Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần 15 Mùa Thường Niên

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 14 tháng Bảy 2019.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    15.07.2019 - Thứ Hai Tuần 15 Mùa Thường Niên

    “Ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được”

    Lời Chúa: Mt 10, 34 – 11, 1


    10.34 “Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo.35 Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng.36 Kẻ thù của mình chính là người nhà.

    37 “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.38 Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.39 Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.

    40 “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.41 “Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính. 42 “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.”

    11.1 Ra chỉ thị cho mười hai môn đệ xong, Đức Giê-su rời chỗ đó, đi dạy dỗ và rao giảng trong các thành thị trong miền.

    Suy Niệm:

    1. Bình an hay gươm giáo?

    Một trong những lời khó hiểu và dường như mâu thuẫn nhất của Đức Giê-su chính là lời sau đây, được thánh Mát-thêu kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay:

    Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo. Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng. Kẻ thù của mình chính là người nhà (c. 34-36).

    Thật vậy, lời này của Đức Giê-su dường như mâu thuẫn với tất cả những lời còn lại của Ngài, với sứ điệp hòa giải, hòa bình và hiệp thông của Nước Trời mà Ngài rao giảng và làm cho hiện diện giữa chúng ta. Như khi các thiên thần cất tiếng hát trong biến cố Giáng Sinh: “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2, 13-14).

    Một trong những nguyên tắc giúp cho việc đọc hiểu và cầu nguyện với một bản văn Kinh Thánh, đó là điểm tối tăm sẽ được soi sáng khởi đi từ điểm sáng tỏ. Và nguyên tắc này rất thích hợp với bài Tin Mừng của chúng ta. Ngọn lửa tình yêu mà Đức Giêsu đem đến và muốn cho bùng cháy (x. Lc 12, 49-50) tất yếu sẽ đốt cháy, loại bỏ, và nói theo trình thuật “Sáng Tạo Bảy Ngày”, sẽ phân rẽ (x. St 1, 4.6.7.14.18). Giống như một thửa đất, để trở thành đất tốt, thì phải được mổ xẻ, phân chia, vun xới; chúng ta hãy đặt mình trong vị trí của đất, thật đau đớn biết bao, khi được đào xới và cày bừa để loại bỏ sỏi đá, gai góc, cây cỏ… Nhưng tiến trình mổ xẻ, phân chia, vun xới, chính là để chữa lành, để làm cho chúng ta trở nên “đất tốt”.

    Và để sống theo lửa tình yêu của Đức Giêsu, chúng ta không chỉ gặp nhưng xung khắc nội tâm, nhưng còn có nhưng xung khắc trong tương quan với người khác, đôi khi với những người thân yêu, mỗi khi chúng ta muốn sống sự đơn sơ, nghèo khó và khiêm tốn theo Tin Mừng của Đức Giê-su. Khi chúng ta cầu nguyện với Lời Chúa, hẳn chúng ta sẽ có kinh nghiệm này: Lời Chúa có thể “xâu xé”, “cắt tỉa” chúng ta, nhưng là để chữa lành và làm cho chúng ta sinh nhiều hoa trái, như chính Đức Giê-su đã nói, khi dùng hình ảnh cây nho (x. Ga 15, 1-8): Hình ảnh rau sa-lát phải được quấy nát để thấm nước sốt, diễn tả phần nào kinh nghiệm này.

    Chính Đức Giê-su cũng sẽ đối diện với những xung khắc, mà Ngài gọi là “Phép Rửa”. Phép Rửa Ngài phải chịu là cuộc thương khó và cái chết trên thập giá. Thập giá là điên rồ và sỉ nhục, nhưng đối với Thiên Chúa và nhưng ai đặt niềm tin nơi Ngài, thì đó lại là sức mạnh và khôn ngoan, dẫn đến bình an và niềm vui vô hạn.

    Trong sách Xuất Hành, có một hình ảnh rất tuyệt vời nói lên Ngọn Lửa Tình Yêu thần linh, đó là hình ảnh bụi gai bừng cháy, nhưng không bị thiêu rụi (x. Xh 3,2). Hình ảnh bụi gai bừng cháy diễn tả rất tuyệt vời hai đặc tính trái ngược nhau của tình yêu: vừa mạnh mẽ và vừa hiền lành, không loại trừ hay hủy diệt. Thiên Chúa là tình yêu, và tình yêu Thiên Chúa là ngọn lửa bừng cháy, lan tràn, thanh tẩy, nhưng không thiêu rụi.

    2. Dứt bỏ là điều không thể

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su không chỉ nói những lời khó hiểu và mâu thuẫn, nhưng còn có những lời khó chấp nhận:

    Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. (c. 37)

    Trong sách Tin Mừng theo thánh Luca, Đức Giê-su còn nói mạnh hơn: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14, 26-27). Để trở thành môn đệ của ngài, Đức Giê-su đưa ra một đòi hỏi quá khó khăn. Vì thế, chúng ta thường hiểu đòi hỏi này chỉ dành cho một số ít người thôi, đó là các tông đồ, và bây giờ là những người đi tu. Hiểu như vậy là không đúng, vì như chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su nói lời này với đám người rất đông đang cùng đi đường với Ngài; và trong Giáo Hội, dù lập gia đình hay đi tu, chúng ta đều là Ki-tô hữu, nghĩa là thuộc về Đức Ki-tô, chúng ta đều là môn đệ của Đức Ki-tô theo những cách thế khác nhau, trong đời sống hôn nhân hay đời sống tu trì. Hơn nữa, Đức Giê-su còn mời gọi người ta dứt bỏ “vợ con”, nghĩa là Ngài ngỏ lời với cả người đã có gia đình, đã có vợ có chồng và đã cả con cái!

    Vậy thì phải làm sao đây trước đòi hỏi quá rõ ràng và khó khăn của Đức Giê-su, ngỏ với từng người trong chúng ta, không phân biệt? Chúng ta được mời gọi dành thời gian để tìm cách hiểu Lời Chúa theo khả năng của mình, trước khi nghĩ đến việc phải thực hành làm sao. Trong nhiều trường hợp, nếu chúng ta “nhắm mắt” thực hành ngay, sẽ đi đến bế tắc, làm khổ thậm chí làm hại mình và làm hại nhau, như trong trường hợp đòi hỏi phải từ bỏ này. Thế thì, chúng ta phải hiểu như thế nào đòi hỏi quá lớn lao đến độ phi lí này của Đức Giê-su? Trước hết, chúng ta cần nhận ra rằng đòi hỏi này thật là lạ lùng, nếu không muốn nói là khó chấp nhận. Khó chấp nhận, vì Đức Giê-su không đòi chúng ta dứt bỏ của cải, tiện nghi, nhà cửa, ruộng đất, nhưng là dứt bỏ những con người cụ thể.

    Và khó chấp nhận, nhất là vì Đức Giê-su không đòi hỏi chúng ta dứt bà con họ hàng, bạn bè hay là người yêu. Dứt bỏ những người này cũng không phải dễ, nhưng không phải là không làm được. Như chúng ta đã biết, có nhiều người trẻ nam nữ đã phải chia tay với người yêu để trở thành môn đệ Đức Ki-tô trong đời tu. Và dĩ nhiên là cũng có những người không chia tay được!

    Nhưng, ở đây, Đức Giê-su đòi hỏi chúng ta dứt bỏ những người ruột thịt: đó là cha mẹ, vợ con, anh em, chị em. Và ruột thịt hơn nữa là chính sự sống của mình, bởi vì chúng ta phải đối diện với chính mình hằng ngày: phải ăn phải mặc, phải chăm sóc sức khỏe, và còn phải chú ý đến ngoại hình nữa. Có thể nói, Đức Giê-su đòi hỏi chúng ta dứt bỏ điều không thể dứt bỏ, bởi vì đó là ruột là thịt của mình. Ví dụ, dù chúng ta đi đâu, làm gì, sống ơn gọi nào, thì khi làm tờ khai, chúng ta vẫn phải khai mình là con của ai, khai vợ khai chồng nếu có, khai tất cả anh chị em ruột. Hơn nữa, người Việt Nam chúng ta rất coi trọng đạo hiếu với cha mẹ và tình nghĩa anh chị em và bà con thân thuộc.

    Vậy “dứt bỏ” Chúa nói ở đây có nghĩa là gì? Dứt bỏ những người thân yêu, chính là để nhận lại như một quà tặng Thiên Chúa ban. Nếu không, chúng ta sẽ coi những người thân yêu là của riêng mình, và tự coi mình là chủ có quyền định đoạt theo ý riêng. Kinh nghiệm cho thấy, làm như thế chúng ta sẽ đánh mất mình và đánh mất nhau.

    – Tổ phụ Abraham vì tình yêu đối với Chúa, đã dứt bỏ người con trai duy nhất, nhưng cuối cùng đã nhận lại như một ơn huệ Thiên Chúa ban, và cùng với người con ơn huệ Isaac là cả một dân tộc đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển.

    – Có thể nói, chính Thiên Chúa Cha cũng dứt bỏ người Con duy nhất, là Đức Giê-su Ki-tô trong cuộc Thương Khó, nhưng để nhận lại Ngài trong sự sống Phục Sinh và cùng với Ngài, là cả một đoàn con đông đúc, là nhân loại mới, là Giáo Hội, là chúng ta, được cứu chuộc bởi cái chết trên Thập Giá của Đức Ki-tô.

    Vỉ thế, chúng ta được mời gọi trở thành môn đệ của Đức Giê-su, ngang qua việc nghe Lời của Ngài và đón nhận mình và máu ngài trong Thánh Lễ, để nghiệm được tình yêu của Chúa dành cho mỗi người chúng ta. Và cách Đức Giêsu yêu mến chúng ta, cũng chính là cách thức chúng ta yêu mến nhau. Như Chúa nói: “Anh em hãy yêu mến nhau như Thầy yêu mến anh em”.

    Nếu chúng ta yêu nhau như Chúa yêu chúng ta, tương quan tình yêu giữa chúng ta, sẽ không bị lệch lạc, không bị biến dạng thành tương quan ham muốn, chiếm hữu hay độc quyền, nhưng trở thành tương quan hiệp thông trong sự tôn trọng, chia sẻ cho nhau và chia sẻ cho nhau đến tận cùng. Và Ngài hứa với chúng ta là chúng ta sẽ nhận lại gấp trăm. Bởi vì tất cả những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành sẽ trở thành người thân của Chúa và vì thế, trở thành người thân của nhau. Lời hứa này không chỉ được ứng nghiệm trong cộng đoàn đời tu, nhưng trong Giáo Hội, trong cả trong cộng đoàn giáo xứ của chúng ta nữa.

    Dứt bỏ mọi sự để trở thành môn đệ của Đức Giê-su bằng mọi giá, để yêu mến và đi theo Ngài, chúng ta sẽ không “đánh mất nhau”, nhưng ngược lại, chúng ta sẽ “tìm lại được nhau” trong tương quan tình yêu đích thật và muôn đời. Bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu.

    Lời Chúa trong Thánh Lễ hôm nay, mời gọi chúng ta phải hi sinh từ bỏ rất lớn để trở nên môn đệ đích thật của Chúa. Nhưng đó chính là để chúng ta đón nhận tình yêu bao dung và thương xót của Chúa, và để chúng ta nhận lại nhau như hồng ân Chúa ban và yêu thương nhau; và không phải yêu thương nhau theo kiểu của chúng ta, nhưng là yêu thương nhau như Chúa yêu thương chúng ta.

    3. Phần thưởng

    Nếu những lời trên đây của Đức Giê-su gây ra nhiều khó khăn, thì những lời tiếp theo lại mang lại cho chúng ta sự bình an và hi vọng. Thật vậy, một ơn rất nhỏ, là một “chén nước”, mà chúng ta trao ban cho những người thuộc về Đức Ki-tô, cũng được Chúa ghi nhận, coi trọng, và sẽ làm cho sinh hoa trái kết quả, như Người nói: “Người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. Và vì đó là “phần thưởng” đến từ Đức Ki-tô, con Thiên Chúa, nên sẽ tồn tại mãi mãi.

    Chắc chắn ai trong chúng ta cũng trao ban hơn thế nhiều, cho những người thuộc về Chúa, hay rộng hơn, cho những gì thuộc về Chúa và cho chính Chúa. Vậy, dựa vào lời của Chúa, một đàng, chúng ta hãy xác tín về “phần thưởng”, nghĩa là những hoa trái Chúa sẽ ban cho chúng ta, cho sự sống hôm nay và mai sau, cho dù chúng ta còn đầy thiếu sót, yếu đuối và tội lỗi; và đàng khác, chúng ta được mời gọi trao ban hơn nữa.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Hai 15/07/2019

     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    16.07.2019 - Thứ Ba Tuần 15 Mùa Thường Niên

    Dấu lạ và sám hối

    Lời Chúa: Mt 11, 20 – 24

    20 Bấy giờ Người bắt đầu quở trách các thành đã chứng kiến phần lớn các phép lạ Người làm mà không sám hối:

    21 “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối. 22 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, thành Tia và thành Xi-đôn còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.

    23 Còn ngươi nữa, hỡi Ca-phác-na-um, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi ngươi mà được làm tại Xơ-đôm, thì thành ấy đã tồn tại cho đến ngày nay.24 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, đất Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.”

    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKVP)

    Suy Niệm:

    1. « Khốn cho ngươi… »

    Trong các Tin Mừng, một trong những lời gay gắt của Đức Giê-su, là những lời chúng ta nghe trong bài Tin Mừng hôm nay:
    • Đức Giêsu bắt đầu quở trách các thành : « Khốn cho ngươi hỡi Kho-ra-din, khốn cho ngươi hỡi Bết-xai-đa » (c. 21)

    • Và sau đó, Người còn nói : « Còn ngươi nữa, hỡi Ca-phác-na-um, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ!» (c. 23)
    Chúng ta đừng để mình bị tê liệt bởi những lời quở trách và những lời công bố án phạt nặng nề. Cũng giống như cha mẹ của chúng ta nói những lời rất mạnh, khi chúng ta phạm lỗi nặng. Nhưng đó là những lời có tính sư phạm, chứ không phải là lời phán quyết chung cục, nghĩa là những lời này được nói ra để làm cho chúng ta phải sợ, thức tỉnh, sửa đổi, hoán cải, không dám tái phạm và trở nên tốt hơn.

    Thật vậy, những lời quở trách của Đức Giê-su, trong trường hợp này, không phải là lời nói cuối cùng của Đức Giê-su, nói cách khác, đây không phải là bức thư tối hậu. Lời nói cuối cùng, lời tối hậu của Đức Giê-su là « Lời Thập Giá » (x. 1Cr 1, 18), nói lên tình yêu bao dung và tha thứ tuyệt đối của Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa là tình yêu và chỉ là tình yêu mà thôi.

    2. Nhận ra dấu lạ

    Điều quan trọng là ba thành phố này đã làm gì, đã phạm lỗi gì khiến cho Đức Giê-su nổi giận như vậy : đó là không sám hối, khi chứng kiến các dấu lạ Đức Giê-su đã thực hiện. Và trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su nhấn mạnh đến sự từ chối của cả một tập thể, đó thành Kho-ra-din, thành Bết-xai-đa và thành Ca-phác-na-um đã không biết đọc ra các dấu chỉ mà Ngài thực hiện ở giữa họ để hoán cải.

    Khi nghe những lời này, ước gì chúng ta quan tâm nhiều hơn đến cách thức cả cộng đoàn và gia đình chúng ta nhận ra sự hiện diện, hoạt động và lời mời gọi của Chúa ngang qua các dấu chỉ Chúa ban cho chúng ta. Có thể nói, chúng ta cũng được Chúa ưu ái ban cho các dấu lạ như đã ban cho Kho-ra-din, Bết-xai-đa và Ca-phác-na-um. Và Chúng ta cũng được mời gọi nhận ra những dấu lạ Chúa làm cách nhưng không cho mỗi người chúng ta ở trong cuộc đời, để với lòng biết ơn, chúng ta yêu mến và phụng sự Chúa trong mọi sự. Nếu không, có lẽ Chúa cũng « nổi giận » !

    * * *​

    Trước hết, đó là thế giới sáng tạo, thiên nhiên, môi trường, sự sống và tất cả những gì cần cho sự sống của muôn loài và của chính loài người chúng ta. Như lời Thánh Vịnh diễn tả:

    Chỉ có Người làm nên những kỳ công vĩ đại,
    muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

    (Tv 136, 4)​

    Tiếp đến, đó là những kỳ công Đức Chúa thực hiện trong lịch sử đầy thăng trầm, khó khăn và đau khổ, như khi Dân Chúa đọc lại lịch sử dân tộc của mình dưới ánh sáng của biến cố Xuất Hành và lời hứa giải thoát của Đức Chúa, bởi lòng thương xót:

    Chúa đã nhớ đến ta giữa cảnh nhục nhằn,
    muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

    (Tv 136, 23)​

    Và nhất là Đức Giê-su Ki-tô, quà tặng tuyệt vời nhất mà Thiên Chúa đã ban cho loài người và cho từng người chúng ta:

    Người ban BÁNH cho tất cả chúng sinh,
    muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

    (Tv 136, 25)​

    Người là Dấu Lạ của mọi dấu lạ, ơn huệ của mọi ơn huệ. Bởi vì, Người là đường đi, là ánh sáng, là lương thực hằng sống, là tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho con người. Chúng ta được mời gọi nhận ra và tuyên xưng trong mọi sự: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”. Nhận ra ơn huệ Thiên Chúa ban (x. Ga 4, 10) sẽ khơi dậy nơi chúng ta lòng khát khao được Thiên Chúa dẫn đưa theo chính lộ ngàn đời:

    Lạy Chúa, xin dò xét để biết rõ lòng con,
    xin thử con cho biết những điều con cảm nghĩ.
    Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác
    thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời.

    (Tv 139, 23-24)​

    3. Ơn Cứu Độ và liên đới

    Khi Đức Giêsu sai bảy mươi hai môn đệ lên đường thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng Nước Trời (x. Lc 10, 1-12), Ngài không nói tới cá nhân, nhưng chỉ nói tới “cấp” nhà và “cấp” thành: vào nhà nào…; vào thành nào… Đó chính là chiều kích liên đới của ơn cứu độ mà Kinh Thánh và Tin Mừng đặc biệt nhấn mạnh; chẳng hạn, trong lời đối thoại của tổ phụ Abraham với Đức Chúa, chúng ta thấy rằng những người công chính có thể cứu được cả một thành đô (x. St 18, 16-33); và Đức Giêsu nói với ông Gia-kêu: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19, 9).

    Trong thực tế, ơn cứu độ thường được nêu ra và giải đáp chỉ trên bình diện cá nhân: tội ai nấy chịu, công ai nấy hưởng. Điều này đúng, nhưng vẫn còn một sự thật khác: trong Chúa, còn có sự liên đới trong lầm lỗi, trong xét xử và trong cả ơn phúc nữa. Vì thế, đối tượng loan báo Tin Mừng của chúng ta không chỉ là những cá nhân, nhưng còn là và nhất là cả một dân tộc, một xã hội, một thành phố, một làng, một nhà, một cộng đoàn.

    Sự liên đới trong sứ mạng loan báo Nước Trời, sự liên đới trong sự đón nhận lời loan báo, đặt nền tảng trên một sự liên đới khác, đó là sự liên đới thần linh:

    Ai nghe anh em là nghe Thầy, ai từ chối anh em là từ chối Thầy; nhưng ai từ chối Thầy là từ chối Đấng đã ai Thầy. (Lc 10, 16)​

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc




    <°)))>< . <°)))><

    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Ba 16/07/2019

     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    17.07.2019 - Thứ Tư Tuần 15 Mùa Thường Niên

    « Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha »
    Lời Chúa: Mt 11, 25-27
    25 Vào lúc ấy, Đức Giê-su cất tiếng nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.
    27 “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho”.


    Suy Niệm:

    1. Niềm vui ca tụng

    Trước hết, chúng ta hãy ra khỏi mình để chia sẻ niềm vui với Đức Giê-su, chia sẻ mỗi ngày, vì đây là « niềm vui vĩnh cửu » của Người. Niềm vui của Người đến từ việc đón nhận cách hành động của Cha với sự cảm phục và dâng lời ca tụng:

    Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha. (c. 25-26)

    Tương tự như Đức Maria, Mẹ của chúng ta, đã thốt lên trong Thánh Thần : « Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa » vì đã nhận ra « những điều cao cả » Người làm cho Mẹ, là « Nữ Tì hèn mọn » và tương tự như vậy, cho « những ai kính sợ Người », cho « mọi kẻ khiêm nhường », cho « kẻ đói nghèo », cho tôi tớ đau khổ của Người là Israen.

    Và chuyển động ra khỏi mình để chia sẻ niềm vui ca tụng Chúa Cha của Đức Giê-su, chỉ trọn vẹn, khi chính chúng ta cũng được Thánh Thần tác động (x. Lc 10, 21-22), để nhận ra cùng một cung cách hành động của Chúa Cha được thể hiện trong cuộc đời và hành trình ơn gọi của chúng ta, và ca tụng Người trong niềm vui. Đó chính là con đường thiêng liêng, là « linh đạo » làm cho chúng ta trở nên giống Đức Ki-tô. Và đây là linh đạo của mọi linh đạo, vì đến từ Kinh Thánh được hoàn tất nơi Đức Ki-tô.

    2. Lý do ca tụng

    Đức Giê-su ca tụng Chúa Cha, vì Chúa Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Những người mà Chúa Cha và Đức Giêsu muốn mặc khải Nước Thiên Chúa cho, đó là những người bé mọn.

    a. Vậy ai là những người khôn ngoan và ai những người thông thái ? Ai là những người bé mọn ? Và để xác định, chúng ta phải dựa theo tiêu chuẩn nào, dưới mắt ai hay đứng trên bình diện nào? Những người bé mọn là tất cả mọi người chúng ta, vì con người chúng ta tự bản chất là bé nhỏ, bé nhỏ trong thân phận, điều này được cảm nhận nhất là khi chúng ta chứng kiến những người thân yêu của chúng ta qua đi, bé nhỏ đối với cộng đồng, bé nhỏ trong không gian, bé nhỏ trong thời gian, thật bé nhỏ trong vũ trụ bao la, và rất nhỏ bé trước Thiên Chúa, Đấng dựng nên chúng ta. Nếu chúng ta có cao vời kiểu này hay cao vời kiểu kia, khôn ngoan thông thái ở bình diện này bình diện kia, đó là vì mình tự phong cho mình hoặc chúng ta tự phong cho nhau một cách ảo tưởng.

    b. Những người bé mọn còn là mỗi người chúng ta trong tư cách là con Thiên Chúa, bởi lẽ « Con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, giống như Thiên Chúa ». Căn tính thần linh này được ghi khắc trong chốn sâu thẳm của chúng ta, dù chúng ta ý thức hay không ý thức. Chúng ta trở nên những người bé mọn, khi chúng ta đón nhận ơn gọi làm Con Thiên Chúa và sống ơn gọi này theo cách của Đức Giêsu, Người Con duy nhất của Chúa Cha.

    c. Những người bé mọn cũng là “tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề”, như chính Đức Giêsu nói đến trong bài Tin Mừng ngày mai. Thân phận con người chúng ta tự nó là một gánh nặng và chúng ta được mời gọi đến cùng Đức Giêsu và học với Ngài, để nhận được sự nghỉ ngơi. Đó là sự nghỉ ngơi mà loài người chúng ta hằng khao khát, như thánh Augustinô nói : « Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa, và con tim của chúng con luôn khắc khoải cho đến khi được nghỉ ngơi trong Chúa. » Thực vậy, những người thân yêu của chúng ta đang thật sự nghỉ ngơi trong Chúa.

    * * *​

    Đức Giê-su nhận ra và ca ngợi cách hành động của Thiên Chúa Cha, bởi vì chính Người đã trở nên người bé mọn nơi mầu nhiệm Nhập Thể hướng tới và được hoàn tất bởi mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh.

    3. Hiệp thông và chia sẻ

    Phần tiếp theo trong lời của Đức Giêsu trong bài Tin Mừng vừa bày tỏ cho chúng ta những điều sâu kín nhất của mối tương quan giữa Ngài và Chúa Cha, và vừa bày tỏ cho chúng ta những điều sâu kín nhất của mối tương quan giữa Ngài và chúng ta. Những điều sâu kín nhất ấy cũng đồng thời là những điều an ủi nhất đối với chúng ta.

    Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ Người Con, trừ Chúa Cha; cũng không ai biết rõ Chúa Cha, trừ Người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.

    Ở đây, chúng ta tiếp tục được mời gọi ra khỏi mình, ra khỏi những vấn đề hay những bận tâm của mình để chiêm ngắm và ca ngợi sự hiệp thông trọn vẹn, cả ở bình diện sở hữu lẫn bình diện hiểu biết, nghĩa là hiệp thông sự sống, giữa Chúa Cha và Người Con là Đức Giêsu. Tuy nhiên, và đây là niềm an ủi lớn nhất cho chúng ta, sự hiệp thông trọn vẹn giữa Chúa Cha và Đức Giêsu không phải là một sự hiệp thông kín. Hiệp thông kín là hiệp thông chỉ có hai người với nhau thôi, không mở ra cho những người khác, như chúng ta vẫn thường thấy trong cuộc sống. Nhưng, hiệp thông chỉ đích thực, khi đó là một hiệp thông mở rộng, hiệp thông chia sẻ. Và đây, Đức Giêsu muốn chia sẻ sự hiểu hiểu biết của Ngài về Cha cho con người chúng ta. Đó chính là sứ mạng của Ngài và đó cũng chính là Tin Mừng về Nước Thiên Chúa.

    Nhưng ai là những người mà Người Con muốn mặc khải Chúa Cha ? Đó chẳng phải là những người bé mọn hay sao ? Bởi vì Cha nào Con nấy ! Sứ điệp đến từ lời của Đức Giê-su thật rõ và mạnh : để đón nhận, theo cách nói của K. Rahner, « sự tự thông truyền » (auto-communication) của Chúa Cha và Đức Giêsu, chúng ta phải là người « bé mọn », phải là bé mọn ngay vào lúc chúng ta chuẩn bị « làm lớn » hay đang “làm lớn” ở một bình diện nào đó !

    * * *​

    Đức Giêsu đã là “người bé mọn”, vì thế Ngài là khuôn mẫu để chúng ta trở nên bé mọn; hay đúng hơn, chúng ta được mời gọi mặc lấy, mang lấy tâm tình trong Thánh Tâm của Ngài, Tin Mừng của Ngài, và chính bản thân Ngài để trở nên bé mọn với Cha, với nhau và với người khác.

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Tư 17/07/2019

     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    18.07.2019 - Thứ Năm Tuần 15 Mùa Thường Niên

    “Vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”

    Lời Chúa: Mt 11, 28-30


    28 “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.

    29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”


    Suy Niệm:

    Bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay, tuy rất ngắn, chỉ có ba câu, nhưng có một cấu trúc rất hoàn hảo.

    (A) Gánh nặng nề,
    nghỉ ngơi bồi dưỡng (c. 28)

    (B) “Vì tôi có lòng hiền hậu
    và khiêm nhường”
    (c. 29a)

    (A’) Nghỉ ngơi bồi dưỡng,
    gánh nhẹ nhàng (c. 29b-30)

    Chuyển động thiêng liêng từ phần A sang phần A’: gánh của chúng ta thì nặng nề, gánh của Đức Giê-su thì nhẹ nhàng; tại sao vậy? “Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” trong phần A, trở thành “tâm hồn anh em sẽ được anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” trong phần A’; Đức Giê-su hứa ban và chắc chắn chúng ta sẽ nhận được.

    Chuyển động này xảy ra được là nhờ kinh nghiệm mang lấy ách của Chúa và học với Chúa, vì Người “hiền hậu và khiêm nhường” (Phần B ở trung tâm). Nhận ra Đức Giê-su hiền hậu và khiêm nhường thuộc về kinh nghiệm hiểu biết nội tâm mà chúng ta tìm kiếm mỗi ngày và suốt đời. Bởi vì đó là “kinh nghiệm nguồn”, nguồn của đời sống đức tin và hành trình đi theo Người trong một ơn gọi, ơn gia đình hay ơn gọi dâng hiến.

    1. Gánh nặng nề và nghỉ ngơi bồi dưỡng (c. 28)

    a. “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề”


    Đức Giê-su mời gọi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến với Ngài. Vậy, chúng ta hãy nhận ra mình là “những người đang vất vả mang gánh nặng nề”.

    Gánh nặng nề, trước tiên là thân phận làm người của chúng ta. Chúng ta vẫn thường nói số người này vất vả, số người kia nhàn hạ. Nhưng đó chỉ là vất vả hay nhàn hạ bề ngoài mà thôi. Thân phận con người, tự nó là “vất vả”. Làm người vừa là ơn huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho chúng ta, nhưng cũng đầy thử thách và cả đau khổ nữa: một đàng, thử thách và đau khổ đến từ những gì thuộc về phận người (sinh, lão, bệnh, tử), đàng khác, thử thách và đau khổ đến từ lời mời gọi sống nhân tính, được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng ta thường để cho “thú tính” làm chủ bản thân; “thú tính” là vô ơn, ham muốn, nghi ngờ, ghen tị, chiếm đoạt, không tôn trọng ngôi vị và hành trình riêng của ngôi vị, tranh đua, thống trị, loại trừ, bạo lực… Một nhà tâm lí học nói rằng, cuộc đời với tất cả những vấn đề của cuộc đời, mà mỗi người phải mang vác, đã rất nặng nề rồi; nếu chúng ta không mang vác được cho nhau, thì chúng ta đừng có chất thêm! Đức Giê-su đến để cảm thông và mang vác cho chúng ta, để chúng ta được bình an, nghỉ ngơi, được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng ta cảm nếm trong cầu nguyện, và nhất là trong thời gian tĩnh tâm, sự cảm thông, bình an, nghỉ ngơi, sự sống dồi dào mà Đức Giê-su muốn thông truyền cho chúng ta.

    Gánh nặng nề của chúng ta còn là ơn gọi đi theo Đức Ki-tô trong đời sống gia đình hay trong sống đời sống dâng hiến. Ơn gọi là một ơn huệ lớn lao và đặc biệt Chúa ban cho mỗi người chúng ta, nhưng để sống ơn gọi từng ngày, chúng ta phải đối diện với nhiều thách đố; và đôi khi, chúng ta cảm thấy rất nặng nề. Hơn nữa trong đời sống, ai cũng có trách nhiệm, cũng có phận vụ, mà trách nhiệm và phận phận vụ là một gánh nặng; rồi cả những gánh nặng chúng ta mang vác cho nhau; không kể những gánh nặng chúng ta tự chất cho mình hay chất cho nhau.
    Gánh nặng nề còn là tội lỗi, và nhất là những năng động xấu chi phối nội tâm chúng ta và chúng ta cảm thấy bất lực. Gánh nặng này vừa làm ô nhiễm tâm hồn và vừa làm xáo trộn tương quan của chúng ta với mình, với Chúa và với nhau. Cuối cùng, gánh nặng nề còn là những vấn đề, những vết thương, những khó khăn, những ngang trái, những thử thách riêng tư của chúng ta; mà chỉ có Chúa và chúng ta biết mà thôi.

    b. “Hãy đến cùng tôi…”

    Nhận ra sự thật về mình như thế, chúng ta sẽ thấy mình cần được giải thoát biết bao và đồng thời chúng ta cũng nhận ra rằng không có điều gì và cũng không có ai ở trên đời này có thể mang lại cho chúng ta sự giải thoát, mang lại cho chúng ta sự nghỉ ngơi và tự do đích thực.
    Chúng ta hãy khát khao ơn giải thoát đến từ chính Chúa, để cho lời của Đức Giê-su: “Hãy đến cùng Thầy” vang vọng thật sâu rộng trong lòng của chúng ta, đụng chạm thật mạnh mẽ con tim của chúng ta. Bởi vì lời của Đức Giê-su có đối tượng nào khác, ngoài đối tượng duy nhất là lòng ước ao và chỉ có thể vang vọng khi đụng chạm được lòng ước ao, vốn được chính Người với tư cách là Ngôi Lời đã gieo vào tâm hồn chúng ta khi tạo dựng nên chúng ta. Và lời mời gọi của Ngài cũng thật nhưng không, vô điều kiện: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi”.

    2. “Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (c. 29a)

    Chúng ta được mời gọi đến với Đức Giê-su để học với Chúa. Học với Chúa bằng cách lắng nghe Lời của Ngài trong cầu nguyện, nhất là trong thời gian tĩnh tâm, vốn là ơn huệ đặc biệt Chúa ban cho mỗi người chúng ta. Bởi lẽ, Lời của Ngài là lương thực nuôi sống chúng ta, là ngọn đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng chỉ đường cho chúng ta đi (x. Tv 119, 105). Học với Chúa bằng cách ở lại với Ngài, như cành nho gắn liền với thân nho, ngang qua bí tích Thánh Thể (Ga 15, 1-17).

    Đến học với Chúa, đó chính là điều chúng ta được mời gọi ước ao mỗi ngày và suốt đời. Nhưng tại sao, Đức Giê-su mời gọi chúng ta đến học với Ngài? Lí do Đức Giê-su đưa ra, phải làm cho chúng ta kinh ngạc: không phải vì Người là Đấng Thượng Trí và cũng phải vì Người là Đấng Quyền Năng, cho dù Người là như thế, nhưng vì Người “có lòng hiền hậu và khiêm nhường”. Và không ở đâu hơn nơi Thập Giá, Người trở nên hiền hậu và khiêm nhường nhất; và đồng thời, nơi Thập Giá, Người cũng bày tỏ Sức Mạnh và Khôn Ngoan, không phải theo quan niệm của con người, nhưng theo quan niệm của Thiên Chúa.

    Đến học với Chúa, chúng ta được mời gọi bỏ ách của mình để mang lấy ách của Chúa, hoặc đón nhận ách của mình bằng tình yêu Chúa dành cho chúng ta và bằng tình yêu chúng ta dành cho Chúa. Ách của Chúa thì nhẹ nhàng, bởi vì tất cả những gì Ngài làm, là để phục vụ cho sự sống của chúng ta, để diễn tả tình yêu đến cùng dành cho chúng ta. Bình thường, ách thì phải nặng; nhưng khi đến học với Ngài, chúng ta không thể không yêu mến Ngài; và chính lòng yêu mến Chúa làm cho mọi sự trở nên có ý nghĩa và vì thế nhẹ nhàng, làm cho ách của Ngài trở nên êm ái và gánh của Ngài trở nên nhẹ nhàng. Thánh Augustinô nói, trong tình yêu không có đau khổ; nếu có đau khổ, thì đau khổ đó đã được yêu rồi.

    Vậy, đâu là ách và đâu là gánh của Chúa, mà chúng ta mang vào mình với lòng yêu mến? Và đâu là ách và gánh của chúng ta, của cuộc đời chúng ta, của những người khác nữa, nhất là những người thân yêu trong ơn gọi và trong gia đình, mà chúng ta được mời gọi gánh vác với tình yêu Chúa? Chắc chắn chúng ta đã có kinh nghiệm này rồi, không nhận ra sự hiện diện và tình yêu đến cùng của Chúa, mọi sự trở nên không thể chịu nổi.

    3. Nghỉ ngơi bồi dưỡng và gánh nhẹ nhàng (c. 29b-30)

    Xin cho chúng ta nhận được và cảm nếm sự nghỉ ngơi, khi đến với Đức Giê-su để học với Ngài và mang lấy ách của Ngài. Vậy đó là sự nghỉ ngơi nào?
    • Chúng ta cảm thấy bình an, vì Ngài hiền lành và khiêm nhường; và gánh của Ngài là gánh sự sống và tình yêu.
    • Ra khỏi mình, từ bỏ gánh của mình để gánh cái gánh của Chúa vì lòng yêu mến Chúa. Tự nó mang lại cho chúng ta sự an nghỉ.
    • Chúng ta luôn cảm thấy được nghỉ ngơi, khi đến với Người mà mình yêu mến. Vì thế, khi yêu mến Đức Giê-su, chúng ta luôn cảm thấy sự nghỉ ngơi, khi ở lại với Ngài.
    • Chúng ta được nghỉ ngơi, vì được Ngài giải thoát khỏi sự dữ, nghĩa là được tự do, được Ngài tha thứ và bao dung.
    • Chúng cảm thấy khỏe mạnh trong tâm hồn, vì được Chúa chữa lành.
    • Chúng ta được nghỉ ngơi vì được Ngài phục hồi phẩm giá làm con Thiên Chúa.
    • Chúng ta được nghỉ ngơi vì được Chúa dẫn chúng ta vào niềm vui tạ ơn và ca tụng, không chỉ trong những lúc thuận lợi, cả những trong thử thách và đau khổ.
    Và một cách tuyệt đối, với Thập Giá, Ngài mang lấy hết mọi ách, mọi gánh của chúng ta rồi. Dù chúng ta có “mang gánh nặng nề” như thế nào, chúng ta vẫn được mời gọi kinh nghiệm sự nghỉ ngơi ở trong Chúa, Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá. Vì như ngôn sứ Isaia nói: Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta (Is 53, 4; x. Mt 8, 17).

    * * *​

    Cuối cùng, chúng ta đừng quên rằng nghỉ ngơi là cùng đích của con người. Thực vậy, con người được dựng nên cho Thiên Chúa, và chỉ tìm thấy an nghỉ trong Thiên Chúa mà thôi, thánh Augustinô kinh nghiệm và nói về căn tính của con người như thế. Thật vậy, nghỉ ngơi là khao khát thẳm sâu của con người, dù ý thức hay không ý thức.

    Vì vậy, lúc “nhắm mắt xuôi tay”, chúng ta cầu chúc cho người quá cố: “Hãy nghỉ ngơi trong bình an” (tiếng La tinh: RIP, requiescat in pace, thường được ghi trên bia mộ). Xin cho chúng ta cảm nếm được sự nghỉ ngơi mỗi ngày, khi ở được ở bên Chúa trong kinh nguyện, khi kết hiệp với Người mọi nơi mọi lúc và khi chúng ta nguyện cầu:

    Xin để tôi tớ này được an bình ra đi.

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><

    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Năm 18/07/2019

     
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    19.07.2019 - Thứ Sáu Tuần 15 Mùa Thường Niên

    « Con Người làm chủ ngày sa-bát »

    Lời Chúa: Mt 12, 1-8


    1 Hôm ấy, vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn. 2 Người Pha-ri-sêu thấy vậy, mới nói với Đức Giê-su: “Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát! “

    3 Người đáp: “Các ông chưa đọc trong Sách sao? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng?4 Ông vào nhà Thiên Chúa, và đã cùng thuộc hạ ăn bánh tiến. Thứ bánh này, họ không được phép ăn, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi.5 Hay các ông chưa đọc trong sách Luật rằng ngày sa-bát, các tư tế trong Đền Thờ vi phạm luật sa-bát mà không mắc tội đó sao?

    6 Tôi nói cho các ông hay: ở đây còn lớn hơn Đền Thờ nữa. –7 Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội.8 Quả thế, Con Người làm chủ ngày sa-bát.”


    Suy Niệm:

    1. Vi phạm lề luật


    Đi băng qua cánh đồng lúa, các môn đệ đói bụng và bứt lúa ăn. Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu chất vấn Đức Giê-su: « Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát ! » Trước hết, chúng ta ta hãy cảm thương Đức Giê-su, vì trò phạm lỗi, nhưng người ta lại đi chất vấn Thầy, như thể Thầy phải chịu trách nhiệm. Sau này, trong cuộc Thương Khó và trên Thập Giá Đức Giê-su sẽ nhận vào mình tất cả mọi tội lỗi, dưới sự phán xét của Lề Luật, không chỉ của các môn đệ, nhưng là của cả loài người chúng ta.

    Xét về luật, những người Pha-ri-sêu thật có lý để lên án các môn đệ, vì, để ăn hạt lúa, họ phải « gặt và xay » cây lúa. Như thế, họ đã phạm luật cấm lao động trong ngày Sa-bát ! Tuy nhiên, lỗi này là chuyện nhỏ, không nghiêm trọng gì mấy; có lẽ Đức Giê-su chỉ cần nhắc nhở các môn đệ là xong chuyện. Nhưng có điều gì đó thật nghiêm trọng và không hề là chuyện nhỏ; Đức Giê-su sẽ mặc khải cho chúng ta điều này.

    2. Dò xét và tố cáo

    Thật vậy, chúng ta có thể tự hỏi : làm sao, ở ngoài đồng bao la như thế, những người Pha-ri-sêu lại biết được việc này? Chắc họ đã phải kín đáo nhiều ngày đi theo, rình mò, theo dõi và quan sát thật kỹ nhóm của Đức Giê-su, giống như khi người ta muốn bắt quả tang người phụ nữ ngoại tình (x. Ga 8, 2-11). Hành động này hàm chứa thái độ không tin tưởng, thậm chí thái độ lên án, và chỉ cần chờ hoặc tìm kiếm dịp mà thôi. Và, như chúng ta thấy, khi không có dịp, chính họ sẽ tạo ra dịp để Đức Giê-su và các môn đệ phạm luật; các Tin Mừng gọi hành động này là thử hay giăng bẫy.

    Thế mà, Kinh Thánh mặc khải cho chúng ta biết rằng, ý muốn lên án cho dù chưa có lý do, vốn thuộc về Satan (x. St 3, 1-7 ; Dcr 3, 1; Gi 1, 11 ; 2, 6; Kh 12, 7-10 » ; xem bài đọc thiêng liêng « Sự Dữ). Là thuộc về Satan, nhưng hành động này lại không hiếm thấy trong cuộc sống của chúng ta. Thật vậy, những người hành động theo Satan, cho dù không nhận ra mình đang hành động theo Satan, là những người có ý muốn lên án và để lên án, thì phải dựa vào lề luật để tìm kiếm, rình mò, thậm chí gài bẫy hay ngụy tạo nhằm có bằng chứng hành vi vi phạm lề luật. Vì thế, một đàng thật hợp lý khi người ta dựa vào lề luật để lên án hành vi vi phạm, như trường hợp các môn đệ bứt lúa ăn vào ngày sa-bát, nhưng đàng khác, ý muốn lên án, vốn là đặc điểm của Satan và tự nó là xấu xa, đã luôn có đó rồi. Biết như thế, nhưng không ai làm gì được, vì có lề luật là chỗ dựa, thậm chí, là chỗ ẩn nấp thật kín đáo, kín đáo nhất của Sự Dữ. Và đó chính là cách người ta lên án chết Đức Giê-su trong cuộc Thương Khó. Trong cuộc Thương Khó, Đức Giê-su là Đấng Vô Tội tuyệt đối (chúng ta thì không, vì bị rình mò một hồi là ra tội), vì thế kẻ kết án chỉ có thể là Satan, hành động nơi những con người cụ thể; và khi kết án Đấng Vô Tội tuyệt đối, nhân danh Lề Luật: « Chúng tôi có Lề Luật; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết » (Ga 19, 7), Sự Dữ bị lộ ra nguyên hình.

    Hơn nữa, và điều này còn nghiêm trọng hơn, ngày Sa-bát là ngày được lập ra để tưởng nhớ ơn huệ sự sống được cứu khỏi sự chết của cả một dân tộc trong biến cố Xuất Hành, bởi lòng thương xót của Thiên Chúa (x. Đnl 5, 12.15). Nhưng trong thực tế, ngày Sa-bát đã biến thành một bộ luật phức tạp bao gồm những qui định chi li, dùng để dò xét và lên án. Ngày Sa-bát là ngày được lập ra để tưởng nhớ sự sống, nhưng đã biến thành phương tiện để lên án và giết chết chính Đấng Ban Sự Sống, là Đức Giê-su Ki-tô, Ngôi Lời Thiên Chúa. Điều này sẽ được khởi động rất sớm: « Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su ». Và mưu đồ này sẽ đi đến cùng trong cuộc Thương Khó, khi người ta nhân danh Lề Luật để giết Đấng Vô Tội tuyệt đối.

    3. Sự sống và lề luật

    Như các môn đệ, không ai trong chúng ta không vi phạm luật; và như những người Pha-ri-sêu, không ai trong chúng ta tránh được sức mạnh của Sự Dữ thúc đẩy chúng ta dùng lề luật để dò xét và tố cáo bản thân mình và người khác. Vậy, « tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta! » (Rm 7, 24-25)

    Thật vậy, Đức Giê-su đã đứng về phía các môn đệ, những « bị cáo », và qua các môn đệ, Ngài đứng về phía chúng ta. Ngài biện minh cho họ bằng những lời mạc khải có tầm mức hết sức rộng lớn. Trước hết, Ngài dựa vào Lời Chúa trong Sách Thánh. Trong sách Samuel quyển 1, chương 21, kể lại chuyện vua Đa-vít và những người tùy tùng của ông, lúc đói đã vào nhà Thiên Chúa ăn bánh dùng để dâng tiến, thứ bánh chỉ có tư tế mới được ăn.

    Khi nêu ra một biến cố lịch sử, được kể lại trong Sách Thánh, Đức Giê-su muốn nói cho người Pha-ri-sêu, và qua họ, cho chúng ta về chính khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa:

    • Sự sống ưu tiên hơn lề luật. Vì Thiên Chúa thông truyền sự sống trước khi ban lề luật (x. St 2-3). Và xét cho cùng, mọi lề luật được đặt ra để phục vụ cho sự sống. Sự sống chính là cùng đích của lề luật. Dùng lề luật để kết án, cho dù có lý, vẫn là hành động không phù hợp với cùng đích của lề luật, thậm chí thuộc về hành động của Satan.

    • Luật đúng là thánh, như thánh Phaolô nói trong thư Roma (Rm 7). Nhưng ngôi vị cũng là thánh, vì vốn được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. Vì thế, trong hành vi phạm luật, phải chú ý đến hoàn cảnh, quá khứ, giáo dục, môi trường, những vấn đề và vết thương của nội tâm… Như Đức Chúa nói với ngôn sứ Samuen: « Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng » (1Sm 16, 1)

    • Con Người, nguồn sự sống, là chủ ngày Sa-bát. Mặc khải này của Đức Giê-su phải làm cho chúng ta tin tưởng và bình an, vì Đấng ban luật cũng là Đấng thương xót, bao dung, không lên án, nhưng cứu vớt. Không phải Chúa bao che chúng ta, những là vì chỉ có lòng thương xót mới có sức mạnh biến đổi và chữa lành tận căn con tim của chúng ta (x. dụ ngôn « Người Cha nhân hậu » trong Lc 15, 11-32).

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, S.J.


    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Sáu 19/07/2019


     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 19 tháng Bảy 2019
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    20.07.2019 - Thứ Bảy Tuần 15 Mùa Thường Niên

    “Muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người”

    Lời Chúa: Mt 12, 14-21

    14 Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu bàn bạc để tìm cách giết Đức Giê-su.
    15 Biết vậy, Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó. Dân chúng theo Người đông đảo và Người chữa lành hết.16 Người còn cấm họ không được tiết lộ Người là ai.
    17 Như thế là để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói:18 “Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu: Ta hài lòng về Người. Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người. Người sẽ loan báo công lý trước muôn dân.19 Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường.20 Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi, cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng,21 và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người.”


    Suy Niệm:

    Trước đó, vào ngày sa-bát, Đức Giê-su chữa lành người bại tay trong Hội Đường (c. 9-13) ; và chính vì chuyện này mà, như câu đầu tiên của bài Tin Mừng hôm nay kể lại, nhóm Pha-ri-sêu tìm cách loại trừ Người: « Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu bàn bạc để tìm cách giết Đức Giê-su » (c. 14).

    1. Lời ban sự sống

    Đức Giê-su chữa người bại tay vào ngày sa-bát: “Anh giơ tay ra” (x. Mt 12, 9-13). Ngày sa-bát là trung tâm của Mười Điều Răn, và Mười Điều Răn là trung tâm của Lề Luật. Vì thế, luật sa-bát tượng trưng cho Lề Luật. Đức Giê-su không dời việc chữa lành vào ngày hôm sau và cũng không trình bày lập trường của mình về ngày sa-bát; theo lời kể của thánh sử Mác-cô (Mc 3, 1-6), Ngài đáp lại sự im lặng bằng cái nhìn giận dữ, Ngài đau khổ (thương cảm) vì con tim bệnh tật của họ, và Ngài thực hiện quyền năng chữa lành người bệnh bằng Lời Sự Sống, chứ không phải bằng việc làm, vốn bị cấm trong ngày sa-bát. Lời giảng của Ngài về ngày sa-bát không phải là một giáo huấn lí thuyết, nhưng là hành động, hành động chữa lành. Hành động trong thinh lặng này loan báo sự thinh lặng của cuộc Thương Khó.

    Hành động của Đức Giêsu làm rõ ước ao sự sống của Ngài đối với người bệnh. Ước ao trao ban sự sống vô hạn, nhưng lại được biểu lộ trong một hành vi hữu hạn. Khi làm thế, Ngài làm lộ ra ước ao sự chết đang hiện diện trước mặt Ngài, bởi vì Ngài không vi phạm luật sa-bát, khi chữa bệnh bằng lời; do đó, lề luật không còn là chỗ ần nấp của họ. Chính những người rình rập Ngài chứng kiến vực thẳm của lựa chọn sự chết mở ra trong lòng họ. Để đáp lại, chứ không chống lại, ở đây Đức Giêsu còn làm hơn cả lời giảng “đừng chống lại kẻ dữ”, Ngài để mình bị chi phối bởi lựa chọn sự chết của kẻ dữ, vì đó là cách duy nhất để thuyết phục nó.

    Quyền năng, nơi Đức Giêsu vốn là một với lời của Ngài, được bày tỏ ngang qua một hành vi chữa lành rất giới hạn, nhưng lại nói cho chúng ta quyền năng sự sống vô hạn, nói cho chúng ta lòng ước ao trao ban sự sống Thiên Chúa cho con người. Lời loan báo này được cảm nhận từ xa như là việc hủy bỏ ngày sa-bát, xét như là một giải pháp dành chỗ cho quyết định, nhưng lại có thể chứa chấp lựa chọn hướng tới sự chết. Nếu con tim của những kẻ đối nghịch hướng tới cực điểm như thế, nghĩa là quyết định giết chết, chính là vì đã cảm nhận được nơi hành vi của Đức Giêsu lời loan báo về một ngày sa-bát được đẩy tới cùng đích, nhằm giải phóng hoàn toàn chân lý của ngày sa-bát, đó là ước ao sự sống nơi con người và trao ban sự sống nơi Thiên Chúa.

    2. « Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó »

    Nhưng, thay vì tranh cãi, phản đối hay dùng sức mạnh để chống lại những người tìm cách làm hại mình, Đức Giê-su lánh đi, nói cách khác, Ngài « băng qua » giữa họ mà đi ; như lời ngôn sứ Isaia loan báo về Người Tôi Trung được Đức Chúa tuyển chọn, Người được Đức Chúa yêu dấu và Đức Chúa hài lòng về Người:

    Người sẽ không cãi vã, không kêu to, chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường. (c. 19)

    Và chính khi Đức Giê-su lánh đi, chính lúc Ngài « băng qua » những người có ý đồ muốn giết chết Ngài, thì dân chúng theo người đông đảo và Người chữa lành hết (c. 15), và cũng như lời ngôn sứ Isaia đã loan báo:

    Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi. (c. 20)

    Những gì mà bài Tin Mừng hôm nay kể lại, loan báo cho chúng ta thật rõ ràng mầu nhiệm Vượt Qua: chính lúc người ta muốn làm hại Đức Giê-su, thì Ngài trờ nên nguồn ban phát ơn chữa lành, Ngài tỏ bày Đức Công Chính đích thật của Thiên Chúa cho con người, như Thánh Phao-lô xác tín một cách rõ ràng và mạnh mẽ:

    Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa,24 nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Ki-tô Giê-su. (Rm 3, 23-24).

    3. « Niềm hy vọng nơi Danh Người »

    Tuy nhiên, có điều khác biệt tuyệt đối là, trong cuộc Thương Khó, Đức Giê-su không còn băng qua ý muốn giết chết Ngài, nhưng Ngài băng qua chính sự chết. Thực vậy, trong mầu nhiệm Thập Giá, Đức Giê-su để cho Sự Dữ có nơi lòng của con người đi đến cùng, là giết chết Ngài, nhưng Ngài lại mạnh hơn sự chết, Ngài chiến thắng sự chết, Ngài vượt qua sự chết để đi vào sự sống mới, sự sống Phục Sinh, và trở thành Nguồn Ơn Cứu Độ cho muôn người. Đó chính là sự toàn thắng của Đức Công Chính thần linh mà ngôn sứ Isaia đã loan báo:

    Cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng, và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người. (c. 20-21)

    Chúng ta được mời gọi chiêm ngắm và cảm nếm Đức Công Chính đích thật của Thiên Chúa, được bày tỏ cho chúng nơi ngôi vị của Đức Ki-tô, và nhất là nơi ngôi vị của Ngài trong mầu nhiệm Vượt Qua mà chúng ta cử hành mỗi ngày trong Thánh Lễ:
    • Đó chính là Đức Công Chính của Tình yêu, vì Thiên Chúa là Tình Yêu và chỉ là Tình Yêu và những gì thuộc về Tình Yêu mà thôi.
    • Đó là Đức Công Chính của lòng thương xót, thay vì xét xử và luận phạt.
    • Đó là Đức Công Chính của ánh sáng và sự sống, mạnh hơn bóng tối và sự chết có ở nơi lòng chúng ta và ở giữa chúng ta.

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc


    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Bảy 20/07/2019

     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn