Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần 2 Mùa Thường Niên

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 20 tháng Giêng 2019.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    21.1.2019 – Thứ Hai, sau Chúa Nhật 2 Thường Niên

    “Tại sao môn đệ ông lại không ăn chay?”

    Lời Chúa: Mc 2, 18-22

    18 Bấy giờ các môn đệ ông Gioan và các người Pharisêu đang ăn chay; có người đến hỏi Đức Giêsu: “Tại sao các môn đệ ông Gioan và các môn đệ người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?“

    19 Đức Giêsu trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ? Bao lâu chàng rể còn ở với họ, họ không thể ăn chay được.20 Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi rồi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó.

    21 Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì như vậy, miếng vá mới đã vá vào sẽ kéo vải cũ, khiến chỗ rách lại càng rách thêm.22 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, thế là rượu cũng mất mà bầu cũng hư. Nhưng rượu mới, bầu cũng phải mới!“

    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    Suy niệm:

    Người ta chất vấn Đức Giêsu về việc ăn chay, vì ăn chay là một trong những việc đạo đức căn bản (cùng với cầu nguyện và bố thí, được nêu trong bài Tin Mừng của Lễ Tro, Mt 6, 1-6.16-18), không chỉ trong Do thái giáo nhưng trong mọi tôn giáo, trong đó có Giáo Hội Công Giáo của chúng ta.

    Nhưng dường như, đối với chúng ta, những Kitô hữu, trong thực tế ăn chay là một “chuyện nhỏ”, bởi vì chúng ta bị buộc ăn chay một năm có hai lần, thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh (Giáo Luật, điều 1252); dĩ nhiên, chúng ta có thể ăn chay vào những ngày khác, chẳng hạn theo truyền thống của Giáo Hội, vào thứ sáu hằng tuần và trong suốt Mùa Chay, nhưng Luật Giáo Hội không bắt buộc.

    Thế mà theo lời kể của bài Tin Mừng hôm nay, việc ăn chay là một chuyện lớn, lớn đối với các môn đệ của Gioan Tẩy Giả và những người Pharisêu: họ ăn chay; và họ không chỉ giữ chay, nhưng còn quan tâm đến người khác có giữ chay không; họ quan tâm đến việc giữ chay của các môn đệ Đức Giêsu, và qua đó việc giữ chay của chính Đức Giêsu. Các môn đệ của Gioan Tẩy Giả, và theo Tin Mừng Máccô, có thêm các môn đệ của người Pharisiêu nữa, đến hỏi Đức Giêsu:

    Tại sao chúng tôi và những người Pharisiêu ăn chay,
    còn môn đệ của ông lại không ăn chay?
    (c. 18)


    Và đối với Đức Giêsu, ăn chay cũng không hề là một chuyện nhỏ, bởi vì, với một câu hỏi thật ngắn, Ngài trả lời thật dài, với ba dụ ngôn liên tiếp: dụ ngôn tiệc cưới, trực tiếp liên quan đến câu hỏi, và hai dụ ngôn nữa, được biết đến nhiều hơn, mở rộng vấn đề ăn chay: dụ ngôn “vải và áo” và dụ ngôn “rượu và bình rượu”. Hai dụ ngôn này mời gọi chúng ta hiểu ra rằng, với Đức Kitô, từ nay không chỉ tương quan của chúng ta với lương thực, được diễn tả qua việc ăn chay, nhưng tương quan của chúng ta với mọi sự, phải xuất phát từ Đức Kitô, đặt nền trên Đức Kitô và hướng về Đức Kitô.

    1. Mục đích của chay tịnh

    Trong thực tế, việc ăn chay có thể có nhiều định hướng: hướng về bản thân, hay hướng về người khác, hoặc cả hai. Chẳng hạn, ăn chay là một cách khổ chế, một đàng vì sự “no đầy” thể xác dễ bị chi phối bởi những năng động lệch lạc, đàng khác, có những thứ lương thực có năng lực kích thích những tư tưởng, cảm xúc và hành vi xấu, nếu sử dụng không điều độ.

    Trong Do thái giáo, người ta ăn chay để ăn năn và xin ơn tha thứ, hay để xin một ơn đặc biệt nào đó (x. 2Sm 13, 16.22; Ge 2, 12-17). Người ta ăn chay còn để chuẩn bị thi hành một sứ mạng (x. Tl 20, 26; Cv 14, 23). Ngoài ra, trong sách ngôn sứ Isaia (x. Is 58, 1-9a), Đức Chúa mời gọi dân của Ngài phải sống hài hòa giữa việc ăn chay và cách sống của họ với tha nhân và nhất là với những người nghèo đói, những người đau khổ.

    Ngày nay, người ta ăn chay còn để tiết kiệm tiền, dành cho việc bác ái. Ngoài ra, người ta ăn chay còn để chữa bệnh, gìn giữ sức khỏe hay bảo vệ môi trường!

    2. Ăn chay là để tưởng nhớ Một Người

    Như thế, việc ăn chay hoặc có định hướng qui về mình hay qui về người khác, hoặc là một việc đạo đức chỉ có dáng vẻ bề ngoài, như quan niệm của những người đến chất vấn Đức Giêsu: “Tại sao chúng tôi và những người Pharisiêu ăn chay, còn môn đệ của ông lại không ăn chay?”; và như chính Đức Giêsu đã cảnh báo: “Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay” (Mt 6, 16).

    Trong khi đó, ăn chay tiên vàn có mục đích hướng về chính Thiên Chúa, hoặc để chuẩn bị mình để gặp gỡ Thiên Chúa (x. Xh 34, 28; Đn 9, 3), hoặc để diễn tả tương quan thuộc về Thiên Chúa (x. Lv 16, 29-31). Chính vì thế, Đức Giêsu không hủy bỏ việc ăn chay, nhưng Ngài “hoàn tất” ý nghĩa việc ăn chay, bằng cách hướng việc ăn chay đến chính ngôi vị của Ngài, bởi vì Ngài là hiện thân của chính Thiên Chúa. Như thế, Đức Giêsu đã mang lại cho việc ăn chay một ý nghĩa hoàn toàn mới.

    Ăn chay, đối với Đức Giêsu, không phải là một việc bổn phận đạo đức, có tính ép buộc và thường hay qui về mình (hãm mình, đền tội, xin ơn…), nhưng là một hành vi hướng về “Một Người”, tưởng niệm “Một Người”, Người đó là “Chàng Rể bị đem đi”, là Đức Kitô chịu thương khó. Chúng ta ăn chay là để tưởng nhớ Đức Kitô chịu đóng đinh vì lòng mến và hướng tới lòng mến Đức Kitô. Có thể nói, vì “Thương Một Người”[1] mà chúng ta ăn chay.

    Nếu Đức Chúa, trong sách ngôn sứ Isaia, mời gọi dân hướng việc ăn chay đến tình thương đối với những người nghèo khó và đau khổ, thì Đức Giêsu, trong bài Tin Mừng, hướng việc ăn chay đến tình thương đối với chính Ngài. Không phải Ngài bỏ quên họ, nhưng chính khi chúng ta yêu mến Ngài, chúng ta sẽ thật sự yêu mến những người nghèo khó và đau khổ, bởi vì Ngài đồng hóa mình với họ (x. Mt 25, 40). Như thế, vì lòng mến Đức Kitô, chúng ta được mời gọi không chỉ ăn chay theo luật định, nhưng còn có thể ăn chay bất cứ lúc nào, nhất là trong Mùa Chay, hay trong tuần tĩnh tâm. Tuy nhiên, Ngài đã Phục Sinh và hiện diện giữa chúng ta mọi ngày. Vì thế, chúng ta cũng ăn uống bình thường và đôi khi ăn tiệc nữa!

    Với hai dụ ngôn, dụ ngôn “vải và áo” và dụ ngôn “rượu và bình rượu”, Đức Giêsu mời gọi chúng ta hướng việc ăn uống, và ngang qua việc ăn uống là “mọi sự khác”, trong đó có chính sự sống của chúng ta, cuộc đời của chúng ta, tới ngôi vị của Ngài, tới tình yêu Ngài dành cho chúng ta và chúng ta dành cho Ngài. Bởi vì, lương thực còn là biểu tượng của sự sống. Vì thế, chúng ta có thể hiểu, đời sống dâng hiến của chúng ta là một việc “Ăn Chay” lớn nhất, ngang qua nỗ lực sống ba lời khấn, khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, và chúng ta ăn chay kiểu “lạ đời” này, vì lòng mến Đức Kitô và để sống và làm chứng cho Tin Mừng của Ngài và cho Nước của Thiên Chúa.

    3. “Người ban bánh cho tất cả chúng sinh”

    Như thế, việc ăn chay của chúng ta chỉ trở nên đích thật trong mức độ, đó là cách chúng ta diễn tả tương quan tình yêu của chúng ta đối với chính Chúa. Nhưng nếu Chúa hiện diện ngay trong “bánh” chúng ta dùng hằng ngày, thì việc ăn chay của chúng ta sẽ ra sao? Bởi vì lương thực là ơn huệ Thiên Chúa ban (x. St 1-2; Đnl 8, 3): Chúa hiện diện nơi ơn huệ của Người, và khi hưởng dùng ơn huệ, chúng ta được mời gọi nhận ra và đi vào tương quan biết ơn với Đấng ban ơn huệ:

    Người ban lương thực (bánh) cho tất cả chúng sinh.
    Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

    (Tv 136, 25)

    Và bánh ăn hằng ngày, vốn là ơn huệ của Thiên Chúa loan báo cho chúng ta Bánh Trường Sinh, Ban ban sự sống đời đời là chính Đức Kitô, vốn là Ơn Huệ của mọi ơn huệ (Ga 4, 10 và Ga 6). Vậy, ăn chay đích thật không chỉ là không ăn hay ăn ít đi một số lần hay một số ngày vì lòng mến Chúa; nhưng còn là mọi ngày, chúng ta được mời đón nhận lương thực như ơn huệ Thiên Chúa ban và chúng ta để cho ơn huệ lương thực hằng ngày hướng chúng ta đến Ơn Huệ Lương Thực hằng sống là chính Đức Kitô.

    * * *​

    Chúng ta cầu nguyện với Chúa mỗi ngày, và nhất là trước bữa ăn: “Xin ban cho chúng ta lương thực hằng ngày”; và quả thực, ơn huệ lương thực đã có đó ngay trên bàn trước mắt chúng ta. Vì thế, sự sống của chúng ta, ở mức độ căn bản nhất là đến từ Chúa và là của Chúa. Và điều Chúa chờ đợi nơi chúng ta, là một lời nguyện phát xuất từ con tim biết ơn và dâng hiến: “Chúa đã ban cho con tất cả, con xin dâng lại Chúa tất cả”, trong tâm tình “ca tụng, tôn kính và phụng sự Thiên Chúa” (Linh Thao, số 23), theo khuôn mẫu của Đức Kitô Thánh Thể.

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc


    [1] “Thương Một Người”, bài hát, của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Hai 21/01/2019
    Tại sao môn đệ ông lại không ăn chay?

     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    22.1.2019 – Thứ Ba, sau Chúa Nhật 2 Thường Niên

    « Con Người làm chủ ngày sa-bát »

    Lời Chúa: Mc 2, 23-28
    23 Vào ngày sa-bát, Đức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa. Dọc đường, các môn đệ bắt đầu bứt lúa.

    24 Người Pha-ri-sêu liền nói với Đức Giêsu: “Ông coi, ngày sa-bát mà họ làm gì kia? Điều ấy đâu được phép! “25 Người đáp: “Các ông chưa bao giờ đọc trong Sách sao? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ bị thiếu thốn và đói bụng?26 Dưới thời thượng tế A-bi-a-tha, ông vào nhà Thiên Chúa, ăn bánh tiến, rồi còn cho cả thuộc hạ ăn nữa. Thứ bánh này không ai được phép ăn ngoại trừ tư tế.”

    27 Người nói tiếp: “Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát.28 Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sa-bát.”


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    Suy niệm:

    1. Vi phạm lề luật


    Đi băng qua cánh đồng lúa, các môn đệ đói bụng và bứt lúa ăn. Thánh Mác-cô không nói rõ lý do: « Dọc đường các môn đệ bứt lúa » (c. 23); nhưng chúng ta có thể đoán ra vì lý do « đói bụng », khi dựa vào lời giải thích của Đức Giêsu:

    Các ông chưa bao giờ đọc trong Sách sao? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ bị thiếu thốn và đói bụng?
    (c. 25)

    Các Tin Mừng khác, thì nói rõ lý do « vì đói bụng » (Mt 12, 1-8; Lc 6-1-5). Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu chất vấn Đức Giêsu:

    Ông coi, ngày Sa-bát mà họ làm gì kia?
    Điều ấy đâu được phép !

    (c. 24)

    Trước hết, chúng ta ta cần cảm thương Đức Giêsu, vì trò phạm lỗi, nhưng người ta lại đi chất vấn Thầy, vì Thầy phải chịu trách nhiệm. Sau này, Đức Giêsu sẽ nhận vào mình tất cả mọi tội lỗi, nhân danh Lề Luật, không chỉ của các môn đệ, nhưng là của cả loài người chúng ta.

    Xét về luật, những người Pha-ri-sêu thật có lý để lên án các môn đệ, vì, để ăn hạt lúa, họ phải « gặt và xay » cây lúa. Như thế, họ đã phạm luật cấm lao động trong ngày Sa-bát ! Tuy nhiên, lỗi này là chuyện nhỏ, không nghiêm trọng gì mấy; có lẽ Đức Giêsu chỉ cần nhắc nhở các môn đệ là xong chuyện. Nhưng có điều gì đó thật nghiêm trọng và không hề là chuyện nhỏ; Đức Giêsu sẽ mặc khải cho chúng ta điều này.

    2. Dò xét và tố cáo

    Thật vậy, chúng ta có thể tự hỏi: làm sao, ở ngoài đồng bao la như thế, những người Pha-ri-sêu lại biết được việc này, nhất là việc này thường được làm trong sự dè dặt và kín đáo? Chắc chắn họ đã phải âm thầm đi theo, rình mò, theo dõi và quan sát thật kĩ nhóm của Đức Giêsu, và tin chắc rằng họ sẽ vi phạm lề luật ! Hành động này hàm chứa thái độ không tin tưởng, thậm chí thái độ lên án, và chỉ cần chờ dịp thôi. Và, như chúng ta thấy, khi không có dịp, chính họ sẽ tạo ra dịp để Đức Giêsu và các môn đệ phạm luật ; các Tin Mừng gọi hành động này là thử hay giăng bẫy. Thế mà, hành động này là hành động đặc trưng của sự dữ, của ma quỉ (x. Sách ông Giop; Kh 12, 10). Đó là hành động thuộc về sự dữ, thậm chí đặc trưng của sự dữ, nhưng hành động này lại không phải là hiếm thấy trong cuộc sống của chúng ta, và có khi chính người hành động như thế, không nhận ra mình đang bị sự dữ chi phối, đang tự biến mình thành tay sai của sự dữ (x. Lc 18, 11).

    Hơn nữa, và điều này còn nghiêm trọng hơn, ngày Sa-bát là ngày được lập ra để tưởng nhớ ơn huệ sự sống được cứu khỏi sự chết của cả một dân tộc trong biến cố Xuất Hành, bởi lòng thương xót của Thiên Chúa (x. Đnl 5, 12.15). Nhưng trong thực tế, ngày Sa-bát đã biến thành một bộ luật phức tạp bao gồm những qui định chi li, dùng để dò xét và lên án. Ngày Sa-bát là ngày được lập ra để tưởng nhớ sự sống, nhưng đã biến thành phương tiện để lên án và giết chết chính Đấng Ban Sự Sống, là Đức Giêsu Ki-tô, Ngôi Lời Thiên Chúa. Điều này sẽ được khởi động rất sớm: « Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giêsu » (đó là nội dung của bài Tin Mừng ngày mai: Mc 3, 1-6). Và mưu đồ này sẽ đi đến cùng trong cuộc thương khó, khi người ta nhân danh Lề Luật để giết Đấng Vô Tội tuyệt đối.

    3. Sự sống và lề luật

    Như các môn đệ, không ai trong chúng ta không vi phạm luật; và như những người Pha-ri-sêu, không ai trong chúng ta tránh được sức mạnh của Sự Dữ thúc đẩy chúng ta dùng lề luật để dò xét và tố cáo bản thân mình và người khác. Vậy, Thánh Phao-lô nói: « Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Ki-tô, Chúa chúng ta! » (Rm 7, 24-25)

    Thật vậy, Đức Giêsu đã đứng về phía các môn đệ, những « bị cáo », và qua các môn đệ, Ngài đứng về phía chúng ta. Ngài biện minh cho họ bằng những lời mạc khải có tầm mức hết sức rộng lớn. Trước hết, Ngài dựa vào Lời Chúa trong Sách Thánh. Trong sách Samuen quyển 1, chương 21, kể lại chuyện vua Đa-vít và những người tùy tùng của ông, lúc đói đã vào nhà Thiên Chúa ăn bánh dùng để dâng tiến, thứ bánh chỉ có tư tế mới được ăn.

    Khi nêu ra một biến cố lịch sử, được kể lại trong Sách Thánh, Đức Giêsu muốn nói cho người Pha-ri-sêu, và qua họ, cho chúng ta về chính khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa:

    - Sự sống ưu tiên hơn lề luật. Vì Thiên Chúa thông truyền sự sống, nghĩa là ban ơn, trước khi ban lề luật (x. St 2-3). Và xét cho cùng, mọi lề luật được đặt ra để phục vụ cho sự sống. Sự sống chính là cùng đích của lề luật.

    - Luật đúng là thánh, như thánh Phao-lô nói trong thư Roma (Rm 7). Nhưng ngôi vị cũng là thánh, vì vốn được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa. Vì thế, trong hành vi phạm luật, phải chú ý đến hoàn cảnh, quá khứ, giáo dục, môi trường, những vấn đề và vết thương của nội tâm… Như Đức Chúa nói với ngôn sứ Samuen: « Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm: người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn ĐỨC CHÚA thì thấy tận đáy lòng » (1Sm 16, 1)

    - Con Người, nguồn sự sống, là chủ ngày Sa-bát. Mặc khải này của Đức Giêsu phải làm cho chúng ta tin tưởng và bình an, vì Đấng ban luật cũng là Đấng thương xót, bao dung, không lên án, nhưng cứu vớt. Không phải Chúa bao che chúng ta, những là vì chỉ có lòng thương xót mới có sức mạnh biến đổi và chữa lành tận căn con tim của chúng ta, chứ không phải hành xử theo luật (có thể đọc dụ ngôn « Người Cha và Hai Người Con » trong Lc 15, 11-32, theo hướng này).

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc




    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Ba 22/01/2019

     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    23.1.2019 – Thứ Tư, sau Chúa Nhật 2 Thường Niên

    « Ngày sa-bát,
    được phép làm điều lành hay điều dữ,
    cứu mạng người hay giết đi? »

    Lời Chúa: Mc 3, 1-6

    1 Đức Giê-su lại vào hội đường. Ở đó có một người bị bại tay.2 Họ rình xem Đức Giê-su có chữa người ấy ngày sa-bát không, để tố cáo Người.

    3 Đức Giê-su bảo người bại tay: “Anh trỗi dậy, ra giữa đây! “4 Rồi Người nói với họ: “Ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi? ” Nhưng họ làm thinh.5 Đức Giê-su giận dữ rảo mắt nhìn họ, buồn khổ vì lòng họ chai đá. Người bảo anh bại tay: “Anh giơ tay ra! ” Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường.

    6 Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    Suy niệm:

    Trình thuật Tin Mừng theo thánh Mác-cô có cấu trúc song song đối xứng như sau:

    (A) Đức Giê-su đi vào hội đường; họ rình Ngài (c. 1-2)

    (B) Đức Giê-su nói với người bại tay (c. 3)

    (C) Đức Giê-su nói với họ (c. 4a)

    (D) Họ im lặng (c. 4b)

    (C’) Đức Giê-su nhìn họ chung quanh (c. 5a)

    (B’) Đức Giê-su nói với người bại tay (c. 5b)

    (A’) Họ ra khỏi hội đường và tìm cách giết Ngài (c. 6)

    Sự kiện “họ im lặng” có vị trí trung tâm trong cấu trúc của trình thuật Tin Mừng. Vậy, sự im lặng này có nghĩa gì? Hay nói lên điều gì sâu kín trong lòng “họ”, đến độ làm cho Đức Giê-su “buồn khổ”?

    1- Sự Dữ và Lề Luật

    Bài Tin Mừng theo thánh Mác-cô hôm nay kể lại việc Đức Giê-su chữa người bại tay trong hội đường vào ngày sa-bát; biến cố này chính là điểm tới của một loạt vấn nạn của “họ” đối với lập trường (lời nói và việc làm) của Đức Giê-su về tội lỗi, bệnh tật, lề luật nhất là luật sa-bát (Mc 2, 1 – 3, 6).
    • Lúc đầu họ nhân danh lề luật để chất vấn Đức Giê-su: “Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” (2, 7)
    • Sau đó, tiếp tục dựa vào lề luật để dò xét, họ nêu ra nhiều thắc mắc: “Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!” (c. 16); “Sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?” (c. 18); “Ông coi, ngày sa-bát mà họ làm gì kia? Điều ấy đâu được phép” (c. 24).
    • Và sau cùng, như bài Tin Mừng kể lại, “họ làm thinh” (3, 4). Sự thinh lặng của họ diễn tả lựa chọn sự chết trong nội tâm: “Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su” (c. 6).
    Như thế, bệnh thể lý nhường chỗ cho một thứ bệnh khác, gây chết chóc nhiều hơn gấp bội, cho mình và cho người khác; và thứ bệnh này làm cho Đức Giê-su “buồn khổ”.

    Đức Giê-su giận dữ rảo mắt nhìn họ,
    buồn khổ vì lòng họ chai đá.

    (c. 5)

    Sự Dữ không thể bị đưa ra ánh sáng khi ẩn nấp nơi lề luật (dựa vào Lề Luật để làm điều dữ; có thể đọc Rm 7, 7-13), nhưng đã phải lộ diện ở đây, khi đối diện với ý muốn và quyền năng phục hồi sự sống và trao ban sự sống một cách thuần túy và nhưng không của Đức Giê-su. Tất cả sẽ trở thành hiện thực và đi tới cùng ở nơi mầu nhiệm Thập Giá, nghĩa là lúc Chàng Rể bị đem đi (x. Mc 2, 20). Khi mà, mọi người chỉ coi người bại liệt là bệnh nhân, thì Đức Giê-su nhìn người này vừa là tội nhân và vừa là bệnh nhân: “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2, 5). Bởi vì, trên Thập Giá, Ngài sẽ trở thành “tội nhân và bệnh nhân”, để mặc khải Sự Dữ và Sự Thiện, tha thứ, chữa lành và mở đường cho chúng ta đi vào Sự Sống, dù chúng ta là ai và đang ở trong tình trạng nào. Với người bại tay, Người nói:

    “Anh giơ tay ra!”
    Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường.

    (Mc 3, 5)

    Ngang qua việc chữa lành rất nhỏ bé, là chữa lành cánh tay bị bại liệt, Đức Giê-su vừa bày tỏ cách rõ ràng và mạnh mẽ sứ mạng phục vụ sự sống (vì cánh tay mang ý nghĩa biểu tượng: người ta làm việc với đôi tay để nuôi sống mình và người khác), Đức Giê-su vừa muốn chạm tới và chữa lành một thứ bệnh nguy hiểm nhưng rất khó đưa ra ánh sáng để được chữa lành, đó là dùng lề luật như phương tiện để giết chết. Căn bệnh này có nguồn gốc từ con rắn, tức ma quỉ (x. St 3, 1-7).

    Khi cầu nguyện, chúng ta có thể dùng phương pháp chiêm niệm: Nhìn các nhân vật trong không gian hội đường; nghe tiếng nói, đặc biệt chú ý đến câu hỏi của Chúa và hãy thử trả lời. Nhưng nghe cả thinh lặng nữa (đọc ra ngôn ngữ thinh lặng), thinh lặng ở đây muốn diễn tả điều gì? Tại sao Chúa giận giữ? Quan sát cung cách bên ngoài, chuyển động (vào hội đường, bước ra giữa và đi ra khỏi hội đường), nhưng nhất là “chuyển động nội tâm”, vì mọi sự diễn ra trong nội tâm, vì thế trình thuật rất ngắn. So sánh ý đồ rình xem để tố cáo và ý đồ giết Đức Giêsu.

    2- “Ngày sa-bát, được phép làm điều tốt hay điều xấu, cứu lấy sự sống hay giết đi ?”

    Họ có vẻ giữ luật thật kĩ và còn muốn bảo vệ nữa. Họ chẳng có gì đáng trách xét theo Luật, ngược lại còn đáng khen nữa. Tuy nhiên, trong lòng chất chứa năng động sự dữ và sự chết: họ dựa vào luật để tố cáo, nhưng sẽ đến lúc họ sẽ tố cáo vô cớ (như trường hợp này, vì Đức Giê-su chữa bệnh bằng lời, nên không vi phạm luật sa-bát, nhưng họ vẫn cứ muốn loại trừ Ngài), hay tự tạo ra chứng cớ bất chấp Lề Luật: « Chúng ghét con vô cớ » (Ga 15, 25).

    Thánh Gioan đã trích Tv 35, 19 hay Tv 69, 5, vì nhìn ra ở đó lời tiên báo về sự thù ghét của thế gian đối với Đức Giê-su. Không phải vì họ yêu thích lề luật, vốn được lập ra để phục vụ cho sự sống, nhưng là yêu thích tố cáo, và dùng lề luật làm phương tiện tố cáo, lên án và giết chết (x. Rm 7; St 3). Câu hỏi của Đức Giêsu: “Ngày sa-bát, được phép làm điều tốt hay điều xấu, cứu lấy sự sống hay giết đi?”, sẽ làm bật ra điều thầm kín này:

    Ngày sa-bát

    Khía cạnh tích cực - - - - - - - Khía cạnh tiêu cực
    Làm điều tốt - - - - - - - - - hay làm điều xấu?
    Cứu lấy sự sống - - - - - - - hay giết đi ?

    Khía cạnh tiêu cực là đơn giản nhất. Thật vậy, tại sao lại hỏi có được phép làm điều xấu vào ngày sa-bát hay có được phép giết đi vào ngày này? Vì mọi ngày trong tuần đều không được phép! Khía cạnh tích cực thì phức tạp hơn: có được phép làm điều tốt ngày sa-bát không? Không luôn luôn được phép, vì ngày sa-bát cấm làm một số điều tốt: viết thư an ủi một người bạn, di chuyển tương đối xa để làm từ thiện hay thăm một người bệnh, pha chế thuốc men… Lệnh cấm của ngày sa-bát hệ ở chỗ hoãn lại một số hành động tốt đòi hỏi công sức để thực hiện nhưng không khẩn cấp.

    a. Giới răn sa-bát và những giới răn khác

    Đặc điểm duy nhất của giới răn sa-bát, vốn làm cho giới răn này khác với các giới răn khác, là không thuộc bình diện luân lý. Thực vậy, giới răn sa-bát cấm thực hiện một số hành vi tự nó là tốt, trong khi các giới răn khác có đối tượng là những hành vi xấu tự tại, nghĩa là những hành vi này vẫn xấu dù không bị cấm. Vì thế, việc tuân giữ ngày sa-bát diễn tả sự vâng phục thuần túy, dựa trên sự nhận biết Thiên Chúa, ngang qua tiếng nói công bố Lề Luật.

    Tôi không làm một việc, không phải vì đó là việc xấu, nhưng vì “Người Ấy” không muốn, và “Người Ấy” không muốn hôm nay. Chẳng hạn, việc ăn trái cây bị cấm, không phải là hành vi xấu tự tại. Bằng chứng là, hằng ngày chúng ta vẫn ăn trái cây đủ loại! Vì thế, trong tương quan với Thiên Chúa, ngang qua luật sa-bát, đối lập tốt/xấu không phải là tiêu chuẩn duy nhất cho hành động của tôi, cho việc tôi tìm kiếm ơn gọi và sống ơn gọi, để ca tụng Chúa và đi về với Chúa.

    b. Hai lựa chọn: tốt/xấu và sống/chết

    Ngày sa-bát cấm làm một số điều tốt, nhưng không thể cấm lòng ước ao thực hiện những việc này và cũng chẳng áp đặt được. Ngược lại, ngày sa-bát giả định lòng ước ao, và khi giả định, ngày sa-bát làm cho lòng ước ao trở nên sống động hơn. Như thế, khi không cho phép làm một số điều tốt, ngày sa-bát lại củng cố lòng ước ao hướng đến sự sống, và đồng thời làm bật ra lựa chọn ngược lại, nghĩa là lựa chọn sự chết.

    Đức Giê-su chấn vấn họ về vấn đề mà họ rất có chuyên môn và thẩm quyền. Nhưng họ im lặng, điều này chứng tỏ câu hỏi của Đức Giê-su không thuộc bình diện kiến thức, nhưng đụng đến nơi sâu kín trong lòng, đến lựa chọn của con tim. Trong sự im lặng, chất chứa điều gì, nếu không phải là lựa chọn “không có, cũng chẳng không” (x. Mt 5, 37). Ngày sa-bát truyền lệnh không được làm điều tốt này (trong trường hợp của trình thuật Mc 3, 1-6, là không được chữa bệnh) hôm nay, chính là để con người quyết định lựa chọn sự sống hôm nay. Xét theo vẻ bề ngoài, im lặng có nghĩa là không quyết định, nhưng nó lại làm lộ ra lựa chọn của con tim: con tim lựa chọn lề luật và biến lề luật thành nơi ẩn nấp của ý muốn giết chết. Chính lựa chọn này làm Đức Giêsu giận dữ; nhưng Ngài cũng đau khổ, nghĩa là thương cảm, vì con tim chai cứng của họ.

    3 – “Anh hãy đưa tay ra !”

    Ngày sa-bát là trung tâm của Mười Điều Răn, và Mười Điều Răn là trung tâm của Lề Luật. Vì thế, luật sa-bát tượng trưng cho Lề Luật. Đức Giêsu không dời việc chữa lành vào ngày hôm sau và cũng không trình bày lập trường của mình về ngày sa-bát; Ngài đáp lại sự im lặng bằng cái nhìn giận dữ, Ngài đau khổ (thương cảm) vì con tim bệnh tật của họ, và Ngài thực hiện quyền năng chữa lành người bệnh bằng Lời Sự Sống, chứ không phải bằng việc làm, vốn bị cấm trong ngày sa-bát. Lời giảng của Ngài về ngày sa-bát không phải là một giáo huấn lí thuyết, nhưng là hành động, hành động chữa lành. Hành động trong thinh lặng này loan báo sự thinh lặng của cuộc Thương Khó.

    Hành động của Đức Giêsu làm rõ ước ao sự sống của Ngài đối với người bệnh. Ước ao trao ban sự sống vô hạn, nhưng lại được biểu lộ trong một hành vi hữu hạn. Khi làm thế, Ngài làm lộ ra ước ao sự chết đang hiện diện trước mặt Ngài, bởi vì Ngài không vi phạm luật sa-bát, khi chữa bệnh bằng lời; do đó, lề luật không còn là chỗ ần nấp của họ. Chính những người rình rập Ngài chứng kiến vực thẳm của lựa chọn sự chết mở ra trong lòng họ. Để đáp lại, chứ không chống lại, ở đây Đức Giêsu còn làm hơn cả lời giảng “đừng chống lại kẻ dữ”, Ngài để mình bị chi phối bởi lựa chọn sự chết của kẻ dữ, vì đó là cách duy nhất để thuyết phục nó.

    Nơi Đức Giêsu, quyền năng vốn là một với lời của Ngài, được bày tỏ ngang qua một hành vi chữa lành rất giới hạn, nhưng lại nói cho chúng ta quyền năng sự sống vô hạn, nói cho chúng ta lòng ước ao trao ban sự sống Thiên Chúa cho con người. Lời loan báo này được cảm nhận từ xa như là việc hủy bỏ ngày sa-bát, xét như là một giải pháp dành chỗ cho quyết định, nhưng lại có thể chứa chấp lựa chọn hướng tới sự chết. Nếu con tim của những kẻ đối nghịch hướng tới cực điểm như thế, nghĩa là quyết định giết chết, chính là vì đã cảm nhận được nơi hành vi của Đức Giêsu lời loan báo về một ngày sa-bát được đẩy tới cùng đích, nhằm giải phóng hoàn toàn chân lý của ngày sa-bát, đó là ước ao sự sống nơi con người và trao ban sự sống nơi Thiên Chúa.

    Ý nghĩa tận cùng của hành động mà Đức Giêsu thực hiện, đó là giờ đã đến, giờ quyết định để đưa ngày sa-bát và ngang qua ngày sa-bát, toàn bộ lề luật đến cùng đích, nghĩa là đến “sự hoàn tất” (x. Mt 5, 17), đó là ước ao và trao ban sự sống, sự sống dồi dào. Hành động chữa lành người bại tay diễn tả lựa chọn sự sống của Chúa ; hành động này loan báo Thập Giá, loan báo « Lời Thập Giá » (1 Cr 1, 18).

    * * *​

    Đức Giê-su đã hoàn tất ngày sa-bát, nhưng ngày sa-bát của người Do-thái vẫn đem lại một ánh sáng rực rỡ cho cách chúng ta hiểu và sống ba lời khấn của ơn gọi dâng hiến. Thật vậy, luật về ba lời khấn « cấm » thực hiện những điều liên quan đến sự sống (phái tính, của cải, ý riêng), tương tự như ngày sa-bát cấm làm một số điều tốt. Tại sao lại cấm như vậy?

    Ba lời khấn có nền tảng vững chắc về phương diện nhân học (sống ba lời khấn cách đích thật, người ta được triển nở, tự do và hạnh phúc, chứ không bị tha hóa, mất tự do và bất hạnh), nhưng nền tảng tận cùng và bền vững vẫn là nền tảng thiêng liêng. Nền tảng của ngày sa-bát là tương quan ơn huệ nhưng không giữa Thiên Chúa và Dân của Ngài, là kinh nghiệm về tình yêu Thiên Chúa và ước ao sống theo ý Chúa vì lòng mến; tương tự như thế, nền tảng của ba lời khấn, là tương quan tình yêu giữa Đức Ki-tô và mỗi người chúng ta. Chúng ta sống ba lời khấn, là vì kinh nghiệm sâu đậm về tình yêu đến cùng Đức Ki-tô dành cho chúng ta và để đáp lại, chúng ta ước ao sống cho Chúa và chỉ một mình Chúa mà thôi, tương tự luật sa-bát có một lý do duy nhất là ý muốn của Đức Chúa, Đấng ban ân huệ; gạt bỏ Tình yêu Chúa và điều Chúa muốn ra ngoài, ba lời khấn của chúng ta sẽ trở thành vô nghĩa và sẽ là gánh nặng không thể chịu nổi. Huấn luyện thiêng liêng trong đời tu phải xây dựng bằng được mối tương quan này. Nếu không có, sẽ không gánh nổi và sẽ phát sinh mọi thứ lệch lạc.

    Trong “Năm Đời Sống Thánh Hiến”, hiệp thông với toàn thể Giáo Hội, chúng ta đã cầu nguyện cách đặc biệt cho các tu sĩ nam nữ, như lời Đức Thánh Cha mời gọi. Chúng hãy tiếp tục tạ ơn và cầu nguyện cho ơn gọi sống đời thánh hiến.

    Và xin cho tất cả chúng ta, dù đang sống trong ơn gọi nào, gia đình, đời tu hay độc thân, được nhận ra và kinh nghiệm đích thân tình yêu đến cùng của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô Thánh Thể và Chịu Đóng Đinh, và ước ao đi theo Người với tâm tình biết ơn.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Tư 23/01/2019

     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    24.1.2019 – Thứ Năm, sau Chúa Nhật 2 Thường Niên

    “Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân”

    Lời Chúa: Mc 3, 7-12
    7 Đức Giê-su cùng với các môn đệ của Người lánh về phía Biển Hồ.

    Từ miền Ga-li-lê, người ta lũ lượt đi theo Người. Và từ miền Giu-đê,8 từ Giê-ru-sa-lem, từ xứ I-đu-mê, từ vùng bên kia sông Gio-đan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xi-đôn, người ta lũ lượt đến với Người, vì nghe biết những gì Người đã làm. 9 Người đã bảo các môn đệ dành sẵn cho Người một chiếc thuyền nhỏ, để khỏi bị đám đông chen lấn.

    10 Quả thế, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, khiến ai ai có bệnh cũng đổ xô đến để sờ vào Người.11 Còn các thần ô uế, hễ thấy Đức Giê-su, thì sấp mình dưới chân Người và kêu lên: “Ông là Con Thiên Chúa! “12 Nhưng Người cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là ai.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    Suy niệm:

    1. Ý định loại trừ


    Một loạt bất đồng của “họ” với Đức Giê-su (Mc 2, 1 – 3, 6) đã dẫn tới ý định thuần túy, nghĩa là vô cớ, loại trừ Người. Thật vậy, lúc đầu họ nhân danh lề luật để chất vấn Đức Giê-su: “Sao ông này lại dám nói như vậy? Ông ta nói phạm thượng! Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” (2, 7) Sau đó, tiếp tục dựa vào lề luật để dò xét, họ nêu ra nhiều thắc mắc: “Sao! Ông ấy ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi!” (c. 16); “Sao các môn đệ ông Gio-an và các môn đệ người Pha-ri-sêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?” (c. 18); “Ông coi, ngày sa-bát mà họ làm gì kia? Điều ấy đâu được phép” (c. 24).

    Và sau cùng, như bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm qua kể lại, “họ làm thinh” (3, 4). Sự thinh lặng của họ diễn tả lựa chọn sự chết trong nội tâm: “Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su” (c. 6).

    2. “Người lánh về phía Biển Hồ”

    Tuy nhiện, Đức Giê-su không đối đầu với họ bằng sức mạnh, nhưng lánh đi cùng với các môn đệ:

    Đức Giê-su cùng với các môn đệ của Người lánh về phía Biển Hồ.

    (c. 7)

    Điều này loan báo cách Ngài đối đầu với họ trong cuộc Thương Khó; nghĩa là, Ngài không dùng sức mạnh chống lại sức mạnh, bạo lực chống lại bạo lực, vì sức mạnh biểu hiện dưới dạng bạo lực không phù hợp với căn tính đích thật của Ngài, nhưng dùng sự hiền lành và sự tín thác nơi Thiên Chúa, là Nguồn Sự Sống mạnh hơn sự chết, như TV 8 loan báo:

    Chúa cho miệng con thơ trẻ nhỏ,
    cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù,
    khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan.

    (TV 8, 3)

    Nhưng chính khi Ngài lánh đi, chính khi Ngài “vượt qua” họ, Ngài trở thành điểm qui tụ muôn người:

    Và từ miền Giu-đê, từ Giê-ru-sa-lem, từ xứ I-đu-mê, từ vùng bên kia sông Gio-đan và vùng phụ cận hai thành Tia và Xi-đôn, người ta lũ lượt đến với Người.
    (c. 7-8)

    Và từ nơi Ngài lan tỏa năng lực chữa lành khỏi bệnh tật và thần dữ, nghĩa là năng lực phục hồi sự sống cho con người:

    Quả thế, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, khiến ai ai có bệnh cũng đổ xô đến để đụng vào Người. Còn các thần ô uế, hễ thấy Đức Giê-su, thì sấp mình dưới chân Người và kêu lên: “Ông là Con Thiên Chúa!”
    (c. 10-11)

    Chúng ta thường bị ấn tượng và ưa thích những phép lạ chữa bệnh, vì bệnh tật làm cho con người khốn khổ. Tuy nhiên, bệnh tật lại thuộc về thân phận con người, đã là người thì phải trải qua, không tránh được: sinh lão bệnh tử; nhưng sự sống của con người bị quấy phá, bị chi phối bởi ma quỷ, bởi thần dữ mới là bi đát hơn, trong mức độ ma quỷ gieo vào lòng con người và vào tương quan giữa người với người sự nghi ngờ, loại trừ, bạo lực, ham muốn, ghen tị, dục vọng… Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm, những sự dữ này còn phá hoại sự sống của chúng ta hơn cả bệnh tật. Và chỉ có Lời Chúa, và tuyệt đỉnh là “Lời Thập Giá” (1Cr 18, 1) mới có thể chữa lành, giải thoát chúng ta khỏi Sự Dữ và những gì thuộc về Sự Dữ.

    3. Mầu Nhiệm Vượt Qua

    Những gì thánh sử Mác-cô kể lại ở đây đã loan báo cho chúng ta mầu nhiệm Phục Sinh rồi, nghĩa là mầu nhiệm Đức Ki-tô chiến thắng sự dữ và sự chết và Ngài chia sẻ sự sống viên mãn mạnh hơn sự dữ và sự chết của Ngài cho chúng ta ngay từ cuộc đời này. Hình ảnh Đức Giê-su ngồi trên thuyền ở Biển Hồ, diễn tả Đức Ki-tô Phục Sinh chiến thắng sự chết, được tượng trưng bằng khía cạnh hủy diệt của Biển Cả.

    Như thế mầu nhiệm Vượt Qua được ghi khắc khắp nơi trong cuộc đời của Đức Giê-su, cũng như đã được ghi khắc khắp nơi trong sáng tạo: đó là ơn lương thực hướng tới Lương Thực Hằng Sống, hạt lúa mì nói lên hành trình Vượt Qua; và trong lịch sử: đó là lịch sử cứu độ được Thư Do-Thái nhắc lại (Dt 8, 6-13) nhắc lại, đó là tương quan giữa Gô-li-át với vua Đa-vít; sau đó giữa vua Sa-un và vua Đa-vít, được kể lại trong 1Sm 17-18.

    Xin cho chúng ta cũng nhận ra những dấu vết của mầu nhiệm Vượt Qua trong cuộc đời và hành trình ơn gọi của chúng ta, vì đó là niềm hi vọng, và cũng là lời hứa, hướng chúng ta đến mầu nhiệm Vượt Qua viên mãn của Đức Ki-tô.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Năm 24/01/2019


     
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    25.1.2019 – Thứ Sáu, Lễ Thánh Phaolô Tông Đồ trở lại

    « Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ,
    loan báo Tin Mừng »

    Lời Chúa: Mc 16, 9-18

    9 Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giê-su hiện ra trước tiên với bà Ma-ri-a Mác-đa-la, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ.10 Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng sống với Người mà nay đang buồn bã khóc lóc.11 Nghe bà nói Người đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin. 12 Sau đó, Người tỏ mình ra dưới một hình dạng khác cho hai người trong nhóm các ông, khi họ đang trên đường đi về quê.13 Họ trở về báo tin cho các ông khác, nhưng các ông ấy cũng không tin hai người này.

    14 Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy.

    15 Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án.17 Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ.18 Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ.”


    (Bản dịch của Nhóm CGKPV)

    Suy niệm

    Bản văn Tin Mừng có thể chia làm ba phần như sau :

    (A) Nghe lời chứng (c. 9-13)

    (B) Kinh nghiệm đích thân gặp gỡ
    Đức Ki-tô phục sinh (c. 14)

    (A’) Đi làm chứng (c. 15-18)

    Ở điểm cầu nguyện thứ hai, nghĩa là phần (B), với tâm tình tạ ơn, chúng ta có thể đọc lại cuộc đời của chúng ta trong năm vừa qua, dưới ánh sáng mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô; chúng ta được mời gọi đặc biệt nhớ lại những biến cố Chúa dùng để giúp chúng ta nhận ra và gặp gỡ Người.

    1. Nghe lời chứng (c. 9-13)

    Chúng ta hãy lắng nghe và đi vào tâm tình của những người đã từng sống với Đức Giê-su đang buồn bã khóc lóc (x. Mc 16, 9). Chắc chắn, Đức Ki-tô phục sinh cũng cảm thông với họ, như đã cảm thông với bà Maria Magdala và hai môn đệ trên đường Emmau.

    Nhưng tại sao họ lại buồn bã khóc lóc? Giống như bà Maria và hai môn đệ trước khi gặp gỡ Đức Ki-tô phục sinh, họ chỉ nhìn vào các biến một cách khách quan và cục bộ: là chết rồi, là thất bại, là ngõ cụt, là thất vọng, là không khởi đi từ đâu và cũng không dẫn tới đâu. Vì thế, họ buồn rầu khóc lóc, không thấy hướng đi, ý nghĩa cuộc đời, « ngũ quan » khép kín, bị ngăn chặn không nhớ lại ơn huệ sáng tạo, lịch sử cứu độ và nhất là không nhớ lại lời dạy của Đức Giê-su về mầu nhiệm Vượt Qua; vì không nhớ lại, nên họ cũng không thể mở ra với lời chứng của các chứng nhân, với sự hiện diện vô hình của Đấng Phục Sinh, với sự sống sau sự chết.

    Chúng ta hãy lắng nghe các chứng nhân chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đức Ki-tô phục sinh, với tất cả niềm xác tín, niềm vui và niềm hi vọng. Chúng ta có thể nhớ lại kinh nghiệm cầu nguyện của chúng ta với hai biến cố:

    • Biến cố Đức Ki-tô phục sinh tỏ mình ra cho bà Maria Magdala (Mc 19, 9)
    • Biến cố Đức Ki-tô phục sinh tỏ mình ra cho môn đệ trên đường Emmau (Mc 16, 12).

    Chúng ta hãy lắng nghe và đi vào tâm tình của các chứng nhân chia sẻ kinh nghiệm gặp gỡ Đức Ki-tô phục sinh: hai môn đệ đã chia sẻ với tất cả niềm xác tín và niềm vui như thế nào? Và các ông đã ước ao thông truyền kinh nghiệm của mình như thế nào? Nhưng rốt cuộc, các ông đã « hụt hẫng » như thế nào, khi những người nghe không tiếp nhận chứng từ của họ? Và chúng ta đã có kinh nghiệm làm chứng nhân chưa? Phải chuẩn bị mình thế nào để làm chứng ; và khi người nghe không tin, lúc đó, sẽ phải phản ứng ra sao? Chúng ta có thể tự hỏi tại sao những người nghe lại không tin?

    Các môn đệ đóng kín cửa phòng, hình ảnh của việc đóng kín tâm hồn, không chịu ra khỏi mình để nhớ lại lời loan báo của Đức Ki-tô, và nhất là lời loan báo của Kinh Thánh, và đọc các biến cố Đức Ki-tô và những biến cố liên quan đến đời mình dưới ánh sáng của lời Kinh Thánh. Đức tin và ơn gọi của chúng ta dựa trên lời chứng của Giáo Hội và của rất nhiều người xa gần. Chúng ta đã từng ở trong tình trạng không tin như thế chưa?

    2. Đích thân gặp gỡ Đức Ki-tô phục sinh (c. 14)

    Đức Giê-su tỏ mình ra đang khi các ông dùng bữa. Tại sao Đức Giê-su lại chọn lúc này, chứ không vào lúc khác, chẳng hạn đang cầu nguyện, đang hội họp, hay như chúng ta, đang đọc kinh hay chầu Thánh Thể?

    Lắng nghe lời khiển trách của Đức Giê-su: không tin và cứng lòng, đối với các chứng nhân. Chúa coi trọng việc chúng ta làm chứng cho nhau như thế nào: lời của của người khác dành cho chúng ta, lời chứng của chúng ta dành cho người khác. Tại sao Chúa coi trọng lời chứng như thế?

    Như thế, Đức Ki-tô mời gọi chúng ta, trước khi trở thành chứng nhân, chúng ta được mời gọi mở lòng ra để lắng nghe các chứng nhân. Và điều này phải làm chúng ta ngặc nhiên: kinh nghiệm này cũng phải có, ngay cả đối với các tông đồ, vốn là các chứng nhân ưu tuyển ! Thật vậy, trước khi trở thành chứng nhân, chính các tông đồ cũng đã phải trải qua kinh nghiệm lắng nghe các chứng nhân khác, vốn đã được ban ơn nhận ra Đức Ki-tô phục sinh trước. Đó là chứng từ của bà Maria Magdala (x. Mc 16, 11 và Ga 20, 18), chính vì thế bà được Truyền Thống Giáo Hội tặng ban tước hiệu « Tông đồ của các Tông Đồ »; và đó cũng là chứng từ của hai môn đệ từ Emmau trở về:

    Bấy giờ, hai môn đệ từ Emmau trở về, thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.
    (Lc 24, 35)

    Tuy nhiên, để trở thành chứng nhân, lắng nghe lời chứng vẫn chưa đủ, bởi vì đó mới chỉ là lời mời gọi hướng đến, chứ không thay thế được, kinh nghiệm đích thân nhận ra sự hiện diện sống động của Đức Ki-tô phục sinh ; nhưng niềm tin mà chúng ta đặt để lời chứng của các chứng nhân là điều kiện không thể thiếu dẫn chúng ta đi vào kinh nghiệm đích thân gặp gỡ Đấng Phục Sinh.

    3. Đi làm chứng (c. 15-18)

    Đức Ki-tô phục sinh vẫn tin tưởng các môn đệ của mình, ngang qua việc trao sứ mạng. Chúng ta hãy dừng lại suy gẫm từng lời của Đức Ki-tô:

    • “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Như thế, Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô có tầm mức sáng tạo, bởi vì sứ điệp của Tin Mừng và sứ điệp của sáng tạo là một, vì cả hai đều có cùng một nguồn gốc là Ngôi Lời Thiên Chúa. Để hiểu điều này chúng ta có thể đọc Rm 10, 18 dưới ánh sáng của Tv 19, 5.
    • « Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án ». Khi không tin, người ta đã tự kết án chính mình, như Đức Giê-su nói trong Tin Mừng theo thánh Gio-an: « kẻ không tin, thì bị kết án rồi » (Ga 3, 18). Và thực tế cuộc sống cho thấy, khi không tin vào sự sống, người ta sẽ chẳng mấy chốc làm việc cho sự chết, sống cho sự chết và thuộc về sự chết, bởi vì đối với họ chết là mạnh nhất, là cùng đích. Ngược lại, lòng tin mang lại cứu độ, như Đức Giê-su hay tuyên bố: « lòng tin của con đã cứu con ».
    • « Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin : nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ. »

    Thế hệ dầu tiên đã được ơn đặc biệt như thế, để khai sinh ra Giáo Hội. Còn chúng ta, những ơn này bây giờ vẫn được ban, nhưng dưới những hình thức khác, tuy không ngoạn mục, nhưng sâu xa và bền vững hơn:

    • Nhận định thần loại, nghĩa là phân biệt và nhận ra cách hành động của Chúa và các hành động của Sự Dữ, dưới ánh sáng của Lời Chúa, và nhất là ngôi vị của Đức Ki-tô trong mầu nhiệm Vượt Qua.
    • Thông truyền đức tin và kinh nghiệm, cho dù có rất nhiều khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa… (kinh nghiệm của các nhà truyền giáo)
    • Con rắn, thuốc độc, biểu tượng của sự dữ và bạo lực. Chúng ta có thể chiến thắng nhờ Thập Giá Đức Ki-tô ; như lời Tv 8: « Chúa cho miệng con thơ trẻ nhỏ, cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù, khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan ».
    • Hiện diện, quan tâm chăm sóc bệnh nhân, là điều không thể thiếu bên cạnh các biện pháp chữa trị y khoa, và sẽ là điều còn lại sau cùng giúp người bệnh tín thác vào tình yêu Thiên Chúa ngay trong thử thách bệnh tật và sự chết.

    Nhưng trên hết là, chúng ta được mời gọi thi hành sứ mạng « nhân danh Đức Ki-tô », chúng ta chỉ là tôi tớ, là nữ tì ; và vì thế, phải để cho Chúa hành động.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Sáu 25/01/2019

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 25 tháng Giêng 2019
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Tứ Đẳng Tình Nguyện Viên

    26.1.2019, Thứ Bảy – Lễ nhớ hai thánh Ti-tô và Ti-mô-thê, Giám Mục

    « Anh em hãy ra đi »

    Lời Chúa: Lc 10, 1-9

    1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.2 Người bảo các ông:

    3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này! “6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em.7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia.8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”



    Suy niệm:

    Hôm nay, hiệp thông với toàn thể Giáo Hội, chúng ta cử hành Thánh Lễ kính nhớ hai thánh Giám Mục, môn đệ của thánh Phao-lô Tông Đồ, đó là hai thánh Ti-tô và Ti-mô-thê. Xin Chúa cũng thương ban cho tất cả chúng ta ơn hiểu biết và yêu mến Đức Ki-tô, để có thể đi theo Người và loan báo Tin Mừng của Người đến cùng, như các thánh chúng ta mừng kính hôm nay.

    Lời Chúa trong bài Tin Mừng mời gọi chúng ta nhận ra ba đặc điểm thuộc về sứ mạng loan báo Tin Mừng, và để con tim của chúng ta được chinh phục, nghĩa là được ơn hiểu biết sâu sa, có lòng ước ao và quảng đại dấn thân thực hiện sứ mạng loan báo Tin Mừng trong hành trình đi theo Đức Ki-tô trong một ơn gọi.

    1. Sứ mạng phục vụ cho sự sống

    Sẽ thật là ấn tượng và rất có ý nghĩa, khi chúng ta hình dung ra một nhóm rất đông gồm bảy mươi hai môn đệ, được Đức Giê-su đích thân chỉ định, sai đi từng hai người một. Hình ảnh bảy mươi hai môn đệ nói cho chúng ta về sự phong phú của đời tu hôm nay, nam cũng như nữ, trong Giáo Hội và nhất là tại Giáo Hội Việt Nam, và về chính chúng ta nữa, hay những người thân yêu của chúng ta. Chúng ta đang ở trong Năm Đời Sống Thánh Hiến. Vì thế, chúng ta hãy xin Chúa ban cho tất cả chúng ta và cách đặc biệt cho tất cả những người đang tìm hiểu và sống ơn gọi dâng hiến, niềm xác tín này: đó là được Chúa đích thân tuyển chọn và sai đi, cho dù trong thực tế đã diễn ra như thế nào.

    Và sứ mạng của các môn đệ là chuẩn bị cho Chúa đến một cách đích thân: « Người sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến ». Nói cách khác, cánh đồng và sứ mạng là của Chúa, chúng ta không phải chủ, nhưng là nữ tì, là tôi tớ, là « ơn huệ », Chúa ban cho cánh đồng nhờ lời cầu nguyện của Giáo Hội, của rất nhiều người, nhất là của những người thân yêu. Và lời loan báo: « Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần », gắn liền với hoạt động chữa những người đau yếu:

    Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông.”
    (c. 9)

    Đức Giê-su cũng đã làm như thế khi loan báo Nước Trời. Như thế, các môn được mời gọi làm cùng một điều như Đức Giê-su đã làm, khi được chọn và sai đi, đó là hoạt động phục vụ cho sự sống: chữa bệnh liên quan đến sự sống ở mức độ căn bản nhất là sức khỏe, nhưng sự sống của con người không chỉ là sức khỏe, nhưng còn là và nhất là được đón nhận, được đồng hành, được tôn trọng, được yêu thương, được lắng nghe, được hòa giải với bản thân và với nhau, được cảm thông, được bao dung tha thứ, được chữa lành những vết thương trong tâm hồn.

    2. « Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói »

    Giống như Đức Giê-su, Đấng chọn và sai chúng ta đi, chính khi chúng ta thi hành sứ mạng phục vụ cho sự sống, chúng ta đánh liều chính sự sống của mình: « Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói ». Chiên con, chứ không phải chiên mẹ hay chiên bố, ở giữa bầy sói, thì chắc chắn là « chết » ! Bởi vì chính Đức Giê-su là « Chiên Con », như chúng ta tung hô nhiều lần trong Thánh Lễ: « Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian… »

    Tuy nhiên, hình ảnh chiên và sói lại diễn tả cách tuyệt vời sự tương phản giữa sự hiền lành của Thiên Chúa và tính bạo lực của sự dữ. Giống như Đức Ki-tô, chúng ta được mời gọi chiến thắng bạo lực của sự dữ, không phải bằng bạo lực, nhưng bằng lời tạ ơn và ca tụng Thiên Chúa, bằng cách phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa, bằng chính sự dịu hiền của Thiên Chúa:

    Chúa cho miệng con thơ trẻ nhỏ,
    cất tiếng ngợi khen chống lại địch thù,
    khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan.

    (Tv 8, 3)

    Bởi vì nếu chúng ta sử dụng cùng một phương tiện bạo lực, mà sự dữ dùng, để chống lại sự dữ, thì chúng ta sẽ không khác gì sự dữ, và nhất là vì chúng ta sẽ rất mau bị cuốn vào xoáy của sự dữ. Thật vậy, khi người ta dùng gươm dao súng ống để chống lại kẻ xấu, không sớm thì muộn, người ta sẽ say mê gươm dao súng ống luôn. Chính vì thế, Đức Giê-su mời gọi chúng đừng chống lại kẻ dữ (x. Mt 5, 39).

    Đánh liều sự sống, khi thi hành sứ mạng phục vụ sự sống. Điều này thật là thiệt thòi, thử thách và đau khổ. Nhưng đó lại là qui luật muôn đời của sự sống, được ghi khắc trong công trình sáng tạo và trong kinh nghiệm sống của loài người chúng ta: muốn phục vụ sự sống, muốn cho sự sống sinh sôi nẩy nở, phải cho đi chính sự sống của mình: đó là hạt lúa mì khi được gieo vào lòng đất, đó là người mẹ khi cưu mang và sinh con. Đức Ki-tô đến để cho thế gian được sống, và sống dồi dào (x. Ga 10, 10), và Người đã không đi con đường nào khác, ngoài con đường của hạt lúa mì. Thử thách và đau khổ, nhưng đồng thời cũng là hạnh phúc sâu xa và niềm vui bao la nếu được sống bằng tình yêu và lòng biết ơn. Và nhất là khi, trong Chúa, đó là con đường Vượt Qua, dẫn chúng ta đến ơn huệ sự sống gấp trăm và viên mãn.

    3. « Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép »

    Chính Chúa ban sự sống và ban lại sự sống gấp trăm, điều này, giúp chúng ta hiểu hiểu được ý nghĩa của lời dặn rất triệt để của Đức Giê-su, không thể áp dụng được trong thực tế, đó là không mang theo túi tiền, bao bị, giày dép.

    Như thế, chúng ta đi vùng sâu vùng xa hoặc đi Đông hay đi Tây làm sao được ? Không thể thực hiện được nhưng lại mang một ý nghĩa quyết định, đó là sứ mạng loan báo Tin Mừng của chúng ta không tuyệt đối phụ thuộc vào những phương tiện vật chất chúng ta có và những khả năng chúng ta tạo lập được, mặc dù những điều này là quan trọng. Sống ơn gọi và thi hành sứ mạng, chúng ta được mời gọi sống bằng ơn Chúa và bằng chính Chúa, chứ không phải bằng phương tiện và khả năng sinh sống và làm việc của riêng mình. Đó là ý nghĩa của phép lạ bánh hóa nhiều.

    Và ơn Chúa được ban cho chúng ta một cách rất cụ thể ngang qua sự tiếp đón và quà tặng do người khác chia sẻ, cụ thể là bữa ăn:

    Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó… Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.
    (c. 7-8)

    Trong lời dặn dành cho các môn đệ được sai đi, Đức Giê-su nói tới bữa ăn người ta đãi tới hai lần, và lần sau ăn lớn hơn lần trước, bởi vì là bữa ăn cấp thành phố!

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc



    <°)))>< . <°)))><


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Bảy 26/01/2019

     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn