Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần 1 Mùa Vọng

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 2 tháng Mười Hai 2018.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    3.12.2018 – Lễ kính Thánh Phanxicô Xaviê – Bổn mạng các xứ truyền giáo

    « Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ »
    (Mc 16, 15-20)​

    15 Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án.17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ.18 Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.”

    19 Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa.20 Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM:

    1. “Cháy, cháy… trong tim”

    Trong cuốn Bạn Đường Chúa Giêsu, cha Hoàng Sóc Sơn viết về thánh Phanxicô Xaviê như sau:

    Trong 10 năm truyền giáo, ngài đã vượt gần 100 ngàn cây số đường biển, trên những con tàu buồm mong manh, để đến Ấn Độ, Malaixia, Inđônêxia, Nhật Bản và qua đời trên đảo Thượng Xuyên, đang khi mơ ước vào Trung Hoa […].

    Ai cũng phải công nhận ngài táo bạo đến mức liều lĩnh. Đường biển thời ấy luôn bị đe dọa vì bệnh dịch, bão tố và hải tặc, nhưng ngài tin tưởng nếu Chúa không cho phép, không có gì làm hại được ngài[1].


    Với những lao nhọc và thành quả truyền giáo phi thường như thế, thánh Phanxicô được coi là, theo như phần giới thiệu về thánh Phanxicô trong Sách Lễ Phụng Vụ Dòng Tên, một trong những nhà truyền giáo vĩ đại nhất trong lịch sử Hội Thánh, chỉ sau thánh Phaolô. Đối với Dòng Tên, ngài là nhà truyền giáo đầu tiên và số một; ngài được tuyên thánh năm 1622, và được Hội Thánh đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

    * * *​

    Đó chính là khuôn mặt của thánh Phanxicô Xaviê mà mọi người thường nói và viết. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên tự hỏi: những biến cố nào đã dẫn ngài đến với Phương Đông? Đâu là những kinh nghiệm đem lại cho ngài sức mạnh như vô tận để thực hiện được những điều phi thường như thế? Chắc chắn chúng ta chỉ có thể khám phá ra câu trả lời, khi trở lại với thời gian ngài học ở Paris.

    Trước hết, đó là kinh nghiệm ở cùng phòng với thánh I-nhã Loyola[2]. Kinh nghiệm này như các thư của ngài chứng tỏ, sẽ mãi mãi ghi dấu trong tim của thánh Phanxicô. Nhưng làm thế nào I-nhã đã chinh phục được Phanxicô? Điều này mãi vẫn là một bí ẩn giữa hai người, và ở đàng sau, đó là điều bí ẩn của chính Thiên Chúa. Chúng ta có thể so sánh bí ẩn này với bí ẩn của thánh Phaolô. Có người nói rằng, đó là nhờ vào sự kiên trì của I-nhã rỉ vào tai Phanxicô một câu nói của Đức Giêsu: “Được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì?” (Mc 8, 36) Điều này có lẽ là không đủ và chỉ có ý nghĩa tượng trưng mà thôi, bởi lẽ Lời Chúa không thể thấm vào lòng người bằng con đường áp đặt. Điều chúng ta có thể biết chắc chắn, đó là ngài được ví như “nắm bột thô nhất” trong số các bạn của I-nhã.

    Tiếp đến, đó là kinh nghiệm tình bạn trong Chúa, một tình bạn được thôi thúc bởi lòng ước ao trở thành những người phục vụ cho sứ mạng của Đức Kitô trong thời đại của các ngài. Tình bạn này được khởi sự và triển nở ngay trong những sinh hoạt rất bình thường của đời sinh viên, như học tập, trao đổi, giải trí, những việc làm thường ngày; tuy nhiên, tình bạn này chỉ trở nên “tình bạn trong Chúa” khi được nuôi dưỡng và trở nên sâu đậm bởi một đời sống thiêng liêng sâu xa của từng người và ngang qua những lúc họp mặt cầu nguyện và chia sẻ. Tình bạn của thánh Phanxicô và các bạn đạt tới đỉnh cao nơi lời khấn Montmartre, vào ngày 15/08/1534: cùng nhau sống khó nghèo, khiết tịnh và đi hành hương Giêrusalem; sau đó trở về làm việc cho phần rỗi tha nhân, những người tin cũng như chưa tin, rao giảng Lời Chúa và cử hành cách nhưng không các bí tích.

    Và sau cùng, phải kể đến kinh nghiệm Linh Thao. Chính thánh I-nhã đã hướng dẫn Linh Thao cho thánh Phanxicô vào cuối tháng 9 năm 1534, nghĩa là ngay sau lời khấn ở Montmartre. Chắc chắn, thánh Phanxicô đã học được rất nhiều điều trong suốt hơn mười năm ở Paris; tuy nhiên, khi đọc các thư của ngài, chúng ta có cảm tưởng rằng nội dung giảng dạy và cách thức ngài hướng dẫn người khác sống đức tin chủ yếu đến từ nội dung và phương pháp của Linh Thao!

    * * *​

    Bạn “cùng phòng” với thánh Inhã, tình bạn trong Chúa và tháng Linh Thao, theo một cách thức thích ứng với từng người, cũng chính là những kinh nghiệm mà mỗi người chúng ta đều đã và đang thực sự trải qua. Đối với chúng ta, kinh nghiệm bạn “cùng phòng” với thánh I-nhã phát xuất cách nào đó từ việc đọc và học Trình Thuật của thánh Inhã; kinh nghiệm này cần được nuôi dưỡng để không bị nhạt nhòa, ngang qua việc đọc đi đọc lại Trình Thuật và đọc thêm các bản văn khác của ngài, và đặc biệt ngang qua những hoạt động mừng kính ngài hằng năm (chẳng hạn như viết bài chia sẻ, sáng tác nhạc, ngâm thơ, hát vọng cổ, đóng kịch về thánh nhân). Kinh nghiệm cho thấy rằng, chúng ta càng hiểu và yêu mến thánh I-nhã, như thánh Phanxicô đã hiểu và yêu mến, chúng ta càng sẵn sàng để cho Chúa biến đổi và lòng chúng ta càng “bùng cháy” với niềm khát khao phụng sự Đức Kitô, Chúa chúng ta, như bài hát về thánh Inhã của cha Hữu Thu diễn tả: “Cháy, cháy… trong tim”. Thánh I-nhã có tài thông truyền “ngọn lửa” này cho những ai chịu “nói chuyện” với ngài và thực sự chịu để cho ngài hướng dẫn.

    Những kinh nghiệm này là ân sủng, đúng hơn là “đặc sủng”, vì Chúa ban một cách thật đặc biệt và với nhiều ưu ái cho thánh Phanxicô và tiếp tục ban cho mỗi người chúng ta theo cùng một cách thức. Ước gì “đặc sủng” này cũng làm cho con tim chúng ta bùng cháy để trở thành những người phục vụ “phi thường” cho sứ mạng của Đức Ki-tô hôm nay.

    2. « Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ

    a. Lắng nghe lời chứng (c. 14)

    Trước khi Đức Ki-tô phục sinh sai các tông đồ đi loan báo Tin Mừng: « Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ… », Ngài đã khiển trách các ông đã không tin và cứng lòng đối với lời chứng của các chứng nhân: « Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy » (c. 14).

    Như thế, Đức Ki-tô phục sinh rất coi trọng việc chúng ta làm chứng cho nhau, lời chứng của người khác dành cho chúng ta, lời chứng của chúng ta dành cho người khác. Trước khi trở thành chứng nhân, chúng ta được mời gọi mở lòng ra để lắng nghe các chứng nhân. Và điều này phải làm chúng ta ngặc nhiên: kinh nghiệm này cũng phải có, ngay cả đối với các tông đồ, vốn là các chứng nhân ưu tuyển ! Thật vậy, trước khi trở thành chứng nhân, chính các tông đồ cũng đã phải trải qua kinh nghiệm lắng nghe các chứng nhân khác, vốn đã được ban ơn nhận ra Đức Ki-tô phục sinh trước. Đó là chứng từ của bà Maria Magdala và chứng từ của hai môn đệ từ Emmau trở về (c. 9-13). Bởi vì chính Đức Ki-tô phục sinh hiện diện nơi lời chứng mà chúng ta chia sẻ cho nhau.

    b. Ra đi làm chứng (c. 15-18)

    Tuy vậy, một đàng Người khiển trách các môn đệ, đàng khác Đức Ki-tô phục sinh vẫn tin tưởng trao sứ mạng cho ông. Chúng ta hãy dừng lại suy gẫm từng lời của Đức Ki-tô:
    • Người mời gọi các môn đệ đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Đó là chiều kích phổ quát của việc loan báo Tin Mừng, bởi vì Tin Mừng của Đức Ki-tô và Tin Mừng của thế giới sáng tạo là một (x. Rm 10, 18 trích Tv 19, 5).
    • « Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, sẽ bị kết án ». Nhưng kinh nghiệm sống cho chúng ta nhận ra rằng, người ta đã « tự kết án » mình rồi, khi không tin, bởi vì không tin vào sự sống người ta tất yếu sẽ hành động cho sự chết, sẽ chứng minh sự chết mạnh nhất, do đó, sẽ trở thành nô lệ của thần chết.
    • Ngoài ra, Đức Ki-tô còn ban những dấu lạ, đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Đức Ki-tô, các chứng nhân trừ quỉ, nói tiếng lạ, cầm được rắn, uống thuốc độc cũng không sao và chữa bệnh bằng cách đặt tay.
    Thế hệ đầu tiên đã được ban những ơn đặc biệt như thế. Còn chúng ta, những ơn này bây giờ vẫn được ban, nhưng dưới những hình thức khác, tuy không ngoạn mục, nhưng sâu xa và bền vững hơn:
    • Ơn nhận định thần loại, nghĩa là phân biệt và nhận ra sự hiện diện và cách hành động của Chúa, đồng thời cũng nhận ra sự có mặt và các hành động « mưu mô » của Sự Dữ.
    • Ơn thông truyền đức tin và kinh nghiệm thiêng liêng gặp gỡ Chúa, cho dù có rất nhiều khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa…
    • Con rắn và thuốc độc là những biểu tượng của sự dữ và bạo lực. Chúng ta có thể chiến thắng nhờ Thập Giá Đức Ki-tô, như lời Tv 8: « Chúa cho miệng con thơ trẻ nhỏ, cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù, khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan ».
    • Chúng ta được mời gọi quan tâm chăm sóc bệnh nhân; bởi vì, bệnh nhân còn sống và được chữa lành bởi sự hiện diện cảm thông và yêu thương nữa, nhất là những trường hợp hiểm nghèo hay nan y.
    Nhưng trên hết là, chúng ta được mời gọi thi hành sứ mạng « nhân danh Đức Ki-tô », chúng ta chỉ là tôi tớ, là nữ tì; và vì thế, phải để cho Chúa hành động.

    c. Đức Ki-tô phục sinh lên trời (c. 19-20)

    « Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng ». Như thế, « lên trời » có nghĩa là « ngự bên hữu Thiên Chúa »; Đức Ki-tô đến từ Thiên Chúa và trở về với Thiên Chúa, ngang qua thân phận con người. Chúng ta cũng chia sẻ niềm vui với Đức Ki-tô; đồng thời đây cũng là niềm hi vọng lớn lao cho chúng ta:
    • Thân phận con người là đường đi, và thiết yếu là ơn huệ, và ơn huệ lớn nhất và căn bản nhất là ơn huệ sự sống, chứ không phải ngỏ cụt, hình phạt hay nơi chốn của thử thách, theo nghĩa người được thách vẫn chưa đáng tin, cần phải kiểm tra hay kiểm nghiệm. Bởi lẽ, Chúa đã đến phục vụ cho sự sống của chúng ta và Người đã « phục vụ đến cùng ».
    • Và nơi đến là chính Thiên Chúa; vì Ngài đã nói: « Thầy đi để dọn chỗ, trong Nhà Cha có nhiều chỗ; để thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy »; « Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em; Cha của Thầy cũng là Cha của anh em. »
    Ngoài ra, theo thánh Mác-cô, chính khi Đức Ki-tô « lên trời », Ngài đi vào cách hiện hữu mới, để có thể hoạt động cùng với các chứng nhân, là các Tông Đồ, là Giáo Hội, là mỗi người chúng ta.

    * * *
    Xin cho chúng ta nhận ra sự đồng hành rất âm thầm và kín đáo, nhưng cũng rất sống động của Đức Ki-tô phục sinh trong sứ vụ, trong ơn gọi gia đình hay dâng hiến và trong đời sống hàng ngày, ngang qua các dấu chỉ và ơn huệ, nhất là Lời Chúa và các Bí Tích.

    Mùa Vọng 2015
    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    [1] Hoàng Sóc Sơn, Bạn Đường Chúa Giêsu, 1997, trang 15-16.
    [2] Thánh I-nhã (1491-1556), Đấng sáng lập Dòng Tên (Dòng Chúa Giê-su; lễ nhớ ngày 31/07.


    <°)))>< . <°)))><



    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Hai 03/12/2018

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 3 tháng Mười Hai 2018
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    04.12.2018 – Thứ ba, sau Chúa Nhật I Mùa Vọng

    « Mặc khải cho những người bé mọn »
    (Lc 10, 21-24)​

    21 Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.”

    22 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết người Con là ai, trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha là ai, trừ người Con, và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.”

    23 Rồi Đức Giê-su quay lại với các môn đệ và bảo riêng: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy!24 Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.”


    (Bản dịch của Nhóm CGKPV)

    SUY NIỆM:

    Bản văn Tin Mừng có cấu trúc song song đối xứng như sau:

    (A) « Đức Giê-su hớn hở vui mừng » (c. 21)

    (B) Chúa Cha, Người con
    và “Kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (c. 22)

    (A’) « Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy! » (c. 23-24)

    1. « Đức Giê-su hớn hở vui mừng » (c. 21)

    Trước hết, chúng ta hãy ra khỏi mình để chia sẻ niềm vui với Đức Giê-su, chia sẻ mỗi ngày, vì đây là « niềm vui vĩnh cửu » của Người. Và niềm vui của Người đến từ việc nhận ra cách hành động của Chúa Cha và hoàn toàn được chinh phục. Tương tự như Đức Maria, Mẹ của chúng ta, đã thốt lên trong Thánh Thần: « Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa » vì đã nhận ra « những điều cao cả » Người làm cho Mẹ, là « Nữ Tì hèn mọn » và tương tự như vậy, cho « những ai kính sợ Người », cho « mọi kẻ khiêm nhường », cho « kẻ đói nghèo », cho tôi tớ đau khổ của Người là Israen:

    Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”.
    (c. 21-22)

    Và chuyển động ra khỏi mình để chia sẻ niềm vui ca tụng Chúa Cha của Đức Giê-su, chỉ trọn vẹn, khi chính ta cũng được Thánh Thần tác động, để nhận ra cùng một cung cách hành động của Chúa Cha được thể hiện trong cuộc đời và hành trình ơn gọi của chúng ta, và ca tụng Người trong niềm vui. Đó chính là con đường, là « linh đạo », làm cho chúng ta trở nên giống Đức Ki-tô. Và đây là linh đạo của mọi linh đạo, vì đến từ Kinh Thánh được hoàn tất nơi Đức Ki-tô. Nhưng, ai là những người khôn ngoan và ai những người thông thái ? Ai là những người bé mọn?

    2. Chúa Cha, Người Con và “Kẻ mà người Con muốn mặc khải cho” (c 22)

    Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su nói với Chúa Cha: « Lạy Cha là Chúa Tể trời đất… » (c. 21), sau đó với mọi người: « Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi… » (c. 22), và sau cùng với riêng các môn đệ đang hiện diện bên cạnh Người: « Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy… » (c. 23-24). Như thế, « những người bé mọn » mà Chúa Cha tuyển chọn để mặc khải là chính các môn đệ; và chính khi chúng ta biết khiêm tốn trở thành môn đệ của Đức Giê-su, chúng ta sẽ là « những kẻ bé mọn » mà Chúa Cha ưa thích. Bởi vì, chính Đức Giê-su cũng trở nên « bé mọn » ở giữa chúng ta trong mầu nhiệm Giáng Sinh, trong mầu nhiệm Thánh Thể và trong mầu nhiệm Thương Khó; và Chúa Cha nói về Người: « Đây là Con ta yêu dấu, Ta hài lòng về Người ».

    Trong cả ba lời nói này, Đức Giê-su đều nói về mặc khải (trái với mặc khải là dấu kín) và hệ quả của mặc khải: « Cha đã dấu kín…, nhưng lại mặc khải… »; « và những kẻ Người Con muốn mặc khải cho »; « phúc thay mắt nào được thấy », « muốn nghe điều anh em nghe ». Nhưng Chúa Cha và Người Con mặc khải những gì, để cho các môn đệ, là « những người bé mọn » thấy và nghe ? Điều các môn đệ thấy và nghe là chính Đức Giê-su: Đức Giê-su là mặc khải của Chúa Cha và cũng chính Đức Giê-su mặc khải về Chúa Cha cho những người bé mọn.

    3. « Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy!» (c. 23-24)

    Đức Giê-su là mặc khải lớn nhất của Chúa Cha và Chúa Cha là mặc khải lớn nhất của Đức Giê-su cho các môn đệ, là « những người bé mọn ». Vì thế, được « thấy và nghe » Người là một mối phúc. Phúc cho các môn đệ đang vây quanh Đức Giê-su, và cũng phúc cho chúng ta hôm nay, bởi vì chúng ta cũng được mời gọi mỗi ngày nhận ra, lắng nghe, hiểu biết, yêu mến và đi theo Người. Bởi vì, Người hiện diện và lên tiếng trong sáng tạo, trong lịch sử nhân loại và lịch sử đời tôi, và một cách trọn vẹn nơi Lời Kinh Thánh, Bánh Thánh Thể, được hoàn tất nơi mầu nhiệm Vượt Qua.

    Chúng ta vẫn có thể sống mối phúc « thấy và nghe » Đấng Vô Hình, bởi đôi mắt của chúng ta được dựng nên, có ơn gọi không phải là nhìn thấy những điều hữu hình, nhưng là nhận ra những thực tại vô hình: ngôi vị, tình yêu, tình bạn, sự hiện diện qua các dấu chỉ, quà tặng, ân huệ Thiên Chúa, sự hiện diện sáng tạo của Thiên Chúa nơi mọi sự:

    Lạy Đức Chúa là Chúa chúng con,
    lẫy lừng thay Danh Chúa trên khắp cả địa cầu

    (Tv 8, 2)

    Và đôi tai của chúng ta được ban cho, có ơn gọi không phải là nghe âm thanh, nhưng là nghe ra ý nghĩa, sự hài hòa của âm thanh, giai điệu, kết cấu của âm thanh, nghe ra Ngôi Lời trong mọi sự, vì « Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành » (Ga 1, 3 và St 1):

    Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa,
    không trung loan báo việc tay Người làm.

    (Tv 19, 2)

    Tương tự như với thánh Phê-rô, Đấng Phục Sinh sau khi vượt qua sự chết để đi vào sự sống vĩnh hằng, vẫn mời gọi thánh nhân, và ngang qua thánh nhân, Người vẫn tiếp tục mời gọi từng người chúng ta hôm nay: « Hãy theo Thầy » (Ga 21, 19).

    * * *​

    Và để đi theo Đức Ki-tô, chúng ta phải nhận ra Người. Đức Ki-tô phục sinh bày tỏ mình ra cách trực tiếp, đó là ơn đặc biệt Ngài dành cho các chứng nhân đầu tiên, để có thể thực hiện sứ mạng lớn lao và khó khăn; nhưng các chứng nhân này không được miễn trừ khỏi kinh nghiệm thứ hai, là kinh nghiệm dành cho mọi người, đó là hiểu Kinh Thánh trong tương quan với cuộc đời của Đức Giêsu và nhất là với mầu nhiệm chết và phục sinh của Ngài.

    Rồi Người bảo: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm.” Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh
    (Lc 24, 44)

    Ngày hôm nay, Đức Ki-tô vẫn hiện diện cách kín đáo, như Ngài đã làm với hai môn đệ Emmau, qua rất nhiều trung gian, để giúp chúng ta có kinh nghiệm nhận ra Ngài trong Thánh Lễ hằng ngày và trong đời sống cầu nguyện của chúng ta.

    Đức Ki-tô phục sinh giải thích mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài khởi đi từ Sách Thánh: Sách Thánh loan báo Đức Ki-tô và Đức Ki-tô hoàn tất Kinh Thánh. Đức Ki-tô đã “hoàn tất” Kinh Thánh như thế nào, thì cũng sẽ “hoàn tất” đời tôi như thế: Đời tôi cũng « loan báo » Đức Ki-tô và Đức Ki-tô hoàn tất đời tôi. Chính sự tương hợp này đã đem lại kinh nghiệm thiêng liêng: “con tim bừng cháy”.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Ba 04/12/2018
    Phúc thay mắt nào được thấy

     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    05.12.2018 – Thứ tư, sau Chúa Nhật 1 Mùa Vọng

    “Người ban BÁNH cho mọi chúng sinh”
    (Mt 15, 29-37)​

    29 Đức Giê-su xuống khỏi miền ấy, đến ven Biển Hồ Ga-li-lê. Người lên núi và ngồi ở đó.30 Có những đám người đông đảo kéo đến cùng Người, đem theo những kẻ què quặt, đui mù, tàn tật, câm điếc và nhiều bệnh nhân khác nữa. Họ đặt những kẻ ấy dưới chân Người và Người chữa lành,31 khiến đám đông phải kinh ngạc vì thấy kẻ câm nói được, người tàn tật được lành, người què đi được, người mù xem thấy. Và họ tôn vinh Thiên Chúa của Ít-ra-en.

    32 Đức Giê-su gọi các môn đệ lại mà nói: “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ không có gì ăn. Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường.”33 Các môn đệ thưa: “Trong nơi hoang vắng này, chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no? “34 Đức Giê-su hỏi: “Anh em có mấy chiếc bánh? ” Các ông đáp: “Thưa có bảy chiếc bánh và một ít cá nhỏ.”

    35 Bấy giờ, Người truyền cho đám đông ngồi xuống đất.36 Rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh và mấy con cá, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông.37 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được bảy thúng đầy


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM:

    1. “Đức Giê-su đến là để cho con người được sống và sống dồi dào”


    Đức Giê-su đến là để cho con người được sống và sống dồi dào (x. Ga 10, 10). Chúng ta thường hiểu sự sống mà Đức Giê-su đến phục vụ và phục vụ đến cùng, là “sự sống siêu nhiên” tách biệt và đôi khi xem thường “sự sống tự nhiên”. Tuy nhiên, như bài Tin Mừng kể lại cho chúng ta, vì “chạnh lòng thương”, Người quan tâm và phục vụ cho sự sống của con người ở mức độ căn bản nhất: đó là làm cho người bệnh được khỏe mạnh và làm cho kẻ đói có bánh ăn. Xin cho chúng ta cũng biết quan tâm đến nhau và và phục vụ cho sự sống của nhau ở mức độ căn bản nhất, vì chạnh lòng thương.

    Tuy nhiên, con người không thể ăn bánh, hay được chữa lành, mà lại, ngang qua nhu cầu rất căn bản này, không ước ao sự hiện diện, không hướng tới sự hiện diện. Chúng ta vẫn nói: “rượu ngon, phải có bạn hiền”. Ngang qua việc đón nhận lương thực và sự sống hàng ngày, con người chúng ta còn ước ao sự hiện diện nhân linh, nhân linh nghĩa là điều thuộc riêng con người, điều thuộc về nhân tính; và không chỉ sự hiện diện nhân linh, mà còn sự hiện diện thần linh nữa, nghĩa là ước ao trọn vẹn thay vì dở giang, tuyệt đối thay vì tương đối, mãi mãi thay vì mau qua.

    Đó là bởi vì con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, nên không thể không ước ao Thiên Chúa, dù ý thức hay không ý thức. Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa gieo vào nơi sâu thẳm của con người lòng ước ao. Ngài làm thế, chính là để làm thỏa mãn; Thiên Chúa làm thỏa mãn ước ao của con người nơi Đức Giêsu Kitô. Bỡi lẽ, một quà tặng quí giá cho một người hoàn toàn không có ước ao gì hay khao khát nào, thì chẳng có ý nghĩa, và không thể tạo ra niềm vui. Lòng ước ao nơi con người là một khoảng trống mà chỉ có Thiên Chúa mới lấp đầy được thôi.

    Chính Đức Giêsu là bánh đích thực, là lương thực đích thật đem lại sự sống. Bánh sự sống không phải là bánh ăn mãi không hết, cũng không phải là thứ bánh cải lão hoàn đồng, trường sinh bất tử, không phải thứ bánh ăn vào là no luôn, nhưng là căn tính của Đức Giêsu, là ngôi vị của Đức Giêsu, mà người ta được mời gọi đích thân “cảm nếm”.

    2. “Chúng con lấy đâu ra đủ bánh!”

    Đức Giê-su, vì lòng thương đám đông, không nỡ để họ trở về đói bụng, nên muốn cho họ ăn. Có điều là, Chúa muốn cho họ ăn, nhưng Chúa lại biểu các môn đề làm: “Anh em có mấy chiếc bánh?”. Có lẽ, chúng ta cũng đã từng có kinh nghiệm tương tự, ở bình diện cá nhân, gia đình, cộng đoàn hay Hội Dòng: Chúa mời gọi chúng ta làm điều vượt quá sức lực, khả năng và phương tiện có trong tay của chúng ta.
    Trong trường hợp này, giống như các môn đệ, chúng ta chỉ nghĩ đến những trở ngại, khả năng giới hạn và hoàn cảnh khó khăn, vốn gây chùn bước, của chúng ta: “Trong nơi hoang vắng này, chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no?” Lúc Đức Giê-su hóa bánh ra nhiều lần thứ nhất, theo Tin Mừng theo thánh Mác-cô, các môn đệ thưa với Đức Giê-su: “Chúng con phải đi mua tới hai trăm quan tiền bánh mà cho họ ăn sao?” Trước một nhu cầu lớn như thế, các môn đệ nghĩ ngay đến tiền. Chúa bảo mình làm nhưng lại không cho tiền ! « Tiền » ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả các phương tiện và điều kiện để làm việc, nhằm đáp ứng nhu cầu của người khác cách nhanh chóng và hiệu quả. Trong khi đó, Chúa chỉ cần chúng ta “chạnh lòng thương” như Chúa đã chạnh lòng thương mà thôi.

    Nhưng sống tương quan với Chúa, và nhất là khi cộng tác với sứ mạng của Chúa, nghĩa là làm chứng cho Tin Mừng qua đời sống tu trì, việc phục vụ, việc tông đồ, mục vụ…, chúng ta không thể chỉ suy xét trên bình diện phương tiện, nhưng còn phải đặt mình ở bình diện thần nhiệm nữa, như thánh Phaolô đã kinh nghiệm: « Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi : Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối » (2Cr 12, 8-9). Sống chiều kích thần nhiệm là kết hợp với Đức Kitô chịu đóng đinh và để sức sống Phục Sinh của Ngài tỏ hiện ra nơi con người giới hạn, mỏng dòn, yếu đuối của chúng ta, và nơi những phương tiện hạn hẹp và nghèo nàn của chúng ta.

    3. “Người cầm lấy bảy cái bánh và mấy con cá”

    Đức Giêsu hỏi về những gì các môn đệ đang có: “Anh em có mấy chiếc bánh?” Bởi vì Ngài muốn hành động khởi đi từ những gì chúng ta có và những gì chúng ta là. Chúng ta được mời gọi trao vào tay Chúa tất cả, tất cả những gì chúng ta có và những gì chúng ta là. Đức Giê-su không chê bỏ, nhưng đón nhận với tất cả sự trân trọng, hơn nữa còn đón nhận như ơn huệ của Chúa Cha:
    • Người cầm lấy bảy chiếc bánh và mấy con cá.
    • Dâng lời tạ ơn, bẻ ra.
    • Trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông.
    “Bảy chiếc bánh và một ít cá nhỏ” diễn tả con người thật của chúng ta, rất giới hạn, rất nghèo nàn và rất nhỏ nhoi. Nhưng nếu chúng ta quảng đại trao vào tay Chúa, thì trở thành điều kì diệu một cách nhiệm mầu. Và chắc chắn, trong mức độ nào đó, chúng ta đã có kinh nghiệm này rồi trong hành trình ơn gọi của từng người chúng ta hay trong các dự án tông đồ của cộng đoàn hay Hội Dòng. Chúng ta có thể dừng lại thật lâu để chiêm ngắm từng cử chỉ của Chúa, và để những cử chỉ này đánh động, gợi mở, soi sáng ơn gọi và những băn khoăn của chúng ta. Có ba cấp độ ý nghĩa của phép lạ bánh hóa nhiều.

    (1) Bánh lương thực. Bánh ăn hằng ngày đã hóa nhiều thực sự, và trong những năm thi hành sứ vụ, Đức Giêsu thực hiện 2 lần (theo Tin Mừng Gioan, thì một lần). Điều này cho thấy, Đức Giê-su đến không để giải quyết nạn đói cho con người. Vì con người có khả năng lo cho nhau no đủ, nếu biết chia sẻ. Phép lạ là những « dấu chỉ » của một thực tại khác.

    (2) Bánh Thánh Thể. Bánh Thánh Thể được trao ban cho chúng ta một cách quảng đại mỗi ngày trong Thánh Lễ ; chúng ta chỉ cần mở tay và mở lòng ra để đón nhận. Tuy không có sự dư tràn vật chất, nhưng lại có sự « dư tràn » về ơn huệ sự sống và ngôi vị của Đức Ki-tô. Ngoài ra, phép lạ « Bánh Lời Chúa » hóa nhiều cũng được Chúa thực hiện cho chúng ta mỗi ngày trong Thánh Lễ và nhất là khi chúng ta cầu nguyện với Lời Chúa và chia sẻ Lời Chúa.

    (3) Bánh đời tôi. Đây chính là ý nghĩa đích thật nhất và sâu sa nhất. Chúng ta được mời gọi dâng cho Chúa « tất cả », tất cả những gì chúng ta có và những gì chúng ta là ; và cái « tất cả » của chúng ta thì nhỏ bé và giới hạn như « bảy cái bánh và mấy con cá », nhưng chúng ta được mời gọi trao vào tay Chúa. Đây là cử chỉ mang chiều kích Thánh Thể : « bảy cái bánh và mấy con cá », là chính con người chúng ta, đã trở thành chính Chúa ; tương tự như bánh là « hoa mầu của ruộng đất và công lao của con người » nhưng được dâng cho Chúa, để trở thành « Bánh Trường Sinh » nuôi dưỡng chúng ta. Và chúng ta được mời gọi cộng tác để chia sẻ và trao ban chiếc « bánh đời tôi », đã được trao vào tay Chúa và Chúa làm cho trở thành chính Chúa, cho nhiều người.

    * * *​

    Bánh tiếp tục được ban cho dân của Chúa, cho từng người chúng ta mỗi ngày, mỗi ngày cách dư tràn. Bánh diễn tả hồng ân, hồng ân Thiên Chúa được ban ngang qua đất trời và bàn tay của con người của anh chị em, đó là những bữa ăn hàng ngày ; bánh diễn tả sự sống đời đời, đó là bánh Thánh Thể ; và cả hai đều diễn tả chính Chúa, chính Ngôi vị của Chúa. Đấng chúng ta khát khao và chỉ ngài mới làm chúng ta no thỏa, dư tràn.

    Xin cho chúng ta nhớ lại tình thương của Chúa, mỗi khi chúng ta dùng “Bánh” Chúa ban, để sống mỗi ngày và suốt đời như một lời tạ ơn và ca tụng Chúa:

    Người ban BÁNH cho tất cả chúng sinh.
    Muôn ngàn đời tình thương của Chúa.

    (Tv 136, 25)

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Tư 05/12/2018

     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    06.12.2018 – Thứ năm, sau Chúa Nhật 1 Mùa Vọng

    "Người khôn xây nhà trên đá"
    (Mt 7, 24)​

    21 “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa! ” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.

    24 “Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá.25 Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá.

    26 Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát.27 Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành”.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM

    Trong bài Tin Mừng theo thánh Mát-thêu của Thánh Lễ hôm nay, trích từ Bài Giảng Trên Núi, Đức Giê-su nói : « Người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành » (c. 26-27).

    Xin Lời Chúa làm cho chúng ta nhận ra sự ngu dại của chúng ta, bởi vì chúng ta thường hay xây dựng cuộc sống của chúng ta, cá nhân cũng như nhóm, cộng đoàn và gia đình, trên cát. Trên cát, có nghĩa là không phải trên Lời Chúa là đá tảng, nhưng trên những gì vốn có bản chất là chóng qua, là phù vân.

    1. Ơn cứu độ và Lề Luật

    Lời của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng theo thánh Mat-thêu trình bày cho chúng ta một khuynh hướng lệch lạc trong việc giữ Luật (x. « Đức Ki-tô và Lề Luật »: Mt 5, 17-48). Việc giữ Luật của chúng ta đôi khi chỉ có ở bên ngoài mà thôi, chỉ có hình thức, chỉ cho theo luật buộc, để lương tâm và người khác không chê trách, chứ không phát xuất từ lòng biết ơn và tình yêu con thảo đối với Thiên Chúa, là Cha của chúng ta, Đấng đã ban cho chúng ta biết bao ơn lành, ngang qua từng ngày sống. Chính vì thế mà Đức Giê-su nói:

    Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: « Lạy Chúa! lạy Chúa! » là được vào Nước Trời cả đâu! (c. 21)

    Và Ngài cũng nói, có những người nhân danh Ngài mà nói tiên tri, nhân danh Ngài mà trừ quỉ, thậm chí nhân danh Ngài mà làm phép lạ; nhưng đó chỉ là vẻ bề ngoài, còn trong lòng và trong cách sống với người khác, lại tăm tối và gian ác.

    Với những cách sống theo vẻ bề ngoài như thế, Đức Giê-su nhấn mạnh, chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào (Nước Trời) mà thôi ». Ở đây, Đức Giê-su không nói thi hành « Lề Luật », nhưng là thi hành « ý muốn của Cha Thầy », và cũng là Cha của chúng ta. Thế mà, ý muốn của Thiên Chúa lại sâu và rộng hơn Lề Luật, vì ý muốn của Chúa Cha còn liên quan đến con tim và lòng mến của chúng ta; và ý muốn của Chúa Cha còn liên quan đến lựa chọn ơn gọi của chúng ta, đến mọi hành vi, lời nói và tâm tình của chúng ta, ở mọi nơi mọi lúc.

    Gương mẫu tuyệt vời nhất của chúng ta là chính Chúa Giê-su, bởi vì Ngài đã sống với Chúa Chúa bằng tình yêu con thảo cách trọn vẹn và cho đến cùng.

    2. Ý muốn của Chúa Cha

    Như thế, để được vào Nước Trời, Đức Giê-su mời gọi chúng ta thi hành « ý muốn của Chúa Cha ». Nhưng ai trong chúng ta cũng gặp khó khăn trong nỗ lực tìm kiếm ý Chúa. Lề Luật, thì chúng ta có thể đọc được trong sách hay trong kinh, nhưng ý muốn của Chúa Cha thì không thấy ghi ở đâu hết, nhất là khi chúng ta muốn biết ý Chúa trong hoàn cảnh riêng của mình, trong trường hợp riêng của mình, trong những vấn đề riêng tư và tế nhị của mình, trong những khó khăn phức tạp của mình.

    Đi tìm ý Chúa cho chính mình, cho ơn gọi của mình hay trong một hoàn cảnh đặc biệt, luôn luôn là một hành trình khó khăn.Và dường như Chúa thích để như thế, Chúa thích chúng ta đoán ra ý Chúa, thay vì để cho Chúa phải nói thẳng ra. Giống như đối với cha mẹ : khi chúng ta còn bé, cha mẹ ra lệnh cho chúng ta ; nhưng khi chúng ta lớn rồi, cha mẹ sẽ rất vui, nếu chúng ta tự mình làm vui lòng cha mẹ, tự mình khám phá ra ý thích của cha mẹ. Và trong tình bạn và tình yêu cũng vậy, đoán ra ý nhau, mới thực sự là tình bạn, tình yêu và mang lại cho nhau niềm vui, thay vì cái gì cũng phải nói thẳng ra. Chúa cũng vậy, Chúa cũng sẽ vui thích khi chúng ta tìm kiếm và đoán ra ý Chúa với lòng mến.

    3. Lời của Đức Giê-su và Lề Luật

    Chính vì thế, trong nỗ lực tìm kiếm ý Chúa, lòng mến Chúa và lòng ước ao làm đẹp lòng Chúa là quan trọng nhất. Và lòng mến Chúa lại cần được diễn tả ra bên ngoài bằng đời sống cầu nguyện và việc siêng năng tham dự các bí tích. Và chính trong cầu nguyện và các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, mà chúng ta nhận được nền tảng vững chắc cho nỗ lực tìm kiếm ý Chúa Cha : đó là Lời của Đức Giê-su. Như chính Chúa nói trong bài Tin Mừng:

    Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành,
    thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. (c. 24)


    Đặc biệt trong những gì liên quan đến việc hiểu và sống Lề Luật (x. Mt 5, 17-48), Đức Giê-su mời gọi chúng ta không chỉ dừng lại ở chữ viết của Lề Luật, nhưng “hoàn tất” Lề Luật, “vượt qua” Lề Luật, bằng cách hiểu và sống theo Lời của Ngài:

    Anh em đã nghe Luật dạy rằng…
    Nhưng Thầy, Thầy nói với anh em…
    (Mt 5, 21.27.33.38 và 43)

    Đức Giêsu mời gọi chúng ta giữ Lề Luật, không chỉ ở bề ngoài, nghĩa là ở mức độ hành vi có thể quan sát được, nhưng giữ Luật Lề khởi đi từ chốn vô hình không ai thấy được: đó là con tim của chúng ta, là cõi lòng chúng ta, là chốn thâm sâu nhất của chúng ta. Và như thế mới là giữ Lề Luật một cách đích thật, mới là sống Lề Luật trong sự thật, mới là “hoàn tất Lề Luật”. Do đó, hoàn tất lề luật theo Đức Kitô, không phải là giữ luật thật chặt chẽ hết mức, nhưng là sống tối đa theo năng động của tình yêu Thiên Chúa, có ở nơi sâu thẳm của chúng ta, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa.

    Như thế, sự công chính đích thực mà Đức Giêsu mời gọi chúng ta sống, không hệ ở việc giữ luật thật chi li, bởi vì nơi của sự công chính đúng hơn nằm ở trung tâm vô hình sâu thẳm của con người. Chính con người cũng chẳng đạt tới đó được nếu chỉ với nỗ lực riêng của mình. Chỉ có một mình Thiên Chúa mới “thanh tẩy” được chốn thâm sâu đó của con người mà thôi.

    Nhưng nào ai nhận định được các lầm lỗi của mình?
    Xin thanh tẩy con khỏi những lầm lỗi vuột khỏi con.

    (Tv 19, 13)

    Một cách tận cùng, lời của Đức Giêsu mời gọi chúng ta đi đến tâm tình khiêm tốn, khiêm tốn với Thiên Chúa, khiêm tốn với người khác và khiêm tốn với chính mình. Như thế, hoàn tất không phải là bổ túc thêm, làm cho hoàn chỉnh luật đã có, cũng không phải đưa ra một bộ luật mới đòi hỏi tận căn hơn, nhưng là đẩy luật đi đến cùng đích của nó và để đi đến cùng, phải khởi đi từ đầu.
    Hoàn tất lề luật theo Đức Kitô không phải là giữ luật thật chặt chẽ hết mức, nhưng là một chuyển động của Thần Khí vượt qua Lề Luật, từ khởi đầu đến cùng đích (x. Mt 5, 17-48)

    * * *​

    Xây dựng cuộc sống của chúng ta, cá nhân cũng như nhóm, cộng đoàn và gia đình, trên Lời Chúa, sẽ bảo vệ, duy trì và phát triển sự sống, không chỉ sự sống mai sau, nhưng ngay sự sống này. Bởi vì, nếu không, sự sống của chúng ta sẽ trở nên chết chóc và sụp đổ tan tành, chết chóc và sụp đổ tan tành ngay ở đời này.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Năm 06/12/2018

     
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    07.12.2018 – Thứ sáu, sau Chúa Nhật 1 Mùa Vọng

    Mắt họ liền mở ra

    Lời Chúa: Mt 9, 27-31


    Ðang khi Ðức Giêsu ra khỏi nơi đó, thì có hai người mù đi theo kêu lên rằng: “Lạy Con Vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” Khi Ðức Giêsu về tới nhà, thì hai người mù ấy tiến lại gần. Người nói với họ: “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?” Họ đáp: “Thưa Ngài, chúng tôi tin.” bấy giờ Người sờ vào mắt họ và nói: “Các anh tin thế nào thì được như vậy.” Mắt họ liền mở ra. Người nghiêm giọng bảo họ: “Coi chừng, đừng cho ai biết!” Nhưng vừa ra khỏi đó, họ đã nói về Người trong khắp cả vùng.

    Suy niệm:

    Ở Việt Nam hiện nay có khoảng 500 ngàn người bị mù hai mắt,
    và 900 ngàn người mù một mắt.
    Tỉ lệ người mù như thế là cao so với nhiều nước khác.
    Bao cố gắng được đưa ra để giảm số người bị mù,
    trong đó có việc mổ cho 350 ngàn người mắc bệnh đục thủy tinh thể.
    Người ta hy vọng nhờ đóng góp của các ân nhân,
    sẽ có 100 ngàn người nghèo được mổ trong năm 2010.
    Hạnh phúc biết bao cho ai lần đầu tiên thấy khuôn mặt người thân,
    thấy được màu xanh của lá và phân biệt được sáng với chiều.
    Hạnh phúc cho ai lần đầu tiên đi đứng mạnh dạn một mình
    mà không cần bàn tay dắt hay cây gậy khua phía trước.

    Ở nước Palestin thời xưa cũng có nhiều người mù.
    Mù thường bị coi như một hình phạt của Thiên Chúa (Đnl 28, 28-29).
    Người mù hẳn là người bị đứng ngoài lề xã hội.
    Vào thời y khoa còn kém, người mù phải chịu cảnh tăm tối suốt đời.
    Nỗi đau của người mù cũng ảnh hưởng trên cả đất nước.
    Chính vì thế khi nói đến thời đại hạnh phúc của Đấng Mêsia,
    Isaia nhiều lần nhắc đến chuyện người mù được sáng mắt (Is 35, 5; 42, 7).
    Trong bài đọc 1 ta vừa nghe (Is 29, 18), ngôn sứ Isaia viết:
    “Mắt người mù sẽ thoát cảnh mù mịt tối tăm, và sẽ được nhìn thấy.”
    Được nhìn thấy bằng đôi mắt nghĩa là được mở ra với thế giới bên ngoài.
    Tiếp xúc bằng mắt vẫn có cái gì vượt trội hơn tiếp xúc bằng tay hay tai.
    Khi chữa lành những người mù và những tật bệnh khác,
    Đức Giêsu khai mở thời đại thiên sai (x. Mt 11, 2-6).
    Ngài cho thấy Nước Thiên Chúa nay đã đến.

    Khi hai anh mù gọi Đức Giêsu là Con vua Đavít (c. 27),
    họ nhìn nhận Ngài là Đấng Mêsia, Đấng Thiên Sai.
    Bởi thế họ hy vọng Ngài sẽ cho họ quà tặng của thời thiên sai.
    “Xin thương xót chúng tôi” là xin đưa chúng tôi ra khỏi cảnh mù lòa.
    Đức Giêsu đã muốn chữa hai anh một cách kín đáo, tại nhà của Phêrô.
    Ngài không chữa cho họ ngay lập tức, nhưng lại hỏi họ một câu rất lạ:
    “Các anh có tin là tôi có thể làm được điều ấy không?” (c. 28).
    Chỉ khi họ tuyên xưng niềm tin vào quyền năng của Ngài,
    Đức Giêsu mới mở mắt cho họ bằng một lời và một chạm nhẹ (c. 29).
    Niềm vui quá lớn khiến họ không giữ được lặng thinh (c. 31).

    Giáng Sinh là lễ của Ánh sáng, Ánh sáng ngay giữa đêm đen.
    Ơn của Mùa Vọng là ơn thoát ra khỏi cảnh tăm tối mù lòa.
    Mù lòa đâu phải chỉ là chuyện của 37 triệu người mù trên thế giới.
    Mù lòa về chính mình, mù lòa vì không thấy những Ladarô trước cửa,
    mù lòa về chính những người trong gia đình, trong giáo xứ,
    mù lòa vì không thấy Chúa vẫn đang hiện diện gần bên,
    những mù lòa ấy cũng nguy hiểm không kém và cần được chữa lành.
    Xin Giêsu đụng vào mắt tôi để tôi được sáng,
    và để tôi giúp người khác cũng được thấy ánh sáng Giêsu.​

    Cầu nguyện:

    Như người mù ngồi bên vệ đường
    xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

    Xin cho con được thấy bản thân
    với những yếu đuối và khuyết điểm,
    những giả hình và che đậy.

    Cho con được thấy Chúa hiện diện bên con
    cả những khi con không cảm nghiệm được.

    Xin cho con thực sự muốn thấy,
    thực sự muốn để cho ánh sáng Chúa
    chiếu giãi vào bóng tối của con.

    Như người mù ngồi bên vệ đường
    xin Chúa dủ lòng thương cho con được thấy.

    Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.




    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Sáu 07/12/2018

     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    08.12.2018 – Thứ sáu, Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

    “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa”
    (St 3,9-15.20; Lc 1,26-38)​

    26 Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét,27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.
    28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

    30 Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” 34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!”

    35 Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” 38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
    Rồi sứ thần từ biệt ra đi.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    SUY NIỆM

    Thật là nghĩa ý khi trong Mùa Vọng, Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta ơn vô nhiễm của Đức Mẹ. Để chuẩn bị cho Đức Maria trở thành Mẹ của Đức Kitô, Thiên Chúa đã ban cho Mẹ « đầy tràn ơn phúc » ; và ơn vô nhiễm diễn tả thật trọn vẹn và một cách nhưng không mọi ơn phúc Mẹ nhận được từ Thiên Chúa.

    Ơn huệ được ban, luôn là để chia sẻ. Đặc biệt đối với chúng ta, Mẹ chia sẻ qua việc cầu bầu cho chúng ta và đồng hành với chúng ta trong hành trình đi theo Đức Ki-tô, Con của Mẹ. Xin Mẹ cũng dạy dỗ để cho chúng ta cũng đón nhận, trở nên một và đi theo Đức Ki-tô đến cùng, nghĩa là đến tận chân Thập Giá và đững vững theo gương Mẹ (x. Ga 19, 25), trong ơn gọi mà Chúa ban cho chúng ta.

    Và trong ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm hôm nay, cũng như trong mọi ngày của cuộc đời, và nhất là « trong giờ lâm tử », chúng ta được mời gọi mở lòng ra để Mẹ chia sẻ cho chúng ta ơn vô nhiễm của Mẹ.

    1. Con rắn lừa dối

    Bài đọc 1, trích sách Sáng Thế, kể lại phần chất vấn Đức Chúa dành cho ông Adam và bà Evà, sau khi hai ông bà đã vi phạm lệnh truyền. Với bà Evà:

    ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: “Ngươi đã làm gì thế?” Người đàn bà thưa: “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.”
    (St 3, 13)

    Khi nghe và suy niệm lời này, chúng ta thường chỉ để ý đến hành vi phạm lệnh truyền, là « con đã ăn », và vì thế, có thái độ lên án ngấm ngầm hay công khai. Trong khi đó, Lời Chúa trong bản văn trích sách Sáng Thế kể về Tội Nguyên Tổ muốn giải thoát chúng ta một cách chính xác khỏi hành vi lên án, lên án mình, lên án nhau và cuối cùng lên án chính Chúa, ý thức hay không ý thức, bằng cách mặc khải cho chúng ta nguyên nhân sâu sa của tội, mà chính loài người chúng ta, ngang qua hình ảnh Hai Ông Bà Nguyên Tổ, cũng không làm chủ được. Nguyên nhân sâu sa của Tội Nguyên Tổ, nghĩa là của mọi tội, Đó chính là Con Rắn: « Con rắn đã lừa dối con », mà thánh Phao-lô gọi là Tội như một nhân vật: « Tôi đã chẳng biết ham muốn là gì, nếu Luật không dạy: Ngươi không được ham muốn. Tội đã thừa cơ, dùng điều răn mà làm nảy sinh trong tôi đủ thứ ham muốn” (Rm 8, 7-8). Theo pháp luật, để định tội, bao giờ cũng phải xác định nguyên nhân cũng như tình trạng và tình cảnh của người vi phạm; về phương diện này, tất cả chúng ta có thể đồng ý với nhau rằng, lúc ấy loài người còn rất trẻ và ít kinh nghiệm ! Vậy đâu là sự lừa dối của con rắn?

    Lời của con rắn hoàn ngược lại với Lời Chúa : Thiên Chúa đã nói, ăn vào thì chắc chắn sẽ chết (x. St 2, 17), còn con rắn nói: « Không, ông bà sẽ không chết. Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần » (St 3, 4-5). Nọc độc con rắn muốn gieo vào lòng bà Evà, và qua Evà cho cả loài người chúng ta, thật rõ ràng:
    • Thiên Chúa tạo dựng con người để đày đọa con người và cuối cùng là để cho chết, trở về với cát bụi và hư vô.
    • Bằng chứng hiển nhiên là Thiên Chúa cấm con người ăn trái cây có khả năng làm cho con người trở thành thần linh !
    • Và để ngăn cấm, Thiên Chúa lừa dối ông bà : trái cây mang lại những hiệu qua tuyệt vời như thế, nhưng Thiên Chúa lại nói, ăn vào thì chết !
    2. Nọc độc nghi ngờ

    Đó chính là cảm thức của người Do Thái trong sa mạc, và đó cũng chính là cảm thức của loài người chúng ta, của mỗi người chúng ta, mỗi khi gặp khó khăn, thử thách hay tai họa đến từ thân phận hay số phận của đời người: « Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này » (Ds 21, 5). Được giải phóng khỏi đất nô lệ chết chóc, được dẫn đưa vào sa mạc để hướng về Đất Hứa, được sinh ra làm người, được Thiên Chúa « bao bọc cả sau lẫn trước » để đi trên « chính lộ ngàn đời » (x. Tv 139), nhưng khi gặp khó khăn thử thách, Dân Chúa, từng người chúng ta, lại hiểu đó là dự án giết chết, là sự lừa dối, là án phạt hoặc sự đày đọa của Thiên Chúa, là « thử thách » ; « thử thách », theo nghĩa kiểm chứng, không tin tưởng, « thử thách » để dò xét và theo dõi, để xem con người có tốt không, có xứng không, có sai phạm không để xét xử, kết án và loại trừ!

    Nhưng tại sao Thiên Chúa lại lừa dối con người ? Ai đặt ra câu hỏi này, thì tức khắc rơi vào cái bẫy chết người của con rắn, của ma quỉ, của Satan, là đã bị rắn đọc cắn vào người. Bà Evà đã tin vào sứ điệp này của con rắn, và hành vi hái trái cấm bỏ vào miệng chỉ là hậu quả tất yếu theo sau. Như thế, tội trong yếu tính không phải là hành vi, nhưng là cả một diễn biến nội tâm dẫn đến hành vi, được gieo rắc bởi Ma Quỉ: đó là không tin thác nơi Thiên Chúa. Không tín thác nơi Thiên Chúa sẽ gây chết chóc cho mình và cho người khác, vì tất yếu, con người sẽ kêu trách Thiên Chúa, không chấp nhận mình, ham muốn những gì người khác có vì lòng ghen tị và tất yếu dẫn đến bạo lực (x. St 37, 12-27 : Giuse và các anh). Đúng như Thiên Chúa đã báo trước: « Ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ chết ». Chết, không phải do hình phạt, nhưng do « nọc độc nghi ngờ », chất chứa trong hành vi vi phạm.

    3. « Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa»

    Dựa trên nền tảng của tội nguyên tổ được hiểu như trên, chúng ta có thể khai mở ra cả một cách hiểu mới về ơn vô nhiễm của Đức Mẹ : Đức Maria, Mẹ của chúng ta, đã không tin lời con rắn, nhưng tin vào Lời Chúa. Trình thuật truyền tin nói cho chúng ta sự tín thác tuyện đối của Đức Mẹ:

    Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa,
    xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói.

    (Lc 1, 38)

    Lời « xin vâng » được thốt ra trong một thời điểm của cuộc sống, nhưng sẽ được Mẹ sống đến cùng nơi Thập Giá, nghĩa là nơi của thử thách và đau khổ tận cùng. Và hôm nay, ơn Vô Nhiệm của Mẹ còn nói cho chúng ta rằng, lời xin vâng của Mẹ đã hiện diện ngay ở khởi đầu ơn sự sống của Mẹ. Vì thế, lời xin vâng của Mẹ còn là một ơn huệ thuần túy và tuyệt đối của Thiên Chúa.

    * * *​

    Chúng ta cũng được mời gọi đặt lời xin vâng với lòng tín thác của chúng ta, được diễn tả ngang qua ơn huệ đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi, ơn gọi dâng hiến, ơn gọi độc thân hay ơn gọi hôn nhân, trong cùng một hành trình như Đức Mẹ: từ khởi đầu của sự sống đến điểm tận cùng của ơn huệ sự sống. Xin Mẹ nâng đỡ, cầu bầu và dạy dỗ chúng ta với tình Hiền Mẫu.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc




    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Bảy 08/12/2018

     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn