Dismiss Notice
THÔNG BÁO: Phiên bản tháng Giêng 2018 cho Đũa Thần Điện Toán với nhiều thay đổi lớn đã được phát hành. ĐẶC BIỆT: Đũa Thần Điện Toán 64 Gig Duo phiên bản 2018 sẽ tự động cập nhật hóa, không cần phải gửi về Thư Viện Việt Nam Toàn Cầu!

Lời Chúa Hằng Ngày - Tuần 23 Mùa Thường Niên

Chủ đề trong 'Công Giáo' do KhucCamTa khởi đầu 9 tháng Chín 2018.

  1. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    10.9.2018 – Thứ hai, sau Chúa Nhật XXIII Thường Niên

    “Ngày sa-bát… cứu mạng người hay hủy diệt?”
    (Lc 6, 6-11)​

    6 Một ngày sa-bát khác, Đức Giê-su cũng vào hội đường và giảng dạy. Ở đó có một người bị khô bại tay phải. 7 Các kinh sư và những người Pha-ri-sêu rình xem Đức Giê-su có chữa người ấy trong ngày sa-bát không, để tìm được cớ tố cáo Người.

    8 Nhưng Người biết họ đang suy nghĩ như thế, nên bảo người bại tay: “Anh trỗi dậy, ra đứng giữa đây! ” Người ấy liền trỗi dậy và đứng đó.9 Đức Giê-su nói với họ: “Tôi xin hỏi các ông: ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay huỷ diệt? “10 Người rảo mắt nhìn họ tất cả, rồi bảo người bại tay: “Anh giơ tay ra! ” Anh ấy làm như vậy và tay anh liền trở lại bình thường.

    11 Nhưng họ thì giận điên lên, và bàn nhau xem có làm gì được Đức Giê-su không.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)


    Trong thư gởi tín hữu Cô-lô-xê, bài đọc 1 của Thánh Lễ hôm nay, thánh Phao-lô nói:
    Trong Đức Ki-tô, có cất giấu mọi kho tàng của sự khôn ngoan và hiểu biết.
    (Col 2, 3)

    Xin cho chúng ta cảm nếm được một chút sự khôn ngoan và hiểu biết, được thể hiện nơi lời nói và hành động của Đức Ki-tô, nơi biến cố mà thánh Luca thuật lại cho chúng ta trong bài Tin Mừng.


    1. Ngày sa-bát

    Luật sa-bát là trung tâm của Mười Điều Răn (x. Xh 20 và Đnl 5), và Mười Điều Răn là trung tâm của toàn bộ Lề Luật. Vì thế, cách hiểu và giữ luật sa-bát diễn tả cách hiểu và giữ toàn bộ Lề Luật, không chỉ Lề Luật Do Thái, nhưng Luật với tư cách là Luật của mọi thời, vì đó là mặc khải phát xuất từ lịch sử cứu độ.

    Ngươi sẽ nhớ rằng ngươi đã là nô lệ ở đất Ai-Cập và ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đó bằng bàn tay mạnh mẽ và cánh tay dang thẳng; chính vì thế, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã truyền cho ngươi thực hành ngày sa-bát.

    Như thế, luật sa-bát có nền tảng là ơn giải phóng, ơn ban sự sống của Thiên Chúa, và qua việc giữ ngày sa-bát, người thụ hưởng ơn huệ ở lại trong tương quan giao ước tình yêu với Thiên Chúa [1]. Nhưng, như chúng ta thấy trong thực tế, ngày sa-bát đã biến thành một bộ luật phức tạp bao gồm những qui định chi li, dùng để dò xét và lên án. Ngày sa-bát là ngày được lập ra để tưởng nhớ sự sống, nhưng đã biến thành phương tiện để dò xét và lên án, thậm chí giết chết, nghĩa là hủy hoại sự sống, và giết chết chính Đấng Ban Sự Sống. Bởi vì, chúng ta được mời gọi nhận ra Đấng Ban Sự Sống qua hành vi nhỏ bé chữa lành người bại tay của Đức Giê-su.

    Thực vậy, sau khi chứng kiến Đức Giê-su chữa lành người bại tay vào ngày sa-bát, trong hội đường, thánh Luca nói: “họ giận điên, và bàn nhau xem có làm gì được Đức Giê-su không”; nhưng thánh Mác-cô nói rõ ra: “Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su”! (Mc 3, 6).

    2. Những người Pha-ri-sêu và luật sĩ

    Họ quan sát Đức Giê-su để xem Ngài có chữa bệnh ngày sa-bát trong hội đường không, để tìm lý do lên án Ngài. Trước đó, họ trách các môn đệ bứt lúa ăn trong ngày sa-bát, vốn là điều không được phép. Xét trên bình diện lề luật, thì họ hoàn toàn đúng, và ngày nay, gần như hàng ngày, chúng ta vẫn còn nghe những lời xét đoán tương tự. Tuy nhiên, chúng ta có thể nghiệm được điều gì đó thật nghiêm trọng nơi những người thích dựa vào lề luật để xét đoán người khác.

    • Đó là quan niệm sự công chính đến từ việc giữ luật. Quan niệm sự công chính như thế tất yếu dẫn đến cái thú đi dò xét người khác, và cảm thấy vui thích với tình trạng “không công chính”, nghĩa là không giữ luật chặt chẽ, của người anh em hay chị em.
    • Thế mà, theo sách Khải Huyền, dựa vào lề luật để dò xét và tố cáo, chính là hành động đặc trưng của Satan: “Satan ngày đêm tố cáo họ, tố cáo anh em của ta, nay bị tống ra ngoài” (Kh 12). Như thế, những người Pharisieu hành động giống như Satan, giống như tay sai của Satan. Nếu chúng ta làm như họ, chúng ta cũng sẽ trở nên như vậy.
    • Ngoài ra, hành động dò xét để tìm cơ hội tố cáo, tự nó còn hàm chứa thái độ không tin tưởng, thậm chí thái độ lên án trước rồi, và chỉ chờ cơ hội mà thôi. Và, như chúng ta thấy, khi không tìm ra cơ hội, chính họ sẽ tạo ra cơ hội để Đức Giêsu và các môn đệ phạm luật ; các Tin Mừng gọi hành động này là thử hay giăng bẫy.

    Có ý đồ làm hại người khác, nhưng lại dựa vào lề luật, vốn là điều tốt, để làm hại, nên không ai làm gì được. Bởi vì có luật cấm và có người vi phạm, bởi vì không ai trong chúng ta, trừ Đức Ki-tô, là hoàn hảo đối với lề luật. Bất cứ ai, khi bị rình mò và nhất là bị gài bẫy, thì rốt cuộc, cũng bị phát hiện vi phạm lề luật. Nhưng, dưới con mắt Đức Giê-su, vấn đề nghiêm trọng không phải là hành vi vi phạm, nhưng là người vạch trần hành vi vi phạm với ý đồ xấu. Luật được thiết lập để phục vụ cho sự sống, nhưng Sự Dữ và những người hành động theo Sự Dữ đã biến Luật trở thành phương tiện để dò xét, rình mò, gài bẫy nhằm hại người, thậm chí giết chết (x. Rm 7, 7-13)

    Giống như người Pha-ri-sêu lên đền thờ cầu nguyện : « Con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia » (Lc 18, 11) ; hay như những người bắt quả tang người đàn bà ngoại tình : chúng ta thử hình dung ra mà xem, những bậc vị vọng như kinh sư và Pha-ri-sêu đã phải có những hành động nhỏ nhặt và lệch lạc như thế nào, để có thể bắt quả tang một phụ nữ phạm tội ngoại tình, vốn là một hành vi rất kín đáo (Ga 8, 3) ! Đối với Đức Giê-su, hành động này là nghiêm trọng, vì đó là hành động đặc trưng của Satan (x. Sách ông Giop ; Kh 12, 10). Và chỉ có Đức Ki-tô, Đấng Vô Tội tuyệt đối, mới làm cho ý xấu và chính Sự Dữ lộ ra nguyên hình trong cuộc Thương Khó.

    3. Đức Giê-su hoàn tất Lề Luật.

    Chúng ta được mời gọi nhìn ngắm Đức Giêsu, hiểu và giữ luật sa-bát như thế nào, qua đó nghiệm được cách ngài hiểu và hoàn tất Lề Luật. Đức Giê-su hiểu và giữ luật sabát bằng cách đẩy luật đi đến cùng đích của nó, nghĩa là tưởng nhớ ơn giải thoát và ơn ban sự sống bằng cách làm điều lành và cứu sống, cho dù phải vi phạm luật làm việc của ngày sa-bát; vì thế ngài hỏi: “Ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay hủy diệt?” Ngài không chỉ lên tiếng để làm rõ cứu cánh của ngày sa-bát, nhưng còn làm cho ý nghĩa này được ứng nghiệm, bằng cách chữa lành người bị khô bại tay phải. “Tay phải” tượng trưng cho khả năng làm việc để sinh sống. Hành động chữa lành bàn tay phải, xét cho cùng thật nhỏ bé và giới hạn, nhưng ý nghĩa thật lớn lao và vô hạn: Người đến để phục vụ cho sự sống của con người, đến độ liều mất sự sống của mình, vì Người là Đấng Ban Sự Sống, là chính Sự Sống.

    Nhưng cách Đức Giê-su chữa bệnh không phải giống như các y bác sĩ, phải lao nhọc, và như thế, vi phạm luật sa-bát. Ngài chữa bệnh bằng lời, Lời sáng tạo và Lời ban sự sống; thực vậy, Ngài nói với người bệnh: “Anh giơ tay ra”. Người bệnh nghe theo lời Đức Giê-su và được lành bệnh. Như thế, Đức Giê-su vừa chữa bệnh, vừa không vi phạm luật làm việc vào ngày sa-bát. Nhưng người ta vẫn cứ “giận điên lên” và tìm cơ hội khác để tố cáo, lên án và loại trừ Đức Giê-su. Như vậy, Sự Dữ thuần túy và tuyệt đối đang dần dần lộ diện. Trong cuộc Thương Khó, Ngài sẽ để cho Sự Dữ đi đến cùng, nghĩa là lấy đi sự sống của Ngài, nhưng đó chính là cách thức:

    • Ngài làm cho Sự Dữ lộ ra nguyên hình. Thế mà, Sự Dữ có bản tính ẩn nấp, và nó chỉ nguy hiểm khi chưa bị phát hiện.
    • Ngài mạnh hơn Sự Dữ, khi không dùng bạo lực chống lại bạo lực, và khi Ngài vượt qua sự chết để đi vào sự sống viên mãn.
    • Ngài mang vào mình những tội lỗi lớn lao như thế, để nói với chúng ta rằng, không có tội lỗi nào của chúng ta, mà Ngài không thể không mang vác được. Như Thánh Phao-lô nói: “Đức Ki-tô chết cho chúng ta, khi chúng ta con là một tội nhân”.
    • Ngài yêu thương chúng ta đến nỗi trao ban chính sự sống của mình, để cho chúng ta đừng bao giờ nghi ngờ tình thương của Thiên Chúa, khi cho chúng ta làm người như thế đó. Như Thánh Phao-lô nói: “Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, được thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô”.

    * * *​

    Chúng ta được mời gọi đến ở lại và học với Đức Giê-su, để cảm nghiệm được Ngài hiền lành và khiêm nhường như thế nào.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    [1] Và tất cả Lề Luật (luật đạo, luật đời tu và cả luật đời nữa) đều phải theo khuôn mẫu này: để hiểu và sống lề luật một cách tự nguyện và với niềm vui, phải đầu tư cho kinh nghiệm ơn huệ và phải dựa trên kinh nghiệm ân huệ. Nếu không, dù luật đúng, hay, chi li mấy đi nữa, cũng vô ích, như xã hội chúng ta đang sống cho thấy. Để giữ luật đời, người ta phải kinh nghiệm về “ơn đời” và ước ao “tạ ơn đời”. Và TC thi ân và tỏ mình ra trong cuộc đời, dù người ta có nhận ra hay không. Tương quan của chúng ta đối với Thiên Chúa cũng theo cùng một qui luật.


    ~~~~


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Hai 10/09/2018

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 10 tháng Chín 2018
  2. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    11.9.2018 – Thứ ba, sau Chúa Nhật XXIII Thường Niên

    « Người chọn lấy mười hai ông »
    (Lc 6, 12-19)​

    12 Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. 13 Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ. 14 Đó là ông Si-môn mà Người gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là các ông Gia-cô-bê, Gio-an, Phi-líp-phê, Ba-tô-lô-mê-ô, 15 Mát-thêu, Tô-ma, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-môn biệt danh là Nhiệt Thành, 16 Giu-đa con ông Gia-cô-bê, và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người đã trở thành kẻ phản bội.

    17 Đức Giê-su đi xuống cùng với các ông, Người dừng lại ở một chỗ đất bằng. Tại đó, đông đảo môn đệ của Người, và đoàn lũ dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-ru-sa-lem cũng như từ miền duyên hải Tia và Xi-đôn 18 đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật. Những kẻ bị các thần ô uế quấy nhiễu cũng được chữa lành. 19 Tất cả đám đông tìm cách sờ vào Người, vì có một năng lực tự nơi Người phát ra, chữa lành hết mọi người.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)


    Bài Tin Mừng kể lại cho chúng ta ơn kêu gọi của các Tông Đồ. Chiêm ngắm ơn gọi của các ngài, sẽ giúp chúng ta hiểu được ơn gọi của chính chúng ta; bởi vì ơn gọi của các Tông Đồ là khuôn mẫu của mọi ơn gọi; và mọi ơn gọi khơi nguồn từ ơn gọi của các Tông Đồ và tham dự vào ơn gọi của các Tông Đồ.

    1. Đức Giê-su lên núi

    “Đức Giêsu đi lên núi cầu nguyện”. Bởi vì, trong lịch sử cứu độ, núi là biểu tượng của nơi Thiên Chúa hiện diện:

    Lạy Chúa, ai được vào ngụ trong Nhà Chúa,
    được ở trên núi thánh của Ngài.
    (Tv 15)

    Con yêu mến Ngài Lạy Chúa, là sức mạnh của con,
    Lạy Chúa là núi đá, là thành lũy, là Đấng giải thoát con.
    (Tv 18)

    Với câu Thánh Vịnh được trích dẫn ở trên, núi còn là một tên gọi của Đức Chúa: “Người là Núi Đá”. Trong cuộc sống, chúng ta cũng cần một nơi diễn tả sự hiện diện của Thiên Chúa.

    Trước đó, Đức Giêsu ở trong hội đường giảng dạy và chữa bệnh; bây giờ Ngài lên núi để cầu nguyện. Đó chính là hai chiều kích làm nên chính cách sống của Đức Giê-su, chiều kích hoạt động (hay làm việc) và chiều kích cầu nguyện. Và đó cũng là hai chiều kích làm nên đời sống của tất cả những ai đi theo Đức Giê-su trong ơn gọi gia đình, và nhất là trong ơn gọi dâng hiến, dù đan tu hay tông đồ. Và quả thực, hàng ngày chúng ta vẫn sống theo nhịp sống của Đức Giê-su: hoạt động và cầu nguyện đan xen nhau mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, mỗi giai đoạn huấn luyện và cả đời sống Ki-tô hữu và đời sống dâng hiến của chúng ta.

    Đôi khi, nhịp sống này đối với chúng ta trở thành nặng nề, nhất là cầu nguyện. Nhưng dưới ánh sáng cuộc đời của Đức Giê-su, chúng ta được mời gọi nhận ra đó là một ơn huệ, ơn huệ được trở nên giống Chúa ở mức độ đơn sơ nhưng thiết yếu nhất. Nhờ đó, chúng ta dễ dàng đi vào tâm tình tạ ơn và làm trổ sinh hoa trái trong đời sống của chúng ta.

    2. Đức Giêsu chọn các tông đồ

    Mỗi lần Đức Giê-su lên núi cầu nguyện và cầu nguyện suốt đêm, chính là để chuẩn bị làm một việc hệ trọng. Giống như chúng ta đi tĩnh tâm, trong những thời điểm quan trọng trong hành trình làm người và nhất là trong hành trình ơn gọi. Trước khi Đức Giê-su chọn mười hai vị mà Ngài gọi là Tông Đồ, có thể nói Người đã “tĩnh tâm” tĩnh tâm trước. Điều này có nghĩa là, ơn gọi của các tông đồ và ơn gọi của chính chúng ta, không phải là một chuyện may rủi, hay do nỗ lực “trụ lại bằng mọi giá”, nhưng là một việc hệ trọng đối với Chúa, Chúa phải chuẩn bị bằng một đêm cầu nguyện trên núi với Thiên Chúa Cha.

    « Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông ». Như thế, ơn gọi đến từ chính ý muốn và tiếng gọi của Chúa. Và ơn gọi của chúng ta cũng vậy, cho dù chúng ta đã đến với đời sống ơn gọi của chúng ta như thế nào, bởi những động lực hay lý do nào. Nhưng với thời gian, nhất là trong thời gian huấn luyện, chúng ta được mời gọi đặt đời sống ơn gọi của mình trên nền tảng tận cùng là “Ơn Được Gọi”. Nếu ơn gọi của chúng ta đặt trên một nền tảng khác, thì chắc chắn sẽ sụp đỗ, không sớm thì muộn; và sụp đổ ngay từ bên trong.

    Nhưng Chúa muốn gọi chúng ta từ khi nào? Chúng ta nghe được tiếng gọi của Chúa vào một lúc nào đó trong cuộc đời; nhưng theo Thánh Phao-lô, Chúa đã gọi và chọn chúng ta ngay từ trong bụng mẹ và từ trước muôn đời. Xác tín này giúp chúng ta nhận ra rằng, ơn gọi là một ơn hoàn toàn nhưng không, chúng ta được Chúa tạo dựng là để sống ơn gọi mà chúng ta đang sống (Tv 139; Gl 1, 15).

    Và Chúa gọi đích danh từng người: Phêrô, Giacôbê, Gioan… Cũng vậy, Chúa cũng gọi tên từng người chúng ta. Chúng ta hãy hình dung từng khuôn mặt ngang qua tên gọi : ngoại hình, nguồn gốc, tương quan, khuynh hướng, nghề nghiệp, thao thức… Như thế, các môn đệ được Chúa gọi, khi các ông vẫn còn đầy giới hạn, bất toàn như chúng ta. Bởi vì, tiếng gọi của Chúa là nhưng không, đặt hết lòng tin nơi người được gọi. Ghi nhớ lòng tin « muôn ngàn đời » của Chúa đặt để nơi chúng ta, khi chúng ta chưa là gì và khi đã « là gì », thì là gì một cách rất bất xứng và sẽ mãi mãi « là gì » rất bất xứng, sẽ khởi dậy nơi chúng ta lòng khát khao đáp trả cách quảng đại và nhưng không.

    3. Đức Giêsu và các tông đồ xuống núi

    Các tông đồ được chọn ở trên núi, nhưng chính là để theo Đức Giê-su xuống núi, vì cả một nhân loại đông đúc đang mong chờ để nghe lời Đức Giê-su và để được chữa lành. Nhưng các ông chưa phải làm gì cả, chỉ lắng nghe Đức Giê-su giảng và nhìn ngắm Ngài chữa lành bệnh tật, nhất là nhìn ngắm sự kiện: “Tất cả đám đông tìm cách đụng vào Ngài, vì có một năng lực tự nơi Ngài phát ra, chữa lành hết mọi người”.

    Các tông đồ và cả chúng ta nữa, sẽ được Đức Giê-su tin tưởng trao ban sứ mạng thực hiện cùng những gì mà Ngài đã làm, nghĩa là rao giảng Lời Chúa và phục vụ sự sống của nhiều người. Nhưng dù chúng ta làm việc gì, có chức vụ gì, sứ mạng của chúng ta vẫn là giúp người ta “đụng chạm” cho được Đức Ki-tô. Nhưng thật ra, Ngài vẫn đến “đụng chạm” chúng ta hằng ngày ngang qua Lời của Ngài và Thánh Thể của Ngài. Xin cho chúng ta biết để cho Chúa “đụng chạm”, như khi chúng ta còn nằm trong bụng mẹ (x. Tv 139, 13-16) và cảm nhận được, từ nơi Ngài, xuất phát một sức mạnh chữa lành tất cả và tái sinh chúng ta cho sự sống và cho Gia Đình Nhân Loại mới của Chúa.

    Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc, S.J.
    ~~~~


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Ba 11/09/2018

     
  3. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    12.9.2018 – Thứ tư, sau Chúa Nhật XXIII Thường Niên

    « Phúc cho anh em… »
    (Lc 6, 20-26)​

    20 Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói:

    “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó,
    vì Nước Thiên Chúa là của anh em.
    21 “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói,
    vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng.
    “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc,
    vì anh em sẽ được vui cười.
    22 “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa.23 Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Bởi lẽ các ngôn sứ cũng đã từng bị cha ông họ đối xử như thế.
    24 “Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi.
    25 “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói.
    “Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được vui cười, vì các ngươi sẽ phải sầu khổ khóc than.
    26 “Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)


    1. Là phúc hay là họa?

    Lời của Đức Giê-su dường như ngược hẳn với những gì chúng ta quan niệm, thậm chí với những gì chúng ta ước ao : Điều mà chúng ta coi là phúc, thì Đức Giê-su lại mặc khải cho chúng ta rằng, đó là họa : chúng ta quan niệm giầu có là phúc, còn nghèo khó là họa ; nhưng Đức Giê-su nói ngược lại, giầu có là họa, còn nghèo khó là phúc ; và cũng như vậy đối với no nê và đói khát, vui cười và khóc lóc, được ca tụng và bị sỉ vả.

    Đức Giê-su thường nói : « Ai có tai để nghe thì nghe ». Nhưng mà đôi tai của chúng ta được ban cho không chỉ để nghe và dừng lại ở âm thanh, nhưng là đi vào chiều sâu của ý nghĩa, vốn được tạo ra bởi sự thinh lặng của qui luật liên kết các âm thanh. Vì thế chúng ta chỉ hiểu và cảm nếm những lời của Đức Giê-su, khi chúng ta vượt qua vẻ bên ngoài, để nhận ra ra khuôn mặt đích thật của con người (x. Tv 49) và hiểu dưới ánh sáng của mầu nhiệm Vượt Qua, và nhất để sống theo năng động của con tim, nhất là năng động yêu mến, yêu mến Đức Ki-tô và vì Đức Ki-tô ; như Ngài nói trong mối phúc thứ tư :

    Phúc cho anh em, vì Con Người

    2. Các mối phúc và thân phận con người

    Chúng ta thường hiểu các mối phúc mà Đức Giê-su công bố là lý tưởng vừa cao vừa khó, mà mỗi người chúng ta phải đạt được để trở nên thánh. Tuy nhiên, các mối phúc không ở bên ngoài chúng ta và cũng ở cách xa chúng ta, bởi vì các mối phúc mà Đức Giê-su công bố diễn tả chính căn tính đích thật của chúng ta, chính niềm khát khao sâu thẳm của chúng ta, chính niềm hạnh phúc bền vững của chúng ta.

    • Thật vậy, Đức Giê-su nói: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó”, “là những kẻ bây giờ đang phải đói”. Trong thân phận của con người, không ai trong chúng ta cảm thấy tự đủ trong cõi lòng mình; con người đến một lúc nào đó, đều cảm thấy mình nhỏ bé, mỏng manh, chóng qua, nghèo nàn và đói khát tận căn về mọi phương diện, nhất là lúc mới sinh ra và sắp sửa lìa đời, trả lại sự sống cho Chúa.

    • Đức Giê-su nói: “Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải khóc”. Ai trong chúng ta đã không một lần khóc lóc sầu khổ: khóc lóc sầu khổ cho thân phận sinh lão bệnh tử của mình, khóc cho số phận đầy thử thách, tai ương và bất hạnh, khóc và sầu khổ cho người khác, nhất là cho những người thân yêu, cho những người chịu thiệt thòi, bệnh tật, kém may mắn.

    Như vậy, chính thân phận con người của chúng ta, không thêm và cũng không bớt, là một mối phúc, chứ không phải là mối họa hay hình phạt, cho dù chúng ta có một thân phận như thế nào, bất hạnh như thế nào; thân phận của chúng ta là con đường dẫn chúng ta đến điều Chúa hứa ban trong các mối phúc, đó là: Nước Thiên Chúa, được no thỏa và mừng vui.

    Và thật bất hạnh cho những ai biến thành ngẫu tượng và cứu cánh đời mình, những gì chóng qua ở đời này: của cải, ăn uống và vui thú. Và để cho chúng ta tin tưởng và xác tín như thế, Đức Giê-su đã sống đến cùng thân phận con người, là chịu đóng đinh trên Thập Giá, để qua đó đi vào sự sống mới, sự sống Phục Sinh của Thiên Chúa Cha.

    3. Mối phúc “vì Con Người”

    Ngoài ra, Đức Giê-su còn nói đến một mối phúc đặc biệt. Đặc biệt, vì nguyên nhân của mối phúc: đó là “vì Con Người”. Chúng ta có thể tự hỏi, tại sao lại “vì Con Người”? Kinh nghiệm của những người đi trước chúng ta trong đức tin, nhất là của các thánh tử đạo Việt Nam, sẽ giúp chúng ta hiểu tại sao lại « vì Con Người » ? Đó chính là kinh nghiệm hiểu biết, yêu mến, và không chỉ ước ao đi theo, nhưng còn muốn trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, đó là kinh nghiệm chiêm ngắm ngôi vị của Ngài, và khi chiêm ngắm ngôi vị của Ngài như các Tin Mừng thuật lại cho chúng ta, chúng ta không thể không yêu mến Ngài và ước ao trở nên một với Ngài trong mọi sự (x. Phil 3, 7-9). Nhưng làm sao chúng ta có thể trở nên một với Ngài được, nếu trước đó, Ngài đã không mang lấy nhân tính và thân phận con người của chúng ta, không trở nên một với chúng ta qua Lời của Ngài, qua Mình Máu của Ngài ?

    * * *​

    Trong cuộc Thương Khó, Đức Ki-tô trở nên nghèo khó nhất, đói khát nhất, khóc than nhất và bị sỉ nhục nhất. Nhưng chính lúc đó Ngài hạnh phúc nhất, vì làm cho khuôn mặt của Thiên Chúa Cha trở nên rạng ngời, làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, cho ý Cha được thể hiện, vì lòng yêu mến, yêu mến Cha, yêu mến loài người, yêu mến từng người chúng ta.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

    ~~~~


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Tư 12/09/2018

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 11 tháng Chín 2018
  4. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    13.9.2018 – Thứ năm, sau Chúa Nhật XXIII Thường Niên


    “Anh em hãy có lòng nhân từ”
    (Lc 6, 27-38)​

    27 “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây: hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em,28 hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em.29 Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong.30 Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại.31 Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy.

    32 Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ.33 Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế.34 Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng.35 Trái lại, anh em hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn và cho vay mà chẳng hề hy vọng được đền trả. Như vậy, phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao, và anh em sẽ là con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác.

    36 “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ.37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.”


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)

    Trong bài Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay, Đức Giê-su mời gọi chúng ta:

    Anh em hãy có lòng nhân từ,
    như Cha anh em là Đấng nhân từ.


    Chúng ta có thể tự hỏi : thế nào là nhân từ ? Dựa vào những gì Đức Giê-su diễn giải trong bài Tin Mừng, lòng nhân từ mang một nghĩa rất cụ thể, đó là : yêu kẻ thù; không xét đoán và lên án; tha thứ và cho đi.

    1. Yêu kẻ thù

    Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ của Người, các môn đệ trực tiếp nghe Người và các môn đệ thuộc mọi thời, trong đó có chúng ta hôm nay:

    Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em.

    Trong sách Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, Đức Giê-su cũng mời gọi chúng ta như thế: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5, 43-33). Như thế, chúng ta được mời gọi không chỉ sống theo lề luật, nhưng còn sống theo Lời Chúa.

    Nghe thì thật là hay và đúng nữa, nhưng làm sao mà sống được? Yêu thương những người thân cận theo lề luật đã khó, thì làm sao yêu thương kẻ thù, yêu thương những người không có thiện cảm với chúng ta, những người làm hại hay những người ngược đãi chúng ta, theo Lời Chúa được?

    Khó, nhưng chúng ta vẫn cứ phải cố gắng, cố gắng từng ngày; khó, nhưng chúng ta vẫn cứ phải bắt đầu, rồi lại bắt đầu; bởi lẽ chúng ta là con Thiên Chúa, chúng ta được Đức Giê-su mời gọi sống nhân từ như Thiên Chúa, Cha của chúng ta ở trên trời, vì “Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác”. Đức Giê-su trong “Bài Giảng Trên Núi” còn nói thêm: “Vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5, 43-48). Có thể nói, Đức Giê-su mời gọi chúng ta trở nên giống Thiên Chúa, Cha của chúng ta, vì “Cha nào thì con nấy”, và “con nhà Tông, không giống lông thì cũng giống cánh”!

    Như thế, chúng ta là Con Thiên Chúa, là Ki-tô hữu, là những người tin vào Đức Ki-tô, là môn đệ của Đức Ki-tô, thì chúng ta phải sống khác người ta, như lời Chúa nói:

    Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ. Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa? Cả người tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để được trả lại sòng phẳng.

    2. Tình yêu Thiên Chúa

    Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này: chúng ta cố gắng sống theo Lời Chúa, sống hoàn thiện và nhân từ như Cha trên trời, sống khác với người khác, nhưng chúng ta cố gắng một hồi là đuối sức, vì chúng ta rất giới hạn và yếu đuối, hơn nữa chúng ta còn bị chi phối bởi hoàn cảnh và môi trường sống nữa, bị chi phối bởi sức mạnh của ma quỉ nữa. Nhưng chính khi chúng ta đuối sức, chúng ta giới hạn, chúng ta yếu đuối và phạm tội nữa, chúng ta lại nghiệm được Chúa yêu thương, cảm thông và bao dung chúng ta, như thánh Phao-lô nói: “không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện ở nơi Đức Ki-tô” (Rm 8, 39).

    Và đây là điều lạ lùng và kỳ diệu: chúng ta càng nhận ra Chúa yêu thương và bao dung chúng ta, con tim của chúng ta càng được biến đổi để yêu thương và bao dung người khác, và trước hết là những người thân cận và những người thân yêu của chúng ta. Hơn nữa, Chúa dạy chúng ta yêu kẻ thù, thì chẳng lẽ Chúa không yêu chúng ta?

    Và đó chính là con đường thiêng liêng, hay có thể nói, đó là “bí quyết” giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn trong nỗ lực yêu thương nhau: đó là chúng ta đừng bao giờ quên và cần ghi nhớ mỗi ngày, chính bản thân chúng ta được Chúa yêu thương bao dung và tha thứ trước, một cách vô hạn và nhưng không.

    3. Không xét đoán và lên án

    Để tỏ lòng nhân từ với nhau, Đức Giê-su con mời gọi chúng ta còn được mời gọi không xét đoán và lên án : « Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án ».

    • Vì chúng ta không phải là người « lập pháp », và cũng chẳng là người « hành pháp ».
    • Vì chúng ta chỉ biết được hành vi thôi; trong khi đó, để xét đoán, còn phải biết động lực, hoàn cảnh, mức độ hiểu biết và tự do, những vấn đề của nội tâm, vết thương, đau khổ, quá khứ, nền giáo dục, gia cảnh…; chính vì thế, trong cuộc Thương Khó, Đức Giê-su nói : « Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm » (Lc 23, 34).
    • Và chính chúng ta cũng là những người phạm luật, và có khi còn nghiêm trọng hơn. Vì thế, khi xét đoán và lên án người khác, chúng ta lên án chính chúng ta. Đó là trường hợp những người đòi kết án người phụ nữ ngoại tình (Ga 8, 2-11).​

    Nhưng, để sống theo năng động của lòng nhân từ, chúng ta được mời gọi đi thêm « hai bước nữa », đó là tha thứ và cho đi. Đức Giê-su đặc biệt nhấn mạnh đến hành vi cho đi, như là điểm tới. Thiên Chúa Cha là Đấng nhân từ :

    Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại.

    Theo lời của Đức Giê-su, Chúa Cha là Đấng nhân từ, trong mức độ Ngài tỏ lòng nhân từ với chúng ta, nếu chúng ta tỏ lòng nhân từ với nhau : « Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy ». Đúng là, Thiên Chúa nhân từ có điều kiện. Nhưng, xét cho cùng, điều kiện thật « nhẹ nhàng và nhưng không », chỉ cần chúng ta tỏ lòng nhân từ với nhau thôi, là Chúa sẽ nhân từ với chúng ta; và chắc chắn, lòng nhân từ của Thiên Chúa lớn hơn gấp bội lòng nhân từ của chúng ta dành cho nhau : « Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em ».

    * * *​

    Tuy nhiên, Đức Giê-su mời gọi chúng ta nhân từ với nhau, đó không chỉ là để nhận được lòng nhân từ của Thiên Chúa nhưng còn là vì Ngài là Đấng đã nhân từ đối với chúng ta, trước khi chúng ta nhân từ với nhau rồi, khi Ngài dựng nên chúng ta theo hình ảnh của Ngài, nghĩa là cũng nhân từ như Ngài, vì muôn đời Ngài là Đấng nhân từ, như lời Thánh Vịnh diễn tả : « Hãy tạ ơn Chúa, vì Chúa nhân từ. Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn trình thương » (Tv 136, 1)

    Và Chúa nhân từ với chúng ta mỗi ngày khi ban cho chúng ta sự sống, lương thực, anh em, chị em mỗi ngày, cho dù chúng ta rất bất xứng. Như thế, chính kinh nghiệm lòng nhân từ của Thiên Chúa nơi bản thân chúng ta, được thể hiện nơi Đức Giê-su, mà chúng ta có thể nhân từ được với nhau.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc

    ~~~~


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Năm 13/09/2018

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 13 tháng Chín 2018
  5. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    14.9.2018 – Thứ sáu, Lễ Suy Tôn Thánh Giá

    “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”
    (Ds 21, 4b-9 và Ga 3, 13-17)​

    4 Từ núi Ho, họ lên đường theo đường Biển Sậy, vòng qua lãnh thổ Ê-đôm; trong cuộc hành trình qua sa mạc, dân Ít-ra-en mất kiên nhẫn.5 Họ kêu trách Thiên Chúa và ông Mô-sê rằng: “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này.”

    6 Bấy giờ ĐỨC CHÚA cho rắn độc đến hại dân. Chúng cắn họ, khiến nhiều người Ít-ra-en phải chết.7 Dân đến nói với ông Mô-sê: “Chúng tôi đã phạm tội, vì đã kêu trách ĐỨC CHÚA và kêu trách ông. Xin ông khẩn cầu ĐỨC CHÚA để Người xua đuổi rắn xa chúng tôi.” Ông Mô-sê khẩn cầu cho dân.

    8 ĐỨC CHÚA liền nói với ông: “Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống.”9 Ông Mô-sê bèn làm một con rắn bằng đồng và treo lên một cây cột. Và hễ ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống.
    .

    13 Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống.14 Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy,15 để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.

    16 Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)


    Dân Chúa kinh nghiệm về tội của mình đối với Đức Chúa trong dòng lịch sử, và những suy tư về kinh nghiệm này đã làm cho Dân Chúa khám phá bản chất của tội. Suy tư này được trình bày bằng ngôn ngữ biểu tượng trong trình thuật St 2-3, mặc khải cho chúng ta bản chất hay yếu tính của tội, nghĩa là cái có mặt trong mọi thứ tội. Và mọi tội đều tự nó có “nọc độc” gây chết chóc cho mình và cho người khác.

    Lời Chúa trong sách Dân Số và trong Tin Mừng Gioan, qua hình ảnh “Con Rắn”, sẽ đưa chúng ta đi xuyên suốt lịch sử cứu độ, khởi đi từ kinh nghiệm phạm tội trong sa mạc (Ds 21,6), trở về với thời điểm khởi đầu của sự sống (St 3), sau đó đi đến ngôi vị của Đức Ki-tô (Ga 3, 14) và vươn xa tới tận thời cánh chung (Kh 12,7-10). Các trình thuật này nêu ra cho chúng ta ba câu hỏi:

    • Tại sao lại là rắn?
    • Tại sao Con Người cũng sẽ phải được giương cao, như con rắn đồng trong sa mạc?
    • Tại sao cái nhìn có khả năng chữa lành?

    1. Tại sao lại là con rắn?

    a. Nghi ngờ Thiên Chúa

    Đi trong sa mạc trong một thời gian dài, thiếu ăn thiếu uống. Đó là một thử thách rất thật và rất lớn, vì của ăn của uống là nhu cầu thiết yếu cho sự sống. Tuy nhiên, vấn đề là lòng họ hướng về đâu? Họ tìm gì khi bỏ Ai Cập ra đi theo tiếng gọi của Đức Chúa dưới sự hướng dẫn của Mô-sê? Nếu con tim của họ chỉ hướng về việc thỏa mãn những nhu cầu của mình thôi, thì tất yếu đến một lúc nào đó, họ sẽ mất kiên nhẫn. Bởi vì nhu cầu thì không có cùng tận.

    Trước hết là nhu cầu của cái nhìn, họ đi theo Chúa dưới sự hướng dẫn của Môsê là nhằm để thỏa mãn cái nhìn. Vì thế, họ nhìn thấy bao dấu lạ, nhất là dấu lạ vượt qua Biển Đỏ khô chân, nhưng họ vẫn không chịu tín thác vào Đức Chúa (Tv 106). Chẳng lẽ Chúa lại phải làm cho họ dấu lạ mỗi ngày? Ngang qua một vài dấu lạ, họ được mời gọi trao ban lòng tin, lên đường và đi đến cùng. Giống như, những người cùng thời với Đức Giêsu, chứng kiến bao dấu lạ Ngài làm, và chính ngôi vị của Ngài là một dấu lạ, thế mà vẫn cứ đòi dấu lạ từ trời. Lúc Đức Giêsu chịu đóng đinh trên Thập Giá, họ vẫn đòi dấu lạ: “xuống khỏi Thập Giá đi để chúng ta thấy, chúng ta tin”. Họ cứ nghĩ là thấy thì tin, đó là ảo tưởng. Bởi vì thấy, thì thấy một lần trong một thời điểm và nơi chốn nhất định; trong khi tin là tin vào một ngôi vị, tin suốt đời ở mọi nơi mọi lúc. Tin lúc Chúa ban dấu lạ; và tin cả lúc Chúa không ban dấu lạ, như tác giả Thánh Vịnh nói: “tôi đã tin, cả khi mình đã nói: ôi nhục nhã ê chề” (Tv 116, 10). Trong thực tế cuộc sống, như mỗi người chúng ta đều có kinh nghiệm, và chính Dân được Đức Chúa tuyển chọn cũng có cùng một kinh nghiệm, những ngày không có dấu lạ gì mới là nhiều; và có những ngày, những giai đoạn đầy đau khổ và thử thách:

    Tôi tự bảo: điều làm tôi đau đớn,
    là Đấng tối cao chẳng còn ra tay nữa
    .
    (Tv 77, 11)

    Hành trình đi theo Đức Ki-tô của chúng ta cũng thế, chúng ta nhận ra dấu lạ nào đó Chúa ban cho mình và chúng ta được mời gọi tin vào tình yêu trung tín của Chúa và chúng ta đáp lại suốt đời ngang qua đời sống hàng ngày, những ngày rất đỗi bình thường cũng như những ngày đầy thách đố, khó khăn. Nhưng chúng ta cũng có kinh nghiệm này: khi tin rồi, chúng ta sẽ thấy mọi sự đều lạ.
    Mà ham muốn nhìn cũng chính là ham muốn ăn: đói thì Chúa cho ăn; ăn manna một hồi thì thèm thịt, Chúa cho ăn thịt chim cút; ăn chim cút một hồi, rồi thì cũng chán: “chúng tôi chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này”. Nhất là khi chứng kiến dân ngoại, họ ăn uống cao lương mĩ vị, dân sẽ càng thèm muốn hơn nữa. Những chuyện như vậy cứ lập đi lập lại nhiều lần: điều Ngài đã làm hôm qua, Ngài sẽ làm hôm nay không? Đức Chúa có ở giữa chúng ta hay không? (Xh 17, 7) Làm sao « biết » được đây? Ham muốn của cái nhìn, ham muốn của cái bụng, ham muốn của cái biết gặp gỡ nhau. Và cuối cùng, thái độ của con người được hình thành, khi kêu trách: « Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? » À ra như thế, Thiên Chúa muốn chúng ta chết, Mô-sê muốn chúng ta chết. Đó chính là thái độ « thử thách ».

    Trong Kinh Thánh, câu nói “thử thách Thiên Chúa” mang một ý nghĩa đặc biệt, đó là không tin Thiên Chúa: trong sa mạc, Dân Chúa thử thách Thiên Chúa đến 10 lần, nghĩa là lúc nào cũng thử thách Thiên Chúa, cũng không tín thác nơi Thiên Chúa (Ds 14, 22: thử thách 10 lần; Tv 106, 14); và tội nguyên tổ cũng là một dạng của hành vi thử thách Thiên Chúa, nghĩa là không tin Thiên Chúa không tín thác nơi Chúa trong thực tế cuộc sống. Vì thế, yếu tính của tội nguyên tổ, nghĩa là của mọi tội, là không tin nơi Thiên Chúa, không tín thác nơi ngài trong thiếu thốn, trong gian nan khổ đau của thân phận con người. Hành vi vi phạm giới răn chỉ là hệ quả của một thái độ nội tâm, quên ơn huệ và vì thế nghi ngờ Thiên Chúa.

    Như thế, tất cả mọi sự Thiên Chúa đã làm cho họ trở thành vô nghĩa, thậm chí trở thành kế hoạch giết chết. Chúng ta hãy dừng lại đây thật lâu để nghiệm được hết mức độ nghiêm trọng của những lời dân Israen thốt ra đây. Đó là chính là thái độ nghi ngờ Thiên Chúa, và tội nghi ngờ Thiên Chúa tất yếu dẫn đến những hành vi gây chết chóc, gây chết chóc cho chính mình và cho người khác. Nghi ngờ Thiên Chúa, nên họ quay ra thờ ngẫu tượng, vì ngẫu tượng có vẻ “linh” hơn; “linh” có nghĩa là có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu, phát xuất từ lòng ham muốn; ham muốn nhìn, ăn và biết của họ. Và vì nghĩ rằng mình được dẫn vào sa mạc là để bị bỏ mặc cho chết (trong khi mục đích của hành trình là Đất Hứa, nghĩa là Miền Đất Sự Sống trong Đức Chúa), nên họ nổi loạn ném đá toan giết chết Môsê (x. Xh 17).

    b. Con rắn

    Trong trình thuật về Tội Nguyên Tổ (St 3, 1-7), lời dụ dỗ của con rắn đã làm cho bà Evà và ông Adam nghi ngờ Thiên Chúa: Thiên Chúa nói rằng, ăn trái cây đó thì chắc chắn sẽ chết, nhưng con rắn nói: « chẳng chết chóc gì đâu! » Tin vào lời con rắn, đồng nghĩa với việc cho rằng Thiên Chúa nói dối! Đó là cho rằng, Thiên Chúa lừa dối con người, vì Ngài không muốn chia sẻ sự sống của mình; đó là nghĩ rằng, Ngài tạo dựng con người để bỏ mặc con người trong sa mạc cuộc đời và nhất là cho số phận phải chết. Tin vào lời con rắn, chính là bị con rắn cắn vào người, chính là bị nó tiêm nọc đọc vào người. Và hậu quả là tương quan tình yêu giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với con người bị phá vỡ. Hậu quả tất yếu là chết chóc, như Thiên Chúa đã báo trước: « Ngày nào ngươi ăn chắc chắn ngươi sẽ phải chết » (St 2, 17). Mười một chương đầu của sách Sáng Thế cho thấy rõ, Lời Chúa là chân thật.

    Dựa vào trình thuật Vườn Eden, chúng ta hiểu ra rằng, rắn độc mà sách Dân Số nói đến, chính là hình ảnh diễn tả sự nguy hại chết người của thái độ nghi ngờ Thiên Chúa: kế hoạch cứu sống, khi gặp khó khăn lại bị coi là kế hoạch giết chết. Nghi ngờ Thiên Chúa, đó là để cho mình bị rắn cắn, đó là mang nọc độc vào người.

    Chắc chắc chúng ta cũng có kinh nghiệm nghi ngờ Thiên Chúa, nghi ngờ ý định tốt lành của Thiên Chúa, khi cho chúng ta được làm người và sống trong một ơn gọi: Tại sao Chúa lại sinh ra con như thế này: thiếu đủ thứ, kém cỏi đủ thứ, thua thiệt đủ thứ? Sao con không như anh kia, chị nọ? Tại sao con lại ra nông nỗi này, rơi vào tình cảnh khổ sở như thế này, Chúa dẫn vào đây để làm gì? Những lúc khủng khoảng như thế, chúng ta cũng kinh nghiệm được những hậu qủa tại hại của thái độ nghi ngờ. Trong khi đó, mỗi người chúng ta, theo Tv 139, là một tuyệt tác, mà nhiều khi chúng ta lại mù quáng không nhận ra: « Chúa dựng nên con cách lạ lùng ».

    2. Tại sao “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”?

    Đức Giê-su, ngay từ những lời nói đầu tiên trong đời sống công khai, trong Tin Mừng theo thánh Gio-an (3, 14), đã đặt mầu nhiệm Thập Giá mà Người sẽ sống trong tương quan rất trực tiếp với hình ảnh « con rắn », biểu tượng của Tội và Sự Dữ:

    Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc,
    Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy,
    để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.


    Theo lời này của chính Đức Ki-tô, chúng ta nên hình dung ra, hay tốt hơn là vẽ ra, một bên là « Con Rắn » bị giương cao trên cây gỗ, một bên là Đức Ki-tô được giương cao trên cây thập giá, thay vì là Sự Dữ, là Sa-tan, bởi vì theo luật, chỗ trên cây thập giá phải là chỗ của tử tội, của chính Tội. Như thế, Đức Kitô trong Cuộc Thương Khó, sẽ tự nguyện thế chỗ cho con rắn. Thực vậy, thánh Phaolô nói, Ngài lại tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lỗi” (Rm 8, 3); và Ngài “đồng hóa mình với tội” (2Cr 5, 21 và Gl 3, 13). Tội có bản chất là ẩn nấp, khó nắm bắt, giống như con rắn, nhưng đã phải hiện ra nguyên hình nơi thân xác nát tan của Đức Kitô: “tội để lộ chân tướng và cho thấy tất cả sức mạnh tội lỗi của nó” (Rm 7, 13). Thập Giá Đức Kitô mặc khải cho loài người chúng ta hình dạng thật của Tội. Chính vì thế mà trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô, Đức Giê-su dạy, chứ không phải báo trước, các môn đệ về cuộc Thương Khó của Người (x. Mc 8, 31). Vì, thế, chúng ta được mời gọi nhìn lên Đức Ki-tô chịu đóng đinh, để nhìn thấy:

    • thân thể nát tan của Người vì roi vọt, kết quả của lòng ghen ghét, của lòng ham muốn, của sự phản bội, của sự bất trung, và của những lời tố cáo, lên án vô cớ, của vụ án gian dối;
    • đầu đội mạo gai của Người, tượng trưng cho những lời nhạo báng, diễu cợt trên ngôi vị;
    • chân tay của Người bị đanh đâm thủng và ghim vào giá gỗ; hình ảnh này cho thấy con người đã đánh mất nhân tính, và hành động theo thú tính;
    • và cạnh sườn của Người bị đâm thủng, thấu đến con tim. Sự Dữ luôn đi đôi với bạo lực; và bạo lực luôn muốn đi tới tận cùng, là hủy diệt (x. Dụ ngôn “Những tá điền sát nhân”). Nhưng đồng thời cũng ở nơi đây, trên Thập Giá, tình yêu, lòng thương xót, sự thiện, sự hiền lành và cả sự sống nữa, của Thiên Chúa cũng đi tới tận cùng!

    3. Tại sao cái nhìn có khả năng chữa lành?

    Theo lời của Đức Chúa, Mô-sê khi đó đã treo một con rắn bằng đồng lên cột gỗ và ai nhìn lên nguyên nhân gây ra cái chết được phô bày ra đó, thì đã được chữa lành. Nếu hình phạt bị rắn độc cắn là nặng nề, để cho thấy rằng, thái độ nghi ngờ và kêu trách tự nó mang nọc độc giết người, thì ơn chữa lành thật nhẹ nhàng và nhưng không: “ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống”. Cũng giống như khi người ta chữa bệnh: trước tiên phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh; và khi tìm được, thì hoặc dùng thuốc hóa giải nó đi, hoặc phải cắt bỏ ra khỏi cơ thể.

    Như Dân Chúa trong sa mạc nhìn lên con rắn đồng, chúng ta được mời gọi ngước nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19, 37). Nhưng thay vì bị lên án, loài người chúng ta được mời gọi nhìn lên Đấng Chịu Đóng Đinh với lòng tin để đón nhận ơn tha thứ và được chữa lành.

    Ơn tha thứ. Thập Giá, chính là lời diễn tả tình yêu thương xót nhưng không và vô biên của Thiên Chúa. Vì thế, khi nhìn lên Thập Giá Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nghiệm ra tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu có thể chịu đựng mọi tội lỗi của con người đến như thế.

    Ơn chữa lành. Đúng là Thánh Gía mặc khải cho con người bản chất của Tội, nhưng không phải là để lên án con người, mà là để cứu sống con người. Thiên Chúa không thể tha thứ cho con người mà không đồng thời chữa lành, bằng cách làm cho con người nhìn ra hình ảnh thật sự của tội. Nghi ngờ Thiên Chúa là căn bệnh nan y, nhưng được chữa lành tận căn bằng Thập Giá: Tình yêu đi đến mức “điên rồ” đến như thế; chúng ta cũng được mời gọi yêu Chúa “điền rồ” như thế.

    Chữa lành khỏi hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa. Và Thập Giá còn mặc khải cho chúng ta rằng thân phận con người không phải là một hành trình dẫn đến chỗ chết (St 3 và Ds 21). Con người muốn vươn lên bằng Thiên Chúa, nhưng Con Thiên Chúa làm người và làm người đến tận cùng (Ph 2, 5-11), để nói với chúng ta rằng, Thiên Chúa tạo dựng nên con người không phải để đầy đọa, thử thách và lên án, và thân phân con người, dù có như thế nào, là con đường dẫn đến Thiên Chúa, nguồn Sự Sống.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc


    ~~~~


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Sáu 14/09/2018

     
  6. KhucCamTa

    KhucCamTa Bảo Quốc Công Thần Đệ Ngũ Đẳng Tình Nguyện Viên

    15.9.2018 – Thứ bảy, Lễ nhớ Đức Mẹ Sầu Bi

    « Đứng gần thập giá Đức Giê-su,
    có Thân Mẫu Người »

    (Ga 19, 25-27)​


    25 Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la.

    26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.”

    Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.


    (Bản dịch của Nhóm Phiên Dịch CGKPV)


    1. Đức Mẹ Sầu Bi

    Hôm nay, chúng ta cử hành lễ nhớ « Đức Mẹ Sầu Bi ». Như thế, trong đời sống của Đức Mẹ, cũng có những điều sầu bi, như trong đời sống của tất cả mọi người chúng ta. Trong suốt năm phụng vụ, chúng ta có nhiều lễ tôn vinh Đức Maria, Mẹ của chúng ta, nhưng hầu như luôn luôn là vì những ân huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho Mẹ (chẳng hạn ơn vô nhiễm, ơn lên trời, ơn làm Nữ Vương…), hay là vì những biến cố đặc biệt trong cuộc đời của Mẹ (chẳng hạn Sinh Nhật, Truyền Tin, Thăm Viếng…). Chính vì thế mà, lễ Đức Mẹ Sầu Bi là một ngày lễ rất đặc biệt, bởi vì lễ này mời gọi chúng ta tôn vinh Đức Mẹ, với một khuôn mặt rất đời thường, và vì thế rất gần gũi với chúng ta: Đức Mẹ Sầu Bi, và chúng ta cũng sầu bi, không phải một lần, nhưng nhiều lần trong cuộc đời !

    Vậy chúng ta đã có và đang có những sầu bi nào ? Tuy nhiên, trong ngày lễ hôm nay, chúng ta được mời gọi hướng về Đức Mẹ và « suy chiêm » những đau khổ của Mẹ. Bởi vì, những đau khổ của Mẹ sẽ làm cho chúng ta hiểu biết Mẹ hơn và như thế, yêu mến Mẹ nhiều hơn. Ngoài ra, những đau khổ của Mẹ còn soi sáng và dẫn dắt chúng ta trong cuộc sống đầy khổ đau này.

    2. Bảy sự đau khổ của Đức Mẹ

    Như chúng ta đều đã biết, Truyền Thống của Giáo Hội thích dựa vào các Tin Mừng, để kể ra những đau khổ của Đức Mẹ, và Giáo Hội kể ra được bảy đau khổ ; vì thế, ngày lễ hôm nay, còn được gọi là lễ « Đức Mẹ Bảy Sự ». Con số « bảy » cũng thật là ý nghĩa, bởi vì số 7 đối với người Do Thái, là con số hoàn hảo, cũng giống như số 9 đối với chúng ta. Điều này làm cho chúng ta nhớ lại các con số bảy của bài một Tin Mừng theo thánh Mát-thêu: bảy lần ; bảy mươi lần bảy (x. Mt 18, 21-35) ; bảy giỏ (x. Mc 8, 8). Sau đây là « bảy sự » của Đức Mẹ:
    1. Lời của cụ ngôn sứ Simêon về Đức Maria (Lc 2, 25-35), là bài Tin Mừng chúng ta có thể đọc trong ngày lễ hôm nay, theo sách Phụng Vụ các bài đọc.
    2. Trốn sang Ai-cập (Mt 2,13-15)
    3. Lạc mất Đức Giê-su (Lc 2,41-52)
    4. Đức Mẹ nhìn Đức Giê-su vác thập giá (Lc 23,27)
    5. Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá (Ga 19,25-27), là bài Tin Mừng của Thánh Lễ hôm nay.
    6. Đức Mẹ đón nhận thân xác đã chết của Đức Giê-su (Ga 19,38-40)
    7. Đức Mẹ ở bên mộ Đức Giê-su (Ga 19,41-42)
    Điều phải đánh động chúng ta, khi đọc qua danh sách bảy sự đau khổ của Đức Mẹ, đó là mọi sự đau khổ của mẹ đều có liên quan đến Đức Giê-su, con của Mẹ ; một cách cụ thể, những đau khổ của Mẹ đến từ biến cố Giáng Sinh, đến từ đời sống ẩn dật, đến từ sứ mạng rao giảng Nước Trời, đến từ cuộc Thương Khó, đến từ Thập Giá, và sau cùng đến từ cái chết của Ngài.

    Như thế, chính khi Đức Mẹ thưa « xin vâng », đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, để đón nhận Đức Giê-su, Con Thiên Chúa vào trong cuộc đời của mình, và chính khi Đức Mẹ sống lời xin vâng của mình mỗi ngày và sống cho đến cùng, đến tận chân Thập Giá và cho đến hết cuộc đời, thì tất yếu đau khổ xẩy ra cho Mẹ. Bởi vì, như chúng ta có thể nhận ra trong bảy đau khổ của Mẹ: Đức Mẹ sinh ra Đức Giê-su, nhưng Đức Mẹ lại được mời gọi không nuôi nấng và dưỡng dục Ngài theo ý riêng của mình, theo chương trình hay kế hoạch riêng của mình, nhưng là để cho Ngài lớn lên theo chương trình của Thiên Chúa ; Đức Mẹ đón nhận Đức Giê-su vào cung lòng và vào cuộc đời mình, nhưng Mẹ lại được mời gọi, như tất cả chúng ta cũng được mời gọi, đi theo Đức Giê-su trên con đường của Ngài ; mà con đường của Đức Giê-su là con đường dẫn đến Thánh Giá.

    Những đau khổ của Mẹ đến từ việc Mẹ đi theo Đức Ki-tô, Mẹ gắn bó thiết thân với Đức Ki-tô, Mẹ trở nên một với Đức Ki-tô, nhất là với « Đức Ki-tô chịu đóng đinh ». Và tất cả chúng ta đều có cùng một kinh nghiệm này, giống như Đức Mẹ. Thật vậy, từ khi chúng ta trở thành Ki-tô hữu, và nhất là từ khi chúng ta đáp lại tiếng gọi đi theo Đức Ki-tô trong ơn gọi gia đình hay trong ơn gọi dâng hiến, và cố gắng sống ơn gọi của chúng ta mỗi ngày, chúng ta phải cho đi chính mình, cho đi thời gian, cho đi tất cả những gì rất thiết thân đối với chúng ta, đó là quyền làm chủ, giới tính và tình cảm, ý muốn… , thì tất yếu sẽ có nhiều đau khổ. Nhưng tại sao chúng ta lại mang vào mình những đau khổ, nếu không phải là muốn noi gương Đức Mẹ ?

    Thật vậy, như Đức Mẹ, vì tình yêu đối với Đức Ki-tô, chúng ta ước ao trở nên nữ tì, trở nên tôi tớ của Ngài, chúng ta ước ao sống theo Lời của Ngài. Và chính tình yêu và lòng ước ao này làm cho chúng ta hạnh phúc bất chấp những đau khổ, và ngay trong những đau khổ, bởi vì có một niềm hạnh phúc đặc biệt, đó là hạnh phúc đau khổ vì tình yêu. Như thánh Augustino nói: « Trong tình yêu không có đau khổ, và nếu có đau khổ, thì đau khổ này đã được yêu rồi ».

    3. Đau khổ thứ năm: Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá

    Hình ảnh Đức Mẹ đứng dưới chân Thập Giá, mà bài Tin Mừng mời gọi chúng ta chiêm ngắm trong ngày lễ hôm nay, nói lên sự nghịch lý này của Tin Mừng và của mầu nhiệm Vượt Qua.

    Dưới chân thập giá, Mẹ sầu bi, nhưng Mẹ vẫn đứng vững chứ không ngã quỵ. Chúng ta nên đi lại hành trình của Mẹ Maria, từ biến cố truyền tin, để hiểu được tại sao Mẹ đứng vững. Chúng ta cũng cần đi theo Đức Kitô như Mẹ, để có thể đứng vững dưới chân thập giá. Và không cần phải đợi đến biến cố phục sinh, nhưng ở tột đỉnh của sự trao ban, nghĩa là trao ban đến không còn gì, chúng ta được mời gọi nhận ra sự sống mới phát sinh, phát sinh thật đồi dào, phát sinh từ Lời sự sống của Đức Giêsu được thốt lên ngay nơi chết chóc và lúc Ngài đang chết đi. Thật vậy, ngay trong đau khổ của sự chết, một Gia Đình mới phát sinh: Đức Giê-su, nhìn Mẹ, và nói:

    Thưa Bà, đây là con của Bà.

    Như thế, chính lúc Mẹ đang mất đi người con này, mẹ trở thành Mẹ của người con khác; và từ người con này, dưới sức mạnh của Đấng Phục Sinh, sẽ trở thành đông đúc, trong đó có cả con trai lẫn con gái. Chính lúc Mẹ bình an dâng hiến người con Duy Nhất, Mẹ nhận lại gấp trăm, nơi Người Môn Đệ Đức Giê-su thương mến. Và Mẹ cũng không mất đi Người Con Duy Nhất của Mẹ, vì Ngài sẽ hiện diện ở nơi anh chị em mới của Ngài.

    Từ hy sinh thập giá, giữa cơn thử thách, ngay trong sự chết, một nhân loại mới phát sinh: những gì của con là của Mẹ; những gì của Thầy là của anh. Cái chết của Đức Giêsu đã làm phát sinh sự sống: Mẹ trở thành Mẹ của Người Môn Đệ Đức Giêsu yêu mến, đại diện cho tất cả các môn đệ thuộc mọi thời; khi dâng hiến người con duy nhất, Mẹ không mất đi, nhưng nhận lại Ngài nơi các môn đệ, nơi cả một đàn con đông đúc. Bởi vì, Đức Giêsu sẽ đi vào sự sống mới và hiện diện bên cạnh, ở giữa và bên trong các môn đệ nam nữ.

    * * *​

    Xin Chúa cũng ban cho chúng ta có cùng một kinh nghiệm của Đức Mẹ: dưới chân thập giá đau thương của cuộc đời, của hành trình ơn gọi, xin chúng ta cảm nhận với niềm vui và hạnh phúc, sự sống mới của Đức Ki-tô đang phát sinh ngay hôm nay, và phát sinh thật dồi dào.

    Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc
    ~~~~


    Suy Niệm Lời Chúa, Thứ Bảy 15/09/2018

     
    Điều chỉnh mới nhất vào lúc: 14 tháng Chín 2018

Chia sẻ, giới thiệu đến bè bạn