Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần 14 Mùa Thường Niên

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 7 tháng Bảy 2019.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    08.07.2019 - Thứ Hai, Tuần 14 Mùa Thường Niên

    Lòng tin của con đã cứu con

    Lời Chúa: Mt 9, 18-26

    18 Người còn đang nói với họ như thế, thì bỗng một vị thủ lãnh đến gần bái lạy Người và nói: “Con gái tôi vừa mới chết. Nhưng xin Ngài đến đặt tay lên cháu, là nó sẽ sống.”19 Đức Giê-su đứng dậy đi theo ông ấy, và các môn đệ cũng đi với Người.
    20 Bỗng một người đàn bà bị băng huyết đã mười hai năm tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người,21 vì bà nghĩ bụng: “Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu! “22 Đức Giê-su quay lại thấy bà thì nói: “Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con.” Và ngay từ giờ ấy, bà được cứu chữa.
    23 Đức Giê-su đến nhà viên thủ lãnh; thấy phường kèn và đám đông xôn xao, Người nói:24 “Lui ra! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy! ” Nhưng họ chế nhạo Người.25 Khi đám đông bị đuổi ra rồi, thì Người đi vào, cầm lấy tay con bé, nó liền trỗi dậy.26 Và tin ấy đồn ra khắp cả vùng.

    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKVP)


    Suy niệm

    1. Thân phận con người

    Bải Tin Mừng theo thánh Mát-thêu hôm nay kể lại biến cố Đức Giê-su thực hiện hai phép lạ, phép lạ này trong phép lạ kia: một chữa bệnh và một làm cho sống lại; những phép lạ này liên quan đến hai nghịch cảnh trong cuộc sống:
    • Người cha có đứa con gái mới 12 tuổi đã chết. Sự bất hạnh của em bé, nhưng cũng là nỗi đau của bố, của mẹ, của cả nhà.Theo lời kể của Thánh Mát-thêu, em bé đã chết rồi, còn theo các thánh sử Mác-cô và Luca (x. Mc 5, 21-43; Lc 8, 40-56), lúc người cha xin Đức Giêsu thì em bé chưa chết; nhưng lúc Ngài đang trên đường tới nhà, cháu bé mới chết. Chi tiết này làm bật lên nỗi đau của người bố và của cả gia đình là một nỗi đau kéo dài.
    • Người phụ nữ, có lẽ đã lớn tuổi, mang một thứ bệnh kín đáo trong người đã 12 năm. Trong cuộc đời của mỗi người chúng ta, có những thứ bệnh ai cũng biết, nhưng cũng có những thứ bệnh chỉ có một mình biết, kéo dài, nỗi đau triền miên.
    Hai nghịch cảnh, hai lứa tuổi nói cho chúng ta thật nhiều về thân phận và những vấn đề lớn của con người: bệnh tật và cuối cùng là cái chết, có thể xẩy ra ở bất cứ lứa tuổi nào; bệnh tật và sự chết làm bật lên sự liên đới của nhiều người; bệnh tật và sự chết là điều không thể tránh được, là giới hạn con người không thể vượt qua, vì thế tất yếu dẫn con người đến vấn đề Thiên Chúa, và buộc phải lựa chọn tin hay không tin.

    Và Lời Chúa cũng mặc khải cho chúng ta biết cách Thiên Chúa, ngang qua Đức Giêsu-Ki-tô, liên đới với thân phận con người như thế nào, với đau khổ và cả sự chết.

    2. Lòng tin

    a. Để được chữa lành, Chúa cần lòng tin và chỉ cần lòng tin mà thôi. Lòng tin của người phụ nữ thật đơn sơ, nhưng mạnh mẽ: “Tôi chỉ cần sờ được vào áo của Người thôi là sẽ được cứu”. Ở những nơi hành hương, người ta vẫn thể hiện lòng tin bằng cách đụng vào tượng thánh hay thánh tích. Tuy nhiên, ơn chữa lành đã không xẩy ra khi bà thực hiện hành động này, nhưng chỉ xẩy ra khi ánh mắt của Đức Giê-su hướng về bà và lời của Ngài dành cho bà một cách đích thân:

    Này con, cứ yên tâm, lòng tin của con đã cứu con[1].

    Được khỏe là một nhu cầu quan trọng, nhưng điều này vẫn chưa giải quyết được hết những vấn đề liên quan đến “sự sống” của một con người. Đời sống con người cần sức khỏe, nhưng khỏe thôi vẫn chưa đủ. Hơn nữa, xét cho cùng, người ta đâu có khỏe được mãi, và có rất nhiều phận người, sinh ra đã tật nguyền. Vì thế, người phụ nữ đau khổ nhiều năm và có nhu cầu chữa bệnh, Đức Giê-su đáp ứng nhu cầu của bà, nhưng đồng thời Ngài khơi dậy lòng ước ao của bà và hướng bà tới đối tượng đích thật của lòng ước ao. Đó là nhận biết Đấng Ban Ơn và đi vào tương quan đích thân với Ngài, để cho Ngài “cứu độ” bà, nghĩa là giải phóng bà khởi mọi sự dữ, ban cho bà “sự sống dồi dào” chiến thắng bệnh tật và sự chết, không chỉ cho hôm nay, nhưng còn cho mãi mãi, như niềm hi vọng mà phép lạ phục hồi sự sống cho bé gái mở ra cho bà và cho loài người.

    b. Cái chết của đứa con, nhưng lòng tin lại là lòng tin của người cha: “Con gái tôi mới chết, nhưng xin Ngài đến đặt tay trên cháu, là nó sẽ sống”. Lòng tin của bố cứu được con mình. Điều kì diệu này được ghi lại khắp nơi trong các Tin Mừng. Chính vì thế mà chúng ta được mời gọi cầu nguyện cho nhau, cho người sống và kẻ chết. Vì Chúa cũng yêu thương những người chúng ta thương yêu trong Chúa.

    Khi đến nhà em bé, Đức Giê-su đã không quan tâm đến tiếng tăm của mình, nhưng quan tâm đến sức khỏe và sự sống của em bé: “Họ chế nhạo Người” (c. 24). Sau này, trong cuộc Thương Khó, Ngài sẵn sàng mang vào mình cái chết sỉ nhục tận cùng, để bày tỏ lòng thương xót và dẫn chúng ta vào Niềm Hi Vọng. Làm cho một em bé hồi sinh là biến cố cá biệt, nhưng đem lại cho nhân loại chúng ta niềm hi vọng thật lớn và phổ quát: tất cả người chết sẽ sống lại, không phải để sống sự sống cũ, nhưng để sống sự sống mới, nếu Đấng Phục Sinh “cầm lấy tay”.

    3. Niềm Hy Vọng

    Cách Đức Giêsu đến với mỗi người mỗi khác: với người phụ nữ, bà cố để đụng được vào gấu áo của Người, nhưng với em bé, Ngài đến tận nơi: “Người đi vào, cầm lấy tay em bé, nó liền trỗi dậy”. Đó chính cũng là cách Chúa ban ơn cứu độ cho từng người, luôn luôn đích thân và duy nhất. Bởi lẽ người ta không thể công thức hóa ơn cứu độ, lề luật hóa lòng tốt của Thiên Chúa được.

    Những gì Ngài làm cho người phụ nữ và cho em bé, thật lạ lùng, nhưng cũng thật giới hạn. Vì người phụ nữ cũng sẽ bệnh lại và sẽ chết; em bé sau đó lớn lên và cũng sẽ qua đi. Nhưng đó là những dấu chỉ làm cho chúng ta xác tín rằng, Đức Giê-su quan tâm đến sự sống của mỗi người, của cả loài người chúng ta, và với mầu nhiệm Vượt Qua, Người làm cho chúng ta hi vọng đón nhận ơn huệ còn lạ lùng hơn, và đó sẽ là ơn huệ sự sống vô hạn.

    Chính niềm hi vọng đặt nơi ngôi vị của Đức Kitô phục sinh, làm cho chúng ta bình an và can đảm đảm nhận hôm nay phận người của mình và thân phận của cả những người khác nữa, nhất là những người thân yêu của chúng ta trong Gia Đình và trong ơn gọi dâng hiến.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    [1] Đây là chi tiết đặc biệt và rất có ý nghĩa trong cách thuật truyện của thánh sử Mát-thêu. Bởi vì, trong các trình thuật theo thánh Mác-cô và theo thánh Luca, người phụ nữ được lành bệnh ngay sau khi đụng vào áo của Đức Giê-su (x. Mc 5, 21 -43; Lc 8, 40 -56).


    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Hai 08/07/2019


     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 8 tháng Bảy 2019
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    09.07.2019 - Thứ Ba, Tuần 14 Mùa Thường Niên

    Đức Giê-su… rao giảng Tin Mừng Nước Trời
    và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền

    Lời Chúa: Mt 9, 32-38

    32 Họ vừa đi ra thì người ta đem đến cho Đức Giê-su một người câm bị quỷ ám.33 Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được. Dân chúng kinh ngạc, nói rằng: “Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ! “34 Nhưng người Pha-ri-sêu lại bảo: “Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ.”
    35 Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.
    36 Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKVP)

    Suy Niệm

    1. Tin Mừng Nước Trời


    Trong bài Tin Mừng theo thánh Mát-thêu hôm nay, cùng với việc giảng dạy để loan báo Tin Mừng Nước Trời, Đức Giê-su còn “chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”; không chỉ bệnh hoạn tật nguyền gây ra do thân phận của con người, nhưng còn do bởi ma quỷ, vốn luôn phá hoại tương quan tin tưởng và tình yêu giữa con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Bởi vì, con người không chỉ sống bằng sức khỏe thể lí, nhưng còn bằng tương quan nữa, tương quan với mình, với người khác và với Chúa; con người không thể sống bình an và hạnh phúc, nếu những tương quan này bị tổn thương.

    Ngoài ra, để cho sự sống này có ý nghĩa, con người còn cần có hướng đi và niềm hi vọng hướng tới cùng đích đáng ước ao và mong chờ; chính vì thế, Đức Giê-su còn quan tâm đến sứ mạng chăn dắt đối với con người nữa, vì dưới mắt Ngài, loài người chúng ta “lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt”.

    Như thế, Tin Mừng Nước Trời gắn liền với dấu chỉ phục vụ cho sự sống: ở đâu có Nước Trời, ở đó có sự phục vụ cho sự sống; và ở đâu có sự phục vụ cho sự sống, ở đó Nước Trời hiện diện. Đức Ki-tô đã phục vụ cho sự sống của loài người và từng người chúng ta “cho đến cùng”, nghĩa là trở thành “Bánh” nuôi dưỡng chúng ta, trở thành hiện thân của tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa cho chúng ta; và Ngài mời gọi mỗi chúng ta đích thân đón nhận sự phục vụ của Ngài, để có thể phục vụ như Ngài. Đó chính là cách thức Đức Ki-tô loan báo Tin Mừng và làm cho Nước của Thiên Chúa Cha trị đến.

    2. Ma quỷ làm cho câm

    Phép lạ Đức Giêsu chữa lành một người câm bị quỷ ám, được kể lại thật ngắn gọn, có lẽ không thể ngắn hơn:

    Người ta đem đến cho Đức Giê-su
    một người câm bị quỷ ám.
    Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được.

    (c. 32)

    Nhưng nếu dừng lại suy niệm, chúng ta sẽ nhận được nhiều ánh sáng. Cách nói “một người câm bị quỷ ám” có thể làm cho chúng ta hiểu rằng người này bị câm trước, rồi mới bị quỷ ám. Nhưng khi nạn nhân được giải thoát khỏi ma quỷ, thì nói được. Điều này có nghĩa là chính ma quỷ làm cho câm, không nói được. Vì thế, đó là một người “bị quỷ ám câm” (theo tiếng Hi-lạp); câm là hệ quả của việc bị quỷ ám.

    Lời nói quan trọng biết bao trong cuộc sống, để đi vào tương quan và duy trì tương quan, nhưng nhất là vì lời nói có sức mạnh làm cho sống hay giết chết, như sách Huấn Ca nói: “Có nhiều kẻ gục ngã vì lưỡi kiếm, nhưng làm sao sánh được với những kẻ gục ngã vì lưỡi người?” (Hc 28, 18). Chính vì thế lời nói là biểu tượng của chính sự sống và chúng ta gọi biến cố sinh ra của một con người là “tiếng khóc chào đời”. Cách hiểu này có nguồn gốc từ chính Ngôi Lời là sự sống (x. Ga 1, 4).

    Như thế, khi làm cho con người câm, ma quỷ muốn phá hoại sự sống, muốn gieo rắc bầu khí chết chóc vào trong sự sống. Hiểu như thế, ma quỷ vẫn còn hành động như thế hôm nay nơi tất cả mọi người, khi làm cho người ta “câm”, không phải thể lí, nhưng nghiêm trọng hơn, “câm” không nói được với Chúa những lời ca tụng và tạ ơn, không nói được với nhau những lời làm cho sống, những lời cảm thông, tha thứ, những lời làm cho tái sinh, những lời hiệp nhất, hiệp thông và yêu thương, những lời phục vụ cho sự sống.

    Đức Giê-su Ki-tô là Ngôi Lời Sự Sống và chúng ta được dựng nên bởi Ngài và cho Ngài; chính vì thế, chúng ta là những tạo vật có khả năng trao ban lời sự sống. Xin Chúa đến và xin cho chúng ta mở rộng lòng ra để đón nhận Ngài, để Ngài giải thoát chúng ta khỏi ma quỷ, để Ngài tái sinh và làm cho chúng ta sống đúng với căn tính của mình, là Con Thiên Chúa, luôn sống bằng Lời Sự Sống và trao ban Lời Sự Sống.

    Người bị ma quỷ làm cho câm, nhưng Đức Giê-su làm cho nói được bằng cách trừ quỷ. Nhưng những người chứng kiến lại nói: “Ông ấy dựa vào thế quỷ vương mà trừ quỷ”. Như thế, họ vốn nói được, nhưng đã trở thành “câm”! (x. Ga 9, 39).

    3. Lúa chín đầy đồng

    Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, và Ngài nhận ra họ giống như bầy chiên không người chăn dắt. Chúng ta dễ dàng hình dung ra bầy chiên sẽ ra như thế nào, khi không có mục tử : chúng sẽ vất vưởng, vì lạc lối, tán loạn không tìm ra hướng đi hay đường đi ; chúng sẽ lầm than, vì không tìm ra nguồn nước uống và lương thực đích thực, không tìm ra nơi chốn vĩnh cửu để nghỉ ngơi ; và kết cục, không sớm thì muộn, cũng sẽ bị bách hại bởi sói dữ, bị lôi kéo bởi những kẻ lừa đảo, chuyên dụ dỗ, bởi thần tượng hay ngẫu tượng đủ loại. Vào thời của Đức Giê-su, đã có những đám đông như thế ; và vẫn còn những đám đông như thế vào thời của chúng ta ngày nay.

    “Đám đông lầm than vất vưởng” ngày nay là những ai? Đó là những người, nhóm người, hay cả một xã hội, nhưng nhất là những người trẻ, mất hướng đi, mất niềm tin, chạy theo những mục đích chóng qua, bề ngoài, không có giá trị nhân bản, nhân linh truyền thống bền vững, chạy theo các thần tượng hay ngẫu tượng.

    Và chính chúng ta nữa, ở mức độ nào đó, cá nhân cũng như cộng đoàn, chúng ta cũng sẽ trở thành lầm than vất vưởng, mỗi khi chúng ta không để cho Đức Giê-su là mục tử, chăn dắt chúng ta, hướng dẫn chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta bằng Lời của ngài, bằng Mình và Máu Thánh của Ngài, mỗi khi chúng ta không đón nhận sự nghỉ ngơi và bình an mà Chúa ban cho chúng ta (x. Mt 11, 28-30).

    Tuy nhiên, Đức Giê-su lại coi tình trạng khốn khổ của đám đông như mùa gặt, và không như một mùa gặt tầm thường: « Lúa chín đầy đồng », nghĩa là trúng mùa và đem lại niềm vui! Lời này của Thánh Phao-lô giúp chúng hiểu tâm tình sâu xa của Đức Giê-su : « Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội » (Rm 5, 20). Lí do tận cùng, đó chính là vì Đức Giê-su chạnh lòng thương, nhận chăm sóc với tư cách là Người Mục Tử tốt lành, là Chủ Mùa gặt.

    Ngài là Chủ Mùa Gặt, nghĩa là Ngài có trách nhiệm, nhưng Ngài lại mời gọi các môn đệ và cả chính chúng ta nữa : « Xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về » ! Như thế, Ngài mời gọi chúng ta tham gia, chia sẻ trách nhiệm của Ngài đối với mùa gặt. Nhưng trong thực tế, Ngài không đợi các môn đệ xin, nhưng tức khắc, Ngài gọi các môn đệ, trao quyền và sai đi (đó là nội dung của bài Tin Mừng ngày mai: Mt 10, 1-8). Đơn giản vì đó là chuyện khẩn cấp ! Hình ảnh « bầy chiên không người chăn » và hình ảnh « mùa gặt đã đến » diễn tả thật rõ ràng khía cạnh khẩn cấp của sứ vụ. Và Ngài đã sai chính những người xin Ngài sai thợ ra gặt lúa về ! Điều này có nghĩa là, họ không chỉ xin Chúa sai người khác, nhưng còn ước ao cùng với Ngài chạnh lòng thương đám đông và xin Ngài sai chính họ.

    Chúng ta cũng vậy, chính khi chúng ta xin Chúa sai thợ ra gặt lúa về, chúng ta cũng được mời gọi đồng cảm với Chúa, cùng chạnh lòng thương không chỉ đối với đám đông xa xôi, nhưng đối với những anh chị em bên cạnh chúng ta. Và nhất là, chúng ta cũng tình nguyện trở thành thợ gặt của Chúa, để Chúa sai chính chúng ta đi. Và vì là mùa gặt và được sai đi gặt, chứ không phải đi xếp loại, phân loại, phân cấp, xét đoán hay lên án, chúng ta đi trong niềm vui và hi vọng.

    * * *​

    Kinh nghiệm thiêng liêng nào đã có thể làm phát sinh ra một lời nguyện trọn vẹn như thế, nếu không phải là kinh nghiệm được diễn tả trong lời này của Đức Giê-su: «Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy ». Khi nói ra lời này, với tư cách là Con của Thiên Chúa, chính Đức Giê-su đã có kinh nghiệm này và Ngài đã và sẽ sống đến cùng.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Ba 09/07/2019


     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    10.07.2019 - Thứ Tư, Tuần 14 Mùa Thường Niên

    Đức Ki-tô “gọi và sai đi”:
    Nước Trời và sứ mạng phục vụ cho sự sống

    Lời Chúa: Mt 10, 1-7

    1 Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.
    2 Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ: đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông;3 ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô;4 ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người.
    5 Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng: 6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.7 Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKVP)​

    Suy Niệm

    1. Ơn gọi

    Bài Tin Mừng theo thánh Mát-thêu kể lại cho chúng ta ơn kêu gọi của các Tông Đồ. Chiêm ngắm ơn gọi của các ngài, sẽ giúp chúng ta hiểu được ơn gọi của chính chúng ta ; bởi vì ơn gọi của các Tông Đồ là khuôn mẫu của mọi ơn gọi; và mọi ơn gọi đều khơi nguồn từ ơn gọi của các Tông Đồ và tham dự vào ơn gọi của các Tông Đồ.

    a. Đức Giê-su kêu gọi

    « Khi ấy, Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại ». Như thế, ơn gọi đến từ chính ý muốn và tiếng gọi của Chúa. Và ơn gọi của chúng ta cũng vậy, cho dù chúng ta đã đến với đời tu như thế nào, bởi những động lực hay lí do nào. Nhưng với thời gian, nhất là trong thời gian huấn luyện, chúng ta được mời gọi đặt đời tu của mình trên nền tảng tận cùng là “Ơn Được Gọi”. Nếu ơn gọi của chúng ta đặt trên một nền tảng khác, thì chắc chắn sẽ sụp đổ, không sớm thì muộn; và sụp đổ ngay từ bên trong. Và chúng ta cũng được mời gọi hiểu như vậy về ơn gọi đi theo Đức Ki-tô trong đời sống gia đình.

    « Khi ấy », nhưng khi ấy là khi nào? Chúa muốn gọi chúng ta từ khi nào? Chúng ta nghe được tiếng gọi của Chúa vào một lúc nào đó trong cuộc đời; nhưng theo Thánh Phaolô, Chúa đã gọi và chọn chúng ta ngay từ trong bụng mẹ và từ trước muôn đời:

    Thiên Chúa đã dành riêng tôi
    ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ,
    và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người. (Ga 1, 15)
    Trong Đức Ki-tô,
    Người đã chọn ta
    trước cả khi tạo thành vũ trụ. (Eph 1, 4)


    Xác tín này giúp chúng ta nhận ra rằng, ơn gọi là một ơn hoàn toàn nhưng không, chúng ta được Chúa tạo dựng là để sống đời dâng hiến.

    b. Ngài gọi đích danh

    Con số được gọi là Mười Hai. Điều này có nghĩa là số người được gọi là xác định, không có may rủi. Mỗi lớp tập hay mỗi lớp khấn, chúng ta thường so sánh hơn kém, nhiều ít. Nhưng trong Chúa, số người được gọi là xác định từ trước muôn đời.

    Và Chúa gọi đích danh từng người: Phêrô, Giacôbê, Gioan… Cũng vậy, Chúa cũng gọi tên từng người chúng ta. Chúng ta hãy hình dung từng khuôn mặt ngang qua tên gọi : ngoại hình, nguồn gốc, tương quan, khuynh hướng, nghề nghiệp, thao thức… Như thế, các môn đệ được Chúa gọi, khi các ông vẫn còn đầy giới hạn, bất toàn như chúng ta. Bởi vì, tiếng gọi của Chúa là nhưng không, đặt hết lòng tin nơi người được gọi. Ghi nhớ lòng tin « muôn ngàn đời » của Chúa đặt để nơi chúng ta, khi chúng ta chưa là gì và khi đã « là gì », thì là gì một cách rất bất xứng và sẽ mãi mãi là gì rất bất xứng, sẽ khởi dậy nơi chúng ta lòng khát khao đáp trả cách quảng đại và nhưng không.

    c. Cho sứ vụ

    “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.” (9, 36-38) Ngài gọi các tông đồ, Ngài gọi chúng ta chính là để cùng với Ngài chạnh lòng thương đám đông và phục vụ cho sự sống của đám đông.

    Nhưng chính chúng ta đã là và luôn luôn là đối tượng của tình yêu Thiên Chúa. Kinh nghiệm này thúc đẩy chúng ta biết chạnh lòng thương như Thánh Tâm Chúa. Chúng ta có thể tự hỏi, ngày nay, những ai là “đám đông” như thế, là đối tượng mà Đức Giê-su chạnh lòng thương?

    2. Ra đi

    Sứ mạng Chúa muốn trao cho các Tông Đồ khi kêu gọi các ngài, là sứ mạng phục vụ cho sự sống, như chính Đức Giê-su đã thực hiện, và sẽ còn thực hiện “cho đến cùng”. Bởi vì sự sống của con người vừa bị lầm than bởi bệnh hoạn tật nguyền đủ loại và có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, vừa bị chi phối nặng nề bởi ma quỉ. Ngày nay, thế giới càng hiện đại, ma quỉ càng có nơi ẩn náu kín đáo và phương tiện tinh vi để gieo rắc bầu khí chết chóc vào trong lòng người và trong mối tương quan giữa người với người. Vì thế, trong lời trao sứ mạng của Đức Giê-su, sứ mạng trừ quỉ được đưa lên hàng đầu:

    Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. (c. 1)

    Và bài Tin Mừng kết thúc với chỉ chị phải rao giảng “Nước Trời đã đến gần”. Như thế, dấu chỉ phục vụ cho sự sống gắn liền với mầu nhiệm Nước Trời đang đến. Bởi vì, Nước Trời là Nước của Thiên Chúa hằng sống, là “Đất của những người sống”, Đất của Sự Sống.

    Ngoài ra, Đức Giê-su còn căn dặn khá chi tiết: “Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel”. Như thế, khi thi hành sứ vụ, chúng ta luôn phải thi hành theo sự hướng dẫn của Lời Chúa, được lắng nghe trong cầu nguyện, qua việc nhận định thiêng liêng hay qua các trung gian. Trong những lời này, Đức Giê-su còn nêu rõ đối tượng của sứ vụ rao giảng Nước Trời: “các con chiên lạc nhà Israel”. Như thế, trong sứ vụ, người môn đệ luôn phải lựa chọn đối tượng ưu tiên; và khi lựa chọn, đừng quên “các con chiên lạc” của Chúa hiện diện ở giữa chúng ta, ở ngay bên cạnh chúng ta.

    3. Ở lại

    Nhưng trước khi được Đức Giê-su sai đi, các môn được mời gọi “ở lại” với Người, như thánh sử Mác-cô làm rõ chiều kích thiết yếu này của đời sống người môn đệ, khi kể lại ơn gọi của các Tông Đồ: “Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3, 14). Ở lại với Đức Giê-su và sau đó, được Ngài sai đi, làm nên hai chiều kích căn bản của đời sống chúng ta, đó là cầu nguyện và hoạt động. Hai chiều kích này đan xen vào nhau trong mỗi ngày sống của chúng ta (cầu nguyện hằng ngày), trong tháng sống (tĩnh tâm tháng), trong năm sống (tĩnh tâm năm) hay trong một giai đoạn huấn luyện hay hành trình ơn gọi đặc biệt.

    Chúng ta vẫn sống hai chiều kích này mỗi ngày, hay nói đúng hơn, hai chiều kích này vẫn được ban cho chúng ta mỗi ngày, nhưng dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay, chúng ta được mời gọi nhận ra đó là những điều Chúa muốn, và rằng đó là những điều làm cho chúng ta trở nên giống Chúa, vì đời sống của Chúa cũng được dệt nên bởi hai chiều kích này: “Khi ấy, Đức Giê-su lên núi”; và Ngài lên núi chính là để cầu nguyện, như lời tường thuật của thánh Luca: “Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6, 12).

    * * *​

    Nhưng với hình ảnh cây nho và cành nho, chúng ta được mời gọi ở lại trong tình yêu của Đức Giê-su mọi nơi mọi lúc, để có thể sinh hoa kết quả dồi dào cho vinh danh Chúa:

    Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. (Ga 15, 9)

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Tư 10/07/2019



     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    11.07.2019 - Thứ Năm, Tuần 14 Mùa Thường Niên

    NƯỚC TRỜI và dấu chỉ « nhưng không »

    Lời Chúa: Mt 10, 7-15

    7 Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần.8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.

    9 Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng.10 Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn.

    11 “Khi anh em vào bất cứ thành nào hay làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi.12 Vào nhà nào, anh em hãy chào chúc bình an cho nhà ấy.13 Nếu nhà ấy xứng đáng, thì -bình an của anh em sẽ đến với họ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em.14 Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại.15 Thầy bảo thật anh em, trong Ngày phán xét, đất Xơ-đôm và Gô-mô-ra còn được xử khoan hồng hơn thành đó.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKVP)
    Suy Niệm

    1. Lời và Luật


    Khi sai các môn đệ đi rao giảng, Đức Giê-su căn dặn rất chi tiết, chi tiết đến độ không thể thực hiện được:

    Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng.
    Đi đường, đừng mang bao bị,
    đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy.
    (c. 9-10)

    Và Đức Giê-su còn có nhiều lời mời gọi tương tự (x. Mt 5, 19-48). Tuy nhiên, nếu chúng ta không sống theo lời của Đức Giê-su, thì chúng ta sẽ giống như người xây nhà trên cát (x. Mt 7, 24-27), sẽ chẳng sinh hoa kết quả để tôn vinh Thiên Chúa (x. Ga 15, 5; 21, 3-6).

    Đức Giê-su cố ý nói thật triệt để như thế, để một đàng chúng ta không thể biến lời của Ngài thành lề luật, hiểu theo chữ viết, đàng khác mặc khải cho chúng ta một năng động được thúc đẩy và lôi cuốn bởi Thần Khí. Bởi lẽ, Lời Chúa là thần khí (x. 2Cr 3, 17). Không như một bản luật, những lời của Đức Giê-su không mô tả cho chúng ta những hành vi phải thực hiện một cách chính xác, nhưng mời gọi chúng ta tiến tới, nếu cần thiết, thật xa theo năng động mà lời của Người gợi ra.

    Ngoài ra, Đức Giê-su còn căn dặn khá chi tiết: “Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel”. Như thế, khi thi hành sứ vụ, chúng ta luôn phải thi hành theo sự hướng dẫn của Lời Chúa, được lắng nghe trong cầu nguyện, qua việc nhận định thiêng liêng. Trong những lời này, Đức Giê-su còn nêu rõ đối tượng của sứ vụ rao giảng Nước Trời: “các con chiên lạc nhà Israel”. Như thế, trong sứ vụ, người môn đệ luôn phải lựa chọn đối tượng ưu tiên; và khi lựa chọn, đừng quên “các con chiên lạc” của Chúa hiện diện ở giữa chúng ta, ở ngay bên cạnh chúng ta.

    2. Nước Trời và dấu chỉ “nhưng không”

    Lời rao giảng « Nước Trời đã đến gần » đi đôi với một dấu chỉ, đó là dấu chỉ « nhưng không »:

    Anh em đã được cho không,
    thì cũng phải cho không như vậy
    . (c. 8)

    Có thể nói, nếu chúng ta không kinh nghiệm sự nhưng không, không thực hành sự nhưng không, không xây dựng sự nhưng không, thì Nước Trời sẽ không hiện diện ở giữa chúng ta. Bởi vì Nước Trời là Nước của Thiên Chúa, và Thiên Chúa là nhưng không.

    Thiên Chúa là nhưng không, bởi vì Ngài tạo dựng nên muôn loài muôn vật và tạo dựng nên chính loài người chúng ta, khi chúng ta chưa làm được gì, chưa lập công được gì. Giống như cha mẹ trước khi sinh con, cha mẹ đã cho rất nhiều và còn muốn cho hơn cả cái mình có, hơn nữa, còn tha thứ và bao dung trước, dù người con sẽ như thế nào đi chăng nữa.

    Trong đời dâng hiến, Chúa gọi chúng ta đi theo Ngài trong một Hội Dòng, khi chúng ta chưa làm được gì cho Chúa và cho Dòng. Trong đời hôn nhân, Chúa ban tặng cuộc đời người này cho người kia, khi mà cả hai chưa làm được gì cho nhau. Lãng quên điều này, chúng ta không thể sống hạnh phúc và không thể sống đến cùng ơn gọi của mình; và nhất là không để cho Nước Trời trị đến trong ngay tâm hồn chúng ta và ở giữa gia đình, Cộng Đoàn của chúng ta.

    Vì thế, khi đọc lại đời mình, chúng ta được mời gọi nhận ra tình yêu nhưng không của Thiên Chúa ban cho chúng ta, nhưng không trong ơn huệ sự sống và cũng nhưng không trong ơn tha thứ. Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này : sự sống đích thật, chỉ có thể sinh ra và lớn lên được trong sự nhưng không mà thôi. Cuộc sống của chúng ta, nhất là trong Cộng Đoàn và ngay cả trong xã hội, nếu không có sự nhưng không, sẽ bị bóp nghẹt. « Nhưng không » thì ngược với « sòng phẳng ». Nếu Thiên Chúa là « sòng phẳng », thì không có sự sống, và nếu có, sự sống cũng không thể được duy trì ; giữa chúng ta cũng vậy, nếu chỉ là sòng phẳng, sẽ không có chúng ta trên đời, và nếu có, con người sẽ loại trừ nhau và cuộc sống sẽ trở nên gánh nặng không thể chịu nổi ; và nếu chúng ta sống sòng phẳng với nhau, chúng ta sẽ không có ngày hôm nay ở Cộng Đoàn này, chúng ta được qui tụ từ rất xa trong niềm vui sống ơn gọi như thế này.

    Chúng ta đón nhận sự sống, sự sống trên đời và sự sống trong ơn gọi (tu trì, gia đình) nhưng không chúng ta được mời gọi cũng trao ban nhưng không, bằng cách phục vụ nhưng không cho sự sống : sự sống thể lí (quan tâm đến những người nghèo hèn, bệnh tật) và sự sống nhân linh (con người sống không nguyên bởi không khí, nghĩa là nhu cầu, nhưng còn bầu khí ; ma quỉ thường làm ô nhiễm và tấn công vào bầu khi Cộng Đoàn và gia đình, tương quan giữa chúng ta : mù lòa, câm điếc, tê liệt đối với nhau). Những dị tật, vết thương, hiểu lầm, hiểu sai về mình, về Chúa, về nhau… là bệnh thật sự, thật khó chữa và cần phải chữa.

    3. « Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại Chúa tất cả »

    Lời dặn của Đức Giê-su thật là nhiệm nhặt: « Đừng kiếm vàng bạc hay tiền giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy ». Nếu làm theo, nhất là trong thời đại ngày nay, chúng ta sẽ không thể rao giảng được mấy ngày, thậm chí không đi xa được, vì không « đi dày dép hay cầm gậy », vốn là những phương tiện đi lại !

    Lời dặn của Đức Giê-su muốn nhắc nhở chúng ta rằng, sứ vụ của chúng ta phải được thi hành dựa trên ơn Chúa, chứ không phải là dựa trên các phương tiện và tài năng của chúng ta ; và nếu có các phương tiện và tài năng, thì tất cả là ơn huệ Chúa ban để chia sẻ và phục vụ. Và sẽ có lúc, chúng ta được mời gọi thực hiện kinh nghiệm nghèo khó và bất lực của các môn đệ trong phép lạ « Bánh Hóa Nhiều » (x. Mt 14, 13-21), hay như kinh nghiệm này của thánh Phao-lô : « Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” » (2Cor 12, 8-9). Chính khi đó, chúng ta được mời gọi thân thưa với Chúa : « Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại Chúa tất cả ».

    * * *​

    Đó chính là hành trình của « hạt lúa mì » mà Đức Ki-tô sẽ hoàn tất trong mầu nhiệm Vượt Qua, và mời gọi mỗi người chúng ta cùng đi với Người hôm nay.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Năm 11/07/2019

     
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    12,13.07.2019 - Thứ Sáu & Thứ Bảy Tuần 14 Mùa Thường Niên

    “Khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”

    Lời Chúa: Mt 10, 16-23; 24-33

    16 Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải k1hôn như rắn và đơn sơ như bồ câu.
    17 “Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ.18 Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết.19 Khi người ta nộp anh em, thì anh em đừng lo phải nói làm sao hay phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết phải nói gì:20 thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.
    21 “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết.22 Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.
    23 “Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật anh em: anh em chưa đi hết các thành của Ít-ra-en, thì Con Người đã đến.

    * * *

    24 “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ.25 Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi. Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bê-en-dê-bun, huống chi là người nhà.
    26 “Vậy anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết.27 Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng. 28 “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.29 Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em.30 Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi.31 Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.
    32 “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.33 Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.

    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKVP)
    Suy Niệm (ngày 12,13/7/2019)

    1. Sự chết

    Khi thi hành sứ mạng phục vụ cho sự sống của con người, người môn đệ có nguy cơ mất đi chính sự sống của mình.

    Bởi vì con người không chỉ đau khổ vì thân phận sinh lão bệnh tử, nhưng còn bị chi phối nặng nề bởi Sự Dữ, vốn gây ra bầu khí chết chóc và chính cái chết cho con người (x. St 3, 1-7: Con Rắn gieo nọc độc vô ơn, ham muốn và ghen tị gây chết chóc trong lòng con người và trong tương quan giữa người với người).

    Phục vụ cho sự sống đến độ đánh liều chính sự sống của mình. Nhưng đó lại là con đường nhận lại sự sống trong Chúa, giải phóng sự sống hôm nay khỏi Sự Dữ và tất cả những gì liên quan đến Sự Dữ, vì thế làm cho sự sống trở nên đích thật và hướng về sự sống viên mãn mai sau, theo khuôn mẫu của mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô. Chính vì thế, Đức Giê-su nói:

    Này, Thầy sai anh em đi
    như chiên đi vào giữa bầy sói
    . (c. 16)

    Như thế, sự chống đối, thậm chí bách hại, là tất yếu; như hình ảnh “chiên và sói” gợi ra: một bên là hiền lành và một bên là bạo lực, muốn hủy diệt. Nhưng lí do của sự chống đối không phải là chính bản thân các môn đệ, nhưng là “vì Thầy”, “vì danh Thầy”, bởi vì Thầy mới là “Con Chiên” đích thật của Thiên Chúa, là Đấng mà các môn đệ rao giảng và được mời gọi trở nên một với Ngài. Người môn đệ được mời gọi trở nên một với Đấng mình rao giảng, vì Ngài đã trở nên một với môn đệ trước.

    “Người đời” đã bách hại Thầy và Đức Giê-su nói: “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi. Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bê-en-dê-bun, huống chi là người nhà”. Và “Người đời” tiếp tục bách hại Thầy nơi các môn đệ, bởi vì Thầy là “Chiên lành”, “Sự Thiện”, “Thiên Tính”, “Ánh Sáng”, “Sự Sống, “Sự Thật”. Vì thế, một cách tương ứng, kẻ bách hại không phải là những con người cụ thể, nhưng là “Sói Dữ”, “Sự Dữ”, “Thú Tính”, “Gian Dối”, “Bóng Tối”, “Sự Chết” hành động nơi những con người cụ thể. Thế mà, Sự Dữ và những gì thuộc về Sự Dữ có mặt ở khắp nơi và nơi mọi người, và có nơi chính các môn đệ! Vì thế, sự chống đối của Sự Dữ có thể bùng lên từ những nơi và những người thiết thân nhất: “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết.” “Sói Dữ” không phải là con người, những là thú tính hiện diện và chi phối con người chống lại “Chiên Lành”.

    2. Sự Sống

    Nhưng lời loan báo của Đức Giê-su về sự bách hại thậm chí giết hại, lại chứa đựng Sự Sống của Thiên Chúa và hướng đến Sự Sống viên mãn của Người, theo khuôn mẫu của “Hạt Lúa Mì”, nghĩa là của mầu nhiệm Vượt Qua. Thật vậy, bách hại, nhưng lại là cơ hội “để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết”; và bởi vì đây là chứng từ tận cùng, nghĩa là “chứng từ sự sống”, như Đức Ki-tô trong cuộc Thương Khó, người môn đệ được dẫn vào kinh nghiệm “thần nhiệm” về Thiên Chúa Ba Ngôi: người môn đệ bị bách hại vì Chúa Con, nên được Chúa Cha ban Chúa Thánh Thần để Người lên tiếng và hành động nơi các môn đệ, như Đức Giê-su nói:

    Vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ cho anh em biết
    phải nói gì: thật vậy, không phải chính anh em nói,
    mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.”
    (c. 19-20)

    Và sự bách hại không phải là vô tận, nhưng sẽ kết thúc với biến cố “Con Người đến” một cách bất chợt. Đó là hướng đi tất yếu của lịch sử cứu độ, bởi vì Đức Ki-tô đã vượt qua sự bách hại và chính sự chết, và Ngài sẽ lại đến để dẫn đưa sáng tạo và lịch sử đi vào một chiều kích vừa vĩnh cửu và vừa mới mẻ. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể hiểu, chính sự bách hại khiến người môn đệ phải trốn chạy: “Khi người ta bách hại anh em trong thành này, thì hãy trốn sang thành khác”, sẽ làm cho người môn đệ trở nên giống với Đức Ki-tô và mau đến với Người.

    Con Người đến với chúng ta, hay chúng ta đến với Con Người, còn nhắc nhớ Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người: Người đã bị giết chết, nhưng Người đã phục sinh, để trở nên sức mạnh và niềm hi vọng cho người môn đệ thuộc mọi thời.

    3. “Đừng sợ”

    Tuy nhiên, đứng trước viễn tượng chống đối tất yếu và tận căn như thế, không ai có thể tránh được sự sợ hãi ; và chính Đức Ki-tô cũng có kinh nghiệm này trong Vườn Dầu. Vì thế, khi Người mời gọi người môn đệ nhiều lần « đừng sợ » (ba lần ở những câu 26, 28 và 31 trong bài Tin Mừng ngày mai : Mt 19, 24-33), thì đó không phải là sự sợ hãi thuộc bình diện tâm lí, vì ở bình diện này, con người không thể không sợ, nhưng Người gọi người môn đệ « đừng sợ », đừng lung lạc, đừng để ma quỉ làm cho nghi hoặc, ở bình diện tín thác, mà người môn đệ đặt để nơi Sự Thật, quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa.

    (a) Tín thác nơi chân lí của sứ điệp Tin Mừng, của chính Đức Ki-tô, bởi vì Người là Chân Lý ; và Chân Lý này hôm nay được rao giảng bởi các môn đệ, nhưng một ngày kia sẽ được tỏ bày cho tất cả mọi người:

    Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.(c. 26-27)​

    (b) Người môn đệ còn được mời gọi tín thác nơi quyền năng mạnh hơn sự chết của Thiên Chúa:

    Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. (c. 28)​

    (c) Và nhất là người môn đệ được mời gọi tín thác nơi tình yêu quan phòng của Người:

    Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ. (c. 29)​

    Khi nói về tình yêu quan phòng của Thiên Chúa Cha, ngang qua hình ảnh « con chim sẻ », Đức Giê-su đã làm cho lời nguyện Thánh Vịnh được hoàn tất (x. Lc 24, 44) ; thật vậy, theo con đường thiêng liêng của lời nguyện Thánh Vịnh, Người mời gọi chúng ta nhận ra tình yêu đặc biệt của Thiên Chúa dành cho con người khởi đi từ công trình sáng tạo của Người:

    Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo
    muôn trăng sao Chúa đã an bài,
    thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến,
    phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?
    (Tv 8, 4-5)

    Chim sẻ rẻ tiền như thế, nhưng vẫn không bị loại bỏ khỏi sự quan tâm yêu thương của Chúa Cha, trong khi chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được tái sinh trong Máu Đức Ki-tô để trở nên con Thiên Chúa, vì thế, Người quí trọng từng « sợi tóc » trên đầu của chúng ta (c. 31). Chứng kiến từng sợi tóc rụng theo năm tháng, nhất là khi đến tuổi trung niên, thay vì sợ hãi, chúng ta được mời gọi tín thác nơi Thiên Chúa « muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương » (Tv 136).

    Vì thế, không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Ki-tô, dù cho đó là “gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?… là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác” (Rm 8, 35-39). Chính tình yêu Thiên Chúa cuốn hút con tim và làm cho người môn đệ “tuyên bố Thầy trước mặt thiên hạ” (c. 32), nghĩa là sống tương quan thiết thân với Người trong mọi nơi mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh.

    * * *​

    Khi bắt đầu nói về sự bách hại, Đức Giê-su mời gọi người môn đệ:

    Vậy anh em phải khôn như rắn
    và đơn sơ như bồ câu.
    (c. 16)

    Chúng ta chỉ có thể hiểu đúng lời mời gọi này khi chiêm ngắm Mầu Nhiệm Thương Khó của Đức Ki-tô, để nhận ra Khuôn Mặt của Đức Ki-tô chịu đóng đinh, rạng ngời sự đơn sơ và khôn ngoan của Thiên Chúa và để cho con tim chúng ta được chinh phục.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Sáu 12/07/2019

     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    13.07.2019 - Thứ Bảy, Tuần 14 Mùa Thường Niên

    Hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong Hỏa ngục

    Lời Chúa: Mt 10,24-33

    24 “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ.25 Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là khá lắm rồi. Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bê-en-dê-bun, huống chi là người nhà.26 “Vậy anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết.27 Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.28 “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.29 Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em.30 Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi.31 Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.32 “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.33 Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.
    Suy niệm:

    Sợ hãi có quan hệ gì với vương quốc của Thiên Chúa? Sợ hãi có một sức mạnh ghê gớm. Nó có thể dẫn chúng ta tới hoang mang và trốn tránh, hay nó có thể khích lệ chúng ta tới đức tin và hành động. Sự kính sợ Thiên Chúa là thuốc giải cho sự sợ hãi cái chết. Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại. Giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng. Kính sợ Chúa đi, đoàn dân thánh hỡi, vì ai kính sợ Chúa chẳng thiếu thốn điều gì. Các con ơi, hãy tới mà nghe, ta sẽ dạy cho biết đường kính sợ Chúa (Tv 34,4.9.11).

    Sự sợ hãi tốt lành – Kính sợ Chúa

    Kính sợ Chúa là gì? Đó là lòng tôn kính đối với Đấng đã tạo dựng nên ta trong tình yêu, và Đấng nâng đỡ chúng ta với lòng thương xót và nhân hậu. Vết thương hay nỗi mất mát lớn nhất mà chúng ta có thể cảm nghiệm được không phải về thể lý, nhưng về tinh thần – mất linh hồn ai đó cho quyền lực của Hoả ngục (Mt 10,28). Sự kính sợ Thiên Chúa lành mạnh dẫn tới sự trưởng thành tâm linh, khôn ngoan và phán đoán đúng đắn, và nó giải thoát chúng ta khỏi sự nô lệ của tính kiêu ngạo, lừa dối, và hèn nhát tội lỗi – đặc biệt trong bộ mặt lừa dối về tội lỗi và tâm linh. Bạn có tin tưởng vào ơn sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa, và quy phục lời Người không?

    Khi Ðức Giêsu rao giảng nước Thiên Chúa, Người đã gặp sự chống đối và thù địch. Nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo chống đồi Đức Giêsu vì họ khước từ tin rằng Người là Đấng Messia (Đấng được xức dầu của Thiên Chúa) và tin quyền năng của Người đến từ Thiên Chúa. Họ nói rằng sức mạnh của Người đến từ Beelzebul – là tướng quỷ, cũng gọi là Satan hay quỷ dữ. Đức Giêsu minh chứng quyền năng của vương quốc Thiên Chúa qua vô số các điềm thiêng dấu lạ và quyền giải thoát con người khỏi sự tác hại và lừa dối của Satan.

    Lựa chọn vương quốc của Thiên Chúa

    Về cơ bản, chỉ có hai vương quốc đối nghịch nhau – vương quốc ánh sáng của Thiên Chúa – sự thật và sự công chính của Người (tốt về luân lý) và vương quốc tăm tối của Satan – sức mạnh của hắn là lừa dối và cám dỗ con người nổi loạn và làm những điều sai trái xấu xa. Không có phe trung lập – chúng ta chỉ chọn vương quốc của Thiên Chúa hay ngược lại. Chúng ta chỉ chọn lựa Đức Giêsu và vương quốc Người đem tới – luật lệ bình an và công chính của Thiên Chúa, hay chúng ta chọn vương quốc của thế gian này chống lại chân lý và sự công chính của Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng họ cũng sẽ bị đối xử tương tự: sự chống đối và thù địch, nếu họ nhận Người là Chúa ( Đấng Messia) và là Chủ (Thầy) của họ.

    Trong lời nói của Đức Giêsu có cả sự cảnh báo và đặc ân. Giống như Ðức Giêsu phải vác thập giá để chịu khổ và chết vì chúng ta, thì các môn đệ của Đức Kitô cũng phải vác thánh giá đau khổ của mình vì Đức Kitô và không được trốn tránh nó. Đau khổ vì đức tin là chia sẻ công việc của Đức Kitô. Như một bài thánh ca đã nói: Hãy nâng cao thánh giá của Đức Kitô! Hãy bước tới nơi nào bước chân Người đã bước. Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta sức mạnh và ơn sủng để sống như người môn đệ của Ðức Giêsu Kitô. Bạn có tin tưởng vào ơn sủng của Thiên Chúa để vác lấy thánh giá của bạn vì Ðức Giêsu không?

    "Lạy Chúa Giêsu, niềm vui và đặc ân của con đó chính là được làm môn đệ của Chúa. Xin ban cho con sức mạnh và lòng can đảm để đón nhận bất kỳ khó khăn và đau khổ nào, có thể xảy đến trên con đường phụng sự Chúa và vâng phục ý Chúa của con. Chớ gì con làm chứng cho người khác về niềm vui của Tin mừng – Tin mừng vương quốc bình an, niềm vui, và công chính của Chúa."

    Tác giả: Don Schwager
    Bro. Paul Thanh Vu
    – chuyển ngữ



    <°)))>< . <°)))><

    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Bảy 13/07/2019

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 12 tháng Bảy 2019 at 6:34 PM

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn