Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lễ Các Thánh Trong Tháng Tám

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 31 tháng Bảy 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 01 tháng 08
    Thánh Alphongsô Maria Liguori, Giám mục, Tiến sĩ Hội Thánh (1696-1787)

    Thánh Alphongsô Maria Liguori sinh ngày 27-9-1696 tại Marinella, gần Naples, và là con trưởng trong 7 anh em. Ngay từ trong nôi, ngài là giao điểm tập hợp ân huệ đáng mơ ước như trí thông minh, danh giá, tài sản, thiên khiếu nghệ thuật và một tấm lòng đại độ.

    Trong khi đó người mẹ rất đạo hạnh nghĩ: Các ân huệ tốt đẹp nhất sẽ chẳng có giá trị gì nếu không hướng về Chúa. Người lãnh nhiều phải trả nhiều.

    Như vậy ân phúc kỳ diệu nhất mà Alphongsô nhận được chính là giáo huấn của người mẹ. Alphongsô học tiếng Hylạp, tiếng Latinh, tiếng Pháp và toán. Ngài say mê âm nhạc và hội hoạ. Là một con người có chí, Alphongsô gây ảnh hưởng tốt đối với chúng bạn. Bằng sự trong trắng tế nhị và lòng đạo đức của mình. Một người bạn kể lại có lần thua cuộc chơi và giận dữ đến độ trở nên sỗ sàng, Alphongsô buồn phiền nghỉ chơi và nói: Chúa không muốn tôi được chút tiền đã khiến cho bạn làm phiền lòng Ngài.

    Thế rồi Alphongsô biến mất vào vườn. Các bạn đổ xô đi tìm ngài và gặp ngài đang quỳ cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ đặt trên cành cây. Người bạn xấu xúc động nói: Tôi đã làm phiền một vị thánh.

    Alphongsô thành công rất sớm trên cùng đời. 17 tuổi, ngài đậu bằng Tiến sĩ Luật, cả về Giáo luật lẫn Dân luật, và đã bắt đầu hành nghề luật sư. Khả năng hùng biện của ngài hứa hẹn một tương lai sáng lạn. Nhưng tuổi trẻ cũng có cớ dẫn ngài tới lỗi lầm với trong hậu quả bi thảm, năm 1723, trong một vụ kiện, ngài biện hộ với một giọng nói hùng hồn, lý lẽ vững chắc, làm cho cả toà án phải ngỡ ngàng tán thưởng. Nhưng khi vừa dứt lời, đối thủ ôn hoà vạch ra một lỗi nhỏ mà ngài không nhận thấy. Chính lỗi nhỏ đó đã tiêu huỷ luận chứng lẫn danh tiếng của ngài.

    Thất bại, Alphongsô rất đau buồn và đã đóng cửa phòng 2 ngày liền. Ngài suy nghĩ và tự hỏi: “Đây không phải là lời mời gọi của Chúa hay sao...?” Bỏ nghề, ngài nói: “Ôi thế gian, ta đã biết ngươi. Hỡi pháp đình, ngươi sẽ không còn gặp ta nữa”.

    Ngài tìm đường sống và dấn thân cho công cuộc bác ái. Một ngày kia, đang khi thăm viếng các bệnh nhân trong một nhà thương, ngài nghe hỏi: “Ngươi làm gì ở thế gian này?”

    Nhìn chung quanh ngài không thấy ai, nhưng ngài vẫn nghe hỏi một lần nữa. Vào một nguyện đường dâng kính Đức Mẹ từ bi gần đó, ngài hứa sẽ gia nhập dòng giảng thuyết và làm linh mục. Đặt thanh gươm trên bàn thờ, ngài nói: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy làm nơi con điều đẹp lòng Chúa. Con là gì và con có chi, con xin hiến dâng để phụng sự Chúa”.

    Nghe tin này cha ngài giận dữ, hỏi rằng ngài quyết bỏ nghề, bỏ cả vị hôn thê của ngài sao? Ngài đã trả lời: Đối với Chúa, chẳng có hy sinh nào gọi là quá lớn lao cả. Ngài cương quyết giữ ý định và cha ngài không thèm nhìn đến ngài nữa. Năm 1726, ngài thụ phong linh mục.

    Thánh nhân rao giảng khắp vương quốc Naples. Cha ngài giận dữ quyết không chịu nghe. Ngày kia ông vào một thánh đường, đúng lúc con ông đang thuyết giảng. Thoạt đầu ông giận dữ, nhưng rồi dần dần ông mềm lòng. Ơn Chúa đã đến nhờ lời giảng dạy của con ông. Kết thúc giờ phụng vụ ra về ông nói: “Con tôi đã làm cho tôi được biết Chúa”.

    Suốt đời, Thánh Alphongsô không những chỉ nỗ lực trong công việc tri thức mà còn lo tiếp xúc với dân chúng. Ngài chỉ thích việc ngồi toà hơn là việc nghiên cứu. Ngài mang đặc điểm của một linh mục truyền giáo. Thành quả của ngài thực hiện được chính là dòng Chúa Cứu Thế, thành lập tại Scala vào tháng 11-1732. Dầu cho từ đầu, hội dòng đã bị phân rẽ thành 2 phe và Thánh Alphongsô phải khởi đầu lại, với 2 người bạn, nhưng hội dòng cũng khởi sự lớn dần. Dòng được chuẩn nhận ngày 21-2-1749.

    Năm 1548, thánh nhân xuất bản Bộ Thần học Luân lý, được Đức Giáo hoàng Bênêđictô XIV phê chuẩn và gặt trong nhiều thành quả tức thời.

    Năm 1762, Đức Clementô XIV đặt ngài làm giám mục cai quản Địa phận Agata. Ngài nỗ lực thăng tiến lòng đạo đức trong điạ phận, khởi sự từ viêc canh tân hàng giáo sĩ. Năm 1775, ngài được Đức Giáo hoàng Piô VI cho phép từ nhiệm để về sống trong dòng tại Nocera.

    Những năm cuối đời, Thánh Alphongsô đã trải qua rất nhiều đau khổ cả thể xác lẫn tinh thần. Dầu trong “đêm tối của linh hồn” ngài vẫn không nao núng và luôn kiên trì cầu nguyện. Ngài nói: “Ai cầu nguyện sẽ được cứu thoát, ai không cầu nguyện sẽ tự luận phạt”. Cuối cùng ngài tìm được bình an và qua đời năm 1787.


    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 01 tháng 08
    Thánh Bernađô Vũ Văn Duệ và Thánh Đaminh Nguyễn Văn Hạnh, Linh Mục, tử đạo

    Xưa Thánh Phaolô Tông đồ đã sẵn sàng chịu đoạ đày, tù ngục, đòn vọt, để bù đắp vào các cực hình của Chúa Giêsu trong công trình cứu chuộc. Các thánh tử đạo Việt Nam Bênađô Duệ và Đaminh Hạnh ngày nay cũng tình nguyện hy sinh chịu khổ thật nhiều, để hợp cùng sự thương khó Chúa cứu rỗi linh hồn mình, và linh hồn anh em đồng bào đồng đạo.

    Lúc bị bắt giam trong ngục, vị Linh mục 63 tuổi Bênađô Duệ đã tự nguyện ăn chay nằm đất, chịu giột mưa ướt lạnh cũng như Cha Đaminh Hạnh sau khi bị đánh 30 roi còn nói: Làm quan lớn mà bất công, bắt một bên mông chịu cả 30 roi, còn mông bên kia chẳng có roi nào hết...

    Ý cha còn muốn chịu đánh đòn thêm nữa, để hãm mình lập công, như Chúa Giêsu bảo: Khi người ta vả má bên nầy, hãy đưa má bên kia nữa. Và như thánh Lôrensô khi bị nướng trên giường sắt, đã nói với lý hình: Bên này chín rồi, trở qua bên kia đi...

    Bênađô Vũ Văn Duệ sinh năm 1755 tại Quần Anh hạ, tỉnh Nam Định. Cậu đã được Chúa gọi dâng mình cho Chúa ngay từ nhỏ, và lo học hành tu luyện làm linh mục, vì tình hình bắt đạo khó khăn làm gián đoạn việc tu học.

    Sau khi chịu chức linh mục, Cha Bênađô đã đem hết khả năng phục vụ Hội Thánh và các linh hồn. Trong suốt 37 năm liền, cha tận tuỵ hy sinh lo cho con chiên bổn đạo và rao truyền đạo Chúa cho lương dân. Kết quả thật khả quan: nhiều người ngoại giáo nhận lãnh đức tin, các tín hữu sống đạo thờ Chúa ngày càng sốt sắng. Kết quả đó là do lời giảng dạy, nhất là nhờ cha tự nguyện hy sinh hãm mình, sống khắc khổ hằng ngày, như Thánh nữ Têrêsa Giêsu Hài Đồng nhờ hãm mình chịu khó mà đem nhiều người trở về với Chúa không thua gì Thánh Phanxicô Xaviê.

    Lúc cha 77 tuổi, Đức cha thấy cha già yếu bệnh hoạn thì cho hưu trí tại xứ Trung Lễ. Dù vậy, hằng ngày cha vẫn dâng sự đau yếu và lời cầu nguyện cho công cuộc mở mang Nước Chúa. Đặc biệt cha ước muốn chịu chết đổ máu ra để chịu khổ chịu cực vì Chúa hơn nữa. Nhất là từ ngày 28-5-1838, khi nghe tin Đức cha Y bị bắt, cha nôn nóng muốn được tử đạo với vị Giám mục của mình. Lúc đó cha đã 83 tuổi, vừa mù vừa điếc, vậy mà cứ kêu lớn tiếng, tự xưng mình là linh mục, cố ý cho quân lính đến bắt. Giáo hữu ngăn cản mãi không được, buộc lòng đem cha đến ở trong trại cùi ngoài đồng vắng, là nơi quân lính ít lui tới. Nhưng chẳng may ngày 4-7-1838 đang lúc cha lớn tiếng xưng hô mình là linh mục, một toán lính đi ngang qua đó. Họ nghe tiếng cha nói liền ghé vào bắt cha, giải về tỉnh Nam Định.

    Quan tổng trấn thấy cha già yếu bệnh tật, không đánh đập tra tấn, nhưng bảo bước qua thập giá rồi cho về. Điều đó chắc chắn cha không bao giờ làm, vì cha đã muốn chịu khổ chịu chết vì Chúa. Thế nên quan bắt cha mang gông, giam vào ngục. Ở đây, cha gặp Linh mục Đaminh Hạnh cũng bị giam chung. Hằng ngày cha tự nguyện hãm mình, ăn chay, nằm đất, chịu giột mưa lạnh lẽo để lập công nghiệp.

    Sau một thời gian, quan thấy không lung lay nổi lòng tin sắt đá của cha nên làm án gởi về kinh. Và ngày 1-8, cha được điệu ra pháp trường Bảy Mẫu, chịu chém chết vì Chúa...

    Đaminh Nguyễn Văn Hạnh sinh năm 1772 tại làng Năng A, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình Công giáo đạo đức. Nhờ đó, ngay từ nhỏ cậu đã ước muốn đi tu làm linh mục rao giảng đạo Chúa, nên cha mẹ trình lên Đức cha Y, và được ngài nhận giao cho cha Liên hướng dẫn huấn luyện. Sau khi học xong thần học, thầy Hạnh được lãnh chức linh mục và đi giúp các họ đạo.
    Lúc đó, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ bắt đạo gắt gao. Cha phải ẩn lánh rày đây mai đó, âm thầm lén lút làm việc tông đồ. Nhiều khi phải trốn chui trốn nhủi nhịn đói chịu khát mấy ngày liền, nhưng cha không ngã lòng nản chí, vẫn nhiệt thành tận tuỵ chăm sóc đoàn chiên, thăm viếng người bệnh tật, nâng đỡ khuyến khích kẻ yếu đuối nhát đảm. Nơi nào giáo dân cần lãnh nhận Bí tích hoặc an ủi khích lệ, cha đều hy sinh len lỏi đến đó, bất chấp nguy hiểm khổ cực.

    Năm 1838, cha đang giúp giáo dân ở Quần Anh Hạ, thì quan quân kéo đến truy lùng bắt bớ dữ dội. Thấy tình thế nguy kịch, cha định lánh sang làng Trung Thành ẩn náu, đồng thời chăm sóc số tín hữu ở đó. Có hai người ở Quần Anh tình nguyện đưa cha đến nơi trú ẩn an toàn. Cha tin lời đi theo họ, không ngờ họ lại là những tên Giuđa phản bội. Vì tham tiền, họ đã nộp cha cho quan để lãnh thưởng. Đúng là thời nào nơi nào cũng có kẻ tham lam, phản bạn, hại thầy...

    Ngày 7-7, cha bị giải về Nam Định, giam chung với Cha Bênađô Vũ Văn Duệ, một linh mục đã 83 tuổi vừa bị bắt trước mấy ngày. Trong thời gian giam giữ ở đây, nhiều lần cha bị tra tấn hành hạ, buộc đạp lên Thánh giá; nhưng cha luôn cương quyết từ khước nên bị đánh đập dữ dội. Có lần quan đưa ra một ảnh Đức Mẹ, yêu cầu cha đạp lên thay vì Thập giá, cha liền cầm lấy ảnh Mẹ hôn kính. Quan nổi giận cho đánh cha 100 roi. Lần khác, sau khi bị đánh 30 roi, cha trách quan không công bằng, không đánh thêm cho đủ hai bên mông. Ý muốn nói lên lòng còn mong ước được chịu nhiều hình khổ hơn nữa, để thông phần sự thương khó Chúa Giêsu, cứu rỗi linh hồn mọi người.

    Thấy không cách nào làm cho cha bỏ đạo, quan kết án trảm quyết gởi về kinh, và vua Minh Mạng đã châu phê. Ngày 1-8-1838, vị anh hùng đức tin Đaminh Hạnh đã chịu chém chết vì Chúa với cha già Bênađô Duệ, tại pháp trường Bảy Mẫu.

    Đức Thánh Cha Lêô XIII đã tôn Chân phước cho hai cha ngày 27-5-1900. Và ngày 19-6-1988, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.

    (truyentin.net)
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 02 tháng 08
    Thánh Phêrô Julianô Eymard, Linh Mục


    PHÊRÔ JULIANÔ EYMARD: VỊ THÁNH SAY YÊU THÁNH THỂ

    ... Cha Eymard đã âm thầm từ giã Monteynard để vào Nhà Tập Dòng Đức Mẹ ở Lyons. Hai chị của Cha bắt gặp Cha dọc đường, nhưng Cha vẫn cương quyết bước đi mặc cho Chị Marianne phải ngất đi trong tay Chị Annette Bernad, bất chấp sự luyến tiếc não nề của giáo dân tại Monteynard.

    Cha Dòng Đức Mẹ

    Ngày 20-8-1839, Cha Colin đã đón tiếp Cha Eymard vào Dòng Đức Mẹ. Cha đã tham dự kỳ tĩnh tâm toàn dòng năm ấy từ 28-8 đến 3-9 tại Belley. Cha đã giữ mãi lòng sốt sắng của kỳ phòng này trong suốt thời gian Nhà Tập ở Lyons. Chúa Nhật 16-2-1840, Cha Eymard đã tuyên khấn để trở thành tu sĩ chính thức Dòng Đức Mẹ.

    Liền sau đó, ngài được bổ nhiệm làm Linh hướng Chủng viện Belley. Cha đã giữ chức vụ này cho đến tháng 9-1844. Người ta đã công nhận Cha là vị linh hướng lỗi lạc nhất tại trường này, và các chủng sinh yêu kính ngài như cha ruột. Ngài đã nhiệt tâm cổ vũ lòng tôn sùng Đức Mẹ nơi các chủng sinh và tạo ra một sinh khí mới cho chủng viện. Sau đó, ngài lại được giao phó trọng trách làm Giám tỉnh Lyons. Ý thức được trách nhiệm nặng nề, ngài càng ra sức ăn ở khiêm nhường hiền hậu và xin các chị thêm lời cầu nguyện cho ngài.

    Vào Chúa Nhật trong Chúa Nhật kính Mình Máu Thánh Chúa ngày 25-5-1845, Cha Eymard được Cha xứ Thánh Phaolô nơi có Dòng Đức Mẹ mời mang Mình Thánh Chúa khi rước kiệu. Dịp này, Cha Eymard đã được ơn sùng mộ Phép Thánh Thể cách đặc biệt.

    Ngài viết: “Ngày 25-5, Lễ Mình Máu Thánh Chúa, tôi được đặc ân mang Mình Thánh Chúa tại Nhà thờ Thánh Phaolô và linh hồn tôi được một ân lộc to lớn do việc này. Hồn tôi được thấm nhuần lòng tin yêu Chúa Giêsu trong Bí tích thần diệu. Hai giờ mà tôi coi như một khoảnh khắc vắn vỏi. Tôi đặt dưới chân Chúa cả Giáo Hội, cả nước Pháp, các người Công giáo, Dòng Đức Mẹ và bản thân tôi. Tôi nức nở khóc ròng! Tim tôi nát tan như ở trong máy ép rượu nho. Vào lúc ấy, tôi ao ước có mọi trái tim trong trái tim tôi! Có nhiệt huyết của Thánh Phaolô!

    “Tôi hứa cùng Chúa. Kể từ đầu tháng này, tôi được cảm thấy cuốn theo Chúa. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mãnh liệt như vậy. Sự thu hút ấy gợi cảm hứng cho tôi trong khi giảng, trong việc làm linh hướng, để đưa cả thế giới về tìm bíêt và yêu mến Chúa chúng ta; để chỉ còn giảng về Chúa Giêsu Kitô, Chúa Giêsu Thánh Thể. Tôi đã làm như thế nhiều lần, cả trong khi giải tội, trong khi giảng thuyết, và Chúa đã chúc lành - điều tôi đã hết lòng và hết linh hồn hứa cùng Chúa - đó là một quyết tâm vững chắc. Từ nay nó sẽ là đối tượng của việc cầu nguyện và cam kết của tôi.

    “Tôi đã xin Chúa ban cho tôi được tinh thần trong các thư của Thánh Phaolô, ngài rất yêu Chúa Giêsu Kitô. Từ hôm nay, tôi sẽ đọc các thư ấy, ít là mỗi ngày một chương. Tôi đã nhận Thánh Phaolô làm đấng bảo hộ và bổn mạng cho loại công tác tông đồ này và tôi đã xin Đức Mẹ cho tôi đạt được tinh thần của Con Chí Thánh Mẹ, và làm cho Người hiện thân nơi tôi.

    “Lạy Thiên Chúa của con, hạnh phúc biết bao nếu con nghe được từ miệng Chúa những lời Chúa nói với Thánh Tôma Tíên sĩ: Con đã nói rất khéo về Cha! Lạy Thiên Chúa của con, Chúa biết lời kinh con đọc trong cuộc khải hoàn của Chúa: Lạy Cha, Cha ở trên trời... Con sẽ đọc kinh ấy nhiều lần... Ôi kinh ấy làm nhiều ích cho con...”.

    Ý hướng trở nên Tông đồ Thánh Thể của Cha Eymard đã bắt đầu rõ nét từ biến cố này.

    Tháng 12-1839, Cha được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Dòng Ba Đức Mẹ. Trong vai trò này, Cha đã làm cho Hội dòng bành trướng mau lẹ. Đến tháng 9-1846, Cha được đặt làm Tổng Kinh Lược toàn Dòng Đức Mẹ. Sau 4 năm làm Tổng Kinh Lược, ngài được Bề trên đặt làm giáo tập thay thế cho vị giáo tập vừa lâm bệnh nặng. Chỉ sau 1 năm, ngài lại được đổi về làm Bề trên tại Đại học La Seyne sur Mer.

    Tông đồ Thánh Thể

    Trong thời kỳ làm giáo tập, vào Thứ Ba ngày 21-1-1851, khi cầu nguyện tại Đền Đức Mẹ Fourviere, ngài được “ơn thiên triệu” lập Dòng Thánh Thể. Ngài được Đức Mẹ cho thấy sự thờ ơ lãnh đạm của con người đối với Chúa Giêsu hiện diện thực sự trong Bí tích Thánh Thể. Ngài nhận ra có nhiều dòng tu đã được thành lập để tôn kính các mầu nhiệm khác nhau của cuộc đời Chúa, nhưng chưa có một dòng nào được thành lập để suy tôn mầu nhiệm Chúa ngự thật trong Bí tích Thánh Thể, mầu nhiệm cao cả nhất trong đạo. Từ đó, ước nguyện hiến thân trọn đời cho việc cổ vũ lòng tôn sùng Chúa Giêsu Thánh Thể trở nên rõ nét hơn nơi ngài.

    Chúa hiểu thấu ước nguyện của Cha Eymard, nên tháng 9-1851, Cha được chỉ định để phụ trách Hội Chầu Thánh Thể tại Toulon, một công việc đúng như ước nguyện sâu thẳm nhất nơi ngài. Vì thế, ngài đã đem hết tâm trí chỉ chu toàn nhiệm vụ và gặt hái những kết quả kỳ diệu. Ngay sau khi nghe bài giảng đầu tiên của ngài về Phép Thánh Thể, một hội viên ở Toulon đã thốt lên: “Đây quả là con người mà chúng tôi đang mong muốn”.

    Vì lòng ước ao muốn luôn được chiêm ngắm Chúa Giêsu Thánh Thể, khi ở La Seyne, Cha Eymard đã đục một lỗ nhỏ ở vách ngăn giữa phòng Cha và Nhà nguyện để Cha có thể chiêm ngắm Nhà Tạm luôn. Cha đã gặt hái được những thành quả tông đồ tại đây còn hơn cả tại Belley bội phần. Bí quyết của Cha là làm mọi việc dưới chân Nhà Tạm Chúa Giêsu Thánh Thể.

    Ngày Thứ Hai 18-4-1853 là một ngày nghỉ ở Đại học La Seyne. Các cha và sinh viên đều đi chơi. Cha Eymard dâng lễ trễ hơn mọi ngày, và trong lúc cám ơn sau Thánh lễ, Cha đã được ơn soi sáng đặc biệt có ảnh hưởng sâu đậm trong cuộc đời còn lại của Cha. Cha bày tỏ việc này trong thư viết cho Bà Tholin Bost ở Tarare như sau:

    “Ngày 18-4, trong khi cám ơn sau Thánh lễ, bỗng nhiên tôi có cảm giác mạnh về lòng biết ơn và yêu mến Chúa Giêsu, và kết quả là tôi thưa với Chúa: ‘Con làm được điều gì vĩ đại cho Chúa?’ Một ý tưởng ngọt ngào êm đềm, nhưng cũng mạnh mẽ, làm cho tôi hạnh phúc nghĩ đến việc tận hiến chính mình cho việc phụng sự Bí tích Thánh Thể, xin phép được làm việc này, tìm ra đường hướng duy trì và phát huy công việc quan trọng là Chầu liên tiếp và thúc bách thành lập Dòng Thánh Thể. Con ơi! Đó chẳng là một ý đẹp sao? Kể từ ngày lập Giáo Hội đến nay, Bí tích Thánh Thể chưa có một Dòng riêng, chưa có đoàn danh dự hầu can, chưa có triều đình, chưa có một gia đình nào, như các mầu nhiệm khác của Chúa đã từng có những hội dòng để tôn vinh và rao giảng các mầu nhiệm ấy, lại không phải là chuyện ngạc nhiên sao? Cha thấy như mình đang muốn hy sinh cho Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể”.

    Sau này, trước khi qua đời ít ngày, Cha Eymard đã tâm sự với một người bạn: “Ngày 18-4-1853, tôi đã thề hứa với Chúa là sẽ tận hiến trọn đời để thành lập Dòng Thánh Thể. Tôi cam kết với Chúa là không gì có thể cản trở tôi được, dù phải ăn đất đá, hay phải chết thảm thương cùng cực đến mức độ nào đi nữa, tôi cũng sẽ chẳng từ nan. Viên đá nền tảng của Dòng Thánh Thể đã được đặt xuống từ ngày đó”.

    Với tâm tình vâng phục Mẹ Hội Thánh, Cha Eymard đã nhờ Cha Jandel là Bề trên Cả Dòng Đaminh đệ trình lên Toà Thánh dự án lập Dòng Thánh Thể. Ngày 29-6-1853, Đức Thánh Cha Piô IX nhận định: “Đây là một tư tưởng hết sức cao cả, nếu thực hiện được. Ta sẽ hết lòng ủng hộ”.

    Khi Cha Touche có dịp đi Rôma, Cha Eymard lại nhờ ngài trình lên Đức Thánh Cha thỉnh nguyện thư thành lập Dòng Thánh Thể với những nét đại cương về quy luật của Dòng. Cha Touche đã được yết kiến Đức Thánh Cha Piô IX ngày 27-8-1855. Sau khi đọc qua thỉnh nguyện thư của Cha Eymard, Đức Thánh Cha nói: “Ta tin chắc đây là công cuộc phát xuất từ Thiên Chúa. Giáo Hội rất cần một công cuộc như vậy. Phải dùng mọi cách để người ta nhận biết và tôn thờ Phép Thánh Thể”. Ngài còn lặp lại: “Đây quả là công cuộc của Chúa và Ta cũng mong muốn công cuộc này. Nhưng hiện nay, Ta chưa châu phê được, trong tương lai Ta sẽ châu phê”.

    Thánh ý Chúa đã tỏ tường qua nhận định của Đức Thánh Cha. Để có thể dâng trọn tâm lực cho việc lập Dòng Thánh Thể, Cha Eymard buộc lòng phải xin tháo lời khấn trong Dòng Đức Mẹ mà Cha hằng yêu mến. Cha Bề trên Cả Dòng Đức Mẹ bấy giờ là Cha Fabre đồng ý và hứa sẽ ban phép chuẩn cho Cha Eymard bằng một văn thư chính thức. Trong thời gian chờ đợi, Cha Eymard đã góp phần tu chỉnh Thủ Bản và Quy Luật của Hội Dòng Ba Đức Mẹ và thay thế vị giám đốc đệ tử vắng mặt ít ngày. Sau đó, Cha Eymard về Lyons, và ở đây ngài gặp phải sự chống đối mãnh liệt của Hội đồng Dòng. Vì vậy, ngài đã xin Bề trên Cả tạm giữ lại phép chuẩn. Ngày 1-5-1856, ngài lên Paris tĩnh tâm và bàn hỏi thêm.

    Theo lời khuyên của Đức cha Địa phận Bouillerie, Cha Eymard đã trình bày sự việc với Đức cha Sibour là bà con và Giám mục Phụ tá ở Paris để xin Đức Tổng Giám mục Paris chấp thuận và ủng hộ công cuộc đã được Đức Piô IX nhìn nhận là phát xuất từ Thiên Chúa. Sau khi gặp gỡ Đức Tổng Giám mục, trình bày và giải thích về tinh thần và đường lối hoạt động của Dòng, Cha Eymard đã được sự chấp thuận của ngài.

    Cuối cùng, Cha Eymard đã nhận được phép chuẩn rời Dòng Đức Mẹ để lập Dòng Thánh Thể như Chúa muốn. Cha đã trình bày ngắn gọn tinh thần, đường lối và mục đích của Dòng Thánh Thể với những lời khiêm tốn chân thành sau: “Người ta gọi tôi là Đấng Sáng Lập Dòng. Thật ra, tôi chẳng sáng lập ra gì cả. Làm sao có thể nói được là sáng tạo ra Phép Thánh Thể hay phát minh ra việc tôn thờ Bí tích này? Quả thực, những tư tưởng căn bản của Dòng Thánh Thể thì quá đơn sơ và hiển nhiên đến nỗi suốt 19 thế kỷ sau Bữa Tiệc Ly, không một ai nghĩ đến sự cần thiết của một dòng tu như vậy”.

    Theo Cha Eymard, nguyên lý căn bản của Dòng Thánh Thể là: “Chúa Giêsu ngự ở đó, vậy tất cả hãy đến với Ngài”. Tinh thần của Dòng là một tình yêu tuyệt đối dành cho Chúa Giêsu ngự trong Bí tích Thánh Thể. Chính tình yêu này cũng được bắt nguồn từ tình yêu của Đấng đã hiến thân và ẩn mình trong Bí tích Cực Trọng này. Mục đích của Dòng là tôn thờ Chúa Giêsu ngự thật trong Bí tích Thánh Thể và cổ vũ lòng tôn sùng Bí tích này khắp nơi. Phương thế của Dòng là thực hiện việc chầu Thánh Thể cách long trọng và công khai.

    Nhà đầu tiên của Dòng Thánh Thể được khai mở vào ngày 1-6-1856 tại số 114 Đường Enfer tại Paris. Người bạn đồng chí tiên khởi của Cha Eymard là Cha Raymond de Cuers, một thuyền trưởng hồi hưu đã dâng mình cho Chúa trong thiên chức linh mục. Và Lễ Hiển Linh 6-1-1857, Dòng Thánh Thể đã chính thức ra mắt bằng giờ chầu Thánh Thể với sự hiện diện của đông đủ đại diện các dòng tu. Từ ngày ấy, các giờ chầu Thánh Thể được tiếp diễn hàng tuần vào các ngày Chúa Nhật, Thứ Ba và Thứ Năm. Ước mơ của Cha Eymard là Mình Thánh Chúa được trưng bày suốt năm từ sau Thánh Lễ Đêm Phục Sinh đến Thứ Năm Tuần Thánh năm sau.

    Tháng 12-1858, Cha Eymard đích thân đi Rôma để yết kiến Đức Thánh Cha xin ngài châu phê luật Dòng Thánh Thể. Sau khi gặp Cha Eymard, Đức Thánh Cha Piô IX nói với Đức ông Fioramonti : “Hôm nay Ta gặp một linh mục từ Paris tới. Ta rất hài lòng về ngài”. Hai tuần sau, vào ngày 5-1-1859, chính tay Đức Piô IX đã ký Sắc lệnh Tán Dương nhìn nhận Dòng Thánh Thể. 4 năm sau, ngày 8-5-1863, Dòng mới được châu phê với sắc lệnh ký ngày 3-6-1863, nhằm đúng Lễ Mình Máu Thánh Chúa. Khi ấy, Dòng đã có thêm hai nhà, một ở Marseilles và một ở Angers.

    Cha Eymard còn khuyến khích và trợ giúp một người con thiêng liêng của ngài là Chị Marguerite Guillot thành lập một Dòng nữ gọi là Dòng Nữ Tỳ Thánh Thể. Dòng nhằm mục đích nhắc các nữ tu noi gương Mẹ Maria trở thành những người say yêu Chúa Giêsu ẩn thân trong Phép Thánh Thể.

    Linh đạo Thánh Thể

    Vì đặt Chúa Giêsu Thánh Thể làm trung tâm và nền tảng của đời sống tâm linh, Cha Eymard đã có một sự hiểu biết thật phong phú và độc đáo về mầu nhiệm Bí tích Thánh Thể. Đối với ngài, “Thánh Thể chứa đựng tất cả các mầu nhiệm và tất cả các nhân đức... Thánh Thể là kỷ niệm của tất cả các mầu nhiệm trong đạo; Thánh Thể canh tân tình yêu và ân sủng của các mầu nhiệm đó”. Chính nhờ ánh sáng của Chúa Giêsu Thánh Thể, ngài đã có sự hiểu biết sâu xa hơn về các mầu nhiệm đức tin và các giáo huấn Tin Mừng.

    Mầu nhiệm Thánh Thể trước hết là mầu nhiệm của tình yêu. Tình yêu phải là căn nguyên trước hết cho sự hối cải đích thực, cho việc phục vụ Chúa Giêsu Kitô cách hoàn hảo và cho việc trở nên hoàn thiện theo Phúc Âm. Tình yêu còn phải là trung tâm và cùng đích cho mọi sinh hoạt của mỗi tín hữu. Vì vậy, tôn chỉ của mọi người tôn thờ phải là tất cả vì tình yêu Chúa Giêsu ngự thật trong Bí tích Thánh Thể.

    Đối với ngài, Thánh Lễ là tột đỉnh của việc thờ lạy Thiên Chúa. Trong Thánh Lễ, Chúa Giêsu dâng chính Mình cho Chúa Cha, thờ lạy Người, cảm tạ Người, đền tạ Người và khấn xin Người nhân danh Giáo Hội của Ngài, anh em nhân loại của Ngài và mọi tội nhân khốn khổ. Chúa Giêsu tiếp tục không ngừng lời nguyện cao cả này trong trạng thái Hiến tế Thánh Thể của Ngài. Vì vậy, để thờ lạy Thiên Chúa cách tốt đẹp nhất, chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu và liên kết với Ngài trong Bí tích Thánh Thể để cầu nguyện với Chúa Cha theo 4 mục đích là thờ lạy, cảm tạ, đền tạ và khấn xin.

    Cha Eymard không quên hướng về Mẹ Maria như mẫu gương tuyệt hảo của việc tôn thờ Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài mời gọi mọi người bắt chước đời sống của Mẹ Maria. Đó là một đời sống ẩn khuất, một đời sống nội tâm và một đời sống hy sinh. Sau Mẹ Maria, Thánh Giuse, Thánh Gioan Tiền Hô và Thánh Maria Mađalêna là những vị thánh giúp ta noi gương các ngài để say yêu Chúa Giêsu Thánh Thể và làm tông đồ cho Bí tích Cực Trọng này.

    Đối với Cha Eymard, lòng say yêu Chúa Giêsu Thánh Thể của các tín hữu bao giờ cũng phải gắn liền với những bổn phận đối với Hội Thánh. Ngài kể ra 4 bổn phận của mỗi tín hữu đối với Hội Thánh. Đó là phải thảo kính, yêu mến, vâng phục và trợ giúp Hội Thánh.

    Theo Cha Eymard, Tháng Sáu nên được gọi là Tháng Thánh Thể hơn là Tháng Thánh Tâm, vì mọi việc sùng kính Thánh Tâm đích thực phải hướng người ta đến với Chúa Giêsu ngự thật nơi Bí Tích Thánh Thể. Đây là thời gian thuận tiện để canh tân, củng cố và gia tăng niềm tin yêu của ta đối với Chúa Giêsu Thánh Thể.

    Sau khi hoàn tất sứ mạng thành lập Dòng Thánh Thể, Cha Eymard đã qua đời lúc 2:30 chiều ngày 1-8-1868, nhằm Lễ Thánh Anphong Liguori, Vị Thánh mà ngài luôn hết lòng ngưỡng mộ kính yêu. Ngài đã được an táng tại La Mure. Đến năm 1877, hài cốt của ngài được đặt dưới bàn thờ Nhà nguyện Corpus Christi ở Paris. Trên mộ ngài ở La Mure, người ta cho khắc hàng chữ đơn giản nhưng gói trọn sứ điệp của đời ngài: “Ta hãy yêu mến Chúa Giêsu, Đấng đã yêu ta trong Bí tích Thánh Thể”.

    Đức Thánh Cha Piô XI đã tôn phong Chân phước cho ngài ngày 12-7-1925. Và đến ngày 9-12-1962, Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII đã tôn phong ngài lên bậc hiển thánh.

    Kinh Thánh Phêrô Giulianô Eymard

    Lạy Thánh Phêrô Giulianô, Cha đã được đặc ân nhận biết kho tàng vô giá dành cho nhân loại nơi Bí tích Thánh Thể, được lòng cháy lửa kính mến Mầu nhiệm Đức Tin, và tâm hồn nhiệt thành khát mong nhân loại đến chúc tụng tôn thờ Chúa trong Bí tích Tình Yêu này, xin cầu cho chúng con được muôn ơn lành hồn xác.

    Xin cho chúng con biết noi gương Cha, trung thành thờ kính Phép Thánh Thể trong tinh thần và chân lý, luôn cố gắng tấn tới trong mọi nhân đức, nhất là đức khiêm nhường, để nhờ việc Chúa ngự vào linh hồn mỗi ngày chúng con được kết hợp mật thiết hơn với Người như lòng Cha hằng thiết tha mong ước.

    Sau hết, lạy Thánh Phêrô Giulianô, xin cũng cầu cho chúng con cũng được lòng thảo hiếu và tôn sùng Đức Mẹ là Mẹ Thánh Thể, để nhờ Mẹ từ ái chỉ dạy dẫn dắt, chúng con biết phụng sự Chúa ẩn thân trong Phép Thánh Thể, hầu ngày sau được thờ lạy và chúc tụng Người muôn đời trên Thiên Đàng. Amen.

    Lm. JBT Phạm Quốc Hưng, CSsR
     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 04 tháng 08
    Thánh GIOAN MARIA VIANEY, Linh mục (1786-1859)

    Gioan Maria Vianney sinh ngày 8-5-1786 tại Dardilly. Cha mẹ ngài là những nông dân trung kiên với đức tin. Suốt thời cách mạng Pháp, họ thường bí mật tiếp rước các linh mục đến trú ngụ. Vì vậy Gioan là một trẻ em có mặt trong các buổi lễ cử hành lén lút tại lẫm lúa và được chứng kiến rất nhiều mẫu gương anh hùng với đức tin.

    Năm lên 11, Gioan được Cha Greboz cho xưng tội lần đầu. Tháng 5-1798, Gioan được mẹ dẫn sang nhà bà dì ở Ecully để dọn mình rước lễ vỡ lòng. Mùa xuân năm 1799, Gioan cùng với 15 em khác được rước lễ vỡ lòng trong một thánh lễ được cử hành giữa đống rơm. Ngài rước lễ rất sốt sắng và đã giữ cho đến chết tràng chuỗi Mân côi kỷ niệm ngày hạnh phúc này.

    Năm 1800, thanh bình trở lại với các tín hữu, khi Napoléon nhận biết rằng không có tôn giáo thì không có một tổ chức nào có thể tồn tại vững bền được. Từ nhỏ Gioan đã muốn làm linh mục. Khi bày tỏ ý định tốt đẹp này, ngài đã 17 tuổi và mới chỉ qua bậc tiểu học. Mẹ ngài tán thành chí nguyện, nhưng cha ngài với óc thực tế đã băn khoăn rất nhiều và không chấp nhận. Mãi tới năm 1805, Gioan đến sống với Cha Belley, họ Ecully. Theo học với các bạn tuổi còn nhỏ, mà trí khôn ngài lại quá trì trệ. Đã vậy vào năm 1890, ngài lại còn phải nhập ngũ. Năm sau, ngài may mắn được trở về nhà.

    Năm 1810, Gioan gia nhập Tiểu Chủng viện Verrières. Hai năm trôi qua, ngài là một chủng sinh học hành rất kém. Dầu vậy ngài cũng nhận vào đại chủng viện. Tại đây chuyển ngữ là tiếng Latinh, mà Gioan lại quá dở về môn này, khiến ban giám đốc khuyên thầy hồi tục. Không thất vọng một lần nữa, Cha Balley đảm nhận việc dạy dỗ người chủng sinh gương mẫu nhưng chậm trí này. Sau khi hoàn tất chương trình học, ngày 13-8-1815, Gioan Maria Vianney thụ phong linh mục tại nguyện đường Đại Chủng viện Grênoble. Ngài được gọi lên chức linh mục chính vì đời sống đạo đức.

    Sau khi thụ phong, Cha Gioan Maria Vianney được cử làm phó xứ Ecully. Tháng 12-1817, Cha Balley qua đời, Cha Vianney được cử về làm chánh sở họ Ars. Khi bổ nhiệm, Cha Tổng Đại diện nhắn nhủ: “Đây là một họ đạo nhỏ bé nghèo nàn, thiếu vắng tình yêu Chúa. Cha hãy mang tình yêu đến cho họ”.

    Ngày 9-2-1818, Cha đến xứ lần đầu với hành lý khiêm tốn chất trên một chiếc xe tay, gồm một chiếc giường cũ, một rương sách và ít đồ lặt vặt khác. Tới gần làng, ngài dừng chân hỏi đường. Bọn trẻ chăn chiên không hiểu tiếng nói khác với thổ ngữ chúng vẫn dùng nhưng cũng đoán biết và chỉ lối cho cha. Khi biết được địa sở, Cha Gioan quỳ gối cầu nguyện cho những người sẽ là đoàn chiên của mình. Tới nơi, ngài vào thẳng nhà thờ và chìm trong kinh nguyện.

    Nhà xứ Ars thật nghèo nàn với vài đồ vật thật sơ sài. Chính cha sở trẻ họ đạo lại coi đời sống cầu nguyện hãm mình là phương thế để thành công. Trong khi mọi người còn triền miên giấc điệp, ngài đã xách đèn từ nhà xứ sang nhà thờ để cầu nguyện. Trước Nhà Tạm, nhiều lần với nước mắt ướt cả sàn nhà, ngài tha thiết cầu nguyện: “Lạy Chúa, con xin lãnh chịu tất cả, nhưng xin Chúa cải hoá họ đạo của con... Con bằng lòng chịu mọi đau khổ như Chúa muốn, miễn sao họ biết hồi tâm hối cải.

    Chìm đắm trong kinh nguyện, Cha Gioan không quan tâm tới nhu cầu thể xác, mà ngài coi như cái thây ma. Ngủ đã ít, ngài lại thường nằm trên sàn nhà. Đồ đạc người ta dâng cúng, ngài đem cho người nghèo... Ngài nói đùa: “Tôi không hề mất áo choàng bao giờ. Chuyện ăn uống ngài cũng chẳng quan tâm đến, tự mình nấu ăn, ngài chỉ nấu một nồi khoai rồi treo lên tường.

    Khi đói ngài ăn một hai củ và củ thứ ba là “để cho vui miệng”. Nồi khoai thường để lâu đến nỗi những củ cuối cùng thường bị mốc meo. Ngài hãm mình như vậy cho tới năm 1827, khi các chị Dòng Chúa Quan Phòng nấu ăn cho ngài.

    Hơn nữa, thánh nhân còn tự ý hãm mình. Mỗi đêm ngài đều đánh tội trước khi ngủ. Trên tường phòng ngài còn loang lỗ nhiều vết máu.

    Với một đời sống cầu nguyện hy sinh như vậy, thánh nhân nỗ lực canh tân họ đạo. Về xứ được ít lâu, ngài sớm nhận ra được 3 tệ đoan trong họ đạo là sự lãnh đạm với việc đạo đức, thói quen làm việc xác ngày Chúa Nhật và tật ham khiêu vũ.

    Để chấn hưng lại tình trạng suy đồi kia, dĩ nhiên thánh nhân gia tăng lời cầu nguyện và việc hãm mình. Trong hoạt động ngài đi thăm viếng các gia đình. Sửa lại tình trạng thiếu hiểu biết về đạo, ngài lo dạy giáo lý cho trẻ em. Suốt 27 năm, Cha thánh Gioan ngày nào cũng trung thành với viêc dạy giáo lý. Đối với người lớn, cha dọn bài giảng rất kỹ lưỡng. Ngồi trong phòng thánh cạnh Nhà Tạm, Cha viết bài giảng; đêm thứ bảy cha học và tập giảng để cho hôm sau lời giảng của cha rất đơn sơ, nhưng xoáy vào lòng người nghe.

    Chẳng hạn ngài nói:

    - Không có gì vững bền cả. Đời sống sẽ qua đi... danh giá cũng sụp đổ, của cải rồi sẽ tiêu tan, sức khoẻ cũng bị tấn công, chúng ta ra đi như làn gió.

    - Càng cầu nguyện người ta càng ham thích, như một con cá trồi lên mặt nước rồi chìm mình trở lại và luôn bơi đi mãi. Linh hồn đắm chìm trong lời cầu nguyện sẽ mất hút trong sự êm dịu của cuộc đàm thoại với Chúa.

    Các câu chuyện nhỏ Cha kể nhiều khi có giá trị như một bài giảng. Chẳng hạn Cha nói về một em nhỏ bị đau bịnh:

    - Con đau đớn lắm không?

    Cậu bé trả lời:

    - Hôm qua con không đau đớn gì và ngày mai con cũng hết khổ.

    Cha hỏi lại:

    - Vậy con muốn được lành bệnh không?

    - Trước khi bệnh con hung dữ, khỏi bệnh con dám như vậy lắm. Để như thế này là tốt hơn cả.

    Chống lại tật làm việc xác, cha nói: - Ngày Chủ Nhật là của Chúa. Mà anh em ăn trộm cũng chẳng lợi ích gì cho anh em. Tôi biết có hai phương thế chắc chắn để trở nên nghèo khó là làm việc ngày Chúa Nhật và lấy của kẻ khác.

    Để chống lại tật ham khiêu vũ, đã có lần Cha đến giữa đám để giải tán. Lần khác Cha bỏ tiền trả cho nhạc công để anh rút lui. Tích cực hơn, Cha lập hội Mân Côi để tập họp các thiếu nữ vào việc thực hành đạo đức này.

    Hơn nữa, trong họ có 7 quán rượu, Cha hết sức khuyên nhủ và cả chúc dữ nữa để họ đổi nghề. Cuối cùng cả 7 quán đều đóng cửa.

    Thấy trọng trách của một chủ chiên quá nặng nề. Đã 4 lần Cha Gioan tìm cách trốn khỏi họ đạo. Nhưng rồi Cha đã bị phát giác, tiếng chuông reo vang và người ta đổ xô ra đường để giữ Cha lại. Nỗ lực của Cha không dễ dàng được tiếp nhận. Người ta tìm nhiều cách để vu khống cho Cha nhiều tội tày trời. Thành công của Cha khiến cho nhiều người nghi ngờ và ghen tị, đến nỗi toà giám mục phải mở cuộc điều tra. Sau nữa, chính quỷ dữ cũng phải công khai phá Cha dưới nhiều hình thức như xê dịch đồ đạc, la lối om sòm, hiện hình kỳ quái... đến độ đốt cháy cả giường nằm.

    Nhớ lại tất cả những gì đã trải qua, Cha nói:

    - Khi đến Ars, nếu biết được tất cả những gì tôi phải chịu chắc tôi chết liền.

    Nhưng ơn thánh Chúa đã nâng đỡ ngài. Mỗi ngày trong thánh lễ, ngài được thấy chính Chúa Giêsu. Dần dần họ Ars đã được biến đổi, hương thơm thánh thiện còn bay lan rộng ra khỏi ngôi làng bé nhỏ và hẻo lánh này. Khách thập phương từ khắp nơi đổ xô đến, để được chiêm ngưỡng một Cha sở thánh thiện, để được nghe lời ngài, để xưng tội. Cha Gioan đã làm vui lòng mọi người.

    Suốt 20 năm trời, Cha như chôn mình trong toà giải tội, từ sau lễ tới 11 giờ trưa, rồi từ 1 giờ chiều tới 8 giờ tối. Sau này khi được qua đời, Cha được chôn cất tại Nhà nguyện Thánh Gioan Tẩy Giả, cạnh toà giải tội mà người ta gọi là phép lạ lớn nhất ở Ars.

    Tận tuỵ với các linh hồn, Cha Gioan cũng được ơn thấu tỏ lòng người. Ngày kia có một du khách tới Ars để đi săn. Nhìn ông với con chó bên cạnh, ngài nói: “Con chó của ông thật đẹp, nhưng linh hồn chẳng đẹp tí nào”. Cúi mặt, người du khách vào toà xưng tội.

    Một người đàn bà khác nghe Cha nói: “Ông ấy đã được rỗi. Giữa thành cầu và giòng nước, ông đã kịp ăn năn tội...”. Thế là Cha đã biết nỗi lo âu sầu của bà, vì cái chết mới đây của chồng bà. Ngài đã mang lại cho bà niềm an ủi khi cho biết rằng: nhờ những bó hoa và vài lần cầu nguyện với vợ mỗi tháng Đức Mẹ, mà người chồng xấu số kia đã được cứu rỗi.

    Đời sống của Cha Gioan là một mẫu gương tận tuỵ vì Chúa và vì các linh hồn, ngài thường nói: “Hạnh phúc cho một vị linh mục được hao mòn vì Chúa và các linh hồn”.

    Quả thực, Cha Gioan đã hao mòn vì phụng sự. Ngày 2-8-1859, Cha chịu các phép bí tích sau hết. Ngày 4-8-1859, Cha trút hơi thở cuối cùng với sự mãn nguyện.

    - Phải chết lành khi người ta sống trên thánh giá.

    Ngày 31-5-1925, Cha Gioan được tuyên phong hiển thánh, và năm 1929, Đức Piô XI đặt Cha làm “bổn mạng các cha sở trên toàn thế giới”.

    Nhân kỷ niệm 150 năm ngày thánh nhân qua đời, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI thiết lập Năm Linh Mục từ lễ Thánh Tâm 1-6-2009 đến 11-6-2010.


    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
    (truyen-tin.net)
     
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 05 tháng 08
    Lễ Cung Hiến Đền Thờ Đức Bà Maria

    Đền thờ đầu tiên được cung hiến để kính đức Trinh Nữ ở Roma, ngày nay gọi là Đền thờ Đức Bà Cả. Truyện kể lại rằng, có hai vợ chồng không con muốn dâng gia tài của mình cho Đức Mẹ. Trong đêm 4 hay 5-8, Đức Trinh Nữ đã hiện ra với họ, cùng một lúc với Đức Giáo hoàng Libêriô, bày tỏ ý muốn được thấy mọc lên trên núi Esquilin, một thánh đường dâng kính Ngài.

    Hôm sau, Đức Giáo Hoàng cùng với Hàng Giáo sĩ ở Roma đi lên núi Esquilin. Lúc ấy trời nóng nực nhưng tuyết vẫn còn phủ đầy một góc núi. Theo ý Đức Trinh Nữ, Đức Giáo Hoàng phác hoạ một thánh đường, xây cất bằng tiền của cặp vợ chồng không con dâng cúng, lấy tên là Đền thờ Đức Bà xuống tuyết để ghi nhớ phép lạ trên.

    Truyện kể lại như vậy, nhưng tính chất chân thực của câu chuyện vẫn còn bị nghi ngờ, thực sự ở Roma đã có một Đền thờ Đức Bà cổ, còn cổ kính hơn cả Đền thờ Đức Giáo Hoàng Libêriô (352-366). Và đền thờ này được Đức Sixtô Israel (436-440) tái thiết. Ngài đặt tên là đền thờ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, chắc chắn là để ghi nhớ cộng đồng Ephêsô (431) biến cố dẫn tới tín điều Đức Bà Maria Mẹ Thiên Chúa.

    Ngoài danh xưng là Đền thờ Đức Bà xuống tuyết và Đền thờ Đức Bà Maria Mẹ Thiên Chúa, ngôi đền này còn mang tên Đền thờ Đức Bà Máng Cỏ, và đây lưu giữ máng cỏ Chúa Giêsu sinh ra. Máng cỏ được đặt trong một cái hộp bằng bạc. Vào ngày lễ Giáng Sinh, máng cỏ được đưa ra cho mọi người kính viếng.

    Ngày nay, người ta thường gọi là Đền thờ Đức Bà Cả. Danh hiệu này nhắc nhớ thứ bậc của đền thờ này trong các các thánh đường dâng kính Đức Maria tại kinh thành muôn thuở. Đối với Giám mục Roma, đây là Nhà thờ Chính toà thứ hai.

    Vậy hôm nay, chúng ta kính nhớ việc dâng hiến đền thờ chính, nếu không phải là đền thờ cổ nhất được xây cất dở dang kính Đức Trinh Nữ. Chúng ta nghĩ ngay đến vô số đền thờ mà lòng tôn kính của các tín hữu đã được dựng lên để kính nhớ Mẹ Thiên Chúa.

    Nhiều đền thờ trong số những đền thờ này đều ghi nhớ một giai thoại đạo đức như một ảnh lạ, vài ơn phúc đặc biệt mà tình yêu của Đức Trinh Nữ đã thực hiện. Các tín hữu đến đây cầu nguyện để bày tỏ niềm cậy trông chân thành.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 07 tháng 08
    Lễ Thánh Sixtô II, Giáo Hoàng và Các Bạn, Tử Đạo

    Ngày 30-8-257, Đức Sixtô lên ngôi Giáo hoàng, kế vị Đức Stephanô I giữa lúc Giáo Hội đang chìm trong con người bách hại thời Valerianô. Pontiô, một phó tế của Thánh Cyprianô gọi Ngài là “Linh mục nhân hậu hoà nhã”. Ngài đã tránh được một cuộc ly khai khi để cho các Giáo hội địa phương tự do theo thói quen rửa tội lại cho các người theo lạc giáo.

    Một năm sau, Thánh Cyprianô loan tin: Đức Giáo hoàng Sixtô đã bị xử tử đêm 6-8 cùng với 4 vị trợ tá (phó tế) của ngài. Các Kitô hữu Roma đã bị cảnh sát đột kích trong khi đang cử hành thánh lễ tại hang toại đạo Callistô. Để khỏi bị bắt giam tất cả, Đức Sixtô đã hiến mình chịu chết. Ngài bị chặt đầu ngay tại ngai toà giám mục cùng với 4 vị trong số 7 vị trợ tá (phó tế) của ngài là Gianuariô, Mahnô, Vicentê và Stêphanô. Hai vị khác là Fêlicissimô và Agapitô đã bị bắt và bị chặt đầu cùng ngày tại hang toại đạo Praetextato.

    Cái chết vì đoàn chiên trong những cảnh thương tâm như vậy đã khiến cho Đức Sixtô được dân chúng tôn kính rộng rãi. Ngài được mai táng trong hầm mộ giáo hoàng tại chính nơi Ngài chịu chết. Tuy nhiên, di hài của ngài có lẽ đã được Đức Lêô IV (847-855) dời về Thánh đường Sixtô vẫn còn được tôn kính cho đến ngày nay.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    * * * * *

    Ngày 07 tháng 08, Lễ Thánh Cajetan, Linh Mục

     
  7. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 08 tháng 08
    Lễ Thánh ĐAMINH, Linh mục (1170-1221)


    Thánh Đaminh sinh tại Castille, Tây Ban Nha, năm 1170. Truyện về tuổi trẻ của ngài nói tới nhiều điềm báo lạ lùng. Mẹ ngài, bà Aza mơ thấy con mình như một con chó ngậm đuốc chạy khắp cả thế gian. E ngại vì giấc mơ này bà làm tuần cửu nhật xin cho được sinh nở vuông tròn đến ngày thứ bảy, vị chánh sở nói với bà: Đừng sợ gì vì đứa trẻ sinh ra sẽ trở thành ánh sáng thế gian và niềm an ủi cho Giáo Hội, nhờ sự thánh thiện và giáo thuyết của nó.

    Khi trẻ Đaminh còn nằm trong nôi, một bầy ong mật lượn quanh rồi êm ái đậu xuống nơi nôi ngài. Điều này báo trước rằng lời lẽ miệng ngài sẽ êm dịu như mật ngọt. Ngày chịu phép rửa tội, vú nuôi ngài thấy một vì sao chói sáng trên trán ngài. Đó là dấu ơn thánh ngài sẽ toả chiếu để thu hút các linh hồn.

    Được cưng chiều, nhưng Thánh Đaminh sớm sống đời khổ hạnh. Ngài học hãm mình cầu nguyện khi vừa thôi nôi. Người vú nuôi nhiều lần thấy ngài âm thầm thức dậy trong đêm tối để cầu nguyện. Ngài chọn một nơi thanh vắng ở cuối vườn làm nơi tâm sự với Chúa. Đức Trinh Nữ thường hiện ra với ngài, dạy ngài lần chuỗi. Việc đạo đức này về sau trở thành phương thế hữu hiệu để cải hoá những người theo lạc giáo.

    Đến tuổi đi học, Đaminh được gửi tới thụ giáo với ông cậu là Linh mục ở Gumiel. Năm 14 tuổi, ngài theo học tại đại học ở Palencia và đã tiến triển rất nhanh về hiểu biết lẫn nhân đức. Nạn đói lan tràn nước Tây Ban Nha, một người bạn đến thăm Đaminh không thấy đồ dùng lẫn những pho sách quý đâu nữa. Ngài đã bán để giúp người nghèo khó rồi. Gương sáng này đã lôi kéo được nhiều sinh viên lẫn các giáo sư bắt chước.

    Sau khi hoàn tất việc học, Đaminh được Đức Chadiegô, Giám mục Osma, truyền chức linh mục. Vị giám mục đạo đức này đang muốn canh tân lòng đạo đức trong giáo phận, đã đặt Cha Đaminh làm kinh sĩ. Khi lo chuyện nhà nước qua Châu Âu, Đức cha Diegô dẫn Cha Đaminh đi theo. Tại Languedoc, các ngài được chứng kiến được tàn phá mà bè rối Albigeois gây ra. Họ chủ trương rằng: mọi vật chất đều xấu và do ma quỷ. Sự hoàn thiện theo họ, hệ tại sự từ bỏ phi nhân bản để sống khắc khổ. Chủ trương này dẫn tới sự lãnh cảm. Chẳng hạn đối với việc hôn nhân và chôn vùi mọi cơ cấu xã hội gia đình. Họ còn có lễ nghi, và phẩm trật riêng. Người ta bị phân thành hai loại: một bên gồm những người hoàn thiện và những nhà lãnh đạo sống rất khắc khổ; bên kia là quần chúng tìm thấy nơi giáo thuyết mới lý do bào chữa cho sự tự do luân lý không bị kiềm chế của mình.

    Trên đường về, Đức cha Diegô và Cha Đaminh đến Roma xin từ nhiệm để dấn thân vào cuộc truyền giáo quanh vùng Dniepen. Đức Giáo hoàng Innocentê III từ lâu đã mong có người ra đi rao giảng tại miền nam nước Pháp, chống lại ảnh hưởng của bè rối Albigeois, thay vì chấp nhận lời thỉnh cầu, Đức Giáo Hoàng sai các ngài tới miền nam nước Pháp. Hai người đã tới phụ lực với các sứ giả đã được sai tới trước kia. Tại Montpellier, Đức cha Diegô đã nhận thấy sự khác biệt giữa các nhà giảng thuyết công giáo đầy xa hoa với các nhà giảng thuyết phái Albigeois đầy khiêm tốn giản dị. Các ngài chọn đường lối khác, lấy khó nghèo và cầu nguyện làm gương sáng thu hút mọi người. Tháng 4-1207, nhiều tu sĩ Xitô đến trợ lực. Trong vòng một năm trời, có đến 40 vị dấn thân vào hoạt động. Những thành công sơ khởi bắt đầu tới, nhưng không kéo dài được lâu. Các tu sĩ Xitô nản lòng. Đức cha Diegô trở về Tây Ban Nha kiếm thêm người trợ lực và qua đời tại đây. Một vị sự thần cũng từ trần. Tệ hại hơn cả là Phêrô Castelman, vị sự thần khác, bị bọn lạc giáo ám sát.

    Còn lại mình Cha Đaminh. Ngài vẫn tiếp tục nhiệt tình hoạt động trong đường lối khổ hạnh và cầu nguyện. Không chấp nhận kiểu rao giảng khua trống gióng chiêng, ngài nói: không thể đến với kẻ thù như vậy được. Hãy trang bị bằng kinh nguyện và chân không mà đến với tên khổng lồ Goliath.

    Trong 6 năm, Cha Đaminh trải qua nhiều sóng gió, ngay khi mới tới, Đức cha Diegô và ngài đã thiết lập một cộng đoàn nữ tu tại Prouille. Bây giờ ngài chỉ còn là trợ lực duy nhất, một ngày kia trong khi nhiệt tình cầu nguyện, thánh nhân than thở tại sao số người lạc giáo quá nhiều mà trở lại thì quá ít. Đức Trinh Nữ đã hiện ra và dạy ngài hãy rao giảng phép lần hạt Mân Côi. Vâng lời Mẹ, thánh nhân dồn nỗ lực vào việc truyền bá sự sùng kính kỳ diệu này, thay vì tranh luận như trước, ngài dạy dân chúng hiểu phương pháp và tinh thần khi lần chuỗi. Ngài dẫn giải cho họ các mầu nhiệm thánh. Kết quả thật lạ lùng. Sau một thời gian ngắn, Thánh Đaminh đã được an ủi khi thấy hơn 100.000 người tội lỗi và những kẻ lạc giáo được đưa trở về với Giáo Hội.

    Hoàn thành sứ mệnh, Thánh Đaminh có ý định thành lập một dòng tu làm vườn ươm các tông đồ. Ngài trình bày dự tính với Đức Giáo hoàng Innocentê III. Nhưng Đức Giáo Hoàng ngần ngại. Đêm sau ngài mơ thấy Đại Giáo đường Lateranô bị rung chuyển và Thánh Đaminh đưa vai chống đỡ bức tường cho khỏi sụp đổ. Biết ý Chúa, ngài cho gọi thánh nhân đến và chấp thuận cho lập dòng mới. Đây là dòng giảng thuyết.

    Khi còn ở Roma, một đêm kia, trong lúc cầu nguyện, thánh Đaminh thấy Chúa Giêsu giận dữ muốn phóng ba ngọn đuốc xuống thiêu hủy thế gian: - Loài người lao mình vào nết xấu kiêu căng nhục dục và biển lận, nên Ta muốn hủy diệt chúng bằng 3 ngọn lửa này.

    Nhưng Đức Trinh Nữ cản lại: Con ơi, hãy thương xót thế gian. Này đây có hai người sẽ làm sống dậy các nhân đức.

    Đaminh biết mình là một, nhưng người kia là ai thì chưa rõ. Hôm sau khi đến nhà thờ, ngài gặp một tu sĩ, mặc đồ người ăn xin ngồi ngay cửa. Đó là Thánh Phanxicô. Hai người chưa gặp nhau, nhưng đã ôm choàng lấy nhau và gọi tên nhau. Các ngài hợp nhất với nhau trong công cuộc của Chúa.

    Thánh Đaminh đề cao việc học, ngài gởi các tu sĩ đến các đại học, ngài truyền: chớ gì các tu sĩ chuyên cần học tập ngày đêm. Lúc ở nhà cũng như khi đi ngoài đường, họ phải không ngừng đọc sách và suy gẫm.

    Thánh Đaminh rảo qua khắp nẻo trên đường giảng dạy, một thanh niên ngây ngất hỏi ngài đã học cách nào, ngài nói: Hỡi con trong sách đức ái đó, sách này hơn mọi sách dạy bảo tất cả.

    Một năm trước khi qua đời, các cha dòng Đaminh đã được sai tới Oxford, Hungaria, Đan Mạch và Hy Lạp. Thánh Đaminh qua đời tại Bologna ngày 6-8-1221.


    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 8 tháng Tám 2017
  8. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 09 tháng 08
    Lễ Thánh Bênêdicta Thánh Gía (Edith Stein)

    Vài nét về Edith Stein, vị Thánh nữ Tử đạo tại Auschwitz.

    Chân phước Edith Stein, một Nữ Triết gia thời danh, người Do Thái, trở lại Ðạo Công giáo, Tu Dòng Kín Carmel và sau đó bị chế độ Ðức Quốc Xã sát hại, như bao triệu người Do Thái khác, bằng khí độc tại Trại Tập trung Auschwitz năm 1942, được ÐTC tôn phong lên bậc Hiển Thánh Chúa Nhật 11-10-1998 nay tại Quảng trường Thánh Phêrô.

    Tháng 5-1987, Edith Stein đã được Ðức Gioan Phaolô II tôn lên bậc Chân phước tại Koeln, trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Cộng hoà Liên bang Ðức.

    Edith Stein đã được phong lên bậc Chân phước năm 1987, “per viam martirii” (vì việc tử đạo của ngài đã được Giáo Hội công nhận). Do đó, lúc đó không cần phép lạ nào cả. Nhưng để phong lên bậc Hiển Thánh, thì giờ đây cần một phép lạ. Và phép lạ đã xảy ra cho một em nhỏ tại Boston (Hoa Kỳ). Em nhỏ này mới 2 tuổi, sinh đúng vào ngày tử đạo của Chân phước Edith Stein: 9-8. Em đã nuốt cả một ống thuốc; tác động của thuốc lúc đó rất nguy hiểm cho mạng sống của em. Ðược chở vào bệnh viện cấp cứu, các bác sĩ tuyên bố không thể cứu em được nữa, xét về phương diện y khoa. Nhớ lại ngày sinh nhật của em trùng với ngày Chân phước Edith Stein tử đạo, cha mẹ em nhỏ đã khấn xin Chân phước chữa lành con mình. Nhờ lời bầu cử của Chân phước, em đã lành mạnh cách lạ lùng. Các bác sĩ đã phải công nhận đây là một sự kiện không thể xảy ra xét về phương diện loài người và khoa học. [Nên biết thêm: cha của em nhỏ này là một linh mục theo nghi lễ Ðông phương Hylạp Melkite, tên là Emmanuel Charles McCarthy, và vì thế là một linh mục có gia đình. Cha Emmanuel đã dự định cùng với trọn cả gia đình 12 đứa con, đến Roma dự lễ Phong Thánh cho Chân phước Edith Stein. Giáo hội Công giáo Ðông phương hiện vẫn còn giữ truyền thống phong chức linh mục cho người đã lập gia đình. Cha Emmanuel đã được Ðức Thượng phụ Maximos Hakim V, phong chức linh mục tại Damascus, Syria, ngày 9-8-1981, tức trùng vào ngày Edith Stein chịu chết tử đạo ở trại Tập Trung Auschwitz, ngày 9-8-1942].

    Việc phong Chân Phước và Hiển Thánh cho Edith Stein gây nên nhiều chống đối về phía một số người Do Thái quá khích và những người còn nặng mùi chế độ Ðức Quốc Xã. Những phản đối, chỉ trích này không thể ngăn cản quyết định của Toà Thánh.

    Ðây là lần thứ nhất, từ đời các thánh Tông đồ, một người Do Thái – “một người con của dân tộc Israel” (lời Ðức Gioan Phaolô II), được tôn phong lên bậc Hiển Thánh. Tháng 4-1998, ÐTC Gioan Phaolô II đã gọi một cách rất ý nghĩa rằng: “Các người Do Thái là anh, chị cả của chúng ta”. Sau khi Bộ Phong Thánh đã công bố Sắc lệnh liên hệ đến phép lạ vừa kể trên đây do lời bầu cử của Chân phước Edith Stein (tên Dòng là Têrêsa Benedicta Thánh Giá), thì lễ Phong Hiển Thánh đã được ÐTC ấn định vào Chúa Nhật 11-10-1998.

    Edith Stein sinh tại Breslau, trước kia thuộc Ðức, nhưng nay đã thuộc về Ba Lan, ngày 12-10-1891, trong một gia đình có đức tin sâu xa và lòng đạo nhiệt thành, do việc đọc và suy ngắm hằng ngày Lời Chúa trong Cựu Ước (người Do Thái không công nhận Tân Ước). Edith Stein là người con út trong gia đình có 11 người con. Thân phụ của Edith Stein qua đời lúc Edith Stein mới được 18 tháng.

    Ðến tuổi thành niên, tức 14 tuổi, Edith Stein đã mất đức tin và trở thành vô thần. Nhưng Thiên Chúa đã có chương trình riêng của Ngài về Edith Stein, đang khi thiếu nữ này hăng say tìm chân lý trong môn triết học.

    Ðọc hạnh của Edith Stein, người ta nhận thấy rằng Thiên Chúa hoàn toàn tự do hành động nơi các linh hồn và các thụ tạo, như một Vị Chúa và đồng thời như một người Cha nhân từ. Edith Stein đã tìm ra Chân Lý, đã trở lại, đã tu Dòng Kín Carmel và đã tử đạo để minh chứng cho Chân Lý và Thiên Chúa của mình. Edith Stein đã bị sát hại trong Trại Tập trung Auschwitz ngày 9-8-1942, thời Ðức Quốc Xã. Chế độ lên án tử cho Edith Stein không phải chỉ vì Edith Stein là người Do Thái, nhưng còn vì thù ghét Ðạo Công giáo, chống Giáo Hội.

    Việc phong Hiển Thánh cho Chân Phước Edith Stein nằm trong chương trình đối thoại của ÐTC Gioan Phaolô II đã được khởi sự một cách táo bạo qua chuyến viếng thăm nguyện Ðường Do Thái ở Roma ngày 13-4-1986. Trong cuộc gặp gỡ lịch sử này, Giáo trưởng Do Thái ở Roma tuyên bố: Giữa Vatican và nguyện Ðường Do Thái ở Roma chỉ cách nhau có 2 cây số, nhưng phải chờ đợi 2000 năm mới có một cuộc tiếp xúc với nhau. Edith Stein là người con của thành phố Breslau, hồi đó là thủ đô bang Slesia thuộc nước Ðức, ngày nay được gọi là Woclaw và thuộc Ba Lan. Tại thành phố này, Edith sinh ra vào đúng ngày lễ Kipur, ngày lễ trọng Ðền Tội của người Do Thái. Edith Stein được giáo dục trong việc tuân giữ Torah và các thực hành tôn giáo của Do Thái giáo. Chiều các ngày thứ Sáu, Edith Stein vẫn theo gia đình đến nguyện đường, cho tới cuộc khủng hoảng Ðức Tin lúc lên 14 tuổi. Edith Stein đã tuyên bố là “cảm thấy mình không thể tin có Thiên Chúa được”. Edith Stein, hồi đó là người phụ nữ duy nhất theo Ban Triết tại Ðại học thành phố Breslau. “Ai tìm chân lý, tức là tìm Thiên Chúa, dù không biết Người”. Ðây là câu Cha Simeon, cáo thỉnh viên vụ phong Thánh Edith Stein, nói lên với Tuần Báo Gia Ðình Kitô (Famiglia Cristiana). Cha nói “tôi tin rằng trong câu này gồm tóm tất cả gia tài thiêng liêng của Edit Stein và bao hàm tất cả con người và đời sống lạ lùng của Chân Phước: người Do Thái, người vô thần, một học giả và một giáo sư đại học, một Nữ tu Dòng Kín, một vị đồng trinh tử đạo”.

    Thiên Chúa mầu nhiệm vô cùng. “Ai tìm chân lý, tức là tìm Thiên Chúa”. Edith Stein, một triết gia, một học giả tìm kiếm chân lý, tìm kiếm Thiên Chúa, dù không biết đến Người. Ðúng vậy. Ơn gọi trở lại đã bùng nổ trong tâm hồn Edith Stein, nhờ việc đọc cuốn tiểu sử tự thuật của Thánh nữ Têrêsa thành Avila, Tiến sĩ Hội Thánh. Edith Stein tự thú:”Khi gấp sách lại, tôi phải tự thú với tôi rằng: Ðây là chân lý”. Edith Stein đã tìm ra chân lý, khám phá ra Thiên Chúa. 12 năm sau Edith Stein xin vào tu Dòng Kín Carmel tại thành phố Koeln (Ðức quốc) và bắt đầu tiến trên một lộ trình dài đưa đến phúc tử đạo tinh thần và thể xác và lộ trình này kết thúc bên cạnh Thánh Maximiliano Kolbe (1894-1941), Linh mục Dòng Phanxico, tử đạo tại Auschwitz.

    Tháng 6-1979, trong chuyến viếng thăm thứ nhất tại Ba Lan, ÐTC Gioan Phaolô II gọi Auschwitz là “Golgotha của thế giới hiện đại”. Tại đây Giáo hội Công giáo Ba Lan đã cho dựng một Thánh Giá lớn, để ghi nhớ các nạn nhân của chế độ Ðức Quốc Xã và ghi nhớ chuyến viếng thăm của ÐTC Gioan Phaolô II.

    Chính ÐTC trong cuốn sách Giáo Lý mới của Giáo hội Công giáo ban hành năm 1992, đã muốn ghi lại như sau: “Chúa Giêsu sinh ra là người Do Thái, bởi một phụ nữ Do Thái. Mẹ Người, Ðức Maria, người Do Thái, thuộc dòng dõi của những phụ nữ Do Thái thời danh: Anna, Debora, Giudit, Ester...”. Theo chân các ngài, nay có Edith Stein, vị hiển thánh người Do Thái, tử đạo tại Auschwitz.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  9. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 10 tháng 08
    Thánh Lôrensô, Phó tế Tử Đạo

     
  10. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 11 tháng 08
    Thánh CLARA, Đồng Trinh (1193-1253)

    Thánh Clara sinh năm 1193 tại Assisi miền Umbria. Thuộc dòng họ danh giá Offreducciô. Người ta nói thánh nữ sinh ra với nụ cười trên môi và không bao giờ thấy ngài khóc. Ngài dành nước mắt để tưới chân Chúa Giêsu chịu đóng dinh. Nghe biết một thanh niên giàu có đã trở nên người nghèo thành Assisi, người thiếu nữ danh giá cảm kích trước mẫu gương của thánh nhân. Trong khi gia đình nhắm cưới gả cho nàng, thì nàng chỉ nhắm đến cuộc sống sám hối khiêm hạ. Sau khi nghe bài giảng của thánh nhân, ngài đã đi tới quyết định.

    Khi ấy Thánh Clara 18 tuổi. Vào ngày Lễ Lá, 18-3-1212, thánh nữ ăn mặc sang trọng tới Nhà thờ Chính Toà dự lễ. Theo thói quen, các bà tiến lên nhận lá từ tay đức giám mục. Hôm ấy Clara quá xúc động, khiến chính đức giám mục phải rồi ghế đưa lá đến cho ngài. Chiều về, ngài đã cùng với một người bạn lén bỏ nhà theo lối cửa hậu rồi theo ánh đuốc tới gặp Thánh Phanxicô tại Porsiuncola...

    Giai thoại thật cảm động, một cô gái 18 tuổi sang trọng đã bỏ tất cả những gì là quen thuộc và an toàn để đi theo Đấng vô hình, còn Phaxicô 30 tuổi không có lấy một xu dính túi đã nhận lấy trách nhiệm về cả tinh thần lẫn vật chất đối với cô. Giữa đêm xuân trong rừng cây và dưới ánh đuốc của đoàn anh em. Clara buông xoã mái tóc huyền trên bàn thờ cho Phanxicô cắt bỏ. Hành động hoàn toàn ngoại lệ và không với một chút quyền hạn theo giáo luật. Phanxicô đã lãnh bản ly dị của Clara đối với thế gian, rồi gửi đi vào một nữ tu viện Bênêđictô gần đó.

    Biến cố lớn này làm cả thành phố xúc động. Thế gian kết án Clara. ông Monaldo, cậu của thánh nữ đến nhà dòng bắt thánh nữ về, nhưng ngài ôm cứng chân bàn thờ quyết chọn Chúa mà thôi. Phanxicô dẫn thánh nữ tới một nữ tu tu viện Bênêđictô khác, cùng với em của mình là Anê. Sau cùng, Phanxicô thiết lập cho Clara và cộng đoàn đã tăng số một tu viện tại San Damianô, nơi đây bà Ortolanta, mẹ của thánh nữ cũng nhập dòng. Trong một thời gian, cộng đoàn độc lập như những người hành khất đầu tiên. Phanxicô viết cho cộng đoàn một bản luật sống vắn gọn, đòi kỷ luật gắt gao và chay tịnh khắc khổ.

    Dầu vậy, Clara con người đi xa hơn cả ước muốn của Thánh Phanxicô. Năm 1215, Phanxicô đặt Clara làm tu viện trưởng và có lẽ đã trao cho ngài một bản luật dòng Thánh Bênêđictô. Nhưng một mục chương nói rằng sự đơn sơ và nhiệt tình của chị em khiến cộng đoàn tăng số rất nhanh.

    Vào những năm cuối đời Thánh Phanxicô, mọi liên hệ với San Đômianô bị gián đoạn. Câu chuyện hay về bữa ăn tối với Clara không được chính xác lắm. Nhưng cơn đau cuối cùng Phanxicô đã được Clara cho trú ngụ trong một mái chòi bằng lá cây ở cổng tu viện Damianô, nơi Phaxicô trước tác bài ca mặt trời. Ngài ban phép lành cuối cho Clara rồi về Porziuncola và qua đời tại đó. Ngài cũng xin anh em đưa xác về Assisi qua ngã San Đamianô. Thánh Clara và chị em tiếp rước và có dịp chiêm ngưỡng các vết thương ở tay và chân ngài.

    Clara thực hiện đúng lý tưởng của người nghèo thành Assisi. Đức Innôcentê III đã đích thân ban phép cho ngài được giữ đức nghèo khó tuyệt đối. Nhưng Đức Grêgôriô IX, nguyên là Hồng y Ugôlinô, đã muốn cải sửa luật cho phép nhà dòng có đất đai nhà cửa. Clara cưỡng lại và năm 1228 đã được hưởng đặc ân như sở nguyện. Ngài đã thưa với Đức Grêgôriô: Thưa Đức Cha, xin tha tội cho chúng con, nhưng đừng tha cho con khỏi theo Lời Chúa.

    Năm 1247, một lần nữa Đức Innocentê IV kiểm soát lại luật Thánh Phanxicô, muốn sống đời khó nghèo truyệt đối. Luật này được Đức Innocente chấp thuận vội vã, 2 ngày trước khi thánh nữ qua đời. Năm 1893, người ta tìm thấy sắc chỉ nguyên thuỷ trong mộ thánh nữ.

    Cuộc sống còn được ghi nhớ bởi cuộc tàn phá năm 1241 của vua Frêdêrico II, nhờ lời cầu nguyện đắc lực của ngài. Trong cơn bệnh của ngài, Đức Hồng y Rainalđô, tức là Đức Giáo hoàng Alexandrô sau này, đã đến trao mình Chúa và khuyyên nhủ thánh nữ, thánh nữ trả lời: Từ khi nếm thử chén đắng và cuộc tử nạn của Chúa, con thấy không còn gì làm con đau đớn nữa.

    Sau khi chúc lành cho các nữ tu đến thăm, ngài nói với mình: Hãy an tâm, ngươi đã theo đúng đường, cứ tin tưởng vì Chúa tạo thành đã thánh hiến và không ngừng gìn giữ ngươi, đã yêu ngươi với tình mẹ thương con, ôi lạy Chúa, xin chúc tụng Chúa vì đã dựng nên con.

    Thánh nữ qua đời ngày 11-5-1253 và năm 1255 được tôn phong hiển thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  11. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 12 tháng 08
    Thánh Gioana Phanxica Chantal (1572-1641)

    Gioana Phanxica Fremyet chào đời ngày 23-1-1572 ở Dijon, là con của vị chủ tịch nghị viện. Thuộc một gia đình Công giáo đạo đức, ông đã đào tạo con gái của mình nên một đứa trẻ có đời sống tín hữu mạnh mẽ. Học tập như các trẻ em khác, thánh nữ có một tinh thần sống động và tỏ ra vừa vui tươi vừa đứng đắn.

    Dầu còn nhỏ, Gioana Phanxica quyết xa rời những người lạc đạo, ngài la hét khi có ai trong số họ chạm tới ngài. Khi đến tuổi hoà mình với đời sống đài các, sự dè giữ của thánh nữ chứng tỏ ngài đã không ao ước một cuộc sống dễ dãi trống rỗng. Một trong những nhiệt huyết nơi ngài là được thực hiện những công trình lớn cho Thiên Chúa: ngài muốn được tử đạo. Ngài đã phát khóc khi thấy những người khốn cực, ngài nói: “Nếu không yêu thương người nghèo, tôi thấy mình như không yêu mến Thiên Chúa”.

    Vị bá tước de Chantal thấy rằng: Gioana Phanxica sẽ là người vợ quý nhất trên thế gian. Cuộc hôn nhân hoàn tất. Gioana Fremyet lúc ấy 20 tuổi trở thành Gioana de Chantal. Buổi đầu, vị nữ bá tước trẻ lo âu vì những món nợ cũ phải thanh toán. Nhưng GIOANA đã vui cười bắt tay vào việc. Ngài dậy từ 5 giờ sáng, dự thánh lễ, dùng ngựa để đi thăm nông trại và đất đai, kéo sợi và may vá với những người giúp việc, ngài tỏ ra là một người quản lý danh tiếng, đồng thời cũng rất bác ái và dễ yêu đến nỗi người ta gọi Ngài là “bà phúc hậu”.

    Có người còn nói rằng: mình thích mang bệnh để được nữ bá tước viếng thăm, nhưng ngài cũng biết rằng: săn sóc và mỉm cười chưa đủ, phải có Chúa giúp sức. Chẳng hạn đến với một bênh nhân xem như tuyệt vọng, ngài thức đêm cầu nguyện và đến sáng thì bệnh nhân được lành. Vị bá tước nhiều lần thấy người vợ đầy lòng bác ái quỳ cầu nguyện.

    Khi xảy ra nội chiến, cảnh khốn cùng lan rộng cắp làng quê. Vị nữ bá tước đón tiếp các người bị bỏ rơi. Bệnh tật và các trẻ sơ sinh. Đoàn người thiếu ăn trong vòng 7 dặm tuôn đến, ngài tự tay múc cháo phục vụ mọi người. Thấy người đã được trợ cấp trở lại, ngài không từ chối giúp đỡ họ và thưa với Chúa: “Con đến gõ cửa van xin lòng thương xót của Chúa, nào là con có muốn đến lần thứ hai thứ ba mà bị xua đuổi đâu?”

    Bá tước de Chantal là một sĩ quan, thường vắng mặt để phục vụ nhà vua nơi triều đình hay trong quân đội. Khi ấy thánh nữ bỏ đồ trang sức và áo nhung, tự khép mình với 6 người con và các việc nội trợ, dành nhiều thời gian hơn để cầu nguyện. Khi bá tước trở về, ngài tổ chức ăn mừng với nét mặt rạng rỡ vui tươi. Hạnh phúc chiếu sáng tổ ấm gia đình.

    Nhưng trong một cuộc đi săn, bá tước bị tử thương. Người vợ trẻ thành goá bụa lúc 28 tuổi, đã đau đớn khóc lóc: “Lạy Chúa, xin hãy cất đi mọi của cải và con cái, nhưng xin để lại người chồng yêu quý mà Chúa ban cho con”.

    Dầu vậy, trong cơn thất vọng, thánh nữ đã điều khiển được lòng mình và tìm vâng theo thánh ý Chúa. Gioanna Phanxica phải từ giã lâu đài để về sống gần cha chồng. Những người nghèo vây quanh xe ngài khóc lóc vì họ đã mất người mẹ hiền. Một cảnh huống nặng nề đang đợi Gioanna nơi nhà cha chồng. Người quản gia già nắm mọi quyền bính, bắt ngài nuôi nấng con cái bà với con cái của thánh nữ. Người đàn bà trẻ đã cố gắng để khỏi bị chống đối, ngài luôn hiền hậu và không hề làm cha chồng nổi nóng. Ngài cũng tổ chức một phòng thuốc cấp cứu và săn sóc người nghèo. Bảy năm trôi đi trong nếp sống khó khăn và hãm mình.

    Năm 164, Gioanna Phanxica gặp Thánh Phanxicô Salesiô. Vị thánh quyết định đời ngài. Thánh nhân giảng mùa chay tại Dijon và nhận thấy thánh nữ chăm chú nghe mình. Ngài hỏi thánh nữ có ý định tái giá không? Thánh nữ nói: Không!

    Và thánh nhân đã trả lời: “Vậy phải kéo bảng hiệu xuống”. Chỉ muốn Chúa thôi, đừng làm dỏm, dẹp bỏ tất cả chi tiết phong lưu lẫn lòng kiêu hãnh.

    Gioanna tự lo cho mình, phục vụ người nghèo, lau rửa những người khốn khổ đầy chấy rận. Mặc đồ sạch sẽ cho họ rồi nấu giặt và vá mạng áo quần cho họ. Thánh Phaxicô Salesiô dẫn ngài tới sự thánh thiện bằng đời sống ngày càng kết hợp sâu xa hơn với Chúa. Thánh nhân cũng quả quyết rằng: thời giờ đã đến để thánh nữ từ bỏ thế gian. Đường chân thực của thánh nữ là trở nên tu sĩ và thiết lập Dòng Thăm Viếng.

    Gioanna đã anh hùng từ giã gia đình, ngài dẫn người con gái không lập gia đình là Fracoise để bổ túc việc giáo dục bên cạnh ngài. Người con trai ở lại với ông nội đã chống lại việc ngài ra đi và nằm ngang cửa ngăn cản. Cử chỉ của thánh nữ không theo tầm mức của chúng ta: Gioanna lau nước mắt bước qua mình con. Ngài biết rằng: con mình sẽ không bị bỏ rơi, vì ngài đã trao phó cho người cậu là Tổng Giám mục Bourges. Và mỗi khi cần đến, ngài sẽ đi thăm để lo cho lợi ích của các con.

    Tháng 6-1610, thánh nữ đã thiết lập tu viện dầu tiên ở Annecy và khẩn nguyện luôn thực hiện điều gì xem ra hoàn hảo hơn. Danh tiếng của các nữ tu Dòng Thăm Viếng tận tâm phục vụ người nghèo, bệnh nhân và giáo dục các thiếu nữ lan rộng mau chóng. Suốt 30 năm, mẹ de Chantal đã thiết lập nhiều tu viện, hiến mình làm nọi việc.

    Vào cuối đời, Ngài kể lại: “Tôi như những nữ tá thô kệch thời thu hoạch. Người cha gia đình nói với họ: hãy đến chỗ này, hãy đi chỗ nọ, hãy trở lại cánh đồng này, hãy đi tới chỗ khác. Chẳng hạn người cha diễm phúc của chúng tôi đã nói: hãy đi thiết lập ở Lyon, ở Grenoble, hãy trở lại để đi Bourges, hãy đi Paris, hãy từ giã Paris và trở lại Dijon. Chẳng hạn nhiều năm tôi chỉ đi và đến, khi thì ở một trong những cánh đồng, khi thì ở một nơi khác của cha thân yêu”.

    Nơi nào thánh nữ đi qua, ngài đều để lại sự êm dịu, sự phấn khởi và niềm tin tưởng. Người ta thấy ngài chống lại sự nhọc mệt bằng niềm vui và can đảm. Linh động trong công việc, ngài nấu ăn và coi bò, giờ giải trí, ngài vui vẻ với các nữ tu... khiến họ nói: “Khi Mẹ chúng ta không giải trí được là thiếu một phần vui tươi êm ái”. Bệnh tật không ngăn cản ngài săn sóc và nghĩ tới mọi sự .

    Với một trí khôn nhanh nhẹn và chính xác, một lúc, ngài đọc cho 3 nữ tu ghi chép.

    19 năm trước khi qua đời, Gioanna Phanxica mất người bạn, người cha, người nâng đỡ là Thánh Phanxicô Salesio. Sự đau đớn của ngài thực sự lớn lao. Rồi đến cái chết của người con trai để lại một cháu gái sẽ là nữ nam tước de Sévigné. Các tang lễ liên tiếp nơi các người thân. Nhưng thử thách lớn lao nhất của thánh nữ là những chán nản nội tâm, những cám dỗ kinh khủng nghịch lại đức tin. Ngài không hể tỏ lộ những đau đớn của mình và lấy sự bình thản để phủ lấp những lo âu. Mẹ de Claugy đã nói về những khô khan liên tục của ngài: “Chỉ trong cõi đời đời, người ta mới biết hết được”.

    Khi ngài qua đời, cha giải tội nói: “Suốt 23 năm, tôi đã thán phục nơi thánh nữ một lương tâm tinh ròng trong suốt và rõ rệt hơn cả pha lê”.

    Trong những hành trình cuối cùng, mẹ de Chantal được reo mừng khắp nơi. Khi có dịch hạch ở Annecy, ngài đã không từ chối bỏ nơi này và tăng gấp các việc bố thí và lời cầu nguyện. Ở St. Germain, hoàng hậu đưa hai người con tới gặp và xin ngài chúc lành. Ngài hân hạnh được gặp Thánh Vinh Sơn Phaolô, Dân Paris chen lấn để mong chạm tới ngài và nghe ngài nói. Trở về, ngài ngã bệnh ở Monlins. Tới phút cuối ngài vẫn còn lo lắng đến mọi việc. Và sau 3 lần kêu danh Chúa Giêsu, ngài tắt thở năm 1641; năm 1767, ngài được phong thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)


    ----------------//-------------------

    Lễ ngày 12 tháng 08
    Thánh GIACÔBÊ MAI NĂM, linh mục;
    Thánh ANTÔN NGUYỄN ĐÍCH, giáo dân;
    Thánh MICAE NGUYỄN HUY MỸ, lý trưởng

    (+ 1838)

    Thánh Giacôbê Mai Năm sinh năm 1781 tại làng Đông Biên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ngài dâng mình cho Chúa và thụ phong linh mục năm 1813 đời vua Gia Long.

    Dưới thời cấm đạo của vua Minh Mạng, ngài phải lẩn trốn đó đây để phục vụ các linh hồn. Cuối cùng, ngài đến trú ẩn tại nhà ông trùm Antôn Đích thuộc xứ Vĩnh Trị. Ngày 2-7-1838, vì bị tố giác, ngài bị bắt cùng ông trùm Antôn Đích và con rể là Micae Mỹ. Cả ba bị giải về giam tại Nam Định.

    Thánh Antôn Nguyễn Đích quê tại Chi Long, huyện Nam Xương, tỉnh Nam Định, nhưng lập nghiệp tại làng Vĩnh Trị. Chính tên là Kiêm, nhưng người ta quen gọi là ông trùm Đích, theo tên con thứ hai, dù ông không làm trùm họ. Ngài là người đạo hạnh, hết lòng giúp đỡ hàng giáo sĩ và hay thương kẻ nghèo khổ. Thời vua Minh Mạng cấm đạo, cha Giacôbê Mai Năm đã đến trú ngụ tại nhà ngài, và cả hai cùng với con rể là Micae Mỹ đều bị bắt giải về Nam Định vì tội chứa chấp đạo trưởng.

    Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ sinh năm 1804, lập gia đình với con gái thánh Antôn Đích. Là lý trưởng, nhưng ngài có đời sống đạo đức gương mẫu và liêm khiết. Ngày 2-7-1838, ngài bị bắt tại làng Vĩnh Trị.

    Trong tù, mặc dầu phải chịu nhiều điều cơ cực, bị tra khảo đánh đòn và bị gông cùm, ba đấng vẫn một lòng trung kiên với Thiên Chúa và khích lệ nhau sẵn sàng đổ máu để nên chứng nhân Nước Trời.

    Ngày 12-8-1838, cả ba bị xử trảm tại pháp trường Bảy Mẫu ( Nam Định). Đức Thánh Cha Lêô XIII đã tôn phong ba đấng lên hàng chân phước vào ngày 27-5-1900. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong các ngài lên bậc hiển thánh ngày 19-6-1988.
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 20 tháng Tám 2017
  12. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 13 tháng 08
    Thánh PONTIANÔ, Giáo hoàng, Tử đạo,
    và Thánh HIPPÔLITÔ, Linh mục, Tử đạo
    (thế kỷ III)


    Thánh PONTIANÔ
    Kế vị Thánh Urbanô I làm giáo hoàng khoảng năm 230, ngài bị bắt đi lưu đày cùng với vị phản giáo hoàng là Hippôlitô, tới miền Sardinia trong thời kỳ bách hại của hoàng đế Maximinô. Ngài nổi danh và được kính nhớ vì đã tử đạo tại đó.

    Thánh HIPPÔLITÔ: Ít ra có 3 vị thánh mang tên này.
    Một huyền thoại kể rằng Thánh Hippôlitô là viên cai ngục canh giữ Thánh Lorensô. Khi được thánh nhân cải hoá, Hippôlitô đã trở thành môn đệ và đã dự vào đám đông và đã dự vào đám táng thánh nhân. Tin này tới tai hoàng đế, ông ta truyền đánh đòn ngài. Vú nuôi ngài, Thánh nữ Concordia, cùng với 18 gia nhân bị đánh đòn cho tới chết, còn thánh nhân được tha để cho ngựa xé. Câu chuyện này còn đáng nghi ngờ, vì “Hippôlitô” có nghĩa là “ngựa tháo cương” và vì câu chuyện rất giống với huyền sử Hy Lạp về Hippôlitô con của Therêô, cũng đã chịu một hình phạt như vậy. Điều thật dễ hiểu khi thánh nhân trở thành vị bảo trợ của các kỵ sĩ.

    Đúng hơn, Thánh Hippôlitô được kính nhớ hôm nay là một linh mục và là một thần học gia sống vào đầu thế kỷ thứ ba. Ngài đã trước tác một số tác phẩm bằng tiếng Hy Lạp, nay chỉ còn lại quá ít. Trong số các tác phẩm này, cuốn Philosophoumena đả kích những học thuyết đương thời.

    Kính ngài, các đồ đệ đã dựng được một bức tượng mà thế kỷ XVI người ta tìm thấy. Trên ghế bức tượng của ngài có bảng ghi các sách của ngài. Ngài lập bảng tính về lễ phục sinh không được chính xác lắm. Trong số các sách chú giải Kinh Thánh của ngài còn lại cuốn chú giải sách Daniel, trong đó ngài trấn an người đương thời về biến cố Chúa lại đến bằng cách chứng minh rằng thế giới còn tồn tại 600 năm. Dầu không kết án, Đức Callistô nghi ngờ thần học của Thánh Hippôlitô về Lời Chúa.

    Khi Đức Callistô được chọn làm giáo hoàng năm 217, Hippôlitô chống lại và tự đặt mình làm phản giáo hoàng, ngài còn tố giác điều mà ngài coi như sự dung thứ của Đức Callistô cũng như không rút lại lời gièm pha. Ngài được coi như là người đã viết cuốn chỉ nam chính yếu về phụng vụ gọi là cuốn “Truyền Thống Tông Đồ”. Sớm bị Giáo hội Tây phương quên lãng, ngài lại sống còn lâu dài trong các Giáo hội Đông phương, thế giá của ngài đối với chúng ta là bản lễ quy Roma của ngài, dầu không cố định từng lời.

    Năm 235, hoàng đế Maximinô khơi lại cuộc bách hại các Kitô hữu. Cả Đức Pontianô lẫn vị phản giáo hoàng Hippôlitô đều bị đày tới miền hầm mỏ Sardinia. Hippôlitô không đòi làm giáo hoàng nữa và khuyên những ai theo mình hãy vâng phục Đức giáo hoàng hợp thức. Cả hai đấng đều từ trần như là nạn nhân của trại tập trung. Khi cuộc bách hại chấm dứt, xác các ngài được mang về mai táng tại Roma (ngày 13-8).

    Dầu thái độ cư xử của Thánh Hippôlitô chẳng thánh thiện gì, nhưng ngài được kính nhớ vì đời sống riêng rất khắc khổ nhiệm nhặt và vì đã chết vì đạo. Mộ ngài ở tại Nguyện đường Tiburtine được kính như mồ thánh tử đạo, nhưng chuyện thật của ngài lại sớm bị quên lãng. Người ta còn coi ngài như một vị thánh giám mục của Portô, “con người lừng danh về học thức”. Nhưng có lẽ Thánh Hippôlitô chính là đấng mà chúng ta đã nói đến ở trên.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 13 tháng Tám 2017
  13. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 14 tháng 08
    Thánh Maximilianô Maria Kolbê, Linh Mục, Tử Đạo

     
  14. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 15 tháng 08
    Lễ ÐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

    Nói về Mẹ, viết về Mẹ là một hạnh phúc lớn lao. Tiếng Mẹ sao dịu êm, sao mát dịu đến thế. Mẹ trần thế đã là một tặng phẩm quý giá. Mẹ thiêng liêng lại càng cao quí hơn thế nữa. Mẹ có tên là Maria. Tiếng nói ngắn gọn, nhưng bao trùm, gói trọn tất cả. Giáo Hội mừng lễ Ðức Mẹ Lên Trời. Trong niềm hân hoan của ngày lễ Mẹ, ta thử suy nghĩ về:

    - Tại sao Maria hồn xác lên trời?
    - Maria hồn xác lên trời có ý nghĩa gì cho ta?

    TẠI SAO MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI?
    Người nữ trong sách Khải Huyền trích đọc trong ngày Lễ này tiên trưng cho Mẹ Maria. Ðức Trinh Nữ Maria ngay từ giây phút ban đầu đã được Thiên Chúa bảo toàn, gìn giữ và tuyển chọn. Nên tâm hồn và thể xác của Mẹ luôn thuộc về Thiên Chúa, không mang vết tỳ ố, không nhuốm tội lỗi, tâm hồn tinh trong, thánh thiện, tinh tuyền, xứng đáng là đền thờ cho Chúa Thánh Thần ngự trị. Thiên Chúa đã yêu thương Mẹ, đã tuyển chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, làm Mẹ Ðấng Cứu Thế Giêsu. Hậu quả của tước vị làm Mẹ Thiên Chúa: Maria đã được chọn lựa riêng, được đặc ân vô nhiễm nguyên tội. Thân xác và tâm hồn của Mẹ đã được dành riêng cho Thiên Chúa. Con Mẹ cưu mang trong cung lòng là do bởi phép Chúa Thánh Thần. Mẹ sinh con mà vẫn còn tinh khiết vẹn tuyền. Ðó là đặc ân chỉ có một không hai trong lịch sử cứu rỗi, Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ và chỉ có mình Mẹ được ơn cao quý ấy. Hình ảnh người nữ Thánh Gioan diễn tả: mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao là hình ảnh của chính Mẹ Maria và Giáo Hội Chúa Kitô. Maria là hình ảnh vẹn toàn nhất của Giáo Hội ngày mai, là bình minh của Giáo Hội khải hoàn. Bài ca Magnificat mà Ðức Mẹ cất cao giọng trong Tin Mừng Lc 1,39-56 là lời cảm tạ viên mãn Thiên Chúa dành cho Maria. Chính niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa đã khiến Maria trở nên vững mạnh và đáng được chúc tụng muôn đời. Sự tinh ròng của thể xác và tâm hồn khiến Maria được đặc ân riêng biệt. Maria đã biến phút giây tuyệt vời khi sứ thần Gabriel truyền tin cho Mẹ và lời xin vâng của Mẹ đã biến giây phút hiện tại ấy trở thành niềm vui vĩnh cửu, trở thành hạnh phúc trường tồn vì chính phút giây ấy đã thay đổi cuộc đời của Mẹ cách hoàn hảo nhất. Ðó là giờ của ơn cứu độ. Sự vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Mẹ, đã được Thiên Chúa chúc phúc cho hồn xác Maria về trời hưởng vinh quang vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi và triều thần thánh trên trời.

    MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI CÓ Ý NGHĨA GÌ CHO TA?
    Ngày 6/11/1950, Ðức Giáo hoàng Piô XII đã long trọng tuyên bố tín điều Ðức Maria hồn xác về trời. Ðây là biến cố lịch sử trong lịch sử cứu độ và mặc nhiên xác nhận niềm tin Kitô giáo vào con người tinh trong, vô nhiễm nguyên tội của Mẹ Maria, niềm tin này đã bàng bạc trong Giáo Hội từ nhiều thế kỷ qua. Tín điều ấy có giá trị vĩnh viễn và tuyên bố cho mọi người rằng Maria có liên hệ mật thiết với nhân loại, với mọi người chúng ta. Nhờ sự tinh ròng, vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Maria, mọi người có lòng tin được hưởng nhờ đặc ân cứu độ của Thiên Chúa và tin vào sự giải thoát tội lỗi, Thiên Chúa dành cho Mẹ Maria cũng chính là tin vào Ðức Kitô đã chết và sống lại cho phần rỗi mọi người.

    MARIA ĐÃ LÊN TRỜI CẢ HỒN LẪN XÁC
    Maria đã được diện đối diện với Thiên Chúa. Maria lên trời là hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn và vinh quang của thập giá là vinh quang của Mẹ. Tin vào thập giá sẽ được ơn cứu độ. Vì thế, tin vào Ðức Kitô đã giải thoát Mẹ khỏi sự chết của tội lỗi, tức là tin vào sự bất diệt của tâm hồn và thể xác Thiên Chúa dành cho Maria, cũng như cho nhân loại và cho Giáo Hội khải hoàn.

    ***

    Xin Chúa ban cho chúng con lòng tin sâu xa để chúng con tin mai ngày chúng con cũng được sống lại hiển vinh. Xin Mẹ Maria hồn xác lên trời chuyển thay cầu giúp cho chúng con để chúng con biết xa lánh tội lỗi và sống kết hợp với Chúa luôn mãi. Xin Mẹ ban cho chúng con biết mau mắn nói lời xin vâng tuân theo thánh ý Chúa trong đời sống của chúng con.

    Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 20 tháng Tám 2017
  15. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 16 tháng 08
    Thánh STÊPHANÔ, vua Hungary (977-1038)

    Người Hung, gốc từ Á Châu, đã tiến vào lập cư trên bờ sông Danuble. Họ sống bằng chiến tranh cướp bóc, và dữ tợn như thú hoang. Vào đầu thiên niên kỷ hai, Geysa, con cháu dòng Attila cai trị họ.

    Hầu tước Geysa cưới Sarolta, một thiếu nữ Công giáo và dưới ảnh hưởng của nàng, ông đã trở lại đạo Công giáo. Nữ hầu tước rất nhiệt thành với đạo. Tương truyền rằng Thánh Stêphanô đã báo cho bà biết rằng người con bà trông đợi sẽ được Thiên Chúa chúc phúc và sẽ tiêu diệt ngẫu tượng trong xứ.

    Vì lòng sùng kính thánh tử đạo, bà thêm tên Stêphanô vào sau tên Vaik của con trẻ. Mười năm sau, Geysa xin thánh Ađalbert rửa tội cho con trẻ và mời các nhà truyền giáo đến. Stêphanô được trao cho các nhà thông thái và thánh thiện giáo dục. Lúc 15 tuổi, ngài đã chia sẻ với cha trách nhiệm trị nước, và 22 tuổi ngài kế nghiệp cha sau khi ông qua đời.

    Lên cầm quyền chính, Thánh Stêphanô tìm thoả hiệp với các lân bang và hiến thân cải hoá toàn dân. Nhưng các lãnh Chúa theo ngẫu tượng bất mãn vì việc phóng thích nô lệ đã coi dân Hungari là dân phản loạn. Stêphanô chuẩn bị chiến tranh bằng lời cầu nguyện và sám hối cùng thi hành việc bố thí. Trên kỳ hiệu dẫn đầu binh đội, ngài trưng hình thánh giá Martinô và Grêriô. Thắng trận, ngài cho xây tại chỗ là Vesprem một tu viện kính Thánh Martinô.

    Để chinh phục các thần dân cứng cỏi, ngài chạy đến các tu sĩ Cluny. Từ các tu viện, chính các tu sĩ mở mang văn hoá cho xứ sở nhờ các trường học cạnh tu viện. Thánh Stêphanô còn đề ra một chương trình ngoạn mục, ngài sai sứ giả sang triều yết Đức Giáo hoàng Sylvester III, xin nhận Hungari vào số các quốc gia Kitô giáo và phong vương cho ngài. Đức Giáo hoàng gởi cho ngài một triều thiên và một thánh giá vàng, ban cho ngài đặc ân dành cho các tông đồ. Thánh Stêphanô được công nhận là vua và tông đồ. Thánh Astrik đã phong vương cho vua năm 1001.

    Một thời gian sau, ngài đã hoàn thành được 10 giáo phận với một toà tổng giám mục tại Esztergem. Rất có lòng tôn sùng Đức Mẹ, ngài xây một thánh đường nguy nga kính Mẹ tại Székes-Féhéwaz.

    Lòng bác ái của Thánh Stêphanô còn vượt ra ngoài biên giới Hungari. Ngài thiết lập nhiều nhà thương và tu viện ở Roma, Constantinople và Giêrusalem, cũng như các nhà cho khách hành hương Hungary. Trong lãnh thổ mình, ngài ra các sắc luật chống lại tội ác và lộng ngôn. Rất nghiêm khắc với những người lỗi luật Chúa, ngài lại rất nhân hậu đối với những bất công ngài lãnh chịu. Ngài ân cần săn sóc các người nghèo khổ, để hiểu rõ thực trạng, ngài hay tàng hình đi tìm kiếm họ. Một lần bọn ăn xin xô tới hành hạ ngài và cướp của. Tiếng đồn vang xa. Các lãnh chúa cười nhạo ngài, nhưng ngài càng hiến thân cho người cùng khốn nhiều hơn nữa. Người ta nói rằng: ngài được ơn chữa bệnh và nói tiên tri. Đêm kia, có tiếng bên trong giục ngài sai người tới tin cho dân vùng biên giới rút lui khỏi làng mạc của họ để khỏi bị tấn công. Sự việc xảy tới, vì được báo trước kịp thời, dân chúng được cứu thoát.

    Conrad, tấn vương Germany muốn xâm chiếm Hungary với một đội quân hùng hậu. Stêphanô truyền cho binh lính ăn chay cầu nguyện. Binh đoàn của Conrad bị lạc giữa rừng cây, đầm lầy sông lạch, không thể tiếp tế được mà phải lui binh. Stêphanô toàn thắng mà không phải chiến đấu. Thánh vương ao ước thanh bình, đã phải chiến đấu nhiều để bảo vệ thần dân. Ngài chiến đấu ở Ba Lan, cùng Balkan. Dầu chiến thắng, ngài không ngừng cầu nguyện cho dân khỏi thảm hoạ chiến tranh. Thắng được hoàng tử Transyvania, ngài thả tự do cho ông và chỉ đòi điều kiện là ông cho phép các nhà truyền giáo đến xứ ông. Sự thánh thiện của Stêphanô đã khuất phục được tất cả thủ địch lẫn những người thán phục ngài.

    Các thử thách lớn lao hoàn tất việc thánh hoá nhà vua. Ngài đã lập gia đình với nữ công tước Gisèle, con gái vua Henry II, bá tước miền Bavière. Hoàng hậu Gisèle là người đạo đức đã giúp vua Stêphanô rất nhiều. Nhưng chẳng may con cái họ đều qua đời lúc tuổi còn xanh. Còn một mình hoàng tử Emeric sẽ kế nghiệp cha nhưng lại tử nạn trong một tai nạn lúc đi săn. Thánh Stêphanô vượt cùng mọi đau đớn bằng cách nhiệt tâm với bổn phận. Ngài đã chịu bệnh trong một thời gian dài, lại còn bị ghen tương ám hại. Theo một tường thuật, các lãnh Chúa giận dữ vì sự công thẳng của ngài đã tìm cách sát hại ngài. Kẻ sát nhân lận dao trong áo lẻn vào phòng ngài. Nhưng khi vừa thấy ngài hắn bỗng hối hận và tự thú ý định tội ác của mình. Vua chỉ nói: hãy giải hoà với Chúa và đừng sợ bị tôi trả thù.

    Ngày lễ Mông Triệu 15-8, Thánh Stêphanô qua đời và được mai táng trong Đền thờ Đức Bà ở Székes-Féhéwaz.


    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 20 tháng Tám 2017
  16. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 19 tháng 08
    Thánh GIOAN EUDÊ, Linh Mục (1601-1680)

    Thánh Gioan Euđê là một trong số những người chấn hưng tôn giáo tại Pháp thời vua Luy XVI. Isaac Euđê, cha ngài là nhà nông kiêm nghề giải phẫu tại thành Ri gần Argentan, đã có ý định trở thành linh mục, nhưng rồi lại bỏ ý định để lập gia đình. Mẹ ngài là bà Mattha Corbin tưởng sẽ phải son sẻ. Nhưng rồi sau nhờ cầu nguyện, họ sinh được Gioan với 4 em gái và 2 em trai nữa.

    Gioan có tính nóng nảy, nhưng hiến mình cho Đức Trinh Nữ Maria, ngài quyết sửa mình bằng cách ngày càng mến Mẹ hơn. Hồi 9 tuổi, có lần ngài bị một thằng bạn vả mặt, nhớ Lời Chúa, ngài đưa má kia ra: còn má này nữa, nếu muốn anh cứ vả tiếp đi. Thằng bạn ngượng ngùng và sau này đã kể lại sự kiện đó với niềm thán phục sâu xa.

    15 tuổi Gioan theo học các cha dòng Tên tại Caen. Từ trong huyết quản Gioan đoan hứa dâng mình cho mẹ Thiên Chúa. Nhưng khi trở về nhà, cha mẹ nói với ngài về việc hôn nhân. Ngài bày tỏ ước vọng với cha mẹ và phải khó khăn lắm mới được cha mẹ ưng thuận. Ngài nhập dòng giảng thuyết và năm 1625 thụ phong linh mục.

    Sau ngày thụ phong, Gioan phục vụ giáo xứ ở Aubervilliers. Hai năm sau, một cơn dịch xảy tới tàn phá Giáo phận Sees. Các bệnh nhân bị những người khác bỏ mặc và trốn chạy. Gioan chỉ muốn bay tới để giúp đỡ họ. Trong suốt 2 tháng trời, ngài hết mình phục vụ. Khi cơn dịch hạ giảm, ngài thực hiện sứ vụ tại Caen. Nhưng cơn dịch chưa dứt mà chỉ dời chỗ. Lần này cơn dịch tràn tới Caen. Gioan lại tận tâm quên mình phục vụ. Không có gì làm cho ngài sợ hãi cả. Nhưng dân chúng lại sợ ngài truyền bệnh. Bởi đó ngài bị giam mình trong một cái thùng để ở ngoài đồng ruộng, khiến lúc đó cánh đồng được gọi là “cánh đồng của thánh nhân”. Các nữ tu thương hại ngài ngày ngày mang của ăn đến cho ngài. Ngài trở về dòng hiến mình phục vụ hai tu sĩ và bề trên sắp chết vì bệnh dịch. Cuối cùng, cơn dịch tan biến, nhưng Gioan lên cơn sốt, dân chúng khẩn cầu tha thiết cho ngài được chữa lành và niềm vui thật lớn lao khi người “Samaritanô nhân hậu” tái xuất hiện.

    Bây giờ bắt đầu công trình rao giảng và truyền giáo của ngài. Ngài chống lại lạc thuyết Calvinô, những kinh hoàng của cuộc nội chiến, sự dốt nát của hàng giáo sĩ, những tật xấu của các tín hữu. Chúng ta có thể đo lường hoạt động của một vị thánh như thế nào: 15.000 người chen lấn nghe thánh nhân giảng, các tội nhân sám hối và để được xưng tội, họ phải chờ 4 hay 5 ngày mới đến lượt. Trong khi để tiết kiệm thì giờ của họ. Ngài chỉ dùng vài miếng bánh để dưỡng sức. Các thói tục ngoại giáo biến dạng. Ở Autun, cuộc rước Trinh Nữ thay thế cho những gương mù ngày Mi-Careme (thứ 5 tuần III mùa chay). Ở Meaux dân chúng mang các sách đồi truỵ đến công trường để đốt bỏ.

    Cha Gioan Euđê đã giảng thuyết khắp vùng Normandie Bretagne, tới tận Saint Etienne. Tại Paris, cha sở thánh thiện của Saint - Sulpice, M.Olier, đã tổ chức cho ngài 5 kỳ giảng thuyết. Ngài danh tiếng đến nỗi có 10 giám mục hiện diện. Ở Saint Germain-Laye, vua và hoàng hậu đến ngồi vào ghế thính giả. Cha Gioan Euđê thuyết giảng lần cuối cùng tại Sain-Lô.

    Suốt 40 năm, Cha Gioan đi rao giảng đó đây. Nhưng việc rao giảng chỉ là một phần hoạt động của ngài. Nhận thấy hàng giáo sĩ không được đào tạo đầy đủ, ngài từ giã dòng giảng thuyết năm 1643, để lập hội dòng Chúa Giêsu và Đức Maria lo việc tổ chức các chủng viện. Theo lời đề nghị của Đức Hồng y Richelieu, ngài lập đại chủng viện ở Caen rồi sau này ở Lisieux, Rouen, Eureux và Renner. Đàng khác, ngài rất thương cảm các thiếu nữ bất hạnh hoàn lương, năm 641, ngài đã lập dòng Chúa chiên lành để săn sóc họ.

    Giữa bao nhiêu công chuyện, ước mơ lớn nhất của Thánh Gioan Eusê là phổ biến lòng tôn sùng Thánh Tâm, ngài là người khởi xướng, viết sách và các thánh thi ca tụng Thánh Tâm. Đây là nỗ lực chống lại chủ trương sai lầm của thuyết Giansêniô.

    Ngày 19-5-1680, Thánh Gioan Euđê từ trần, ngài được phong chân phước, năm 1925 được tôn phong hiển thánh.


    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

    --------------//--------------

    Ngày 20 tháng 08
    Thánh BERNADÔ, Tu viện Trưởng, Tiến sĩ Hội Thánh (1090-1153)

    Bernađô sinh năm 1090, tại lâu đài Phontaine gần Dijon. Cha ngài là Hiệp sĩ Tescelin khôn ngoan và đạo đức. Mẹ ngài là bà Aleth Thánh thiện. Một đêm kia bà mơ thấy Bernađô đang nô đùa bỗng hoá thành con chó sủa vang. Giấc mơ này tiên báo Bernađô sẽ trở thành tông đồ, thành nhà giảng thuyết đại tài. Bernađô luôn luôn khẩn cầu Thiên Chúa cho lòng mình khỏi vướng tội nhơ. Một lần lỡ nhìn người phụ nữ, ngài đã dìm mình xuống hồ giá lạnh cho tới tận cổ.

    Năm 22 tuổi, cả một tương lai sáng mở ra rước mắt, tại triều đình, nơi quân ngũ, trong toà án, mỗi nơi có thể ao ước, ngài đều có thể thành công. Nhưng một đêm Giáng Sinh, ngài được thị kiến thấy Chúa Giêsu âu yếm ẵm lấy ngài, kỷ niệm này in dấu sâu đậm suốt đời Ngài. Một ngày khác vào thánh đường, tha thiết cầu xin Chúa cho ngài biết thánh ý Chúa, cũng như xin Chúa ban ơn can đảm thi hành thánh ý ấy. Trỗi dậy, ngài quyết định gia nhập dòng Xitô, một dòng tu nổi tiếng khắc khổ. Thế là giã từ danh vọng thế gian và các niềm vui giả tạo.

    Một hiệp sĩ trẻ trung sắp chôn vùi đời mình trong tu viện. Sẽ hiến mình cầu nguyện liên lỉ, làm việc cực nhọc và hãm mình hết mực. Điều đặc biệt là ngài đã chọn một tu viện xa nhà và nghèo khổ thay vì những tu viện Biển Đức mà tặng vật và ảnh hưởng của gia đình có thể bảo đảm cho ngài những chức vụ sáng giá.

    Bernađô trình bày ý định với cha, ngài đã bị phản đối, anh em trong gia đình cũng không chấp nhận được ý kiến này. Ngài nói: Này hãy tin tôi đi, cuộc chinh phục linh hồn không được đáng giá sao?

    Cương quyết và nhiệt tình, Bernađô không những đã làm cho cha mẹ và anh em nhượng bộ, lại còn lôi cuốn họ vào dòng theo chân mình nữa. Lần kia em út Nivard đang ngồi chơi, Guy người anh cả nói: Giã từ em nhé. Tất cả sản nghiệp thuộc về em, bằng lòng chứ?

    Người em út nói lớn: Sao? Trời cho các anh, còn đất cho em, phân chia chẳng đồng đều tí nào.

    Rồi người em út cũng theo cha và các anh vào dòng. Ngoài ra, ông cậu và các bạn của Bernađô, cả thảy trên 30 người đã theo chân ngài vào dòng.

    Sự gia nhập đông đảo này đã tiêm một nhiệt huyết mới vào dòng Xitô. Thái độ của Bernađô và của các bạn còn được một số đông các bạn trẻ noi theo. Đức viện phụ của dòng lúc ấy là Thánh Têphanô Harding, một người gốc Anh, thánh thiện, khôn ngoan và uyên bác. Ngài sai từng nhóm nhỏ đi lập các tu viện mới rập theo khuôn mẫu của nhà mẹ. Ba năm sau, tới phiên Bernađô, ngài dẫn đầu một nhóm tu sĩ 12 người đến một thung lũng gần Langres. Họ dựng chòi một nhà nguyện, nhà ăn, làm những cái hòm giống như quan tài để ngủ. Sự thánh thiện của các tu sĩ cũng như vùng thung lũng trở thành thung lũng ánh sáng hay là Claivaux.

    Thánh Bernađô sẽ là đan viện phụ của tu viện này cho đến hết đời. Lúc đầu, ngài tỏ ra đòi hỏi gắt gao. Nhưng rồi về sau, ngài đã hiểu và nhân hậu hơn. Danh tiếng ngài lan rộng. Nhiều người từ xa đến xin ngài giúp đỡ, hay xin ngài phân xử cho những vụ tranh chấp. Việc này không được mọi người bằng lòng, vì ngài không biết sợ ai cả. Ngày kia, ngài nhận được một lá thư ngắn ngủi từ Roma, dạy đừng xen mình vào chuyện đời. Không gì làm ngài vui mừng bằng được ở yên trong tu viện. Nhưng vì cảm thấy mình có liên hệ tới lợi ích của Giáo Hội nên đã không ngại viết một lá thư hồi âm rất can đảm nhiệt tình.

    Ngài là người ủng hộ nhiệt liệt cho những cải cách Hildebrand, nhưng ngài nghĩ rằng: sự tập quyền trong Giáo Hội đã đi quá xa. Khi nâng đỡ cho những đòi hỏi của Toà Thánh, ngài không tin là phải phỉnh nịnh đức giáo hoàng. Nhưng khi sự phân rẽ đe doạ làm rạn nứt Giáo Hội, ngài được triệu vời đến. Một cách rạng rỡ, ngài đã đánh bại vị phản giáo hoàng. Lúc này danh tiếng ngài lan rộng khắp Châu Âu. Cả thế giới đều như muốn quay về ngài để tìm ý kiến giúp đỡ. Không đến với ngài được, người ta viết thư và ngài đã quyết hồi âm cho tất cả mọi người. Một phần nhỏ trong số thư tín khổng lồ này con sót lại, nhưng cũng là một trong những nguồn tài liệu lịch sử chính yếu về thời đó.

    Như nhà dẫn đầu trong cuộc cải tổ dòng Xitô, ngài tranh luận với các tu sĩ dòng Biển Đức thuộc cộng đoàn chung. Rất tôn trọng cách sống của họ, ngài không thể tha thứ cho những lạm dụng đang thịnh hành trong một vài nhà dòng. Dầu vậy, đối với Đan viện phụ Cluny, cha đáng kính Phêrô, ngài vẫn giữ được một tình bạn nghĩa thiết. Nhưng sự chống đối của Thánh Bernađô với Phêrô Abelardô mới thật nổi bật. Không những chống lại các chủ trương của ông, ngài còn chống lại cả cách thức ông kiêu hãnh tranh luận về các vấn đề thánh nơi chợ búa. Thánh Bernađô luôn nghĩ tới đức tin của những người dân đơn sơ và đứng về phái bảo thủ, nhưng vẫn là bạn của người học thức đỡ đầu cho các học giả như Robertô Pullen và Gioan miền Sabisbury.

    Đối với Đức Maria, Thánh Bernađô có một lòng sùng kính đặc biệt. Một ngày kia tại Nhà thờ chính toà Sprine, khi nghe hát Kinh Lạy Vữ Vương, ngài đã nhiệt tình thêm vào:

    - Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh.

    Chính ngài cũng viết thánh thư cảm động: Ave Maria Stella. Dường như ngài cũng là tác giả kinh Hãy Nhớ nữa.

    Suốt thời gian làm đan viện phụ của Thánh Bernađô, dòng Clairvaux phát triển mạnh và sinh ra 60 nhà khác nữa rải rác khắp Âu Châu. Rất bận rộn công việc, ngài không sao lãng việc chăm sóc cho các tu sĩ của mình. Suốt đời, ngài là một tu sĩ và là một nhà thần bí. Ngài trước tác những bài chú giải sách Nhã Ca và nhiều tác phẩm thần học và thần bí khác nữa.

    Những năm cuối đời, ngài bị phủ mờ vì sự thất bại của đạo binh thánh giá thứ nhì. Đức giáo hoàng cậy ngài cổ động cho đạo binh này. Nghe lời ngài, toàn Âu Châu cầm khí giới lên đường. Nhưng khi xa khỏi ảnh hưởng của ngài, các nghĩa binh thánh giá đã quên hẳn lý tưởng cao cả của mình mà làm vỡ cuộc viễn chinh vì đánh phạt nhau và vì các việc làm bất xứng với danh hiệu Kitô hữu.

    Dầu không thể quy trách được cho Thánh Bernađô, nhưng như các thánh nhân khác và như chính Chúa Kitô, ngài đã qua đời ngày 20-5-1153, dưới bóng mây mù vì thất bại đã quá rõ ràng. Ngài nói với con cái ngài: Cha không biết phải giải quyết thế nào. Tình thương yêu con cái đòi cha ở lại nhưng tình yêu Thiên Chúa kéo cha lên cao.

    Cả Âu Châu thương tiếc ngài. 21 năm sau, Đức Alexander III phong ngài lên bậc hiển thánh. Năm 1830, ngài được đặt làm Tiến sĩ Hội Thánh. Ngài đã sống trước khi hình thành thuyết kinh viện và bởi vì giáo huấn của ngài còn nằm trong truyền thống các giáo phụ, người ta thường coi ngài là thánh giáo phụ cuối cùng.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 24 tháng Tám 2017
  17. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 21 tháng 08
    Thánh PIÔ X, Giáo Hoàng (1835-1914)

    Thánh Piô X Giáo hoàng tên thật là Giuseppe Melchierre Sartô, sinh tại làng Riese miền Venetia, ngày 2-6-1835. Cha ngài, ông Giovanni Battista Sartô, thành hôn với mẹ ngài là bà Margherita Samon, nhỏ hơn ông tới một nửa số tuổi. Vì vậy lên 17 tuổi, ngài đã mồ côi cha. Làm nghề chạy giấy của xã, ông Giovanni Battista làm cha một gia đình nghèo túng. Chết đi ông cũng lại một gia đình càng túng quẫn hơn nữa. Tuy nhiên, nhờ lòng đạo đức của cả hai ông bà mà gia đình này đã góp phần đào tạo nên một vị thánh lớn cho Giáo Hội.

    Ngay từ nhỏ, học tại trường làng, Giuseppe đã tỏ ra có nhiều triển vọng, ngài luôn là một học sinh giỏi đứng đầu lớp học. Theo phong tục thời đó, dù đã vào ban giúp lễ từ hồi 7 tuổi, mãi tới năm 11 tuổi, Giuseppe mới được rước lễ lần đầu. Những ngày tháng mong đợi có lẽ đã khiến ngài khi lên giáo hoàng sau này, đã cho phép trẻ em được rước lễ vỡ lòng khi vừa tới tuổi khôn và nhiệt tình cổ võ lòng tôn sùng Bí tích Thánh Thể. Trước bàn thờ Đức Mẹ, dịp rước lễ lần đầu, Giuseppe đã khấn dâng mình cho Chúa.

    Từ lâu rồi ngài đã nuôi ý định này nhưng không dám tỏ bày với cha mẹ. Nhưng khi biết được ý định của con, mẹ ngài đã hết sức tán thành, cha ngài ngập ngừng vì thấy gia đình nghèo túng, nhưng rồi cũng quảng đại vâng theo ý Chúa. Mọi người đều vui mừng vì quyết định của Giuseppe, nhất là cha sở Riese. Cha phó dạy tiếng Latinh cho ngài. Khi đã đủ lực theo bậc trung học ở Castelfrancô cách Riese 7 cây số, suốt 4 năm trời ngài thường vác giày trên vai, để tiết kiệm, và đi bộ tới trường rồi lại đi bộ về nhà. Chính lý tưởng làm linh mục là sức mạnh giúp ngài kiên trì như vậy.

    Hết 4 năm tại Castelfrancô, năm 1850, Giuseppe lên Đại Chủng viện Padua. Gia đình Giuseppe nghèo, cha sở xin được cho ngài một học bổng, giáo dân trong họ hằng năm quyên tiền giúp đỡ ngài. Thật là những nghĩa cử cao đẹp đối với một ơn gọi. Năm 17 tuổi, ông thân sinh qua đời, Giuseppe muốn bỏ về giúp mẹ và săn sóc cho 7 đứa em. Lại một nghĩa cử cao đẹp khác vun trồng cho ơn gọi Giuseppe chín muồi: mẹ ngài không chấp nhận ý kiến, mà quyết tâm dâng con cho Chúa. Trong nếp sống nghèo khó nhưng lại giàu lòng quảng đại ấy, Giuseppe đã tiến tới chức linh mục ngày 28-9-1858, lúc 23 tuổi.

    Sau ngày mở tay tại quên nhà, Cha Giuseppe đi nhận phó xứ Tombolo, 9 năm sau ngài được bổ nhiệm làm chính xứ Salzano. 17 năm làm phó xứ rồi chính xứ, Cha Giuseppe sống đời hy sinh tận tuỵ với giáo dân, nhất là với những người nghèo khó. Không hề ao ước danh vọng, ngài lại được chiếu cố, được tín nhiệm vào chức vụ cao hơn. Đức Giám mục Trevise mời ngài về làm chưởng ấn toà giám mục, kiêm nhiệm chức vụ giám đốc chủng viện.

    Luôn luôn ngài thi hành các chức vụ bề trên giao phó một cách chu đáo.

    Năm 1884, Đức Lêô XIII, đấng mà ngài sẽ kế vị, đặt ngài làm giám mục cai quản điạ phận Mantua, ngài muốn từ khước nhưng đã vâng lời và quyết nên mọi sự cho mọi người. - Dân chúng sẽ thấy tôi luôn kiên trì trong chức vụ, luôn hiền từ và đầy bác ái.

    Ôm hôn mẹ hiền, ngài cho mẹ xem chiếc nhẫn giám mục của mình. Mẹ ngài cũng sung sướng cho ngài xem chiếc nhẫn cưới của mình và nói: không có chiếc nhẫn của mẹ thì chẳng có chiếc nhẫn của con.

    Phải thật nhân đức mới có thể đường dầu với tình trạng đáng thương của giáo phận: chủng viện gần như trống rỗng, dân chúng chịu ảnh hưởng của tâm điểm, thệ phản thuyết phóng túng nên lòng đạo đức sa sút, chẳng còn nhiệt tâm gì với việc tông đồ, với đời sống nội tâm. Sợ hãi, nhưng đức cha Sartô bắt tay ngay vào việc canh tân. Ngài đi kinh lý khắp điạ phận rộng lớn.

    Những cuộc tiếp xúc thường xuyên và thân mật này đã tạo nên những bước tiến cụ thể. Khi mùa gặt đã tới, ngài lên tiếng kêu gọi cho ngân quỹ vơi cạn của chủng viện và được đáp ứng quảng đại. Ngài triệu tập một hội nghị để trao đổi và để đón nhận các ý kiến. Ngài luôn lo bảo vệ sự toàn vẹn đức tin và không muốn chấp nhận sự sống nhượng bộ khi không được phép: Người ta phải tranh đấu nơi thanh thiên bạch nhật.

    Công việc ngày một nhiều, nhưng Ngài vẫn thường xuyên thăm viếng các giáo xứ. Buổi sáng kia tới nhà thờ một họ đạo, ngài thấy giáo dân đứng chờ trước toà giải tội, ngài vào ngồi toà, khiến cha sở tới nơi phải bối rối. Trợ giúp hàng giáo sĩ về luân lý lẫn tài chính đó là nét đặc trưng trong chức vụ của ngài.

    Mỗi hoạt động của vị giám mục thánh thiện đều tạo thành tiếng vang. Năm 1893, Đức Leo XIII đặt ngài làm hồng y giáo chủ Vevetia. Lần này ngài mau mắn vâng lời.

    - Khi vị đại diện Chúa Kitô mở lời, không phải là lúc để nghiệm xét, mà là vâng phục. Không được phép cân nhắc lệnh truyền để tìm giảm thiểu mức độ vâng phục...

    Đức Hồng y tiếp tục cùng một chương trình canh tân. Ngài xây dựng nhiều thánh đường, cô nhi viện, chủng viện và một phân khoa giáo luật. Ngài can đảm thiết lập Thông Tấn xã Công giáo. Ngài đến nhà thờ và tranh đấu cho việc tôn trọng luật Chúa.

    Ngày 8-7-1903, Đức Lêô XIII từ trần. Đức Hồng y Giáo chủ Sartô phải đi vay tiền mua vé về họp mật nghị bầu giáo hoàng. Trong mật nghị, Đức Hồng y Puzyna cai quản Krakow cho biết hoàng đế nước Áo phủ quyết Đức Hồng y Rampella quốc vụ khanh của Đức Lêô XIII mới từ trần. Cuộc bỏ phiếu đầu 1-8, Đức Sarto chỉ được 5 phiếu. Đức Hồng y Gibbons người Mỹ xin ngài đừng phủ quyết cuộc bầu cử và đến cuộc đầu phiếu thứ bảy ngày 4-10, ngài được 50/62 (vì sự kiện trên, sau này người ra Hiến chế Comomissum Nobis để ngăn chặn mọi mưu toan chính trị tìm khuynh đảo các cuộc bầu cử giáo hoàng).

    Sau kết quả cuộc bầu cử, Đức Hồng y niên trưởng đến hỏi: Chúng tôi đã nhân danh Thiên Chúa tiến cử ngài làm giáo hoàng, ngài có ưng thuận không?

    Sau giây phút yên lặng trong nước mắt ràn rụa, ngài nghẹn ngào trả lời:

    - Ước gì tôi không phải uống chén này, nhưng mong sao ý Chúa được nên trọn.

    Thấy câu trả lời chưa rõ, Đức Hồng y niên trưởng hỏi lại lần nữa và ngài trả lời: Tôi xin nhận như nhận một thánh giá.

    - Vậy ngài muốn nhận tên gì?

    - Vì tôi phải chịu khổ nên tôi nhận tên của những vị đã phải đau khổ. Tôi nhận tên là Piô.

    Thế là cuộc bầu cử giáo hoàng đã xong. Lễ đăng quang được cử hành ngày 9-8-1903. Trong thông điệp đầu tiên, E Supreni Apostolatus ngày 4-10-1903, ngài công bố: “Nếu người ta muốn hỏi chúng tôi một châm ngôn phát xuất tự đáy lòng, tôi sẽ luôn nói rằng: canh tân mọi sự trong Đức Kitô”.

    Suốt triều đại giáo hoàng, Đức Piô X đã thực hiện châm ngôn ấy. Ngài cho phép các trẻ em nhỏ rước lễ sớm khi vừa tới tuổi khôn và khuyến khích việc rước lễ hằng ngày. Với Thông điệp Pascendi ngày 8-9-1908 kết án thuyết duy tâm. Ngài sửa lịch và sách nguyện, canh tân thánh nhạc và truyền dùng trong cả Giáo Hội, ngài thiết lập các viện nghiên cứu âm nhạc và Kinh Thánh tại Roma. Ngài khởi đầu công cuộc hệ thống hoá giáo luật...

    Về phương diện chinh trị, ngài tạo ra sự dễ dàng trong việc liên lạc giữa Giáo Hội và vương quốc Ý. Khi tổ chức lại các bộ và các toà án, cùng giáo triều Roma, Tông hiến Sapienti Consiliô năm 1908 cho thấy dấu hiệu sẵn sàng chấp nhận việc để mất các quốc gia của Giáo Hội, cũng không cần đến cơ cấu cai trị dân sự làm khuôn mẫu. Ngay từ năm 1905, ngài đã cương quyết từ khước hoà ước Napolêon và chấp nhận sự phân biệt Giáo Hội với quốc gia vì biết rằng sự nghèo khó của Giáo hội Pháp là có lợi hơn.

    Giữa những công chuyện hóc búa này, Đức Piô X không bao giờ thực sự cảm thấy mình được ở nhà. Ngài là “tù nhân ở Vaticanô”. Một lần tiếp xúc với các bạn cũ, ngài bật khóc: xem người ta đưa tôi lên ghế này đây.

    Tìm lại nếp sống cũ, ngài đưa các em về Roma để giặt ủi và may vá đồ. Khi đau bệnh, ngài xin linh mục là cháu cho rước lễ. Ngài còn đưa cả cha tuyên uý và người nấu ăn từ Venetia về. Thích sống thanh đạm, ngài bỏ các nghi thức nhỏ nhặt và nhiều truyền thống nặng hình thức khác. Khi ngài qua đời người ta còn thấy trong túi áo ngài những vật của một học sinh: con dao nhỏ và mẩu bút chì.

    Năm 1914, vào năm thứ 11 sau khi Đức Piô được bầu làm giáo hoàng, Âu Châu lâm vào cảnh chiến tranh. Ngài ngã bệnh, ngài dâng lễ cuối cùng, ngày lễ Mông Triệu và qua đời ngày 20-8, người ta nói rằng: ngài bị vỡ tim vì lo buồn cho nhân loại, 9 năm sau đã bắt đầu hồ sơ phong thánh và ngày 3-6-1951, ngài được phong chân phước, ngày 29-5-1954, sau 40 năm qua đời, ngài được phong hiển thánh.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)


    ---------------//----------------


    Ngày 21 tháng 08
    Thánh GIUSE ĐẶNG ĐÌNH VIÊN, Linh Mục (+ 1838)

    Thánh Giuse Đặng Đình Viên chào đời năm 1785 tại làng Tiên Chu, thuộc tỉnh Hưng Yên. Ngay từ nhỏ, ngài đã về học tại quê ngoại ở Họ Vân. Khi cha mẹ qua đời, ngài dâng mình vào nhà Chúa, và thụ phong linh mục tại Lục Thủy ( Nam Định) năm 1821.

    Ngài coi xứ Bắc và phụ trách các họ Đông Bài, Thiết Nam, Như Thiết, An Mỹ. Và bị quan tổng đốc Nam Định ra lệnh lùng bắt đích danh, ngài phải trốn. Về sau, quan phủ Hưng Yên bày mưu mua chuộc hai người bà con của ngài, để tìm ra tông tích. Ngài bị bắt tại họ Cầu Chay, xã Như Thiết ngày 1-8-1838 và bị đóng gông giải về Hưng Yên.

    Các quan thất bại trong việc bắt ngài quá khóa, nên chỉ hai ngày sau, đã ra án đệ vào kinh. Ngày 12-8, vua Minh Mạng châu phê. Khi bản án tử hình về tới, các quan điệu ngài đi xử trảm tại pháp trường Ba Tòa ( Nam Định). Hôm đó là ngày 21-8-1838. Đức Thánh Cha Lêô XIII đã tôn phong ngài lên bậc chân phước tử đạo ngày 27-5-1900 và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19-6-1988.
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 22 tháng Tám 2017
  18. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 22 tháng 08
    Kính ĐỨC MARIA TRINH NỮ VƯƠNG

    Ngày 1-11-1954, bốn năm sau khi tuyên bố tín điều Đức Maria hồn xác về trời, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng đội triều thiên lên tượng Đức Trinh Nữ là “sự cứu rỗi của dân Roma”. Đây là cử chỉ tượng trưng biểu thị sự công bố về vương quyền phổ quát của Đức Maria.

    Đoàn người đông đảo đứng chật quảng trường Đền thờ Thánh Phêrô, nhân danh cả hoàn cầu, dâng cao niềm hoan hỉ.

    Đức Thánh Cha cầm những vòng vàng dát đá quý từ khắp thế giới gửi về, để đặt trên đầu tượng Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài nói: Xin Mẹ cai quản trên Giáo Hội, trên mọi trí khôn, mọi cõi lòng, mọi cá nhân, mọi gia đình cũng như mọi xã hội và mọi quốc gia, trên mọi cộng đoàn, những người quyền thế. Xin mẹ hãy cai trị trên mọi nẻo đường và mọi quảng trường, trong thành thị và chốn thôn quê, trên nền trời, trên mặt đất và cả biển khơi.

    Ngài còn nói: Vương quyền của Đức Maria là một thực tại siêu vượt thế trần, đồng thời lại thấm nhập mọi cõi lòng và chạm tới phần cốt yếu sâu thẳm nhất có tính cách siêu nhiên và bất tử.

    Đức Maria là Mẹ thánh, tước hiệu này khiến cho Mẹ được đặc ân không bị thương tổn vì tội lỗi. Vô nhiễm nguyên tội, Mẹ cũng không bị thương tổn vì sự chết. Khi kết thúc cuộc đời trần gian cũng như từ những lời đầu tiên buổi truyền tin, mẹ là tuyệt đỉnh của nhân tính bất khả xâm phạm luôn hiệp nhất với Ngôi Lời để hoàn tất công cuộc cứu rỗi thế gian. Không một ý tưởng, hành vi nào của Mẹ lại rời khỏi con Mẹ trong việc chinh phục bản tính nhân loại và việc chinh phục vũ trụ.

    “Lễ Mông Triệu kéo dài một tuần đến lễ Đức Trinh Nữ Vương, lễ này cho thấy Đức Maria sáng chói như Nữ Hoàng và như bà Mẹ, Ngài cầu bầu cho chúng ta cạnh vua muôn thuở” (Marialis cultus, 6).

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  19. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 23 tháng 08
    Thánh ROSA LIMA, đồng trinh (1586-1617)

    Có những vị thánh chỉ đáng cho chúng ta thán phục hơn là bắt chước. Thánh Rosa thuộc loại này. Chúng ta tôn kính và thán phục sự thánh thiện của ngài nhưng không phải tìm cách bắt chước theo đường lối ngài đã theo để nên thánh. Thánh Rosa chính là người đầu tiên ở tân thế giới được phong thánh. Ngài trở nên quan trọng vì chứng tỏ rằng giữa sự bất công và phi nhân dính liền với cuộc chinh phục Mỹ Châu của người Tây Ban Nha, men Kitô giáo vẫn hoạt động.

    Rosa sinh tại Lima nước Peru năm 1568. Cha mẹ ngài, ông Caspar del Flores và bà Maria del Oliva, đặt tên cho ngài là Isabelle. Nhưng vì sắc đẹp của ngài, người ta gọi ngài bằng tên một loài hoa Rosa. Khi đến tuổi có trí khôn, thánh nữ đã muốn được gọi là Rosa Maria để tỏ lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ. Ngài còn có lòng yêu mến đặc biệt Thánh nữ Catarina Siena và can đảm bắt chước vị thánh này vì lòng yêu mến sống thinh lặng, hãm mình cũng như chuyên chăm cầu nguyện. Dường như được ơn Chúa gìn giữ đặc biệt, nên ngay vào buổi mà các trẻ em khác chưa có trí khôn, thánh nữ đã có những nét thánh thiện, đáng ghi nhớ. Lúc 5 tuổi, ngài đã hứa giữ mình trinh khiết. 6 tuổi, ngài đã ăn chay 3 lần trong tuần, chỉ ăn bánh và uống nước thôi.

    Gia đình nghèo túng, Rosa mất ngủ và thiếu ăn lại còn tự ý hãm mình để giảm đi sức hấp dẫn tự nhiên. Khi khách đến thăm khen ngợi sắc đẹp của mình, thánh nữ thoa hồ tiêu lên má cho sưng phồng lên. Khi người mẹ kết một vòng hoa lên đầu cho ngài, thánh nữ kín đáo kết gai vào trong cho đau đớn để cảnh giác tính xa hoa.

    Gia đình gặp khó khăn, Thánh Rosa đã tận tuỵ làm vườn suốt ngày, đêm về lại thức giấc vá may. Thánh nữ luôn luôn vâng lời cha mẹ. Dầu vậy trên 10 năm rời, ngài đã dốc quyết từ khước bước vào hôn nhân. Ngài còn cắt ngắn mái tóc đẹp hiếm hoi của mình. Sự từ khước đã gây nên nhiều phản ứng khốc liệt. Người ta bắt đầu vu oan giá hoạ cho ngài đủ điều, nhưng ngài đã nhẫn nại chịu đựng tất cả. Năm 1606, ngài gia nhập Dòng Ba Đaminh và nhận Thánh Catarina như gương mẫu đời mình.

    Ngoài những hy sinh hãm mình tự ý, Thánh Rosa còn phải trải qua những năm bị hiểu lầm, mù tối trong chính nội tâm. Dầu vậy, ngài vẫn nhẫn nại, khiêm tốn chịu dựng và không bao giờ mất niềm tín thác vào lòng từ bi vô bờ của Chúa. Ngài tìm săn sóc những trường hợp ghê tởm nhất.

    15 năm khủng khiếp trôi qua. Tâm hồn trung tín anh hùng đã được ân thưởng. Thánh Rosa gặp lại được ánh sáng. Ngài mời gọi mọi tạo vật hợp ý ca ngợi và yêu mến Thiên Chúa. Ngài nói: Nếu mọi người biết ơn thánh là gì, họ sẽ muốn được chịu đau khổ, sẽ đón tìm cực khổ, bắt bớ để chiếm hữu cho được, bởi vì ơn thánh là cái giá khôn sánh đáp đền cho lòng nhẫn nại.

    Đối với phép Thánh Thể Ngài nói: Điều mà mặt trời thực hiện trong thế giới hữu hình, sự thông hiệp Thánh Thể sẽ phát sinh trong tôi.

    Quả quyết tình Chúa quan phòng còn lớn gấp bội những khốn khổ và yếu đuối của con người, ngài nói: Tôi có một hôn phu có thể làm điều lớn lao nhất, sở hữu điều hoạ hiếm nhất. Tôi thấy mình mới chỉ biết trông đợi nơi Người có một chút đỉnh thôi.

    Từ đây, ngài luôn được an bình, ngài sống trong một cái chòi như một nhà ẩn tu. Năm 1614, ngài ở dưới sự bảo trợ của ông Don Gonzalo de Massa và vợ ông. Họ cho ngài trọ và săn sóc ngài trong cơn bệnh dài trước khi chết.

    Vào đầu tháng 8 năm cuối đời, cơn bệnh đau đớn dữ dội. Ngài thú nhận: Tôi không hiểu được tại sao bao nhiêu đau đớn như vậy lại đổ trên đầu một tạo vật.

    Nhưng đầy can đảm ngài nói: Lạy Chúa, xin tăng thêm những đau đớn, miễn là Chúa cũng thêm lòng yêu mến cho con.

    Ngày 24-8-1617, thánh nữ qua đời với lời cuối cùng trên môi: Chúa Giêsu, Chúa Giêsu, Chúa ở với tôi.

    Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)
     
  20. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    Ngày 24 tháng 08
    Kính Thánh Bartôlômêô, Tông Đồ

     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn