại nơi những người có ơn gọi tu trì mà thôi. Mẹ thiết lập hội:

     Những Cộng Tác Viên với Mẹ Têrêxa và những Cộng Tác Viên Bệnh Tật Và Đau Khổ, gồm những người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau mà Mẹ chia sẻ tinh thần cầu nguyện, đơn sơ, hy sinh và công tác tông đồ qua những việc làm hèn mọn vì tình yêu. Tinh thần này cũng thôi thúc Mẹ thiết lập hội:
     Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái.
     Để đáp lại yêu cầu của nhiều linh mục, năm 1981, Mẹ Têrêxa khởi xướng phong trào Corpus Christi dành những linh mục nào muốn chia sẻ linh đạo và đặc sủng của Mẹ.
    Trong những năm lớn mạnh đó, thế giới bắt đầu chú ý đến Mẹ và các công trình mà Mẹ đã khởi xướng. Mẹ nhận được nhiều giải thưởng:

     Giải Padmashri của Ấn Độ, năm 1962.
     Giải Hoà Bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, năm 1971.
     Giải Nêru vì có công thăng tiến nền hòa bình và sự thông cảm trên thế giới, năm 1972.
     Giải Nobel Hòa Bình, năm 1979; trong khi đó, các phương tiện truyền thông càng ngày càng ca tụng Mẹ hết lời qua các công việc Mẹ làm. Mẹ đón nhận tất cả ‘vì vinh danh Thiên Chúa và nhân danh người nghèo’
    Chứng từ của một cuộc đời.

    Toàn bộ cuộc đời và công trình của Mẹ Têrêxa là một chứng từ cho niềm vui trong yêu thương, cho sự cao cả và phẩm giá của mỗi một con người, cho giá trị của từng việc nhỏ nhất được thực thi với đức tin và tình yêu, và trên hết, cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa.

    Nhưng có một khía cạnh anh dũng khác của vĩ nhân này mà ta chỉ biết được sau khi Mẹ qua đời. Đây là một điều Mẹ dấu kín đối với mọi người, kể cả những thân hữu gần gũi nhất với Mẹ: Trong cuộc sống nội tâm, Mẹ có một cảm nghiệm sâu lắng, đau đớn và thường xuyên rằng Mẹ ở xa cách Chúa, thậm chí bị Người ruồng bỏ, và vì thế càng ngày Mẹ càng khao khát được Chúa yêu thương nhiều hơn. Mẹ gọi cái cảm nghiệm nội tâm ấy là ‘bóng tối’. Cái ‘đêm đen cay đắng’ này khởi sự từ ngày Mẹ bắt đầu công việc phục vụ người nghèo và tiếp tục mãi cho đến cuối đời, khiến Mẹ ngày càng kết hiệp mật thiết hơn với Chúa. Qua cái tối tăm đó, Mẹ tham dự một cách huyền nhiệm vào cơn khát cùng cực và đau đớn của Chúa Giêsu và chia sẻ tự thâm sâu sự khốn cùng của người nghèo.

    Trong những năm cuối đời, mặc cho sức khoẻ càng ngày càng giảm sút, Mẹ vẫn tiếp tục điều hành Hội Dòng và đáp ứng các nhu cầu của người nghèo và của Giáo Hội.

     Năm 1997, số nữ tu của Mẹ Têrêxa là 4000 chị, hoạt động tại 610 nhà, trong 123 quốc gia trên thế giới.
     Tháng 03 năm 1997, Mẹ chúc phúc cho vị bề trên tổng quyền mới của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái (chị Nirmala Joshi), rồi thực hiện một chuyến du hành ở nước ngoài.
     Sau khi yết kiến Đức Thánh Cha lần chót, Mẹ về lại Calcutta, dành những ngày cuối đời để tiếp khách và dạy dỗ các nữ tu con cái mình.
     Ngày 05 tháng 09 là ngày cuối cùng trong cuộc đời trần thế của Mẹ. Mẹ được tiễn đưa về vĩnh cửu theo nghi lễ quốc táng của Ấn Độ và thi hài Mẹ được chôn cất tại nhà mẹ của hội dòng Thừa Sai Bác Ái. Mộ của Mẹ trở thành nơi hành hương cho mọi người, giàu cũng như nghèo.

    Không đầy hai năm sau ngày qua đời, do sự thánh thiện mà mọi người đã đồng thanh ca ngợi và những báo cáo về các ơn thiêng nhận được qua Mẹ, nên Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép tiến hành xem xét hồ sơ phong thánh cho Mẹ. Ngày 20 tháng 12 năm 2002, ngài phê chuẩn sắc lệnh công nhận nhân đức anh hùng và các phép lạ của Mẹ.

    Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước (lễ kính vào ngày 05 tháng 9). Mẹ là người được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử Giáo Hội từ trước đến nay: chỉ 6 năm sau ngày qua đời. Trước Mẹ, thánh Gioan Bosco và thánh Maximilian Kolbe được phong chân phước 30 năm sau ngày qua đời và là những người được phong chân phước nhanh nhất.

    Chân phước Têrêxa thành Calcutta - một người của toàn thể nhân loại, mang dòng máu Anbani, có quốc tịch Ấn độ và công dân danh dự của Hoa kỳ, nhưng lại xóa mình đến nỗi ít ai còn nhớ đến cái tên khai sinh Agnes Gonxha Bojaxhiu - mãi mãi là hình ảnh của một Kitô hữu có một đức tin không hề lay chuyển, một đức cậy bất chấp phong ba và một đức ái vượt mọi biên thùy. Lời đáp trả trước tiếng gọi của Chúa Giêsu "Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy" đã biến người thành một nhà Thừa Sai Bác Ái, một ‘người mẹ của kẻ nghèo’, một biểu tượng cho lòng thương cảm của Thiên Chúa đối với con người và một bằng chứng sống động cho thấy rằng Chúa Giêsu từng ngày khắc khoải chờ đợi tình yêu của mỗi một linh hồn.


    TRẦN DUY NHIÊN
    Tổng hợp theo tài liệu của Mạng Lưới Vatican
    và Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái.
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 8 tháng 9

    LỄ SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MARIA

    Giáo Hội không mừng ngày sinh của các thánh. Ngày sinh của con cái Adam là một ngày u buồn tràn đầy nước mắt, và cái di sản thảm khốc của tội lỗi mà chúng ta mang theo khi vào đời. Nhưng trong lịch sử Phụng vụ Công giáo, chúng ta thấy có 3 lễ mừng sinh nhật: của chính Đức Giêsu, của Trinh Nữ Maria và của Thánh Gioan Tẩy Giả. Đối với Thánh Gioan Tẩy Giả, vì được thánh hoá ngay từ khi còn trong lòng mẹ, việc chào đời của ngài là một biến cố vui mừng đặc biệt. Riêng với Đức Trinh Nữ Maria, những lễ kính Ngài là “những lễ kính nhớ biến cố sinh ơn cứu rỗi, trong đó Giêsu và Mẹ Maria đi liền với nhau, như lễ sinh nhật Đức Maria, ngày mà hy vọng và vầng cứu rỗi ló dạng trên trần gian” (Marialis cultus, 7): bởi vậy, ngày lễ sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria, Giáo Hội hân hoan ca tụng.

    - “Lạy Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, việc Mẹ sinh ra loan báo niềm vui cho cả thế gian. Vì từ lòng mẹ phát sinh mặt trời công chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Đấng xoá bỏ án phạt mà ban chúc lành, tiêu diệt sự chết và ban sự sống đời đời cho chúng con” (ad Bened, ad laudes).

    Niềm vui mừng trong ngày sinh của Đức Trinh Nữ Maria phát xuất từ niềm mong đợi lâu đời của nhân loại tội lỗi. Chính Thiên Chúa đã trao ban cho nhân loại chúng ta niềm hy vọng này khi Chúa phán với con rắn cám dỗ:

    - “Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng dõi ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân” (St 3,15).

    Lời hứa ấy còn được lặp lại nhiều lần để nuôi dưỡng niềm tin của dân Chúa. Chẳng hạn Isaia báo trước hình ảnh Đấng sẽ sinh ra Đấng Cứu Thế: “Này cô nương sẽ thụ thai và sinh con và bà sẽ gọi tên là Emmanuel” (Is 7,14).

    Đấng Cứu Thế sẽ được sinh ra bởi một người mẹ đồng trinh (x. Lc 1,27). Như vậy, Thiên Chúa đã dự liệu cho con Ngài. Một người mẹ đặc biệt. Maria còn được giữ cho khỏi vương nhiễm tội nguyên ngay từ buổi hình thai, để xứng đáng tước vị Mẹ Thiên Chúa. Theo truyền sử, cha mẹ ngài là ông Gioanchim và bà Anna, những người đạo đức thuộc dòng dõi vương giả David, và tư tế Aaron, nhưng lại son sẻ.

    Dầu sao đi nữa, chính Maria có một nét đẹp lạ lùng của ơn thánh. Giáo Hội ca tụng Mẹ:

    - Ôi Maria! Mẹ đẹp tuyệt vời. Hơn hết mọi người.

    Ngày Đức Trinh Nữ Maria chào đời, mọi người thán phục. Hơn nữa biến cố này còn là khởi đầu cho ngày cứu rỗi, vì Ngài như “sao mai” dẫn lối loài người, như “rạng đông” báo hiệu mặt trời. Vì vậy, ngay từ thế kỷ VI, cả Giáo hội Đông phương cũng như Tây phương đã cử hành lễ mừng kính sinh nhật Mẹ. Đến thế kỷ X, lễ mừng được phổ biến phắp nơi và trở thành một trong các lễ chính mừng kính Đức Mẹ. Vào thế kỷ XII, lễ này còn kéo dài thành tuần bát nhật, theo lời hứa của các Đức Hồng Y họp mật nghị để bầu giáo hoàng. Các ngài hứa sẽ thiết lập tuần bát nhật để tạ ơn Đức Mẹ nếu có thể vượt qua được các chia rẽ vì cuộc vận động của vua Frédéric và sự bất mãn của dân chúng. Đức Giáo hoàng Célestinô V đắc cử cai quản có 18 ngày nên chưa thực hiện được lới hứa. Giữa thế kỷ XIII, Đức Innocentê đã hoàn thành lời hứa này.

    Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria loan báo niềm vui cho toàn thế giới, chúng ta cùng chiêm ngắm và tha thiết nguyện cầu cho được niềm vui thiêng liêng từ biến cố này.


    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 9 tháng 9

    Thánh Phêrô Clavê, Linh Mục (1580-1654)

    Thánh Peter Claver sinh ngày 25-6-1580 tại Verdu, xứ Catalonia, Tây Ban Nha. Peter Claver - một người trẻ thuộc dòng Tên - đã từ bỏ quê nhà vĩnh viễn vào năm 1610 để trở nên nhà truyền giáo ở Tân Thế Giới. Ngài đi thuyền đến Cartagena (bây giờ thuộc Colombia), là một hải cảng sầm uất ở bờ biển Caribbean. Ngài thụ phong linh mục ở đây vào năm 1615.

    Vào lúc đó, việc buôn bán nô lệ đã được thịnh hành ở Mỹ Châu khoảng 100 năm, và Cartagena là trung tâm. Hằng năm, có đến 10.000 người nô lệ từ Tây Phi Châu đổ về hải cảng này sau khi vượt biển Atlantic trong những điều kiện tệ hại và bất nhân đến nỗi có đến 1/3 đã chết trong cuộc hành trình. Mặc dù việc buôn bán nô lệ bị Ðức Giáo hoàng Phaolô III lên án và sau này Ðức Piô IX gọi là “hành động vô cùng ghê tởm”, nhưng nó vẫn phát đạt.

    Cha Alfonso de Sandoval, là một linh mục dòng Tên đã hy sinh cuộc đời để phục vụ người nô lệ ở đây trước khi Cha Peter Claver đến để tiếp tục công việc của ngài, và cha tự nhận mình là “người nô lệ muôn đời của người da đen”.

    Ngay sau khi thuyền chở người nô lệ cập bến, Cha Peter Claver đi xuống khoang thuyền hôi hám để giúp đỡ những người đau yếu và những hành khách khốn cùng. Sau khi người nô lệ bị lùa ra khỏi tàu và bị xích với nhau như đàn vật trong một khu đất có hàng rào để người ta chọn lựa, Cha Claver lại luẩn quẩn trong bọn họ để cung cấp thuốc men, thực phẩm, rượu, chanh và thuốc lá. Với sự giúp đỡ của thông dịch viên, ngài nói về giáo lý căn bản và đảm bảo các anh chị em của ngài về nhân phẩm và tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Trong 40 năm phục vụ, Cha Claver đã giảng dạy và rửa tội cho khoảng 300.000 người nô lệ.

    Sứ vụ tông đồ của ngài không chỉ hạn hẹp trong việc săn sóc người nô lệ, ngài trở nên một người có uy quyền về luân lý, quả thật, ngài là tông đồ của Cartagena. Ngài rao giảng trong trung tâm thành phố, truyền giáo cho các thuỷ thủ và thương gia, và nếu có thể, ngài cố tránh né lòng quý mến của các nông gia và chủ nhân mà chỉ muốn sống trong các khu dành riêng cho người nô lệ.

    Sau 4 năm bị bệnh khiến thánh nhân ngừng hoạt động và hầu như bị lãng quên, ngài qua đời ngày 8-9-1654 tại Cartegena, xứ Colombia. Ông toà của thành phố, trước đây rất khó chịu vì sự quan tâm của ngài đối với người da đen thấp hèn, đã ra lệnh chôn cất ngài với công quỹ và với nghi thức long trọng.

    Ngài được Ðức Giáo hoàng Leo XIII tôn phong hiển thánh ngày 15-6-1888 và tuyên xưng ngài là quan thầy công việc truyền giáo cho người nô lệ da đen ở khắp nơi trên thế giới.

    Lời bàn

    Quyền năng và sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã thể hiện trong hành động đáng khâm phục của Cha Peter Claver. Quyết định từ bỏ quê nhà không bao giờ trở lại cho thấy một ý chí phi thường thật khó cho người thời nay tưởng tượng nổi. Quyết tâm phục vụ những người bị bạc đãi, thấp hèn nhất trong xã hội là một hành động cực kỳ anh hùng của Thánh Peter Claver. Khi so sánh cuộc đời chúng ta với cuộc đời của một người như vậy, chúng ta mới thấy sự ích kỷ và sự hẹp hòi của chúng ta trước những nhu cầu của người khác, và chúng ta cần mở lòng ra cho sự tác động của quyền năng vô cùng của Thần Khí Ðức Giêsu.

    Lời trích

    Thánh Peter Claver hiểu rằng việc phục vụ cụ thể như phân phát thuốc men, thực phẩm cho anh chị em da đen thì cũng hữu hiệu để loan truyền lời Chúa như rao giảng bằng lời nói. Như Thánh Peter Claver thường nói: “Chúng ta phải nói với họ bằng đôi tay trước khi nói với họ bằng miệng lưỡi của chúng ta”.

    (Trích Gương Thánh Nhân - ns Người Tín Hữu online)
     
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 13 tháng 9

    Thánh GIOAN KIM KHẨU, Giám Mục, tiến sĩ Hội Thánh (347-407)

    Thánh Gioan Kim Khẩu sinh tại Antiôchia nước Syria, năm 347, cha ngài là một sĩ quan quân đội, đã qua đời ít lâu sau khi ngài sinh ra. Mẹ ngài goá bụa vào tuổi đôi mươi đã từ khước tái hôn để dành trọn tình mẫu tử vào việc giáo dục con cái. Vì vậy, thánh nhân liên tiếp được hướng dẫn sống đời cầu nguyện thinh lặng. Gioan còn được mẹ ký thác cho Libaniô, nhà hùng biện thời đó, dạy cho thuật ăn nói. Thánh nhân nhanh chóng bắt kịp rồi qua mặt thầy về khoa này. Một ngày kia, khi đọc bài tập của Gioan, Libanio đã phải thốt lên: “Phúc cho những hoàng đế nào được tán tụng như vậy”.

    20 tuổi, Gioan đã biện hộ trước toà án với một tài năng đặc biệt khiến nhiều người thán phục. Gioan một thời gian đã để mình bị lôi cuốn theo nhiệt tình của dân chúng. Nhưng rồi ngài đã sớm nhận ra mối nguy của danh vọng và dứt khoát giã từ pháp đình để tự hiến cho Thiên Chúa. Sau khi học thánh kinh, ngài theo Thánh Meletô (+381). Giám mục Antiochia, là người đã dạy dỗ, rửa tội và phong cho ngài tác vụ đọc sách.

    Năm 374, Thánh Gioan ẩn mình trong miền núi Syria, thụ giáo với tu sĩ thánh thiện trong 4 năm. Sau đó ngài ẩn mình trong một hang đá 2 năm để cầu nguyện và học hỏi Kinh Thánh. Ngã bệnh vì cuộc sống quá khắc khổ, ngài trở lại Antiochia và được Thánh Melatiô phong chức phó tế năm 318. Năm 386, ngài thụ phong linh mục và bắt đầu giảng dạy, một phận vụ lúc ấy chỉ do các giám mục phụ trách. Suốt 38 năm, tài lợi khẩu của ngài thật đặc biệt có sức lôi cuốn cả dân thành Antiochia.

    Ngày 26-2-398, Thánh Gioan được tấn phong giám mục thành Constantinople. Ngài mau mắn sửa đổi lại toà giám mục. Bán của cải, ngài phân phát cho người nghèo khó và xây dựng một nhà thương, ngài lo lắng nhổ tận gốc rễ những lạm dụng trong giáo đoàn. Với tất cả sự hùng biện, ngài công kích những vô kỷ luật xa hoa, ngay tại triều đình. Bà vận động chống lại thánh nhân.

    Ngài nói: “Hãy nói với Hoàng Hậu rằng: Gioan Kim Khẩu chỉ sợ có một điều, không phải lưu đày tù tội, cũng không phải nghèo túng và phải chết đi nữa, mà chỉ sợ phạm tội thôi”.

    Và ngài đã bị lưu đày nơi Cucuusus ở Armenia. Đức giám mục tại đó tiếp đón ngài nồng hậu. Đức Giáo hoàng Innocentê I gửi đặc sứ tới Constantinople triệu tập một công đồng để dàn xếp nội vụ. Nhưng các thành viên bị tống giam và Thánh Gioan Kim Khẩu còn bị lưu đày đi xa hơn nữa. Lúc ấy ngài đã già nua. Cuối cùng ngài bị bất tỉnh và được đưa vào nguyện đường Thánh Basiliô gần miền Cappadocia. Nơi đây sau khi chịu các phép bí tích cuối cùng.

    Ngài qua đời ngày 14-9-407. Năm 438 xác thánh nhân được long trọng rước vềConstantinople. Vị tân hoàng đế và em gái ông đã hối hận vì tội lỗi của cha mẹ họ.

    Kim Khẩu có nghĩa là miệng vàng. Tài lợi khẩu và việc rao giảng đã khiến cho thánh nhân xứng đáng mang danh hiệu này. Tên ngài cũng dính liền với phụng vụ Thánh Gioan Kim Khẩu, thịnh hành ở Đông phương. Tuy nhiên, thánh nhân nổi tiếng vì chính con người của ngài hơn là tài giảng thuyết. Ngài là một khuôn mặt có ảnh hưởng lớn lao và sống động thời đó. Qua các bài giảng của ngài, chúng ta thấy phản ảnh một con người nhẫn nại và đầy sức sống. Qua các tác phẩm và nhất là qua các thư từ của ngài, ngày nay chúng ta có được cảm giác sống động thế nào là một con người đầy nhân bản.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 14 tháng 9

    LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ

    Chosroes, vua Ba Tư, sau khi xâm lược Aicập và trọn miền Phi Châu thuộc Roma, đã chiếm Giêrusalem, giết hàng ngàn người Kitô hữu và chuyển về vương quốc của ông gia sản quý báu nhất là Thánh Giá thật mà Thánh nữ Hêlôna tìm lại được và đăt trên núi Canvê. Dầu vậy, Chosroes đã tỏ lòng tôn kính đặc biệt cây Thánh Giá này. Ông không dám nhìn cây Thánh Giá để trần, cũng không cho tháo gỡ bao che mà Thánh nữ Hêlena đã học. Dân Ba Tư cùng chung một niềm kính sợ. Họ nói rằng: Thiên Chúa của người Kitô hữu đã tới với quê hương họ và không nên chọc giận Ngài.

    Hoàng đế Hêrachiô đã tới vương quốc hai lần để cầu hoà với vua Chosròes. Nhưng nhà vua Ba Tư đã ngạo mạn đưa ra điều kiện cho các vị đặc sứ: “Trước hết nhà vua các ngươi phải từ bỏ Đức Kitô và thờ lạy mặt trời như chúng tôi. Sau đó chúng tôi sẽ hoà hoãn với ông ta”.

    Thái độ trịch thượng này đã làm cho các Kitô hữu phải kinh ngạc. Hoàng đế nổi giận, ngài nói với các sĩ quan rằng: mình sẽ đổ tới giọt máu cuối cùng để trả thù cho tội phạm sự thánh này. Hàng giáo sĩ các tu viện và mỗi Kitô hữu đều rộng tay góp của giúp hoàng đế thực hiện cuộc thánh chiến. Một đạo binh được thành lập nhanh chóng. Sau khi cầu khẩn sự trợ giúp của trời cao, ngài đã vào Ba Tư và 3 lần bắt Chosròes khiến ông phải tẩu thoát. Nhưng kẻ bại trận thay vì nghĩ tới chuyện cầu hoà, lại đưa người con thứ là Medarsèr lên ngôi.

    Người con trưởng của ông là Siròes nổi giận đã âm mưu sát hại em lẫn cha mình. Bắt được họ đang trên đường tẩu thoát, hắn bèn thực hiện ý định, Chosroes bị nhốt tù và chết đói sau khi phải chứng kiến tận mắt Mêdarsèr cùng với các con bị thắt cổ chết.

    Siròes chiếm giữ ngai vàng Ba Tư và xin cầu hoà với Hoàng đế Hêrachiô. Hoàng đế ưng thuận với điều kiện là hắn phải trả lại thập giá và phóng thích các Kitô hữu bị bắt làm nô lệ.

    Thánh Giá thật đã được tìm lại sau 14 năm rơi vào tay người Ba Tư. Hoàng đế trở về Constantinople cùng với thánh tích. Toàn dân cam đuốc sáng và nhành ôliu đi đón Thánh Giá. Mùa xuân năm sau, hoàng đế Hêrachiô đích thân đáp tàu đi đặt di sản quý báu trở lại chỗ cũ. Tới Giêrusalem, ngài vác Thánh Giá trên vai tiến tới nhà thờ trên đồi Canvê. Một phép lạ lẫy lừng thánh hoá biến cố này. Trong khi hoàng đế đang tiến lên giữa bầu khí thinh lặng đầy cung kính, bỗng ngài cảm thấy không thể tiến tới được nữa. Ngài bày tỏ nỗi kinh ngạc với thượng tế Jachatia bên cạnh.

    Vị giáo phụ trả lời: “Thưa hoàng thượng, ngài mặc cẩm bào trong khi Chúa Giêsu ăn mặc khó nghèo rảo qua các đường phố của thành này để tiến tới lễ hy sinh. Người đã đội mão gai mà đầu hoàng thượng lại đội triều thiên sang trọng. Người đi chân không còn hoàng thượng chân xỏ giày.

    Cảm động vì những lời này, hoàng đế Hêrachiô đã biết được sự thật và cởi bỏ mọi đồ trang sức sang trọng và đi chân không. Từ đó, ngài đã dễ dàng đi hết con đường và đặt Thánh Giá vào chỗ người Ba Tư đã lấy đi.

    Còn nhiều phép lạ nữa chúng minh sức mạnh của gỗ thánh giá. Nhưng chính biến cố kể trên đã là đối tượng của Lễ Suy Tôn Thánh Giá Chúa Kitô.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~~~~

    Ngày 14.09: Lễ Suy Tôn Thánh Giá Chúa

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 13 tháng Chín 2017
  7. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 15 tháng 9
    Lễ Đức Mẹ Sầu Bi

    KÍNH NHỚ BẢY SỰ THƯƠNG KHÓ ĐỨC TRINH NỮ MARIA


    Lòng đạo đức của các tín hữu tập trung trước hết vào cảnh nát lòng mà Đức Trinh Nữ phải chịu trong ngày Chúa Cứu Thế chịu nạn. Họ suy gẫm những nỗi đau của Mẹ. Khi Mẹ gặp Chúa Giêsu. Con Mẹ, vai vác thánh giá, lúc mẹ trên đỉnh Canvê đứng dưới chân thánh giá suốt 3 giờ hấp hối của Chúa Giêsu, và trong khi Mẹ dự cuộc mai táng Chúa Giêsu, thực sự trọn cuộc đời Mẹ đầy những thương đau. Việc tôn sùng 7 sự thương khó Đức Trinh Nữ Maria, được một linh mục đạo đức là Cha Jean de Coudenberghe thiết lập.

    Đau lòng về những tai hoạ do cuộc nội chiến sau cái chết của nữ bá tước miền Bourgogne, Ngài chạy đến với Mẹ sầu khổ. Để hun đúc lòng sùng kính của các tín hữu, ngài đặt trong 3 thánh đường thuộc quyền ngài một tượng Đức Trinh Nữ với bản khắc bằng thơ, bảy hoàn cảnh đặc biệt đã làm cho Đức Trinh Nữ phải sầu khổ:

    1. Lời tiên tri của Simêon.

    2. Cuộc chạy trốn qua đất Aicập.

    3. Việc lạc mất Chúa Giêsu tại Giêrusalem.

    4. Việc Chúa Giêsu vác Thánh giá.

    5. Việc Chúa Giêsu chịu đóng đinh.

    6. Việc hạ xác Chúa Giêsu khỏi Thánh giá.

    7. Việc táng xác Chúa Giêsu trong mồ.

    Ngày 25-10-1495, Đức Alexandre VI chấp thuận hội Đức Mẹ Sầu Bi đã được thành lập tại Bỉ năm 1490. Những cuốn niên giám của hội chứng tỏ rằng việc tôn sùng 7 sự thương khó Đức Trinh Nữ Maria đã được phổ biến cách rộng rãi ở hai bên sườn núi Flandres.

    Lễ kính nhớ 7 sự thương khó Đức Trinh Nữ Maria được cử hành vào ngày thứ sáu trước Chúa Nhật Thương Khó.

    Tuy nhiên, lòng sùng kính này còn có trước cả những cử hành trọng thể bề ngoài nữa. Tại Florence, năm 1233, đã xuất hiện dòng tôi tớ Đức Bà, đặc biệt tôn sùng việc tử đạo của Ngài. Đến năm 1688, dòng này được đặc ân mừng một lễ thứ hai kính nhớ 7 sự thương khó Đức Trinh Nữ Maria. Ngày 18-9-1814. Lễ này được Đức Piô VII cho mừng trong cả Giáo Hội.

    Việc kính nhớ lần thứ hai trong năm phụng vụ này xuất phát bởi ý tưởng cho rằng: trong mùa chay, Giáo Hội tập rung vào mầu nhiệm cứu chuộc và không chú ý hoàn toàn vào các sự đau khổ của Mẹ Maria được. Cùng với Giáo Hội kính nhớ một lần nữa 7 sự thương khó của Đức Trinh Nữ Maria, chúng ta chiêm ngưỡng mọi đau khổ của Ngài như sự đồng khổ với Chúa Giêsu, để cùng biết hiệp nhất mọi khó khăn trong đời chúng ta với cuộc khổ nạn hồng phúc của Chúa.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~~~

    Suy gẫm 7 nỗi đau của Mẹ

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 15 tháng Chín 2017
  8. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 16 tháng 9
    Thánh Cornêliô và Cyprianô, tử đạo

     
  9. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 19 tháng 9

    Thánh GIANUARIÔ (Januario), Giám mục, Tử đạo (Thế kỷ IV)

    Thánh Gianuariô danh tiếng không vì cuộc sống hay cái chết của ngài mà chỉ vì việc máu ngài được lưu giữ tại Naples tan loãng định kỳ.

    Câu chuyện ngài chịu tử đạo còn rất mù mờ vì không được kể từ sớm trong sách các vị tử đạo, mà có lẽ chỉ được đưa vào đó do các tác phẩm của Bêđê viết năm 733. Người ta tin rằng ngài là Giám mục Bênêventô, nước Ý, thời hoàng đế Diôclêtianô. Khi nghe 4 Kitô hữu bị tống giam vì đức tin, ngài đã tới thăm họ. Bọn người dò xét sau đó đã khám phá ra và ngài bị bắt giam. Những tường thuật về cái chết của ngài không giống nhau.

    Xem như ngài cùng các bạn bị ném cho thú dữ xâu xé tại vận động trường Puzzuoli... nhưng thú dữ đã không xâm phạm tới các ngài. Thánh nhân sau đó bị xử trảm vào năm 305. Thoạt đầu, thi thể ngài được lưu giữ tại Bênêventô, nhưng sau này vì sợ chiến tranh tàn phá nên được dời về Monte Vergine và sau này về Naples. Dấu chứng đầu tiên về ngài dường như là của Uraniô (431) là người cho rằng nhờ sự chuyển cầu của ngài mà núi lửa Vesuviô không phun nữa.

    Tới thế kỷ XV, những hiểu biết trên là bối cảnh cho lòng sùng kính thánh nhân. Nhưng từ đó về sau, máu ngài được lưu giữ tại Naples đã làm tăng sự chú ý của rất nhiều người. Thánh tích được chứa trong ống nghiệm có hình một chiếc bình và lại được đặt trong một ống kính đặt trên giá trang hoàng lộng lẫy. Như vậy, thánh tích được đặt trong hai lớp kính và được gắn kín, không tiếp xúc với khí trời. Thánh tích là một chất đen đục chiếm nửa bình đựng. Mỗi năm, khoảng 18 lần được trưng bày cho dân chúng, cùng với một thánh tích khác được coi là đầu của vị thánh tử đạo.

    Sau một khoảng thời gian thay đổi từ ít phút đến vài giờ, trong khi vị linh mục đảo ngược vài lần bình đựng và cầu nguyện xin trời cao làm phép lạ, thì khối đặc tan loãng ra, đổi thành màu đỏ, thỉnh thoảng còn sôi lên và sủi bọt nữa. Rất nhiều người nghi ngờ sự kiện này nhưng không có sự đồng nhất trong việc giải thích. Vấn đề chưa được chứng minh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  10. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 20 tháng 9

    Thánh Anrê Kim Taegon, Phaolô Chong Hasang và các bạn

    Anrê Kim Taegon là Linh mục Ðại Hàn đầu tiên và là con của một người trở lại đạo. Cha của ngài, ông Ignatius Kim, được tử đạo trong thời cấm đạo năm 1839 và được phong thánh năm 1925. Sau khi được rửa tội vào lúc 15 tuổi, Anrê phải trải qua một hành trình dài 1.300 dặm để gia nhập chủng viện ở Macao, Trung Quốc. Sáu năm sau, ngài xoay sở để trở về quê hương qua ngả Mãn Châu. Cùng năm ấy ngài vượt qua eo biển Hoàng Sa đến Thượng Hải và thụ phong linh mục. Khi trở về quê, ngài có nhiệm vụ thu xếp cho các vị thừa sai vào Ðại Hàn qua ngã đường biển, nhằm tránh né sự kiểm soát biên phòng. Ngài bị bắt, bị tra tấn và sau cùng bị chặt đầu ở sông Han gần thủ đô Hán Thành.

    Kitô giáo được du nhập vào Ðại Hàn khi Nhật xâm lăng quốc gia này vào năm 1592, lúc ấy có một số người Ðại Hàn được rửa tội, có lẽ bởi các binh sĩ Công Giáo người Nhật. Việc truyền giáo rất khó khăn vì Ðại Hàn chủ trương bế quan toả cảng, ngoại trừ những hành trình đến Bắc Kinh để trả thuế. Một trong những chuyến đi này, khoảng năm 1777, sách vở tài liệu Công Giáo của các cha dòng Tên ở Trung Quốc được lén lút đem về để dạy bảo người tín hữu Kitô Ðại Hàn. Giáo Hội tại gia bắt đầu thành hình. Khoảng 10 năm sau đó, khi một linh mục Trung Hoa lén lút đến Ðại Hàn, ngài thấy có đến 4.000 người Công giáo mà chưa có ai được gặp một vị linh mục. Bảy năm sau, số người Công Giáo ấy lên đến khoảng 10.000 người. Sau cùng, tự do tôn giáo được ban hành vào năm 1883.

    Khi Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đến Nam Hàn năm 1984 để phong thánh, ngoài Thánh Anrê và Phaolô, còn 98 người Ðại Hàn và 3 vị thừa sai người Pháp, tất cả đều tử đạo trong khoảng 1839 và 1867. Trong số đó có các giám mục và linh mục, nhưng hầu hết là giáo dân: 47 phụ nữ, 45 quý ông.

    Trong những người tử đạo năm 1839 là Columba Kim, một phụ nữ 26 tuổi. Ngài bị cầm tù, bị tra tấn bằng vật dụng bằng sắt nung nóng và than. Ngài và người em là Agnes bị lột quần áo và bị giam chung với những tù nhân hình sự, nhưng họ không bị làm nhục. Sau khi Columba phàn nàn về sự sỉ nhục này, từ đó về sau không một phụ nữ nào bị nhục nhã như vậy nữa. Hai người bị chém đầu. Một em trai 13 tuổi, Phêrô Ryou, bị tra tấn dã man đến độ em có thể lấy da thịt của mình mà ném vào quan toà. Em bị siết cổ cho đến chết. Protase Chong, một người quý tộc 41 tuổi, sau khi bị tra tấn ông đã chối đạo và được thả tự do. Sau đó, ông trở lại, tuyên xưng đức tin và bị tra tấn cho đến chết.

    Lời bàn
    Chúng ta bàng hoàng khi thấy sau khi được thành lập, Giáo hội Ðại Hàn hoàn toàn là một Giáo Hội của giáo dân khoảng hơn một chục năm. Làm thế nào mà giáo hội ấy sống còn khi không có Bí tích Thánh Thể? Ðiều này cho thấy, không phải các bí tích không có giá trị, nhưng phải có một đức tin sống động trước khi thực sự được hưởng ơn ích của Bí tích Thánh Thể. Bí tích là dấu chỉ của sự hoạt động và đáp ứng của Thiên Chúa đối với đức tin sẵn có. Bí tích làm gia tăng ơn sủng và đức tin, nhưng chỉ khi nào sẵn có một điều gì đó để được gia tăng.

    Lời trích
    "Giáo hội Ðại Hàn thì độc đáo vì được thành lập hoàn toàn bởi giáo dân. Giáo Hội còn non yếu, thật trẻ trung nhưng thật vững mạnh trong đức tin, và đã đứng vững sau những đợt sóng bách hại mãnh liệt. Do đó, chỉ trong vòng một thế kỷ, Giáo Hội đã kiêu hãnh với 10.000 vị tử đạo. Cái chết của các vị tử đạo này trở thành men cho Giáo Hội và đưa đến sự triển nở huy hoàng của Giáo hội Ðại Hàn ngày nay. Ngay cả bây giờ, tinh thần bất khuất ấy vẫn còn trợ giúp cho người tín hữu của Giáo Hội thầm lặng ở miền bắc bên kia vĩ tuyến” (ÐGH Gioan Phaolô II, bài giảng trong Thánh lễ Phong Thánh).

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)



    -----------------

    Ngày 20 tháng 9

    Thánh Gioan Charles TÂN (CORNAY), linh mục
    (+1837)

    Cố Tân tên thật là Gioan Charles Cornay, sinh ngày 27-02-1809 tại Loudum, địa phận Poitiers, thời Napoléon đệ I. Cha ngài là một thương gia và làm thị trưởng tại Mouterre Silly. Lúc nhỏ, Gioan được gửi học tại trường các cha dòng Tên, rồi được gửi vào Chủng viện tại Poitiers. Năm 1830, Gioan bày tỏ cho cha mẹ ý nguyện truyền giáo của mình. Lúc đầu bị phản đối, nhưng ngài cũng được gia nhập Chủng viện truyền giáo tại Ba Lê. Rời Bordeaux vào ngày 17-09-1831, ngài tới Ma Cao vào tháng 3-1832. Ban đầu, ngài được chỉ định truyền giáo tại miền Trung Trung Hoa, nhưng thời thế thay đổi đã đưa ngài đến Bắc Việt. Thời kỳ đó, cuộc cấm đạo dưới triều Minh Mạng đã bắt đầu, ngài phải sống cơ cực vì trốn tránh. Ngày 28-04-1834, ngài thụ phong linh mục, nhưng sau đó bị bệnh, hầu như không thể làm việc được nữa. Bề Trên gọi ngài trở về Pháp để chữa trị, nhưng ngài đã trả lời: “Con quý chuộng những khổ cực ở đây hơn là được sức khỏe tại Pháp”. Ngày 20-06-1837, ngài bị bắt tại Bầu Nọ và bị giải về Tây Sơn. Ba tháng sau, ngày 20-09-1837, ngài bị xử lăng trì, đầu bị bêu cao ba ngày rồi bị ném xuống sông.

    Ngày 27-05-1900, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong ngài lên hàng Chân Phước và Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-06-1988.
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 20 tháng Chín 2017
  11. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 21 tháng 9

    Thánh MATTHÊU, Tông Đồ, Thánh Sử

    Ít có ai chuộng người thu thuế. Vào thế kỷ I tại Palestine điều này còn rõ hơn nữa, khi mà họ thủ lợi được nhờ doạ dẫm và gian dối. Nhưng dù có lương thiện đi nữa nhân viên thu thuế cũng không được cấp lãnh đạo Do Thái chấp nhận vì họ làm việc cho lương dân. Họ là người nhơ uế theo luật pháp và bị loại khỏi xã hội. Khi nhận một người thu thuế vào môn đồ của Người, Chúa Giêsu quả đã khinh thường tiên kiến của dân chúng.

    Điều cần ghi nhận là Matthêu không phải đi từ cửa nhà này tới cửa nhà khác để thu thuế. Ông có một văn phòng tại Capharnaum, thành phố quê hương của Phêrô và đại bản doanh của Chúa Giêsu khi thi hành sứ vụ tại Galilê.

    Đi ngang qua, Chúa Giêsu thấy Lêvi con của Alphê ngồi nơi sở thu thuế và Người nói: “Hãy theo Ta” và ông đứng dậy đi theo Người” (Mc 2,14).

    Đó là lời mời gọi làm tông đồ, rất giống lời gọi dành cho Simon và Anrê (x. Mc 1,16t). Dầu vậy, Lêvi không có tên trong danh sách nhóm mười hai (x. Mc 3,16; Mt 10,3; Lc 6,14t; Cv 113). Ơn gọi người thu thuế được ghi lại trong Tin Mừng thứ nhất, trong đó ông được gọi là Matthêu (x. Mt 9,9tt). Như vậy, tông đồ đồng hoá mình với Mathêu có trong danh sách các tông đồ. Lời giải thích tự nhiên được tiếp nhận rộng rãi là Matthêu với Lêvi chỉ là một người với hai tên gọi khác nhau. (Chẳng hạn anh em Macabê, 1 Mcb 2,2-5). Cũng có thể chính Chúa Giêsu đã đặt tên cho Matthêu như đã đặt tên Phêrô cho Simon (Mattai theo tiếng Aramêô có nghĩa là ấn bản của Thiên Chúa).

    Từ đó Matthêu bỏ sổ sách và học theo hoa đồng và chim trời, những thứ không thể tính toán cho đời sống mình (x. Mt 6,25tt). Chủ nhân của ông không còn là Antipas, con cáo gian xảo (x. Lc 13,32) mà là một Đấng khác hẳn loài cáo, lại chẳng có lấy một căn nhà (x. Mt 8,20). Sự thay đổi đã huỷ diệt trọn tương lai trần gian của Matthêu. Simon và Andrê còn có thể trở lại với nghề chài lưới, còn Matthêu bị tống khứ khỏi nghề cũ và không thể trở lại được nữa. Trong cộng đoàn tông đồ không phải ông mà là Giuda giữ quỹ của nhóm (x. Ga 13,29).

    Sau khi được gọi, Matthêu biến dạng khỏi Tân ước và chỉ còn để lại tên trong danh sách các vị Tông đồ. Ngài đã ra thế nào? Chúng ta có được một câu văn của Giám mục Papias trong cuốn giải thích Lời Chúa (khoảng năm 125): “Matthêu viết một tường thuật có thứ tự về Lời Chúa, theo năng khiếu của ngài” (Eusebiô, Lịch sử Giáo Hội III, 39). Cuốn Tin Mừng Matthêu viết bằng tiếng Aramêô cho người Dothái trở lại. Khi thời thế đòi hỏi, con người Matthêu bị xã hội loại bỏ ấy đã cầm lấy viết để trước tác cuốn “Tin Mừng theo Thánh Matthêu”.

    Theo bản văn tiếng Hy Lạp còn lại, chúng ta thấy tính khí theo toán học với những con số rõ rệt: 7 dụ ngôn về nước trời, 7 lời nguyền rủa bọn biệt phái, 7 lời cầu trong kinh Lạy Cha và có lẽ 7 mối phúc thật. Cả con số 5 nữa: 5 cuộc tranh luận với biệt phái, 5 chiếc bánh, 5 lượng vàng, nhất là 5 phần của cuốn sách. Sau cùng như chúng ta mong đợi có dấu chỉ về sự hiểu biết tinh tường về phương diện tài chính như đồng bạc nộp thuế thay vì đồng “denarius” trong Mc và Lc hay như thuế đền thờ, với những loại thuế gián thu, thuế phân...

    Như vậy, Matthêu đã chuyển nghề nghiệp cũ vào một việc phụng sự mới, từ người kế toán thành người viết Tin Mừng. Thật không ngạc nhiên gì khi một mình ngài ghi lại lời này của Chúa: “Phàm ký lục nào đã được thụ giáo về Nước Trời thì cũng giống như gia chủ biết rút từ trong kho của ông ra điều mới và điều cũ” (Mt 13,52).

    Không có khí cụ hèn hạ nào của chúng ta mà lại không được dùng một cách hoàn hảo và xứng đáng vào việc phụng sự Chúa.

    Cuốn Tin Mừng thứ nhất là một kỷ vật của Thánh Matthêô được Giáo Hội ưa chuộng. Nhưng công cuộc tông đồ sau này của ngài lại bị mai một. Ngài đã rao giảng Tin Mừng cho người Dothái tại Palestina có lẽ trong 15 năm (Eusebiô, Lịch sử Giáo Hội III, 24,265) nhưng sự lầm lẫn giữa tên ngài với thánh Matthias (x. Cv 1,26) làm chúng ta luõng lự giữa những truyền thống khác nhau. Ethiopia, Parthia, Macedonia và cả những xứ của những kẻ ăn thịt người đều được ghi nhận là nơi thánh nhân đã làm việc tông đồ.

    Thường người ta cho rằng: ngài chịu tử đạo, nhưng ý kiến cũng không được đồng nhất. Điều chắc chắn là ngài đã sống đời của một vị tử đạo và thế là đủ. Đối với chúng ta, ngài luôn luôn là một người đã biết được tiền của là gì, lẫn việc không có tiền của là gì.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
    --------------------------

    Ngày 21 tháng 9

    Thánh Phanxicô PHAN (JACCARD), linh mục
    và Thánh TÔMA TRẦN VĂN THIỆN, chủng sinh

    (+1838)

    Cố Phan tên thật là Phanxicô Jaccard, chào đời ngày 06-09-1799 tại Cévillon, Pháp. Lớn lên, ngài được gửi học tại Chủng viện Mélan, nhưng vì trí khôn chậm hiểu bị bạn bè chế diễu, nên Phanxicô buồn chán rồi lẻn trốn về gia đình.

    Nhờ công việc đồng áng và sống giữa thiên nhiên, Phanxicô trở nên vui vẻ dạn dĩ, và tiếng Chúa gọi lại vang dội mãnh liệt trong tâm hồn. Do đó, Phanxicô trở lại tiếp tục việc học trong Chủng viện, và năm 1819, cậu lên Ðại chủng viện Chambéry.

    Tại đây, Phanxicô nổi bật về đời sống đạo đức với ước muốn đi truyền giáo và được phúc tử đạo. Vì thế, từ tháng 8-1821, Phanxicô gia nhập Chủng viện Thừa sai Ba Lê và thụ phong linh mục ngày15-03-1823. Bốn tháng sau, được lệnh Bề trên, ngài xuống tàu tại Bordeaux sang Viễn Ðông. Ngày 25-11-1824, tàu cập bến tại Ma Cao, và mãi tới tháng 2-1826, ngài mới tới địa phận Ðàng Trong. Sau một thời gian học tiếng, ngài đi giảng dạy tại Nhu Lý, Phủ Cam và sau đó làm Giám đốc Chủng viện An Ninh (Quảng Trị).

    Tháng 7-1828, vua Minh Mạng triệu ngài vào kinh để dịch bức thư của nhà vật lý Pháp D. Diard ra tiếng Việt cho vua tường lãm. Nhưng vì thái độ ghét đạo Công Giáo của nhà vua, ngài bị giam lỏng tại Huế, bị đày lên Lao Bảo và bị bỏ đói, rồi bị áp giải về Cam Lộ (Quảng Trị). Suốt 10 năm, ngài phải phục vụ vua Minh Mạng: dịch văn thơ và tài liệu, giảng giải lịch sử Âu Mỹ, dạy tiếng Pháp cho những người do nhà vua gửi tới, hay trình bày cho nhà vua về đạo thánh. Cuối cùng, vào tháng 7-1838, ngài bị giải về lao xá Quảng Trị và gặp lại chủng sinh Tôma Trần Văn Thiện đang bị giam ở đây.

    Thánh Tôma Trần Văn Thiện sinh năm 1820 tại làng Trung Quán, tỉnh Quảng Bình. Ngay từ nhỏ, ngài đã có lòng đạo đức, ngoan ngoãn và lễ độ. Năm lên 8 tuổi, ngài theo học chữ nho với cha Thọ. Năm 18 tuổi, sau khi đã học La ngữ với cha Wial, ngài được giới thiệu vào Chủng viện Di Loan (Quảng Trị) do cha Candahl (Cố Kim) điều khiển. Tôma Thiện hăng hái lên đường cùng người chị tên là Sao. Dọc đường hai chị em gặp nữ tu Mađalêna Yến từ Di Loan về cho biết cha Bề trên Candahl đã phải trốn vì lệnh cấm đạo. Nhưng hai chị em vẫn cứ hăng hái tiến bước và tới Di Loan giữa lúc triều đình đang lùng bắt cha Candahl. Vì không tìm được cha, quân lính bắt một số giáo hữu, trong đó có Tôma Thiện.

    Quan trấn Quảng Trị dùng mọi cách như dụ dỗ, đe dọa, đánh đòn, giam đói để lung lạc. Ngài luôn lễ độ trả lời: “Tôi sẵn lòng chịu chết, chứ không bao giờ bỏ đạo.” Trước những lời khẳng khái ấy, quan truyền đóng gông và tống giam ngài chung với cha Phanxicô Jaccard.

    Ngày 17-09-1838, hai ngài bị lên án tử hình. Khi hay tin, hai cha con vui mừng và tạ ơn Chúa. Ngày 21-09-1838, hai ngài bị điệu tới pháp trường ở làng Nhan Biều, gần Quảng Trị, và bị xử giảo tại đây.

    Ngày 27-05-1900, Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong hai ngài lên hàng Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-06-1988.
     
  12. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 23 tháng 9

    THÁNH PADRE PIO (1887-1968)

    Ngày 16/6/2002, đoàn người từ khắp nơi trong nước Ý vui mừng hớn hở tuốn về Quảng trường Thánh Phêrô, tại Roma để mừng và tham dự lễ phong Hiển Thánh cho Chân phước Dòng Phanxicô Padre Pio, người đồng hương, do Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II chủ phong. Ước lượng 600.000 người về tham dự đại lễ này. Hàng 100.000 người khác tập trung trước Nhà thờ San Giovanni Rotondo, nơi ngài sống trước kia để theo dõi trên màn ảnh truyền hình Lễ Phong Thánh từ Roma. Ngài mới được phong Chân phước ngày 2/5/1999. Tiếng vỗ tay vang trời, pháo bông nổ tung trời giữa ban ngày và không biết bao nhiêu bong bóng bay rợp trời khi Đức Giáo Hoàng, một người rất ngưỡng mộ Cha Pio, công bố tôn phong Hiển Thánh cho Chân phước Padre Pio: Chúng ta kể Chân phước Pio thành Pietrelcina vào niên lịch kính nhớ các thánh và quy định rằng toàn thể Giáo Hội sẽ kính nhớ ngài trong số các Thánh’’.

    Đây là linh mục nổi tiếng đạo đức thánh thiện nhất của nước Ý và thế kỷ XX, ngay từ khi chịu chức linh mục (1910). Từ 1915, trên mình Cha thấy xuất hiện những vết bầm kỳ lạ. Từ đây, theo thời gian, Cha đã được Chúa cho in Năm Dấu Thánh cho đến khi qua đời. Trong 52 năm (1916-1968), Cha sống như đồng thụ nạn với Chúa Kitô qua những vết Dấu Thánh luôn chảy máu. Có thể nói cả cuộc đời của thánh nhân là sống kết hợp với Chúa Kitô chịu đóng đinh. Cuộc đời Cha thực hiện đúng với khẩu hiệu khi làm linh mục: Cầu nguyện, hy vọng và đừng lo sợ.

    Được biết lịch sử Giáo Hội đã ghi nhận các vị thánh sau đây được in Năm Dấu: Thánh Phanxicô Assie (Ý, 1181-1226), Thánh Catherine de Sienne (Ý, 1347-1380), nữ Chân phước Lucia Narmi (1476-1544), Thánh Teresa Avila (Tây Ban Nha, 1515-1582), Thánh nữ Caterina de Rieci (1522-1589), Chị VeronicaGiuliani (1666-1727), Chị Thérèse Neumann (Đức, 1898-1962), chị Marthe Robin (Pháp, 1902-1981), Mẹ Marie de La Croix, sáng lập Dòng Chị Em Đức Mẹ (+ 9/4/1998) - [cf. Pèlerin Magazine 30/4/1999].

    Không riêng gì dân chúng Roma mà hàng triệu người trên thế giới ngưỡng mộ vị thánh thời danh này. Chính ngày phong thánh, 16/6/2002, tại Giáo phận Tura, bang Meghalaya, Ấn Độ, đã diễn ra lễ đặt viên đá đầu tiên xây một nhà thờ, một bệnh viện ngoại trú và một trường học để kính nhớ Thánh Padre Pio Năm Dấu. Trong khi đó, Giáo phận Roma có cuộc triển lãm chủ đề ‘‘Padre Pio, Ánh Sáng Vĩ Đại’’, trưng bày thánh tích, hình ảnh, dụng cụ cá nhân, trưng bày cả các khía cạnh khoa học về một số huyền nhiệm chung quanh cuộc đời linh mục của Thánh nhân.

    Chúng ta đọc lại những chứng từ dưới đây sẽ rõ con người của Cha Pio là người dùng lời cầu nguyện để làm bác ái thương người đau khổ.

    Linh mục Gerardo di Flumeri, phụ tá cáo thỉnh viên của Án Phong Thánh cho Cha Pio nhận định: Cha Pio là vị thánh hợp với mọi người. Sứ điệp của Cha nhắn nhủ mọi người: hãy cầu nguyện, hãy cầu nguyện liên lỉ. Thật vậy, Cha Pio thích nói mình là thầy dòng cầu nguyện”.

    Đức Giáo hoàng Phaolô VI, sau khi Cha Pio mới qua đời được 3 năm, ngày 20/02/1971, đã tiếp kiến các bề trên Dòng Capucins và khuyến khích: “Anh em hãy noi gương Cha Pio. Ngài lừng danh và được nhiều người đến xin hướng dẫn mọi việc. Không phải vì Cha là nhà hiền triết hay uyên bác gì. Cha cũng không phải là người tài giỏi gì hay có nhiều phương tiện truyền thông quảng bá. Cha chỉ là người dâng Thánh lễ một cách khiêm cung sốt sắng, ngồi giải tội từ sáng đến tối. Ngài là hiện thân của Thiên Chúa, được Chúa chọn để in Năm Dấu Thánh Chúa Kitô. Quả thật, Cha Pio là người cầu nguyện và người của đau khổ”. Cha Pio cũng là người hiểu biết Đức Phaolô VI hơn ai hết, khi Đức Giáo Hoàng ban hành Thông điệp Humanae Vitae (1968), bị người ta công kích. Cha Pio đã viết thư cho Đức Giáo Hoàng, có đoạn: “Con biết lúc này Đức Thánh Cha đau khổ nhiều vì lợi ích Giáo Hội, mưu tìm hoà bình thế giới và chia sẻ với người nghèo. Con xin dâng lên Chúa những đau khổ riêng của con như đóng góp nhỏ bé, xin Chúa ban ơn an ủi và nhiều ân sủng cho Đức Thánh Cha”.

    Trong bài giảng lễ Phong Chân phước cho Cha Pio, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã trình bày đầy đủ về con người và lòng đạo đức thâm sâu của Cha Pio và xác nhận Thánh Nhân là hình ảnh sống động của Chúa Kitô: “Trên khuôn mặt của Cha Pio có chiếu dọi ánh sáng Phục Sinh. Thân thể ngài được in Năm Dấu Thánh cho thấy sự liên kết giữa sự sống và sự chết, đặc điểm của mầu nhiệm Phục Sinh. Đối với Chân phước Padre Pio, việc chia sẻ cuộc Tử Nạn có mức độ mạnh mẽ khác thường. Các đặc ân Thiên Chúa ban cho ngài và những đau khổ bên trong là huyền bí theo các ơn này, làm cho ngài sống một kinh nghiệm liên lỉ về các đau khổ của Chúa Kitô, trong ý thức bất biến là “Núi Sọ là núi của các Thánh”. Đức Thánh Cha nhấn mạnh Cha Pio là người đem lại tình thương cho mọi người: “Với nhà thương nơi nâng đỡ những đau khổ, Cha đã muốn chứng tỏ rằng các phép lạ hằng ngày của Thiên Chúa phải được thực hiện qua đức bác ái của chúng ta. Cần phải sẵn sàng chia sẻ và phục vụ quảng đại cho anh em mình, bằng việc sử dụng khả năng y khoa và kỹ thuật”.

    Tuyên phong Chân phước Padre Pio lên hàng Hiển Thánh, Giáo Hội muốn nêu cao lần nữa sự thánh thiện luôn có và mới mẻ. Để trả lời dư luận cho rằng sống đạo đức thánh thiện trong thời đại này là lỗi thời, là phản khoa học và đi ngược lại với văn minh. Sự thánh thiện nơi con người trần gian là sự chiếu rọi nơi nguồn thánh của Thiên Chúa. Gương thánh nhân để lại cho chúng ta là cầu nguyện và bác ái. Theo ngài, cầu nguyện là cơ bản của người Kitô hữu, sẽ dẫn chúng ta kết hợp với Thiên Chúa và tiếp theo là bác ái. Sứ điệp của Thiên Chúa muốn gửi cho nhân loại qua Ngài: “Cầu nguyện để kết hợp với Thiên Chúa và từ đó dễ dàng đi đến thực hành bác ái?” (giaoxuvn.org).

    ~~~~~~~~~~~~~

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 23 tháng Chín 2017
  13. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 26 tháng 9

    Thánh COSMA VÀ ĐAMIANÔ, Tử đạo

    Theo truyền thuyết, Thánh Cosma và Damianô là hai anh em sinh đôi, sinh tại Ảrập. Các ngài sớm mồ côi cha. Mẹ các ngài là một goá phụ nhân đức, đã không tiếc gì để giáo dục con cái về trí thức và đạo đức. Bà gửi hai con theo học ở Syria. Tại đây, Cosma và Damianô nổi tiếng là lương thiện, vô vị lợi và trong trắng. Nhiệt thành với đức tin, các ngài dự tính học nghề thuốc. Khoa này vào thời ấy bị coi rẻ. Nhưng các ngài tin rằng khi chữa lành thể xác con người các ngài có thể góp phần vào việc chữa trị tật bệnh linh hồn.

    Thiên Chúa đã chúc lành cho dự tính của các ngài và ban cho các ngài được thông thạo về nghề thuốc. Chữa bệnh hoàn toàn miễn phí, các Ngài càng ngày càng trở nên danh tiếng vì những cuộc chữa lành nhờ lời cầu nguyện. Những cuộc chữa lành lạ lùng này lôi cuốn được nhiều người, kể cả các lương dân đến với các ngài. Tuy nhiên, chính vì tiếng tăm lừng lẫy này đã đưa tới cái chết vì đạo của các ngài.

    Các hoàng đế Điôclêtianô và Maximianô quyết tận diệt Kitô giáo, đã sai tổng trấn Lysias đến Ege để ép buộc các Kitô hữu phải dâng hương tế thần. Ai không tuân lệnh sẽ bị sát hại. Các lương dân tố cáo với quan tổng trấn rằng có hai người rất thạo nghề thuốc nhưng lại là thù địch chí tử của các thần minh. Nếu họ tiếp tục hành nghề các đền thờ sẽ trống vắng và cả nước sẽ theo Kitô giáo hết. Nghe tin này quan tổng trấn truyền bắt giam hai ngài. Sau khi bắt các ngài phải dâng hương tế thần mà không được, ông ra lệnh hành hạ các ngài. Nhờ ơn Chúa, hai thánh Cosma và Damianô đã nhẫn nại chịu đựng, lại còn tỏ ra hân hoan nữa. Quan lính trói các ngài rồi bỏ xuống biển, nhưng các thiên thần đã đến tháo cởi xiềng xích và cứu các ngài bình an vô sự.

    Nghe tin này, quan tổng trấn truyền lập giàn thiêu. Nhưng giữa ngọn lửa cháy bừng, hai thánh nhân vẫn không hề hấn gì. Cuối cùng quan tổng trấn ra lệnh xử trảm. Hai Thánh Cosma và Damianô khẩn khoản nài xin Chúa thương nhận lễ dâng của các ngài. Lần này các ngài được nhận lời. Sau những nhát chém đầu tiên, đầu các ngài lìa xác và nhận phúc tử đạo.

    Danh tiếng của hai thánh Cosma và Damianô lan truyền khắp Giáo hội vì những cuộc chữa lành bệnh tật các ngài thực hiện. Hoàng đế Justinô I khuyến khích lòng sùng kính hai thánh nhân. Một nguyện đường được xây dựng ở Aege, miền Cilicia, để ghi nhớ nơi các ngài chịu chết vì đạo. Tại Roma, Đức Symmachô (498-514) xây nguyện đường. Đức Felix IV (526-530) xây một đại giáo đường kính các ngài.

    Cùng với Thánh Luca, hai Thánh Cosma và Damianô được đặt làm thánh bổn mạng các y sĩ và các nhà giải phẫu.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  14. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 27 tháng 9

    Thánh Vinh Sơn Phaolô, Linh mục (1581-1660)
    (Saint Vincent de Paul)

    Gia đình Phaolô là những nông dân tại Pouy, gần Dax. Vinhsơn sinh năm 1581 là con thứ ba trong gia đình 6 người con. Trong những ngày còn thơ ấu, ngài lo chăn cừu cho cha. Giữa miền đồi lộng gió này, Vinhsơn đã trải qua nhiều giờ trong ngày để chiêm ngắm cảnh đồng quê và hướng lòng lên cùng Chúa. Thời gian này cũng cho ngài những kinh nghiệm đầu tiên về số phận của người dân quê. Từ đó, lòng bác ái sớm nảy nở trong tâm hồn Vinhsơn. Có lần thu góp được 30 xu, số tiền đáng kể đối với ngài, nhưng ngài đã tặng tất cả cho những người cùng khốn. Lần khác trên đường tới nhà máy xay, ngài âm thầm lấy một số bột bố thí cho người nghèo.

    Thấy con mình có lòng bác ái lại thông minh, ông Gioan Phaolô quyết hy sinh cho Vinhsơn theo ơn gọi làm giáo sĩ. Vinhsơn theo học các cha dòng Phanxicô tại Dax. Nhưng để tiếp tục chương trình đại học của Vinhsơn, cha ngài đã phải bán bầy cừu lo cho tương lai của con. Dầu vậy, khi học thần học tại Toulouse, Vinhsơn cũng vừa lo học vừa lo dạy kèm tư gia kiếm tiền bớt gánh nặng cho gia đình.

    Sau khi thụ phong linh mục, trong 2 năm, Vincentê biến mất. Cho đến ngày nay người ta vẫn không biết rõ trong thời gian này Vinhsơn ra sao. Người ta kể lại rằng có một goá phụ tại Toulouse đã tặng cho ngài tất cả tài sản của bà. Trên đường từ Marseille tới Narbonne để nhận gia tài, ngài đã bị bọn cướp bắt bán cho một ngư phủ. Không quen nghề, ngài lại bị bán cho một người Hồi giáo làm thợ kim hoàn. Sau cùng, ngài lại bị rơi vào tay một người phản đạo tên là Gautier. Nhờ đời sống thánh thiện ngài đã cải hoá được ông. Chính ông đã đưa ngài trở lại đất Pháp. Năm sau, ông theo ngài đi Roma và vào hội bác ái để đền tội cho đến ngày qua đời.

    Từ đây, Cha Vinhsơn bắt đầu thi hành chức vụ linh mục của ngài. Ngài được chỉ định làm tuyên úy cho nữ hoàng Marguerrite de Valois. Lúc này, Cha Vinhsơn có dịp quen biết Cha Phêrô Berulle, đấng sáng lập dòng giảng thuyết và sau này làm Hồng y. Dưới ảnh hưởng của Cha Phêrô Bérulle, Cha Vinhsơn bắt đầu nhiệt tình sống đời hy sinh nhiệt tình. Theo lời khuyên của Ngài, Cha Vinhsơn nhận làm tuyên uý cho gia đình Gondi. Hướng dẫn một số một nông dân trong vùng này, Cha Vinhsơn đã khám phá ra tình trạng phá sản về tôn giáo và luân lý. Chính sự dốt nát và biếng nhác của nhiều giáo sĩ là duyên cớ gây nên tình trạng này. Ngài quyết tâm sửa đổi thực trạng.

    Cha Vinhsơn đã trở nên bạn của người nghèo và dùng mọi phương tiện khả năng có được để hoạt động nhàm tái tạo cuộc sống luân lý và tôn giáo của họ. Một thử nghiệm nhỏ như một linh mục quản sở tại Chatillon les Dober cho ngài thấy rõ vấn đề còn rộng lớn hơn nhiều. Dầu nỗ lực cải tiến họ đạo, ngài vẫn ưu tư cho công cuộc được bành trướng rộng rãi hơn. Trở lại Paris với sự trợ giúp của bà Gondi, ngài bắt đầu công cuộc nâng đỡ cảnh khốn cùng bất cứ ở nơi đâu, ngài tổ chức “hội bác ái” trên khắp đất Pháp cung cấp áo xống thuốc men cho người nghèo khổ hết sức rợ giúp những nô lệ bị bắt chèo thuyền từ Paris tới Marseille. Ngài thành lập một hội dòng Lazarits với mục đích truyền đạo cho dân quê và đào tạo giáo sĩ. Từ hội dòng bác ái ấy còn mọc lên hội nữ tử bác ái mà y phục của họ toàn thế giới biết đến như là biểu tượng của lòng bác ái nối liền với danh hiệu Vinhsơn.

    Một linh mục nhà quê đã trở nên quan trọng đối với toàn quốc từ căn phòng tại xứ thánh Lazane, ảnh hưởng của ngài lan rộng ra khắp nước Pháp, tới Ba Lan, Ý, Hebrider Madagascar và nhiều nơi khác nữa. Nữ hoàng Anne d'Austria nhiếp chính cho tới khi vua Luy lên cầm quyền đã hỏi ý ngài trong việc đặt giám mục chống lại Mazania, ngài đã không ảnh hưởng được tới đường lối của vị giám mục này, lại còn bị khổ vì ông khi nội chiến xảy ra.

    Ngài quyên góp để hàn gắn những tàn phá do cuộc chiến xảy ra tại Loraine. Ngài lo chuộc các nô lệ tại Bắc Phi. Các nỗ lực trên cùng với các nhu cầu và việc quản trị hội dòng ngày càng mở rộng đã giam ngài tại phòng riêng xứ thánh Lazane. Ngày lại ngày bận bịu viết thư cho các giám mục lẫn linh mục nghèo khổ, cho biến cố vị vọng lẫn nhu cầu nghèo khổ trong nước. Các thư tín của ngài hợp thành một tuyển tập làm say mê người đọc vì trong đó pha trộn những ưu tư cho nước Chúa lẫn đức bác ái ngập tình người.

    Các thư tín và các bài giảng thuyết của Vinhsơn cho thấy ngài là một trong những nhà phục hưng của Giáo hội Pháp thế kỷ XVI. Những cuộc tĩnh tâm ngài tổ chức tại St. Lazane cho các tiến chức và những cuộc tĩnh tâm hằng tháng ngài tổ chức cho các giáo sĩ tại Paris (có cả những khuôn mặt lớn tham dự như De Rotz, Bossuet...) cho thấy ảnh hưởng sâu rộng của ngài trong cuộc chấn hưng đạo đức .

    Năm 1660, Cha Vinhsơn ngã bệnh liệt giường và dù đau đớn vì bệnh tật, ngài vẫn vui tươi tin tưởng: Chúa còn phải chịu hơn tôi gấp bội.

    Đối diện với cái chết, ngài bình tĩnh: 18 năm qua, mỗi tối tôi vẫn dọn mình chết.

    Ngày 27-9-1660, Cha Vinhsơn từ trần và được phong thánh năm 1737.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~~~~~


     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 27 tháng Chín 2017
  15. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 29 tháng 9

    Kính Các Tổng Lãnh Thiên Thần Micael, Gabriel, và Raphael




    KINH CẦU CÙNG TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAEL:

    Lạy ơn Tổng Lãnh Thiên Thần Micael, xin giúp chúng con trong cơn giao chiến, đánh phá sự hiểm ác mưu sâu quỉ dữ. Chúng con sấp mình nguyện xin Chúa chế trị nó cùng xin nguyên soái cơ bình trên trời lấy quyền phép Chúa mà hạ Satan cùng các quỉ dữ đang rong ruổi khắp thế làm hại các linh hồn bắt chúng giam cầm trong hỏa ngục. Amen

    KINH TỔNG LÃNH THIÊN THẦN GABRIEL

    Lạy Thiên Chúa, Người là Đấng ngự giữa các Thiên Thần của Ngài, Chúa đã chọn Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel làm sứ thần mang tin cho sự cứu rỗi, xin thương xót chúng con để chúng con được kính nhớ Người luôn trên trần thế, và sau này cho chúng con cũng được hạnh phúc với Người trên Thiên Đàng vì Chúa là Đấng Hằng Sống, hằng trị muôn đời. Amen

    KINH TỔNG LÃNH THIÊN THẦN RAPHAEL

    Lạy Thiên Chúa, xin sai Tổng Lãnh Thiên Thần Raphael xuống phù giúp chúng con. Xin Người là đấng chầu trước nhan thánh Chúa, dâng những lời nguyện cầu của chúng con lên Chúa, nhân danh Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen

    KINH CẦU CÙNG CÁC THIÊN THẦN

    Lạy các Tổng Lãnh Thiên Thần và muôn vạn Thiên Thần: Dũng Thần, Quản Thần, Lãnh Thần, Binh Thần, Vệ Thần, Quyền Thần, cùng với triều thần Seraphim, Cherubim, xin chúc tụng Chúa đến muôn đời. Amen
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 28 tháng Chín 2017
  16. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 30 tháng 09
    Thánh Giêrônimô (Saint Jerome), Linh mục, Tiên Sĩ

     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn