Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Mười 2017 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2017 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần 23 Mùa Thường Niên

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 10 tháng Chín 2017.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    11.09.2017 – Thứ Hai, Tuần 23 Mùa Thường Niên

    Giơ bàn tay anh ra

    Lời Chúa: Lc 6, 6-11

    6 Một ngày sa-bát khác, Đức Giê-su cũng vào hội đường và giảng dạy. Ở đó có một người bị khô bại tay phải.7 Các kinh sư và những người Pha-ri-sêu rình xem Đức Giê-su có chữa người ấy trong ngày sa-bát không, để tìm được cớ tố cáo Người.8 Nhưng Người biết họ đang suy nghĩ như thế, nên bảo người bại tay: “Anh trỗi dậy, ra đứng giữa đây! ” Người ấy liền trỗi dậy và đứng đó.9 Đức Giê-su nói với họ: “Tôi xin hỏi các ông: ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay huỷ diệt? “10 Người rảo mắt nhìn họ tất cả, rồi bảo người bại tay: “Anh giơ tay ra! ” Anh ấy làm như vậy và tay anh liền trở lại bình thường.11 Nhưng họ thì giận điên lên, và bàn nhau xem có làm gì được Đức Giê-su không.

    Suy niệm:

    Chúng ta không biết nhiều chi tiết về người đàn ông này.
    Ông bao nhiêu tuổi, có gia đình chưa, sống bằng nghề gì?
    Chỉ biết là bàn tay phải của ông bị teo, không duỗi được (c. 6).
    Chắc là nó bị co quắp vì các cơ không hoạt động bình thường.
    Như thế sẽ rất khó chịu và bất lợi để sinh hoạt hàng ngày.
    Hơn nữa đây lại là bàn tay phải, bàn tay chính để làm việc.

    Người đàn ông có bàn tay thương tật đã đến hội đường vào ngày sabát.
    Ông đến để nghe giảng dạy và cầu nguyện như mọi người.
    Có vẻ ông chẳng mong gì, chẳng xin được Đức Giêsu chữa lành,
    dù tiếng tăm của Ngài lúc đó đã lan rộng nhiều nơi (Lc 5, 15).
    Thật bất ngờ khi Ngài bảo ông: “Hãy trỗi dậy và ra đứng giữa đây.”
    Ông chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra cho mình, nhưng đã vâng lời.
    Ông đứng ở ngay giữa cho mọi người thấy.
    Sau đó Ngài bảo ông: “Hãy duỗi bàn tay của anh ra!” (c. 10).
    Một lần nữa ông lại vâng lời.
    Ông làm điều mà có lẽ từ lâu ông không làm được.
    Duỗi bàn tay khô héo, co quắp này, để có thể cầm cái ly, cái chén.
    Ước mơ đơn giản ấy nào ngờ hôm nay được thực hiện.
    Ông đã duỗi bàn tay theo lời Đức Giêsu, và nó đã trở lại bình thường.
    Bàn tay như được sống lại, được phục hồi, mềm mại, dễ bảo.
    Cuộc đời ông từ nay sẽ tươi hơn, có ích hơn, ít phải nhờ vả hơn.

    Đức Giêsu đã làm phép lạ này không phải vì được yêu cầu,
    nhưng như một câu trả lời cho các kinh sư và những người Pharisêu.
    Họ rình xem Ngài có chữa bệnh trong ngày sabát không, để tố cáo Ngài.
    bởi lẽ theo họ, ngày sabát chỉ được chữa những bệnh nguy tử.
    Đức Giêsu đã vạch trần âm mưu này và công khai tỏ thái độ.
    Câu hỏi quen thuộc: có được phép làm điều này vào ngày sabát không?
    được thay bằng câu hỏi mới: ngày sabát được phép làm điều lành hay dữ;
    cứu mạng sống hay hủy hoại mạng sống? (c. 9).
    Phép lạ sau đó của Đức Giêsu chính là câu trả lời (c. 10).
    Nhiều khi không làm một điều tốt, cũng bằng với việc làm một điều xấu,
    Không cứu một người vào giây phút ấy, cũng bằng gián tiếp giết chết họ.
    Đức Giêsu đã không coi ngày sabát như ngày chỉ biết ngồi khoanh tay,
    nhưng như ngày để làm điều tốt, để cứu sự sống con người.
    Dù sao Đức Giêsu đã không hề đụng đến ông có bàn tay bị tật.
    Khó lòng bắt lỗi Ngài đã vi phạm ngày sabát
    Ngài chữa cho ông ấy chỉ bằng một lời mà thôi.

    Các Kitô hữu không còn phải giữ ngày sabát nữa, nhưng giữ Chúa Nhật.
    Đây là ngày để chúng ta làm điều tốt, để chăm lo cho sự sống.
    Chữa cho một bàn tay bị teo tóp được lành, việc này không nhỏ.
    Làm cho một con người có thể sống bằng đôi tay của mình, là chuyện lớn.
    Đức Giêsu đã phải trả giá cho việc chữa bệnh của mình.
    Chúng ta cũng phải trả giá khi dám bảo vệ một sự sống nhỏ nhoi.
    Chỉ mong bàn tay tôi không co lại, nhưng mở ra cho mọi người.​

    Lời nguyện:

    Lạy Chúa Giêsu,
    ai trong chúng con cũng thích tự do,
    nhưng mặt khác chúng con thấy mình dễ bị nô lệ.
    Có nhiều xiềng xích do chính chúng con tạo ra.
    Xin giúp chúng con được tự do thực sự :
    tự do trước những đòi hỏi của thân xác,
    tự do trước đam mê của trái tim,
    tự do trước những thành kiến của trí tuệ.

    Xin giải phóng chúng con khỏi cái tôi ích kỷ,
    để dễ nhận ra những đòi hỏi tế nhị của Chúa,
    để nhạy cảm trước nhu cầu bé nhỏ của anh em.

    Lạy Chúa Giêsu,
    xin cho chúng con được tự do như Chúa.
    Chúa tự do trước những ràng buộc hẹp hòi,
    khi Chúa đồng bàn với người tội lỗi
    và chữa bệnh ngày Sabát.
    Chúa tự do trước những thế lực đang ngăm đe,
    khi Chúa không ngần ngại nói sự thật.
    Chúa tự do trước khổ đau, nhục nhã và cái chết,
    vì Chúa yêu mến Cha và nhân loại đến cùng.

    Xin cho chúng con đôi cánh của tình yêu hiến dâng,
    để chúng con được tự do bay cao.


    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    12.09.2017 – Thứ Ba, Tuần 23 Mùa Thường Niên

    Thức suốt đêm cầu nguyện

    Lời Chúa: Lc 6, 12-19

    12 Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa.13 Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ.14 Đó là ông Si-môn mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là các ông Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô,15 Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn biệt danh là Quá Khích,16 Giu-đa con ông Gia-cô-bê, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người đã trở thành kẻ phản bội.

    17 Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn18 đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật. Những kẻ bị các thần ô uế quấy nhiễu cũng được chữa lành.19 Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người.


    Suy niệm:

    Đức Giêsu là con người cầu nguyện:
    đây là nét nổi bật của Tin Mừng Luca.
    Ngài cầu nguyện suốt cuộc đời trần thế,
    từ khi nhận phép rửa của Gioan ở sông Giođan (Lc 3, 21)
    đến khi hấp hối trên thập giá (23, 34. 46).
    Đối với Ngài, cầu nguyện là chuyện Con đi gặp Cha,
    là cuộc chuyện trò thân mật giữa Cha và Con.
    Chính vì thế các lời cầu nguyện của Ngài (10, 21; 22, 42; 23, 34. 46).
    đều bắt đầu bằng hai tiếng Abba, Cha ơi, thân thương.
    Cần một không gian tĩnh lặng và riêng tư để gặp Cha (9, 18),
    nên Đức Giêsu thường lên núi (6, 12; 9, 28)
    hay vào chỗ hoang vắng (5, 16).
    Nhưng có khi Ngài cầu nguyện tự phát trước mặt môn đệ (10, 21),
    hay dẫn các môn đệ đến nơi mình sắp cầu nguyện (9, 28; 22, 39).
    Gặp Cha là hơi thở đem lại sự sống và hạnh phúc cho Đức Giêsu.
    Ngài múc lấy toàn bộ ý nghĩa đời mình qua các cuộc gặp gỡ đó.

    Bài Tin Mừng hôm nay
    cho thấy một lần cầu nguyện đặc biệt của Đức Giêsu.
    Ngài đã thức suốt đêm nơi một ngọn núi (c. 12).
    Ngài cố ý đến ngọn núi này để gặp gỡ Thiên Chúa là Cha của Ngài.
    Đức Giêsu có điều cần hỏi ý Cha trước khi đi tới một quyết định.
    Và đây là một quyết định quan trọng.
    Đã có một đám đông môn đệ theo Ngài (Lc 6, 17),
    bây giờ Đức Giêsu muốn tuyển chọn một nhóm nhỏ
    để họ ở gần Ngài hơn và cộng tác với Ngài sát hơn.
    Đức Giêsu không muốn tự chọn cho mình những cộng sự viên.
    Ngài muốn đặt việc chọn lựa này trong bầu khí cầu nguyện.
    Ngài coi nhóm đặc biệt này là “những kẻ Cha đã ban cho Con,”
    “những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian” (Ga 17, 6. 9).
    Đức Giêsu chỉ muốn chọn những người Cha đã chọn cho mình.
    Đến sáng Ngài mới rõ ý Cha, mới làm xong việc chọn lựa.
    Như thế cả Đức Giêsu cũng phải vất vả tìm kiếm ý Cha.
    Cuối cùng Ngài đã chọn được Mười Hai ông mà Ngài gọi là tông đồ.

    Đời người được đan kết bằng những chọn lựa lớn nhỏ.
    Có những trường hợp dễ phân biệt trắng đen.
    Nhưng có khi tôi phân vân không rõ điều nào tốt hơn,
    và đâu thực sự là điều Chúa muốn cho đời tôi.
    Gặp gỡ Chúa trong lặng lẽ cô tịch, với tâm hồn tự do thanh thoát,
    chúng ta có cơ may nhận được ánh sáng từ trên cao.
    Nếu tôi làm theo ý Chúa, đời tôi sẽ được hạnh phúc, dù phải hy sinh.
    Nếu tôi cương quyết làm theo ý mình, dù biết ngược với ý Chúa,
    thì lòng tôi sẽ chẳng được bình an.
    Thiên Chúa muốn vén mở cho tôi biết ý định của Ngài về tôi,
    nhưng Ngài đòi tôi cất công tìm kiếm.
    Hạnh phúc cho ai tìm thấy ý Chúa sau những đêm dài trăn trở!​

    Lời nguyện:

    Lạy Chúa,
    con thường thấy mình không có giờ cầu nguyện,
    không có giờ đi vào sa mạc
    để ở bên Chúa và trò chuyện với Ngài.
    Nhưng thật ra sa mạc ở sát bên con.
    Chỉ cần một chút cố gắng của tình yêu
    là con có thể tạo ra sa mạc.

    Mỗi ngày có biết bao giây phút có thể gặp Chúa
    mà con đã bỏ mất :
    Khi chờ một người bạn,
    chờ đèn xanh ở ngã tư,
    chờ món hàng đang được gói.
    Khi lên cầu thang,
    khi đến nơi làm việc,
    khi kẹt xe,
    khi cúp điện bất ngờ.
    Thay vì bực bội hay nóng ruột
    con lại thấy mình sống an bình
    trong sự hiện diện của Chúa.

    Lạy Chúa,
    những sa mạc ngắn ngủi hằng ngày
    giúp con tỉnh thức
    để nhạy cảm với ý Chúa.

    Xin cho con yêu mến Chúa hơn
    để tìm ra những sa mạc mới
    và vui vẻ bước vào.

    (gợi hứng từ Madeleine Delbrêl)


    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    13.09.2017 – Thứ Tư, Tuần 23 Mùa Thường Niên

    Phúc cho anh em là những người nghèo

    Lời Chúa: Lc 6, 20-26

    Ðức Giêsu ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc, vì anh em sẽ được vui cười. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị nguời ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.” “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi. Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói. Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.”

    Suy niệm:

    Một học sinh nghèo trả lại chiếc bóp lượm được.
    Một giáo viên kiên trì theo đuổi nghề giáo.
    Một cán bộ về hưu trong cảnh thanh bạch.
    Một bạn nữ bỏ chỗ làm có thu nhập cao…
    Một nhân viên từ chối những đồng tiền hối lộ.
    Giữa cuộc sống khó khăn,
    vẫn có bao người không bị mê hoặc bởi bạc tiền.
    Họ chọn sống trong cảnh nghèo,
    lam lũ hơn, nhưng vui hơn và thanh thản hơn.
    Vẫn có bao người nếm được mối phúc của Tin Mừng:
    “Phúc cho anh em là những người nghèo khó,
    Vì Nước Trời là của anh em”.

    Người đời thường coi hạnh phúc bắt nguồn
    từ giàu sang, no đủ, từ danh thơm tiếng tốt.
    Đức Giêsu đưa chúng ta đi vào một thế giới khác,
    với lối đánh giá khác, làm chúng ta ngỡ ngàng.
    Ngài cho các môn đệ của Ngài biết rằng:
    họ là những người có phúc,
    khi phải chịu nghèo đói, đau khổ, bách hại vì Ngài.
    Nước Trời đã thuộc về họ từ đây,
    và hạnh phúc sẽ trọn vẹn trong ngày sau hết.

    Đức Giêsu đã sống những mối phúc trước chúng ta.
    gài là một người thợ thủ công nghèo,
    Ngài biết đến sự dày vò của cơn đói,
    Ngài đã từng nhỏ lệ trước thành Giêrusalem,
    và đã chịu mọi khổ hình cho đến chết.
    Nhưng Đức Giêsu là con người hạnh phúc,
    vì biết mình luôn sống cho Cha và con người.
    Chúng ta cần có kinh nghiệm của Đức Giêsu:
    Nghèo của cải mà thật giàu Nước Thiên Chúa.

    Đức Giêsu chúc phúc cho những môn đệ nghèo của Ngài,
    nhưng Ngài không ca ngợi sự bần cùng, lạc hậu.
    Cả cuộc đời Ngài là một hành vi cúi xuống
    để nâng dậy những ai nghèo sức khoẻ, nghèo niềm vui.
    Hôm nay Ngài muốn chúng ta
    đến với khu lao động, với lớp học tình thương,
    xóa đi cái nghèo tri thức, nghèo những ước mơ cao cả.
    Sự no đủ và niềm vui phải bắt đầu từ đời này.
    Ước gì chúng ta sống như Đức Kitô,
    tự nguyện trở nên nghèo hơn
    để làm giàu cho người khác (2 Cr 8,9).​

    Lời nguyện:

    Lạy Chúa,
    xin cho con nhìn thấy những người nghèo
    ở quanh con, ở trong gia đình con,
    đang cần đến con.

    Bất cứ ai cần đến con đều là người nghèo,
    xin cho con thấy Chúa trong họ.

    Dần dần con hiểu rằng
    cả người giàu cũng nghèo,
    nghèo vì cần thấy đời họ có ý nghĩa.

    Dần dần con chấp nhận rằng
    cả bản thân mình cũng nghèo
    và cần đến người khác.

    Lắm khi con cần một nụ cười, một ánh mắt,
    một lời thăm hỏi đỡ nâng.

    Cám ơn Chúa vì đã dựng nên chúng con
    ai cũng nghèo về một mặt nào đó,
    ai cũng cần đến người khác.
    Như thế là chúng con được mời gọi sống cho nhau,
    làm cho nhau thêm giàu có.

    Cám ơn Chúa vì Chúa cũng nghèo,
    vì Chúa rất cần đến chúng con
    để hoàn thành công trình cứu độ.

    Xin cho con khiêm tốn nhận mình nghèo
    để nhận lãnh,
    can đảm nhận mình giàu
    để hiến trao. Amen.

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    14.09.2017 – Thứ Năm, Lễ suy tôn Thánh Giá

    Phải được giương cao

    Lời Chúa: Ga 3, 13-17

    Khi ấy, Ðức Giêsu nói với ông Nicôđêmô rằng: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Ðấng từ trời xuống. Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời. Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.”

    Suy niệm:

    Nhiều người ngoài Kitô giáo cảm thấy sợ
    khi vào nhà thờ, nhìn lên thánh giá,
    thấy một người bị đóng đinh, máu chảy đầm đìa.
    Tại sao lại thờ một người khủng khiếp như vậy?
    Một số nơi đã đặt tượng Chúa Phục Sinh trên thánh giá.
    Hẳn nhà thờ sẽ tươi hơn, ít gây sốc hơn,
    mầu nhiệm phục sinh được nổi bật hơn…
    Nhưng chúng ta vẫn không được quên Chúa chịu đóng đinh.
    Không có cái chết ấy thì cũng chẳng có ơn cứu độ.
    Không có thánh giá thì cũng chẳng có phục sinh.

    Khi suy tôn thánh giá,
    chúng ta không suy tôn hai thanh gỗ xếp hình chữ thập.
    Chúng ta suy tôn chính Ðấng đi đóng đinh vào thánh giá.
    Ngài là Ðấng vô tội, là Con Thiên Chúa làm người,
    là “Ðấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2, 20).
    Chúng ta cũng không suy tôn đau khổ và cái chết,
    nhưng chúng ta suy tôn Tình Yêu:
    Tình Yêu của Cha dám trao cho thế gian người Con Một,
    Tình Yêu của Con dám sống hết mình cho Cha và anh em.
    Ðau khổ và cái chết
    là cái giá phải trả cho một tình yêu.
    Tình yêu lớn nhất là tình yêu hiến mạng.

    Thập giá là một thất bại của Tình Yêu.
    Quà tặng của Cha bị loài người từ khước:
    Người Con yêu dấu bị làm nhục và đóng đinh.
    Quà tặng của Con bị loài người rẻ rúng:
    Con chẳng đáng giá bằng tên sát nhân Baraba.
    Thiên Chúa thất bại vì Ngài khiêm tốn.
    Ngài để cho con người có tự do chối từ.
    Ngài đau đớn lặng thinh khi Con Ngài hấp hối…

    Nhưng thập giá lại là một thành công của Tình Yêu.
    Nơi thập giá, tội ác con người lên đến cao điểm.
    Cũng nơi thập giá, Tình Yêu Thiên Chúa lên đến tột cùng.
    Và Tình Yêu đã thắng tội ác, sự sống thắng sự chết,
    ánh sáng thắng bóng tối, tha thứ thắng hận thù.
    Cha không đưa Ðức Giêsu xuống khỏi thập giá,
    nhưng đưa Ngài ra khỏi nấm mồ hiu quạnh.
    Thất bại của thập giá đã biến thành chiến thắng.
    Thập giá trở thành Thánh Giá đem lại sự sống đời đời.

    Thánh Giá đã trở nên biểu tượng của Kitô giáo.
    Thánh Giá có mặt cả trên nến phục sinh.
    Thánh Giá ở trên thân xác ta, mỗi lần ta làm dấu,
    nhưng Thánh Giá còn ở với người Kitô hữu suốt đời:
    “Ai muốn theo Tôi hãy vác thánh giá mình mà theo Tôi”.
    Ðừng sợ hãi tránh né dù đau đớn xót xa.
    Ðừng kéo lê, bạn sẽ thấy thánh giá nhẹ hơn và sinh trái.
    Hãy hôn kính Thánh Giá của mình, của quê hương, của Giáo Hội,
    dù chúng ta chẳng bao giờ hiểu hết được mầu nhiệm.
    Ước gì chúng ta thấy được ý nghĩa của khổ đau
    nhờ tin tưởng nhìn lên Thánh Giá Chúa Giêsu.​

    Lời nguyện:

    Lạy Cha, xin ban cho con điều khó hơn cả,
    đó là ơn nhận ra Thánh Giá của Con Cha
    trong mọi nỗi khổ đau của đời con,
    và ơn bước theo Con Cha trên đường Thánh Giá,
    bao lâu tuỳ ý Cha định liệu.

    Xin đừng để con trở nên chua chát
    nhưng được trưởng thành nhờ đón nhận đau khổ
    với sự kiên nhẫn, quảng đại, nhân từ
    và lòng khát khao nóng bỏng
    có ngày sẽ được ở nơi không còn khổ đau.
    Ngày đó, Cha sẽ lau khô mọi giọt lệ
    của những người đã yêu mến Cha,
    đã tin vào tình yêu Cha giữa nỗi thống khổ,
    tin vào ánh sáng của Cha giữa đêm đen.

    Nhờ Cha, ước gì đau khổ của con
    nói lên lòng tin của con
    vào những lời hứa của Cha,
    lòng cậy của con vào tình yêu trung tín của Cha,
    và lòng mến mà con dành cho Cha.
    Lạy Cha, xin cho con yêu Cha hơn yêu bản thân,
    và yêu Cha chỉ vì Cha,
    chứ không mong phần thưởng.

    Ước gì Thánh Giá trở nên mẫu gương cho con,
    là ánh sáng cho đêm tăm tối,
    nhờ đó con không còn coi khổ đau
    như một tai họa hay một điều vô lý,
    nhưng như một dấu chỉ cho thấy
    con đang thuộc về Cha mãi mãi.

    (Karl Rahner)

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.


    ~~~~~~<<>>~~~~~~


    [​IMG]

    Suy niệm Lễ Suy Tôn Thánh Giá

    Bài đọc 1 sách Dân Số kể chuyện, dân Do thái đi trong sa mạc, họ kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê rằng: “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống?…” Vì thế, Thiên Chúa đã cho rắn độc bò ra cắn chết nhiều người. Sau đó dân hối lỗi chạy đến với Môsê và ông đã cầu khẩn cùng Chúa. Thiên Chúa thương xót, đã truyền cho Môsê đúc một con rắn đồng treo lên giữa sa mạc, và bất cứ ai, hễ bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng ấy thì được chữa lành.

    Bài Tin Mừng, trong cuộc đối thoại với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu khẳng định: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời”.

    Lời Chúa trong sách Dân Số và trong Tin Mừng Gioan, qua hình ảnh “Con Rắn”, sẽ đưa chúng ta đi xuyên suốt lịch sử cứu độ, khởi đi từ kinh nghiệm phạm tội trong sa mạc (Ds 21,6), trở về với thời điểm khởi đầu của sự sống (St 3), sau đó đi đến ngôi vị của Đức Kitô (Ga 3,14) và vươn xa tới tận thời cánh chung (Kh 12,7-10).

    Dịp hành hương Thánh Địa tháng 5 vừa rồi, chúng tôi có lên núi Nebo bên đất nước Jordanie. Chiêm ngắm tác phẩm điêu khắc Thánh giá theo hình con rắn, biểu tượng cho con rắn đồng ngày xưa được Môsê dựng nên, nhìn về Thánh địa và dâng lễ tại nhà nguyện trên núi.

    1. Núi Nebo

    Núi Nebo là một dãy núi ở Vương quốc Jordanie, cao khoảng 817m. Cựu ước đã đề cập đến nơi này. Trên núi Nebo, Thiên Chúa đã cho Môsê nhìn về Đất Hứa. Từ đỉnh núi nhìn bao quát bức tranh toàn cảnh về Thánh Địa và thành phố bờ Tây sông Giođan là Giêricô, thậm chí vào một ngày rất đẹp trời người ta có thể nhìn thấy cổ thành Giêrusalem.

    Theo chương 34 của sách Đệ Nhị Luật, Môsê đã đi lên núi Nebo từ đồng bằng Môáp đến đỉnh Pisgah đối diện với Giêricô để nhìn về Đất Hứa. Giavê phán với Môsê: Đó là đất Ta đã thề với Abraham, Isaac và Giacop rằng: Ta sẽ ban nó cho dòng giống ngươi! Ta đã cho ngươi thấy tận mắt, nhưng ngươi sẽ không qua đó! . Và Môsê đã chết trong xứ Môab. Người ta đã chôn cất ông trong thung lũng, ở xứ Môab, trước mặt Bet-pơor, nhưng không biết được mộ ông cho đến ngày nay.(Đnl 34,4-6).

    Theo truyền thống Kitô giáo, Môsê đã được chôn cất trên núi này, tuy nhiên người ta vẫn không xác định được nơi chôn cất ông. Một vài truyền thống Hồi giáo cũng khẳng định điều tương tự, nhưng ngôi mộ của Môsê thì họ cho là ở Maqam El- Nabi Musa nằm về phía nam cách Giêricô 11 km và về phía đông cách Giêrusalem khoảng 20km trong hoang địa Giuđêa. Các học giả tiếp tục tranh luận xem ngọn núi hiện nay được gọi là là Nebo có phải là ngọn núi ngày xưa được đề cập trong bộ Ngũ kinh của Cựu ước không.

    Theo sách Maccabê (2 Mcb, 2,4-7): Tiên tri Giêrêmia đã giấu Nhà tạm và Hòm Bia Giao Ước trong một cái hang trên núi Môsê đã lên và được chiêm ngắm cơ nghiệp của Thiên Chúa.

    Ngày 20/03/2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến núi Nebo trong cuộc hành hương Thánh địa. Ngài đã trồng một cây ô liu bên cạnh nhà thờ theo phong cách Byzantine như là một biểu tượng cho hòa bình.

    Ngày 9/5/2009, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã đến thăm địa danh này, đọc bài diễn văn ở đây và ngài nhìn về thành Giêrusalem từ đỉnh núi Nebo.

    Nghệ sĩ người Ý, Giovanni Fantoni đã thực hiện tác phẩm điêu khắc Thánh giá theo hình con rắn. Đây là biểu tượng cho con rắn đồng ngày xưa được Môsê làm theo lệnh của Chúa để cứu sống người bị rắn cắn (Ds 21,4-9) và là thánh giá trên đó Chúa Giêsu bị đóng đinh (Ga 3,14) .

    Trên đỉnh cao nhất của ngọn núi mang tên Syagha, người ta khám phá ra di tích ngôi nhà thờ và một tu viện vào năm 1933. Ngôi Nhà thờ được xây dựng lần đầu vào nửa bán thế kỷ thứ IV để kỷ niệm nơi Môsê qua đời. Thiết kế nhà thờ theo phong cách một Vương cung Thánh đường. Nó được mở rộng vào cuối bán thế kỷ thứ V và được xây dựng lại năm 597. Ngôi Nhà thờ đầu tiên được nhắc đến trong bản báo cáo về một cuộc hành hương của một người phụ nữ tên Aetheria vào năm 394. Người ta đã tìm thấy 6 ngôi mộ trống rỗng từ những phiến đá tự nhiên nằm dưới sàn khảm đá của nhà thờ.

    Trong ngôi nhà nguyện hiện đại được xây dựng để bảo địa danh này và cung cấp nơi thờ phượng, người ta có thể nhìn thấy thấy những di tích của những sàn nhà khảm đá từ nhiều thời kỳ khác nhau. Một trong những bức tranh khảm đá lâu đời nhất là một tấm ghép với những hình chữ thập có viền hiện nay được đặt ở phía đầu Đông của bức tường phía Nam.

    2. Tại sao lại treo con rắn?

    Trong trình thuật về Tội Nguyên Tổ (St 3,1-7), lời dụ dỗ của con rắn đã làm cho Evà và Adam nghi ngờ Thiên Chúa: Thiên Chúa nói rằng, ăn trái cây đó thì chắc chắn sẽ chết, nhưng con rắn nói: chẳng chết chóc gì đâu! Tin vào lời con rắn, đồng nghĩa với việc cho rằng Thiên Chúa nói dối ! Đó là cho rằng, Thiên Chúa lừa dối con người, vì Ngài không muốn chia sẻ sự sống của mình; đó là nghĩ rằng, Ngài tạo dựng con người để bỏ mặc con người trong sa mạc cuộc đời và nhất là cho số phận phải chết. Tin vào lời con rắn, chính là bị con rắn cắn vào người, chính là bị nó tiêm nọc đọc vào người. Và hậu quả là tương quan tình yêu giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với con người bị phá vỡ. Hậu quả tất yếu là chết chóc, như Thiên Chúa đã báo trước: Ngày nào ngươi ăn chắc chắn ngươi sẽ phải chết (St 2,17).

    Dựa vào trình thuật Vườn Eden, chúng ta hiểu ra rằng, rắn độc mà sách Dân Số nói đến, chính là hình ảnh diễn tả sự nguy hại chết người của thái độ nghi ngờ Thiên Chúa: kế hoạch cứu sống, khi gặp khó khăn lại bị coi là kế hoạch giết chết. Nghi ngờ Thiên Chúa, đó là để cho mình bị rắn cắn, đó là mang nọc độc vào người.

    3 . Tại sao “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”?

    Trong Vương cung Thánh đường Thánh Ambrôsiô ở Milan, có 2 cột đá thật ấn tượng và giàu ý nghĩa; “cột rắn“: một con rắn bằng đồng thời Byzantine vào thế kỷ thứ X được đặt trên đỉnh một cột ngắn, đối diện bên kia có “cột thập giá”.

    Bài đọc 1 là “lời tiên báo” của sách Dân Số, một lời tiên báo rất huyền nhiệm về Đấng Cứu Thế, về mầu nhiệm Thâp giá, nơi Đức Kitô là Con Người được “giương cao”. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu coi cái chết của mình như là một sự tôn vinh, tôn vinh Tình Yêu của Chúa Cha, một Tình Yêu vô bờ bến, một Tình Yêu mãnh liệt đến nỗi Chúa Cha đã ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Người Con thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời (x. Ga 3,16). Đồng thời cũng là tôn vinh Tình Yêu của Chúa Giêsu, một Tình Yêu đã hy sinh mạng sống vì những người mình yêu, là một hy lễ dâng lên Chúa Cha, cũng là sự tự hiến cho loài người chúng ta, trở nên lương thực nuôi sống chúng ta. Chúa Giêsu “chết để cho chúng ta được sống”.

    Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu, ngay từ những lời nói đầu tiên đã đặt mầu nhiệm Thập Giá trong tương quan trực tiếp với hình ảnh con rắn biểu tượng của Tội và Sự Dữ : Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

    Một bên là con rắn bị giương cao. Một bên là Đức Kitô được giương cao trên cây thập giá.Trong Cuộc Thương Khó, Đức Kitô sẽ tự nguyện thế chỗ cho con rắn.Theo Thánh Phaolô: Đức Giêsu tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lội” (Rm 8, 3) và Ngài “đồng hóa mình với tội” (2Cr 5, 21 ; Gl 3, 13). Tội có bản chất là ẩn nấp, khó nắm bắt, giống như con rắn, nhưng đã phải hiện ra nguyên hình nơi thân xác nát tan của Đức Kitô: “tội để lộ chân tướng và cho thấy tất cả sức mạnh tội lỗi của nó” (Rm 7,13). Thập Giá Đức Kitô mặc khải cho loài người hình dạng thật của Tội. Chính vì thế mà trong Tin Mừng theo thánh Máccô, Đức Giêsu dạy, (chứ không phải báo trước) cho các môn đệ về cuộc Thương Khó của Người (Mc 8, 31).

    Chúng ta được mời gọi nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh trên Thánh giá để nhìn thấy:
    • Thân thể nát tan của Người vì roi vọt, kết quả của lòng ghen ghét, của lòng ham muốn, của sự phản bội, của sự bất trung, và của những lời tố cáo, lên án vô cớ, của vụ án gian dối.
    • Đầu đội mão gai của Người, tượng trưng cho những lời nhạo báng, diễu cợt trên ngôi vị; chân tay của Người bị đinh nhọn đâm thủng và ghim vào giá gỗ; hình ảnh này cho thấy con người đã đánh mất nhân tính, và hành động theo thú tính; và cạnh sườn của Người bị đâm thủng, thấu đến con tim. Sự Dữ luôn đi đôi với bạo lực; và bạo lực luôn muốn đi tới tận cùng, là hủy diệt. Nhưng đồng thời cũng ở nơi đây, trên Thập Giá, tình yêu, lòng thương xót, sự thiện, sự hiền lành và cả sự sống nữa, của Thiên Chúa cũng đi tới tận cùng!
    4 . Tại sao “nhìn lên” có khả năng chữa lành?

    Theo lời của Đức Chúa, Môsê đã treo một con rắn bằng đồng lên cột gỗ và ai nhìn lên thì được chữa lành. Hình phạt bị rắn độc cắn là rất nặng nề, còn ơn chữa lành thật nhẹ nhàng: nhìn lên thì được sống.

    Nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh: “Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19, 37) với lòng tin chúng ta đón nhận ơn tha thứ và được chữa lành.

    Thánh giá Đức Kitô chịu đóng đinh được các giáo phụ gọi là Cây Sự Sống, vì đã mang đến cho nhân loại Sự Sống của Thiên Chúa.

    Thánh Giá mang lại cho nhân loại Ơn Tha Thứ của Thiên Chúa. Sự bất tuân của Adam đã mang đến án phạt và sự chết cho toàn thể nhân loại. Thì giờ đây, sự vâng phục của Chúa Giêsu mang lại Ơn Tha Tội của Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại (bài đọc 2). Vì tình yêu vâng phục của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha, vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá, Chúa Cha đã tha hết mọi tội lỗi cho nhân loại. Ơn tha thứ đã được ban một cách tràn đầy và cho mọi người, không trừ một ai. Ơn Tha Thứ ấy phát xuất từ Tình Yêu của Thiên Chúa Cha. Tình Yêu lớn hơn tội lỗi. Tình Yêu khỏa lấp muôn vàn tội lỗi. Chúa Giêsu chịu đóng đinh và chịu chết trên thập giá biểu lộ Gương Mặt đích thực của Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót.

    Thánh Giá mạc khải Tình Yêu của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và đối với nhân loại chúng ta. Chúa Giêsu yêu mến Chúa Cha đến nỗi sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Chúa Cha, dâng hiến sự sống mình lên cho Chúa Cha. Thánh Giá cũng biểu lộ Tình Yêu của Chúa Giêsu đối với chúng ta: không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ thí mạng sống vì những người mình yêu.

    Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện, vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.

    Nhìn lên Thánh Giá, chúng ta yêu mến và tôn thờ Chúa Cứu Thế. Trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay, bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú đang che mờ bóng thánh giá. Con người đang lao mình vào bóng tối bằng mọi giá. Xã hội hôm nay cần phải được ánh sáng của Thánh Giá soi dẫn. Từ Thánh Giá Ðức Kitô, tình thương chúc phúc thế gian, sự sống chan chứa cho lòng người. Suy tôn Thánh Giá chính là suy tôn tình yêu, sự sống của Chúa Kitô.

    Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Chín 2017
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    15.09.2017 – Thứ Sáu, Lễ Đức Mẹ Sầu Bi

    Đứng gần thập giá

    Lời Chúa: Ga 19, 25-27

    Lúc ấy, đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

    Suy niệm:

    Chúng ta thường suy ngắm bảy nỗi đau của Đức Mẹ,
    khi Mẹ nghe lời tiên tri của cụ Simêôn về Con, đưa Con trốn qua Ai Cập,
    mất Con nơi Đền thờ, cùng Con lên đỉnh Canvê,
    khi đứng bên Con chịu đóng đinh, hạ xác Con xuống khỏi thập giá,
    và chôn táng Con trong mộ.
    Những nỗi đau này đi dọc theo đời của người đã thưa tiếng Xin Vâng.
    Những nỗi đau trong lòng người Mẹ, đau vì Con và với Con.
    Ngoài bảy nỗi đau này, còn có bao nỗi đau khác không được kể tới.
    Chỉ ai yêu mới biết đau.

    Khi vẽ hay điêu khắc hình Đức Mẹ,
    các nghệ sĩ thường trình bày một Đức Mẹ với khuôn mặt rất vui tươi.
    Lễ Đức Mẹ sầu bi nhắc cho ta thấy đời Mẹ cũng có khi buồn.
    Vui buồn ở đời là chuyện mấy ai tránh khỏi.
    Cần ngắm nhìn khuôn mặt lo lắng của Mẹ khi mất Con hay đem con đi trốn.
    Cần chứng kiến khuôn mặt đớn đau của Mẹ khi đứng bên Con trên núi Sọ.
    Chính khuôn mặt buồn khổ của Mẹ lại làm chúng ta thấy gần Mẹ hơn.
    Khi chia sẻ mọi đau khổ của kiếp người long đong,
    Mẹ cảm thông với cái nặng nề của phận người mà ta gánh chịu.

    Chúng ta vẫn thường nghĩ đau khổ là hậu quả của tội lỗi.
    Điều đó đúng, nhưng không luôn luôn đúng.
    Mẹ được Thiên Chúa gìn giữ khỏi vết nhơ của tội nguyên tổ,
    và Mẹ đã đáp lại ơn Chúa bằng việc luôn trung tín, vẹn tuyền.
    Nhưng điều đó không làm Mẹ tránh được mọi đau khổ.
    Thánh giá đã phủ bóng trên đời Mẹ ngay từ tiếng Xin Vâng đầu tiên.
    Khi chấp nhận làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ đã bắt đầu phải trả giá.
    Mẹ yêu mến Người Con mà Thiên Chúa ban cho mình,
    nhưng đôi tay Mẹ không đủ sức giữ kho tàng quý giá ấy.
    Mẹ hy sinh để Con Mẹ bước đi trên con đường khúc khuỷu gập ghềnh.
    Nhưng trong đau khổ của hy sinh, Mẹ bình an vì biết mình sống theo ý Chúa.

    Hãy đến với Núi Sọ chiều hôm ấy để thấy Mẹ đứng gần thập giá treo Con.
    Mẹ đã có mặt trong tiệc cưới Cana khi Con khởi đầu sứ vụ (Ga 2, 1-12).
    Bây giờ Mẹ lại có mặt khi Con hoàn tất sứ vụ ấy (Ga 19, 30).
    Dù không theo Đức Giêsu trên mọi nẻo đường loan báo Tin Mừng,
    nhưng Mẹ là môn đệ của Ngài còn hơn những môn đệ khác.
    Mẹ không chạy trốn, nhưng muốn nếm trọn nỗi đau của Con để sẻ chia.
    Chính vào giây phút này, Đức Giêsu hấp hối làm điều không ai ngờ.
    Ngài nối kết Mẹ Ngài và người môn đệ Ngài dấu yêu,
    đặt Mẹ làm mẹ người môn đệ ấy: Thưa Bà, đây là con của Bà (c. 26).
    và muốn người môn đệ ấy làm con của Mẹ: Đây là mẹ của anh (c. 27).
    Chính dưới chân thập giá, Đức Giêsu đã lập một gia đình mới.
    Mẹ là Mẹ của Đức Giêsu ở Cana, bây giờ thành Mẹ của người môn đệ.
    Nơi người môn đệ này, các Kitô hữu thấy hình ảnh của chính mình.
    Chúng ta cũng muốn đón Mẹ về nhà và nhận Mẹ làm Mẹ.
    Mẹ sẽ là người lo cho chúng ta trong ngôi nhà của gia đình mới.​

    Lời nguyện:

    Lạy Mẹ Maria,
    khi đọc Phúc Âm,
    lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.
    Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giêsu.
    Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.
    Mẹ tìm con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana.
    Mẹ đi thăm Đức Giêsu khi Ngài đang rao giảng.
    Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.

    Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi
    âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong,
    từ con người hay từ Thiên Chúa.
    Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giêsu
    trong mọi bước đường của cuộc sống.
    Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa.
    Có những con đường đầy máu và nước mắt.

    Xin Mẹ dạy chúng con
    đừng sợ lên đường mỗi ngày,
    đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa
    dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.

    Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu
    để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ
    đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.

    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    16.09.2017 – Thứ Bảy Tuần 23 Thường niên

    Nghe mà không thực hành

    Lời Chúa: Lc 6, 43-49

    43 “Không có cây nào tốt mà lại sinh quả sâu, cũng chẳng có cây nào sâu mà lại sinh quả tốt.44 Thật vậy, xem quả thì biết cây. Ở bụi gai, làm sao bẻ được vả, trong bụi rậm, làm gì hái được nho!45 Người tốt thì lấy ra cái tốt từ kho tàng tốt của lòng mình; kẻ xấu thì lấy ra cái xấu từ kho tàng xấu. Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra.46 “Tại sao anh em gọi Thầy: “Lạy Chúa! Lạy Chúa! , mà anh em không làm điều Thầy dạy?47 “Ai đến với Thầy, và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai.48 Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc.49 Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá huỷ tan tành.”

    Suy niệm:

    Có nhiều cách để nhận biết sự thật về một người.
    Chúng ta có thể bị hấp dẫn bởi những lời giảng hùng hồn.
    Chúng ta cũng có thể bị đánh lừa bởi thái độ khôn khéo giả tạo.
    Đức Giêsu cho chúng ta một tiêu chuẩn để nhận ra con người thật :
    “Xem quả thì biết cây” (c. 44).
    Quả ở đây là đời sống thực sự của người đó, là những việc họ làm.
    Nếu nhìn kỹ công việc của một người, chúng ta có cơ may biết họ là ai.
    Đức Giêsu nói lên một luật tự nhiên của cây cỏ.
    Cây tốt sẽ sinh trái tốt, cây bị sâu sẽ sinh ra trái không ngon.
    Người công chính được nhận biết qua đời sống tốt lành của họ,
    qua những thử thách họ đã vượt qua, qua những hy sinh họ dâng hiến.
    Người bất chính sẽ lộ ra qua đời sống xấu xa.
    Đời sống và hành động của một người phản ánh con người thật của họ.
    Bụi gai không sinh được trái vả, bụi rậm không cho được trái nho.
    Bụi gai và bụi rậm chẳng thể nào sinh hoa trái tốt đẹp.

    Đời sống là tiêu chuẩn để nhận ra người môn đệ thật của Đức Giêsu.
    Không phải chỉ là tuyên xưng đức tin vào Thầy
    bằng cách kêu lên : “Lạy Chúa! lạy Chúa !”
    Vấn đề là làm điều Thầy dạy (c. 46).
    Đức Giêsu đặt câu hỏi tại sao đầy ngạc nhiên với các môn đệ:
    Tại sao tin vào Thầy mà lại không sống điều Thầy truyền dạy?
    Kitô hữu chân chính là người đến với Chúa Giêsu,
    lắng nghe những lời của Ngài và thi hành những lời ấy (c. 47).
    Nghe thôi thì chưa đủ.
    Lời của Chúa Giêsu phải thấm nhuần vào đời sống của ta,
    chi phối mọi hành động, quyết định và lựa chọn.

    Đức Giêsu kết thúc Bài Giảng của mình bằng dụ ngôn về hai người xây nhà.
    Nhiều người đã nghe Bài Giảng này, đã cảm thấy hay,
    nhưng có bao nhiêu người sẽ thực hành những giáo huấn trong đó ?
    Người thực hành Lời Chúa được ví như người xây nhà có nền vững chắc.
    Còn người không thực hành thì giống như người làm nhà không nền.
    Bề ngoài có vẻ hai căn nhà không khác nhau.
    Chỉ khi nước lụt dâng lên, và dòng nước ùa vào nhà, mới thấy sự khác biệt.
    Một căn đứng vững vì có nền tử tế, căn kia bị sụp đổ tan tành.

    Chúng ta thích xây nhà cao, nhưng lại ít để ý tới nền móng.
    Chúng ta đã được nghe quá nhiều đoạn Lời Chúa,
    nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc suy niệm, cầu nguyện.
    Lời Chúa chưa thực sự bám rễ trong hành động và cuộc sống,
    vì điều đó đòi một sự trả giá mà chúng ta muốn quay lưng.
    Chính vì thế căn nhà tâm linh của chúng ta vẫn không vững.
    Xin Chúa cho chúng ta can đảm để làm lại nền cho căn nhà đời ta.​

    Lời nguyện:

    Lạy Chúa Giêsu
    Con đường dài nhất là con đường từ tai đến tay.

    Chúng con thường xây nhà trên cát,
    Vì chỉ biết thích thú nghe lời Chúa dạy,
    Nhưng lại không dám đem ra thực hành.
    Chính vì thế
    Lời Chúa chẳng kết trái nơi chúng con.

    Xin cho chúng con
    Đừng hời hợt khi nghe lời Chúa,
    Đừng để nỗi đam mê làm lời Chúa trở nên xa lạ.

    Xin giúp chúng con dọn dẹp mãnh đất đời mình,
    Để hạt giống lời Chúa được tự do tăng trưởng.

    Ước gì ngôi nhà đời chúng con
    Được xây trên nền tảng vững chắc,
    Đó là lời Chúa
    Lời chi phối toàn bộ cuộc sống chúng con.


    Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
     

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn