Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lễ Các Thánh Trong Tháng Mười

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 30 tháng Chín 2014.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 01 tháng 10

    GIA ĐÌNH THÁNH

    LỄ THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU


    Năm 1925, nhân dịp phong Thánh cho Têrêsa, Đức Hồng Y Pacelli (sau này là Đức Giáo Hoàng Piô XII) đại diện Tòa Thánh sang Pháp làm phép đền thờ kính Thánh nữ tại Lisieur. Ngài đã nói: “Hỡi Thánh nhỏ, Người lớn lắm, ngay lúc này đây, từ đầu thế giới này sang đầu thế giới kia, con cái của Người nhiều như cát biển sao trời. Bốn vị Giáo hoàng đã quỳ cầu khẩn dưới chân Người, các nhà tiến sĩ luật học đã trở lại thiếu thời vì học với Người... Xin Người hãy mưa hoa hồng xuống nữa, xuống thế giới chúng tôi... Hỡi Thánh nhỏ, Người lớn lắm”. Đức Giáo Hoàng Piô X đã chỉ vào chân dung Têrêsa và nói: “Đây là vị Thánh lớn nhất thời hiện đại”.

    Chính lòng yêu mến Chúa và con đường nhỏ đã đưa Têrêsa lên thành một vị thánh lớn.


    1. Bậc Thầy của Giáo Hội.

    Sau 28 năm từ trần, Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã được Giáo Hội phong thánh năm 1925. Hai năm sau, Ngài được chọn làm bổn mạng các xứ truyền giáo cùng với thánh Phanxicô Xaviê. Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng Ngài lên hàng Tiến Sĩ Hội Thánh vào ngày 19 tháng 10 năm 1997. Như vậy, Giáo Hội tuyên phong thánh Têrêxa là bậc thầy trong đời sống đức tin và là bậc thầy trong nghệ thuật truyền giáo.

    Tại sao một Nữ Tu nhà kín suốt đời sống trong bốn bức tường tu viện mà lại được Giáo Hội tôn lên Bậc Thầy như thế? Suốt đời, Têrêsa không đi đâu cả, 15 tuổi đã vào dòng kín. Vị Nữ Tu trẻ tuổi qua đời lúc mới 24 tuổi, sau 9 năm vào dòng Cát Minh. Một Nữ Tu Dòng Kín chẳng đi đâu, chẳng nói với ai, thế mà Giáo Hội tôn phong là Tiến sĩ và Bổn mạng các xứ truyền giáo! Thánh Têrêsa trở thành Bậc Thầy của Giáo Hội chính là vì Ngài đã sống trọn vẹn tình yêu và đi bằng con đường thơ ấu thiêng liêng.


    2. Yêu mến Chúa

    Thánh Têrêsa hết lòng yêu mến Chúa. Ngài luôn tâm niệm: “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa; vâng, con yêu mến Chúa.”. Ngài yêu mến Chúa thiết tha, mãnh liệt và rất tự nhiên, thật đơn sơ. Ngài yêu Chúa như một trẻ thơ yêu cha mẹ, rất hồn nhiên trong sáng. Ngài tâm đắc những lời Chúa Giêsu nói về các trẻ em: “Cứ để mặc trẻ em, đừng ngăn cấm chúng đến với Thầy, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng.” (Mt 19,14); “Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời.” (Mt 18,3).

    Khi đọc thư thánh Phaolô, Têrêsa khám phá ra điều này: Giữa lòng Giáo Hội có một trái tim rực cháy tình yêu. Nếu không có tình yêu, các Tông đồ sẽ không ra đi loan báo Tin Mừng; nếu không có tình yêu, các vị Tử đạo đã chối từ đổ máu. Cho nên tình yêu là tất cả. “Tôi cảm thấy tình yêu thấm vào trái tim tôi. Tôi cảm thấy cần phải quên mình để làm đẹp lòng tha nhân. Và kể từ đó, tôi sống hạnh phúc”. Và Ngài còn nói thêm: Giữa lòng Hội Thánh tôi sẽ là tình yêu. Vì thế tôi sẽ là tất cả.

    Têrêxa đã sống và âm thầm loan truyền sứ điệp của mình là yêu và chấp nhận được yêu. Càng ngày càng trở nên nhỏ bé để được Thiên Chúa bồng bế trên tay Người. Đời sống tận hiến làm hy lễ tình yêu lân tuất của Thiên Chúa. Tận tụy làm vinh danh Giáo Hội bằng cách cứu vớt các linh hồn. Têrêsa đã sống một tình yêu mãnh liệt đối với Thiên Chúa, đối với tất cả mọi người. Têrêsa cầu nguyện: "Lạy Chúa Giêsu, con mong ước được yêu mến Chúa như chưa từng bao giờ Chúa được yêu mến như thế. Con ước mong làm cho mọi người cũng yêu mến Chúa như thế ". Biết mình nhỏ bé, Ngài luyện tập những nhân đức bé nhỏ. Thích âm thầm chuyên lo làm vui lòng Chúa bằng những hy sinh nhỏ mọn mà chỉ một mình Chúa biết. Ngài không bỏ qua một dịp hy sinh nào có được và cố gắng làm cho đời mình thành một cuộc tử đạo vì tình yêu Chúa. Chẳng hạn: uống thuốc đắng từng giọt để "kéo dài một việc hãm mình nhỏ mọn"; trong công việc chung, chọn những phần khó nhọc hơn, hay khi trời nóng, “chọn nơi ngồi bất tiện hơn cho mình để dành chỗ mát mẻ cho chị em”; chấp nhận cho kẻ khác đến quấy rầy mình; tránh tìm kiếm tiện nghi... Có tình yêu thì việc nhỏ sẽ trở thành việc có giá trị lớn. Thánh Nữ gọi làm những việc như thế là "tung hoa" cho Chúa: "Vâng lạy Đấng lòng con yêu mến, cuộc đời con sẽ tiêu hao như vậy đó ... Con không có phương pháp nào khác để minh chứng với Chúa tình yêu của con ngoài việc tung hoa, nghĩa là không để mất một hy sinh nhỏ nào, một cái nhìn nào, một lời nói nào; con sẽ lợi dụng tất cả mọi việc nhỏ nhặt nhất và làm chúng với cả một tâm tình yêu mến... Con muốn chịu đau khổ vì yêu mến, như vậy con sẽ tung hoa trước ngai Chúa; hễ gặp bất cứ bông hoa nào là con cũng rứt cánh dâng cho Chúa ... rồi tay thì tung hoa, miệng thì ca hát (làm sao có thể khóc được khi làm một việc vui như thế), và con sẽ hát ngay cả khi phải hái những bông hoa giữa gai góc, mà gai góc càng dài càng đâm đau bao nhiêu, tiếng hát của con càng du dương bấy nhiêu.... Ôi Giêsu của con, con mến Chúa, con yêu Giáo Hội Mẹ con; con nhớ rằng "hành động nhỏ bé nhất mà do tình yêu tinh tuyền sẽ có ích hơn là tất cả những công trình khác hợp lại với nhau' (Thủ bản Tự Thuật). Chính tình yêu Chúa đã chắp cánh cho Têrêsa đi khắp nơi và nói chuyện với mọi người. “Tôi muốn sống cả thời gian trên thiên đàng để làm ích cho dưới thế”; “Tôi sẽ làm mưa xuống những trận hoa hồng”; “Sứ mệnh của tôi là mến yêu”. Tình yêu không đi bằng bước chân nhưng đi bằng trái tim. Tình yêu không nói bằng lời nhưng bằng cầu nguyện. Thiên Chúa đã ban cho Têrêsa một huyền nhiệm về tình yêu. Têrêsa đã đến với mọi người, đến với mọi trái tim bằng tình yêu.

    3. Con đường thơ ấu thiêng liêng

    Têrêsa yêu mến Chúa với một tâm hồn trẻ thơ. Suốt cuộc đời, Ngài đã sống như một trẻ thơ và giữ một tâm hồn thơ trẻ đối với Chúa. Chính điều đó đã làm cho Ngài nên cao trọng.

    Chẳng bao lâu, sau khi Têrêsa qua đời, tiếng tăm của Ngài đã vang lừng khắp Giáo Hội, làm dấy lên một phong trào rầm rộ những người đi theo "con đường thơ ấu thiêng liêng" của Ngài. Đó là một trong những "trường tu đức" (linh đạo) quan trọng nhất của Giáo Hội thời hiện đại. Theo thánh Nữ, làm thánh không phải là những chuyện phi thường mà đơn giản chỉ là chấp nhận để Thiên Chúa yêu thương mình. "Con đường thơ ấu thiêng liêng" là một sứ điệp phù hợp với thời đại, nhất là với giới trẻ. Thánh Têrêsa đã khám phá lại chân lý trọng tâm của Phúc Âm, đó là: trong Đức Giêsu Kitô, chúng ta được làm con cái Thiên Chúa, và chúng ta phải yêu mến Cha chúng ta trên trời như những đứa con thảo đầy tin tưởng và phó thác. Thánh Têrêsa bám chắc vào giáo lý này với tất cả sức lực của Ngài và cố gắng thực hành nó gần như sát mặt chữ. Sống thật sự như trẻ thơ là cách chắc chắn nhất, đơn giản nhất để làm đẹp lòng Chúa Cha. Ngài vui mừng vì mình bé nhỏ bởi vì Chúa Giêsu đã dạy chỉ các trẻ em và những ai giống như chúng mới được vào Nước Trời. Đứa bé càng nhỏ, càng yếu đuối thì lại càng phải và có thể cậy dựa vào lòng thương xót, sự giúp đỡ và chăm sóc tận tình của cha mẹ và những người khác chung quanh. Áp dụng "phương pháp lên trời" hay sử dụng "chiếc thang máy", thánh Têrêsa không cần phải tìm kiếm những việc cao siêu, to tát, nổi bật, chỉ cần rèn luyện cho mình thái độ làm con, và làm con bé nhỏ của Cha trên trời, ấy là hết lòng yêu mến, tin tưởng, phó thác. Mọi sự đều để mặc Cha lo, dù đầy khuyết điểm hay tội lỗi cũng không sợ! Càng tiến sâu vào con đường này, Ngài càng được tình yêu Chúa chiếm đoạt trọn vẹn hơn. Thánh nhân đưa tình yêu đó thấm nhuần mọi việc làm, mọi khó khăn thử thách gặp phải, mọi sự khó chịu của cuộc sống chung. Biến tất cả thành những lễ vật dâng lên Chúa. Thánh Têrêsa đã đưa lý tưởng nên thánh đến gần và vừa tầm với mọi người.

    Trẻ thơ hoàn toàn tín thác vào cha mẹ. Trẻ thơ không biết phân biệt thân thù. Người lớn không thể trở nên như trẻ thơ về phương diện thân xác, nhưng có thể trở nên như trẻ thơ về phương diện tinh thần. Đó là điều kiện cần và đủ để được vào Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn Trên” (Ga 3,3). “Sinh ra một lần nữa bởi ơn Trên” có nghĩa là con người cần phải “lột xác” để trở nên như một trẻ thơ, một người bé mọn. Chúa Giêsu đã từng nói, chỉ có người bé mọn mới nhận được ơn mạc khải chân lý của Thiên Chúa: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn” (Mt 11,25). Khi các môn đệ hỏi: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”, Chúa Giêsu đã trả lời: “Thầy bảo thật anh em: Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất trong Nước Trời” (Mc 18,3-4). Trẻ nhỏ không có những tham vọng danh lợi, quyền bính, dục tình, không có những mưu mô thủ đoạn…Vì thế, trẻ nhỏ không có tội lỗi. Trẻ nhỏ không có tính kiêu ngạo. Trẻ nhỏ đơn sơn thánh thiện. “Người ta càng gần Chúa, càng hóa đơn sơ”.

    4. Gia đình Thánh

    Lúc sinh thời, Thánh Têrêsa đã vẽ một họa tiết gồm hai bông hồng và năm cánh huệ, ghép vào Thánh Giá Chúa Kitô trên chiếc áo choàng biếu mẹ là Chân Phước Zélie. Hai bông hồng tượng trưng cho song thân là Ông Louis Martin và Bà Zélie Guérin. Năm bông huệ trắng là năm con gái của Chân Phước : bốn người là nữ tu Dòng Kín Carmel (Lisieux) và một Dòng Đức Bà Thăm Viếng (Le Mans). Một gia đình thánh thiện tuyệt vời.

    Mọi người Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh. Đó là một ơn gọi rất cao cả như lời Chúa Giêsu: "Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Ðấng hoàn thiện" (Mt 5,48). Công Ðồng Vatican II cũng lập lại ý tưởng đó: "Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tùy theo con đường của mỗi người" (GH 11.3). Trong các thư của Thánh Phaolô, ngài gọi các tín hữu là những vị thánh. Qua Bí Tích Rửa Tội, mọi tín hữu được tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Thánh Gioan Phaolô II nói rằng: thành công đẹp nhất của một cuộc đời là sự thánh thiện. Tin Chúa, yêu Chúa và sống theo lời Chúa dạy qua Tám Mối Phúc Thật, mọi tín hữu sẽ nên thánh.

    Thư Mục Vụ Năm Đức Tin HĐGMVN hướng dẫn các gia đình: “Trong suốt lịch sử mấy trăm năm của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, gia đình vẫn là cái nôi thông truyền đức tin cho con cái, là trường dạy giáo lý đầu tiên cho thế hệ trẻ, là nơi đào tạo những Kitô hữu vững mạnh trong đức tin và gương mẫu trong đời sống đạo đức. Ngày nay, dù phải đối diện với nhiều lo toan trong cuộc sống, xin anh chị em cố gắng duy trì và phát huy truyền thống tốt đẹp này của gia đình công giáo. Hãy xây dựng gia đình mình thành ngôi nhà thờ phượng Chúa, trường dạy đức tin, và mái ấm tình thương. Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm hoá mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng ta.” (số 9).

    Gia đình thật quan trọng. Chính gia đình quyết định tương lai của trẻ thơ. Gia đình là vườn ươm. Hạt giống tuổi thơ lớn mạnh được là nhờ vườm ươm có đầy đủ nước, phân bón và sự ân cần chăm sóc.Gia đình là bầu khí quyển. Bầu khí có trong lành thì trẻ thơ mới phát triển được mọi mặt. Gia đình là con đường. Đường có ngay thẳng có định hướng thì tương lai trẻ mới tươi sáng không đi vào ngõ cụt cuộc đời.Từ mái ấm gia đình, cha mẹ con cái siêng năng tham dự Thánh Lễ, chuyên chăm Kinh Nguyện tại gia, biết dùng Lời Chúa làm ánh sáng soi đường chỉ lối, luôn sống hoà thuận yêu thương nhau, thì “Đây là phương thế cụ thể và hữu hiệu nhất để anh chị em góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm hoá mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội và từng người chúng ta”. Gia đình là nơi trẻ em và thanh thiếu niên hấp thụ nền giáo lý chân chính từ cha mẹ. Công đồng Vaticanô II mong muốn các bậc cha mẹ là những người đầu tiên ”dùng gương lành và lời nói,truyền dạy đức tin cho con cái” (Hiến chế tín lý về Giáo hội số 11). Gia đình chu toàn được sứ mệnh cao cả này nhờ yêu thương, cùng nhau học hỏi và cầu nguyện để hạt giống đức tin được triển nở (Sắc lệnh tông đồ giáo dân số 11). Cha mẹ chăm lo giáo dục nhân bản và giáo dục tâm linh cho con cái. Với con cái, cha mẹ là những sứ giả đầu tiên của Chúa (GLTC # 2225). Hạt giống đức tin nơi trẻ em được gieo và chăm sóc trong môi trường gia đình sẽ phát triển thành cây đức tin. Gia đình là vườn ươm, là thửa đất tốt. Dạy giáo lý như cung cấp chất dinh dưỡng. Tuỳ theo mức độ hấp thụ, tuỳ theo thời điểm, cây đức tin nơi đứa trẻ sẽ phát triển và đơm bông kết trái. Dạy giáo lý tại gia đình, cha mẹ góp phần với Hội Thánh trong sứ vụ đào tạo đức tin cho con cái.

    Con đường nên thánh của Têrêsa khởi đi từ Phúc Âm. Con đường tu đức theo hạnh “trẻ thơ” phù hợp vời hết mọi gia đình Công giáo. Nhiều người đã đi và đã nên hoàn thiện đời mình. Nhiều gia đình đã sống và làm cho mọi thành viên trở nên thánh thiện tốt lành.


    Lm Giuse Nguyễn Hữu An
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 13 tháng Mười 2017
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 2 Tháng Mười

    LỄ CÁC THIÊN THẦN BẢN MỆNH

    Lòng sùng kính các thiên thần bản mệnh đã có từ thời Giáo Hội sơ khai. Đức Clement X đã thiết lập lễ kính các thiên thần bản mệnh trong toàn thể Giáo Hội vào thế kỷ XVII. Các ngài phục vụ như những sứ giả của Thiên Chúa. Chúa Toàn Năng đã ban cho mỗi người chúng ta một thiên thần bản mệnh để bảo vệ và mưu ích cho công việc tông đồ của`chúng ta.

    1. Sự hiện hữu của các thiên thần bản mệnh.

    Hỡi tất cả các thiên thần của Chúa, hãy chúc tụng Người đi. Hãy tán dương và chúc tụng vinh quang Người cho đến muôn đời. 1

    Sách Thánh thường nói đến các thiên thần như những thừa tác viên của Thiên Chúa. Các ngài là những thụ tạo rất hoàn hảo. Các thiên thần có khả năng hiểu thấu thực tại vượt quá năng lực của trí năng con người. Và như những hữu thể vinh quang, các ngài được chiêm ngưỡng Thiên Chúa diện đối diện.

    Vào những thời điểm quan trọng trong lịch sử nhân loại, các thiên thần như những sứ giả của Thiên Chúa đã phục vụ để chỉ dẫn đường lối hoặc truyền đạt thánh ý Thiên Chúa cho chúng ta. Các ngài là những sứ giả của Thiên Chúa để soi sáng, thúc giục, can thiệp, trừng phạt, và gìn giữ chúng ta khỏi các hiểm nguy. Đôi khi các ngài còn hiện ra. Thiên thần có nghĩa là sứ giả, làm nhiệm vụ trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại. 2 Dân riêng của Chúa lúc nào cũng suy tôn và kính trọng các ngài. Thánh Kinh đã nói về các thiên thần, nào tất cả các vị đó không phải là những bậc thiêng liêng chuyên lo phụng thờ Thiên Chúa, được sai đi phục vụ để mưu ích cho những kẻ sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ sao? 3

    Tổ phụ Giacóp đã nhắc đến niềm tin vào sứ mạng các thiên thần bảo vệ cho từng người khi chúc lành cho con cái của ông Giuse: Chớ chi thiên thần đã cứu thoát ta khỏi mọi sự dữ chúc lành cho chúng. 4 Bài đọc Một nhắc lại những lời Chúa phán với Moses. Hôm nay, chúng ta có thể tưởng tượng đó là những lời nói với từng người chúng ta: Này, Ta sai một sứ thần đi trước ngươi, để dọn đường cho ngươi và đem ngươi đến miền đất mà Ta đã dọn sẵn cho ngươi. 5 Khi thức giấc và thấy mình bị các lực lượng Syria bao vây, ngôn sứ Elia đã nói với người đầy tớ đang hốt hoảng: Đừng sợ, vì các đấng ở với ta còn đông hơn những kẻ ở với chúng. Sau đó, vị ngôn sứ đã cầu nguyện, Lạy Chúa, tôi cầu khẩn Người hãy mở mắt hắn để hắn nhìn thấy. Vậy Chúa đã mở mắt người thanh thiên và anh ta đã nhìn thấy; ngọn núi đầy những ngựa và chiến xa bằng lửa chung quanh ngôn sứ Elia. 6

    Sự hiện hiện của các thiên thần bản mệnh đem lại cho chúng ta niềm an bình! Các ngài ủi an và soi sáng, các ngài chiến đấu giúp chúng ta chống lại các thế lực vô hình. Khi cuộc chiến đến hồi quyết liệt nhất, thì trước mặt phe địch, từ trời hiện ra năm người uy nghi lẫm lẫm cỡi ngựa hàm thiết vàng, chỉ huy người Do Thái. Các vị kéo Macabê vào giữa mà lấy binh giáp của mình che phủ cho ông, giữ ông vô thương tích, còn trên phe địch, các vị ria tên tua tủa và sấm sét nên địch đã bị thong manh ù té chạy loạn hàng thất thứ. 7 Hằng ngày, các thiên thần can thiệp cho chúng ta bằng nhiều cách. Sự canh phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta được thể hiện qua việc Người an bài cho chúng ta có những người bạn đồng hành bảo vệ. Ước chi chúng ta tìm được sự trợ giúp của các ngài trong cuộc chiến thường ngày để luôn sống xứng là con cái Thiên Chúa, và ước chi chúng ta luôn nhớ kêu xin các ngài khơi lên ngọn lửa mến Chúa trong tâm hồn chúng ta.

    2. Các thiên thần bản mệnh liên lỉ phụng sự Thiên Chúa.

    Ôi lạy Chúa, trước mặt các thiên thần, con đàn ca mừng Chúa. 8

    Trong đời sống và giáo huấn của Chúa Kitô, nhiều lần có nhắc đến sự hiện diện của các thiên thần. Tổng thần Gabriel đã truyền tin cho Đức Maria sẽ làm Mẹ Thiên Chúa. Một thiên thần đã hiện đến và trấn an thánh Giuse trong cơn hoang mang, và báo tin cho các mục đồng ở Bêlem. Các tôi trung vô hình ấy của Thiên Chúa đã hiện diện khi Thánh Gia trốn sang Ai Cập, khi Chúa chịu cám dỗ trong sa mạc, khi Chúa chịu hấp hối trong vườn Cây Dầu, khi Phục Sinh, và lên trời. Các ngài cũng thường xuyên săn sóc cho Giáo Hội và từng tín hữu như lời sách Tông Đồ Công Vụ 9 và Thánh Truyền từ ngàn xưa minh chứng. Quả thật, quả thật, Ta nói với ngươi, ngươi sẽ nhìn thấy trời mở ra và các thiên thần Chúa lên xuống trên Con Người. 10

    Nhiều vị thánh và những người thánh thiện đã cảm nghiệm được sự đồng hành thân thiết của các thiên thần bản mệnh, và họ thường xuyên xin các ngài cầu bầu. 11 Thánh Josemaría Escrivá có lòng tôn kính thiên thần bản mệnh một cách đặc biệt. Chính vào ngày lễ kính các thiên thần bản mệnh, Chúa đã cho ngài nhìn thấy việc thành lập tổ chức Opus Dei. Qua tổ chức này, lời mời gọi nên thánh vang vọng khắp thế giới. Những con người thuộc mọi hoàn cảnh cuộc sống được tìm thấy Chúa giữa đời sống và những công việc thường ngày của họ. Thánh nhân sống thân mật và thường chào kính thiên thần bản mệnh của những người nói chuyện với ngài. 12 Thánh nhân gọi thiên thần bản mệnh của mình là ‘đấng cộng tác vĩ đại’ trong công cuộc tông đồ, và xin giúp đỡ cả những ơn vật chất. Trong một thời gian, thánh nhân đã gọi thiên thần bản mệnh là ‘đấng giữ giờ,’ bởi vì thánh nhân đã nhờ vị đồng hành ấy làm cho chiếc đồng hồ chạy trở lại, khi ngài chưa có tiền để sửa chữa. 13 Thánh nhân dành các ngày thứ Ba để sống thân mật với thiên thần bản mệnh của mình. 14

    Trong thời kỳ phong trào bài giáo sĩ nổi lên tại thủ đô Madrid, nước Tây Ban Nha, một lần kia có tên côn đồ đứng chặn đường định làm hại thánh nhân. Bỗng nhiên một người xen vào và xua đuổi tên côn đồ đi. Tất cả sự việc chỉ xảy ra trong chốc lát. Sau sự việc ấy, vị bảo trợ đã hiện đến và thì thầm vào tai thánh nhân: ‘Lừa ghẻ, lừa ghẻ.’ Đây chính là biệt hiệu mà thánh Josemaría tự nhận cho mình. Chỉ có cha giải tội của thánh nhân mới biết biệt hiệu này mà thôi. Bình an và hoan lạc chan chứa tâm hồn thánh Josemaría khi ngài nhận ra sự can thiệp của thiên thần bản mệnh. 15 Bạn dường như kinh ngạc vì thiên thần bản mệnh của bạn đã thực hiện quá nhiều ân huệ hiển nhiên cho bạn. Nhưng bạn đừng ngạc nhiên nữa: bởi vì đó là lý do Thiên Chúa đã đặt ngài đồng hành bên bạn. 16 Hôm nay là ngày lễ để chúng ta xác quyết lại lòng tôn kính đối với thiên thần bản mệnh, vì chúng ta rất cần đến sự trợ giúp của ngài. Nhờ những lời của phụng vụ trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu nguyện: Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, trong sự quan phòng đầy yêu thương, Chúa đã sai các thiên thần của Chúa canh phòng cho chúng con. Xin Chúa lắng nghe những lời cầu nguyện của chúng con và luôn luôn bảo vệ chúng con bằng sự chở che của các ngài. Xin cho chúng con được cùng với các ngài thông phần cuộc sống của Chúa đến muôn đời. 17

    3. Thiên thần bản mệnh là bạn thân tốt lành của chúng ta.

    Trong bài đọc của Phụng Vụ Giờ Kinh hôm nay, thánh Bernard đã chú giải những lời Thánh Kinh: Người đã truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường. Thánh nhân nói: Những lời này khơi dậy nơi bạn lòng cung kính, đem lại cho bạn lòng sùng mộ, và truyền đạt cho bạn niềm tin tưởng lớn lao biết chừng nào! Cung kính vì sự hiện diện của các ngài, sốt sắng vì lòng nhân từ của các ngài, tin tưởng vì được các ngài bao bọc chở che. Vậy các ngài hiện diện, hiện diện bên bạn, không chỉ hiện diện với bạn, mà còn hiện diện vì bạn. Các ngài hiện diện để chở che, hiện diện để giúp đỡ. Dù chính Thiên Chúa đã sai các ngài, nhưng chúng ta không được vô ơn đối với các ngài, vì các ngài đã vâng phục Thiên Chúa, vì lòng yêu mến lớn lao, và hằng trợ giúp chúng ta trong cơn quẫn bách. 18

    Các ngài sẽ nâng ngươi trên bàn tay, kẻo chân ngươi vấp phải đá. 19 Các thiên thần săn sóc chúng ta như thể chúng ta là kho tàng quí giá mà Thiên Chúa giao phó cho các ngài. Giống như người anh coi sóc đứa em nhỏ, các thiên thần cũng chăm sóc chúng ta sống an vui cho đến ngày được vào hưởng hạnh phúc muôn đời trong nhà Cha trên trời. Chỉ khi ấy, chúng ta mới biết được bạn đồng hành vô hình đã phù giúp chúng ta bao nhiêu ân huệ trong sứ mạng của ngài.

    Chúng ta hãy sống với thiên thần bản mệnh một cách thân mật, đồng thời phải nhìn nhận bản tính và ân sủng siêu vượt của ngài. Mặc dù sự hiện diện của ngài không hiển hiện, nhưng hữu hiệu và lợi ích hơn bè bạn nhân loại của chúng ta rất nhiều. Những lời khuyên nhủ và đề nghị của các ngài xuất phát từ Thiên Chúa, sâu xa hơn tiếng nói của nhân loại. Các ngài hiểu rõ và cảm thông với chúng ta hơn những người bạn trung thành nhất, bởi vì lúc nào các ngài cũng bên cạnh chúng ta; các ngài hiểu những khát vọng, những lời nài nỉ của chúng ta hơn bất cứ người nào khác, bởi vì các thiên thần có thể đi trực tiếp vào trí tưởng tượng của chúng ta mà không cần nhờ đến ngôn từ. Các ngài có thể kích gợi các hình ảnh, kích động ký ức, và tạo ra các ấn tượng để hướng dẫn chúng ta. Nhiều lần các thiên thần bản mệnh đã trợ giúp chúng ta như đã giúp đỡ ngôn sứ Elia khi ông mỏi mệt vì bị hoàng hậu Jezabel săn đuổi đến độ muốn chết. Như thiên thần của ngôn sứ Elia, thiên thần bản mệnh của chúng ta cũng gần kề và giúp cho chúng ta hiểu: Hãy chỗi dậy mà dùng bữa, vì đường vẫn còn dài. 20

    Nếu tập được thói quen sống với bạn đồng hành thân mật, trung thành, và quảng đại, chúng ta sẽ không bao giờ lẻ loi. 21 Thiên thần bản mệnh sẽ liên kết lời cầu nguyện của ngài với lời cầu nguyện của chúng ta để dâng lên trước tòa Thiên Chúa. 22 Tuy nhiên, chúng ta cần phải nói lên ít nhất là trong trí khôn, bởi vì các hữu thể thần thiêng này không thể đi vào trí năng của chúng ta như Thiên Chúa Toàn Năng. Thiên thần bản mệnh có thể suy đoán tình trạng tâm hồn chúng ta còn hơn chúng ta biết bản thân. Chúng ta không có quyền nói các thiên thần phải vâng nghe chúng ta – nhưng chúng ta có thể tin tuyệt đối rằng các thiên thâàn lúc nào cũng lắng nghe chúng ta. 23 Một lời như thế là quá đủ.

    Thiên thần bản mệnh sẽ đồng hành bên chúng ta trọn đời. Nếu trung thành với ơn Chúa, chúng ta sẽ được hợp đoàn cùng các thánh và các thiên thần để chiêm ngưỡng Mẹ chúng ta, Đấng là Nữ Vương các thiên thần, Đấng mà mọi người đều chúc tụng ca khen đến muôn đời.

    (dongcong.net)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 1 tháng Mười 2017
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 02 tháng 10
    THÁNH THIÊN THẦN BẢN MỆNH
    *
    Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt


    ... Ngược dòng thời gian về tháng 7 năm 1944. Hồi ấy Đức quốc đang ở trong tình trạng xôn xao hỗn loạn của thời kỳ gần chấm dứt thế chiến thứ hai (1939-1945). Quân Đồng Minh đổ bộ lên Normandie (Bắc Pháp) tìm cách đánh phá, đẩy lui cùng tiêu diệt trọn quân đức quốc xã. Quân Đức bệ rạt và thất trận nặng nề trên nhiều chiến trường thế giới.

    Nơi làng nhỏ ở Bavière (Nam Đức) dân chúng tương đối tạm yên. Trong làng chỉ có vài nông trại với ngôi thánh đường nho nhỏ. Người dân vừa làm việc đồng áng, chăn nuôi, nội trợ vừa thỉnh thoảng ngước mắt nhìn trời. Họ cẩn thận dò xét có biến động có chiến cơ và trực thăng nào bất ngờ xuất hiện không, hầu nhanh chân rút ngay vào nơi trú ẩn. Từ 4 năm qua dân làng luôn sống cảnh phập phồng lo sợ như thế.

    Vào một buổi chiều đẹp trời, Helga xách bình sữa nhanh nhẹn vào rừng hái trái dại. Helga là thiếu nữ đồng quê duyên dáng ở lứa tuổi 15. 15 tuổi nhưng Helga đã có vóc dáng cao lớn đẫy đà như bao thiếu nữ Đức cùng tuổi. Helga biết rõ khu rừng, thuộc lòng nơi nào có những đám phúc-bồn-tử và dâu dại mơn mởn, thơm phức!

    Cô tiến thẳng đến chỗ quen thuộc. Khi đến nơi Helga ngỡ ngàng khám phá ra “ai đó” đánh hơi trước nên đã hái trọn đám dâu dại ngon lành! Tuy nhiên, cô thiếu nữ tràn đầy niềm vui và nhựa sống không thất vọng! Cô biết rõ còn có nhiều đám dâu dại khác cũng thơm ngon. Chỉ hơi ái ngại là những đám dâu ấy lại ở mãi trong rừng sâu. Không do dự lâu Helga nhanh nhẹn đi thẳng vào rừng .. Đang nhẹ nhàng tiến bước bỗng Helga nghe có tiếng động đâu đó không xa. Cô gái giật mình dừng lại nghe ngóng. Tiếng động đến gần và một người đàn ông xuất hiện.Nhìn nét mặt Helga hiểu ngay ông ta sẵn sàng làm bất cứ điều ác nào.

    Thân mình ốm teo, trong bộ quần áo cũn cỡn, người đàn ông chòng chọc nhìn cô thiếu nữ. Sau một lúc, ông cất tiếng nói trong thứ ngôn ngữ rừng rú đầy căm thù và oán hận: “Mày phải trả giá thay cho mọi người về tất cả những gì tao phải đau khổ trong bao lâu nay!” Đứng im hãi hùng nghe ông ta nói, Helga biết rõ mình sẽ không sống sót khi ra khỏi khu rừng này. Cô cũng biết chắc mình sẽ chết như thế nào, sau khi gánh chịu đủ thứ cực hình ghê tởm nhất.

    Ý tưởng duy nhất đến với cô thiếu nữ trong lúc này là lời cầu xin tha thiết dâng lên Thánh Thiên Thần Bản Mệnh. Helga thầm thĩ kêu van:
    “Ôi Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của con, xin hãy đến, hãy đến cứu giúp con!”

    Đối diện với người đàn ông, Helga hoàn toàn kinh hãi, đứng im như trời tròng. Vừa đăm đăm nhìn cô thiếu nữ ông vừa rút dao găm từ từ tiến đến gần. Có một lúc Helga như trông thấy ông ta tỏ dấu chần chờ. Nhưng rồi ông lại tiếp tục cho đến khi đứng trước mặt cô gái. Ông ta dí con dao vào ngực Helga. Cô gái không nhúc nhích chờ đợi giây phút bị đăm vào ngực.

    Bỗng Helga vô cùng ngạc nhiên khi thấy ông ta hạ giọng hỏi dồn:
    - Những người này là ai? Hãy trả lời, họ là ai?
    Helga chỉ ấp úng nói:
    - Tôi không biết! Quả thật, tôi không biết!
    Người đàn ông quay lưng, sau khi giơ nắm tay, tỏ dấu đe dọa. Rồi ông biến mất vào rừng sâu.

    Hoàn hồn Helga vội vã ra khỏi rừng không còn nghĩ đến chuyện hái dâu dại nữa. Về đến nhà, Helga vui mừng ôm chầm lấy mẹ nức nở khóc. Cô thiếu nữ biết rõ ràng chính Thánh Thiên Thần Bản Mệnh đã cứu cô. Tuy nhiên, Thiên Thần Bản Mệnh không đơn độc mà mang theo nhiều Thánh Thiên Thần khác nữa, bằng chứng người đàn ông lúng túng hỏi: “Những người này là ai? Hãy trả lời, họ là ai?”

    Giờ đây bà Helga là mẹ và là bà ngoại, bà nội rồi. Nhưng không một ngày nào qua đi mà bà không nhớ đến và cảm tạ sự trợ giúp của các Thánh Thiên Thần, đã cứu bà thoát hiểm nguy. Toàn gia đình bà cũng đặc biệt tỏ lòng sùng kính các Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.


    Chứng từ thứ hai của bà Marie-Juliette Gilardi người Pháp.

    Câu chuyện xảy ra vào năm 1968. Hồi ấy gia đình tôi sống tại thành phố Nice(Nam Pháp). Tôi thường lui tới nhà thờ giáo xứ Đức Mẹ Lên Trời và sẵn sàng phụ giúp công việc lặt vặt. Một ngày, vào Thánh Lễ lúc 6 giờ 30 phút chiều, cha xứ bỗng quyết định tổ chức buổi rước nến trong nhà thờ, trước khi dâng Thánh Lễ. Tôi không nhớ rõ vì lý do gì. Vì không thông báo trước nên tôi được lệnh bán nến cho các tín hữu. Vị linh mục tiến lên bàn thờ và xin mỗi người mua nến để đi kiệu. Mọi người vội vàng chen lấn đến trước bàn bán nến. Ai cũng muốn mua trước và mua nhanh. Tôi chỉ có một mình. Thấy tình cảnh cấp bách tôi liền khẩn cầu Trời Cao kêu xin các Thánh Thiên Thần đến giúp.

    Bỗng chốc, một thanh niên trạc 18-20 tuổi đến đứng ngay bên cạnh tôi. Anh từ đâu đến tôi không biết. Anh vận y phục thật tề chỉnh. Quần xám, áo xanh dương, tóc cắt ngắn, trong khi mốt thời trang năm đó là tóc để dài và quần “jean” xé rách tơi tả! Chàng thanh niên không mở miệng nói lời nào. Chàng chỉ giơ tay ra hiệu xin mọi người bình tĩnh, chờ đợi đến phiên mình. Tức khắc mỗi người tự động xếp hàng nối đuôi nhau. Chàng thanh niên trao nến còn tôi thu tiền. Cuộc bán nến diễn ra trong trật tự nhanh chóng. Xong xuôi, tôi định quay sang cám ơn nhưng chàng biến mất. Điều đáng nói là nơi tôi đang đứng không có lối ra. Vậy chàng không thể đi ra mà tôi lại không trông thấy. Sau đó tôi hỏi thăm thì không một ai biết chàng: từ cha sở đến ông từ giúp việc phòng thánh cũng như những người khác, chưa ai một lần gặp chàng! Đối với tôi thì đó là một Thiên Thần, được gởi tới để giúp đỡ tôi.


    Câu chuyện thứ ba xảy ra tại Đức vào năm 1943 thời thế chiến thứ hai.

    Nơi một trại lao động khổ sai của quân đức quốc xã, các tù nhân trẻ người Pháp thiếu ăn, đói khát cùng cực. Sau một ngày lao động vất vả, mỗi người chỉ nhận được một phần ăn còm, chả thấm vào đâu! Trong khi đó, các nữ tù nhân Ucraine lại nhận được phần ăn dồi dào. Vài phụ nữ Ucraine bằng lòng chia sẻ phần ăn của mình, với điều kiện là các tù nhân Pháp chấp thuận “làm tình” với họ. Vì quá đói, nhiều tù nhân trẻ người Pháp sa chước cám dỗ ..

    Nhận rõ hoàn cảnh đáng thương, tù nhân Công Giáo tên Jean Bartoszewski tìm cách liên lạc với nhân viên cai tù người Đức. Ông là tín hữu tin lành. Anh Jean khẩn khoản xin ông ta bí mật tìm cho mình ít bánh mì với thịt để chia cho các bạn đồng tù, hầu tránh cho các bạn khỏi rơi vào cảnh phạm tội lỗi điều răn thứ 6 vì quá đói. Ông chủ có lòng tốt nên nhận lời.

    Một buổi tối, sau khi lén lút lãnh phần ăn do ông chủ trao, anh Jean dấu kín trong bị và mang về trại. Chẳng may trên đường anh gặp bọn lính Đức đi tuần. Vô cùng hoảng sợ, anh Jean chỉ biết khẩn cầu Trời Cao cứu giúp. Lạ lùng thay, khi quân lính ra lệnh cho anh mở bị, thì họ chỉ trông thấy toàn là: Thánh Giá, ảnh tượng và tràng hạt! Bọn lính mĩm cười và để anh Jean đi tiếp bằng an.

    Vài ngày sau, anh Jean lại gặp bọn lính Đức đi tuần. Anh thất kinh hồn vía và cũng khẩn khoản Trời Cao trợ giúp. Khi bọn lính đến gần, anh nghe rõ tiếng họ ngạc nhiên nói với nhau: ”Ủa, tên tù nhân chúng ta vừa thấy, biến đâu mất rồi?” Và họ đi chung quanh anh mà không trông thấy anh. Thiên Thần Chúa đã giang cánh ngài che phủ anh. Sau một phút chưng hửng, họ tiếp tục đi tuần và anh Jean trở về trại bằng an vô sự. Từ đó, anh Jean Bartoszewski không ngừng cảm tạ lòng nhân từ Thiên Chúa đã sai Thiên Thần Ngài đến trợ giúp anh khỏi cơn nguy biến.


    Chứng từ thứ tư do bà Geneviève Peiffert tín hữu Công Giáo Pháp kể lại.

    Hồi ấy là năm 1944 gia đình chúng tôi sống trong một nông trại. Bé Gioan, con trai đầu lòng của chúng tôi vừa được 9 tháng. Trông bé thật mũm mĩm dễ thương. Ai ai cũng muốn bồng muốn nựng. Một buổi chiều, tôi ngồi dọn thức ăn nơi nhà bếp, có bé Gioan nằm chơi bên cạnh. Trông thấy miếng bơ ngon, tôi cắt một miếng nhỏ và đút cho bé ăn. Nhưng tôi lại vô ý không nếm thử xem bơ ngon ra sao.

    Sáng hôm sau bé Gioan không thức giấc vào giờ thường lệ. Linh tính có điều không lành tôi vào phòng xem con ra sao. Tôi kinh hoàng khi thấy toàn thân bé nóng bừng. Cùng lúc bé bị tiêu chảy xanh nhờn. Tôi tức tốc mời bác sĩ đến. Chẩn bệnh xong bác sĩ muốn biết tôi cho bé ăn gì chiều hôm qua. Tôi sực nhớ có cho con nếm bơ. Bác sĩ muốn xem miếng bơ ra sao. Khi tôi đưa bơ ông liền nếm thử rồi nói: Bơ này đã quá hạn. Nó có thể trở thành thuốc độc. Bây giờ bà nên cho bé uống nước cháo ...

    Khi ra đến sân, bác sĩ gặp thân phụ tôi, ông buột miệng nói: “Sáng mai, chắc là cháu ông sẽ không còn sống” .. Nhưng câu nói này, cha tôi chỉ lập lại khi đã tai qua nạn khỏi.

    Bệnh tình bé Gioan mỗi lúc một nặng thêm. Chúng tôi đang giữa mùa cắt lúa mì. Vào thời kỳ đó, chưa có máy móc, nên tất cả mọi việc phải làm bằng sức người. Chiều đến nhà tôi mệt đừ đi ngủ sớm. Tôi đành để chàng ngủ yên không bận tâm lo lắng. Còn lại một mình, tôi ngồi canh thức bên cạnh con. Tôi đau đớn xé nát cõi lòng vì bị dằn co giữa hai ý nghĩ: hoặc bỏ đi để khỏi phải nhìn con từ từ trút hơi thở cuối cùng, hoặc ngồi lại vì con không sống bao lâu nữa. Tôi trải qua một đêm kinh hoàng bên cạnh đứa con hấp hối.

    Sáng hôm sau bà bạn láng giềng đến thăm bé Gioan. Vừa trông thấy bé, bà chạy mất và nói: “Tôi không thể chứng kiến cảnh tượng đau lòng này”. Chính lúc đó, tôi nghe tiếng Thiên Thần Bản Mệnh nhắc nhở: “Hãy cầu nguyện cùng Đức Mẹ Lộ Đức”. Tôi liền quỳ xuống cạnh chiếc giường bé nhỏ và cầu nguyện cùng Trinh Nữ Rất Thánh MARIA như sau: “Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, xin cho con con được sống và con sẽ dâng con con cho Mẹ, để nó trở thành linh mục, nếu Mẹ muốn”. Cầu nguyện xong, tôi đọc Kinh Cầu Đức Mẹ Lộ Đức. Đọc vừa hết Kinh Cầu, tôi bỗng thấy bé Gioan ngồi dậy trên giường. Mặt bé hồng hào và tươi cười nhìn tôi. Bé chụp lấy chiếc khăn hai màu trắng xanh đang để trên giường và bắt đầu nô đùa với khăn..

    Vô cùng mừng rỡ, tôi chạy như điên ra chỗ nhà tôi đang làm việc và nói như hét: “Bé Gioan được lành bệnh. Bé Gioan được khỏi rồi. Đức Mẹ Lộ Đức đã chữa bé lành!” Chiều đến, khi công việc xong xuôi, chồng tôi đến nhà vị bác sĩ và nói: “Bác sĩ nên đến thăm bé Gioan”. Ngỡ ngàng một giây ông nói: “Sao, anh nói sao? Bé Gioan không chết à?”

    Không. Bé Gioan không chết. Từ sau tai nạn ấy, bé Gioan trở thành khó nuôi. Thêm vào đó trong thời chiến, chúng tôi thiếu thốn mọi sự, càng làm cho sức khoẻ của Gioan trở nên mỏng manh hơn. Nhưng nhờ ơn Chúa, Gioan không chết, mà vẫn còn sống! Muôn vàn cảm tạ Đức Mẹ Lộ Đức.

    (“Le Ciel Parmi Nous”, Editions Bénédictines, 1997).
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 1 tháng Mười 2017
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 04 tháng 10

    Thánh PHANXICÔ ASSISI (1181-1226)

    Thánh Phanxicô sinh tại Assisi, miền Umbria, năm 1181. Ông Phêrô Bernadone là một thương gia giàu có, lúc sinh ra thánh nhân, ông đang ở Pháp, nên đã đặt tên cho ngài theo tên quốc gia này. Thời thơ ấu, thánh nhân chịu ảnh hưởng nhiều bởi người mẹ nhiệt thành và khả ái. Ngài tỏ ra vui vẻ, mạo hiểm, quảng đại và bình dân. Dầu được chuẩn bị để theo nghề buôn bán như cha, ngài vẫn thường mơ ước trở thành hiệp sĩ.

    Năm 1201, Phanxicô tham gia cuộc chiến ở Perugia và bị bắt tù một năm. Kinh nghiệm đau xót này cùng với cơn bệnh ngặt nghèo là khởi đầu cuộc trở lại của ngài. Dầu vậy, năm 1205, ngài vẫn còn tham dự vào cuộc viễn chinh tại Apulia. Trong một giấc mơ, Phanxicô được Chúa Kitô mở lời kêu gọi phục vụ Người. Ngài trở về và hiến mình chăm sóc các bệnh nhân.

    Ngày 16-4-1206, Phanxicô lại nghe tiếng Chúa Kitô kêu gọi ngài tái thiết Đền thờ Thánh Damianô. Luôn mau mắn và tận tâm, Phanxicô đã từ bỏ đời sống cũ và chấp nhận sống như một ẩn sĩ. Khi bị cha bỏ tù, rồi dẫn đến đức giám mục như một đứa con bất phục, thánh nhân đã từ khước mọi quyền lợi lẫn của cải, cả đến áo quần đang mặc nữa.

    Hai năm sau, có lẽ vào ngày 24-2-1209, ngài nghe đọc đoạn Tin Mừng Mt 10,9 và thấy mình được ơn gọi đi rao giảng sự thống hối. Đây là giây phút quyết liệt. Thánh nhân cởi bỏ tu phục ẩn sĩ, mặc áo vải thô, thắt giây lưng và bắt đầu rao giảng Chúa Kitô. Có hai người bạn đi theo, Ngài cho họ một bản luật gồm 3 câu Thánh Kinh Mt 20,21; 10,9 và Lc 9,23. Khi con số môn sinh lên tới 11, ngài viết cho họ một bản luật vắn (bản Primitiva, nay đã thất lạc), và dân họ tới Roma để được Đức Giáo hoàng phê chuẩn.

    Đức Giáo hoàng Innocentê III, sau phút ngập ngừng, đã nhận ra nơi người giáo dân ngay thật và nhiệt tình này một tông đồ chân chính, và ban lời chuẩn nhận (tháng 6-1210). Nhóm huynh đệ trở về Assisi. Họ sống trong những chiếc chòi ở Rivetortô. Gần Porziuncola và rao giảng sư thống hối trên khắp nước Ý. Đầy đơn sơ, họ làm đủ mọi việc và sống bằng nghề ăn xin. Chính sự đơn sơ như thiên thần của Phanxicô mà họ coi là hiền huynh và hiền mẫu, là gương sống hứơng dẫn họ trên đường thiêng liêng. Chưa có một tổ chức nào cả, với phép của Phanxicô, họ đi khắp nơi, như các anh em thống hối nghèo miền Assisi.

    Năm 1212, Phanxicô khích lệ Clara, một thiếu nữ danh giá trong thành phố, thiết lập nhóm chị em sống đời nghèo khó và cầu nguyện ở Nhà thờ Thánh Damianô. Họ đã trở thành các bà nghèo khó và ngày nay gọi là các nữ tu Clara.

    Không bao giờ Phanxicô muốn lập một “Hội dòng”. Ngài chỉ muốn theo Chúa Kitô trong các sách Tin Mừng một cách hoàn toàn đến từng chữ viết. Dầu vậy, nhóm huynh đệ đã theo một hình thức tu dòng nào đó. Họ đọc kinh nhật tụng, ngủ và ăn chung như các tu sĩ. Khi nhóm huynh đệ đã tăng số cách lạ lùng, mau chóng, Phanxicô phải uỷ quyền cho các người lãnh đạo mà ngài gọi là “Hiền mẫu” hay là “tôi tớ” của các nhóm. Hằng năm các anh em họp nhau một lần tại Porziuncola.

    Năm 1216, Phanxicô tham dự đám táng Đức Gíáo Hoàng Innocentê III và được Đức Honoriô IV ban ân xá cho Thánh đường Perziuncola. Năm sau, ngài được cảm tình của Đức Hồng y Ugôlinô, là đấng sẽ trung tín bảo trợ ngài mãi về sau.

    Năm 1219, nhóm huynh đệ tăng số đông đảo và phải chia thành nhiều tỉnh dòng. Cánh đồng truyền giáo đầu tiên của nhóm vượt qua rặng núi Alpes.

    Chính Phanxicô, bất chấp những cân nhắc khôn ngoan, đã bỏ nước Ý để tham gia thập tự quân và đã đến gặp Sultan. Trong khi ngài vắng mặt, nhóm huynh đệ gồm nhiều học viên mới, có học thức và thuộc hàng giáo sĩ, họ như con thuyền không lái và rơi vào cuộc khủng hoảng. Vấn đề chỉ giải quyết xong khi kêu mời Phanxicô trở về, nhờ tài khéo léo của Đức Hồng y Ugôlinô, và nhóm phải chọn một khuôn mẫu thông thường của đời sống tu trì.

    Trước sức ép liên tục, bây giờ Phanxicô phải viết một bản luật chi tiết hơn (bản Regula Prima) dầu vậy, bản luật này vẫn còn quá đơn sơ và đòi hỏi các người lãnh đạo mới của cộng đoàn về đàng thiêng lêng. Sau khi sửa lại, bản luật mới này được Đức Giáo hoàng Honoriô III chấp nhận năm 1223 (bản Rehula Secunda hay Bullata nay vẫn còn được xử dụng). Trong khi đó, Phanxicô trở nên yếu đau và lo âu. Ngài trao quyền quản trị nhóm huynh đệ cho người đại diện. Từ năm 1221, anh Elia đầy bí nhiệm đảm nhận chức vụ.

    Chính Phanxicô lại lui vào trong núi. Ngày 14-9-1224, sau một thời sống ẩn dật, ngài đã được Chúa Kitô in dấu. Từ đây, bệnh tình ngài tăng thêm và trở nên mù loà hầu như hoàn toàn. Ngài được 4 anh em trung tín mang đi đây đó. Có lẽ vào năm 1224, ngài đã viết “bài ca mặt trời”Năm 1226, ngài viết chúc thư (testament) long trọng nhấn mạnh đòi buộc sống nghèo khó tuyệt đối, vâng lời luật dòng đến từng chữ viết và từ khước mọi đặc ân.

    Ngày 2-10-1226, sau khi viếng thăm Clara cùng các nữ tu và chúc lành cho thành Assisi, ngài từ trần tại Porziuncola. Hai năm sau, ngài được bạn cũ là Ugôlinô bấy giờ là ĐGH grêgoriô IX tôn phong lên hàng hiển thánh. Năm 1228, xác ngài được dời về mai táng tại đại giáo đường do anh Elia xây cất.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 1 tháng Mười 2017
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 05 tháng 10
    Chân Phúc Phanxico Xavier Seelos, tu sĩ thừa sai DCCT

     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 6 tháng 10

    Thánh BRUNÔ, Linh mục (1035-1101)

    Thánh Brunô sinh khoảng năm 1035 tại Cologne, Đức, và từ trần năm 1101 tại Calabria, miền nam nước Ý. Chúng ta biết được rất ít và đời sống thơ ấu của ngài. Có lẽ ngài thuộc gia đình quý phái Der Hautenfaust và được giáo dục ở trường Thánh Cunibert tại sinh quán.

    Sau đó dường như ngài đã bỏ Cologne để theo học tại Reims và từ đó tiếp tục học triết ở Tours. Sau này chúng ta biết ngài làm thủ lãnh các trường Reims, làm chưởng ấn địa phận và làm kinh sĩ toà tổng giám mục. Chắc chắn ngài là một trong những học giả lừng danh thời đó. Nhiều người đã tới Reims để thụ giáo với ngài, trong số đó có Eudes de Chantaillen là người sẽ trở thành giáo hoàng với danh hiệu Urbano II. Các sách chú giải về Thánh vịnh và các thư Thánh Phaolô là những tác phẩm chúng ta còn lưu giữ được, chứng tỏ thánh nhân là một học giả có thế giá và là người hiểu biết tiếng Hy Lạp và tiếng Do Thái. Vào thời của ngài ít có người hiểu biết được như vậy.

    Các thử thách đổ xuống cuộc đời Thánh Brunô, kể từ khi Đức Tổng Giám mục Gevase qua đời năm 1068 và Manasses được đặt kế vị. Manasses là một người khô khan và hung bạo, đã chiếm đã ngai toà giám mục nhờ việc buôn thần bán thánh. Brunô đứng đầu những nhóm kinh sĩ chống lại và bị triệu về Roma. Manasses trả thù bằng cách tịch biên tài sản và buộc các Ngài phải trốn khỏi thành phố. Brunô trốn về một nơi gọi là Rocher, ở tại nhà một người bạn tên là Adam. Lần kia, trong khi đi dạo tại vườn nhà Adam, Brunô với hai người bạn là Ralph và Fulcius đã bàn về bản chất giả tạo của các thú vui trần thế và niềm vui của đời sống chiêm niệm. Lửa nhiệt tình bùng cháy, họ quyết định sẽ bỏ thế gian để sống đời cầu nguyện, ngay khi nào hoàn cảnh cho phép. Nhưng rồi Fulcius phải đi Roma để trình bản cáo trạng tổng giám mục. Brunô không thể bỏ Reims khi Đức tổng giám mục còn tại vị. Cuối cùng, khi Đức Tổng Giám mục bị truất ngôi, chi còn Brunô trung kiên với dự tính.

    Sau khi Manasses bị truất ngôi, vị Đặc sứ Toà Thánh muốn đặt Brunô làm tổng giám mục. Nhưng lúc ấy thánh nhân đã trốn khỏi Reims cùng với sáu người bạn, tới một nơi gọi là Sèche-Phontaine. Ngài ở gần tu viện Molesme là nơi thánh Robertô làm đan viện phụ. Có lẽ Brunô là tu sĩ của tu viện này một thời gian ngắn.

    Tuy nhiên, Brunô đã không ở lâu tại Sèche-Phontaine. Ngài muốn tìm một nơi xa vắng hơn để khỏi bị du khách quấy rầy. Năm 1084, ngài cùng với sáu người bạn tìm đến miền núi Savoy. Trên đường đi, các ngài dừng chân tại Grenoble để tham khảo ý kiến Đức cha Hugues de Chateaineuf, một học trò cũ của ngài. Vị giám mục thánh thiện đã mơ thấy bảy ngôi sao sáng trên một miền xa thuộc dẫy núi Cjartreuse. Biết rằng Brunô cùng với sáu người bạn của ngài là những ngôi sao ấy, đức cha đã không chần chờ dẫn họ ngay tới nơi mà giấc mơ đã chỉ cho Ngài. Đây là một nơi đủ yên tĩnh. Brunô và các bạn liền cư ngụ tại đó. Các ngài làm một nhà nguyện nhỏ và bảy cái lều chung quanh. Đó là bước đầu của một tu viện lớn vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay, là nhà mẹ của một hội dòng mang tên CHARTREUSE.

    Nhưng rồi Thánh Brunô đã quá lừng danh và không thể yên thân được lâu. Năm 1090, Đức Urbanô II, một học trò cũ của ngài đã nhớ đến thầy cũ và triệu về Roma làm cố vấn. Dầu vậy, Đức Giáo hoàng cũng sớm nhận ra rằng: không có chỗ trong giáo triều dành cho Brunô. Ngài ban phép cho thánh nhân rời Roma, với điều kiện là phải có mặt tại nước Ý.

    Trong thời gian vắn vỏi tại giáo triều, Thánh Brunô đã gặp nhà quý tộc Roger miền Sicily. Khi rời Roma, ngài đến cư ngụ ở nơi nhà quý tộc hiến cho, tại La Torre miền Calabria. Ngài thiết lập ở đó một tu viện thứ hai, theo kiểu mẫu dòng Chartreuse. Ngày 6-10-1101, ngài từ trần, khi chưa có dịp trở về thăm tu viện thứ nhất của ngài.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~~~~
    Ngày 06 tháng 10

    Thánh Phanxicô TRẦN VĂN TRUNG, cai đội
    (+ 1858)

    Thánh Phanxicô Trần Văn Trung là một trong số chín thánh tử đạo Việt Nam xuất thân từ hàng ngũ quân nhân. Ngài sinh vào khoảng năm 1825 tại làng Phan Xá, tỉnh Quảng Trị. Cha ngài là quân nhân, đã từng giữ chức cai đội, sau về làm ruộng. Lớn lên, ngài nhập ngũ và cũng được thăng chức cai đội. Ngài giữ đạo xứng đáng, tuy không sốt sắng lắm.

    Lúc ấy, ngài cùng 11 bạn đồng ngũ phải dự một cuộc khảo trí. Các bạn lo tiền đút lót cho các quan để được chấm đậu, riêng mình ngài không chịu làm chuyện hối lộ đó. Vì việc chia tiền không đều, các quan cãi nhau, việc thấu đến tai vua, nên cả bọ 12 cai đội đều bị tống giam.

    Năm 1858, khi quân Pháp chiếm Cửa Hàn, vua Tự Ðức truyền cho các tù nhân, ai tự nguyện đi đánh giặc sẽ được phóng thích. Ngài cùng các bạn tù hăm hở ghi tên. Nhưng để tránh nội công, quan bắt các tù nhân phải dâng hương và đạp lên Thánh Giá. Tất cả đều tuân phục, trừ một mình ngài. Vì không dụ dỗ được, các quan lại ra lệnh tống ngài vào ngục. Dù bị tra tấn đòn vọt, chịu nhiều hình khổ, ngài vẫn hãnh diện vì là người Công Giáo và sẵn sàng đổ máu để bảo vệ đức tin.

    Án tử hình được vua Tự Ðức châu phê, và ngày 06-10-1858, ngài bị điệu đi xử trảm tại pháp trường An Hòa (Huế).

    Ngày 02-5-1909, Ðức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong ngài lên hàng Chân Phước. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh ngày 19-6-1988.
     
  7. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 07 tháng 10

    THÁNH MẪU MÂN CÔI

    Chuỗi Mân Côi là quà tặng quý báu, Thiên Chúa và Đức Mẹ trao cho chúng ta. Người ta gọi chuỗi Mân Côi là kinh nguyện của người bình dân. Thực vậy, cho tới thế kỷ XII, Hội Thánh chỉ dùng 150 thánh vịnh làm kinh nguyện chính thức. Tới khi bà thánh Birgitta được ơn Chúa soi sáng mới đặt ra chuỗi 150 Kinh Kính Mừng để thay thế cho 150 Thánh vịnh.

    Các mầu nhiệm Mân Côi còn được gọi là cuốn sách Phúc Âm rút gọn của người bình dân, bởi vì sau này người ta thêm 15 mầu nhiệm vào kinh Mân côi. Cứ 10 kinh Kính Mừng lại suy gẫm vê một mầu nhiệm mùa Vui, Sáng, Thương hoặc Mừng.

    Chuỗi Mân Côi rất cao quý vì chính nội dung của nó như chúng ta vừa đề cập tới. Người biết xử dụng sẽ gặp được hiệu quả phi thường. Ngay trong sự tích việc thành lập lòng sùng kính này đã đã ghi dấu bằng một phép lạ đặc biệt. Ngày kia trên đường đi Tây Ban Nha, hai thánh Đaminh và Bernado chẳng may bị sa vào tay quân cướp. Sau khi bóc lột tất cả, chúng bắt các Ngài phải làm nô lệ chèo thuyền. Một lần con thuyền bị bão đánh giữa khơi. Trong cơn nguy nan, Thánh Đaminh đã cầu xin Đức Mẹ và được Ngài hiện ra dạy phải lần chuỗi Mân Côi. Mọi người trong thuyền đều hứa sẽ thực hiện theo lời chỉ dạy của Mẹ. Bão tố liền tan biến.

    Cũng chính Thánh Đaminh, trong cuộc tranh đấu chống lại bè rối Albigeois năm 1209, một lần nữa được Đức Mẹ dạy cho biết phải dùng chuỗi Mân Côi làm khí giới. Thánh nhân đã dốc toàn lực phổ biến thực hành đạo đức này và được gặt hái được thành quả mĩ mãn. Bè rối Albigeois hoàn toàn bị tiêu diệt.

    Năm 1571, lịch sử được chứng kiến một thành quả vĩ đại của Kinh Mân Côi mang lại. Chính biến cố lịch sử này là nguồn gốc lễ kính Thánh Mẫu Mân Côi, Khi ấy quân Hồi Xâm lăng Au Châu, tàn phá những nơi họ đi qua, tiêu diệt dân công giáo. Cùng với việc triệu tập đạo quân thánh giá từ hai nước Ý và Tây Ban Nha, Đức Giáo hoàng Piô V kêu gọi mọi người chạy đến với Kinh Mân côi. Cuộc chiến quá chênh lệch đã diễn ra tại vịnh Lepante, nhưng với quân số ít ỏi và khí giới tồi tàn, người Công giáo đã thắng trận vẻ vang trước đoàn quân Hồi giáo đông đảo và trang bị hùng hậu, từ Roma, Đức Giáo hoàng đã thấy được cuộc chiến thắng này và nói với các vị trong giáo triều hãy tạ ơn Chúa. Hôm đó là ngày 7-10. Đức Giáo hoàng đã thiết lập một lễ để ghi nhớ chiến thắng này.

    Lịch sử còn ghi lại nhiều thành quả kỳ diệu khác nữa của Kinh Mân Côi. Chẳng hạn Kinh Mân côi đã mang lại chiến thắng tại Vienna ngày 12-9-1683, hay đã chấm dứt bệnh dịch tại Milan... Chuỗi Mân Côi vẫn còn là một phương thế cứu rỗi hữu hiệu của mỗi tín hữu. Khi hiện ra tại Lộ Đức hay tại Fatima, Đức Mẹ đều kêu gọi chúng ta hãy siêng năng lần chuỗi Mân côi.

    Vậy khi mừng lễ Thánh mẫu Mân Côi, Giáo Hội muốn chắc lại sức mạnh cứu rỗi vô song của Kinh mân côi và kêu gọi mọi người hãy năng lần chuỗi Mân Côi như phương thế hữu hiệu để cải thiện đời sống và xây dựng Nước Trời.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 8 tháng Mười 2017
  8. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 09 tháng 10

    Thánh ĐIONYSIÔ và CÁC BẠN, Tử đạo

    Thánh Dionysiô, Giám mục Paris, đã chịu nhiều đau khổ vì danh Chúa Kitô và kết thúc cuộc đời dưới lưỡi gươm.

    Câu nói trên đây của Thánh Grêgoriô thành Tours là tất cả những gì chúng ta biết được về thánh Dionysiô. Người ta kể lại truyền thuyết rất hấp dẫn về ngài như sau:

    Vào năm 251, Đức Giáo hoàng Fabianô đã sai 7 giám mục đi truyền giáo tại xứ Gaules. Các vị tông đồ này đã vượt qua mọi gian nguy và thiết lập nên các giáo đoàn Arles, Toulouse, Narbonne, Clermont, Limoges, Tours và Lutèce. Trước hết các Ngài dừng lại ở Arles, rồi phân tán đi các tỉnh xứ Gaules. Lutèce là tỉnh xa nhất. Nhiệt tâm với đức tin, Dionysiô đã muốn tới đó.

    Dionysiô đã thực hiện được nhiều cuộc trở lại rất ngoạn mục. Chỉ kêu cầu đến danh Chúa, ngài đã làm lật nhào pho tượng thần Hoả (Mars) khổng lồ. Chứng kiến cảnh tượng này, nhiều người đã phục dưới chân ngài xin theo đạo. Cùng với Linh mục Eleutheeiô và Phó tế Rusticô, Dionysiô tiến xa về hướng Bắc và dừng lại tại Lutèce. Ngài thiết lập giáo đoàn Paris và làm giám mục tiên khởi của giáo đoàn này. Ngài luận bác sự điên dại của các ngẫu thần và rao giảng một Thiên Chúa duy nhất và Chúa Giêsu là Đấng cứu chuộc.

    Phần đông thính giả tin theo ánh sáng Chúa Kitô giáo. Một trong số những người trở lại là lãnh chúa miền Montmorency. Tên ông là Lisiniue. Ông đã cho Thánh Dionysiô trú ngụ và biến gia thất thành nơi hội họp của các Kitô hữu. Dân chúng đổ xô đến rao giảng, từ bỏ tà thần và lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Thánh Dionysiô phong chức cho nhiều tác viên mới.

    Dùng của cải dân Gaules dâng hiến, ngài dựng nên 4 nhà nguyện: một dâng hiến Chúa Ba Ngôi (nơi này sẽ thánh thánh đường kính Thánh Bênêđictô). Năm 1685, người ta đọc được ở đó những dòng chữ này: “Trong nguyện đường này, Thánh Dionysiô đã khởi sự yêu cầu Chúa Ba Ngôi”, một nguyện đường dâng kính hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô (Thánh Ghenevière thích đến cầu nguyện và được mai táng tại đây), nguyện đường thứ ba đâng kính Thánh Stêphanô và nguyện đường thứ tư dâng kính Đức Bà (nay gọi là Đền thờ Notre-dame-des-champs).

    Thánh Dionysiô vui mừng vì thành quả gặt hái được. Nhưng các người ngoại, nhất là các tư tế dân ngoại bực tức. Họ than phiền với quan chức của vương quốc. Khi hoàng đế Maximilianô mang quân qua xứ Gaules, lệnh bách hại Kitô giáo được ban hành nghiêm nhặt. Vị tông đồ cùng với hai vị bị điệu ra toà.

    Ngài trả lời rằng: Chúng tôi là tôi tớ Chúa Kitô.

    Thánh Dionysiô cùng hai bạn bị tống ngục, nơi sẽ trở thành thánh đường Thánh Dionysiô thành Chartres. Bị đánh đòn, bị hành hạ đến chảy máu, thánh nhân không hề than trách kêu la. Thay tiếng rên siết, ngài nói lên niềm tin và lời ca tụng. Bọn lý hình giương búa, múa roi trước mặt ngài, nhưng lão già 110 tuổi đầu bạc vẫn đầy tin tưởng và êm dịu trả lời: Chớ gì tôi phải chịu tất cả mọi cực hình này cùng một lúc để tôi sớm được hạnh phúc với Chúa Kitô.

    Ngài bị ném cho thú vật xâu xé. Nhưng những thú dữ chỉ liếm chân ngài. Bị treo lên thập giá, nhưng từ trên cao, ngài giảng về cuộc khổ nạn của Chúa khiến cho nhiều người trở lại. Vừa sợ vừa giận, quan toà ra lệnh xử trảm con người đầy dũng cảm này. Nơi hành hình là một ngọn đồi dâng kính Thuỷ thần (Nercure), nhưng sau này được coi là núi các thánh tử đạo (Montmartre). Xác các thánh tử đạo không được chôn cất, nhưng phải để làm mồi cho súc vật.

    Nhưng có huyền thoại kể rằng: Thánh Dionysiô sau khi bị chặt đầu, đã trỗi dậy cầm lấy đầu mình, đi xa khoảng 2 dặm về hướng đông. Một sử gia nói rằng: ngài dừng lại ở nơi ngài muốn chôn cất và là tu viện của ngài.

    Có một phụ nữ tên là Catulla đã chôn xác ngài ở một ngôi làng (làng này sẽ mang tên Dionysiô) bà dựng một nguyện đường bằng gỗ, nhưng rồi Thánh Ghenevière đã xây lại bằng đá. Dagobert sẽ xây cất một thánh đường và một tu viện ở đó.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~~~~~~

    Ngày 09 tháng 10

    Thánh GIOAN LEONARĐÔ, Linh mục (1541-1609)

    Thánh Gioan Leonađô sinh năm 1541 tại Luca miền Tuscia. Từ nhỏ thánh nhân đã theo học ngành thuốc, nhưng rồi bỏ nghề, ngài muốn làm linh mục. Năm 25 tuổi, ngài mới bắt đầu học tiếng Latinh, triết học và thần học. Năm 1571, ngài được thụ phong linh mục.

    Hồi đó tại Luca, tinh thần đạo đức của dân chúng lai còn bị hoang mang vì lạc thuyết mà Bernadinô thành Sienna gieo vãi. Là linh mục trẻ còn đấy nhiệt huyết, Cha Gioan đã tìn cách chấn hưng bằng việc chăm lo giảng dạy và ngồi toà. Hơn nữa, cha còn lập “Hội Giáo Lý” quy tụ những người có thiện chí lo việc dạy giáo lý cho các trẻ em.

    Tuy nhiên, là giáo dân, các hội viên của Hội Giáo Lý còn bị nhiều giới hạn và không thể làm được hết mọi việc. Năm 1574, Thánh Gioan Leonarđô thành lập một hội dòng, đặt trụ sở tại Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi. Đức Giáo hoàng Clêmentê VIII đã châu phê luật dòng và Đức giáo hoàng Phaolô V đặt tên cho hội dòng là “Các Giáo Sĩ Mẹ Thiên Chúa”. Năm 1621, Đức Giáo hoàng Grêgoriô XV đặt tu hội ngang hàng với các dòng tu kỳ cựu khác.

    Nhiệt tình của Thánh Gioan Leonađô và của dòng do ngài sáng lập, đã mang lại nhiều thành quả tốt đẹp. Nhưng cũng vì thành công này mà ngài phải chịu rất nhiều thử thách. Cuối cùng, ngài đành phải chịu rời Luca để về Roma, tại đây ngài được Đức Giáo hoàng Grêgoriô XIII tiếp đón ân cần. Ngài cũng có dịp làm quen với Thánh Philpphê Nêri. Là một người hiền hoà tận tuỵ, Thánh Gioan Leonađô được nhiều người tín nhiệm, ngài còn giải quyết được nhiều cuộc tranh chấp khó khăn.

    Tại Roma, Thánh Gioan Leonađô vẫn nuôi mộng truyền giáo. Cùng với Đức Hồng y Baotixita Vivès, năm 1603, ngài góp phần đào tạo nhiêu giáo sĩ các xứ truyền giáo. Năm 1627, Đức Giáo hoàng Urbanô VIII chính thức thiết lập ngôi trường mà Thánh Gioan Leonađô đặt nền móng thành “trường truyền giáo”, quy tụ các chủng sinh từ các nước xa xăm.

    Ngày 9-10-1609, Gioan Leonađô từ trần, trong khi nhiệt thành chăm sóc các bệnh nhân mắc bệnh dịch. Năm 1706, Giáo Hội mới lập hồ sơ phong thánh cho ngài. Năm 1861, ngài được nâng lên hàng á thánh và năm 1938 được phong hiển thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  9. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 11 tháng 10

    Thánh Phêrô LÊ TUỲ, Linh Mục
    (1773-1833)

    Thánh Phêrô Lê Tùy sinh năm 1773 trong một gia đình nề nếp và giầu có ở làng Bằng Sở, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội.


    Năm 1773 cậu Phêrô Lê Tùy chào đời thì cũng chính là năm thánh linh mục Vinh Sơn Liêm và thánh linh mục Giacinta Castaneda Gia được phúc tử vì đạo tại Hà Nội do lệnh xử trảm của chúa Trịnh Sâm. Có lẽ vì cảm kích tấm gương anh hùng của hai vị thánh tử đạo này mà cha mẹ cậu Phêrô Lê Tùy đã sốt sắng và sớm gửi cậu con trai yêu quý của mình vào học tại chủng viện Kẻ Vĩnh (Nam Định), mong ước con mình sau này nối gót.những vị thánh anh hùng của Hội Thánh Chúa.

    Tại chủng viện, cậu Phêrô Lê Tùy đã sớm tạo được những thành tích tốt đẹp, chiếm được cảm tình ưu ái của ban giáo sư cũng như các bạn đồng trường. Cậu học hành rất thông minh, chăm chỉ, xử sự khôn ngoan, đời sống đạo đức, khiêm tốn và hiền hoà với các bạn bè. Chính nhờ đời sống tốt lành và học hành xuất sắc nên sau khi mãn trường thầy đã được lãnh chức Phó Tế rồi thầy Phêrô Tùy được đặc cử đi giúp Đức Cha De la Mothe Hậu lo việc truyền giáo tại vùng tỉnh Nghệ An.

    Sau một thời gian giúp việc truyền giáo rất đắc lực, Đức Giám mục gọi thầy về thụ phong linh mục. Sau đó, Đức Cha bổ nhiệm Ngài đi làm phó xứ Đông Thành, rồi Chân Lộc và làm cha chánh xứ Nam Đường. Ở đâu Ngài cũng tận tình, tận lực lo việc mục vụ một cách rất sốt sắng và nêu cao gương sáng nhân đức khiêm nhường, thánh thiện. Từ các linh mục bạn hữu tới giáo dân, ai ai cũng đều khen Ngài là một linh mục vui vẻ, hiền hoà và nhiệt tình trong mọi công việc được trao phó. Nhìn thấy những nhân đức và những kết quả tốt đẹp do việc mục vụ của Ngài, Đức Cha De la Mothe Hậu đã nhiều lần ca ngợi cha, có lần Đức Cha nói:

    - “Không ai là không hài lòng với cha Phêrô Lê Tùy”.

    Trong suốt 30 năm trường phục vụ trong thiên chức linh mục, cha đã công khai hoạt động trong cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam và cha đã đem lại bao kết quả lớn lao cho Giáo Hội bằng việc lôi kéo được biết bao linh hồn trở về với Chúa. Công việc mở mang nước Chúa đang tiến triển ngoạn mục thì ngày 6 tháng 1 năm 1833 vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo trên toàn quốc từ Bắc chí Nam thì cha Phêrô Tùy cũng như bao nhà truyền giáo khác phải rút lui vào bóng tối, âm thầm hoạt động trong lén lút và len lỏi vào những nơi hang cùng ngõ hẻm để tránh sự dòm ngó của các nhà chức trách và người lương dân.

    Ngày 25 tháng 6 năm 1833, tại họ Thanh Trai. có một bệnh nhân bệnh nặng đang hấp hối chết, người trong gia đình vội vàng tìm đến cha và mời cha tới giải tội và xức dầu cho bệnh nhân. Cha mau mắn tới và sau khi đã làm xong bổn phận, trên đường về cha bị nhóm người lương dân bắt và nộp cha cho quan huyện Thanh Phương. Họ đạo Thanh Trai là họ xôi đỗ, nghĩa là dân Công Giáo và không Công Giáo sống trà trộn với nhau cho nên những người lương dân hay theo dõi những sinh hoạt của những người Công Giáo để rồi báo cáo cho vua quan để lập công với nhà cầm quyền. Chính vì lý do đó mà khi cha Phêrô Tùy vừa âm thầm lén lút tới với bệnh nhân thì họ đã biết và tìm cách bắt được cha ngay. Khi họ giải cha tới huyện thì nhóm người Công Giáo đi theo và tới trình với quan huyện xin chuộc cha với một số tiền khá lớn. Quan huyện Thanh Phương đồng ý cho chuộc với điều kiện cha chỉ khai mình là Thầy Thuốc, không khai mình là linh mục. Giáo dân xin cha chiều ý quan huyện và khai như quan dậy. Nhưng cha không chịu. Cha nói khai như thế là khai man, là nói dối, là làm gương mù gương xấu cho bao người khác. Cha cương quyết chỉ nhận mình là linh mục mà thôi. Vì cha không chịu nói dối nên quan huyện Thanh Phương cho lệnh đeo gông, xiềng xích tay chân rồi áp giải về nộp cho quan đầu tỉnh Nghệ An xét xử.

    Về tới tỉnh Nghệ An, cha bị tống giam trong ngục thất, bị đánh đòn, tra tấn, bắt nhịn ăn, nhịn uống, bị bọn lính hành hạ khổ sở. Nhưng lúc nào cha cũng vui tươi, bình tĩnh, can đảm chịu mọi khổ nhục. Những người cùng bị giam với cha, thấy cha đã già mà phải đòn vọt máu me chảy ra như thế mà cha vẫn vui vẻ thì lấy làm lạ nên có người đã hỏi:

    - “Cha ơi! Cha đã già mà phải hành hạ khổ nhục quá như vậy mà cha vẫn chịu một cách can đảm. Tại sao cha gan thế? Bí quyết nào đã giúp cha vậy?”

    Cha vui vẻ trả lời:

    - “Bí quyết nào à? Đó là ơn thiêng Chúa ban. Chúa còn phải khổ nhục hơn ta nhiều. Chúa bị hành hạ cách vô cùng tàn nhẫn rồi còn bị đóng đanh trần trụi trên Thánh Giá vì chúng ta cơ mà! Chúa có tội gì đâu mà còn phải khổ nhục như thế. Đó, Chúa chịu vì yêu thương chúng ta đấy. Bây giờ tôi có phải khổ nhục vì Chúa như thế này có thấm gì đâu? Anh em hãy tin cậy Chúa, Chúa sẽ giúp cho”.

    Mọi người chăm chú nghe cha nói và xin cha cầu nguyện cho họ.

    Sau nhiều ngày bị đòn đánh khổ nhục, quan án tỉnh gọi cha ra công đường. Quan Án hỏi:

    - “Ông là đạo trưởng Gia Tô phải không?”

    Cha giõng giạc trả lời:

    - "Bẩm quan lớn, phải. Tôi là đạo trưởng”

    Quan lại hỏi:

    - “Ông có biết lệnh vua ban xuống là phải cấm đạo Gia Tô và phải tiêu diệt hết các đạo trưởng của đạo ấy không”.

    Cha bình thản trả lời:

    - “Bẩm quan lớn, tôi biết”.

    Quan án nhìn cha một cách thông cảm rồi nói:

    - “Ông nghe ta đi! Ai thấy ông bị bắt cũng động lòng trắc ẩn. Không ai muốn ông phải tử hình. Ta đây cũng thế, ta không muốn xử tử hình ông, nhưng lệnh vua thì ta phải vâng theo mà thôi. Vậy bây giờ ông nghe ta. Ông chỉ khai ông là Lang Y đi chữa bệnh mà thôi. Có thế thì ta mới cứu ông khỏi chết.

    Cha Phêrô Tùy ôn tồn và lễ phép trả lời:

    - “Tôi xin cám ơn lòng tốt của quan lớn. Tôi không thể nói dối được.Nhưng tôi không sợ chết vì đạo Chúa. Chết bằng cách nào tôi cũng xin chấp nhận, tôi không ngại đâu. Quan biết rằng ai cũng phải chết mà! Dù chết êm đềm trên nệm ấm hay chết bị cọp tha, cá rỉa, dầu bị lột da hay xé xác làm trăm mảnh cũng đều là chết thôi. Thưa quan, tôi không sợ chết“

    Quan án thấy cha lý luận vững chắc và lòng can đảm lạ lùng, quan tỏ lòng kính phục; đàng khác thấy cha đã ngoài 60 tuổi, quan không ra lệnh đánh đòn nữa, chỉ ra hiệu cho lính đưa cha trở lại nhà giam. Từ nay cho tới khi bị xử quan ra lệnh không được đánh đập cha nữa và cho cha ăn uống đều hoà, vì cha đã 60 tuổi, theo luật nhà nước khi ấy thì ở tuổi 60 trở lên không được phép kết án xử tử. Nhiều lần các quan cho ngưòi vào khuyên dụ cha, xin cha làm giấy khai là Lang Y để các quan có lý do cho cha về. Nhưng trước sau như một cha nhất định chỉ khai mình là linh mục đạo Công Giáo. Những người bạn cùng bị giam tù chung với cha đều quí trọng cha. Có người thấy cha quá tốt lành thánh thiện thì nói:

    - "Một người hiền lành đạo đức như vậy mà bị giam như một tội phạm gian ác, thật là phi lý. Chúng mình phải chịu án đã đành chứ ông già này làm gì nên tội mà giam cầm đánh đập như thế. Thật vua quan đắc tội với Trời”.

    Khi các quan trong tỉnh làm án gửi về kinh đô, các quan cũng nghĩ ông già này đã 60 tuổi rồi, mà theo luật nhà nước thì không xử tử những tội nhân đã 60 tuổi trở lên. Hy vọng vua sẽ phạt ít tiền rồi cho về thôi. Nhưng thật là kinh hoàng khi nhận được án lệnh của vua Minh Mạng chuyển tới, mở ra đọc thì thấy vua ra lệnh: “Tên Lê Tùy đã xưng là đạo trưởng và truyền dậy tà đạo cho dân, phải trảm quyết!”. Đọc xong án lệnh các quan đều bàng hoàng khiếp sợ.

    Khi được tin bị án trảm quyết, cha Phêrô Tùy rất bình tĩnh, vui vẻ, không hề tỏ ra khiếp sợ Có người bạn tù thấy cha vui vẻ thì hỏi:

    - “Cha bị kết án trảm quyết mà sao cha lai vui vẻ được?’'

    Cha ôn tồn trả lời:

    - “Thật ra đã từ lâu tôi không dám trông đợi ơn trọng ấy. Bây giờ tôi vui mừng vì Chúa đã thương ban cho tôi được chết vì Ngài. Đây là ơn rất trọng”.

    Cha dùng bữa tối thường lệ như các bạn từ khác. Sau đó cha lặng lẽ một mình, không trò truyện như những tối khác, âm thầm dọn mình sốt sắng để lãnh nhận ơn tử đạo Chúa ban.

    Theo án lệnh vua Minh Mạng ban xuống, các quan tỉnh Nghệ An quyết định ngày 11 tháng 10 năm 1833 sẽ thi hành án lệnh. Ngay từ sáng sớm hôm ấy, quan quân đưa cha ra pháp trường là chợ Quân Ban, cha vui vẻ, nét mặt hớn hở, những người đi theo cha trong đó có nhiều người không Công Giáo thấy cha bình thản, tươi vui thì ồn ào nói với nhau:

    - “Từ xưa tới nay chưa thấy ai bị đem ra pháp trường xứ chém mà lại can đảm như cụ già này. Thật là lạ lùng!”.

    Một giọng nói khác xen vào:

    - “Ông cụ già này là đạo trưởng đạo Gia Tô đấy. Đạo này lạ kỳ thật. Đạo dạy thờ Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên trời đất muôn vật. Nghe nói về đạo nhiều điều hay lắm. Có lý lắm”.

    Đoàn quan quân dẫn cha tới nơi xử, một giáo dân đã trải chiếu sẵn để cha quì cầu nguyện. Cha ngước mắt lên trời nói lớn tiếng:

    - “Lạy Cha là Chúa Trời đất con xưng tụng Cha đã dựng nên con có hồn có xác. Giờ phút này con xin dâng lên Cha cả hồn lẫn xác của con để nói cho mọi người hiện diện nơi đây là con tin thật Chúa là Cha của con, của mọi người. Xin Cha chúc lành cho những người này và xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”.

    Cha đang cầu nguyện thì quan định ra hiệu xử, nhưng ông Bernado Thu vội chạy lại xin quan trì hoãn lại thêm vài phút nữa để cha cầu nguyện thêm ít phút. Sau khi cầu nguyện lớn tiếng thì ông Bernado Thu tới lạy cha bốn lạy và nói:

    - “Giờ đây cha sắp đuợc về nơi vĩnh phúc đã bao lâu cha mong đợi. Phần con còn ở chốn dương gian này, xin cha nhớ tới con”.

    Cha cũng quay lại lạy bốn vái đáp lễ và khuyên:

    - “Cha cám ơn con. Con hãy bền lòng vững chí theo Chúa đến cùng. Con cũng sẽ được phần thưởng trên nước trời”.

    Trước cảnh cha con từ biệt nhau thật lâm ly, khiến nhiều người xúc động khóc nức nở.

    Cuối cùng cha quay sang nói với toán lý hình:

    - “Cám ơn các anh. Bây giờ tôi đã sẵn sàng rồi”

    Quan giám sát ra hiệu lệnh, tiếng thanh la và tiếng trống vừa chấm dứt thì tên lý hình vung gươm sáng loáng thật cao, chém một nhát thì đầu vị chứng nhân của Chúa rơi xuống, máu vọt lên cao.Có những tiếng kêu la lớn tiếng từ đám quần chúng đứng xa xa kêu lên:

    - “Giêsu lạy Chúa tôi! Họ chém cha rồi! Đầu cha rụng xuống rồi!”

    Một tiếng kêu khác cũng vọng lên:

    - “Trời ơi! Người hiền lành quá dễ thương như vậy mà đem giết đi. Thật tội với Trời”

    Ngay sau đó, các tín hữu tới xin nhận thi thể của cha, liệm đặt vào quan tài rước về an táng trong khu đất của nhà xứ Tràng Nứa. Sau lại cải táng rưóc về xứ Yên Duyên. Nay thì được đưa về đặt tại Bằng Sở là xứ nguyên quán của Ngài.

    Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam.

    Lm. Nguyễn Đức Việt Châu, SSS
     
  10. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 14 tháng 10

    Thánh CALLISTÔ I, Giáo Hoàng, Tử Đạo (+222)

    VỊ THÁNH BẢO VỆ ĐỨC TIN: "MẦU NHIỆM CHÚA BA NGÔI".

    Có những cái chết tủi nhục, có những cái chết hầu như không được ai biết tới. Có những cái chết anh hùng, có những cái chết hoàn toàn vô nghĩa. Tất cả mọi người đều phải chết. Đó là định luật tất yếu của con người. Chúa Giêsu chết để sống lại. Mẹ Maria chết để được cất nhắc hồn xác về trời. Các thánh cũng phải chết, nhưng cái chết của các Ngài còn lưu danh ngàn thu. Các Ngài chết là được trở về với Chúa: ”Sự sống thay đổi chứ không mất đi“. Thánh Callistô I, giáo hoàng đã chết nhưng như Đức Giêsu Kitô, Ngài chết là để minh chứng cho tình yêu. Chết mới nói lên lời: ”Khi Ta bị đưa lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta“. Thánh Callistô I đã chết, nhưng cái chết của Ngài còn lưu danh muôn đời trong Giáo Hội. Ngài ra đi về với Chúa để góp phần vào công trình cứu độ của Thiên Chúa.

    Phó tế Callistô là người phụ tá thân cận của Đức Thánh Cha Zêphyrinô. Năm 217, thánh nhân được bầu kế vị Đức Giáo Hoàng Zêphyrinô dưới thời Hoàng Đế Antonin Héliogabale. Noi gương vị tiền nhiệm của mình, Đức Tân Giáo Hoàng Callistô I đã cho sửa sang nghĩa trang đầu tiên của cộng đoàn tín hữu Roma trên đường Appia. Đây là nghĩa trang dành để chôn cất hầu hết các Đức Giáo Hoàng đã qua đời và các thánh tử đạo. Việc làm của thánh Callistô I đã gây tiếng vang tốt đẹp và để lại những dấu ấn thật lớn lao. Hội Thánh Chúa lúc nào, thời đại nào cũng có những con người chống đối và phản bội. Thánh Callistô I đã bị một linh mục tên là Hippolyte, một nhà tư tưởng nổi tiếng chống đối và khích bác. Thánh nhân với cương vị lèo lái con thuyền Giáo Hội đã cương quyết bảo vệ đức tin, chống lại trào lưu phản bác “Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi“. Thánh Callistô I đã bị bọn lạc giáo bắt, cầm tù, đánh đập và hành hạ Ngài cách dã man. Bọn lạc giáo để Ngài bị đói, khát, đánh đòn Ngài nhiều lần; cuối cùng chúng ném Ngài xuống giếng cho đến chết.

    Thánh Callistô I, giáo hoàng đã được phúc tử đạo vào năm 222 tại Transtévère dưới thời Hoàng Đế Alexandre.

    Thánh nhân đã trở thành hạt lúa mì được vùi sâu trong lòng đất, thối rữa và mọc lên thành cây tươi tốt trổ sinh nhiều bông hạt tốt đẹp. Thánh nhân đã thực hiện lời của Chúa Giêsu: ”Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” ( Ga 15, 13 ).

    Lạy thánh Callistô I, giáo hoàng tử đạo xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con cũng dám can đảm làm chứng cho Chúa tình yêu. Amen.

    Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
     
  11. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 15 tháng 10

    Thánh TÊRÊSA AVILA, Trinh nữ, Tiến sĩ Hội Thánh (1515-1585)

    Sinh ngày 28-3-1515, Têrêxa là một trong 12 người con của ông Anphong Cpêda, lớn lên tại Avila, vương quốc Castille, miền đất của mộng mơ và của các thánh. Ngài ham thích đọc các sách dạy sống khổ hạnh và suy gẫm cuộc đời các thánh. Với lòng nhiệt thành, ngài ngây ngất vì hạnh phúc vĩnh cửu ân thưởng cho những đau khổ của các thánh, cũng như kính sợ những khốn khổ của hoả ngục tồn tại mãi mãi. Ngài đã nói trong run sợ: Ai có thể chịu nổi cái ý nghĩ như vậy được?

    Mong mỏi được tử đạo, một ngày kia, ngài lén dẫn cậu em Rodrigue đi về miền dân dữ tợn đang hành hạ các Kitô hữu này. Nhưng mới đi được nửa dặm đường thì ông cậu bắt được và dẫn đưa về nhà. Không tử đạo được, các em sẽ trở thành những nhà ẩn tu. Các em làm những cái hầm và cầu nguyện lâu giờ tại đó. Nhưng rồi một ngày kia, những bức tường nhỏ bằng đá bị sập. Các em nhỏ thánh thiện này thường nhịn ăn để làm việc bác ái.

    Năm 13 tuổi, tức năm 1528, Têrêxa mất mẹ, ngài khấn nài Mẹ Maria là Mẹ. Chuỗi Mân Côi trở thành vịệc sùng kính đặc biệt của ngài.

    Têrêxa có một bản chất ngay thẳng, nhiệt hành và tha thiết mến Chúa. Khoảng 15 tuổi, ngài lén đọc các truyện kiếm hiệp làm cho ngài ra mơ mộng, lúc này, ngài muốn mặc đẹp, xức dầu thơm, lo trang sức và thích được ve vãn. Chị em cho ngài xinh đẹp. Một cô em họ ngây ngất không muốn rời xa ngài. Họ nói chuyện phiếm với nhau hàng giờ. Têrêxa nói: Tôi được cứu thoát chính là vì kính sợ Chúa, điều mà tôi không bao giờ bỏ mất, và vì sợ mất danh dự.

    Ngài còn nói: Tôi đã rất ghê tởm những điều bất lương.

    Dầu vậy cha ngài cũng lo âu và quyết định gửi ngài học nội trú ở nơi các nữ tu dòng Thánh Augustinô. Têrêxa không thích thú gì, nhất là đã không hề muốn rằng sau này mình sẽ là nữ tu. Nhưng ngài phải vâng lời. Và ngài sắp tìm lại được lòng đạo đức nhiệt thành của tuổi thơ khi sống gần các bậc thầy này. Hơn khi nào, ngài khao khát những của cải đời đời. Nhưng đời sống khắc khổ trong tu viện làm ngài run sợ.

    Têrêxa ngã bệnh. Ngài trở về nhà cha và nghe ông cậu nhắc lại rằng mọi sự đời này chỉ là phù vân và sẽ qua mau như chớp. Sau cùng ngài hiểu rằng: ơn gọi của mình là sống đời tu sĩ. Nhưng những chống đối dữ dội nổi lên trong lòng. Hơn nữa, ngài phải coi thường những chối từ của cha ngài. Năm 1536, ngài vào dòng kín Camelô, sau khi phải chịu đựng cuộc chiến đấu kinh khủng với chính mình: để giã từ nhà cha, ngài khổ sở đến độ xương cốt như rã rời và tan nát con tim. Nhưng rồi ngài đã mạnh mẽ thắng vượt mọi cám dỗ đau khổ.

    Têrêxa đã trải qua 27 năm tại tu viện Nhập Thể, là nơi luật lệ được châm chước cho phép giải trí và tiếp khách, ngài còn phải qua một bước dài trước khi dấn mình vào con đường cực nhọc để xây dựng và cải tổ các dòng tu. Trước hết, sức khoẻ của ngài xem ra không chịu đựng nổi. Bệnh tật, ngài trở về nhà, các bác sĩ tuyên bố là bất trị, ngài tín thác vào Thánh Giuse và khỏi bệnh sau một cơn ngất trí. Trở lại tu viện, ngài được chị em yêu mến.

    Cách nói chuyện hấp dẫn của ngài lôi kéo nhiều cuộc viếng thăm. Ngài kể lại:

    - Một đàng Chúa gọi tôi, đàng khác thì thế gian lôi kéo. Cuộc chiến nội tâm xâu xé tôi.

    Ngày kia trong một câu chuyện trần tục, ngài đã được thị kiến thấy Chúa Giêsu đầy thương tích. Têrêxa thấy đau lòng, nhưng ngài còn phải chiến đấu nhiều để đạt tới chỗ chỉ yêu các tạo vật trong Chúa và vì Chúa. Trong nhiều năm, ngài đã trải qua sự khô khan, qua cơn sợ hãi hoả ngục. Trong vòng 20 năm, ngài đã không tìm ra cha giải tội hiểu được ngài và muốn bàn về việc thị kiến. Thánh Phanxicô Borgia đã trấn an ngài. Sau cùng, các cha giải tội buộc ngài ghi lại điều đã xảy ra trong tâm hồn. Và thánh nữ, một con người ít học, đã viết nên được những tác phẩm có giá trị, đến nỗi ngài đã đáng được danh hiệu là Tiến sĩ Hội Thánh.

    Nếu trước hết, sự sợ hãi các khổ cực đời đời đã dẫn Têrêxa vào đường hẹp đưa tới chỗ cứu rỗi thì bây giờ tình yêu Chúa xâm chiếm ngài như cơn hoả hào. Các cuộc xuất thần tăng thêm. Ba Ngôi, Đức Trinh Nữ, các thiên thần và các thánh hiện ra với ngài. Ngài được nâng lên khỏi mặt đất và ở nguyên như vậy khi cầu nguyện. Vào tuổi 43, thánh nữ thường thấy Đấng Cứu Thế và nghe Người nói:

    - Cha không muốn con nói chuyện với loài người, nhưng với các thiên thần.

    Một thiên thần dùng giáo đâm thủng tim ngài và Chúa Giêsu gọi ngài là hiền thê. Cho tới cuối đời, ngài đã hiệp nhất với Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh và đã ước được chịu khổ vì Người đến nỗi người ta thường nghe ngài kêu lên:

    - Lạy Chúa, hoặc là chết, hoặc là đau khổ.

    Ngài tự ràng buộc bởi lời khấn anh hùng này, là luôn làm điều thiện hảo hơn, nhưng lại chẳng tỏ ra nhiệm nhặt chút nào, trái lại còn nhanh nhẹn vui tươi duyên dáng tới độ mua vui cho các nữ tu dòng kín Camêlô. Vị nữ tu chiêm niệm này còn tỏ lộ một sự hiểu biết tích cực, một tinh thần thực tiễn sẽ đưa ngài tới cuộc cải tổ dòng Camelô.

    Định mệnh đặc biệt sắp đưa ngài qua mọi chặng đường để thiết lập các tu viện. Trước hết năm 1562, khép mình ở Avila nhưng một nhà mang danh thánh Giuse, là nơi các nữ tu sống trong thinh lặng, nghèo khó, cầu nguyện, chay tịnh, đi chân không trong mọi mùa, Têrêxa ra khỏi nơi này và không ngừng thiết lập, tổ chức những tu viện mới. Hầu như luôn luôn bệnh hoạn, ngài theo đuổi những cuộc hành trình mệt lả trước sự nóng nung, làm mồi cho các côn trùng tấn công hay những đêm lạnh lẽo mùa đông đã giữ ngài lại trong những đoạn đường không tên không có nơi trú ẩn. Những cuộc bắt bớ tấn công ngài. Ngài viết cho một ân nhân: Cho tiền bạc chẳng là gì, nhưng khi chúng tôi như đến lúc bị ném đá, thì công việc lại trôi chảy.

    Và khi ngài đã vượt thắng mọi ngăn trở và thiết lập các tu viện mới, cơn đau đớn nhức nhối lại đợi chờ ngài vì phải giã từ con cái yêu dấu để ra đi xây dựng tu viện ở nơi khác. Đây là: Nỗi thống khổ đớn đau nhất. Tim tôi tan nát đau khổ nghĩ rằng: sẽ không còn gặp lại họ nữa.

    Thánh Gioan Thánh Giá trợ lực, ngài trải rộng việc canh tân tới các cha dòng Carmes mà ngài muốn tái lập sự nghiêm ngặt ban đầu, điều gây nên cho ngài nhiều xôn xao và dường như làm cho ngài bị cầm tù. Nhà vua và đức giáo hoàng bảo vệ ngài. Ngài đã thiết lập hơn 30 tu viện. Hoạt động chưa từng nghe thấy của ngài, những việc thiết lập, những cuộc du hành, những khó khăn vô số... đã không ngăn cản ngài vui hưởng sự hiện diện của Chúa, kiên trì cầu nguyện, và thường xuất thần, ngài nói: Tôi không hiểu tại sao người ta bảo tôi là nhà sáng lập, chính Chúa sáng lập chứ không phải tôi.

    Người ta còn nói lại những phép lạ của ngài, như tăng thêm đống bột để nuôi cả cộng đoàn. Khi đi qua đồng quê, nhiều gia đình lũ lượt xin ngài ban phép lành.

    Giữa các hoạt động lạ lùng, Têrêxa vẫn viết về đời mình mà ngài gọi là sách các kỳ công của Chúa, và “Lâu Đài Nội Tâm” là nơi tâm hồn ngài, từng phòng một vươn tới uy linh Chúa. Với sự linh hoạt, ngài biết dùng vài lời tóm gọn tất cả sự thánh thiện:

    - Phải can đảm để trở thành phụ nữ của vua trên trời.

    - Đừng lo suy nghĩ nhiều, nhưng là yêu nhiều.

    - Ta nhân đức hơn khi liên kết với nhân đức của Chúa, hơn là dính chặt với phận bụi đất của ta.

    - Nỗ lực của ta là bắt chước con tằm, xây tổ của ta bằng cách tẩy trừ ích kỷ và thực hiện những việc xám hối cầu nguyện, hy sinh, vâng lời. Thiên Chúa sẽ biến ta thành bướm trắng khi Ngài muốn.

    - Quan trọng là biết yêu mến và kính sợ, hai nhân đức vĩ đại.

    - Khi bị đau khổ bên ngoài cần chăm lo làm việc bác ái và biết hy vọng vào lòng thương xót của Chúa.

    Ngài có chút hài hước trong sự thánh thiện, như lời hóm hỉnh được biết đến nhiều, khi ngài bị thương ở chân: Lạy Chúa, sau bao nhiêu phiền muộn lại đến chuyện đó nữa, Cha đối xử với bạn hữu của cha như thế đó… Vâng lạy Chúa của con, không lạ gì mà Chúa ít bạn.

    Lòng ngài rảo khắp thế giới: Những người Ấn Độ nghèo khổ này làm tôi đổ bao nhiêu là nước mắt.

    Têrêxa qua đời tại miền quê ở Albe de Tormès ngày 4-10-1583. Chính tình yêu quá mức hơn là con bệnh đã đưa tới cái chết của ngài. Khi đưa Thánh Thể vào phòng, ngài đã ngăn cho ngài khỏi tung ra khỏi giường. Ngài đã la to: “Lạy Chúa, đến lúc chúng ta gặp nhau rồi”. Và đời đời, Têrêxa đã hiệp nhất với tình yêu.

    Ngài được phong thánh năm 1628 và ngày 27-9-1970. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã đặt ngài làm Tiến sĩ Hội Thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 17 tháng Mười 2017 at 8:10 PM
  12. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 16 tháng 10

    Thánh HEDVIGA, Nữ tu (1174-1243)

    Thánh nữ Hedviga sinh tại Bavaria vào khoảng năm 1174. Ngay từ hồi 4 tuổi, ngài đã được gửi học tại tu viện. Lên 12 tuổi, ngài kết hôn với Henri, bá tước miền Silêsia.

    20 tuổi, Thánh nữ Hedviga đã là mẹ của 6 người con, 3 trai 3 gái. Năm 1209, họ quyết định hiến thân cho Thiên Chúa để sống đời khiết tịnh nhưng vẫn chu toàn trách vụ thuộc bổn phận mình. Họ sống như anh em, lo cho con cái lẫn các gia nhân sống đạo đức mà không dung túng cho bất cứ một chuyện dèm pha nào. Mỗi ngày nữ bá tước nuôi cho 13 người ăn, để kính Chúa Giêsu và 12 tông đồ. Ngài mặc một áo nhặm bên trong các y phục thường ngày, khiến ngài phải chịu nhiều hy sinh lớn lao.

    Nhưng các đau khổ tinh thần còn lớn lao hơn, như xé nát lòng người. Vị bá tước dầu đáng kính nhưng lại có khuyết điểm là thương riêng Conrad, người con thứ hơn các người con khác. Ông coi Conrad như người kế vị mình. Sự thiên tư này đã là nguồn gốc gây nên mối thù oán... dữ dằn giữa người anh út với anh mình. Họ gây chiến đấu với nhau và Conrad bại trận. Sau đó ít lâu, Conrad từ trần trong tinh thần sám hối. Nhưng những tranh chấp tương tàn và những cái tang này đã làm cho vị bá tước còn tránh xa thế sư hơn nữa.

    Thánh nữ Hedviga thiết lập một nhà dòng khổ tu ở gần Breslau... Gertrude, người con gái duy nhất còn sống cho tới khi thánh nữ từ trần sẽ làm bề trên tu viện này. Nơi đây các em gái mồ côi và nghèo túng tìm được chỗ dung thân, chúng được đào tạo để trở nên những bà mẹ tốt trong gia đình hơn là để theo đuổi ơn kêu gọi. Riêng Thánh nữ Hedviga lại đóng vai trò người tôi tớ rửa chân cho các người phong cùi. Lời ngài mang lại hạnh phúc cho những ai tới gần và gặp gỡ ngài.

    Trong một cuộc chiến, bá tước Henri bị bá tước miền Warzava cầm tù. Ông này từ chối mọi thoả hiệp, để cứu cha, công tử Henri II muốn khởi binh. Nhưng Thánh nữ Hedviga muốn tránh đổ máu nhiều hơn nữa, ngài đích thân đến gặp kẻ chiến thắng. Gặp ngài, ông ta bỗng dịu lại và chấp nhận thoả hiệp. Vị bá tước được trả tự do. Nhưng vì vết thương quá trầm trọng, ông qua đời năm 1238.

    Hedviga đau lòng, nhưng vâng ý Chúa, ngài mặc áo dòng ở Treibnitz, và dù không tuyên bố lời khấn, ngài trung thành với các bổn phận, dưới sự điều khiển của con mình là Gertrude. Làm những việc thấp hèn, phục vụ những người nghèo khổ, ngài nói với các nữ tu: Các chị là hôn thê của Chúa Giêsu, còn tôi chỉ là tôi tớ Người.

    Sau 3 năm goá bụa, Thánh Hedviga còn chịu một nỗi thống khổ chót, đó là cái chết của Henri II... Ông đã ngã gục trong cuộc chiến chống lại người Rartares. Thánh nữ Hedviga đã linh cảm thấy trước về cái chết này. Một bản tường thuật ghi lại rằng, vào một buổi tối hôm khởi chiến, thánh nữ đánh thức một chị bạn và nói: Demundis ơi! Chị biết, tôi đã mất con rồi. Đứa con yêu dấu đã xa tôi như con chim gãy cánh. Tôi sẽ không còn thấy nó trên trần gian này nữa.

    Ba ngày sau, một nguồn tin xác quyết này, Thánh Hedviga nói:

    - Đó là ý Chúa. Điều Chúa muốn và vui thoả cũng phải làm cho chúng ta mãn nguyện.

    Và vui mừng trong Chúa Ngài nói: Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã ban cho con được những đứa con như vậy. Suốt đời nó thương mến con và không hề làm gì cho con đau lòng. Con muốn có nó trong đời. Nhưng con hết lòng chúc tụng Chúa về việc đổ máu của nó, khiến nó được kết hợp với Chúa trên trời là Đấng tạo thành nên nó.

    Thánh nữ vẫn tiếp tục theo đuổi con đường thăng tiến. Ngài đã trải qua những buổi cầu nguyện thâu đêm. Các sử gia còn ghi lại nhiều phép lạ thánh nữ đã thực hiện. Cuối cùng, ngài được mạc khải cho biết trước giờ chết của mình.

    Dầu không có gì trầm trọng, ngài đã xin được lãnh các bí tích sau hết. Khi vừa rước Mình Thánh Chúa và cầu nguyện được hai tiếng: “Lạy Chúa, Lạy Chúa” thì ngài từ trần. Hôm đó là ngày 15-10-1243. Năm 1267, nghĩa là 24 năm sau, ngài được tôn phong lên bậc hiển thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~

    Ngày 16 tháng 10

    Thánh MAGARITA MARIA ALACOQUE, Trinh nữ (1647-1690)

    Thánh Magarita sinh ngày 22-6-1674 tại Lauthecour miền Charolais. Ngài là con thư năm của ông Claude Alacoque, một viên chức triều đình. Khác với các trẻ em cùng tuổi chỉ ham chơi, Magarita dường như hiểu rằng chỉ có yêu mến Chúa mới là điều quan trọng. Biết được điều gì không đẹp lòng Chúa là ngài bỏ ngay. Mới 4 tuổi, ngài đã lần chuỗi Mân côi hằng ngày và thường lẻn vào rừng để suy gẫm cầu nguyện.

    Lên 8 tuổi, Magarita gặp thử thách lớn lao. Cha ngài từ trần. Không đòi được tiền nợ. Mẹ ngài phải dẫn con về quê ngoại, sống với những người tham lam quê mùa. Họ rút tỉa gia tài của gia đình ngài đến nỗi phải đi ở đợ. Magarita được gửi học tại tu viện Thánh Clara. Nơi đây, ngài được rước lễ lần đầu vào khoảng 9 tuổi.

    Magarita lại gặp một thử thách nữa vào năm 14 tuổi. Khi ấy ngài ngã bệnh nặng. Nhưng rồi ngài đã được chữa lành sau khi khấn hứa sẽ trở thành con Đức Mẹ. Khỏi bệnh, ngài bị cám dỗ sống đời vui chơi phù phiếm. Không chịu thoả hiệp với nếp sống như thế, ngài bị người chung quanh đối xử tàn tệ. Muốn đi dự lễ, ngài phải mượn áo. Có những ngày ngài bị bỏ đói. Khi mẹ lâm bệnh, ngài phải đi ăn xin để chạy chữa cho mẹ. Dầu vậy, ngài chỉ ham đọc truyện các thánh và muốn bắt chước các ngài, sống đời hy sinh bác ái.

    Biết Chúa gọi mình, Magarita cố gắng để mình đỡ bất xứng với ơn gọi. Nhân dịp năm thánh, ngài xưng tội chung và đã mất 15 ngày để xét mình. Hai mươi tuổi, ngài được thêm sức và nhận thêm tên thánh Maria. Sau nhiều chiến đấu cực nhọc, ngay với chính mình, tháng 6-1671, Magarita vào dòng thăm viếng ở Paray-le-Monnical, sống với 40 nữ tu quý phái mà một số không có ơn kêu gọi.

    Trong cuộc tĩnh tâm dọn mình khấn dòng, Chúa nói với ngài: Này là vết thương cạnh sườn Cha, nơi đây con hãy ẩn náu bây giờ và mãi mãi.

    Ngày 6-11-1672, ngài khấn dòng. Ngài được Chúa Giêsu cho thấy một thánh giá phủ đầy hoa và nói: Đây là giường các bạn tình trinh khiết của ta nằm, dần dần hoa rụng xuống và chỉ còn lại những gai. Thị kiến này tiên báo cuộc đời đầy chông gai thánh nữ sẽ trải qua. Nhưng ngài chỉ biết hiến thân cho Chúa “như một tấm vải căng trước mặt hoạ sĩ”. Ngài sẽ còn xuất thần và được nhiều thị kiến nữa.

    Thị kiến đầu tiên trong bốn thị kiến quan trọng xảy ra vào dịp này, Chúa Giêsu tỏ trái tim Người ra: Trái tim Cha cháy lửa yêu thương đối với loài người và cách riêng đối với con, đến nỗi không còn giữ trong lòng được nữa, ngọn lửa này con phải trải rộng ra.

    Chúa Giêsu đã xin thánh nữ trái tim của ngài và đặt vào lòng mình. Ngài cảm thấy như ở trong hoả lò. Khi Chúa Giêsu trả lại trái tim, MAGARITA phải chịu mãi cơn đau đớn bên sườn và phải trích máu cho nhẹ bớt cơn đau.

    Trong thị kiến thứ hai, thánh nữ viết: Người quả quyết với tôi rằng: chúng ta phải tôn kính trái tim Chúa dưới hình thể trái tim con người.

    Thị kiến thứ ba diễn ra ngày thư sáu đầu tháng nào đó không được rõ. Đức Kitô dạy ngài rước lễ mỗi thứ sáu đầu tháng.

    Những thị kiến này kéo theo một thứ đau đớn thân xác. Thánh nữ đều vui nhận hết. Tuy nhiên ngài còn bị dằn vặt về tinh thần. Bề trên và chị em trong dòng cho rằng: ngài bị ám ảnh vì bệnh hoạn, đến mùa thu năm 1674, Thiên Chúa hứa gửi một tôi tớ để trợ lực thánh nữ. Tháng 2-1675, Cha Claude la Colombiere khấn trọn tại Lyon. Ngay sau đó, cha được cử về làm bề trên dòng tên ở Paray, dưới sự ngạc nhiên của tất cả những ai đã theo dõi việc làm sáng giá của cha ở Paris.

    Không hề có kinh nghiệm về những cuộc xuất thần, cha có trí khôn rất bén nhạy và bằng lòng với việc yêu mến Chúa Kitô trong “mây mù của sự bất tri”. Khi gặp Magarita, cha đã nói với mẹ Samaise: Chị là một linh hồn ưu tuyển.

    Cha đã xác quyết cho thánh nữ về đường lối của ngài.

    Thị kiến trọng đại nhất diễn ra trong tuần bát nhật kính Mình Thánh Chúa năm 1676. Trước Thánh Thể trưng kính trên bàn thờ, thánh nữ đã nghe những lời này: Này là Trái Tim đã yêu thương loài người không còn tiếc rẻ gì, đến độ mỏi mòn tiêu hao để làm chứng tình yêu đối với họ.

    Và xin thánh nữ dành riêng ngày thứ sáu sáu tuần bát nhật kính Thánh Thể, để tôn thờ Trái Tim Người. Hôm đó, người ta rước lễ và long trọng làm việc đền tạ. Cha Lolombière dạy thánh nữ viết ra tất cả các thị kiến của ngài rước khi cha dời đi Luân Đôn.

    Cuộc bách hại của cộng đoàn lên tới cao điểm ngày 20-11-1677, Chúa đã đòi Thánh nữ Magarita dâng mình làm hiến vật cho sự công thẳng của Chúa, để đền bù những tội phản nghịch cùng đức ái của cộng đoàn. Khi thánh nữ quỳ xuống để làm như vậy, thì mọi người nghĩ rằng: ngài bị mất trí. Đêm hôm sau thật khó tin nổi. Ngài nói rằng: đau khổ trong đời gộp lại cũng không thể sánh nổi với những gì ngài đã phải chịu đêm ấy.

    Lễ Lên Trời năm 1678, mẹ Saumaise rời chức vụ. Ngày 17-6, mẹ Greyfié được Chúa quan phòng đưa lên để làm sáng tỏ vấn đề. Trắc nghiệm thánh nữ, mẹ thấy thánh nữ rất mực khiêm tốn. Mẹ còn quyết định rằng: thánh nữ phải được lành bệnh hoàn toàn trong một thời gian nhất định, để chứng tỏ rằng các thị kiến là chân thực.

    Năm 1684, mẹ Greyjié rời Paray, một thế hệ các nữ tu trẻ xuất hiện. Magarita được chỉ định làm giáo tập. Ngày 20-6-1685, lễ thánh Magarita nhằm ngày thứ sáu, Magarita dạy các tập sinh, thay vì tặng quà cho ngài, hãy dâng cho Chúa một vinh dự. Họ dọn một bàn thờ nhỏ và đặt hình Trái Tim bị thương tích có mão gai và lửa chung quanh. Tháng 6-1686, các nữ tu tôn kính Trái Tim Chúa trong nguyện đường. Ngày 7-9-1688, một nguyện đường nhỏ đầu tiên trong vườn được thánh thiến để kính Trái Tim.

    Ngày 8-10-1960, Magarita bị bệnh và ngày 17-10 năm đó ngài từ trần, lúc 43 tuổi. Các nữ tu thấy ngài trở nên xinh đẹp lạ lùng. Ngài được phong chân phước năm 1864 và phong thánh 1920.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  13. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 17 tháng 10

    Thánh INHAXIÔ thành Antiokia, Giám Mục, Tử Đạo (+107)

    Người ta nghĩ rằng: Thánh Inhaxiô thành Antiôkia chính là đứa trẻ mà Chúa Giêsu đã ôm vào lòng và đặt giữa các tông đồ để làm gương mẫu về lòng trong trắng và đức khiêm tốn Kitô giáo. Vài tác giả còn quả quyết rằng: ngài là đứa trẻ đưa 5 chiếc bánh và 2 con cá cho Chúa Giêsu làm pháp lạ nuôi 500 người ăn. Điều chắc chắn là ngài đã được đặt làm giám mục thứ nhì kế vị Thánh Phêrô tại Antiôkia khoảng năm 68, sau khi Thánh Giám mục Evôda qua đời. Suốt 40 năm cai quản giáo phận, kể cả những năm bị bách hại dưới triều Domitianô, ngài đã tỏ ra là một giám mục gương mẫu về mọi nhân đức.

    15 năm bình lặng sau cái chết của bạo vương Domitianô qua đi, cơn bách hại lại nhen nhúm ở vài tỉnh dưới thời Trajanô. Vị hoàng đế cuồng tín này cho rằng: mình đạt được nhiều chiến thắng là nhờ các thần minh. Ông coi việc bách hại các tín hữu Chúa là một nghĩa cử để tỏ lòng biết ơn các thần minh. Tháng giêng năm 107, ông tới Antiôkia. Được biết tại đây có Giám mục Inhaxiô đã không vâng lệnh thờ cúng tượng thần, lại còn ngăn cản người khác, ông truyền điệu ngài tới để xét hỏi. Sau khi đe doạ và dụ dỗ đủ cách mà vô hiệu, ông kết án vị giám mục thánh thiện này phải điệu về Roma cho thú vật xâu xé.

    Cuộc hành trình về Roma mang sắc thái một cuộc khải hoàn. Mỗi khi con tàu dừng bến nào, dân chúng đều tuốn đến chào kính vị tử đạo. Nhân dịp này, Thánh Inhaxiô có dịp tiếp xúc với nhiều giáo đoàn và đã viết 7 bức thư cho các Giáo hội. Tuy vậy, chuyến đi không dễ chịu gì. Bọn lính áp giải đã cố tình hành hạ thánh nhân để mong được các tín hữu ngưỡng mộ ngài đút lót tiền bạc. Thánh nhân viết với lòng khiêm tốn:

    - Trên đất liền hay ngoài biển khơi, ngày đêm tôi phải chiến đấu với các súc vật, bị xiềng vào mười con sư tử. Tôi muốn nói là những người lính canh giữ tôi. Người ta càng cho tiền, họ càng hung dữ. Những người đối xử tàn tệ của họ là trường đào luyện tôi mọi ngày, nhưng không phải vì vậy mà tôi được nên công chính đâu.

    Ở Smyrna, Thánh Inhaxiô đã gặp Thánh Pôlycarpô. Vị giám mục thánh thiện này cũng là môn đệ của Thánh Gioan như Thánh Inhaxiô. Thánh Pôlycarpô đã hôn xiềng xích của người bạn lừng danh. Tại đây, Thánh Inhaxiôco có dịp gặp đại diện của nhiều Giáo Hội tới thăm. Biết rằng ở Ahila Delphia có sự chia rẽ trong hàng giáo sĩ, ngài đã viết thư khuyên nhủ họ:

    - Hãy tránh xa những phân rẽ và các giáo thuyết nguy hiểm. Hãy theo mục tử các bạn khắp nơi như đoàn chiên. Tôi vui sướng hết mực những góp phần củng cố đức tin các bạn, nhưng không phải do tôi mà do Chúa Giêsu Kitô. Được mang xiềng xích vì danh Chúa, hơn lúc nào, tôi cảm thấy mình còn quá xa sự trọn lành. Nhưng kinh nguyện của các bạn sẽ làm cho tôi được xứng đáng với Thiên Chúa và với di sản mà lòng nhân từ và đã dọn sẵn cho tôi.

    Các thư của các thánh nhân gửi riêng cho mỗi nơi, ngài ca tụng tinh thần kỷ luật của tín hữu Manhêsianô (Magnésiens): Tôi hãnh diện được gặp các bạn nơi cá nhân Đức Giám mục Damas của các bạn. Tuổi trẻ của ngài không được nên cớ để các bạn suồng sã với ngài. Các bạn cần phải tôn kính chính Thiên Chúa là Cha nơi ngài.

    Với dân Trallianô (Tralliens), ngài viết: “Hãy yêu thương nhau. Xin cầu nguyện cho tôi nữa. Tôi cần đức ái và lòng nhân hậu Chúa để được nhận vào hưởng gia nghiệp mà tôi đã sẵn sàng chiếm hữu”.

    Nhưng ngài sợ dân Rôma, vì nhiệt tâm mà cất mất triều thiên tử đạo của mình. Nhờ một du khách đi Italia, ngài khẩn khoản: “Các bạn không thể trao tặng cho tôi một bằng chứng quý mến nào khác, là để cho tôi được tế hiến mình cho Thiên Chúa. Ân huệ tôi van xin các bạn là hãy hát bài ca cám tạ ơn Chúa mà nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kitô, Đức Giám mục Smyrna bên Tây phương đã được, để ngài được đưa vào vinh quang. Hãy để cho tôi thành của ăn nuôi thú vật, hầu tôi được vui hưởng Thiên Chúa, Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa. Tôi cần được răng thú dữ nghiền nát để trở thành bánh tinh tuyền của Chúa Kitô.

    Tốt hơn, hãy săn sóc các thú vật này để chúng thành nấm mồ của tôi. Chính lúc này tôi đang trở nên một môn đệ chân chính. Chớ gì những hình khổ độc dữ nhất đổ xuống mình tôi, miễn là tôi được Chúa Giêsu Kitô. Được cả thế gia này nào có ích lợi gì cho tôi? Tôi chỉ ước mong được kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô...

    Ngài còn viết thêm: Ước mơ của tôi là được đóng đinh vào thập giá. Trong tôi chỉ có một dòng nước hằng sống vẫn rì rầm lời kêu gọi: Hãy về với Cha.

    Thánh nhân còn viết nhiều điều khác nữa, bàn về chân lý đức tin, kỷ luật Giáo Hội và những sai lầm nguy hại.

    Ngày 20 tháng 12 năm 107 là ngày cuối cuộc vui cũng là ngày Thánh Inhaxiô tới Roma. Sau khi đọc bức thư của nhà vua, quan tổng trấn truyền đem thánh nhân đến thẳng hí trường. Dân chúng đang tụ họp đông đảo. Ngài lặp lại câu nói đã viết trong trường hợp gửi dân Roma: “Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa. Tôi cần được răng thú dữ nghiền nát để trở thánh bánh tinh tuyền của Chúa Kitô”. Hai con sư tử gầm rống và bổ tới thánh nhân mà cắn xé. Người ta kính cẩn thu nhặt những khúc xương còn lại và đưa về Antiôkia. Dưới thời Hêracliô, xương ngài lại được đưa về Roma.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  14. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 18 tháng 10

    Thánh LUCA THÁNH SỬ (Thế kỷ I)

    Thánh Luca, tác giả Phúc Âm thứ ba và sách Công vụ Tông đồ, là người đóng góp đơn độc và rông rãi nhất cho Tân ước. Như các tác phẩm cho thấy, ngài là một trong những Kitô hữu có học nhất thời Giáo Hội ly khai. Dầu vậy, ngài rất mực khiêm tốn và ẩn mình đi đến nỗi dù một chút gì chúng ta biết về ngài cũng phải đọc trong những dòng chữ của ngài bằng kính phóng đại. Chúng ta chú mục vào những chỗ “nhóm chúng tôi” thay vì “họ”, nghĩa là ngài nhận sự có mặt của mình trong khung cảnh chuyển nó vào những dẫn chứng rời rạc trong Thánh Phaolô, tìm những khuôn mặt xem ra rõ rệt nhất, phân tích việc chọn lựa và sử dụng từ ngữ của ngài. Dần dần hình ảnh của Thánh Luca nổi lên:

    Ngài tự bẩm sinh là người Hylạp, chứ không phải Dothái, nhưng theo ngôn ngữ và văn minh xem ra ngài đã không sinh ra tại những thành phố Hylạp lớn miền cận đông. Một tác giả thứ hai nói ngài sinh ra tại Antiôkia, Syria và khi những biến cố xảy ra dường như ngài đang sống ở đó trong thập niên 40 của thế kỷ đầu và đã là một trong những lương dân trở lại đầu tiên.

    Theo nghề nghiệp, ngài là y sĩ và rất có thể đã theo học đại học tại Tarse. Bởi đó có thể ngài đã có vài tiếp xúc trước với Thánh Phaolô khoảng năm 49 hay 50, ngài đã liên kết với Thánh Phaolô trong sứ vụ qua Tiểu Á tới Âu Châu. Dầu vậy khi tới Philipphê, Thánh Luca đã dừng lại đó, không phải là giám mục của Giáo Hội tân lập vì dường như thánh nhân đã không hề lãnh nhận chức thánh, nhưng đúng hơn ta có thể gọi là “thủ lãnh giáo dân”. Hơn nữa, ngài dường như dấn thân vào thành phần sử gia, một vai trò mà sự giáo dục và cố gắng rất phù hợp với ngài. Sự quan sát kỹ lưỡng và diễn tả chính xác là những từ ngữ của các trường thuốc Hylạp và các văn phẩm của Thánh Luca chứng tỏ để ngài đã biết áp dụng chúng vào lĩnh vực lịch sử.

    Dầu vậy, vào khoảng năm 57, Thánh Phaolô đã từ Côrintô trở lại qua Macedonia trên đường đi Giêrusalem, để thu thập các đại diện từ nhiều Giáo Hội khác nhau và Thánh Luca đã nhập bọn, từ đó trở đi ngài đã không hề rời xa thầy mình. Ngài đã chứng kiến việc người Dothái tìm cách hại Phaolô và việc người Roma giải cứu thánh nhân. Khi Phaolô đáp tàu đi Roma sau 2 năm bị tù ở Cêsarêa, Thánh Luca ở với ngài. Họ bị đắm tàu ở Malta và cùng tới Rôma. Nhưng ở Roma, Thánh Luca đã thấy một trách vụ khác đang chờ đón ngài. Roma là con mắt của Phêrô và người phát ngôn của Thánh Phêrô là Marcô đã xuất bản Phúc Âm viết tay của ngài.

    Nhưng còn những ký ức khác đã được viết ra hay truyền tụng rời rạc hoặc toàn bộ về cuộc đời của Chúa chúng ta trên trần gian. Thánh Luca đã quyết định rằng: sứ vụ cho lương dân cần một Phúc Âm mới, được viết ra bằng Hy ngữ văn chương hơn là Phúc Âm của Marcô cho hợp với lương dân có học và không dành riêng cho người Dothái như là Phúc Âm của Thánh Mathêo: việc trước tác sách này là phần tiếp theo sách Công Vụ Tông Đồ xem như hoàn thành tại Roma giữa năm 61 tới 70, nhưng Thánh Luca đã trốn cuộc bách hại của Nêrô và đã trải qua quãng đời còn lại tại Hy Lạp.

    Tài liệu thế kỷ thứ hai viết: “Trung thành phục vụ Chúa, không lập gia đình và không có con; ngài qua đời hưởng thọ 84 tuổi ở Boctica, đầy tràn Thánh Thần”.

    Thánh Luca là một vị thánh luôn luôn bình dân. Một phần có lẽ vì chúng ta hiểu rõ ngài là một giáo dân, thừa hưởng văn hoá Hylạp cổ. Hơn nữa, ngài bình dân vì đặc tính lương dân và dấn thân của mình. Tất cả văn phẩm của ngài đầy quan tâm đến con người, thương cảm con người, liên hệ tới người nghèo, hào hiệp với phụ nữ. Ngài cũng rất hấp dẫn bởi đã thu thập và kể lại vô số những công cuộc đầy nhân hậu của Chúa Kitô.

    Thật ra, người ta sẽ lầm lẫn khi dìm mất tính chất và giáo huấn nghiêm khắc của Chúa. Nhưng các y sĩ có thể hãnh diện về ngài vì chắc hắn không có y sĩ nào sẽ qua mặt được ngài về “tình yêu dành cho nhân loại”. Và những người còn lại trong chúng ta có thể biết ơn ngài vì nhờ ngài chúng ta có được dụ ngôn cây vả khô chồi (13,60, đứa con hoang đàng (15,11) và người Samaria nhân hậu (10,30). Chúng ta cũng biết ơn ngài vì câu chuyện người kẻ trộm thống hối và cả 5 mầu nhiệm Mân Côi mùa Vui.

    Nhưng trên tất cả, chúng ta mắc ơn ngài Kinh Ave “Ngợi khen” (Magnificat), chúc tụng (Benedictus), Phó dâng (Nuncdimittis) với quá phân nửa câu truyện ngày lễ Giáng Sinh. Rồi đây là chỗ mà sự khiêm tốn ẩn mình của thánh nhân xa rời chúng ta.

    Thánh Luca đã nghe truyện từ miệng Chúa không? Thánh nhân không nói điều này cho chúng ta nhưng rất có thể lắm. Chúng ta biết sau cuộc đóng đinh, Mẹ đã được Thánh Gioan săn sóc và chắc chắn đã có sự giao tiếp giữa hai thánh sử này. Nhưng trùng hợp của hai Phúc Âm (như về việc biến hình) hay những trùng hợp về ngôn ngữ trong phần đầu sách Công Vụ Tông Đồ, mạnh mẽ minh chứng điều này.

    Hơn nữa, nếu Thánh Luca được rửa tội ở Antiôkia khoảng năm 40 thì tự nhiên là có thể tìm gặp được Thánh Gioan ở Giêrusalem... Lúc ấy, Đức Mẹ trên dưới 70 tuổi. Như vậy, không có lý gì Thánh Luca lại không thể nghe chính môi miệng Mẹ kể chuyện. Mà dầu chuyện này có đến với ngài cách gián tiếp đi nữa, chúng ta vẫn biết ơn ngài đã lưu lại cho chúng ta những giai thoại đặc biệt ấy.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~~~~

    Ngày 18 tháng 10, Kính Thánh Sử Luca


     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 18 tháng Mười 2017 at 6:37 AM
  15. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 19 tháng 10

    Thánh Isaac Jogues và Gioan de Brebeuf và các bạn tử đạo

    Các Thánh Tử Ðạo Bắc Mỹ Châu


    Isaac Jogues (1607-1646): Thánh Isaac Jogues và các bạn là những người tử đạo đầu tiên của Bắc Mỹ Châu. Khi còn là một linh mục dòng Tên trẻ tuổi, ngài là một người có học thức và văn hóa, dạy văn chương ở Pháp. Nhưng ngài đã từ bỏ công việc này để phục vụ người da đỏ Huron ở Tân Thế Giới, vào năm 1636 ngài và các bạn, dưới sự lãnh đạo của Cha Jean de Brebeuf, đã đến Québec. Thời ấy, người Huron thường hay giao chiến với người Iroquois, và chỉ sau vài năm Cha Jogues và các linh mục khác đã bị người Iroquois bắt và cầm tù trong 13 tháng. Các lá thư và nhật ký của ngài cho thấy các ngài đã bị đưa từ làng này sang làng khác, bị đánh đập, bị tra tấn và buộc phải nhìn thấy cảnh những người Huron trở lại đạo bị xẻo thịt và giết chết.

    Một cơ hội bất ngờ đã giúp Cha Isaac Jogues vượt thoát đến Hòa Lan, và ngài trở về Pháp với những chứng tích của sự tra tấn. Những ngón tay bị cứa, bị bầm dập và bị cháy nám. Ðức Giáo Hoàng Urbanô VIII đã cho phép ngài cử hành Thánh Lễ với bàn tay tàn tật: "Thật hổ thẹn nếu một vị tử đạo của Ðức Kitô không được phép uống Máu Thánh Ðức Kitô." Sau khi được chào đón như một vị anh hùng, người ta nghĩ Cha Jogues có thể nghỉ ngơi và và sống an nhàn cho đến tuổi già. Nhưng nhiệt huyết rao giảng Tin Mừng lại thúc giục ngài trở về với ước mơ ban đầu. Trong một vài tháng sau, ngài lại dong buồm sang truyền giáo cho người Huron.

    Vào năm 1646, Cha Jogues và Cha Jean de Lalande đến phần đất của người Iroquois với sự tin tưởng rằng người da đỏ sẽ tôn trọng hiệp ước hòa bình mới được ký kết. Nhưng ngay lập tức, các ngài đã bị phe gây chiến Mohawk bắt giữ, và vào ngày 18-10 Cha Jogues đã bị tra tấn bằng rìu và bị chặt đầu. Cha Jean de Lalande bị chết vào ngày hôm sau ở Ossernenon, một làng gần Albany, Nữu Ước.

    Một trong các vị thừa sai dòng Tên tử đạo đầu tiên là Cha Rene Goupil, là người cùng với Cha Lalande đã hy sinh mạng sống như của tế lễ. Ngài bị tra tấn cùng với Cha Isaac Jogues, và bị chém bằng rìu vì đã làm dấu Thánh Giá trên trán các trẻ em.

    Thánh Jean de Brebeuf (1593-1649): Jean de Brebeuf là một linh mục dòng Tên người Pháp, đến Gia Nã Ðại lúc 32 tuổi và làm việc ở đây trong vòng 24 năm. Khi nước Anh xâm chiếm Québec năm 1629 và trục xuất các linh mục dòng Tên thì ngài trở về Pháp, và bốn năm sau ngài trở lại hoạt động. Lúc ấy, người Huron bị dịch đậu mùa và người thầy thuốc của họ đổ lỗi cho các cha dòng Tên, nhưng Cha Jean vẫn ở lại đó.

    Ngài đã soạn bộ giáo lý và tự điển tiếng Huron, và được nhìn thấy 7,000 người trở lại đạo trước khi ngài từ trần. Ngài bị người Iroquois bắt và sau bốn giờ tra tấn dã man, ngài đã trút hơi thở cuối cùng ở Sainte Marie, gần Georgian Bay, Gia Nã Ðại.

    Cha Anthony Daniel, cũng phục vụ cho người Huron và bị người Iroquois giết chết vào ngày 4 tháng Bảy, 1648. Thi thể của ngài bị ném vào nhà nguyện và sau đó bị đốt cháy.

    Thầy Gabrien Lalemant, sau khi chịu chức bốn cũng đã hy sinh mạng sống cho người da đỏ. Cùng với Cha Brebeuf, ngài bị tra tấn cho đến chết.

    Cha Charles Garnier bị bắn chết khi ngài rửa tội cho các trẻ em và người dự tòng trong một cuộc tấn công của người Iroquois.

    Cha Noel Chabanel bị giết trước khi được gọi về Pháp. Ngài thấy thật khó khăn để thích ứng với đời sống truyền giáo. Ngài không thể học được tiếng thổ âm, và ghê tởm thức ăn và đời sống của người da đỏ, và ngài cảm thấy tinh thần thật khô khan trong thời gian ở Gia Nã Ðại. Tuy nhiên ngài đã giữ lời hứa ở lại đây cho đến chết trong sứ vụ truyền giáo.

    Tám vị linh mục dòng Tên tử đạo đầu tiên ở Bắc Mỹ Châu này đã được phong thánh vào năm 1930.


    Lời Bàn
    Ðức tin và đặc tính anh hùng đã in sâu niềm tin nơi thập giá Ðức Kitô trên quê hương Mỹ Châu. Giáo Hội Bắc Mỹ được phát sinh từ dòng máu tử đạo. Nhưng liệu chúng ta có còn hăng hái để giữ thập giá ấy vươn cao giữa chúng ta hay không? Chúng ta có còn can đảm để làm chứng cho đức tin đã ăn sâu nơi chúng ta, làm chứng cho Tin Mừng của thập giá cứu độ nơi gia đình, sở làm, và ngoài xã hội hay không?

    Lời Trích
    "Tôi tín thác vào Thiên Chúa là Ðấng không cần đến sự giúp đỡ của chúng ta để hoàn thành công trình của Người. Mỗi một nỗ lực của chúng ta là để giúp lập công và trung tín với Người, vậy chúng ta đừng làm hư hại công trình của Người bằng những khiếm khuyết của chúng ta" (trích từ lá thư Thánh Isaac Jogues gửi cho một linh mục bạn ở Pháp, ngày 12-9-1646, một tháng trước khi ngài tử vì đạo).

    (hailinhquehuong.com)

    ~~~~~~~~~~

    Ngày 19 tháng 10

    Thánh PHAOLÔ THÁNH GIÁ (1694-1775)

    Ít có biến cố đẹp mắt để ghi lại cuộc đời của Paul Prannes Daniel. Thường trọn đời ngài dành cho cầu nguyện, sám hối và tôn sùng cuộc tử nạn của Chúa. Ngài là dụng cụ phổ biến lòng tôn sùng này với dòng tu ngài thiết lập, dòng Thương khó. Ngài sinh tại miền bắc Ý năm 1694 trong một gia đình trung lưu đạo đức. Dầu cuộc sống ngài cho tới tuổi 15 đã diễn ra như cuộc sống bình thường của người Kitô hữu, nhưng vào thời này, ngài đã trải qua một loạt trở lại khiến ngài dâng trọn đời cho việc cầu nguyện hãm mình: ngài quỳ gối lâu giờ, thực hành những việc phạt xác như ngủ trên đất và ăn chay liên tục, nhờ đó ảnh hưởng đối với những người đương thời, khiến nhiều người đi tu dòng hay là một linh mục triều.

    Vào tuổi 20, việc gia nhập đạo quân Venise để bảo vệ Kitô giáo chống lại người Hồi cho thấy sau một thời lý tưởng ngài đã khác. Nhưng ngài đã trở lại đời sống cầu nguyện hãm mình.

    Sáu năm qua đi và chỉ đến lúc 26 tuổi, ngài mới thấy rõ hơn chuỗi ngày tương lai của mình trong một loạt các thị kiến. Ngài hiểu rằng: mình phải lập một dòng tu đặc biệt tôn sùng cuộc khổ nạn. Trước hết, ngài bắt đầu nếp sống mà tu sĩ dòng Thương Khó sẽ phải sống, trong khi phát ra một quy luật gửi về Roma xin phê chuẩn. Sau một ít khó khăn, luật này đã được chuẩn nhận. Ngài và em mình là Gioan Tẩy Giả đã lập dòng ở Mote Argentaro và nhận những tập sinh đầu tiên. Đức Bênêđictô XIV đã buộc giảm nhẹ đôi chút sự khắc khổ trong đời sống tu trì và đi rao giảng trong các miền lân cận.

    Phaolô là một nhà truyền giáo nhiệt thành rao giảng cuộc Thương Khó khắp nơi và gây được nhiều cuộc trở lại. Những năm cuối đời, ngài đã lập dòng các nữ tu thương khó. Bây giờ ngài được dân chúng coi như một vị thánh và mỗi khi đi qua đâu, ngài phải chịu đựng đám đông những người lo kiếm miếng vải áo ngài làm thánh tích, họ chạm tới ngài hay xin ngài chữa bệnh hoặc một ân huệ nào khác. Ngài qua đời ngày 18-10-1775 vào tuổi 80 và được phong thánh khoảng gần 1 thế kỷ sau, năm 1865.

    Điều lạ lùng là vị thánh người Ý không hề rời xa quê hương mình sinh trưởng lại rất quan tâm tới việc trở lại của nước Anh mà ngài biết đến rất ít. Ngài nói: “Nước Anh luôn ở trứơc mặt tôi và nếu nước Anh trở lại Công giáo thì ích lợi cho Giáo Hội vô kể”. Dầu bản thân ngài đã không thể đi bước tích cực nào để cải tiến vấn đề, cũng cần ghi lại rằng 65 năm sau khi ngài qua đời, một tu sĩ, dòng Thương Khó, anh Dominicô Barbeni, đã tới nước Anh và trở thành dụng cụ đưa về hiệp thông với Giáo hội John Henry Newman và nhiều người khác nữa, như thế là góp phần vào việc phục hồi đạo Công Giáo tại xứ sở này.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  16. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 23 tháng 10

    Thánh GIOAN CAPISTRANÔ, Dòng Phanxicô (1386-1456)

    Cha của Gioan là một nhà quý tộc người Pháp đã theo bá tước Anjon trong cuộc chinh vương quốc Naples. Để ân thưởng cho lòng can đảm, ông đã được chiếm những lãnh địa rộng lớn. Ông định cư tại Caoistranô và qua đời sớm sau khi cưới một thiếu nữ người Ý. Gioan con của ông theo học tại Perugia đã gia nhập ngành thẩm phán.

    Các tài năng của thánh nhân đã khiến cho thánh nhân được coi như hoàng tử của các luật gia. Được đặt làm nhà cầm quyền, thánh nhân hiểu rõ sự cao trọng trong sứ mạng của mình: dửng dưng với những đe doạ của các lãnh chúa, ngài quyết nâng đỡ những người nghèo khó. Một cư dân quý phái giàu có muốn gả con cho ngài. Tương lai rực rỡ trước mắt Gioan khi bất ngờ định mệnh đổi khác. Lãnh trách nhiệm hoà giải Perugia và Rimini, ngài bị tố cáo là đã thiên tư, bị bắt giam ở Rimini... trong một tháp canh.

    Gioan muốn tẩu thoát, bị gãy chân và nằm bẹp nhưng một hầm gia dưới đất. Trong tận cùng đau khổ, một tu sĩ dòng Phanxicô xuất hiện mời gọi ngài sống đời sống nghèo khó và bác ái. Gioan đã nhiệt thành đáp lời. Vừa khi được phóng thích, ngài bán mọi của cải, từ hôn và đến với các tu sĩ dòng Phanxicô ở Perugia. Chân phước Marcô thành Bergame nghi ngờ ơn gọi như vậy và đón nhận ngài với những lời chẳng hoà nhã chút nào: “Các tu viện không phải nơi trú chân của những kẻ lang thang hay chán đời. Phải có những thử thách khác để gia nhập một dòng tu. Tôi chỉ nhận anh khi anh nói lời từ giã những phù vân thế tục mà tôi sẽ chỉ cho anh”.

    Đây là một lời giã từ lừng danh, một thử thách nổi tiếng thánh nhân phải chịu. Perugia được chiêm ngưỡng nhà cầm quyền của họ diễu qua đường phố, quay ngược lại trên lưng lừa ăn mặc rách rưới, đầu đội nón có ghi những tội của mình bằng chữ lớn. Dân chúng nhạo cười, nhưng Gioan can đảm đón nhận mắng nhiếc.

    Tại nhà dòng, Gioan có một bậc thầy chỉ là trợ sĩ, anh Onuphre, người nghiên khắc lột bỏ con người cũ của ngài cách vĩnh viễn. Thêm vào những lời quở trách là những nghiêm nghị. Nhưng những bất công dày và phải được bình thản lãnh nhận, chẳng hạn ngày kia anh em giặt đồ đang đợi cho nước bớt nóng. Bỗng anh Onuphre đi tới. Bỏ qua mọi anh em khác, anh giận dữ phạt Gioan vì biếng nhác và lấy áo dài từ nước nóng bỏng ra thải vào mặt Gioan. Đáp lại, Gioan khiêm tốn đến quỳ trước mặt anh.

    Viên chức mãn nguyện còn tăng gấp đôi lòng nhiệt thành của ngài trong những công việc thấp hèn nhất, đồng thời vẫn học thần học thánh Bernadinô thành Sienua là thầy dạy, thán phục vì những bước tiến ngoại hạng của người đã nói: “Gioan ngủ mà học những điều mà người khác ngày đêm nỗ lực mới học được”. Dường như ngài có sự hiểu biết thiên phú, là nhà thần học sâu sắc và sắp thành nhà truyền giáo lớn của thời ngài.

    Gioan rảo qua các tỉnh thuộc nước Ý và dẫn về cho Chúa hàng triệu những kẻ lạc giáo và những tội nhân, ngài đã thăm các dòng tu ở Đông phương, góp phần hiệp nhất với người Armenia. Trở về ngài nổi bật tại Cộng đồng Florentinô và được đặt làm Sứ thần tại Sicile. Giữa những thành công rực rỡ. Gioan vẫn là con người cầu nguyện và sám hối. Ngài xây dựng các tu viện, chống lại lạc giáo. Các bài giảng của ngài thật phi thường. Thiên Chúa rõ ràng bao bọc ngài. Những người rối đạo lân la để biết chỗ ngài ở đâu. Giọng điệu của họ đủ cho thấy rõ số phận họ muốn dành cho ngài như thế nào. Gioan giản dị và êm ái trả lời: “Tôi đây”. Những người theo bè rối sững sờ và không làm gì hại ngài.

    Một huyền thoại bình dân kể rằng: thánh nhân khi giã từ Assisiô với các bạn để hoàn thành một sứ mệnh, bị từ chối không được chở qua sông gần Trévise vì người lái xe đoán rằng: đám người nghèo này sẽ không trả tiền. Thánh nhân trải áo của Bernađiô thầy mình trên sông. Nước sẽ rẽ ra và các tu sĩ qua bờ bên kia sông.

    Đức Giáo hoàng đã sai Gioan qua Đức, Hungari, Bohemia, Ba Lan. Cả thành ra đón ngài, lão già nhỏ bé khô khan kiệt sức nhưng vui tươi không mệt mỏi. Cả đoàn thính giả đã nghe ngài mỗi ngày. Sau đó, người ta công khai đốt các cỗ bài, những hình ảnh dâm ô, những đồ trang sức, mọi cái có hại cho tâm hồn.

    Đây là lửa hoả thiêu lâu đài của quỷ dữ. Ở Bohemia, sau một trong những bài giảng về sự phán xét, thánh nhân đã gây hứng khởi cho hơn 100 thanh niên ôm ấp đời sống tu trì. Các Đức giáo hoàng nối tiếp liên tiếp trao cho ngài những sứ mệnh đặc biệt.

    Người Hồi vừa mới xâm chiếm Constantinople. Mahomet tin rằng mình là thủ lãnh Kitô giáo. Không ông hoàng nào xem ra có thể ngăn cản nổi cuộc xâm lăng. Gioan Capistranô nhận được lệnh của Đức Giáo hoàng để cổ động đoàn quân thánh giá, ngài liên kết được 40.000 người và chọn Hunyade là một anh hùng làm thủ lãnh của họ. Quân hung bạo 4 lần đông hơn chế nhạo. Belgrade đã bị chiếm. Mọi sự xem ra đã mất hết. Gioan lao lên hàng đầu, tay cần kỳ hiệu và một thánh giá, khuyên các binh sĩ hoặc thắng hoặc chết. Địch quân rút lui, thành luỹ được cứu thoát.

    Vài tuần sau, Hunyade qua đời trong tay Gioan, người sống sót đã được lâu hơn ông ta một chút. Ngài tiến tới gần cái chết với sự bình thản hoàn toàn và các ông hoàng đã thán phục sự can đảm của ngài, bấy giờ phải bối rối trước sự khiêm tốn của vị thánh khi hấp hối, công khai thú nhận các lỗi lầm của mình.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    ~~~~~~~~~~~~~~~

    Ngày 23 tháng 10

    Thánh Phaolô Tống Viết Bường, quan Thị Vệ
    (Bị bắt tháng 12-1832, xử trảm 23-10-1833)

    Quan đội Tống Viết Bường sinh tại Phủ Cam gần kinh thành Huế, trong một gia đình Công Giáo và có chức tước trong triều đình. Trong thời gian đi lính, ngài tỏ ra lanh lợi và can đảm nên được vua Minh Mệnh cho làm cai đội coi 50 người, về sau ngài còn được cất nhắc lên làm quan thị vệ. Quan Phaolô Bường một mực giữ đạo, hết lòng thờ phượng Chúa và trung thành với vua.

    Khoảng năm 1831, có giặc cướp đến phá phách ở Ðá Vách thuộc tỉnh Quảng Ngãi, vua sai ngài đi dẹp giặc. Khi trở về ngài tâu trình với vua thì vua hỏi ngài có đến chùa Non Nước không, nhưng ngài khéo léo thưa lại rằng: "Vì Bệ Hạ không có dậy bảo nên thần chẳng dám đi". - "Thường thường các quan khi dẹp giặc yên trở về hay đi viếng chùa sao ngươi lại không đi?" - "Hạ thần là người có đạo Công Giáo nên không đi viếng chùa".

    Vua Minh Mệnh liền nổi giận mắng nhiếc và ra lệnh bắt ngài bỏ đạo. Quan đội Bường nhất quyết một mực xưng đạo nên bị đánh 80 trượng và tước đoạt các chức tước, và phải đầy làm tôi tớ trong cơ binh. Nhờ đút lót tiền cho quan, ông được về nhà thong dong.

    Một năm sau, nhân khi vua Minh Mệnh ra lệnh kê khai các lính thị vệ có đạo mới thấy thiếu tên ông đội Bường, vua liền ra lệnh bắt ngài, năm ấy ngài 50 tuổi. Hôm ấy vào tháng 12, 1832. Cha M. De Lamotte, lúc ấy đang giảng đạo tại kinh đô Huế, viết về cuộc xưng đạo của quan đội Bường như sau: "Tháng 12, quan đội Bường cùng với 6 người lính thị vệ bị bắt giam trong ngục, phải mang gông cùm. Một người đã chết trong tù ngày 8-3-1833. Một người khác cũng anh hùng xưng đạo là ông Tađêo Quyền, con rể của quan đội Bường".

    Có một hôm, quan coi ngục muốn đổi gông nhẹ cho đội Bường, nhưng ngài đã thưa lại rằng: "Xin quan bỏ thêm xích xiềng cho nặng hơn vì trước đây họ có đánh tôi nhưng cũng chưa đủ".

    Trong những lần tra khảo, đội Bường một mực chỉ nói về đạo mà thôi. Nếu quan ra lệnh bỏ đạo thì ngài thưa: "Tôi nhất định không chịu. Chúa đã dựng nên trời đất muôn vật mà tôi thờ phượng xưa nay, làm sao tôi có thể bỏ được?"

    Mỗi lần khẳng khái thưa như vậy thì ngài lại bị đánh đòn. Lính cố gắng kéo chân ngài qua ảnh chuộc tội song ngài cố co chân lên và la lớn rằng: "Ðây là việc quan lớn làm, tôi không chiều theo đâu".

    Ðánh đòn không ăn thua gì, quan lại dỗ dành và bảo: "Này, hãy theo thời mà sống. Bây giờ vua đang cơn thịnh nộ thì hãy tạm vâng lời bỏ đạo đi cho đẹp lòng vua một lúc, sau này sẽ hay, việc chi mà phải cứng cỏi làm vậy?"

    Quan đội Bường thưa lại: "Quan lớn có lòng thương tôi thì tôi xin thưa rằng: hãy để tôi trọn một lòng trung hiếu cùng Thiên Chúa của tôi".

    Khi bị giam ở trấn phủ, ông bị tra khảo 3 lần mỗi tháng. Ở trong tù ông thường khuyên nhủ các đồng đạo cũng bị giam như sau: "Chúng ta hãy vui lòng chịu mọi sự khốn khó để giữ nghĩa cùng Chúa cho đến khi nào thánh ý Chúa định thể khác. Nếu quan có hành hạ thì cũng để mặc. Hễ xác chết rồi thì hồn chúng ta bay thẳng về trời, không sợ gì roi đòn. Chịu sự khó như vậy là vác thánh giá theo Chúa Giêsu. Nếu có đau đớn quá thì hãy xin Ðức Mẹ phù trợ cho được bền lòng đến cùng".

    Có lần mấy người ngoại đạo khuyên dụ các lính trẻ chối đạo, đừng theo gương ông đội Bường đã già, nhưng hãy nghĩ đến vợ con, cha mẹ ở nhà, như vậy có phải đi đạo là tốt không? Lập tức ông đội Bường trả lời ngay: "Bên đạo chúng tôi ai chết trẻ là đi đường tắt, ai chết già là đi đường trường. Song đàng nào cũng tới quê thật là nước thiên đàng vậy".

    Sau nhiều ngày giam tù và khuyên bảo không được, các quan làm án xin vua ra lệnh xử tử, song vua muốn hành hạ nhiều hơn. Dầu vậy ngài vẫn một mực trung thành, các quan tâu lại với vua rằng: "Người Công Giáo thật cứng lòng, dù có gia hình đến đâu cũng không thay đổi, vậy xin theo phép nước mà khép án cho xong, kẻo để lâu ngày mất công vô ích".

    Lúc ấy Vua Minh Mệnh mới ưng cho các quan bộ hình ra án trảm quyết và phải bêu đầu quan đội Bường.

    Quan đội Bường phải đem đi xử trước vào ngày 23-10. Khi hay tin, ngài gọi các bạn tù lại và xin họ cầu nguyện cho ngài được ơn bền đỗ xưng đạo Thánh Chúa và cũng để từ giã họ nữa. Tới giờ, lính đến điệu ngài đi. Lúc bấy giờ đã chiều tối họ phải mang đuốc đi theo. Ði đầu là một tên lính cầm bản án rao to rằng: "Người này bị xử vì theo đạo Gia Tô, nên phải xử trảm quyết, đầu treo 3 ngày". Họ đi rất nhanh, đội Bường nói đùa với họ: "Các bạn việc gì mà phải đi nhanh thế? Tôi biết đường mà, chúng ta không lạc đâu!"

    Khi đến họ Thợ Ðúc, gần Trường An, vua còn sai quan đến khuyên ngài đạp ảnh chuộc tội để được tha. Quan nói rằng: "Ðội Bường, ông không phải là tướng cướp, cũng không phải là tên giặc. Ông không có tội gì ngoài tội theo đạo Công Giáo, ông hãy xuất giáo rồi vua sẽ tha cho ông và hoàn cấp bực lại cho ông".

    Ngài liền thưa với quan giám sát rằng: "Xin điệu tôi đi xử cho mau, cho tôi được về với Chúa, còn việc bỏ đạo thì không bao giờ tôi theo".

    Lúc ấy cô con gái của ngài cũng ra nhìn mặt cha lần cuối. Nơi xử là nền nhà thờ cũ của họ Thợ Ðúc. Nhưng cầu sang bên ấy bị gẫy nên lính cho xử ngài ngay tại gần nhà con gái. Ngài xin họ cho ít phút để cầu nguyện. Khi đã sẵn sàng ngài nói với họ: "Việc tôi đã rồi". Người lính đao phủ liền chém đầu ngài. Quan cho phép đem xác ngài đi chôn, còn đầu phải bêu tại nền nhà thờ Thợ Ðúc 3 ngày theo lệnh của vua.
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 22 tháng Mười 2017 at 8:05 PM

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn